Sứ điệp của ĐTC Lêô XIV cho Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 59
Ngày 18/12/2025, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã công bố Sứ điệp của
ngài cho Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 59, sẽ được cử hành vào ngày 1/1/2026.
Trong Sứ điệp có tựa đề: “Bình an cho tất cả anh chị em: Hướng tới một nền hòa
bình ‘không vũ trang và giải giới’”, ngài mời gọi nhân loại từ bỏ logic của bạo
lực và chiến tranh, giải trừ vũ khí và giải trừ vũ khí trong tâm hồn, và hướng
tới một nền hòa bình đích thực dựa trên tình yêu và công lý.
SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
NGÀY HÒA BÌNH THẾ GIỚI LẦN THỨ 59
Ngày 1 tháng 1 năm 2026
Hòa bình cho tất cả anh chị em.
Hướng tới một nền hòa bình không vũ trang và giải giới
"Bình an cho anh em!".
Lời chào rất cổ xưa này, ngày nay vẫn còn được sử dụng hằng
ngày trong nhiều nền văn hóa, vào chiều tối Phục Sinh đã được truyền sức sống mới
trên môi miệng của Chúa Giêsu Phục Sinh. “Bình an cho anh em” (Ga 20,19.21) là
Lời của Người – không chỉ là một lời chúc bình an, nhưng còn thực sự thực hiện
một sự biến đổi quyết định nơi những ai đón nhận, và qua đó nơi toàn thể thực tại.
Chính vì thế, những người kế vị các Tông đồ, mỗi ngày và trên khắp thế giới, cất
lên tiếng nói của cuộc cách mạng thầm lặng nhất: “Bình an cho anh em!”. Ngay từ
chiều tối ngày tôi được tuyển chọn làm Giám mục Roma, tôi đã muốn kết hợp lời
chào của chính mình vào lời loan báo chung ấy. Và tôi muốn khẳng định lại rằng
đây là bình an của Chúa Kitô Phục Sinh – một nền hòa bình không vũ trang và giải
giới, khiêm nhường và kiên trì. Bình an ấy phát xuất từ Thiên Chúa, Thiên Chúa
Đấng yêu thương tất cả chúng ta cách vô điều kiện.[1]
Bình an của Đức Kitô Phục Sinh
Vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng hiến mạng sống mình cho đoàn chiên
và Đấng có nhiều chiên khác ngoài ràn chiên này (x. Ga 10, 11.16), chính là Đức
Kitô, bình an của chúng ta, Đấng đã chiến thắng sự chết và phá đổ những bức tường
ngăn cách giữa con người với nhau (x. Ep 2,14). Sự hiện diện, ân ban và chiến
thắng của Người được phản chiếu trong lòng kiên trì của biết bao chứng nhân; nhờ
họ, hoạt động của Thiên Chúa tiếp tục trên thế giới và thậm chí trở nên rõ nét
và rực sáng hơn giữa bóng tối của thời đại.
Thật vậy, sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng không chỉ
là một hình ảnh của Kinh Thánh mô tả cơn đau chuyển dạ khi một thế giới mới được
sinh ra; đó còn là một trải nghiệm làm chúng ta băn khoăn và đánh động chúng ta
trước những thử thách gặp phải, trong những hoàn cảnh lịch sử mà chúng ta đang
sống. Vì thế, nhìn thấy ánh sáng và tin vào ánh sáng là điều cần thiết để không
rơi vào vực tối. Đây là đòi hỏi mà các môn đệ của Đức Giêsu được mời gọi sống
theo một cách độc đáo và ưu tiên; nhưng bằng nhiều cách, nó có thể len lỏi
vào trái tim của mỗi con người; nó muốn cư ngụ trong chúng ta; hòa bình có sức
mạnh hiền hòa để soi sáng và mở rộng sự hiểu biết của cúng ta; nó chống lại và
chiến thắng bạo lực. Hòa bình là hơi thở của sự vĩnh hằng: trong khi chúng ta
kêu lên với sự dữ rằng “đủ rồi”, thì chúng ta lại thì thầm “mãi mãi” với hòa
bình. Đấng Phục Sinh đã dẫn dắt chúng ta đến chân trời ấy. Được nâng đỡ bởi niềm
tin này, ngay cả giữa điều mà Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là “một cuộc chiến
tranh thế giới thứ ba từng phần”, những người kiến tạo hòa bình tiếp tục chống
lại sự lan rộng của bóng tối, đứng vững như những người lính canh trong đêm tối.
Đáng buồn thay, chúng ta cũng có thể quên đi ánh sáng. Khi
điều này xảy ra, chúng ta đánh mất cảm giác về hiện thực, nhượng bộ trước một
cách nhìn thế giới phiến diện và méo mó, bị chi phối bởi bóng tối và sợ hãi.
Ngày nay không ít người gọi những câu chuyện không có hy vọng là “thực tế”, mù
lòa trước vẻ đẹp của tha nhân, quên mất ân sủng của Thiên Chúa vẫn luôn hoạt động
trong tâm hồn con người, dù bị thương tổn bởi tội lỗi. Thánh Augustino đã
khuyên các Kitô hữu hãy kết dệt một liên kết không thể tách rời với hòa bình, để
khi gìn giữ hòa bình trong thẳm sâu tâm hồn, họ có thể tỏa lan hơi ấm sáng ngời
của nó ra chung quanh. Ngài viết cho cộng đoàn của mình: “Nếu anh em muốn lôi
kéo người khác đến với hòa bình, trước hết anh em hãy có hòa bình nơi chính
mình; anh em hãy kiên định trong hòa bình. Để khơi dậy lòng nhiệt thành ở người
khác, anh em phải có ngọn lửa đang cháy trong lòng mình”.[2]
Anh chị em thân mến, dù chúng ta có hồng ân đức tin hay cảm
thấy mình không có, chúng ta hãy mở lòng ra với hòa bình! Hãy đón nhận và nhìn
nhận hòa bình, thay vì coi đó là điều xa vời và không thể. Hòa bình không chỉ
là một mục tiêu; nó là một sự hiện diện và một hành trình. Ngay cả khi nó bị chống
đối cả trong lòng chúng ta lẫn xung quanh chúng ta, giống như một ngọn lửa nhỏ
bị cơn bão đe dọa, chúng ta hãy bảo vệ hòa bình và đừng bao giờ không quên tên
tuổi và câu chuyện của những người đã làm chứng cho nó. Đó là một nguyên tắc hướng
dẫn và định hình các chọn lựa của chúng ta. Ngay cả ở những nơi chỉ còn lại đổ
nát và nơi tuyệt vọng tưởng chừng không thể tránh khỏi, ngày nay chúng ta vẫn gặp
những người đã không quên hòa bình. Cũng như chiều tối Phục Sinh, Chúa Giêsu đã
bước vào nơi các môn đệ đang tụ họp trong sự sợ hãi và chán nản, thì bình an của
Chúa Kitô Phục Sinh vẫn tiếp tục vượt qua các cánh cửa và rào cản trong tiếng
nói và khuôn mặt của các chứng nhân của Người. Hồng ân này giúp chúng ta không
quên điều thiện, nhận ra nó là nguồ chiến thắng, và tiếp tục chọn lựa nó – một
lần nữa và cùng với nhau.
Một nền hòa bình không vũ trang
Ngay trước khi bị bắt, trong một khoảnh khắc thân tình sâu
xa, Chúa Giêsu nói với những người đang ở với Người: “Thầy để lại bình an cho
anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy không ban cho anh em như thế
gian ban”. Rồi Người lập tức nói thêm: “Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi”
(Ga 14,27). Sự xao xuyến và sợ hãi ấy, dĩ nhiên, có thể liên quan đến bạo lực sắp
đổ ập xuống trên chính Người. Nhưng sâu xa hơn, các Tin Mừng không che giấu rằng
điều làm các môn đệ bối rối chính là phản ứng bất bạo động của Người: một con
đường mà tất cả các môn đệ – Phêrô là người đầu tiên – đã phản đối, nhưng Thầy
vẫn mời gọi họ đi theo con đường này đến cùng. Con đường của Chúa Giêsu vẫn tiếp
tục là nguyên cớ gây xao xuyến và sợ hãi. Và Người kiên quyết lặp lại với những
người muốn bảo vệ Người: “Hãy xỏ gươm vào vỏ” (Ga 18,11; x. Mt 26,52). Hòa bình
của Chúa Giêsu Phục Sinh là hòa bình không vũ trang, bởi vì cuộc đấu tranh của
Người là cuộc đấu tranh không vũ trang giữa những hoàn cảnh lịch sử, chính trị
và xã hội cụ thể. Các Kitô hữu được mời gọi, cùng nhau, trở thành những chứng
nhân mang tính ngôn sứ cho sự mới mẻ này, ghi nhớ những thảm kịch mà quá nhiều
lần chính họ đã trở thành kẻ đồng lõa. Dụ ngôn quan trọng về cuộc phán xét
chung mời gọi mọi Kitô hữu hành động với lòng xót thương trong nhận thức ấy (x.
Mt 25,31–46). Và khi làm như vậy, họ sẽ gặp bên cạnh mình những anh chị em, những
người bằng những cách khác nhau, đã lắng nghe nỗi đau của tha nhân và đã giải
phóng nội tâm mình khỏi ảo tưởng của bạo lực.
Dù ngày nay không thiếu những người có tâm hồn sẵn sàng cho
hòa bình, nhưng họ thường bị choáng ngợp bởi một cảm giác vô cùng bất lực trước
một thế giới ngày càng bất ổn. Thật vậy, ngay từ xưa, Thánh Augustino đã chỉ ra
nghịch lý đặc biệt này: “Không khó để có hòa bình. Nhưng có lẽ, ca ngợi hòa
bình thì khó hơn. Muốn ca ngợi hòa bình, chúng ta cần có những khả năng mà có lẽ
chúng ta còn thiếu; chúng ta tìm kiếm những ý tưởng đúng đắn, cân nhắc từng lời
nói. Còn nếu muốn có hòa bình, thì hòa bình đã ở đó, trong tầm tay chúng ta, và
chúng ta có thể có được mà không cần nỗ lực nào”.[3]
Khi chúng ta coi hòa bình như một lý tưởng xa vời, chúng ta
dần dần không cảm thấy việc chối bỏ hòa bình, thậm chí việc gây chiến nhân danh
hòa bình, là điều đáng lên án. Dường như chúng ta thiếu những ý tưởng đúng đắn,
những lời nói được cân nhắc và khả năng nói rằng hòa bình đang ở rất gần. Nếu
hòa bình không phải là một thực tại được trải nghiệm, được gìn giữ và nuôi dưỡng,
thì tính hiếu chiến sẽ lan rộng trong đời sống gia đình cũng như ngoài xã hội.
Trong mối quan hệ giữa người dân và những người cầm quyền, thậm chí việc không
chuẩn bị đầy đủ cho chiến tranh, không phản ứng trước các cuộc tấn công, và
không đáp trả bạo lực bằng bạo lực cũng có thể bị coi là một sai lầm. Vượt xa nguyên
tắc phòng vệ chính đáng, logic đối đầu như vậy hiện đang thống trị chính trị
toàn cầu, làm cho sự bất ổn và khó lường từng ngày càng thêm sâu sắc. Không phải
ngẫu nhiên mà những lời kêu gọi liên tục gia tăng chi tiêu quân sự và các quyết
định kéo theo đó lại được nhiều nhà lãnh đạo biện minh bằng sự nguy hiểm từ
phía kẻ khác. Quả thật, sức mạnh răn đe của quyền lực, đặc biệt là răn đe hạt
nhân, thể hiện tính phi lý của một mối quan hệ giữa các dân tộc không dựa trên
luật pháp, công lý và lòng tin, mà trên nỗi sợ hãi và sự thống trị của bạo lực.
“Hệ quả là – như thánh Gioan XXIII đã viết về thời của ngài – con người sống dưới
nỗi ám ảnh của một cơn bão có thể bùng phát bất cứ lúc nào với sức tàn phá
không thể tưởng tượng nổi. Và họ có lý do chính đáng để sợ hãi, bởi vì chắc chắn
không thiếu những vũ khí như vậy. Mặc dù khó tin rằng ai đó dám nhận trách nhiệm
khởi xướng cuộc tàn sát và hủy diệt khủng khiếp mà chiến tranh sẽ mang lại,
nhưng không thể phủ nhận rằng ngọn lửa chiến tranh có thể bắt đầu bởi một số
hoàn cảnh ngẫu nhiên và không lường trước được”.[4]
Thực vậy, trong năm 2024, chi tiêu quân sự toàn cầu đã tăng
9,4% so với năm trước, khẳng định xu hướng không gián đoạn suốt mười năm qua và
đạt mức 2.718 tỷ đô la Mỹ, tương đương 2,5% GDP toàn cầu.[5] Hơn
nữa, ngày nay, người ta dường như không chỉ muốn phản ứng trước những thách thức
mới bằng đầu tư kinh tế khổng lồ vào việc tái vũ trang, mà còn bằng việc thay đổi
các chính sách giáo dục: thay vì xây dựng một nền văn hóa ký ức – bảo tồn những
nhận thức khó khăn mới đạt được của thế kỷ XX và không quên hàng triệu nạn nhân
– người ta lại thúc đẩy các chiến dịch truyền thông và chương trình giáo dục, tại
các trường học và đại học cũng như trên các phương tiện truyền thông,
nhằm lan truyền nhận thức về các mối đe dọa và chỉ cổ võ một quan niệm mang
tính vũ trang về phòng vệ và an ninh.
Tuy nhiên, “những người thực sự yêu hòa bình thì cũng yêu cả
những kẻ thù của hòa bình”[6].
Thánh Augustino đã khuyên đừng phá hủy các mối quan hệ và đừng ngoan cố chỉ
trích, nhưng hãy chọn con đường lắng nghe và, trong mức độ có thể, tham gia thảo
luận với người khác. Sáu mươi năm trước, Công đồng Vaticanô II kết thúc với nhận
thức được đổi mới về một cuộc đối thoại khẩn thiết giữa Giáo Hội và thế giới
đương đại. Đặc biệt, Hiến chế Gaudium et spes đã lưu ý đến sự
phát triển của chiến tranh hiện đại: “Mối nguy cơ đặc biệt của chiến tranh hiện
nay hệ tại ở chỗ hầu như tạo cơ hội cho những người có khí giới tối tân phạm những
tội ác như thế và hậu quả tất nhiên là có thể thúc đẩy ý muốn con người đi tới
những quyết định hiểm độc nhất. Vậy để cho thảm trạng đó không bao giờ xảy đến,
các Giám Mục trên toàn thể thế giới hợp nhau tha thiết kêu gọi mọi người, nhất
là những nhà cầm quyền quốc gia cũng như những vị chỉ huy quân sự hãy luôn luôn
cân nhắc trách nhiệm lớn lao của mình trước mặt Thiên Chúa và toàn thể nhân loại”.[7]
Nhắc lại lời kêu gọi của các Nghị phụ Công đồng và xem con
đường đối thoại như phương thế hiệu quả nhất ở mọi cấp độ, chúng ta phải nhìn
nhận rằng những tiến bộ công nghệ thêm nữa và việc áp dụng trí tuệ nhân tạo
trong lĩnh vực quân sự đã làm gia tăng thêm bi kịch của các cuộc xung đột vũ
trang. Thậm chí, trong giới lãnh đạo chính trị và quân sự, ngày càng gia tăng
xu hướng trốn tránh trách nhiệm, khi “ủy quyền” cho máy móc những quyết định
liên quan đến sự sống và cái chết của con người. Điều này đánh dấu một sự phản
bội chưa từng có và mang tính hủy diệt đối với các nguyên tắc pháp lý và triết
học của chủ nghĩa nhân văn, vốn là nền tảng và bảo vệ mọi nền văn minh. Chúng
ta cần phải lên tiếng tố cáo sự tập trung khổng lồ các lợi ích kinh tế và tài
chính tư nhân đang đẩy các quốc gia theo hướng này; nhưng chỉ điều đó thôi vẫn
chưa đủ, trừ khi chúng ta cũng đánh thức lương tâm và tư duy phản biện. Thông
điệp Fratelli tutti trình bày thánh Phanxicô Assisi như một mẫu
gương cho sự thức tỉnh ấy: “Trong thế giới với những tháp canh và
thành lũy thời bấy giờ, các đô thị bị chia năm xẻ bảy bởi các cuộc chiến đẫm
máu giữa các dòng tộc quyền thế, và cảnh nghèo đói lan tràn khắp các vùng nông
thôn. Tuy nhiên, lúc đó, Thánh Phanxicô đã có thể đón nhận bình an đích thực
vào lòng mình và giải thoát bản thân khỏi ham muốn nắm quyền lực trên người
khác. Ngài trở thành một trong những người nghèo và tìm cách sống hòa hợp với tất
cả mọi người”.[8] Đây
là một câu chuyện mà chúng ta được mời gọi tiếp tục ngày nay, và điều đó có
nghĩa là cùng nhau chung sức đóng góp vào một nền hòa bình giải giới, một nền
hòa bình được sinh ra từ sự cởi mở và lòng khiêm nhường Tin Mừng.
Một nền hòa bình giải giới
Lòng tốt có sức giải trừ vũ khí trong tâm hồn. Có lẽ đó là
lý do mà Thiên Chúa đã trở nên một trẻ thơ. Mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, một mầu
nhiệm hạ mình xuống tận nơi sâu thẳm nhất, ngay cả cõi chết, bắt đầu nơi cung
lòng của một người mẹ trẻ và được mặc khải nơi máng cỏ Bêlem. Các thiên thần cất
tiếng ca “Bình an dưới thế”, loan báo sự hiện diện của một Thiên Chúa không có
khả năng tự vệ; nhờ Người nhân loại chỉ có thể nhận ra mình được yêu thương bằng
cách quan tâm chăm sóc Người (x. Lc 2,13–14). Không gì có sức mạnh biến đổi
chúng ta cho bằng một trẻ em. Và có lẽ chính suy nghĩ về con cái mình, về các
trẻ em, và cả những người mong manh như các em, đã chạm đến trái tim chúng ta
(x. Cv 2,37). Về điều này, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đã viết rằng: “Sự
mong manh của con người có sức làm cho chúng ta sáng suốt hơn trước điều tồn tại
lâu bền và điều chóng qua, trước điều đem lại sự sống và điều gây chết chóc. Có
lẽ vì thế mà chúng ta thường hay chối bỏ các giới hạn và né tránh những con người
mong manh, bị thương tổn: họ có sức đặt lại vấn đề về hướng đi mà chúng ta đã
chọn, với tư cách cá nhân cũng như cộng đồng”.[9]
Đức Gioan XXIII là người đầu tiên mở ra viễn tượng về một sự
giải giới toàn diện, chỉ có thể đạt được qua việc canh tân con tim và trí tuệ.
Ngài đã viết trong thông điệp Pacem in terris: “Cần nhìn nhận rằng
sự ngưng võ trang, sự hạn chế tiềm lực chiến tranh, và hơn nữa sự tài giảm binh
bị sẽ không thể, hoặc hầu như không thể nào thực hiện nổi, bao lâu người ta
không chịu thi hành một cuộc giải giới toàn diện, nghĩa là một cuộc giải giới cả
trong tâm hồn: phải làm sao tiêu diệt cho tận gốc cái tâm trạng cứ nơm nớp sợ
hãi chiến tranh! Muốn như thế, cần phải loại trừ ý tưởng cho rằng phải xây dựng
hòa bình trên mức thăng bằng võ lực và, thay vào đó, phải đề cao nguyên tắc dạy
rằng hòa bình chỉ có thể xây dựng trên lòng tin tưởng lẫn nhau. Ta đoán chắc rằng
điều đó có thể thực hiện được vì không những nó là cái mà lương tri đòi hỏi, mà
lại chính đó mới là cái mọi người mong muốn, và thực ra rất hữu ích”.[10]
Một sứ vụ căn bản mà các tôn giáo phải thực hiện cho nhân loại
đang đau khổ đó là ngăn chặn cám dỗ ngày càng gia tăng trong việc biến cả tư tưởng
và lời nói thành vũ khí. Các truyền thống tâm linh vĩ đại, cũng như việc sử dụng
đúng đắn lý trí, giúp chúng ta vượt lên trên các ràng buộc huyết thống hay sắc
tộc, vượt lên trên những “tình huynh đệ” chỉ công nhận người giống mình và loại
trừ người khác. Ngày nay, chúng ta thấy rằng điều này không thể được coi là điều
đương nhiên. Đáng tiếc thay, trong bối cảnh hiện đại, việc kéo lời nói của đức
tin vào cuộc chiến chính trị, chúc lành cho chủ nghĩa dân tộc và biện minh tôn
giáo cho bạo lực và đấu tranh vũ trang lại ngày càng phổ biến. Những người có đức
tin phải tích cực bác bỏ, trước hết bằng chứng tá cuộc sống của mình, những
hình thức báng bổ làm lu mờ Danh Thánh của Thiên Chúa. Vì thế, song song với
hành động, hơn bao giờ hết cần phải nuôi dưỡng cầu nguyện, đời sống thiêng
liêng, đối thoại đại kết và liên tôn như những con đường của hòa bình và như
ngôn ngữ của sự gặp gỡ giữa các truyền thống và các nền văn hóa. Trên toàn thế
giới, hy vọng rằng “mỗi cộng đồng sẽ trở thành một ‘ngôi nhà hòa bình’, nơi
chúng ta học cách hóa giải sự thù nghịch thông qua đối thoại, nơi chúng ta thực
hành công lý và trân trọng sự tha thứ”.[11] Ngày
nay hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải cho thấy rằng hòa bình không phải là một
điều không tưởng bằng cách nuôi dưỡng sự sáng tạo mục vụ chu đáo và mang lại sức
sống.
Mặt khác, điều này không được làm chúng ta sao lãng tầm quan
trọng của chiều kích chính trị. Những người được trao phó trách nhiệm công cộng
ở những cấp cao nhất và có thẩm quyền nhất, “hãy suy xét kỹ lưỡng vấn đề tái lập
cách hòa bình các mối quan hệ giữa các cộng đồng chính trị trên bình diện toàn
cầu: một sự tái lập dựa trên sự tín nhiệm lẫn nhau, trên sự chân thành trong
đàm phán, trên lòng trung thành với những cam kết đã nhận. Hãy khảo sát vấn đề
cho đến khi xác định được điểm khởi đầu có thể dẫn tới những thỏa thuận trung
thực, bền vững và sinh ích”.[12] Đó
là con đường giải giới về ngoại giao, về trung gian, về luật pháp quốc tế –
đáng tiếc thay, đang bị phủ nhận bởi những vi phạm ngày càng thường xuyên đối với
các hiệp định khó khăn lắm mới đạt được, trong một bối cảnh đòi hỏi không phải
là làm suy yếu, mà là củng cố các định chế siêu quốc gia.
Ngày nay, công lý và phẩm giá con người hơn bao giờ hết đang
bị đe dọa trước những mất cân bằng về quyền lực toàn cầu. Làm thế nào chúng ta
có thể sống trong một thời đại bất ổn và xung đột và giải thoát chính mình khỏi
sự ác? Chúng ta cần khích lệ và nâng đỡ mọi sáng kiến thiêng liêng, văn hóa và
chính trị nhằm giữ cho niềm hy vọng luôn sống động, chống lại sự lan rộng của
“những thái độ theo thuyết định mệnh, như thể các động lực hiện tại được tạo ra
bởi những sức mạnh vô danh, phi nhân xưng và bởi những cơ cấu độc lập với ý chí
con người”.[13] Thật
vậy, nếu “cách tốt nhất để thống trị và giành quyền kiểm soát dân chúng là gieo
rắc nỗi tuyệt vọng và chán nản, ngay cả trên danh nghĩa bảo vệ một số giá trị
nào đó”,[14] thì
cần chống lại chiến lược ấy bằng việc phát triển các xã hội dân sự có ý thức,
các hình thức liên kết có trách nhiệm, những kinh nghiệm tham gia bất bạo động,
và những thực hành công lý mang tính phục hồi ở quy mô nhỏ cũng như lớn. Điều
này đã được Đức Lêô XIII nêu rõ trong thông điệp Rerum novarum: “Cảm
thức về sự yếu đuối của mình thúc đẩy con người muốn liên kết công việc của
mình với người khác. Thánh Kinh nói: hai người ở với nhau còn hơn mỗi người ở một
mình. Ở chung với nhau thì phúc lợi biết bao nhiêu. Người này ngã thì được người
kia nâng đỡ; khốn cho kẻ ở một mình, vì khi ngã không có ai đỡ dậy (Gv 4,9–10).
Và câu khác: anh em được anh em trợ giúp thì giống như một thành trì kiên cố (Cn
18,19)”.[15]
Ước chi đây sẽ là một trong những kết quả của Năm Thánh Hy Vọng,
năm đã thúc đẩy hàng triệu con người tái khám phá mình như những người lữ hành
và bắt đầu nơi chính bản thân mình sự giải giới trong tâm hồn, trí óc và đời sống
– sự giải giới mà Thiên Chúa sẽ không chậm trễ đáp lại bằng việc thực hiện những
lời hứa của Người: “Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử
cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm
nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học
nghề chinh chiến. Hãy đến đây, nhà Giacóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức
Chúa soi đường” (Is 2,4–5).
Vatican, ngày 8 tháng 12 năm 2025
Lêô XIV
[1] X. Phép
lành Tông tòa "Urbi et Orbi" và lời chào đầu tiên, Ban công
chính Đền thờ Thánh Phêrô (08/05/2025)
[2] Augustino
Thành Hyppo, Diễn từ 357, 3.
[3] Ibid., 1.
[4] Gioan
XXIII, Thông điệp Pacem in terris (11/04/1963), 60.
[5] X.
SIPRI Yearbook: Armaments, Disarmament and International Security (2025).
[6] Augustino
Thành Hyppo, Diễn từ 357, 1.
[7] Công
đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et spes, 80.
[8] Phanxicô,
Thông điệp Fratelli tutti (03/10/2020), 4.
[9] Phanxicô, Thư
gửi Giám đốc báo Corriere della Sera (14/03/2025).
[10] Gioan
XXIII, Thông điệp Pacem in terris (11/4/1963), 61.
[11] Diễn
văn nói với các Giám mục của Hội đồng Giám mục Ý (17/06/2025).
[12] Gioan
XXIII, Lett. enc. Pacem in terris (11 aprile 1963), 63.
[13] Biển
Đức XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29/06/2009), 42.
[14] Phanxicô,
Thông điệp Fratelli tutti (03/10/2020), 15.
[15] Lêô
XIII, Thông điệp Rerum novarum (15/05/1891),37.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét