13/01/2019
Chúa Nhật CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA năm C.
Lễ kính.
(phần II)
Phụng Vụ Lời Chúa: Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa
LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA NĂM C
(Is 42,1-4.6-7; Cv 10,34-38; Lc 3,15-16.21-22)
CHỦ ĐỀ: ĐƯỢC TUYỂN CHỌN VÀ SAI ĐI THI ÂN
GIÁNG PHÚC
“Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền
năng mà xức dầu tấn phong Đức Giêsu.
Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế,
bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10,38)
Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế,
bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10,38)
Biến cố Đức Giêsu chịu Phép Rửa cho thấy Vị Cứu
Tinh, Người Tôi Trung của Đức Chúa mà Ngôn Sứ Isaia tiên báo đã xuất hiện với
những dấu hiệu đi kèm để minh chứng tính xác thực của Người: hòa vào giữa dòng
người đang lãnh nhận Phép Rửa của Gioan Tẩy giả. Biến cố này là cột mốc đánh dấu
sự khai mở thời kỳ hoạt động công khai của Đức Giêsu. Thời đại mới này là thời
đại hoạt động của Thánh Thần trong Đức Giêsu để mạc khải về Chúa Cha cho toàn
thể nhân loại. Qua biến cố này, Đức Giêsu biểu lộ tâm tình “nên một” với mọi
người trong mọi sự để cứu chuộc con người.
I.
CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài
đọc 1
Bài đọc I trích sách ngôn sứ Isaia là bài ca thứ nhất
về Người Tôi Trung mà Thiên Chúa gởi đến để an ủi và khích lệ dân Chúa đang sống
trong cảnh lưu đày tại Babylon. Bài ca này cho thấy ơn gọi, phẩm chất và sứ mạng
của Người Tôi Trung.
Trước hết, bài ca nói về ơn gọi và dấu chỉ ơn gọi của
Người Tôi Trung. Người Tôi Trung là người được Thiên Chúa tuyển chọn, mời gọi
và tỏ lòng quý mến. Dấu chỉ của sự tuyển chọn này là việc Thiên Chúa ban thần
khí và sai đi thi hành sứ mạng được giao phó. Vì được Thiên Chúa tuyển chọn và
mặc lấy thần khí của Người, Người Tôi Trung hoàn toàn trung thành với sứ mạng
được giao phó.
Sau nữa, bài ca nói đến phẩm chất của Người Tôi
Trung. Thật vậy, Người Tôi Trung trong bài ca thứ nhất này là người hiền lành
và đầy tình thương xót. Người hiền lành nên không lớn tiếng ở nơi công cộng;
Người đầy lòng thương xót đến nỗi không nỡ bẻ gãy cây lau bị giập hay dập tắt
tim đèn còn khói. Phẩm chất của Người Tôi Trung không phải là sức mạnh hay uy
quyền đáng sợ mà là lòng từ bi, thương xót. Dù đầy lòng thương xót, Người Tôi
Trung lại “không yếu hèn, không chịu phục” (Is 42,4) cho đến khi hoàn tất sứ mạng
của mình.
Cuối cùng, bài ca đề cập đến sứ mạng của Người Tôi
Trung. Bài ca nhắc đi nhắc lại nhiều lần sứ mạng của Người Tôi Trung là “làm
sáng tỏ công lý” hay “thiết lập công lý” trước muôn dân (Is 42,1.3.4). “Công
lý” của Thiên Chúa là ánh sáng soi cho muôn nước, để “mở mắt cho những ai mù
lòa, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi
trong tối tăm” (Is 42,7).
Hình ảnh Người Tôi Trung này ám chỉ chính Đức Giêsu
(Mt 12,18; Cv 3,13; 4,27). Người là người tôi tớ
phục vụ Thiên Chúa Cha và Thánh ý Người.
2. Bài
đọc 2
Đoạn trích từ sách Công vụ Tông đồ là phần đầu bài
giảng của thánh Phêrô ở Xêdarê cho ông Coneliô, viên sĩ quan Rôma và gia đình của
ông để giúp họ hoán cải và chịu phép rửa.
Trước hết, thánh Phêrô khẳng định rằng Thiên Chúa là
Đấng công bằng với tất cả mọi người, dù họ là ai, thuộc bất cứ dân tộc nào. Bất
cứ ai “kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành” thì đều được Người tiếp nhận. Vì
thế, không chỉ dân Do thái mà cả dân ngoại, nếu sống ngay lành, thì đều được
Thiên Chúa đón nhận. Đây là một việc làm được linh hứng trong thời mới hậu Phục
Sinh, vì từ trước đến nay các Tông Đồ chưa nghĩ đến việc cho người ngoại gia nhập
Giáo hội.
Sau nữa, thánh Phêrô xác nhận rằng Đức Giêsu, Đấng xuất
thân từ Nadarét, Đấng được Thiên Chúa “dùng Thánh Thần và quyền năng” mà xức dầu
tấn phong, chính là “Chúa của mọi người”. Thật vậy, Đức Giêsu là Chúa của cả
người Do thái lẫn dân ngoại; Người không chỉ được sai đến để “thi ân giáng
phúc” và “chữa lành” cho riêng một dân tộc nào. Người thật là “Tin Mừng bình
an” cho tất cả mọi người.
3. Bài
Tin Mừng
Bối cảnh đoạn Tin Mừng Luca cho thấy Khát vọng mong
chờ Đấng Cứu Thế xuất hiện thực sự đang cháy bỏng nơi tâm hồn của mỗi người
Dothái khi Gioan Tẩy giả xuất hiện. Tuy nhiên, lời chứng của Gioan lại hướng sự
chờ mong của dân chúng vào Đức Giêsu, Đấng Mêsia phải đến.
Trước hết, Đức Giêsu là Đấng Mêsia, tuy đến sau ông
Gioan, nhưng lại lớn hơn ông. Dù ông Gioan có những phẩm chất nhìn bề ngoài giống
Đấng Mêsia làm cho mọi người thắc mắc về căn tính của ông, nhưng lời chứng của
ông Gioan xóa tan mọi thắc mắc: “Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng
cởi quai dép cho người”. Một người có thế giá như ông Gioan mà chẳng đáng cúi
xuống như một nô lệ để cởi quai dép, thì Đấng đến sau phải cao trọng hơn ông rất
nhiều. Đấng cao trọng, “Đấng mạnh thế” như vậy chỉ có thể là Thiên Chúa. Như thế,
lời chứng của ông Gioan khẳng định về căn tính thần linh của Đức Giêsu.
Sau nữa, thánh Luca phân biệt phép rửa của Gioan là
phép rửa bằng nước, phép rửa mang dấu chỉ hữu hình của việc sám hối để được ơn
tha tội (Lc 3,3), và phép rửa của Chúa Giêsu “trong Thánh Thần và lửa”. Phép rửa
bằng nước tỏ lòng người sám hối là điều kiện, là sự chuẩn bị cần thiết để được
đón nhận phép rửa trong Thánh Thần sẽ được ban xuống vào ngày lễ Ngũ Tuần (Cv
2,1-4). Lửa là biểu tượng của sự thanh luyện; lửa cũng là biểu tượng của việc
tuôn đổ Chúa Thánh Thần xuống trên những người lãnh nhận (Cv 2,3-4). Như thế,
phép rửa bằng nước là dấu chỉ bên ngoài của việc sám hối, còn phép rửa “trong
Thánh Thần và lửa” là dấu chỉ của ân ban và sức mạnh của Thánh Thần, Đấng thanh
luyện tâm hồn con người.
Cuối cùng, sự kiện Đức Giêsu chịu phép rửa được
thánh Luca đặt trong một khung cảnh của mối tương quan mật thiết giữa Người với
Chúa Cha và Thánh Thần qua cử chỉ cầu nguyện. (Chỉ mình thánh Luca mô tả việc Đức
Giêsu nhận lấy Thánh Thần đang khi Người cầu nguyện.) Quả vậy, Đức Giêsu chịu
phép rửa không phải để tỏ lòng sám hối vì Người vốn là Đấng vô tội (Hr 4,15), nhưng
là để khai mạc sứ vụ của Đấng Mêsia của Thiên Chúa, Đấng tuy đến sau nhưng lại
là “Đấng mạnh thế hơn” vì được Chúa Thánh Thần chứng thực và được Thiên Chúa
Cha tôn vinh là “Con yêu dấu”.
Lời chứng của ông Gioan hướng đến Đức Giêsu, Đấng
Mêsia mà dân đang trông ngóng. Người là “Đấng mạnh thế”, được Chúa Cha và Thánh
Thần chứng thực và tôn vinh, Đấng sẽ ban ơn Thánh Thần để thanh luyện tâm hồn
con người.
II. GỢI
Ý MỤC VỤ
1/ Người Tôi Trung là người được Thiên Chúa tuyển
chọn, ban thần khí để sai đi “làm sáng tỏ công lý” của Thiên Chúa và “an ủi dân
ta”. Với bản chất hiền lành và đầy lòng thương, Người Tôi Trung đem lại ánh
sáng cho người mù, ơn giải thoát cho kẻ bị giam cầm. Ơn gọi, sứ mạng và phẩm chất
của Người Tôi Trung được hoàn tất trọn vẹn nơi Đức Giêsu. Tôi có sẵn sàng đáp lại
lời mời gọi của Thiên Chúa để trở thành tôi trung của Người?
2/ Thánh Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng được
Thiên Chúa “dùng quyền năng và Thánh Thần” mà xức dầu tấn phong để mang “Tin Mừng
bình an” không chỉ cho dân Israel mà còn cho dân ngoại nữa. Qua Bí tích Rửa tội,
tôi cũng được xức dầu để thực thi sứ mạng loan báo Tin Mừng cho mọi người. Tôi
có ý thức về sứ mạng truyền giáo của mình? Tôi có sẵn sàng đến với dân ngoại để
loan báo Tin Mừng cho họ?
3/ Qua việc lãnh nhận phép rửa tại sông Giođan,
Chúa Giêsu khai mạc sứ vụ công khai của Đấng Mêsia mà dân chúng đang mong đợi.
Được Thánh Thần chứng thực và được Chúa Cha tôn vinh là “Con yêu dấu”, Chúa
Giêsu đến làm phép rửa “trong Thánh Thần và lửa”, nghĩa là thanh luyện tâm hồn
con người và trao cho họ ơn Thánh Thần để chia sẻ sứ mạng với Người. Tôi có ý
thức về sức mạnh của Chúa Thánh Thần trong đời sống và sứ mạng của một Kitô hữu?
III.
LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ
tế: Anh chị em
thân mến! Khi Chúa Giêsu nhận phép rửa của Gioan tại sông Giođan, Chúa Cha đã
ban Thánh Thần và xác nhận thần tính của Người. Trong tâm tình tri ân Thiên
Chúa đã trao tặng Con Một yêu dấu cho nhân loại, cộng đoàn chúng ta hãy tin tưởng
dâng lời cầu xin.
1. Hội Thánh là gia đình của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Hội Thánh, luôn hiệp nhất và
liên đới với nhau trong sứ mạng trở nên dấu chỉ sự hiện diện và lòng thương xót
của Thiên Chúa ở giữa thế giới.
2. Chúa Giêsu là nguồn ánh sáng và niềm hy vọng cho
con người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những ai đang khát khao tìm kiếm chân
lý sớm nhận biết Thiên Chúa là Cha và Đức Giêsu Kitô là Đấng được Người sai đến
để cứu chuộc nhân loại.
3. “Chính Người sẽ rửa anh em trong Chúa Thánh Thần
và trong lửa.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi kitô hữu trong năm mới 2019 này
biết nỗ lực tái khám phá lòng thương xót của Thiên Chúa và luôn sống triệt để
cam kết của bí tích Rửa tội.
4. “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về
Con.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn ý thức
sống ơn gọi làm con Thiên Chúa bằng việc tuân giữ lời Chúa và thực thi công
bình bác ái trong mọi hoàn cảnh.
Chủ
tế: Lạy Thiên Chúa
là Cha toàn năng, xin nhận lời chúng con cầu nguyện. Xin thương ban Chúa Thánh
Thần để Người thánh hóa và giúp chúng con luôn sống xứng đáng với tư cách là
con cái Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.
SCĐ Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa
Chủ đề :
Chúa Giêsu lãnh nhận sứ mạng
Chúa Giêsu chịu phép rửa
(Lc 3,15-16.21-22)
Sợi chỉ
đỏ :
Sứ mạng
của Chúa Giêsu là làm Đấng Messia, một Đấng Messia vừa cao sang trong thân phận
Con Thiên Chúa, vừa khiêm tốn như một Người Tôi tớ.
– Bài
đọc I (Is 42,1-4.6-7) : Hình ảnh Người Tôi Tớ được mặc khải cho ngôn sứ
Isaia.
– Đáp
ca (Tv 28) : “Tiếng Chúa vang rền trên sóng nước”. Hai hình ảnh “nước” và
“tiếng” sẽ được dùng lại trong bài tường thuật Chúa Giêsu chịu phép rửa.
– Tin
Mừng (Lc 3,15-16.21-22) : Chúa Cha và Chúa Thánh Thần làm chứng cho Chúa
Giêsu khi Ngài đang chịu phép rửa. Chúa Giêsu chính là Con yếu dấu của Thiên
Chúa.
– Bài
đọc II (Cv 10,34-38) : Thánh Phêrô hiểu biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa
là lễ tấn phong Ngài làm Đấng Messia.
I.Dẫn
vào Thánh lễ
Biến
cố Chúa Giêsu chịu phép rửa là gạch nối giữa giai đoạn Chúa Giêsu sống ẩn dật với
giai đoạn Ngài rao giảng công khai : sau thời gian sống với gia đình tại
Nadarét, Chúa Giêsu bắt đầu đi rao giảng. Việc đầu tiên Ngài làm là lãnh nhận
phép rửa của Gioan Tẩy giả ở sông Giođan. Như thế, lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa
cũng là gạch nối giữa mùa Giáng sinh với mùa Thường niên : Chúng ta đã
cùng sống với Chúa Giêsu qua các biến cố giáng sinh và hiển linh. Kể từ hôm nay
chúng ta sẽ cùng sống với Ngài qua các biến cố của đời rao giảng.
Trong
dịp Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Thánh Thần đã lấy hình chim bồ câu ngự xuống
trên Ngài, và tiếng Chúa Cha từ trời phán xuống xác nhận Ngài là Con yêu dấu của
Thiên Chúa. Đó cũng chính là thân phận kitô hữu của mỗi người chúng ta :
chúng ta cũng đã lãnh nhận phép rửa, cũng được Chúa Thánh Thần ngự xuống. Vậy
chúng ta cũng hãy noi gương Chúa Giêsu mà cố gắng sống xứng đáng là con của
Thiên Chúa.
II.Gợi
ý sám hối
– Do
bí tích Rửa tội, chúng ta đã được nhận là con của Chúa. Nhưng chúng ta chưa sống
xứng đáng với danh nghĩa ấy.
– Dù
là Con Thiên Chúa, nhưng Chúa Giêsu đã sống như một Người Tôi Tớ hạ mình phục vụ
mọi người. Còn chúng ta, chúng ta không thích hạ mình, không ưa phục vụ.
–
Chúa Giêsu luôn sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Ngược lại chúng ta
hay sống theo ý riêng.
III.
Lời Chúa
- Bài đọc I (Is
42,1-4.6-7) :
Ngôn
sứ Isaia được Thiên Chúa soi sáng đặc biệt nên đã hiểu Đấng Messia tương lai là
một Người Tôi Tớ. Ông đã mô tả Người Tôi Tớ trong 4 bài thơ. Đoạn được phụng vụ
trích đọc hôm nay nằm trong bài thơ thứ I :
– Đó
là người được Thiên Chúa tuyển chọn và Thiên Chúa rất hài lòng.
– Người
đó rất hiền lành và dịu dàng : “không lớn tiếng, không nở bẻ gãy cây lau bị
dập, không dập tắt tim đèn còn khói”.
– Sứ
mạng của Người Tôi Tớ là : a/ Tái lập công bình ; b/ nên ánh sáng cho
muôn dân ; c/ giải thoát những người khốn khổ.
2.
Đáp
ca (Tv 28) :
Bài
thơ này ca tụng Thiên Chúa uy phong. Sự uy phong của Thiên Chúa thể hiện qua việc
Ngài thống trị các sức mạnh của thiên nhiên : Ngài ngự trên những ngọn thuỷ
triều, tiếng Ngài vang rền trên sóng nước.
Chính
Thiên Chúa uy phong ấy sẽ tấn phong Chúa Giêsu làm Đấng Messia của Ngài trong
biến cố phép rửa.
3.
Tin
Mừng (Lc 3,15-16.21-22) :
Bài
Tin Mừng này cho ta biết về người làm phép rửa và người được làm phép rửa :
- Người làm phép rửa
là Gioan Tẩy giả : lời giảng và hoạt động của ông đã khiến ông nổi tiếng,
đến nỗi dân chúng nghĩ rằng ông chính là Đấng Messia. Gioan đã khiêm tốn
thanh minh ông không phải là thế, và còn giới thiệu cho họ biết Đấng
Messia thực sắp đến sau ông và cao trọng hơn ông nhiều.
- Người lãnh nhận phép
rửa là Chúa Giêsu. Chính Thiên Chúa (chim câu, tiếng từ trời) giới thiệu
Ngài :
–
Ngài là Con của Thiên Chúa (“Con là con của Cha”)
– Là
Đấng Messia mà Tv 2 và ngôn sứ Isaia đã tiên báo (Kiểu nói “Con là con của Cha”
là tước hiệu Isaia dùng để nói về Đấng Messia ; kiểu nói “Hôm nay Ta sinh
ra con” là của Tv 2 cũng nói về Đấng Messia).
4.
Bài
đọc II (Cv 10,34-38) :
Dân
do thái có quan niệm hẹp hòi cho rằng Thiên Chúa là Chúa riêng của họ, và ơn cứu
rỗi của Thiên Chúa được dành riêng cho họ. Vì thế, khi thánh Phêrô rửa tội cho
ông Cornêliô một người thuộc dân ngoại, một số người do thái đã thắc mắc.
Thánh
Phêrô biện minh rằng ông đã làm như thế cũng chỉ là theo đúng sứ mạng của Chúa
Giêsu :
–
Trong biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan, Ngài đã được Thiên Chúa tấn
phong làm Đấng Messia : “Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu
tấn phong cho Ngài”.
– Sứ
mạng Messia của Chúa Giêsu là mang Tin Mừng cho tất cả mọi người và mọi dân tộc,
vì thế nên “Ngài đi qua mọi nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người”. Phêrô còn
nói : “Thiên Chúa không tây vị ai. Nhưng ở bất cứ xứ nào ai kính sợ Người
và thi hành sự công chính đều được Người đón nhận”.
IV.Gợi
ý giảng
- Mỗi người đều có
sứ mạng
Hai
tiếng “sứ mạng” nghe có vẻ nghiêm trọng quá. Nhưng thực ra mọi người, mọi sinh
vật, mọi thụ tạo – nói chung là mọi “hữu thể” – đều có sứ mạng :
– Sứ
mạng của mặt trời là sưởi ấm các sinh vật trên mặt đất
– Sứ
mạng của cây lúa là nuôi sống con người
– Thậm
chí những con vi sinh nhỏ bé đến nỗi mắt thường không thấy được cũng có sứ mạng
làm phân huỷ những chất thải.
Chúa
Giêsu đã sinh ra trong trần gian với sứ mạng làm Đấng Messia mang ơn cứu độ đến
cho mọi người. Ngài đã chu toàn sứ mạng ấy một cách tuyệt hảo.
Mỗi
người chúng ta cũng có sứ mạng. Vậy mỗi người hãy tự hỏi “Sứ mạng của tôi là gì
đối với gia đình, đối với xã hội, đối với Giáo Hội, đối với anh chị em không
cùng tín ngưỡng ?”
Tôi
được sinh ra trên đời là vì sứ mạng. Nếu tôi không chu toàn sứ mạng, hay tệ hơn
nữa, nếu tôi không lưu tâm gì đến sứ mạng, thì sự hiện hữu của tôi là vô ích,
chỉ là ăn hại. Chúa Giêsu đã nói “Nếu muối mà nhạt thì chỉ còn ném ra ngoài cho
người ta chà đạp dưới chân”.
2.
“Con
yêu dấu”
Chúa
Giêsu là Con Thiên Chúa. Qua phép rửa, chúng ta cũng trở thành con Thiên Chúa.
Về phần Chúa Giêsu, Ngài đã được khen là “Con yêu dấu của Cha”.
Thế
nào là một người “con yêu dấu” ?
– là
biết ý của cha mình : Chúa Giêsu luôn cầu nguyện để biết ý của Chúa Cha.
– và
luôn làm theo ý cha mình : Chúa Giêsu nói “Lương thực của Ta là làm theo ý
của Cha Ta”. Trong vườn Cây Dầu, sau khi đơn thành tỏ cho Chúa Cha biết Ngài rất
sợ chén đắng của cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu nói tiếp ngay “Nhưng xin đừng theo ý
con, mà hãy theo ý Cha”.
Nếu
chúng ta muốn trở thành con yêu dấu của Thiên Chúa thì chúng ta cũng hãy bắt
chước Chúa Giêsu : luôn cầu nguyện, khi đã thấy được ý Chúa thì sẵn sàng bỏ
ý riêng để làm theo ý Chúa.
3.
“Nếu…”
Nếu
tôi là dân do thái lúc đó,
có thể tôi cũng đi từ Galilê bên Chúa Giêsu suốt bốn năm ngày đường, tới sông
Giođan để chịu phép rửa, mà không ngờ rằng Người là Đấng mà Gioan đang rao giảng.
Khi tới nơi, chắc chắn tôi sẽ chen lấn Người để tôi được tới gần Gioan hơn. Tôi
trố mắt nhìn và lắng tai. Gioan kêu gọi tôi sám hối. Tôi cảm động và rán lội tới
sát Gioan. Tôi đẩy Người ra để xin Gioan rửa tôi trước, vì tôi nóng lòng mong đợi
điều Gioan đang nói “Hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến”. Rửa xong, tôi an tâm
ra về mà không ngờ Người là Đấng Cứu Thế đồng hành với tôi, đứng sát bên tôi,
đã bị tôi gạt Người ra ngoài.
Thực
tế hàng ngày đã xảy ra trăm ngàn lần tôi cư xử như thế đối với những người bên
cạnh tôi. Tôi không ngờ rằng họ là chi thể Đấng Cứu Thế. Tôi bao nhiêu lần xô lấn
những người bên cạnh tôi để tôi được hơn, được trước họ mà chẳng nhớ gì lời
Chúa dạy : “Con phải kính nhường và yêu mến người bên cạnh con”. Thành thử
ra tôi cũng không nhận ra Đấng Cứu Thế đang ở với tôi.
Nếu
tôi được làm địa vị của Gioan tiền hô, thì khi vừa thấy Đấng Cứu Thế, tôi sẽ tự đắc hô to : Đấy,
tôi nói có sai đâu. Ngài đến đây nè… Rồi tôi kêu gọi mọi người ủng hộ Ngài,
hoan hô Ngài, đón rước Ngài, xin Ngài phất cờ giải phóng dân tộc, làm cho nước
ta độc lập tự do giàu mạnh, đem quân xâm chiếm các nước, trở thành bá chủ hoàn
cầu. Tôi rất phàn nàn và lấy làm tiếc vì không thể ngờ được rằng Gioan không
làm như tôi mong muốn. Trái lại ông đã cúi mình xuống nhỏ nhẹ thưa với Ngài rằng
“Tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài. Tôi chỉ rửa anh em trong nước, còn chính
Ngài mới rửa chúng tôi trong Thánh Thần. Vậy xin Ngài rửa cho tôi đi để tôi được
ơn cứu độ”. Thật là con người đầy khiêm tốn, đầy tin tưởng, để rồi Gioan đã phó
thác trót mạng sống mình cho Đấng Cứu Thế : dù phải chặt đầu, ông vẫn luôn
quyết tâm chu toàn nghĩa vụ Thiên Chúa trao.
Còn
Chúa Giêsu, Người rất từ
tốn và ẩn mình tuyệt diệu hơn nữa. Người đã thưa lại Gioan : “Chúng ta cần
phải chu toàn nghĩa vụ thánh như thế”. Người đồng hóa mình với dân chúng, chịu
những kẻ cậy sức mạnh xô đẩy, chèn ép để thông cảm với mọi nỗi xót xa của cuộc
đời những kẻ thấp mũi bé miệng, neo đơn, cô thế cô thân. Người đã cúi mình trước
Gioan làm phép rửa cho Người để cho những tội nhân biết cúi mình xuống trước
tòa giải tội. Người đã dìm mình xuống nước để cứu vớt những kẻ chết trong dòng
đời, cho họ được sống lại làm con chí ái với Người trong gia đình thiên quốc.
Người chôn mình trong bản tính hư nát của loài người để cho con người được trường
sinh vinh phúc.
Lạy
Chúa Giêsu xin cho chúng con biết kính nhường nhau. Đó chẳng phải là kính mến
Chúa sao ? Xin cho chúng con biết phó thác thân phận làm người, làm kitô hữu
cho Đấng Cứu Thế. Chắc chắn chúng con sẽ được Người thanh tẩy và kết nạp chúng
con vào nhà Cha chí ái trên trời. (Linh mục Vũ Khắc Nghiêm, “Xây nhà trên đá” Năm A)
4.
Tình
yêu cứu thế
Một vị
quan lớn mở tiệc mời nhiều người đến dự. Tất cả các người được mời đều ăn mặc
sang trọng và dùng xe đi đến. Trong số ấy có một người khách già. Rủi thay, vì
già yếu nên ông cụ này khi xuống xe đã trượt chân té vào vũng bùn. Khách đến dự
tiệc thấy vậy phá lên cười.
Xấu hổ
và cảm thấy mình không xứng đáng, ông quyết định quay về. Gia nhân nài nỉ cách
mấy ông cũng không chịu ở lại dự tiệc. Khi đó vị quan chủ tiệc bước ra sân, đi
tới chỗ vũng nước đó, rồi cũng cố tình té ngã vào vũng nước. Thế là
áo quần của ông quan cũng dơ dáy y như cụ già kia. Mọi người chung quanh chẳng
ai dám cười nhạo nữa. Sau đó, vị quan lớn cầm tay ông cụ đưa vào phòng tiệc.
Ông cụ chẳng còn lý do nào để chối từ.
*
Chỉ
có hành động cố tình té ngã của vị quan lớn kia, mới có thể đưa ông cụ vào bàn
tiệc.
Con
Thiên Chúa trên tầng trời cao thẳm, lại hạ mình xuống làm kiếp phàm nhân.
Đấng
thánh thiện vô cùng, lại khiêm nhu đứng xếp hàng bên những tội nhân.
Đấng
xoá tội trần gian, lại hoà mình trong đoàn người tội lỗi.
Đấng
thanh sạch vô biên, lại chịu dìm mình trong dòng sông “sám hối”.
Đấng
sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần, lại xin chịu phép rửa của Gioan.
Chính
hành vi rất mực khiêm hạ của Đấng Cứu Thế đã cho thấy tình yêu sâu nặng của
Thiên Chúa dành cho con người.
Chính
thái độ tự huỷ tột cùng của Đấng Cứu Thế đã cho thấy tình yêu dấn thân của
Thiên Chúa đối với con người cát bụi chúng ta.
Vâng,
chính Thiên Chúa đã có sáng kiến tuyệt vời là tình nguyện hoá thân làm kiếp
phàm nhân :
Để
chia sẻ thân phận đói nghèo, khổ đau, bệnh hoạn của con người.
Để nếm
cảm nỗi ray rứt khắc khoải của tội nhân.
Để thấu
hiểu niềm khao khát đổi mới trong lòng người tội lỗi.
Vâng,
chính Con Thiên Chúa đã thực hiện những phép lạ thật ngoạn mục ngay trước mắt
con người,
Người
đã muốn nên anh em với chúng ta để chia sẻ những gì Người đã nhận từ
Cha : “Mọi sự của Cha là của Con”.
Người
đã muốn chung phận con người để chia sẻ phận Con Thiên Chúa : “Phàm là con
cái thì chung huyết nhục, nên Người cũng chung phần huyết nhục với chúng ta”
(Dt 2,14).
Người
đã muốn chung phần khổ đau, để có thể cứu giúp những ai đau khổ : “Vì bản
thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai
bị thử thách”(Dt 2,18).
Chiêm
ngắm Đấng Cứu Thế cúi mình chịu phép rửa, chúng ta hiểu được thế nào là Tình
Yêu : Một Tình Yêu vui lòng tự huỷ để cùng đồng hành với anh em cho đến
cùng, một Tình Yêu sẵn sàng chia sẻ trọn vẹn cho anh em, một Tình Yêu chấp nhận
cúi xuống để nâng anh em chỗi dậy cùng bước về nhà Cha.
Chiêm
ngắm Đấng Cứu Thế cầu nguyện với Cha nơi dòng sông Giođan, chúng ta hiểu được
thế nào là Hiệp Thông : Chính trong giây phút Hiệp Thông sâu đậm này mà
Người cảm nhận được đầy tràn Thánh Thần và nghe được tiếng Cha âu yếm : “Con
là Con của Cha. Hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,22).
Ngày
nay, chúng ta đã chịu phép Rửa của Đức Kitô trong Thánh Thần, chúng ta được mời
gọi Hiệp Thông thân mật với Ba Ngôi Chí Thánh, chúng ta cũng được mời gọi lên
đường phục vụ anh em, nhất là những anh em đang cần một Tình Yêu chia sẻ, đỡ
nâng và trao ban trọn vẹn : Tình Yêu Cứu Thế !
Lạy
Chúa, trong con mắt Chúa chúng con là tất cả. Xin cho chúng con luôn nhìn anh
em bằng cái nhìn của Chúa, và yêu thương anh em chúng con bằng tình yêu trọn vẹn
của Người. Amen. (TP)
5.
Chuyện
minh họa
Ở một
nước kia có luật cấm đạo. Hai vợ chồng kia bị bắt đưa ra tòa vì tội là Kitô hữu.
Người chồng tên là Moran.
Để cứu
vợ chồng này khỏi tội, luật sư đã hùng hồn đọc bài biện hộ mà đại ý như
sau :
– Hai
thân chủ của tôi bị kết tội là Kitô hữu. Tôi xin chứng minh rằng sự thật không
phải là thế.
– Họ
có một cuộc sống đàng hoàng, siêng năng làm việc, không hề gian tham trộm cắp,
không làm thiệt hại ai điều gì, không xích mích gì với hàng xóm… Như thế họ là
những con người tốt, những công dân tốt. Không có gì sai trái.
–
Ngày Chúa nhật họ đi dự lễ, ở nhà họ có bàn thờ và thường đọc kinh trước bàn thờ,
họ đeo ảnh Thánh giá… Chính vì những biểu hiện bề ngoài này mà họ bị kết tội là
Kitô hữu. Nhưng những biểu hiện bề ngoài ấy không đủ để kết luận họ thực sự là
kitô hữu.
–
Chính Thánh Kinh của Kitô giáo đưa tiêu chuẩn để xác định ai là kitô hữu thật :
“Cứ xem quả thì biết cây” (Mt 7,15) ; Mà hoa quả chứng minh ai là kitô hữu
là những việc bác ái yêu thương, như một câu Thánh Kinh khác : “Người ta cứ
dấu này mạ nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con thương yêu nhau”
(Ga 13,35). Nếu căn cứ vào những tiêu chuẩn này để xét, thì tôi dám khẳng định
rằng thân chủ của tôi chắc chắn không phải là kitô hữu : mọi người đều
không thấy họ có chút quan tâm nào đến những người nghèo, những người khổ sở,
những người già yếu… ; mỗi khi có cuộc lạc quyên để giúp thiên tai, hoạn nạn,
họ cũng đóng góp nhưng chỉ đóng góp cho có với người khác chứ thực sự ít hơn mọi
người khác.
– Vì
những bằng chứng trên, tôi xin quý tòa hãy hủy bỏ tội danh Kitô hữu của thân chủ
tôi.
Toà tạm
ngừng để nghị án. Sau đó Tòa kết luận : Tội danh Kitô hữu không được thành
lập. Hai vợ chồng Moran được tự do ! (FM)
6.
Bài
giảng được gán cho Thánh Hippolite (+ 236)
…
Nếu
Chúa chìu theo lời ngăn cản của Gioan mà không chịu phép rửa thì chúng ta đã bị
mất mát biết bao điều quan trọng.
Trước
đó các tầng trời bị đóng chặt, chúng ta không ai có thể đến được quê hương trên
trời. Sau khi xuống thấp tận đáy, chúng ta không còn có thể trở về trên cao.
Nhưng Chúa Giêsu đã chịu phép rửa. Không phải một mình Ngài chịu phép rửa, mà
Ngài còn canh tân con người cũ và ban lại cho nó thân phận làm dưỡng tử của
Thiên Chúa. Bởi thế lúc đó “trời mở ra”. Các thực tại hữu hình được giao
hòa với những thực tại vô hình ; các phẩm trật trên trời hớn hở vui mừng,
dưới đất thì bệnh tật được chữa lành…
7.
Suy
nghĩ về phép rửa
Phép
rửa không chỉ được ban một lần khi chúng ta được mang đến giếng Rửa Tội trong
Nhà thờ.
Chúng
ta được rửa bởi tất cả mọi biến cố xảy ra trong đời :
–
Chúng ta được rửa bởi những cực nhọc, khó khăn : đó là những dòng nước biến
động thanh luyện chúng ta khỏi những gì là gian trá và vô dụng.
–
Chúng ta được rửa bởi những khổ đau, buồn rầu : đó là những dòng nước u ám
nhưng có khả năng giúp ta lớn lên trong đức khiêm tốn và cảm thông.
–
Chúng ta được rửa bởi niềm vui : đó là dòng nước róc rách khiến ta cảm
nghiệm được vị ngọt của cuộc đời.
–
Chúng ta được rửa bởi tình yêu : đó là dòng nước ấm áp làm cho đời ta tươi
nở như hoa dưới ánh nắng mặt trời.
Phép
rửa là một hạt giống, cần phải nẩy mầm trong suốt cả đời sống.
V. Lời
nguyện cho mọi người
Chủ tế : Anh chị em thân mến, khi chịu phép rửa
tại sông Giođan, Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta biết mầu nhiệm Thiên Chúa
Ba Ngôi. Vậy chúng ta cùng nguyện xin Người :
- Chúa Giêsu đã tự
hạ / đến xin ông Gioan làm phép rửa / hấu chỉ lối khiêm nhường
cho người Kitô hữu học đòi bắt chước / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho
các vị mục tử / biết noi gương Chúa Giêsu mà phục vụ tha nhân trong
yêu thương và khiêm nhường.
- Chúa Giêsu đã
dùng phép rửa mà thánh hóa nhân loại / và mở cửa cho những người thống
hối trở về / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho kẻ có tội biết từ bỏ đời sống
tội lỗi / mà quay trở về nẻo chính đường ngay.
- Đức Kitô là ánh
sáng muôn dân / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban ánh sáng đức tin
cho hết thảy mọi người đang đi tìm Chúa.
4
Đức Kitô là nguồn hy vọng của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu
xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết tìm đến Chúa khi gặp gian nan thử
thách / để được Người nâng đỡ ủi an.
Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã được
Chúa Trời tuyển chọn, Chúa không nỡ nghiền nát cây lau đã gãy, cũng chẳng nỡ dập
tắt tim đèn còn cháy. Xin cho tất cả chúng con cũng biết noi theo lòng nhân hậu
của Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI.Trong
Thánh Lễ
– Trước
Kinh Lạy Cha : Qua bí tích Rửa tội, chúng ta được làm con Thiên Chúa
như Chúa Giêsu. Vậy, cùng với Chúa Giêsu, chúng ta hãy dâng lên Chúa Cha lời
kinh Lạy Cha.
VII.
Giải tán
Thánh
lễ đã hết, anh chị em lại trở về cuộc sống bình thường. Anh chị em hãy cố gắng
sống xứng đáng là con của Thiên Chúa.
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI
Lectio Divina:
Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa (C)
Chủ
Nhật 13 Tháng Một, 2019
Chúa
Giêsu chịu phép rửa và
Sự
biểu thị Người là Con Thiên Chúa
Lc
3:15-16, 21-22
1.
Lời nguyện mở đầu
Lạy Chúa là Thiên Chúa và là Cha của
chúng con, xin ban cho chúng con biết được mầu nhiệm phép rửa của Con
Cha. Xin Cha cho chúng con có thể hiểu thấu được như Tác Giả Tin Mừng,
Luca, đã hiểu; như các Kitô hữu tiên khởi đã hiểu. Lạy Cha, xin ban
cho chúng con có thể chiêm niệm được mầu nhiệm căn tính của Chúa Giêsu như Cha
đã mặc khải tại phép rửa của Người trong nước sông Giođan và là Đấng hiện diện
trong bí tích rửa tội của chúng con.
Lạy
Chúa Giêsu, bằng cách lắng nghe Lời Chúa, xin Chúa dạy cho chúng con ý nghĩa trở
thành con cái trong Chúa và với Chúa. Chúa chính thật là Đấng Kitô bởi
vì Chúa đã dạy cho chúng con trở nên con cái Thiên Chúa giống như
Chúa. Xin hãy ban cho chúng con một nhận thức sâu sắc về hoạt động của
Chúa Thánh Thần, Đấng mời gọi chúng con lắng nghe với lòng vâng phục và sự chú
tâm.
Lạy
Chúa Thánh Thần, chúng con cầu xin Chúa làm dịu đi những lo lắng và sợ hãi của
chúng con để chúng con có thể trở nên tự do, đơn sơ và hiền lành hơn trong việc
lắng nghe tiếng của Thiên Chúa, Đấng đã mặc khải chính mình trong lời của Đức
Giêsu Kitô, là người anh và là Đấng Cứu Chuộc của chúng con. Amen!
2.
Bài Đọc
a)
Chìa khóa dẫn đến bài đọc:
Bài
tường thuật về phép rửa của Chúa Giêsu, được trình bày cho chúng ta trong phần
phụng vụ của Chúa Nhật tuần này, mời gọi chúng ta suy gẫm về nó và chạm vào một
câu hỏi quan trọng liên quan đến đức tin của chúng ta: Đức Giêsu
là ai? Vào thời Chúa Giêsu và suốt dòng lịch sử, câu hỏi này đã
được trả lời theo vô số cách và những điều này cho thấy nỗ lực của loài người
và các tín hữu muốn hiểu rõ hơn về mầu nhiệm con người của Chúa
Giêsu. Tuy nhiên, trong bài tập suy gẫm này của chúng ta, chúng ta
muốn rút ra từ một nguồn tin đáng tin cậy và xác thực hơn, Lời của Thiên
Chúa. Trong lời mô tả cảnh Chúa Giêsu chịu phép rửa trên sông
Giođan, Luca đã không quan tâm đến việc cho chúng ta biết các chi tiết cụ thể
và lịch sử của sự kiện này, nhưng thay vào đó mời gọi chúng ta là những người đọc
Tin Mừng trong năm phụng vụ này, hãy cân nhắc các yếu tố chính cho phép chúng
ta nắm bắt được căn tính của Đức Giêsu.
b)
Phần phân đoạn văn bản để trợ giúp cho bài đọc:
Đoạn
Tin Mừng này trích từ Phúc Âm Luca chứa hai lời tuyên bố về căn tính của Đức
Giêsu, đó là lời tuyên bố của ông Gioan (3:15-16) và của chính Thiên Chúa
(3:21-22).
– Lời tuyên bố đầu tiên được
gây ra bởi phản ứng của dân chúng về lời rao giảng và phép rửa hoán cải của ông
Gioan: liệu Gioan có phải là Đấng Kitô không?
(3:15). Gioan trả lời rằng có sự khác biệt lớn lao giữa phép rửa
trong nước của ông và phép rửa được tác động trong “Chúa Thánh Thần và trong lửa”
của Chúa Giêsu (3:16).
– Lời tuyên bố thứ hai đến từ
trời và được thực hiện trong khi Chúa Giêsu đang chịu phép rửa. Trong
bối cảnh, trong số những người chịu phép rửa đó cũng có hình ảnh của Đức Giêsu
tiến đến để lãnh phép rửa (3:21). Trọng tâm của cảnh không phải là
phép rửa, mà là các sự kiện chung quanh nó: tầng trời mở ra, Chúa
Thánh Thần ngự xuống trên Người và có tiếng nói công bố căn tính của Chúa Giêsu
(3:22).
c)
Tin Mừng:
15 Khi ấy, trong lúc dân chúng đang
mong đợi, và mọi người tự hỏi trong lòng rằng: “Gioan có phải là Đấng Kitô
không?”, 16 Gioan lên tiếng bảo mọi người rằng: “Phần tôi,
tôi rửa anh em trong nước, nhưng Đấng cao trọng hơn tôi đang đến, và tôi không
xứng đáng cởi dây giày cho Người, chính Người sẽ rửa anh em trong Chúa Thánh Thần
và trong lửa!”
21 Vậy khi tất cả dân chúng đã chịu phép rửa,
và chính lúc Chúa Giêsu cũng đã chịu phép rửa xong, Người đang cầu nguyện, thì
trời mở ra, 22 và Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Người dưới
hình chim bồ câu, và có tiếng từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp
lòng Cha”.
3.
Giây phút thinh lặng cầu nguyện:
Trong
thinh lặng, bạn hãy cố gắng làm sinh động trong lòng mình cảnh Tin Mừng vừa mới
đọc. Bạn hãy thử hòa mình với nó và biển nó thành những lời của
riêng bạn, do đó xác định những ý nghĩ của bạn với nội dung hoặc ý nghĩa của những
lời ấy.
4.
Một vài câu hỏi gợi ý:
Để
giúp chúng ta trong phần suy gẫm cá nhân.
a) “Tiếng nói của Thiên Chúa” tuyên bố Chúa
Giêsu “là Con Yêu Dấu duy nhất của Thiên Chúa” có tác dụng gì với bạn?
b) Chân lý này có phải là một niềm xác tín
có ý thức và được chia sẻ đối với bạn không?
c) Việc Chúa Giêsu chịu phép rửa có đã thuyết
phục được bạn rằng Thiên Chúa không phải là xa vời, cách biệt trong sự siêu việt
của Người và không quan tâm đến nhu cầu cứu rỗi của loài người không?
d) Điều mà Chúa Giêsu bước xuống nước của sông
Giođan để nhận lãnh phép rửa thống hối, trở thành một với những người tội lỗi,
trong khi Người là Đấng vô tội, có khiến bạn ngạc nhiên không?
e) Chúa Giêsu không vướng tội lỗi, nhưng
Người đã không từ chối để trở thành một với nhân loại tội lỗi. Bạn có
tin rằng ơn cứu độ bắt đầu với luật đoàn kết không?
f) Là người đã được nhận phép rửa nhờ vào
danh Đức Kitô, “trong Chúa Thánh Thần và lửa”, bạn có ý thức rằng bạn đã được mời
gọi bởi Thiên Chúa để trải nghiệm tình đoàn kết của Thiên Chúa với quá khứ riêng
của bạn, để bạn không còn bị đồng hóa với tội lỗi của cô lập và chia rẽ nữa, mà
với tình yêu thương đoàn kết không?
5.
Chìa khóa dẫn đến bài đọc
Dành cho những ai muốn đào sâu vào trong
chủ đề
a)
Bối cảnh của việc Chúa Giêsu chịu phép rửa
Sau
bài tường thuật về thời thơ ấu và việc chuẩn bị cho các hoạt động công khai của
Chúa Giêsu, tác giả Luca cho chúng ta biết về các hoạt động của ông Gioan Tẩy
Giả, việc Chúa Giêsu chịu phép rửa và bị cám dỗ. Những đoạn này giới
thiệu các hoạt động của Chúa Giêsu và cho chúng một ý nghĩa. Thánh sử
bao gồm trong một khung cảnh độc đáo và đầy đủ về tất cả các hoạt đông của
Gioan: từ lúc bắt đầu việc rao giảng của ông bên bờ sông Giođan
(3:3-18) đến lúc ông bị bắt bởi tiểu vương Hêrôđê Antipas
(3:19-20). Khi Chúa Giêsu xuất hiện trong câu 3:21 để nhận phép rửa,
ông Gioan không còn được nhắc đến nữa. Qua sự im lặng này, Luca làm
rõ ràng bài đọc của ông về lịch sử ơn cứu độ: Gioan là ngôn sứ cuối
cùng của lời hứa Cựu Ước. Bây giờ trọng tâm của lịch sử là Đức
Giêsu, và chính Người là Đấng bắt đầu thời đại của ơn cứu rỗi, được mở rộng vào
thời đại của Giáo Hội.
Một yếu
tố không đáng kể trong việc hiểu biết các sự kiện về những người đến trước
Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu là hoàn cảnh địa lý và chính trị của đất Paléstine
vào thập niên ba mươi. Thánh sử muốn trình bày một khía cạnh lịch sử
và ý nghĩa thần học về sự kiện Đức Giêsu. Ông muốn nói rằng không phải
quyền lực chính trị thế gian (đại diện bởi hoàng đế Xêda Tibêriô) cũng chẳng phải
quyền lực tôn giáo (đại diện bởi các thượng tế) đã gán cho giá trị hoặc ý nghĩa
cho các sự kiện của loài người; mà đúng hơn chính là “Lời của Thiên Chúa dựa
theo Gioan, con ông Giacaria, sống trong hoang địa” (Lc 1:2). Đối với
Luca, khía cạnh mới hay khía cạnh phát triển của lịch sử được mở đầu bởi Đức
Giêsu, nằm trong bối cảnh này hoặc tình hình chính trị của thế tục và sự thống
trị và quyền lực tôn giáo. Vào thời gian trước đây, trong bài tường
thuật về các ngôn sứ, Lời của Thiên Chúa đã được nói đến trong một tình huống lịch
sử-chính trị đặc thù, thế nhưng trong sứ điệp của Gioan có mang tính cấp
bách: Thiên Chúa đến trong con người của Đức Giêsu. Vì vậy,
lời của Chúa gọi Gioan Tẩy Giả từ trong hoang địa để sai ông đến với dân tộc
Israel. Nhiệm vụ của vị ngôn sứ cuối cùng này của Cựu Ước là để mở
đường cho việc xuất hiện của Chúa ở giữa dân của Người (Lc 1:16-17,
76). Ông hoàn thành nhiệm vụ này bằng cách chuẩn bị tất cả mọi người
lãnh nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa qua phép rửa hoán cải (Gr 3:14; Ed 36:25),
có nghĩa là một sự thay đổi trong lối nhìn về mối quan hệ của người ta với
Thiên Chúa. Thay đổi cuộc sống một người có nghĩa là thực thi tình
huynh đệ và công bằng theo giáo huấn của các ngôn sứ (Lc
3:10-14). Trái ngược với chủ nghĩa tuân thủ theo xã hội và tôn giáo,
độc giả của Tin Mừng Luca được mời gọi mở lòng ra với con người của Đức Giêsu,
Đấng Cứu Thế. Hơn thế nữa, Luca nhấn mạnh rằng ngôn sứ Gioan đã
không giả vờ là đối thủ của Đức Giêsu. Mà trái lại, vị ngôn sứ của
sông Giođan đã thấy mình hoàn toàn lệ thuộc vào con người của Đức
Giêsu: “tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (3:16). Một
lần nữa, Đức Giêsu là Đấng mạnh mẽ hơn vì Người ban cho Chúa Thánh Thần.
Cuộc
đời của Gioan kết thúc một cách thảm khốc theo cách của các ngôn sứ xa
xưa. Tính xác thực của một ngôn sứ được đo bằng sự tự do của người ấy
khi phải đối mặt với quyền lực chính trị. Thật vậy, ông can đảm lên
án những hành động ác độc của Hêrôđê đối với dân tộc mình. Có hai phản
ứng đối với lời kêu gọi của ngôn sứ: dân chúng và những người tội lỗi
trở nên hoán cải, trong khi đó lại có phản ứng mạnh mẽ với việc đàn áp dã
man. Cuộc đời Gioan kết thúc trong ngục tù. Qua sự kiện
bi thảm này, Gioan dự đoán số phận của Chúa Giêsu, Đấng sẽ bị chối từ và bị giết,
nhưng là Đấng trở thành điểm được nhắc đến cho những ai bị bách hại bởi quyền lực
đàn áp.
Cuối
cùng, sông Giođan là bối cảnh vật lý cho việc rao giảng của ông
Gioan. Luca có ý muốn thiết lập một sự ràng buộc chặt chẽ giữa dòng
sông này và Gioan Tẩy Giả: sau phép rửa, Chúa Giêsu sẽ không bao giờ
trở lại sông Giođan lần nữa và Gioan sẽ không bao giờ vượt qua sông ấy để vào xứ
Galilêa và xứ Giuđêa nữa, bởi vì những nơi này được dành riêng cho các hoạt động
của Chúa Giêsu.
b)
Lời bình luận về văn bản:
i)
Lời của Gioan liên quan đến Chúa Giêsu (Lc 3:15-16)
Trong
khung cảnh đầu tiên của đoạn Tin Mừng phần Phụng Vụ hôm nay, Gioan nói tiên tri
một cách khẳng định rằng sẽ có một “đấng cao trọng hơn” ông đang đến. Đây
là câu trả lời của vị ngôn sứ ở sông Giođan về ý kiến của đám đông cho rằng ông
có thể là Đức Kitô. Đám đông ở đây được gọi là những người trong sự
kỳ vọng. Đối với Luca, dân tộc Israel được xem là một dân tộc cởi mở
và sẵn sàng để đón nhận ơn cứu rỗi của Đấng Mêssia (it ra là trong thời kỳ trước
khi Chúa bị đóng đinh). Những lời của ông Gioan vẽ lên những hình ảnh
về Cựu Ước và hành động để tôn vinh con người thần bí mà ông tuyên bố đang trên
đường đến: “Đấng cao trọng hơn tôi đang đến” (3:16).
α. Hình ảnh của “Đấng cao trọng
hơn”
Ông
Gioan Tẩy Giả bắt đầu phác họa hình ảnh của Đấng Kitô với tĩnh từ “cao trọng”
đã được dùng bởi ngôn sứ Isaia trong quyển vua-Đấng Thiên Sai: “dũng
mãnh, mạnh mẽ như Thiên Chúa” (9:5) và một từ ngữ được dùng trong Cựu Ước để
cho biết một đặc điểm của Đấng Tạo Hóa, được coi là chủ tể của vũ trụ và của lịch
sử: “Chúa là Vua hiển trị, Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào, Người lấy
dũng lực làm cân đai” (Tv 93:1). Lời nói “Đấng đang đến” lặp lại một
danh hiệu về hương vị Đấng Thiên Sai được tìm thấy trong Thánh Vịnh 118, một
bài thánh ca rước kiệu được hát trong ngày lễ Lều: “Phúc thay cho ai
đến trong danh của Chúa”. Luca áp dụng bài thánh vịnh này vào Chúa
Giêsu khi Người tiến vào thành Giêrusalem. Lời công bố về Đấng Thiên
Sai nổi tiếng trong sách của tiên tri Dacaria mang cùng một sứ điệp: “Kìa
Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi…” (Dcr 9:9).
β. Một cử chỉ khiêm tốn: “Tôi
không xứng đáng cởi dây giày cho Người”
Đây
là cách khác mà Thánh Sử mô tả hình ảnh Chúa Kitô và có một hương vị điển hình
đông phương: “cởi dây giày”. Đây là công việc của một kẻ
nô lệ. Gioan Tẩy Giả xem mình như là tôi tớ của Đấng Thiên Sai sắp đến,
hơn thế nữa ông còn cảm thấy khiêm hạ và không xứng đáng: “Đấng mà
tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người”.
Sau
đó, ông đưa ra phép rửa mà người được công bố sẽ thực hiện: “chính
Người sẽ rửa anh em trong Chúa Thánh Thần và trong lửa”. Trong Thánh
Vịnh 104:3, Chúa Thánh Thần được xác định như là yếu tố tạo dựng và tái tạo tất
cả mọi loài: “Xin hãy sai Chúa Thánh Thần của Người, và họ sẽ được tạo
dựng, và Người sẽ đổi mới mặt địa cầu”. Tuy nhiên, lửa là điểm đặc
biệt nhất cho biểu tượng thiên tính: nó mang lại sức nóng
và nhen nhúm, làm sinh động và phá hủy, nó là nguồn gốc của sự ấm áp và sự chết.
ii)
Lời phán ra từ trời liên quan đến Đức Giêsu (Lc 3:1-22)
Trong
cảnh thứ hai, chúng ta có một phác họa hay sự mặc khải mới về Đức
Kitô. Lần này, chính Thiên Chúa, chứ không phải ông Gioan, đã họa vẽ
hình ảnh của Đức Kitô với những lời trang trọng: “Con là Con yêu dấu
của Cha, Con đẹp lòng Cha”. Lời giới thiệu và định nghĩa này về Đức
Kitô được hỗ trợ bởi nghệ thuật bố trí thật sự và đặc biệt từ trời (các tầng trời
mở ra… Chúa Thánh Thần ngự xuống dưới hình chim bồ câu… có tiếng từ trời phán)
để cho thấy thiên tính của những lời được công bố về con người của Đức Giêsu.
α. Chim bồ câu là biểu tượng của Chúa
Thánh Thần, Đấng sở hữu các ngôn sứ, nhưng bây giờ được ngấm truyền trong sự
viên mãn của Người về Đấng Thiên Sai được tiên báo bởi ngôn sứ
Isaia: “Thần Khí Đức Chúa sẽ ngự trên Người” (11:2). Biểu
tượng chim bồ câu cho thấy rằng với sự ra đời của Chúa Giêsu, sự hiện diện hoàn
hảo của Thiên Chúa diễn ra, Đấng tỏ mình ra trong sự tràn đầy Chúa Thánh Thần. Đó
là sự viên mãn của Chúa Thánh Linh thánh hiến Đức Kitô cho sứ vụ cứu độ của Người
và cho nhiệm vụ mặc khải với mọi người lời dứt khoát của Chúa
Cha. Chắc chắn rằng dấu hiệu chim bồ câu cho độc giả của đoạn Tin Mừng
thấy về việc Chúa chịu phép rửa là để gặp gỡ nhân loại. Việc gặp gỡ
này được thực hiện trong con người của Đức Giêsu. Ông Gioan Tẩy Giả
giới thiệu Chúa Giêsu như là Đấng Cứu Thế – Đấng trong Cựu Ước vẫn chỉ đơn giản
là một người phàm, dù rằng hoàn hảo – và bây giờ Thiên Chúa xác nhận Đức Giêsu
như là Con Một “yêu dấu”. Danh hiệu này cho thấy sự hiện diện tối
cao của Thiên Chúa, vượt xa khỏi kinh nghiệm trong việc phụng tự hay bất kỳ
khía cạnh nào khác của đời sống tại Israel.
β. Tiếng nói Thiên Chúa là một
dấu hiệu khác đi kèm với sự mặc khải của Chúa Giêsu trong nước của sông
Giođan. Giọng nói nhắc lại hai bản văn của Cựu Ước. Văn bản
đầu tiên là một bản thánh vịnh về Đấng Cứu Thế có trích dẫn một số lời của
Thiên Chúa nới với vị quân vương–Thiên Sai của Người: “Con là Con của
Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh Con” (Tv 2:7). Trong Cựu Ước cả hai
hình ảnh về vị quân vương và Đấng Thiên Sai được coi như là dưỡng tử của Thiên
Chúa. Tuy nhiên, Đức Giêsu lại là con yêu dấu, đồng nghĩa với con một. Văn
bản thứ hai rọi sáng trên những lời được công bố bằng tiếng nói từ trời là một
đoạn văn trích từ bài Ca Vịnh về người tôi tớ của Chúa và phần phụng vụ Lời
Chúa của Chúa Nhật tuần này cho chúng ta bài đọc đầu tiên: “Đây là
người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng” (Is
42:1). Hai hình ảnh này được giới thiệu bởi ngôn sứ Isaia hội tụ lại
trong Đức Giêsu: niềm hy vọng về Đấng Thiên Sai-quân vương và hình ảnh
của Đấng Thiên Sai chịu đau khổ. Thật là không chính đáng nếu nói rằng
cảnh Chúa chịu phép rửa như được mô tả bởi Luca là một giáo điều thực sự về mầu
nhiệm của con người Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, vị quân vương, người tôi trung,
ngôn sứ, Con Thiên Chúa.
ɣ. Một lần nữa, từ tiếng nói từ
trời, chúng ta có thể thấy phẩm chất siêu việt, thiên tính, độc đáo của Đức
Giêsu. Điều liên quan đến Chúa Giêsu đối với thế giới của Thiên Chúa
sẽ trở nên rõ ràng, có thể cảm nhận, được trải nghiệm trong bản tính loài người
của Ngài, trong những kẻ thân cận của Người ở giữa dân chúng, dọc theo những
con đường ngược xuôi của Người tại Paléstine.
Vì vậy,
Lời Chúa của Chúa Nhật này, thông qua việc Chúa Giêsu chịu phép rửa, là để giới
thiệu Đức Giêsu với thế giới một cách long trọng. Lời giới thiệu này
sẽ chỉ được hoàn thành trên cây thập giá và trong sự phục sinh. Thật
vậy, trên thập giá, hai khuôn mặt của Đức Giêsu được giới thiệu, khuôn mặt vị cứu
tinh qua cái chết của Người trên thập giá để cứu chuộc chúng ta, và khuôn mặt
Thiên Chúa trong việc tuyên xưng đức tin của viên đội trưởng: “Đích
thực, người này là Con Thiên Chúa!” Lời của Chúa trong ngày Chúa Nhật
này, mời gọi chúng ta chiêm ngắm và thờ lạy khuôn mặt của Đức Kitô mà thánh
Augustinô đã trình bày trong những suy tư của mình: “Trong khuôn mặt
ấy chúng ta cũng có thể trông thấy những nét đặc trưng của chúng ta, là những
dưỡng tử được mặc khải trong phép rửa của chúng ta.”
6.
Thánh Vịnh 42
Khi
chúng ta trải nghiệm sự im lặng của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta, chúng
ta đừng nên nản lòng, nhưng chúng ta hãy luôn nuôi dưỡng lòng khao khát Thiên
Chúa của chúng ta cùng với tất cả anh chị em. Chúng ta hãy bước đi
con đường Nước Trời, chắc chắn để tìm sự hiện diện của Người trong Đức Giêsu
Kitô.
Tìm
kiếm thánh nhan Chúa
Như
nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong,
hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa.
hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa.
Linh
hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống.
Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?
Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?
Châu
lệ là cơm bánh đêm ngày,
khi thiên hạ thường ngày cứ hỏi:
“Này Thiên Chúa ngươi đâu? ”
khi thiên hạ thường ngày cứ hỏi:
“Này Thiên Chúa ngươi đâu? ”
Tôi
thả hồn miên man tưởng nhớ
thuở tiến về lều thánh cao sang
đến tận nhà Thiên Chúa,
cùng muôn tiếng reo mừng tán tạ,
giữa sóng người trẩy hội tưng bừng.
thuở tiến về lều thánh cao sang
đến tận nhà Thiên Chúa,
cùng muôn tiếng reo mừng tán tạ,
giữa sóng người trẩy hội tưng bừng.
Hồn
tôi hỡi, cớ sao phiền muộn,
xót xa phận mình mãi làm chi?
Hãy cậy trông Thiên Chúa, tôi còn tán tụng Người,
Người là Đấng cứu độ, là Thiên Chúa của tôi.
xót xa phận mình mãi làm chi?
Hãy cậy trông Thiên Chúa, tôi còn tán tụng Người,
Người là Đấng cứu độ, là Thiên Chúa của tôi.
7. Lời
Nguyện Kết
Lạy
Chúa là Thiên Chúa, khi Con của Chúa là Đức Giêsu đang chịu phép rửa tại sông
Giođan bởi ông Gioan, Người đã cầu nguyện. Tiếng nói thần thánh của
Chúa đã nghe lời cầu nguyện của Người nên các tầng trời mở ra. Chúa
Thánh Thần cũng mặc khải sự hiện diện của mình dưới dạng chim bồ
câu. Xin Chúa hãy lắng nghe lời chúng con cầu nguyện! Chúng
con nài van Chúa gìn giữ chúng con với ân sủng của Chúa để chúng con có thể thực
sự hành xử như con cái của sự sáng. Xin hãy ban cho chúng con sức mạnh
để từ bỏ các thói tật của con người cũ để chúng con có thể được liên tục đổi mới
trong Chúa Thánh Thần, được mặc lấy và thấm nhuần những suy nghĩ và cảm xúc của
Chúa Kitô.
Lạy
Chúa Giêsu, Chúa đã quyết tâm chịu phép rửa bởi ông Gioan Tẩy Giả với phép rửa
của sự thống hối. Chúng con hướng lòng mình về Chúa để chúng con có
thể học được cách cầu nguyện như Chúa đã cầu nguyện cùng Chúa Cha tại lúc Chúa
chịu phép rửa, với sự tin tưởng hiếu thảo và lòng trung thành hoàn toàn theo ý
muốn của Người. Amen.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét