19/08/2018
Chúa Nhật tuần 20 Thường Niên năm B.
(phần I)
BÀI ĐỌC I: Cn 9, 1-6
“Các ngươi hãy ăn bánh của ta,
và hãy uống rượu ta đã pha cho các ngươi”.
Trích sách Châm
Ngôn.
Sự khôn ngoan đã xây
nhà mình và dựng bảy cột trụ, đã giết các sinh vật, pha rượu, dọn bàn tiệc, và
sai những nữ tỳ lên các nơi cao trong thành mà công bố rằng: “Ai ngây thơ, hãy
đến cùng ta”. Và bảo những kẻ mê muội rằng: “Các ngươi hãy đến ăn bánh của ta,
và uống rượu ta đã pha cho các ngươi. Các ngươi hãy bỏ sự ngây dại đi, thì sẽ
được sống, và hãy bước theo đường lối khôn ngoan”. Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 33, 2-3.
10-11. 12-13. 14-15
Đáp: Các bạn hãy nếm
thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao (c. 9a).
Xướng: 1) Tôi chúc tụng
Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn
tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. – Đáp.
2) Các thánh nhân của
Chúa hãy tôn sợ Chúa, vì người tôn sợ Chúa chẳng thiếu thốn chi; bọn sang giàu
đã sa cơ nghèo đói, nhưng người tìm Chúa chẳng thiếu chi thiện hảo. – Đáp.
3) Các đệ tử ơi, hãy lại
đây, hãy nghe ta, ta sẽ dạy cho các con biết tôn sợ Chúa. Ai là người yêu quý
cuộc đời, mong sống lâu để hưởng nhiều phúc lộc. – Đáp.
4) Hãy giữ lưỡi đừng
nói ra điều ác, và ngậm môi cho khỏi thốt ra lời gian ngoa. Hãy lo tránh ác và
hành thiện, hãy tìm kiếm và theo đuổi bình an. – Đáp.
BÀI ĐỌC II: Ep 5, 15-20
“Anh em hãy ăn ở khôn ngoan
theo thánh ý Chúa”.
Trích thư Thánh
Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, anh
em hãy xét coi phải ăn ở thế nào cho thận trọng, đừng như những kẻ dại dột,
song như những người khôn ngoan: biết lợi dụng thời giờ, vì thời buổi này đen tối.
Vì thế anh em chớ ăn ở bất cẩn, nhưng hãy hiểu biết thế nào là thánh ý Thiên
Chúa. Anh em chớ say sưa rượu chè, vì rượu sinh ra dâm dục, nhưng hãy tiếp nhận
dồi dào Chúa Thánh Thần, cùng nhau hát lên những thánh vịnh, những ca vãn và những
bài ca đạo đức và hết lòng ca tụng Chúa. Hãy luôn luôn cảm tạ Thiên Chúa là Cha
trong mọi nơi mọi sự, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Đó là lời Chúa.
ALLELUIA: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia!
– Chúa phán: “Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến
người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy”. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Ga 6, 51-59
(Hl 51-58)
“Thịt Ta thật là của ăn, và Máu
Ta thật là của uống”.
Tin Mừng Chúa Giêsu
Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu
phán cùng dân Do-thái rằng: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh
này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian
được sống”.
Vậy người Do-thái
tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn
được?”
Bấy giờ Chúa Giêsu nói
với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và
uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và
uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết.
Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống
máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha, là Đấng hằng sống đã
sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta.
Đây là bánh bởi trời xuống. Không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã
chết, ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”. Đó là lời Chúa.
Suy Niệm: Hãy Ðến và Hãy Ăn
Cũng như trong các Chúa nhật trước, các bài đọc
Kinh Thánh hôm nay dường như muốn lôi kéo suy tư của chúng ta ngay vào mầu nhiệm
Thánh Thể. Nhưng vì đây là bí tích nhiệm mầu và phong phú, những tư tưởng trực
tiếp về Thánh Thể vừa phải được chuẩn bị, vừa phải được khai triển. Chúng ta
hãy đọc lại bài sách Cách Ngôn như dẫn nhập vào bài Tin Mừng và coi bài thư
Phaolô như quyết tâm theo sau nhận thức của chúng ta về chính các lời của Ðức
Kitô dạy dỗ hôm nay.
1. Hãy Ðến
Trước hết chúng ta hãy nhận lấy lời đức khôn
ngoan mời đến dự tiệc Người đã dọn.
Sách Cách Ngôn trong đoạn văn này tỏ ra phi
thường. Quả vậy, thường tình người ta chỉ coi sự khôn ngoan như là một kho tàng
kiến thức giá trị hoặc như một tư cách tốt của tâm trí con người. Ở đây ngược lại,
sách Cách Ngôn nhìn khôn ngoan như bậc thần linh, và phải nói như là hiện thân
của Thiên Chúa nếu không phải làchính bản thân Người. Người là chính sự khôn
ngoan. Người không chỉ ở nơi cao xa, biệt lập với con người. Ðấng Thiên Chúa của
đạo mạc khải bao giờ cũng lấy làm vui thích ở giữa con cái loài người. Người
khác hẳn các thần minh nơi mọi tôn giáo khác. Người chân thật chứ không trừu tượng.
Người ở giữa chúng ta chứ không ngự nơi xa cách.
Chính vì vậy mà sách Cách Ngôn hôm nay viết: đức
khôn ngoan đã xây nhà cho mình... Hẳn là tác giả đã nghĩ tới sự hiện diện của
Yavê nơi Luật pháp, nơi Lều Giao ước, nơi Ðền thờ ở trong dân Chúa. Không có
dân nào có Chúa của họ ở gần như dân riêng của Chúa, Người có nhà của mình ở giữa
dân. Ðó là đền thờ Yêrusalem; và đúng hơn đó là bất cứ hình thức hiện diện nào
của Người như Luật pháp, Lều Giao ước v.v...
Có hiểu như vậy mới dễ cắt nghĩa câu Cách Ngôn
sau: "Người đã đẽo bảy cây cột". Tác giả không có ý đếm các cây cột của
đền thờ Yêrusalem, cũng chẳng muốn nhắc đến dinh thự nào ở trong dân Chúa.
Trong quan niệm của người đồng thời với ông, nhà có nhiều hàng cột là nhà sang
và đẹp; và con số 7 nói đến ý nghĩa hoàn toàn. Tức là đối với ông sự khôn ngoan
của Thiên Chúa đã đến hiện thân ở giữa loài người, đặc biệt ở trong dân Chúa,
nơi Ðền thờ Người. Nhà của Người rất khang trang và tươm tất.
Người ở đó làm gì? Sách viết tiếp: Người hạ
súc vật, hãm rượu, rồi dọn bàn; đoạn sai nữ tỳ đi mời khách đến dự yến. Những
ai từng đọc Kinh Thánh, hẳn đã nhận ra trong câu văn này một đề tài rất quen
thuộc. Các tiên tri vẫn loan báo: vào thời thiên sai, Yavê sẽ mở tiệc thết các
dân tộc trên núi thánh. Và hình ảnh bữa ăn luôn được Kinh Thánh dùng để nói đến
sự thân mật mà Thiên Chúa muốn chia sẻ với dân Người. Như vậy, ở đây sách Cách
Ngôn muốn viết rằng: Thiên Chúa dựng lều ở giữa chúng ta...; Người mở tiệc mời
ta đến dự. Mọi sự đã sẵn sàng rồi: không những thịt và rượu đã dọn xong mà bàn
cũng đã được kê. Người lại sai tôi tớ đi mời khách đến dự.
Sách Cách Ngôn nói đến các nữ tỳ là vì đã hình
dung đức Khôn ngoan như một bài quý phái; chứ chữ này phải hiểu về hết thảy các
ngôn sứ mà Thiên Chúa đã sai đến với loài người... Họ được phái đến với những kẻ
"ngây ngô khờ dại", cũng như sau này Yoan viết: Lời Chúa được gửi đến
cho những tâm hồn bé mọn. Tuy nhiên chẳng ai cấm chúng ta hiểu những kẻ ngây
ngô khờ dại đây là tất cả loài người tội lỗi. Nếu đã khôn thì họ đã không sa
ngã và không đang đi trong sự lầm lạc. Dù sao nhìn vào kết quả, chúng ta vẫn có
thể khẳng định rằng, Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa chúng ta đã được tiền định
cho những kẻ nghèo khó và bé mọn, bởi vì chân lý thánh giá luôn luôn là một điều
điên dại đối với sự khôn ngoan của thế gian. Chúng ta hẳn cũng nhớ dụ ngôn về
các khách dự tiệc kể trong Phúc Âm. Những kẻ khôn ngoan đã chối khéo, không đến
dự tiệc, trong khi nhiều kẻ hèn mọn đã đến và đã được no thỏa.
Ở đây, sau khi dự tiệc của đức Khôn ngoan, người
ta sẽ trút bỏ được sự ngây ngô và được sống vì sẽ biết đi trong đường lối hiểu
biết.
Như vậy bài sách Cách Ngôn hôm nay không trực
tiếp nói đến Thánh Thể. Chúng ta được biết lòng Chúa yêu thương loài người. Người
không nỡ bỏ họ đi trong lầm lạc; Người đến ở giữa dân, sai các sứ giả đi kêu mời
chúng ta đến nghe Người dạy dỗ để nên khôn ngoan mà được sống. Tác giả sách
Cách Ngôn muốn nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người và nhất là
sự mạc khải của Người trong sách Thánh... Nhưng những lời của ông có thể trở
thành lời tiên tri loan báo về Ngôi Lời là sự khôn ngoan của Thiên Chúa sẽ đến
cắm lều ở giữa chúng ta khi nhập thể cứu đời. Chính Người sẽ mời gọi và sai các
Tông đồ của Hội Thánh đi kêu mời chúng ta đến dự tiệc Người dọn. Và như thế,
bài sách Cách Ngôn hôm nay rất thích hợp để dẫn chúng ta vào bài Tin Mừng.
2. Hãy Ăn
Nói thật ra, từ bài sách Cách Ngôn sang bài
Tin Mừng có một sự đột ngột mà chỉ có đức tin mới chấp nhận được Ðức Yêsu không
xưng mình là sự khôn ngoan nhập thể; hay là lời ban sự sống. Giá có như vậy thì
giữa bài Tin Mừng hôm nay và bài sách Cách Ngôn sẽ có sự liên tục nhiều hơn.
Nhưng đàng này, những câu tuyên bố như thế, Ðức Yêsu đã làm trước cả rồi... Ðoạn
Tin Mừng hôm nay đã đi vào phần chót của một bài diễn từ dài. Sau khi hóa bánh
ra nhiều để nuôi dân. Người đã khuyến khích họ hãy nỗ lực tìm cho được thức ăn
ban sự sống đời đời chứ đừng chỉ cặm cụi lo cho được lương thực hư nát. Và bánh
ban sự sống đời đời trước hết là chính Người Con mà Thiên Chúa đã sai xuống trần
gian để ai tin vào Người thì sẽ được sống. Người thật là sự khôn ngoan của
Thiên chúa đã nhập thể để dẫn đường chỉ lối cho những kẻ tin Người. Lời Người
có sức ban sự sống.
Nhưng không phải chỉ có bấy nhiêu. Nơi Người
không phải chỉ có lời hằng sống. Chính Người còn là Bánh bởi trời xuống. Thịt
Người là của ăn; Máu Người là của uống. Người ta muốn được sống phải ăn thịt và
uống máu Người.
Không có đức tin, ai có thể hiểu và nhận được
những lời như vậy? Người Dothái lập tức thắc mắc và phản đối, cũng không có gì
lạ. Họ bảo rằng: làm sao người này lại có thể lấy thịt mình cho người ta ăn?
Nhưng rồi họ sẽ thấy chính họ sẽ lấy thịt và máu Người khi họ hành hạ và giết
Người trong mầu nhiệm Thập giá. Chính khi họ tra tấn, đánh đập xác thịt Người
và làm cho hết mọi giọt máu của Người đổ ra, họ đã biến Người nên chiên vượt
qua bị sát tế để giải phóng nhân loại tội lỗi khỏi xiềng xích sự chết và được sống.
Thịt máu Người quả thực sẽ ban sự sống cho người ta.
Nhưng ở đây không những Yoan nghĩ đến cuộc tử
nạn cứu độ của Ðức Yêsu trong ngày thứ Sáu tuần lễ Vượt qua. Người không tách rời
hy lễ đổ máu ấy khỏi lễ dâng tại bàn tiệc ly và các thánh lễ còn đang cử hành
trong Hội Thánh. Người còn nghĩ tới Thánh Thể, nhưng luôn luôn suy nghĩ về
Thánh Thể mật thiết gắn bó với mầu nhiệm thập giá. Nói cách khác, trong đoạn
Tin Mừng này Yoan nghĩ về Thánh Thể. Người khẳng định niềm tin bánh rượu trên
bàn thờ là Thịt Máu Ðức Kitô. Và bí tích Thánh Thể này ban sự sống thật và bảo
đảm sự sống lại sau này cho chúng ta, vì lẽ bánh mà Ðức Kitô ban đây chính là
Thịt của Người đã được thí ban để cho thế gian được sống (c.51). Người đã liên
kết bánh bàn thờ với Thân Thể Người ở trên thập giá. Thế mà chính trên cây gỗ
này lại treo giá cứu chuộc trần gian. Như vậy, Thánh Thể có sức ban sự sống vì
năng lực của Ðức Kitô nằm trên thập giá. Tại đây Người sống và sống lại nhờ
Chúa Cha thế nào thì ai ăn Thịt và uống Máu Người trong Thánh Thể cũng được sống
và sống lại như thế.
Chúng ta có đức tin, nên hiểu được những lời
này. Và chúng ta thấy Ðức Yêsu đã làm hơn sự khôn ngoan ở trong sách Cách Ngôn.
Người đã làm trọn nhưng cũng đã làm vượt quá mọi lời tiên tri trong Cựu Ước.
Khi Người sinh ra làm Ðấng Emmanuel, tức là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi, không
những Người đã là hiện thân của sự khôn ngoan của Thiên Chúa để xây nhà trong bản
tính nhân loại và không ngừng làm vang lời Khôn ngoan cứu sống của Thiên Chúa
nơi tâm hồn những kẻ tin theo Người. Hơn nữa, Người còn dọn thịt và rượu trên
bàn thờ thập giá là chính Thịt Máu Người; và mời gọi các tâm hồn đơn sơ bé mọn
đến nhận lấy mà được sống. Ðây thật là sự khôn ngoan của thập giá mà sự khôn ngoan
của thế gian không thể nào chấp nhận được. Chúng ta đã nhờ đức tin mà chấp nhận
thì như lời sách Cách Ngôn đã báo trước chúng ta đã trút bỏ được sự ngây ngô và
trở nên khôn ngoan. Nhưng chúng ta có sống đúng như vậy không? Ðó là điều mà
bài thư Phaolô hôm nay muốn trao đổi với chúng ta.
3. Hãy Cảm Tạ Chúa
Thánh Tông đồ nói: Nếu muốn tỏ ra khôn ngoan
chứ không phải khờ dại, thì chúng ta phải để ý đến cách ăn ở. Người cũng suy
nghĩ như tác giả bài sách Cách Ngôn: Khôn ngoan không phải là một mớ kiến thức
hay là một tư cách của trí tuệ, nhưng là một cách sống, một nếp sống thể hiện
trong hành động và trong thực tế. Người khôn theo thánh Tông đồ, là người biết
"xử dụng" cuộc đời vì lẽ đời này xấu xa.
Có lẽ bấy giờ Phaolô đang bị giữ ở Rôma. Người
thấy Tin Mừng của Chúa bị cản trở tại nhiều nơi. Hội Thánh gặp nhiều khó khăn.
Và có thể tội lỗi cũng đã lộ mặt trong nhiều cộng đồng tín hữu. Tất cả khiến
Phaolô nhìn đời bằng con mắt ít cảm tình. Hơn nữa chính xã hội Rôma thời bấy giờ
cũng không đáng lạc quan.
Tuy nhiên đấy vẫn chỉ là hiện tượng. Nhà thần
học Phaolô còn có cái nhìn xa hơn. Thế gian đã đóng đinh Ðức Yêsu, Vua vinh hiển
thì bản chất của nó là xấu. Và sống theo nó là khờ dại vì mầu nhiệm phục sinh của
Ðức Kitô đã sáng ngời làm chứng mưu đồ thế gian giết Ðấng vinh hiển đã thất bại
hoàn toàn. Ai dại gì mà còn sống theo thế gian.
Nhưng thế gian vẫn bao trùm lấy người ta. Con
người vẫn phải sống ở trong đó. Người khôn ngoan không phải là kẻ ra khỏi thế
gian vì điều này không có thể làm được. Họ chỉ có thể ở trong thế gian, nhưng
không còn thuộc về thế gian. Và sống như vậy là theo thánh Phaolô biết xử dụng
cuộc đời.
Thú thực chính từ ngữ mà Phaolô dùng và ở đây
chúng ta chuyển ngữ là "xử dụng" có một nội dung rất khó diễn tả. Nó
gợi lên hình ảnh một người nội trợ tốt đi chợ mua sắm cho gia đình. Bà khéo léo
vừa chi ít tiền vừa sắm đầy đủ cho đời sống của mọi người trong gia đình. Thánh
Phaolô bảo: người khôn ngoan đạo đức cũng vậy. Họ biết dùng những sự ở đời để
mua sắm sự sống đời đời. Và cho được như vậy, họ phải tìm hiểu và thi hành
thánh ý Chúa (c.17).
Nhưng nhờ ai mà biết được thiên ý?
Thánh Phaolô đáp: chúng ta đã được tràn đầy
Thánh Thần. Chính Người hiểu thấu cung lòng thâm sâu của Thiên Chúa. Và Người
đã được ban cho chúng ta trong giai đoạn hiện nay của Hội Thánh. Người ngụ nơi
lòng chúng ta như ở trong đền thờ. Và như vậy Người là sự khôn ngoan hiện nay của
ta, vì như lời sách Cách Ngôn viết: đức khôn ngoan đã xây nhà ở với con cái
loài người, và vì Thánh Thần là hồng ân đặc biệt của thời thiên sai chỉ được
ban cho loài người khi Ðức Yêsu đã hoàn tất mầu nhiệm tử nạn phục sinh.
Ở đây chúng ta hãy chú ý điểm mà thánh Phaolô
so sánh. Người bảo: đừng say sưa rượu chè, chỉ tổ hư thân; nhưng hãy làm sao
cho được no đầy Thánh Thần. Chúng ta không nghĩ rằng người muốn nói việc say
sưa rượu chè sẽ đem lại nhiều tội lỗi. Nhưng chắc là người muốn nói đến nếp sống
say mê những sự thế gian dẫn đến diệt vong. Ngược lại phải no đầy Thánh Thần
như các Tông đồ trong ngày lễ Hiện xuống mà người ta tưởng là các ngài say rượu.
Ðọc những câu này trong bối cảnh của Phụng vụ
hôm nay, chẳng ai có thể cấm chúng ta áp dụng rằng: đừng coi Thánh Thể là vấn đề
bánh rượu làm no say thân xác, nhưng hãy tin đó là thần lương ban Thánh Thần
cho ai nhận lấy như Thịt Máu Ðức Yêsu. Ai cư xử như vậy chắc chắn là nhận được
sự sống đời đời và trở nên khôn ngoan thật sự như bài sách Cách Ngôn và bài Tin
Mừng đã nói.
Giờ đây chúng ta sắp chạm trán với những thực
tại linh thiêng ấy. Chúng ta sẽ hiệp dâng bánh rượu, để chứng kiến bánh rượu trở
nên Mình Máu Chúa Kitô trong mầu nhiệm cứu thế. Thánh Phaolô bảo chúng ta hãy hết
lòng tung hô chúc tụng theo các bài kinh lễ và nhất là hãy cảm mến tạ ơn nhân
danh Ðức Yêsu, để như vậy chúng ta được tràn đầy Thánh Thần là sự khôn ngoan của
Thiên Chúa bây giờ ở với chúng ta. Nhờ đó chúng ta sẽ được Người soi sáng hướng
dẫn luôn thi hành ý Chúa khiến chúng ta biết xử dụng cuộc đời chóng qua để đạt
tới hạnh phúc Nước Trời.
(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
Lời Chúa Mỗi Ngày
Chúa Nhật 20 Thường Niên, Năm B
Bài đọc: Pro
9:1-6; Eph 5:15-20; Jn 6:51-58.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Khao
khát được “trường sinh bất tử.”
Con người khôn ngoan không bao giờ muốn chết, nhưng muốn được sống “trường sinh
bất tử;” nhưng cái chết là một thực tại và nó luôn đe dọa mạng sống con người.
Tại sao khao khát trường sinh có thể nói là một bản năng của con người mà cái
chết lại cướp đi bản năng đó. Con người có hy vọng gì để đạt được nỗi khao khát
trường sinh không?
Hy vọng lớn lao và may mắn cho con người: Niềm tin và đạo lý Công Giáo dạy: (1)
Nỗi khao khát trường sinh là một khao khát có thật vì Thiên Chúa, Đấng dựng nên
con người, muốn con người được trường sinh bất tử. (2) Vì tội lỗi mà con người
phải chết; nhưng Thiên Chúa đã có sẵn Kế Hoạch Cứu Độ để giải phóng con người
khỏi tội lỗi và sự chết.
Các Bài Đọc hôm nay xoay quanh nỗi ước ao được sống trường sinh của con người.
Trong Bài Đọc I, tác giả Sách Châm Ngôn nhân cách hóa sự khôn ngoan và nêu lên
một điều kiện để con người được sống: phải “ăn bánh và uống rượu” do khôn ngoan
làm ra. Trong Bài Đọc II, thánh Phaolô khuyên các tín hữu Ephesô phải biết sống
như những người khôn ngoan bằng cách theo sự hướng dẫn của Thánh Thần để tìm ra
và làm theo thánh ý Thiên Chúa. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu mặc khải cho con người
bí quyết để được trường sinh bất tử: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống
muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.”
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống
rượu do ta pha chế!
1.1/ Đức Khôn Ngoan chuẩn
bị mọi thứ sẵn sàng: Tác giả Sách Châm Ngôn
đã nhân cách hóa khôn ngoan như một người phụ nữ, bằng cách diễn tả các đặc
tính của khôn ngoan như sau:
+ Khôn ngoan luôn chắc chắn và bền vững: “Đức Khôn Ngoan đã xây cất nhà mình, dựng
lên bảy cây cột.” Nhà được dựng bằng 7 cột là nhà chắc chắn, không gì có thể
lay chuyển được.
+ Khôn ngoan chuẩn bị bữa ăn sẵn sàng bằng cách: “hạ thú vật, pha chế rượu, dọn
bàn ăn.” Khách được mời tham dự không tốn công của, và không thiếu bất cứ gì.
+ Khôn ngoan mời tất cả mọi người, không trừ ai cả: Nàng sai đầy tớ đi mời
khách đến dự tiệc, và chính Đức Khôn Ngoan còn lên các nơi cao trong thành phố
và kêu gọi mọi người.
1.2/ Nàng Khôn Ngoan đi
tìm kiếm con người.
(1) Hai hạng người mà Nàng Khôn Ngoan tìm kiếm:
+ ngây thơ (aifrôê): là những người thiếu khôn ngoan và dễ bị người khác đánh lừa.
+ khờ dại (frenôê): là những người thiếu hiểu biết, nên họ dễ làm liều.
(2) Mục đích của Nàng Khôn Ngoan: “Các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con
đường hiểu biết.” Nàng sẽ dạy cho con người hiểu biết thánh ý Thiên Chúa để con
người được sống.
(3) Điều kiện: “Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do
ta pha chế!” Muốn được sống, con người phải ăn bánh và uống rượu do chính Nàng
Khôn Ngoan làm.
Ngôi Lời (ho lógos) được Gioan đồng nhất với Đức Kitô, Ngài là sự khôn ngoan của
Thiên Chúa, và nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành.
2/ Bài đọc II: So sánh người khôn ngoan và người khờ dại:
Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu Êphesô: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách
ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn
ngoan.” Ngài giúp các tín hữu xét mình để nhận ra sự khác biệt giữa hai hạng
người:
2.1/ Người khôn ngoan: là những người:
+ Sống theo sự hướng dẫn khôn ngoan của Thánh Thần.
+ Biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối.
Quan niệm của người Do-thái về thời gian: hiện tại rất xấu và tương lai rất tốt;
giao thời giữa hai thời gian là cuộc khủng hoảng. Thánh Phaolô có lẽ nghĩ các
tín hữu đang sống trong buổi giao thời.
+ Biết tìm thánh ý Chúa: “anh em đừng hoá ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu
là ý Chúa.”
+ Hiểu biết khôn ngoan sẽ dẫn tới các hành động khôn ngoan: “Hãy cùng nhau đối
đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem
cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân
danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha.”
2.2/ Người khờ dại là những
người:
+ Sống theo ý muốn xác thịt: say sưa rượu chè, và rượu chè đưa tới truỵ lạc.
+ Không biết lợi dụng thời giờ Chúa ban cho: phí thời giờ vào các việc vô ích,
không đem lại lợi ích tương lai cho đương sự.
+ Vì không biết thánh ý Thiên Chúa nên người khờ dại chỉ biết làm theo ý riêng
mình; Người chỉ biết làm theo ý mình sẽ không đạt được đích mà Thiên Chúa mong
muốn cho cuộc đời của họ.
3/ Phúc Âm: Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.
3.1/ Phân tích từ ngữ
Hy-lạp: Lời tuyên bố của Chúa Giêsu sau đây
cần được nghiên cứu từng từ ngữ và cách cấu trúc: “Tôi là bánh hằng sống từ trời
xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là
thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”
+ Cụm từ “Ergô, eimi” theo sau bởi một thành ngữ xảy ra 7 lần trong Gioan, và
túc từ theo sau đều mặc khải một sứ vụ đặc biệt của Đức Kitô như: Ta là Bánh Hằng
Sống; Mục Tử Tốt Lành; Cửa Chuồng Chiên; Cây Nho; Sự Sống Lại và là sự sống;
Ánh Sáng Thế Gian; Đường, Sự Thật, và là Sự Sống.
+ Túc từ “ho artos ho zôê” có thể mang nhiều nghĩa khác nhau tùy theo cách dịch:
(1) Có thể dịch
là “bánh hằng sống hay bánh trường sinh,” có nghĩa bánh không bao giờ hư nát.
Khi áp dụng vào Chúa Giêsu, có nghĩa Chúa là Bánh Hằng Sống.
(2) Hay có
thể dịch là “bánh mang sự sống thần linh.” Khi áp dụng vào Chúa Giêsu, có
nghĩa, Ngài là bánh mang sự sống thần linh cho con người như trong (Jn 6:33).
(3) Hay cũng
có thể dịch là “bánh đang sống.” Khi áp dụng vào Chúa Giêsu, có nghĩa Ngài là
Bánh đang sống.
Theo văn mạch và nội dung, nghĩa thứ (2) có lẽ thích hợp hơn cả; mặc dù hai
nghĩa kia vẫn đúng với Chúa Giêsu.
+ Cụm từ: “từ trời xuống” nhắc nhở cho con người biến cố Thiên Chúa cho manna
rơi xuống từ trời làm lương thực cho con cái Israel suốt 40 năm trong sa mạc.
Manna là hình ảnh báo trước của Bí-tích Thánh Thể. Bánh mang lại sự sống đời đời
có thực và có nguồn gốc từ trời.
+ “Bánh tôi sẽ ban tặng:” nhấn mạnh đến việc cho đi cách nhưng không như trong
Bài Đọc I: mọi sự đã được chuẩn bị sẵn sàng, ăn mà không phải tốn tiền!
+ Bánh Hằng Sống chính là thịt (sárx) của Chúa Giêsu. Ngay từ đầu Tin Mừng,
Gioan đã dùng danh từ này để nói về mầu nhiệm Nhập Thể: Và Ngôi Lời đã mặc lấy
xác phàm (sárx) và đã cư ngụ giữa chúng ta.
+ Phản ứng của người Do-thái: Điều họ tranh luận ở đây không phải về nguồn gốc
của Chúa Giêsu, nhưng là thịt của Ngài: Làm sao một người đang sống có thể lấy
thịt của mình cho kẻ khác ăn? Trừ phi người đó phải chết! Điều khó khăn nữa là
người Do-thái không có thói quen ăn thịt người.
3.2/ Sự cần thiết của
bí-tích Thánh Thể: Đức Giêsu nói với họ: “Thật,
tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông
không có sự sống nơi mình.”
+ Công thức “amen amen = thật, tôi bảo thật” báo hiệu trước một chân lý sẽ được
mặc khải trong Tin Mừng Gioan. Chân lý Chúa Giêsu mặc khải ở đây là “Nếu các
ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình.” Nếu
Chúa Giêsu không mặc khải chân lý cho con người, sẽ không có ai biết được.
+ Hai động từ ăn (esthíô) và uống (pinô) mà Gioan dùng ở đây là hai động từ căn
bản dùng trong việc ăn uống của con người: như ăn bánh và uống nước.
+ Chúa Giêsu phân biệt hai sự sống: thể lý (psyche) và thần linh (zôê). Nếu
không ăn thịt và uống máu Chúa, con người vẫn có sự sống thể lý; nhưng không có
sự sống thần linh.
+ Sự sống muôn đời (zôê aiônion): Sự sống thần linh sẽ dẫn con người đến sự sống
muôn đời: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho
người ấy sống lại vào ngày sau hết.” Như Chúa Giêsu khi mang thân xác con người,
mặc dù con người vẫn phải chết cách thể lý, nhưng sẽ được sống lại vinh hiển,
và sẽ không bao giờ phải chết nữa.
+ Thịt và Máu Chúa là lương thực nuôi sống con người: “vì thịt tôi thật
là của ăn, và máu tôi thật là của uống.” Hai danh từ
dùng để so sánh: của ăn (brôsin) và của uống (pôsin) là hai danh từ dùng để chỉ
lương thực căn bản của con người.
+ Sự sống thần linh là sự sống của chính Thiên Chúa: “Ai ăn thịt và uống máu
tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.” Chúa Giêsu và người rước
Chúa trở nên một, như thánh Phaolô tuyên bố: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi;
mà là chính Đức Kitô sống trong tôi.”
+ Sự sống thần linh giúp con người hiểu biết sự khôn ngoan và các mầu nhiệm của
Thiên Chúa mà trí khôn con người không hiểu thấu được. Sự khôn ngoan có được là
do Thánh Thần của Đức Kitô hướng dẫn con người. Sự sống thần linh giúp cho con
người có sức mạnh để đáp ứng lời mời gọi nên trọn lành của Đức Kitô mà sức
riêng con người không thể làm được. Ví dụ, con người có được tình yêu nguyên thủy
của Thiên Chúa để yêu thương kẻ thù, làm ơn và cầu nguyện cho người ghét mình.
3.3/ Hậu quả của việc
lãnh nhận bí-tích Thánh Thể: Nếu ăn sẽ sống,
không ăn sẽ chết.
+ Chúa Giêsu sống bằng chính sự sống của Chúa Cha: “Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống
đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà
được sống như vậy.” Trong mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu
mang hai bản tính: Thiên Chúa và nhân loại: bản tính Thiên Chúa không bao giờ
chết, bản tính nhân loại chết khi Chúa Giêsu tắt thở trên Thánh Giá; nhưng được
phục sinh ngay vì bản tính Thiên Chúa. Người rước Mình và Máu Đức Kitô cũng
mang hai sự sống thể lý và thần linh. Hai sự sống này không tiêu diệt nhau
nhưng bổ xung cho nhau.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
– Để được sống trường sinh bất tử, chúng ta phải khôn ngoan tìm ra thánh ý của
Thiên Chúa và vâng lời làm theo những gì Ngài dạy.
– Chúng ta phải tin vào những gì Đức Kitô mặc khải về bí-tích Thánh Thể và thường
xuyên lãnh nhận Bí-tích này.
Linh mục Anthony
Đinh Minh Tiên, OP
Tôi là Bánh (19.8.2018 – Chúa nhật 20 Thường niên, Năm B)
Suy Niệm
Cả các Kitô hữu cũng
ngỡ ngàng trước bí tích Thánh Thể.
Ăn thịt và uống máu người mình yêu
là điều khủng khiếp chẳng ai dám nghĩ tới.
Nhưng Ðức Giêsu lại muốn nuôi cả nhân loại
bằng Thịt và Máu Ngài.
Và thực sự Ngài đã nuôi ta bằng cái chết thập giá –
ở đó Ngài đã hy sinh Máu Thịt mình.
Ðúng hơn, Ngài nuôi chúng ta bằng sự sống của Ngài:
sự sống được trao đi qua cái chết tự nguyện,
và sự sống được lấy lại qua phục sinh vinh quang.
Ăn thịt và uống máu người mình yêu
là điều khủng khiếp chẳng ai dám nghĩ tới.
Nhưng Ðức Giêsu lại muốn nuôi cả nhân loại
bằng Thịt và Máu Ngài.
Và thực sự Ngài đã nuôi ta bằng cái chết thập giá –
ở đó Ngài đã hy sinh Máu Thịt mình.
Ðúng hơn, Ngài nuôi chúng ta bằng sự sống của Ngài:
sự sống được trao đi qua cái chết tự nguyện,
và sự sống được lấy lại qua phục sinh vinh quang.
Ðức Giêsu ban cho ta Tấm
Bánh (c.51).
Ngài còn tự nhận mình là Tấm Bánh (cc.48.51):
Tấm Bánh có sự sống và Tấm Bánh ban sự sống.
Tôi là Tấm Bánh: đó là định nghĩa của Ðức Giêsu về mình.
Ðịnh nghĩa này có làm ta ngạc nhiên không?
Bánh là cái gì ăn được và đem lại sự sống.
Bánh không sống cho mình, nhưng cho người khác.
Chấp nhận là bánh có nghĩa là chấp nhận mất mình,
mà chỉ khi mất mình như thế,
bánh mới thật là bánh, mình mới thật là mình.
Thật ra bánh vẫn hiện diện và nên một với người ăn.
Ðức Giêsu là Tấm Bánh đặc biệt.
Khi tôi ăn, Ngài thành tôi và biến tôi thành Ngài.
Một sự ở lại hai chiều, một sự hiệp thông sâu thẳm.
Ngài còn tự nhận mình là Tấm Bánh (cc.48.51):
Tấm Bánh có sự sống và Tấm Bánh ban sự sống.
Tôi là Tấm Bánh: đó là định nghĩa của Ðức Giêsu về mình.
Ðịnh nghĩa này có làm ta ngạc nhiên không?
Bánh là cái gì ăn được và đem lại sự sống.
Bánh không sống cho mình, nhưng cho người khác.
Chấp nhận là bánh có nghĩa là chấp nhận mất mình,
mà chỉ khi mất mình như thế,
bánh mới thật là bánh, mình mới thật là mình.
Thật ra bánh vẫn hiện diện và nên một với người ăn.
Ðức Giêsu là Tấm Bánh đặc biệt.
Khi tôi ăn, Ngài thành tôi và biến tôi thành Ngài.
Một sự ở lại hai chiều, một sự hiệp thông sâu thẳm.
“Ai ăn thịt tôi và uống
máu tôi
thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (c.56).
Rước lễ là đón lấy dòng sự sống, chấp nhận sống nhờ.
Ðức Giêsu sống nhờ Cha
và chúng ta sống nhờ Ðức Giêsu (c.57).
Như cành nho sống nhờ thân cây nho,
chúng ta cũng sống nhờ,
nghĩa là sống trong và sống cho Chúa.
thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (c.56).
Rước lễ là đón lấy dòng sự sống, chấp nhận sống nhờ.
Ðức Giêsu sống nhờ Cha
và chúng ta sống nhờ Ðức Giêsu (c.57).
Như cành nho sống nhờ thân cây nho,
chúng ta cũng sống nhờ,
nghĩa là sống trong và sống cho Chúa.
Trong nhiều thế kỷ, Hội
Thánh đã từng có thái độ
nhìn và thờ lạy Thánh Thể hơn là cầm lấy mà ăn.
Ðộng từ ăn được nhắc đến 8 lần trong bài Tin Mừng này,
như một lời mời gọi tha thiết của Ðức Giêsu.
Ngày nay, người ta rước lễ nhiều hơn trước.
Tiếc thay lắm khi cuộc gặp gỡ này khá vội vã,
thiếu chuẩn bị và cũng thiếu đối thoại thân tình.
Tôi lên rước lễ chỉ vì mọi người trong hàng ghế đã lên.
Phút thinh lặng sau rước lễ cũng bị cắt ngắn.
Tôi phải về ngay vì phải lấy xe, vì nhà thờ đóng cửa…
Chính vì thế rước lễ chẳng gây được âm vang nào nơi tôi.
Nó trở thành một thói quen, một nghi thức thuần tuý.
Tôi lên ăn một vật thánh, thay vì đón một người.
Ít khi có vị khách quý nào
bị thường xuyên tiếp đón lạnh nhạt như thế!
Rốt cuộc chẳng có cuộc gặp gỡ nào xảy ra,
nên tôi vẫn cứ là tôi như trước.
nhìn và thờ lạy Thánh Thể hơn là cầm lấy mà ăn.
Ðộng từ ăn được nhắc đến 8 lần trong bài Tin Mừng này,
như một lời mời gọi tha thiết của Ðức Giêsu.
Ngày nay, người ta rước lễ nhiều hơn trước.
Tiếc thay lắm khi cuộc gặp gỡ này khá vội vã,
thiếu chuẩn bị và cũng thiếu đối thoại thân tình.
Tôi lên rước lễ chỉ vì mọi người trong hàng ghế đã lên.
Phút thinh lặng sau rước lễ cũng bị cắt ngắn.
Tôi phải về ngay vì phải lấy xe, vì nhà thờ đóng cửa…
Chính vì thế rước lễ chẳng gây được âm vang nào nơi tôi.
Nó trở thành một thói quen, một nghi thức thuần tuý.
Tôi lên ăn một vật thánh, thay vì đón một người.
Ít khi có vị khách quý nào
bị thường xuyên tiếp đón lạnh nhạt như thế!
Rốt cuộc chẳng có cuộc gặp gỡ nào xảy ra,
nên tôi vẫn cứ là tôi như trước.
Hãy dự lễ như người đi
dự tiệc Lời Chúa, Mình Chúa.
Chỉ ai biết ăn, biết thưởng thức và nghiền ngẫm,
người ấy mới gặp được sự sống và gặp được Giêsu.
Chỉ ai biết ăn, biết thưởng thức và nghiền ngẫm,
người ấy mới gặp được sự sống và gặp được Giêsu.
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu
Thánh Thể,
Chúa đến với chúng con
dưới dạng tấm bánh bình thường.
Tấm bánh chẳng nói gì, chỉ biết lặng lẽ chờ đợi.
Tấm bánh hiện diện là để phục vụ cho con người.
Tấm bánh quá đỗi mong manh, nhỏ bé,
có thể bị ẩm mốc làm hư hoại,
và tan rất mau sau khi được nhận lãnh.
Chúa đến với chúng con
dưới dạng tấm bánh bình thường.
Tấm bánh chẳng nói gì, chỉ biết lặng lẽ chờ đợi.
Tấm bánh hiện diện là để phục vụ cho con người.
Tấm bánh quá đỗi mong manh, nhỏ bé,
có thể bị ẩm mốc làm hư hoại,
và tan rất mau sau khi được nhận lãnh.
Lạy Chúa Giêsu, có
cái gì tương tự
giữa phận làm người và phận làm bánh của Chúa.
Xin cho chúng con biết cách
đến với con người hôm nay:
đơn sơ, khiêm hạ,
không chút vinh quang hay quyền lực.
Nhờ ăn tấm bánh của Chúa,
chúng con cũng trở nên tấm bánh ngon,
được bẻ ra để đáp ứng khẩu vị của nhiều người.
giữa phận làm người và phận làm bánh của Chúa.
Xin cho chúng con biết cách
đến với con người hôm nay:
đơn sơ, khiêm hạ,
không chút vinh quang hay quyền lực.
Nhờ ăn tấm bánh của Chúa,
chúng con cũng trở nên tấm bánh ngon,
được bẻ ra để đáp ứng khẩu vị của nhiều người.
Ước gì chúng con
dám rước Chúa
đi vào mọi vùng mờ tối của lòng mình,
để sự hiện diện của Chúa trong con được lớn lên.
Và ước gì chúng con trở thành
những Nhà Tạm di động,
đem Chúa đến cho đồng bào
và quê hương chúng con. Amen.
đi vào mọi vùng mờ tối của lòng mình,
để sự hiện diện của Chúa trong con được lớn lên.
Và ước gì chúng con trở thành
những Nhà Tạm di động,
đem Chúa đến cho đồng bào
và quê hương chúng con. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn
Cao Siêu, S.J.
19/08/2018 – CHÚA NHẬT TUẦN 20 TN – B
Ga 6,51-58
LƯƠNG THỰC MỚI, SỰ SỐNG MỚI
“Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ
Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy.” (Ga
6,57)
Suy niệm: Trong bí tích Rửa Tội, Ki-tô hữu trở nên tạo vật mới, nhận được sự sống
mới nhờ lòng Chúa xót thương, được nên một với Chúa Giê-su Ki-tô trong Thân Thể
của Ngài là Hội Thánh. Sự sống mới đó cũng cần có lương thực để nuôi sống,
nhưng không phải là lương thực tự nhiên của trần thế, mà là lương thực thần
linh cho sự sống mới. Sự sống mới cần lương thực mới. Lương thực đó chính là
Thân Mình Chúa Giê-su Ki-tô rộng ban cho những ai đã được tái sinh nhờ đó họ trở
nên con người mới. Sự biến đổi đó sống động trong lời cam kết của Ki-tô hữu trước
Thánh Thể: “Chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống
lại, cho tới khi Chúa lại đến,” nghĩa là khi lãnh nhận Thánh Thể, Ki-tô hữu cam
kết thay đổi cuộc sống phù hợp với Thánh Thể Chúa.
Mời Bạn: Không hẳn bao lần bạn rước Mình Thánh Chúa là bấy nhiêu lần bạn vui mừng
đón nhận sự sống mới và trở nên con người mới, vì lắm khi bạn không nhận ra
Chúa trong tấm bánh đơn sơ nên không thờ kính Ngài và biến đổi đời sống của bạn
cho phù hợp với lời bạn cam kết trước Thánh Thể. Bạn thay đổi thế nào nhờ lời
Chúa hôm nay?
Sống Lời Chúa: Dọn tâm hồn rước Chúa cho xứng đáng và quyết tâm sống đời
sống mới.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su
Thánh Thể, con xin cảm tạ Chúa đã ban cho con Mình Thánh Chúa là sự sống mới.
Xin cho con năng đến lãnh nhận lương thực thần linh này.
(5 Phút Lời Chúa)
Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
19 THÁNG TÁM
Tiến Tới Một Thế Giới
Có Tính Người Hơn
Công Đồng Vatican II
đã nhấn mạnh rất rõ ràng ý nghĩa đạo đức của sự phát triển và tiến bộ của con
người trong thế giới này. Công Đồng cho thấy lý tưởng đạo đức của một thế giới
có tính người hơn gắn chặt với giáo huấn của Tin Mừng như thế nào.
Trong khi phân biệt rõ
ràng giữa sự phát triển của thế giới và lịch sử cứu độ, các Nghị Phụ Công Đồng
khảo sát mối tương quan giữa hai lãnh vực ấy: “Tuy phải phân biệt rõ rệt những
tiến bộ trần thế với sự bành trướng Vương Quyền của Chúa Kitô, nhưng những tiến
bộ này trở thành quan trọng đối với Nước Thiên Chúa tùy theo mức độ chúng có thể
góp phần vào việc tổ chức xã hội loài người cho tốt đẹp hơn. Thực vậy, sau khi
đã theo mệnh lệnh Chúa và nhờ Chúa Thánh Thần phổ biến trên trái đất các giá trị
về nhân phẩm, về hiệp thông huynh đệ và tự do, nghĩa là mọi thành quả tốt đẹp
do bản tính và hoạt động con người đem lại, chúng ta sẽ gặp lại chúng, nhưng là
gặp lại sau khi chúng được thanh tẩy khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi,
nghĩa là khi Chúa Kitô giao hoàn lại Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng:
“Vương Quốc của chân lý và sự sống, vương quốc thánh thiện và diễm phúc, vương
quốc công bình, yêu thương và bình an”. Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm
ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến” (MV 39).
– suy tư 366 ngày của
Đức Gioan Phaolô II –
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations
by Pope John Paul II
Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 19/8
Chúa Nhật XX Thường
Niên
Cn 9, 1-6; Ep 5,
15-20; Ga 6, 51-58.
LỜI SUY NIỆM: “Tôi là bánh
hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ
ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”
Trong Sách Isaia cho chúng ta biết: “Hãy chăm chú nghe ta, thì các ngươi sẽ được
ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị. Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe
thì các ngươi sẽ được sống.” (Is 55,2-3); và trong Sách Đệ Nhị Luật còn cho biết:
“Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Thiên
Chúa phán ra.” (Đnl 8,3). Chúa Giêsu đang nói với chúng ta về “Bánh Hằng Sống”,
tức là nói đến Thánh Thể.: “Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em; anh em hãy
làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (1Cr 11,24). “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước
đổ ra vì muôn người.” (Mc 14,24)
Lạy Chúa Giêsu. Xin cho Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa thấm nhập trong mỗi người
chúng con, để tất cả chúng con được thấm nhập trong Chúa, trở nên thân thể của
Chúa và là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần, để chúng ngày ngày sau được sống lại với
Chúa trong cõi đời đời.
Mạnh Phương
Gương Thánh Nhân
Ngày 19-08
Thánh GIOAN EUDÊ
Linh Mục (1601 –
1680)
Thánh Gioan Euđê là một
trong số những người chấn hưng tôn giáo tại Pháp thời vua Luy XVI. Isaac Euđê,
cha Ngài là nhà nông kiêm nghề giải phẫu tại thành Ri gần Argentan, đã có ý định
trở thành linh mục, nhưng rồi lại bỏ ý định để lập gia đình. Mẹ Ngài là bà
Mattha Corbin tưởng sẽ phải son sẻ. Nhưng rồi sau nhờ cầu nguyện, họ sinh được
Gioan với bốn em gái và hai em trai nữa.
Gioan có tính nóng nảy,
nhưng hiến mình cho Đức Trinh Nữ Maria, Ngài quyết sửa mình bằng cách ngày càng
mến Mẹ hơn. Hồi 9 tuổi, có lần Ngài bị một thằng bạn vả mặt, nhớ lời Chúa Ngài
đưa má kia ra: còn má này nữa, nếu muốn anh cứ vả tiếp đi. Thằng bạn ngượng
ngùng và sau này đã kể lại sự kiện đó với niềm thán phục sâu xa.
15 tuổi Gioan theo học
các cha dòng Tên tại Caen. Từ trong huyết quản Gioan đoan hứa dâng mình cho mẹ
Thiên Chúa. Nhưng khi trở về nhà, cha mẹ nói với Ngài về việc hôn nhân. Ngài
bày tỏ ước vọng với cha mẹ và phải khó khăn lắm mới được cha mẹ ưng thuận. Ngài
nhập dòng giảng thuyết và năm 1625 thụ phong linh mục.
Sau ngày thụ phong,
Gioan phục vụ giáo xứ ở Aubervilliers. Hai năm sau, một cơn dịch xảy tới tàn
phá giáo phận Sees. Các bệnh nhân bị những người khác bỏ mặc và trốn chạy.
Gioan chỉ muốn bay tới để giúp đỡ họ. Trong suốt hai tháng trời, Ngài hết mình
phục vụ. Khi cơn dịch hạ giảm, Ngài thực hiện sứ vụ tại Caen. Nhưng cơn dịch
chưa dứt mà chỉ dời chỗ. Lần này cơn dịch tràn tới Caen. Gioan lại tận tâm quên
mình phục vụ. Không có gì làm cho Ngài sợ hãi cả. Nhưng dân chúng lại sợ Ngài
truyền bệnh. Bởi đó Ngài bị giam mình trong một cái thùng để ở ngoài đồng ruộng,
khiến lúc đó cánh đồng được gọi là “cánh đồng của thánh nhân”. Các nữ tu thương
hại Ngài ngày ngày mang của ăn đến cho Ngài. Ngài trở về dòng hiến mình phục vụ
hai tu sĩ và bề trên sắp chết vì bệnh dịch. Cuối cùng, cơn dịch tan biến, nhưng
Gioan lên cơn sốt, dân chúng khẩn cầu tha thiết cho Ngài được chữa lành và niềm
vui thật lớn lao khi người “Samaritanô nhân hậu” tái xuất hiện.
Bây giờ bắt đầu công
trình rao giảng và truyền giáo của Ngài. Ngài chống lại lạc thuyết Calvinô, những
kinh hoàng của cuộc nội chiến, sự dốt nát của hàng giáo sĩ, những tật xấu của
các tín hữu. Chúng ta có thể đo lường hoạt động của một vị thánh như thế nào:
15 ngàn người chen lấn nghe thánh nhân giảng, các tội nhân sám hối và để được
xưng tội, họ phải chờ 4 hay 5 ngày mới đến lượt. Trong khi để tiết kiệm thì giờ
của họ. Ngài chỉ dùng vài miếng bánh để dưỡng sức. Các thói tục ngoại giáo biến
dạng. Ở Autun, cuộc rước Trinh nữ thay thế cho những gương mù ngày Mi-Careme
(thứ 5 tuần III mùa chay). Ở Meaux dân chúng mang các sách đồi trụy đến công
trường để đốt bỏ.
Cha Gioan Euđê đã giảng
thuyết khắp vùng Normandie Bretagne, tới tận Saint Etienne. Tại Paris, cha sở
thánh thiện của Saint – Sulpice, M.Olier, đã tổ chức cho Ngài 5 kỳ giảng thuyết.
Ngài danh tiếng đến nỗi có 10 giám mục hiện diện. Ở Saint Germain-Laye, vua và
hoàng hậu đến ngồi vào ghế thính giả. Cha Gioan Euđê thuyết giảng lần cuối cùng
tại Sain-Lô.
Suốt 40 năm, cha Gioan
đi rao giảng đó đây. Nhưng việc rao giảng chỉ là một phần hoạt động của Ngài.
Nhận thấy hàng giáo sĩ không được đào tạo đầy đủ, Ngài từ giã dòng giảng thuyết
năm 1643, để lập hội dòng Chúa Giêsu và Đức Maria lo việc tổ chức các chủng viện.
Theo lời đề nghị của Đức Hồng Y Richelieu, Ngài lập đại chủng viện ở Caen rồi
sau này ở Lisieux, Rouen, Eureux và Renner. Đàng khác Ngài rất thương cảm các
thiếu nữ bất hạnh hoàn lương, năm 641 Ngài đã lập dòng Chúa chiên lành để săn
sóc họ.
Giữa bao nhiêu công
chuyện, ước mơ lớn nhất của thánh Gioan Eusê là phổ biến lòng tôn sùng Thánh
Tâm, Ngài là người khởi xướng, viết sách và các thánh thi ca tụng Thánh Tâm.
Đây là nỗ lực chống lại chủ trương sai lầm của thuyết Giansêniô.
Ngày 19 tháng năm
1680, thánh Gioan Euđê từ trần, Ngài được phong chân phước năm 1925 được tôn
phong hiển thánh.
******************************
Ngày 19-08
Ngày 19-08
Thánh RÔMUALĐÔ
Tu Viện Trưởng (956
– 1027)
Thánh Rômualdô sinh tại
Ravenna năm 956, trong một gia đình danh giá nước Ý. Bá tước Sergiô, cha Ngài
đã phụng dưỡng Ngài trong một nếp sống xa hoa. Rômualdô đã chỉ tìm vui chơi mà
không nghĩ gì tới bổn phận phải nên thánh. Dầu vậy đôi lần đi săn thú, Ngài thấy
mình đơn độc giữa rừng vắng và phải suy nghĩ… Ngài đặt mình vào một ngày nào đó
phải chết và bỗng thấy lo âu. Ngài cũng thấy rằng các ẩn sĩ chọn đời sống cô tịch,
hãm mình để hiến thân phụng sự Chúa thật là đúng đắn. Những giấc mơ như vậy
thanh luyện hồn Ngài và cảm kích bởi ơn thánh Ngài tự hứa với mình là sẽ cải
thiện đời sống nhưng rồi trở lại với những thú vui ngày thường Ngài lại lùi bước
trước nỗ lực và lao mình theo các thị hiếu.
Một biến cố đau thương
đã thành phương tiện Thiên Chúa dùng để gỡ Rômualđô khỏi những ràng buộc với thế
gian. Sergiô cha Ngài gây lộn với một người bà con về việc sở hữu một cánh đồng
đã thách đấu kiếm, ông còn bắt con mình dự vào cuộc đấu. Sergiô giết chết đối
thủ, coi mình là đồng lõa với tội phạm này và thấy phải đền trả. Rômuadô đã vào
tu viện để thống hối suốt 40 ngày. Bị đánh động bởi thực tế trái ngược hẳn với
lối sống phân tán của thế gian, Ngài chỉ còn nghĩ tới việc bắt chước những khắc
khổ mà Ngài được chứng kiến.
Bá tước Sergiô cảm
kích vì mẫu gương của con mình đã vào dòng. Khi bị cám dỗ trở về đường xưa, ông
lại dẫn con mình kịp thời can thiệp và tiếp tục trung thành với đời sống đền bồi
cầu nguyện.
Sau 7 năm sống trong
dòng, Rômuado dấn mình vào sa mạc, sống gần vị ẩn sĩ già là Marinô. Đây là bậc
thầy nghiêm ngặt mà Ngài đã chọn, Marinô thường lấy roi đánh trên đầu môn đệ của
mình để xua đuổi sự chia trí lo ra hay để phạt một lầm lỗi khi đọc thánh vịnh,
hay hơn nữa để giúp họ quen chịu khổ. Ông lại hay đánh có một phía. Rômuado
không hề phàn nàn kêu trách.
Một ngày kia Ngài nói
với thầy: – Thưa thày, từ nay xin thầy đánh về phía mặt vì tai trái con hầu như
điếc rồi.
Rômuado thầm cảm phục
và kính trọng môn đệ mình.
Rômuado nuôi chí hứơng
canh tân dòng Bênêdictô đang thời sa sút, Ngài thiết lập một tu viện. Ngài làm
cho các môn đệ nhiệt tình nên hoàn hảo trong việc hãm mình, khi phải chống lại
sự dữ và phạt tội lỗi, thánh nhân đã tỏ ra cương nghị, chẳng hạn khi vua Othen
III đến tu viện để đền bù tội lường gạt và sát hại một thủ lãnh loạn luân, ông
được truyền dạy phải đi chân không tới nhà thờ thánh Micae và suốt mùa chay, phải
ở trong đồng mà ăn chay, ngủ trên rơm cỏ.
Rômuado chống gậy rảo
khắp nước Ý sang cả Pháp và Đức. Ngài xây nhiều nhà thờ, thiết lập nhiều tu viện,
và các trung tâm ẩn tu trong sa mạc. Ngày kia, Ngài tìm được một nơi thanh vắng
trong dãy Apennins. Ngài mơ thấy một cái thang bắc lên trời, có các tu sĩ lên
xuống. Vị lãnh chúa miền này cho Ngài cánh đồng Malđôli. Thánh nhân lập dòng
Camaldules sống đời liên lỉ.
Vào tuổi 120, thánh
Rômuado từ trần, ngày 19 tháng 6 năm 1076.
Sau 439 năm xác Ngài
còn nguyên vẹn và được đặt trong nhà thờ của dòng ở Fabrianô.
(daminhvn.net)
19 Tháng Tám
Hãy Nhìn Lên Cao
Dạo cuối tháng
4/1990, ở cao độ 620 cây số trên biển Thái Bình Dương, cánh tay dài 12 thước của
người máy từ phi thuyền con thoi Discover đã đưa ống thiên văn Hubble rời xa
phi thuyền để đi vào quỹ đạo không gian, bắt đầu một cuộc hành trình quan sát
vũ trụ được dự trù kéo dài trong suốt 15 năm, mở đầu cho một kỷ nguyên mới
trong ngành thiên văn học.
Do nhu cầu tìm hiểu
vũ trụ, kính thiên văn đã được ra đời cách đây khoảng 380 năm. Nhờ kính thiên
văn, các nhà thiên văn học mới có thể quan sát một cách chi tiết những thiên thể
ở gần trái đất và từ đó đưa ra những định lý căn bản cho ngành thiên văn học.
Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học, đặc biệt là những máy điện toán, những
kính thiên văn ngày càng được cải tiến về kỹ thuật cũng như kích thước để gia
tăng khả năng quan sát. Hai kính thiên văn có đường kính lớn nhất hiện nay được
đặt trên đỉnh núi Palomar và Caucasus. Nhưng dù được cải tiến cách mấy đi nữa,
khoảng cách quan sát và mức độ phân giải của kính thiên văn đặt trên mặt đất vẫn
còn bị giới hạn, vì ánh sáng từ các thiên thể trước khi đến mặt đất đã bị ngăn
cản và tản xạ nhiều bởi lớp khí quyển bao quanh trái đất.
Ý tưởng về kính
thiên văn đặt ngoài không gian đã được đề cập đến năm 1923, nhưng mãi đến năm
1981, ý tưởng này mới được thực hiện với một kinh phí khổng lồ là 1 tỷ rưỡi Mỹ
kim. Kính thiên văn đặt ngoài không gian trái đất này mang tên khoa học gia Hoa
Kỳ Edwin Hubble, một trong những tài năng lỗi lạc nhất trong ngành thiên văn học.
Sự ra đời của kính
thiên văn Hubble có thể so sánh với sự ra đời của kính thiên văn đầu tiên của
Galilêô vào năm 1609: đây là bước tiến quan trọng trong ngành thiên văn học, nó
giúp con người tiến đến gần chân lý hơn trên con đường tìm hiểu vũ trụ.
Càng lên cao, con người
mới nhìn xa thấy rộng. Càng ra khỏi mặt đất, càng lên cao trên không gian, nhãn
giới của chúng ta càng mở rộng. Cũng giống như ống kính thiên văn Hubble, người
Kitô hữu cũng được trang bị bằng cái nhìn từ trên cao. Nhờ cái nhìn ấy, chúng
ta nhìn thấy được ý nghĩa của cuộc sống, chúng ta biết được đâu là nguồn gốc và
cùng đích của chúng ta. Nhờ cái nhìn ấy, chúng ta có thể nhìn thấy dấu vết của
một tình yêu luôn hiện diện và tác động trong lịch sử nhân loại và của từng người.
Khi Chúa Giêsu loan
báo về cuộc tử nạn của Ngài, Phêrô kéo Ngài lại và can gián Ngài. Chúa Giêsu đã
quở trách ông: “Hãy lui ra đằng sau ta hỡi Satan. Ngươi là cớ vấp phạm cho Ta,
bởi vì cái nhìn của ngươi không phải là cái nhìn của Thiên Chúa, mà là của loài
người”.
Lắm lúc chúng ta cũng
khước từ cái nhìn trên cao của Thiên Chúa để chỉ nhìn vào cái biến cố bằng cái
nhìn trần tục của chúng ta. Với cái nhìn trần tục, chúng ta chỉ thấy màu đen của
thất bại, chết chóc, thất vọng, buồn thảm. Nhưng với cái nhìn của Chúa, sự yếu
đuối sẽ trở thành sức mạnh, mất mát sẽ trở thành lợi lộc, khờ dại sẽ trở thành
khôn ngoan. Trong cái nhìn của Chúa, chúng ta sẽ chỉ thấy ánh sáng, hy vọng,
tin tưởng, lạc quan.
Thánh Phaolô đã khuyên
chúng ta: “Hãy yêu thích những sự trên trời”. Hãy mặc lấy cái nhìn từ trên cao.
Hãy luôn sống và hành động bằng những tâm tình của chính Chúa Giêsu.
(Lẽ Sống)








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét