Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

08-04-2017 : THỨ BẢY - TUẦN V MÙA CHAY

08/04/2017
Thứ bảy tuần 5 mùa Chay.

Bài Ðọc I: Ed 37, 21-28
"Ta sẽ làm cho chúng trở nên dân tộc duy nhất".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: "Này Ta sẽ đem con cái Israel ra khỏi các dân tộc mà chúng đang cư ngụ; từ khắp nơi, Ta sẽ quy tụ chúng lại và đưa chúng về quê hương. Ta sẽ làm cho chúng trở nên dân tộc duy nhất sống trong đất của chúng, ở trên núi Israel; chỉ có một vua cai trị chúng; chúng sẽ không còn là hai dân tộc, cũng chẳng còn chia làm hai nước nữa.
Chúng sẽ không còn dơ nhớp vì thần tượng, vì các điều ghê tởm và mọi tội lỗi của chúng. Ta sẽ cứu thoát chúng khỏi mọi nơi tội lỗi. Ta sẽ thanh tẩy chúng; chúng sẽ là dân Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng. Ðavit tôi tớ Ta sẽ là vua của chúng, chúng sẽ chỉ có một chủ chăn mà thôi. Chúng sẽ tuân giữ và thực thi các giới răn của Ta. Chúng sẽ cư ngụ trong đất mà Ta đã ban cho Giacóp tôi tớ Ta, và là đất tổ phụ chúng đã cư ngụ; chúng và con cái cùng cháu chắt của chúng sẽ cư ngụ ở đó đến muôn đời. Và Ðavit, tôi tớ Ta, sẽ là vua của chúng đến muôn đời. Ta sẽ ký kết với chúng một giao ước hoà bình: Ðó sẽ là một giao ước vĩnh cửu đối với chúng. Ta sẽ gầy dựng chúng, sẽ cho chúng sinh sản ra nhiều và sẽ thiết lập nơi thánh Ta giữa chúng cho đến muôn đời. Nhà Tạm Ta sẽ ở giữa chúng. Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân Ta. Các dân tộc sẽ biết rằng Ta là Chúa, Ðấng thánh hoá Israel, khi đã lập nơi thánh Ta ở giữa chúng đến muôn đời".
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Gr 31, 10. 11-12ab. 13
Ðáp: Chúa sẽ gìn giữ chúng ta như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình (c. 10d).
Xướng: 1) Hỡi các dân tộc, hãy nghe lời Chúa, hãy công bố lời Chúa trên các đảo xa xăm; hãy nói rằng: "Ðấng đã phân tán Israel, sẽ quy tụ nó lại, và sẽ gìn giữ nó, như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình". - Ðáp.
2) Vì Chúa đã giải phóng Giacóp, giờ đây với cánh tay mạnh mẽ hơn, Người cứu thoát nó. Chúng sẽ đến và ca hát trên núi Sion, chúng sẽ đổ xô về phía hạnh phúc của Người. - Ðáp.
3) Bấy giờ người thiếu nữ sẽ hân hoan nhảy mừng, các thanh niên và các cụ già cũng làm y như thế; Ta sẽ biến đổi tang chế của chúng ra niềm hân hoan, sẽ an ủi chúng và cho chúng hết đau khổ. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ed 33, 11
Chúa phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống".

Phúc Âm: Ga 11, 45-56
"Ðể quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát về một mối".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, trong những người đến thăm Maria và đã chứng kiến việc Ngài làm, có nhiều kẻ đã tin vào Chúa Giê-su. Nhưng trong nhóm có kẻ đi gặp người biệt phái và thuật lại các việc Chúa Giêsu đã làm. Do đó, các thượng tế và biệt phái họp công nghị, và nói: "Chúng ta phải xử trí sao đây? Vì người này làm nhiều phép lạ. Nếu chúng ta để mặc người ấy làm như thế, thì mọi người sẽ tin theo và quân Rôma sẽ kéo đến phá huỷ nơi này và dân tộc ta". Một người trong nhóm là Caipha làm thượng tế năm đó, nói với họ rằng: "Quý vị không hiểu gì cả! Quý vị không nghĩ rằng thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt". Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giêsu phải chết thay cho dân, và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát về một mối.
Bởi vậy, từ ngày đó, họ quyết định giết Người. Vì thế Chúa Giêsu không còn công khai đi lại giữa người Do-thái nữa. Người đi về miền gần hoang địa, đến thành phố tên là Ephrem, và ở lại đó với các môn đệ. Khi đó đã gần đến Lễ Vượt Qua của người Do-thái. Có nhiều người từ các miền lên Giêrusalem trước lễ, để được thanh tẩy. Họ tìm Chúa Giêsu; họ đứng trong đền thờ và bàn tán với nhau: "Anh em nghĩ sao? Người có đến hay không?" Còn các thượng tế và biệt phái đã ra lệnh rằng nếu ai biết Người ở đâu, thì phải tố cáo để họ bắt Người.
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm: Người công chính
Tác giả thánh vịnh 58 đã có lời cầu nguyện như sau:
Lạy Thiên Chúa của con
Xin cứu con khỏi kẻ địch thù
Bênh đỡ con chống lại kẻ tấn công
Cứu vớt con khỏi vòng gian ác,
Giải thoát con khỏi bọn giết người.
Kìa mạng con, chúng rình hãm hại,
Lũ cường quyền xúm lại chống con.
Ðây là tâm trạng của một người công chính bị kẻ gian ác hùa nhau mưu hại. Tâm trạng này phù hợp với tâm trạng của Chúa Giêsu trong những ngày cuối cùng của Người ở trần gian. Sau ba năm vất vả để rao giảng Tin Mừng Cứu Ðộ và thi ân giáng phúc, Chúa Giêsu phải đối diện với một thực trạng đáng buồn. Những cố gắng của Người chỉ được những kẻ thành tâm thiện chí đón nhận, mà đa số thuộc thành phần nghèo khổ, bất hạnh. Còn những kẻ có vai vế, những kẻ tự xưng là đạo đức, là có học vấn thì lại chống đối Người. Nếu chỉ xét về bên ngoài thì công lao của Chúa ví như muối bỏ biển. Nhìn từ góc độ con người thì góc độ cứu độ của Chúa Cha dường như chẳng mang lại kết quả bao nhiêu.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa bị những người Do Thái tìm cách khử trừ, vì Chúa không những không đáp ứng nguyện vọng của họ mà lại còn tạo nên xáo trộn bất lợi cho cuộc sống của họ nữa. Họ mong chờ một vị cứu tinh, nhưng vị cứu tinh này phải phù hợp với sở thích của họ, phải mang lại cho họ thấy được những quyền lợi trước mắt, phải làm cho cuộc sống trần thế của họ trở nên thoải mái hơn. Chúa làm cho họ thất vọng thế là họ loại trừ Chúa ra khỏi cuộc sống. Ngày hôm nay, hai mươi thế kỷ sau ngày Chúa chịu chết và sống lại, Chúa vẫn tiếp tục bị tẩy chay, bị loại trừ và điều đáng buồn nhất là Chúa bị loại trừ bởi chính những người mang danh hiệu là người Kitô, trong số đó có con. Con loại trừ Chúa khi con không sống theo tinh thần Tám mối phúc thật; con loại trừ Chúa khi con chạy theo những thú vui vật chất, khi con tôn vinh những gì thỏa mãn ước mơ trần thế của con. Con xưng mình là người có đạo, nhưng con lại đi tìm một cứu Chúa không phải là Chúa Giêsu Kitô.
Lạy Chúa Giêsu, xin thương cứu con khỏi những ràng buộc hư ảo ấy. Xin cho con luôn luôn tôn thờ và tin yêu Chúa là Cứu Chúa duy nhất chân thật của con.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)



Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Bảy Tuần V MC
Bài đọcEze 37:21-28; Jn 11:45-57.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thiên Chúa sẽ ban cho Dân Người một Đấng Cứu Độ.
Nhìn lại lịch sử nhân lọai và lịch sử Cứu Độ, chúng ta thấy có một sự khác biệt rất lớn giữa con người và Thiên Chúa: Con người gây thiệt hại tàn phá, Thiên Chúa xây dựng và tái tạo. Con người gây hận thù chia rẽ, Thiên Chúa tạo đoàn kết yêu thương. Con người gây chiến tranh chết chóc, Thiên Chúa ban hòa bình an lạc.
Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta thấy hai thái độ tương phản giữa Thiên Chúa và con người. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Ezekiel tuy còn đang sống trong nơi lưu đày, nhưng đã nhìn thấy trước ngày mà Thiên Chúa sẽ làm hai việc cho dân Israel: (1) “Ta sẽ cứu chúng thoát khỏi mọi nơi chúng đã ở, đã phạm tội, và sẽ thanh tẩy chúng;” và (2) “Ta sẽ quy tụ chúng lại từ bốn phương và đưa chúng về đất của chúng.” Trong Phúc Âm, những người Pharisees triệu tập Thượng Hội Đồng để bàn tính kế họach giết Chúa Giêsu. Thượng Tế Caiaphas đã “vô tình” nói lên hai mục đích về cái chết của Chúa Giêsu: (1) Ngài phải chết thay cho tòan dân; và (2) cái chết của Ngài sẽ quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thiên Chúa sẽ quy tụ dân thành một đoàn chiên, được chăn dắt bởi một Chúa Chiên.
1.1/ Thiên Chúa sẽ quy tụ dân Người về một mối: Ba điều tiên-tri Ezekiel tuyên sấm:
(1) Dân Do-thái sẽ được hồi hương: Vì không vâng lời Thiên Chúa dạy, dân tộc Do-thái bị mất quê hương và bị lưu đày: miền Bắc bị thất thủ và lưu đày sang Assyria năm 721 BC; miền Nam bị thất thủ và lưu đày sang Babylon năm 587 BC. Sống cực khổ nơi lưu đày, tiên-tri Ezekiel được Thiên Chúa cho thấy và tuyên phán: “Đức Chúa là Chúa Thượng phán như sau: Này chính Ta sẽ lấy con cái Israel từ giữa các dân tộc chúng đã đi tới. Ta sẽ quy tụ chúng lại từ bốn phương và đưa chúng về đất của chúng.”
(2) Dân Do-thái sẽ thống nhất: Dân tộc Do-thái bị chia đôi thành hai vương quốc Bắc và Nam trước Thời Lưu Đày. Tiên-tri Ezekiel cũng nhìn thấy cảnh đòan tụ hai miền Nam Bắc: “Ta sẽ làm cho chúng thành một dân tộc duy nhất trong xứ, trên các núi Israel; tất cả chúng chỉ có một vua duy nhất; chúng sẽ không còn là hai dân tộc, không còn chia thành hai vương quốc.”
(3) Dân Do-thái sẽ được thanh tẩy: Dân chúng bị lưu đày là vì họ đã quay lưng lại với Thiên Chúa và thờ phượng các thần ngọai, và các tội bất công xã hội. Thời gian lưu đày là để thanh luyện các tội của dân, và để Thiên Chúa tha thứ cho dân khi họ thật lòng quay trở về với Ngài: “Chúng sẽ không còn ra ô uế vì những ngẫu tượng, những đồ gớm ghiếc và mọi tội ác của chúng nữa. Ta sẽ cứu chúng thoát khỏi mọi nơi chúng đã ở và đã phạm tội; Ta sẽ thanh tẩy chúng. Chúng sẽ là dân của Ta; còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng.”
1.2/ Thiên Chúa sẽ cho David, lãnh đạo dân chúng đến muôn đời.
(1) Vua David lãnh đạo dân: Vua David được coi như một vị vua nổi tiếng nhất trong các vua của Do-thái. Thời của Vua, tất cả 12 chi tộc sống bình an và lãnh thổ được thái bình thịnh trị. Vị Vua sẽ lãnh đạo dân cũng thuộc giòng dõi và nổi tiếng như Vua David. Vị Vua này “sẽ làm vua cai trị chúng; sẽ chỉ có một mục tử duy nhất cho chúng hết thảy. Chúng sẽ sống theo các phán quyết của Ta, sẽ tuân giữ các thánh chỉ của Ta và đem ra thực hành. Chúng sẽ định cư trên đất Ta đã ban cho tôi tớ Ta là Jacob, phần đất mà tổ tiên các ngươi đã cư ngụ. Chính chúng và con cháu chúng sẽ định cư mãi mãi trên đó. David, tôi tớ Ta, sẽ là ông hoàng lãnh đạo chúng cho đến muôn đời.”
(2) Thiên Chúa sẽ thiết lập giao ước mới với nhà Israel: “Ta sẽ lập với chúng một giao ước bình an; đó sẽ là giao ước vĩnh cửu đối với chúng, Ta sẽ định cư chúng, cho chúng sinh sôi nảy nở ra nhiều và đặt thánh điện của Ta ở giữa chúng cho đến muôn đời. Nhà của Ta sẽ ở giữa chúng; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Ta.”
(3) Dân Chúa sẽ mở rộng đến các dân tộc: “Bấy giờ, các dân tộc sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Đấng thánh hoá Israel, khi Ta đặt thánh điện của Ta ở giữa chúng cho đến muôn đời.”
2/ Phúc Âm: Thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.
2.1/ Thiên Chúa dùng Chúa Giêsu để quy tụ dân Người về một mối: Việc Chúa Giêsu truyền cho Lazarus đã chết ba ngày sống lại làm cho nhiều người tin vào Ngài. Đây là lý do chính để những người Pharisees lập kế giết Ngài. Họ nói: "Chúng ta phải làm gì đây? Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rôma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta." Những gì họ lo nghĩ đã thành hiện thực vào năm 70 AD, nhưng Chúa Giêsu không phải là lý do người Roma phá hủy nước Do-thái. Thượng Hội Đồng (Sandherin) bao gồm những người Pharisees, giữ cẩn thận Lề Luật, và những người Sadducees, quan tâm đến chính trị và xã hội.
(1) Chúa Giêsu chết thay cho tòan dân: Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Caiaphas, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: "Các ông không hiểu gì cả, các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt." Có một sự trùng hợp giữa những gì Caiaphas nói và Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa: Chúa Giêsu phải chết để tòan dân được hưởng ơn cứu độ.
(2) Chúa Giêsu chết để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối: Có một sự trùng hợp khác nữa giữa thánh ý của Thiên Chúa và những gì Caiaphas nói. Thiên Chúa dùng ông để mặc khải ý định của Ngài: “Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giêsu sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.” Như lời tiên-tri Ezekiel báo trước trong Bài Đọc I, Chúa Giêsu đến để quy tụ dân thành một đòan chiên, và Ngài chính là Mục Tử Tốt Lành duy nhất chăn giữ đòan chiên này.
2.2/ Chúa Giêsu chuẩn bị chết thay cho toàn dân: Chúa Giêsu biết ý định của họ và biết ngày của mình trên dương gian sắp hòan tất, nên Ngài không đi lại công khai giữa người Do-thái nữa; nhưng từ nơi ấy, Người đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Ephraim (gần Bethel). Người ở lại đó với các môn đệ.
Khi ấy sắp đến lễ Vượt Qua của người Do-thái. Từ miền quê, nhiều người lên Jerusalem để cử hành các nghi thức thanh tẩy dọn mình mừng lễ. Họ tìm Đức Giêsu và đứng trong Đền Thờ bàn tán với nhau: "Có thể ông ấy sẽ không lên dự lễ, các ông có nghĩ thế không?" Họ nghĩ Chúa Giêsu không có can đảm để đối đầu với các thế lực chính trị và tôn giáo. Họ đã lầm, vì Chúa Giêsu không những dám vào, mà còn long trọng vào Thành Jerusalem với dân từ Bethany, trong Chủ Nhật Lễ Lá mà chúng ta sẽ cử hành để nhớ lại biến cố này ngày mai.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta hãy học để làm như Thiên Chúa: xây dựng thay vì phá hoại, tạo đòan kết thay vì gây chia rẽ, yêu thương thay cho hận thù.
- Chúa Giêsu đã chết thay cho tất cả chúng ta. Ngài chết để đưa tất cả nhân lọai về cho Thiên Chúa. Đây là Tin Mừng mà chúng ta cần tin tưởng và loan báo cho mọi người.
- Thiên Chúa điều khiển mọi người và mọi sự. Tất cả những gì Ngài muốn sẽ hiện thực. Con người không thể làm bất cứ gì để vô hiệu hóa dù chỉ một kế họach của Thiên Chúa.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP

08/04/17     TH BY TUN 5 MC
Th. Ta-nít-lao, giám mục, tử đạo Ga 11,45-56

MẦM HY VỌNG TỪ GIAN LAO

Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: “…Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.” Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân. (Ga 11,50-51)

Suy niệm: Sau khi Gia-cóp qua đời, các anh của ông Giu-se sợ ông trả thù, nên bối rối lo lắng. Biết điều đó, ông Giu-se nói với các anh: “Các anh định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân tộc đông đảo” (St 50,20). Thiên Chúa luôn can thiệp để những hành động độc dữ từ con người trở nên khí cụ cho chương trình của Ngài. Chẳng hạn, thay vì nói những lời nguyền rủa dân Chúa, thầy phù thủy Ba-la-am lại được Thiên Chúa uốn nắn nói những lời chúc lành. Và trong Tin Mừng hôm nay, quyết định của Cai-pha giết Chúa để toàn dân được sống trở nên lời tiên báo cho cái chết của Chúa thay cho toàn dân. Từ đó, chúng ta tin rằng, từ những điều xấu do con người gây nên, Chúa có đủ quyền năng hoá giải chúng trở nên điều lợi ích cho chúng ta.

Mời Bạn: Người ta thường than van trách móc Chúa vì không được như ý. Người ta cũng dễ dàng tìm cách báo thù những ai gây đau khổ cho mình. Người ta không tìm lợi ích từ những điều bất ý. Dân gian còn nhận biết “thất bại là mẹ thành công”, tại sao chúng ta không nhận ra những điều tốt từ những thử thách trong cuộc đời?

Sống Lời Chúa: Dâng những nhọc nhằn và thử thách hôm nay cho Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con rút tỉa được những điều lợi ích từ thánh giá Chúa và thập giá cuộc đời con. Xin cho con ngày càng yêu mến thánh giá.
(5 phút lời Chúa)

Chết thay cho dân (8.4.2017 – Th by Tun 5 Mùa Chay)
 Có bao tín hu vô danh khác vn âm thm nếm cái chết hàng ngày, ch vì mun theo gương Thy Giêsu đem s sng cho anh em


Suy nim:
Đức Giêsu đã từng nhiều lần bị tìm bắt, bị ném đá, bị đe dọa.
Nhưng đây là lần đầu tiên các thượng tế, các người Pharisêu
và Thượng Hội Đồng của Do thái giáo quyết định giết Ngài (c. 53).
Theo Tin Mừng Gioan, lý do gần nhất đưa đến quyết định đó
là việc Đức Giêsu làm cho anh Lazarô chết bốn ngày sống lại (Ga 11).
Sự sống lại của anh đã khiến cho nhiều kẻ tin vào Đức Giêsu.
Các nhà lãnh đạo tôn giáo sợ rằng phong trào theo Giêsu sẽ tiếp tục bành trướng,
mọi người sẽ tin, và quân Rôma sẽ đến phá hủy đất nước và nơi thờ tự (c. 48).
Caipha là vị thượng tế đương nhiệm năm ấy.
Đứng trước sự lúng túng và lo âu của các thành viên trong Thượng Hội Đồng,
đột nhiên ông phát biểu như không cần suy nghĩ thêm gì nữa :
“Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (c. 50).
Lời phát biểu bộc phát như thế,
nào ngờ lại là một lời tiên tri thốt ra từ miệng một vị thượng tế.
Caipha chỉ muốn loại trừ Đức Giêsu để bảo đảm an ninh cho đất nước và Đền Thờ,
nhưng ông lại vô tình nói tiên tri về tính cứu độ của cái chết Đức Giêsu.
Cái chết ấy sẽ cứu cả dân tộc Do thái khỏi bị tiêu diệt,
Đức Giêsu chết thay cho dân của Ngài.
Nhưng Caipha không ngờ ảnh hưởng của cái chết ấy còn vượt xa hơn nhiều.
Ngài chết “không chỉ thay cho dân (Do thái) mà thôi,
nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.”
Cái chết ấy có khả năng quy tụ mọi kẻ tin vào Đức Giêsu
về một đoàn chiên duy nhất, kể cả dân ngoại (Ga 10, 16).
Cái chết ấy có khả năng kéo mọi người lên chẳng trừ ai (Ga 12, 32).
Đức Giêsu đã bị kết án ngay khi chưa có phiên tòa chính thức.
Ngài bị kết án tử vì đã trao ban sự sống cho một con người.
Cái chết của Ngài không ngăn cản được sự sụp đổ của thành Giêrusalem
và sự tan hoang của cả đất nước Do thái vào năm 70.
Nhưng cái chết ấy đã đem lại ơn cứu độ cho mọi người tin.
Hiệu quả của cái chết ấy vẫn còn mãi đến tận thế.
Đức Giêsu đã hiến mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người (Mc 10, 45).
Năm 2016 người ta xác định được 28 nhà truyền giáo bị giết trên thế giới,
gồm 14 linh mục, 9 nữ tu, 1 chủng sinh và 4 giáo dân. *
Họ đã can đảm sống trong những hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm,
và đón nhận cái chết như cái giá phải trả cho tình yêu muốn phục vụ.
Có bao tín hữu vô danh khác vẫn âm thầm nếm cái chết hàng ngày,
chỉ vì muốn theo gương Thầy Giêsu đem sự sống cho anh em.
Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa,
Chúa đã làm người như chúng con,
nên Chúa hiểu gánh nặng của phận người.
Cuộc đời đầy cạm bẫy mời mọc
mà con người lại yếu đuối mong manh.
Hạnh phúc thường được trộn bằng nước mắt,
và giữa ánh sáng,
cũng có những bóng mờ đe dọa.

Lạy Chúa Giêsu,
nếu có lúc con mệt mỏi và xao xuyến,
xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu
Chúa đã buồn muốn chết được.
Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây,
xin nhắc con nhớ rằng trên thập giá
Chúa đã thốt lên : Sao Cha bỏ con?

Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc.
Xin đồng hành với con, để con không cô đơn.
Xin cho con yêu đời luôn
dù đời chẳng luôn đáng yêu.
Xin cho con can đảm
đối diện với những thách đố
vì biết rằng cuối cùng
chiến thắng thuộc về người
có niềm hy vọng lớn hơn. Amen.
––––––––––––––––––––––––

Lm Antôn Nguyn Cao Siêu, SJ

Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
8 THÁNG TƯ
Chia Sẻ Kinh Nghiệm Riêng Của Mình Cho Người Khác
“Thiên Chúa đã nâng Đức Giêsu dậy, và tất cả chúng tôi làm chứng về điều đó” (Cv 2,32).
Chứng từ của đức tin về Chúa Phục Sinh là một mối dây gắn kết tất cả các thành viên của Dân Thiên Chúa lại bằng một cách thế đặc biệt. Công Đồng đã đúc kết tiếng gọi này thành một lời hiệu triệu rõ ràng cho tất cả mọi giáo dân. Công Đồng tuyên bố rằng sứ mạng này đúng thực thuộc về mọi người giáo dân, do họ đã tháp nhập vào Đức Kitô qua Phép Rửa: “Mỗi người giáo dân phải là một chứng nhân cho thế giới về sự sống lại và về sự sống của Chúa Kitô” (GH 38).
Một cách thiết yếu, làm chứng nghĩa là chứng thực về sự chắc chắn của một sự thật – và sự chắc chắn này, một cách nào đó, là kết quả của kinh nghiệm bản thân. Một số phụ nữ đã là những người chứng đầu tiên về cuộc Phục Sinh của Chúa (Mt 28,5-8). Khi họ đến cửa mộ, họ không thấy Đức Giêsu, nhưng họ bắt đầu chắc chắn về sự Phục Sinh của Người vì ngôi mộ trống rỗng và vì thiên thần nói với họ rằng Người đã sống lại. Đó là cuộc hạnh ngộ nguyên sơ nhất của họ với mầu nhiệm Phục Sinh. Kinh nghiệm của họ về Chúa càng đạt thêm giá trị khi Đức Giêsu hiện ra với các Tông Đồ và các môn đệ trên đường về Emmau.
- suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II -
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II


Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 08 – 4
Ed 37, 21-28; Ga 11, 45-56.

LỜI SUY NIỆM: “Trong số những người Do-thái đến thăm cô Maria và được chứng kiến việc Đức Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.”
Sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ cho anh Ladarô chết chôn bốn ngày sống lại, thay vì vui mừng và tin Người là Đấng được Thiên Chúa sai đến, các thủ lãnh Do-thái lại càng ganh tỵ sợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi và chức vụ của mình, họ họp nhau tìm cách giết hại Chúa Giêsu: “Chúng ta phải làm gì đây.” (c.47) và cuối cùng họ đã đi tới một quyét định: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị tiêu diệt.” (c.50)
Lạy Chúa Giêsu. Chúa đã tự hiến tế mình trên thập giá để cho tất cả chúng con được sống. Và hằng ngày Chúa còn hiến tế trên mọi Bàn Thờ. Để cứu độ chúng con. Xin cho chúng con siêng năng tham dự thánh lễ mỗi ngày, để nhận được ơn tha thứ, được kết hợp với Chúa khi sống với tha nhân.
Mạnh Phương


08 Tháng Tư
Cái Này Của Tôi
Hai hiền nhân đã chung sống với nhau dưới một mái nhà trải qua nhiều năm tháng, nhưng không bao giờ họ lớn tiếng cãi vã nhau. Một hôm kia, một người có ý nghĩ ngộ nghĩnh. Ông bảo bạn:
"Ít ra là một lần, tôi muốn chúng ta phải cãi vã nhau, như chúng ta thấy thiên hạ thường làm".
Ông kia không khỏi ngạc nhiên về ý nghĩ kỳ lạ này, nhưng chiều bạn, ông ta hỡm hờ hỏi: "Cãi vã thế nào được, ít ra chúng ta phải tìm ra một việc gì chính đáng để cãi nhau chứ". Người có ý kiến phải cãi nhau đề nghị: "Này nhé, dễ lắm! Tôi để một viên đá ra giữa sân và quả quyết viên đá này là của tôi. Ông phải phùng mang trợn mắt, đỏ mặt tía tai và lớn tiếng cãi lại: làm gì có chuyện đó, viên gạch là của tôi. Rồi sau đó chúng ta cãi nhau".
Nói xong ông ta bèn ra đường và tìm một viên đá to, khệ nệ khiêng ra đặt ở giữa sân. Ông bạn kia bắt đầu ngay, ông ta lớn tiếng:
"Viên đá đó của tôi mà mắc mớ gì ông lại mang ra giữa sân". Ông kia cãi lại: "Viên đá này là của tôi. Tôi vừa tìm được ở ven đường. Bộ ông mù rồi sao mà không thấy?". Nghe nói thế, ông kia đáp:
"À phải rồi, viên đá đó ông tìm được thì đúng là của ông rồi. Vả lại tôi cũng không cần có đá để làm gì".
Nói xong, ông ta bỏ đi làm việc khác. Thế là ý định cãi nhau của hai người không được thành tựu như ý muốn.
Ngay từ thuở bập bẹ nói được, con người đã học câu "Cái này là của tôi" để thể hiện quyền làm chủ của mình. Quan sát các cuộc cãi nhau của trẻ con, chúng ta nghe thấy câu nói đó được lặp đi lặp lại nhiều nhất.
Rồi trong xã hội của những người lớn, dù có những cách nói hoa mỹ hay những lý luận có vẻ hợp lý hơn, nhưng chung quy phần lớn những mối bất hòa vẫn xoay xung quanh câu xác quyết "Cái này là của tôi".
Trẻ con tranh nhau hòn bi, trái banh. Người lớn giành nhau địa vị, lợi lộc. Quốc gia tranh nhau đất đai, hòn đảo, vùng ảnh hưởng, môi trường tiêu thụ.
Trẻ con dùng lời vã cãi nhau, dùng thoi đánh đấm nhau. Người lớn dùng bạo lực, thủ đoạn thanh toán nhau. Quốc gia dùng khí giới, bom đạn giết hại, tàn phá nhau.
Ngược lại bẩm tính thích tranh nhau chiếm hữu này, sứ điệp của Giáo Hội luôn vang lên hai tiếng: Chia sẻ.
Ở Hoa Kỳ, mỗi gia đình công giáo được phân phát một hộp giấy, để trong suốt Mùa Chay, mỗi phần tử trong gia đình bỏ vào đấy những đồng tiền tiết kiệm do bớt ăn, bớt uống, bớt chi tiền vào những việc giải trí. Cuối Mùa Chay, những số tiền dành dụm đó được đóng góp vào quỹ dành cho việc tài trợ những chương trình cứu tế xã hội trong và ngoài nước.
(Lẽ Sống)


Lectio Divina: Gioan 11:45-46
Thứ Bảy, 8 Tháng 4, 2017


Thứ Bảy Tuần V Mùa Chay                              

1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Chúa là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn vật và là Cha của muôn loài,
Các con cái của Chúa
Vẫn còn tản mác khắp nơi và còn chia rẽ:  Kitô hữu và người ngoài Kitô giáo,
Các Giáo Hội và giáo phái khác nhau
Tự nhận mình độc quyền là con cái của Chúa,
Và mỗi người trong số họ đầy rẫy các phe phái.
Xin Chúa hãy cho chúng con được mơ giấc mơ một lần nữa
Chỉ có Chúa mới có thể làm được:
Rằng tất cả chúng con có thể nên một
Nếu chúng con tin và đi theo Người
Đấng đã chịu chết để hiệp nhất tất cả những ai đang tản mác,
Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con đến muôn đời.

2.  Phúc Âm – Gioan 11:45-56

Khi ấy, trong những người đến thăm Maria và được chứng kiến việc Chúa Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.  Nhưng trong nhóm có kẻ đi gặp Người Biệt Phái và thuật lại các việc Chúa Giêsu đã làm.
Do đó. Các thượng tế và Biệt Phái họp công nghị, và nói:  “Chúng ta phải xử trí sao đây?  Vì người này làm nhiều phép lạ.  Nếu chúng ta để mặc người ấy làm như thế, thì mọi người sẽ tin theo và quân Rôma sẽ kéo đến phá hủy nơi này và dân tộc ta”.
Một người trong nhóm là Caipha làm thượng tế năm đó, nói với họ rằng:  “Quý vị không hiểu gì cả!  Quý vị không nghĩ rằng thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt”.  Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giêsu phải chết thay cho dân, và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác về một mối.
Bởi vậy, từ ngày đó, họ quyết định giết Người.  Vì thế Chúa Giêsu không còn công khai đi lại giữa người Do Thái nữa.  Người đi về miền gần hoang địa, đến thành phố tên là Ephrem, và ở lại đó với các môn đệ.  Khi đó đã đến gần Lễ Vượt Qua của người Do Thái.  Có nhiều người từ các miền lên Giêrusalem trước lễ, để được thanh tẩy.  Họ tìm Chúa Giêsu; họ đứng trong Đền Thờ và bàn tán với nhau:  “Anh em nghĩ sao?  Người có đến hay không?”  Còn các thượng tế và Biệt Phái đã ra lệnh rằng nếu ai biết Người ở đâu, thì phải tố cáo để họ bắt Người.

3.  Suy Niệm 

-  Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta phần cuối của câu chuyện dài về sự sống lại của Lagiarô tại làng Bêtania, trong ngôi nhà của các bà Máctha và Maria (Ga 11:1-56).  Việc sống lại của ông Lagiarô là dấu chỉ (phép lạ) thứ bảy của Chúa Giêsu trong sách Tin Mừng Gioan và cũng là tột đỉnh và điểm quyết định của sự mặc khải mà Người đã làm về Thiên Chúa và về chính mình.
-  Cộng đoàn nhỏ bé tại Bêtania, nơi Chúa Giêsu thường lui tới, phản ánh tình trạng và phong cách sống của cộng đoàn nhỏ bé của người Môn Đệ Chúa Yêu vào cuối thế kỷ thứ nhất tại miền Tiểu Á.  Bêtania có nghĩa là “Ngôi nhà của Người Nghèo”.  Chúng là những cộng đoàn nghèo khó, bần cùng, Máctha có nghĩa là “Bà Quản” (điều hợp viên):  người phụ nữ điều phối việc cộng đoàn.  Lagiarô có nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng phù trợ tôi”:  cộng đoàn nghèo khó nên tất cả đều trông đợi từ Thiên Chúa.  Maria có nghĩa là “người được Đức Giavê yêu mến”:  bà là người môn đệ Chúa yêu, hình ảnh của cộng đoàn.  Câu chuyện Lagiarô sống lại thông tri điều chắc chắn này:  Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống cho tất cả những ai tin vào Ngài. 
-  Ga 11:45-46:  Dư âm của Dấu Lạ Thứ Bảy trong dân chúng.  Sau việc sống lại của Lagiarô (Ga 11:1-44), có lời mô tả về dư âm của dấu lạ này trong dân chúng.  Người ta bị chia rẽ:  “trong số những người Do Thái đến thăm cô Maria, và được chứng kiến việc Đức Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người”.  Nhưng lại có một số trong bọn họ đã đi gặp người Biệt Phái và thuật lại các việc Chúa Giêsu đã làm.
Nhóm thứ hai đã đi tố cáo Chúa.  Để có thể hiểu được phản ứng này của một phần dân chúng, chúng ta là cần phải biết rằng một nửa dân thành Giêrusalem hoàn toàn phụ thuộc vào Đền Thờ để có thể sống còn.  Bởi vì điều này, sẽ rất khó cho họ hỗ trợ một tiên tri vô danh tiểu tốt từ xứ Galilêa là kẻ đã chỉ trích Đền Thờ và giới chức thẩm quyền.  Điều này cũng giải thích tại sao có một số người thậm chí đã sẵn sàng để đi tố cáo với các giới chức thẩm quyền.   
-  Ga 11:47-53:  Dư âm của Dấu Lạ Thứ Bảy trong số những giới chức thẩm quyền.  Tin tức về sự sống lại của Lagiarô đã làm gia tăng thanh thế của Chúa Giêsu.  Đây là lý do mà các nhà lãnh đạo tôn giáo đã triệu tập một cuộc họp thượng công nghị (Synedrium), cơ quan tối cao, để xử trí việc loại trừ Người; bởi vì:  “Người này đã làm nhiều dấu lạ.  Nếu chúng ta để mặc người ấy làm như thế, thì mọi người sẽ tin theo và quân La Mã sẽ kéo đến phá hủy Thánh Địa và dân tộc ta”.  Họ sợ quân La Mã.  Và bởi vì trong quá khứ đã cho thấy điều này nhiều lần bởi các cuộc xâm lăng của người La Mã vào khoảng thời gian từ năm 64 trước Công Nguyên cho đến thời Chúa Giêsu, người La Mã đã đàn áp thô bạo với bất kỳ nỗ lực nổi dậy nào của công chúng (Xem Cv 5:35-37).  Trong trường hợp của Chúa Giêsu, phản ứng của người La Mã có thể dẫn đến việc mất mát tất cả mọi thứ, thậm chí cả Đền Thờ và địa vị đặc quyền của các tư tế.  Bởi vì điều này, Caipha, vị Thượng Tế, quyết định:  “thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt”.  Và Thánh Sử còn chú thích:  “Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giêsu phải chết thay cho dân, và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác về một mối.”  Vì vậy, bắt đầu từ lúc đó, các thượng tế lo âu bởi vì ảnh hưởng của Chúa Giêsu tăng dần và họ bị thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi người La Mã, nên đã quyết định giết Chúa Giêsu.
-  Ga 11:54-56:  Dư âm của dấu lạ thứ bảy trong cuộc đời của Chúa Giêsu.  Kết quả cuối cùng là Chúa Giêsu đã phải sống ẩn mình.  “Vì thế Chúa Giêsu không còn công khai đi lại giữa người Do Thái nữa.  Người đi về miền gần hoang địa, đến thành phố tên là Ephrem, và ở lại đó với các môn đệ.”  Lễ Vượt Qua của người Do Tái đã gần kề.  Vào thời điểm này trong năm, dân số thành Giêrusalem tăng gấp ba bởi vì số lượng lớn khách hành hương.  Tất cả những cuộc bàn tán đã xoay quanh về Chúa Giêsu:  “Anh em nghĩ sao?  Người có đến hay không?”  Trong cùng một cách, tại thời điểm mà sách Tin Mừng này được viết vào cuối thế kỷ thứ nhất, thời kỳ đàn áp của Hoàng Đế Đômitian (năm 81-96), các cộng đoàn Kitô hữu là những người sống vào công quả của người khác đã bị buộc phải sống lẩn tránh như thế.
-  Chìa khóa để hiểu được dấu chỉ thứ bảy sự sống lại của Lagiarô.  Lagiarô bị ốm.  Các chị của ông là Máctha và Maria đã cử người đến mời Chúa Giêsu:  “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng!” (Ga 11:3-5).  Chúa Giêsu đáp lại lời yêu cầu và giải thích cho các môn đệ:  ‘Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh” (Ga 11:4).  Trong Tin Mừng Gioan, sự tôn vinh của Chúa Giêsu đi qua cái chết của Người (Ga 12:23; 17:1).  Một trong những nguyên nhân của việc bị lên án tử của Chúa là sự sống lại của Lagiarô (Ga 11:50; 12:10).  Nhiều người Do Thái đang ở trong nhà của Máctha và Maria để an ủi họ vì sự mất mát của người em các bà.  Người Do Thái, đại diện cho Cựu Ước, chỉ có biết an ủi.  Họ không cho cuộc sống mới…  Chúa Giêsu là Đấng mang lại sự sống mới!  Như thế, một mặt, mối đe dọa án tử cho Chúa Giêsu.  Mặt khác, Chúa Giêsu chiến thắng sự chết!  Trong bối cảnh này của sự mâu thuẫn giữa sự sống và cái chết là dấu lạ thứ bảy sự sống lại của Lagiarô xảy ra.  Máctha nói rằng bà tin vào sự sống lại.  Những người Biệt Phái và đa số người dân nói rằng họ tin vào sự Phục Sinh (Cv 23:6-10; Mc 12:18).  Họ tin, nhưng họ không mặc khải điều ấy. Đó chỉ là đức tin vào sự sống lại vào ngày tận thế mà không tin vào sự sống lại hiện diện trong lịch sử, ngay bây giờ và tại đây.  Đức tin cổ xưa này đã không đổi mới sự sống.  Nó chưa đủ để tin vào sự sống lại sẽ đến vào ngày tận thế, mà nó còn cần thiết tin vào sự Phục Sinh đã hiện diện ở đây và bây giờ trong con người của Chúa Giêsu và trong những ai tin vào Chúa Giêsu.  Trên những người này, sự chết không còn có bất cứ một năng lực nào, bởi vì Đức Giêsu là “sự sống lại và là sự sống”.  Ngay cả khi không nhìn thấy dấu chỉ cụ thể sự sống lại của Lagiarô, bà Máctha đã tuyên xưng đức tin của mình:  “Con tin rằng Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11:27).
Chúa Giêsu ra lệnh lăn tảng đá sang một bên.  Bà Máctha phản ứng:  “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày!” (Ga 11:40).  Người ta lăn tảng đá sang bên.  Trước ngôi mộ mở và trước những kẻ không tin, Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha.  Trong lời cầu nguyện của Người, trước hết, Người dâng lời tạ ơn:  “Lạy Cha, Con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con.  Phần Con, Con biết Cha hằng nhậm lời Con!” (Ga 11:41-42).  Đức Giêsu biết Chúa Cha và tin tưởng vào Ngài.  Nhưng giờ đây Người cầu xin  một dấu lạ bởi vì dân chúng đứng chung quanh Người, để họ có thể tin rằng Người, Đức Giêsu, đã được Chúa Cha sai đến.  Nói xong, Người kêu lớn tiếng:  “Lagiarô, hãy ra khỏi mồ!”  Lagiarô liền đi ra (Ga 11:43-44).  Đây là chiến thắng của sự sống trước cái chết, của đức tin trước sự vô tín.  Một nông phu đã nhận xét:  “Tự chúng ta phải lăn bỏ tảng đá.  Và tùy thuộc vào Thiên Chúa để phục sinh cộng đoàn.  Có những người không biết cách để loại bỏ tảng đá, và vì thế cộng đoàn của họ không có sự sống! 

4.  Một vài câu hỏi gợi ý cho việc suy gẫm cá nhân
                    
-  Đối với tôi, tin vào sự sống lại có ý nghĩa cụ thể gì?  
-  Một phần dân chúng đã chấp nhận Chúa Giêsu, và một phần đã không chấp nhận.  Ngày nay, một phần nhân loại chấp nhận sự canh tân của Giáo Hội và một phần thì không.  Còn bạn thì sao?

5.  Lời nguyện kết

Lạy CHÚA, chính Ngài là Đấng con trông đợi,
Lạy ĐỨC CHÚA, chính Ngài là Đấng con tin tưởng
Ngay từ độ thanh xuân.
Từ thuở sơ sinh, con nương tựa vào Ngài,
Ngài đã kéo con ra khỏi lòng mẹ,
Con ca tụng Ngài chẳng khi ngơi.
(Tv 71:5-6)