Trang

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

29-12-2013 : LỄ THÁNH GIA THẤT năm A (phần I)

CHÚA NHẬT 29/12/2013
Chúa Nhật Trong Tuần Bát Nhật Lễ Chúa Giáng Sinh
Lễ Thánh Gia Thất Năm A
(phần I)


Bài Ðọc I: Hc 3, 3-7. 14-17a
"Ai kính sợ Chúa, thì thảo kính cha mẹ".
Trích sách Huấn Ca.
Thiên Chúa suy tôn người cha trong con cái; quyền lợi bà mẹ, Người củng cố trên đoàn con. Ai yêu mến cha mình, thì đền bù tội lỗi; ai thảo kính mẹ mình, thì như người thu được một kho tàng. Ai thảo kính cha mình, sẽ được vui mừng trong con cái, khi cầu xin, người ấy sẽ được nhậm lời. Ai thảo kính cha mình, sẽ được sống lâu dài. Ai vâng lời cha, sẽ làm vui lòng mẹ.
Hỡi kẻ làm con, hãy gánh lấy tuổi già cha ngươi, chớ làm phiền lòng người khi người còn sống. Nếu tinh thần người sa sút, thì hãy rộng lượng, ngươi là kẻ trai tráng, chớ đành khinh dể người. Vì của dâng cho cha, sẽ không rơi vào quên lãng. Của biếu cho mẹ, sẽ đền bù tội lỗi, và xây dựng đức công chính của ngươi.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 127, 1-2. 3. 4-5
Ðáp: Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người (x. c. 1).
Xướng: 1) Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người! Công quả tay bạn làm ra bạn an hưởng, bạn được hạnh phúc và sẽ gặp may. - Ðáp.
2) Hiền thê bạn như cây nho đầy hoa trái, trong gia thất nội cung nhà bạn. Con cái bạn như những chồi non của khóm ô-liu ở chung quanh bàn ăn của bạn. Ðó là phúc lộc dành để cho người biết tôn sợ Ðức Thiên Chúa. - Ðáp.
3) Nguyện xin Thiên Chúa từ Sion chúc phúc cho bạn, để bạn nhìn thấy cảnh thịnh đạt của Giêrusalem hết mọi ngày trong đời sống của bạn, và để bạn nhìn thấy lũ cháu đoàn con! - Ðáp.

Bài Ðọc II: Cl 3, 12-21
"Về đời sống gia đình trong Chúa".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.
Anh em thân mến, như những người được chọn của Thiên Chúa, những người thánh thiện và được yêu thương, anh em hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hoà, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau, và hãy tha thứ cho nhau nếu người này có chuyện phải oán trách người kia. Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Và trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện. Nguyện cho bình an của Chúa Kitô làm chủ trong lòng anh em, sự bình an mà anh em đã được kêu gọi tới để làm nên một thân thể. Anh em hãy cảm tạ Thiên Chúa. Nguyện cho lời Chúa Kitô cư ngụ dồi dào trong anh em. Với tất cả sự khôn ngoan, anh em hãy học hỏi và nhủ bảo lẫn nhau. Hãy dùng những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca của Thần khí, cùng với lòng tri ân, để hát mừng Thiên Chúa trong lòng anh em. Và tất cả những gì anh em làm, trong lời nói cũng như trong hành động, tất cả mọi chuyện, anh em hãy làm vì danh Chúa Giêsu Kitô, nhờ Người mà tạ ơn Thiên Chúa Cha.
Hỡi các bà vợ, hãy phục tùng chồng trong Chúa cho phải phép. Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình, đừng đay nghiến nó. Hỡi những người con, hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là đẹp lòng Chúa. Hỡi những người cha, đừng nổi cơn phẫn nộ với con cái, kẻo chúng nên nhát đảm sợ sệt.
Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Cl 3, 15a. 16a
Alleluia, alleluia! - Nguyện cho bình an của Chúa Kitô làm chủ trong lòng anh em. Nguyện cho lời Chúa Kitô cư ngụ dồi dào trong anh em. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 2, 13-15. 19-23
"Hãy đem Con Trẻ và mẹ Người trốn sang Ai-cập".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi các đạo sĩ đã đi rồi, thiên thần Chúa hiện ra với ông Giuse trong lúc ngủ và bảo ông: "Hãy thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và ở đó cho tới khi tôi báo lại ông, vì Hêrôđê sắp sửa tìm kiếm Hài Nhi để sát hại Người". Ông thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người lên đường trốn sang Ai-cập đang lúc ban đêm. Ông ở lại đó cho tới khi Hêrôđê băng hà, hầu làm cho trọn điều Chúa dùng miệng tiên tri mà phán rằng: "Ta gọi con Ta ra khỏi Ai-cập".
Bấy giờ Hêrôđê thấy mình bị các đạo sĩ đánh lừa, nên nổi cơn thịnh nộ và sai quân đi giết tất cả con trẻ ở Bêlem và vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo thời gian vua đã cặn kẽ hỏi các đạo sĩ. Thế là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia đã nói: Tại Rama, người ta nghe những tiếng khóc than nức nở, đó là tiếng bà Rakhel than khóc con mình, bà không chịu cho người ta an ủi bà, vì các con bà không còn nữa.
Khi Hêrôđê băng hà, thì đây thiên thần Chúa hiện ra cùng Giuse trong giấc mơ bên Ai-cập và bảo: "Hãy chỗi dậy, đem Con Trẻ và mẹ Người về đất Israel, vì những kẻ tìm hại mạng sống Người đã chết". Ông liền chỗi dậy, đem Con Trẻ và mẹ Người về đất Israel. Nhưng nghe rằng Arkhêlao làm vua xứ Giuđa thay cho Hêrôđê là cha mình, thì Giuse sợ không dám về đó. Ðược báo trong giấc mộng, ông lánh sang địa phận xứ Galilêa, và lập cư trong thành gọi là Nadarét, để ứng nghiệm lời đã phán qua các tiên tri rằng: "Người sẽ được gọi là Nadarêô".
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm: Chúa Yêsu Trong Các Gia Ðình Kitô Giáo
Hôm nay Giáo hội muốn chúng ta nhìn vào gia đình Chúa Yêsu, Ðức Mẹ và thánh Yuse như là gương mẫu của đời sống gia đình Kitô giáo. Nhưng ba bài Kinh Thánh chúng ta vừa nghe đọc lại không phục vụ hoàn toàn mục tiêu trên. Cả ba bài, có thể nói, chẳng cho chúng ta thấy gì về nếp sống hàng ngày của Thánh gia thất. Bài sách Huấn ca của Cựu Ước khuyên người ta kính yêu cha mẹ. Bài thư Phaolô nói đến bổn phận của mỗi hạng người trong gia đình, nhưng không lấy Thánh gia làm gương mẫu. Còn bài Tin Mừng kể lại một truyện xảy ra trong đời sống của Thánh gia thất, nhưng cũng chẳng ngụ ý khuyên nhủ những nhân đức của đời sống gia đình. Muốn lấy Thánh gia thất làm mẫu mực cho các cách ăn nết ở trong nhà, chúng ta phải tìm đọc những bài Kinh Thánh khác.
Nhưng sao Phụng vụ lại không làm như vậy? - Thưa chỉ vì ý nghĩ lấy Thánh gia thất làm gương mẫu cho đời sống gia đình là một sáng kiến đến muộn trong lịch sử phụng vụ. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, Ðức Thánh Cha Lêô XIII mới lập ra lễ này. Còn trước đó, sau lễ Chúa Giáng sinh, Phụng vụ chỉ quan tâm kính nhớ những mầu nhiệm liên quan tới thời thơ ấu của Ðức Yêsu. Thành ra bài Tin Mừng hôm nay có trước. Ðời Ðức Lêô XIII mới thêm những bài Kinh Thánh về đời sống gia đình vào, mà không quan tâm đến các liên hệ với bài Tin Mừng. Do đó chúng ta có thể dựa vào hai bài đọc trước để nói về đời sống gia đình; và tìm hiểu bài Tin Mừng để biết thêm về mầu nhiệm của Chúa.
Ở đây, chúng ta thử tìm hiểu bài Tin Mừng để nhận ra ơn cứu độ qua một sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời của Ðức Yêsu; rồi chúng ta tìm cách đưa ơn cứu độ đó vào đời sống gia đình. Có thể lúc ấy hai bài Kinh Thánh kia sẽ thêm ý nghĩa.

A. Ðức Yêsu Sống Ở Nagiarét
Câu chuyện trẻ Yêsu được đưa đi lánh nạn bên Aicập rồi được đưa về sống ở Nagiarét, chỉ được nói đến một lần mà thôi trong Kinh Thánh. Ngay cả Luca, tác giả về thời niên thiếu của Ðức Yêsu, cũng không ám chỉ đến câu chuyện này. Một mình thánh Mátthêô đã kể lại câu truyện chúng ta nghe đọc hôm nay. Người viết nó nơi phần đầu trong tác phẩm của người, phần mà người ta biết có tính thần học hơn là lịch sử. Bởi vì lịch sử cuộc đời Ðức Yêsu có thể nói chỉ công khai khởi sự từ khi Người chịu phép rửa của Yoan cho đến khi Người tử nạn - phục sinh. Thánh Phêrô đã quy định lời rao giảng của các Tông đồ về Chúa Yêsu trong quãng thời gian đó. Những bài viết về việc Người giáng trần và sống trong gia đình đã đến sau để bổ túc cho "lời giảng" của các Tông đồ. Chúng nặng tính cách suy tư thần học hơn là viết lại các câu truyện lịch sử.
Vậy Matthêô có những ưu tư và suy nghĩ nào khi thuật lại những việc xảy ra trong cuộc đời niên thiếu của Ðức Yêsu? Chúng ta có thể coi những bài viết về cuộc đời của Người trước khi chịu phép rửa tại sông Hòa giang như những chương giới thiệu "bản Tin Mừng" sẽ được viết ở các chương sau. Và những bài đề tựa ấy tóm tắt và cô đọng giáo lý sẽ được diễn tả sau này. Có thể nói Matthêô đã muốn giới thiệu Ðức Yêsu trong những chương đầu tiên với tất cả sự hiểu biết và niềm tin của người, để độc giả không bao giờ quên chân tướng đích thực của Ðức Yêsu trong các diễn tiến của các năm Người hoạt động ở đất Dothái. Matthêô tin Người là Ðấng Thiên Sai đến thi hành mọi lời tiên tri. Thế nên Người phải thuộc dòng tộc Ðavít. Matthêô nhấn mạnh đến Yuse trong các chương đầu của tác phẩm Tin Mừng cũng vì lý do này. Có thể nghĩ tác giả đã quan tâm đến các truyền thống về phía thánh Yuse hơn là về phía Ðức Maria, để làm chứng Ðức Yêsu thuộc dòng dõi Ðavít. Nhưng không vì vậy mà ông quên việc Ðức Yêsu "sinh ra bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần" để ngay từ đầu độc giả phải nhìn nhận Người là Con Thiên Chúa.
Người sinh ra để cứu thế; nên cũng ngay từ đầu Matthêô cho chúng ta thấy ơn cứu độ của Người đã lan ra khắp thế giới. Câu truyện Hài Nhi tỏ mình ra cho các đạo sĩ từ phương Ðông đến có mục đích phục vụ quan điểm này. Nhưng Người chỉ cứu thế bằng con đường Tử nạn - Phục sinh; nên sau bài tường thuật trên, Matthêô đã kể lại câu truyện chúng ta đọc hôm nay về trẻ Yêsu.
Ở đây, Yuse vẫn đóng vai chủ chốt, làm chứng đây còn là di tích của những câu truyện được truyền tụng trong đám họ hàng thân thích của Yuse, đề cao ý nghĩa Ðức Yêsu thuộc dòng dõi Ðavít. Yuse đóng vai chính trong câu truyện này, nhưng chỉ là vai trò phục viên, làm tất cả mọi việc vì Chúa Yêsu và cho Chúa Yêsu. Matthêô không nhắc đến tên Hài Nhi để biểu lộ cả một lòng tôn thờ. Ông nhìn thấy "mệnh" của Người trong những lời tiên tri Hôsê, Yêrêmia và sách Xuất hành. Ông tin rằng Người mới đích thực là Israel của Thiên Chúa. Thế mà Israel đã được đưa từ Aicập về nên câu truyện Hài Nhi phải đưa sang Aicập rồi được đưa từ đó về, há không muốn viết lại lịch sử Israel cũ sao? Và đã nói đến cuộc Xuất hành khỏi Aicập, làm sao có thể không nghĩ tới Môsê? Nhưng đối với Matthêô, Môsê đích thực là chính Chúa Yêsu. Thế nên ông không thể viết câu truyện Hài Nhi được cứu thoát khỏi bàn tay Hêrôđê mà không nghĩ tới truyện Môsê ngày trước được cứu khỏi nước, rồi được đưa sang vùng đất Mađian cho tới khi "chúng đã chết rồi, mọi kẻ tìm hại mạng Người" (Xh 4,19-20). Khi viết lại câu Kinh Thánh này, rõ ràng Matthêô muốn tuyên xưng niềm tin Chúa Yêsu là Môsê mới.
Hôm nay chúng ta thấy Người được đem đi lánh nạn rồi trở về Nagiarét. Hêrôđê đã hoài công làm đổ máu nhiều người vô tội. Chúa Yêsu đã không thoát khỏi tay Philatô và đang là Chúa sống lại ban sức mạnh cho các Tông đồ để khởi sự hoạt động của Hội Thánh từ "Galilê dân ngoại" đó sao? Như vậy, câu truyện Hài Nhi được cứu thoát hôm nay chẳng muốn diễn tả cuộc Tử nạn - Phục sinh của Chúa Yêsu đó sao? Matthêô trong câu truyện này muốn báo trước việc thế gian muốn giết Chúa Yêsu, nhưng Người đã sống lại mạnh hơn bao giờ hết từ cõi chết. Có lẽ đó mới là những điều Matthêô muốn diễn tả thật sự khi viết nên câu truyện này.
Chúng ta có thể tóm tắt được như sau: tác giả đã dùng một câu truyện truyền tụng trong đám bà con họ hàng của Yuse để giới thiệu Chúa Yêsu, không phải là một Hài Nhi ở Nagiarét mà là Ðấng Thiên Chúa đang sống động trong lời giảng của các Tông đồ. Người là Vị Thiên Sai của Thiên Chúa sinh ra trong dòng dõi Ðavít. Người là Israel mới mà Thiên Chúa cứu chuộc. Người là Môsê đích thực đã được cứu thoát để xây dựng Dân Mới cho Thiên Chúa. Ý đồ tương tự nơi Israel cũ trong thời gian ở Aicập và lưu đày ở Babylon. Nhưng nhất là nó báo trước cuộc Tử nạn - Phục sinh của Chúa Yêsu: thế gian tưởng giết chết được Người, nhưng kìa Người đã sống lại và đang ở "Babylon dân ngoại" tức là Hội Thánh của chúng ta hiện nay.
Chúng ta hãy nghe Matthêô tuyên xưng niềm tin phong phú ấy để yêu mến Chúa Yêsu nhiều hơn và lãnh nhận lấy ơn cứu độ từ nơi Người.
Nhưng Người có thể làm gì cho các gia đình Kitô giáo của chúng ta qua câu truyện hôm nay không?

B. Sự Sống Của Chúa Yêsu Trong Các Gia Ðình Kitô Giáo
Bài học đầu tiên mà chúng ta cò thể dễ dàng rút ra từ câu truyện kể trong bài Tin Mừng, là Thánh gia thất nêu gương sáng cho mọi gia đình Kitô giáo phải luôn tôn thờ và tuân phục Thánh ý Thiên Chúa. Chúng ta đã nói, trong câu truyện này, thánh Yuse tỏ ra là một phục viên hoàn toàn. Người nghe theo. Ý Chúa tỏ ra qua lời dạy bảo của thiên thần. Ðang đêm người đã chỗi dậy mang Hài Nhi và Mẹ Ngài trốn sang Aicập. Và hai ngài cũng để cho ông làm như ý muốn, chứng tỏ cả Thánh gia thất đều mật thiết một lòng một ý trong việc tuân theo Ý Chúa.
Ước gì mọi gia đình Kitô giáo duy nhất với nhau như vậy trong việc tôn thờ và thi hành Thánh Ý Thiên Chúa! Và trước hết ước gì mỗi người trong các gia đình Kitô giáo luôn nhớ rằng có một Thánh Ý Thiên Chúa đang muốn cho mình phải thi hành. Chúng ta không tự lập và gia đình chúng ta cũng không hoàn toàn tự lập. Có Ðấng Sinh Thành mọi loài ở trên chúng ta. Ngài có sẵn một chương trình mưu cầu hạnh phúc cho hết thảy mọi người. Hạnh phúc của mọi người và của xã hội là thi hành kế hoạch kỳ diệu ấy. Thế nên gia đình phải đạo đức, phải công nhận và tôn thờ Ðấng ở bên trên mình. Ðại hội các Giám mục Việt Nam năm 1980 viết: Gia đình Kitô giáo phải là nơi cầu nguyện, nơi tiếp xúc với Thiên Chúa để biết Thánh Ý Người đối với đời sống của chúng ta. Và chúng ta không thể làm được công việc này khi trong gia đình không có lòng yêu chuộng việc học hỏi Lời Chúa và Giáo lý. Qua việc đọc Thánh Kinh và các sách đạo đức, các người trong gia đình mới nhận ra được Ý Chúa muốn cho mình làm gì và sống thế nào để bản thân được hạnh phúc, gia đình được thuận hòa, xã hội được vinh quang. Bởi vì càng đọc Lời Chúa, chúng ta càng thấy Thiên Chúa mở ra trước mắt mình một chương trình cứu độ muốn làm cho mọi người được hạnh phúc, và các phương thế nào giúp thi hành các chương trình ấy. Giống như trong bài Tin Mừng hôm nay, khi thấy Ðức Yêsu được đưa từ Aicập về để sống ở Galilê, tác giả Matthêô đã nhìn thấy kế hoạch của Thiên Chúa muốn cứu Dân Mới là Hội Thánh của Người và làm cho Dân ấy ngày càng lan rộng ra các dân ngoại.
Nếu các người trong gia đình Kitô giáo luôn nhớ đến chương trình cứu độ của Thiên Chúa như vậy mà có lòng tôn thờ và vâng phục, thì gia đình mới khỏi là một tế bào khép kín và mới sống mở sang xã hội và mới đạt được mục đích mà Thiên Chúa đã đặt định khi lập ra nếp sống gia đình để loài người sinh sản ra thêm mãi cho đầy mặt đất và bá chủ trời đất này. Bấy giờ hai bài đọc kia, bài sách Huấn ca, và bài thư Phaolô mới thêm nhiều ý nghĩa.
Con cái sẽ thảo kính cha mẹ như lời sách Huấn ca dạy theo một tinh thần mới, tức là để tôn thờ Thánh Ý Chúa, để cho Chúa thấy lòng yêu mến của mình chứ không phải vì những lý lẽ tự nhiên và xác thịt. Phải, ở trong một xã hội đã đổi mới hoàn toàn, theo xác thịt nhiều khi con cái lớn lên không nhìn thấy cha mẹ là những người hợp thời và vì thế dễ mất lòng kính yêu cha mẹ. Nhưng những thái độ vô phép với cha mẹ chẳng bao giờ đem lại hạnh phúc. Ngược lại như cómột lời chúc dữ đang đè nặng trên tương lai của những người con dại dột ấy. Bài sách Huấn ca khuyên bảo con cái hãy có lòng đạo đức yêu mến Chúa trong cách cư xử với cha mẹ. Chắc chắn đó là con đường dẫn đến tương lai tốt đẹp và hạnh phúc.
Còn bài thơ Phaolô rất phong phú và muốn nói với hết thảy mọi người. Thánh Tông đồ khuyên chúng ta hãy mặc lấy đức mến là giềng mối của sự trọn lành. Và đức mến nói đây chính là sự bình an của Ðức Kitô ở trong lòng chúng ta, là Lời Ðức Kitô ngụ nơi tâm hồn để phàm điều gì chúng ta làm, ngôn hành bất luận, mọi sự thảy đều làm vì Danh Chúa Yêsu. Lúc ấy không phải chúng ta dễ nhường nhịn nhau và tha thứ cho nhau mà thôi, mà ai ai cũng sẵn có tinh thần muốn làm cho người khác được phong phú để cuộc đời của mình như để tận hiến cho người khác được hạnh phúc. Và như vậy há chúng ta chẳng chia sẻ một tâm tình như Thánh gia thất ngày xưa sao, vì bài Tin Mừng đã cho chúng ta thấy Thánh gia thất đã chỉ biết một việc là tuân theo Ý Chúa, và Ý Chúa là muốn Thánh gia thất về sống ở Galilê dân ngoại, tức là cống hiến đời mình cho công cuộc cứu thế.
Do đó, mừng lễ Thánh gia thất hôm nay chúng ta thêm lòng yêu mến thánh Yuse, Ðức Mẹ và Chúa Yêsu. Chúng ta cám ơn các Ngài đã hy sinh, vất vả vì chúng ta và để mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Chúng ta xin Thánh gia thất trở nên gương mẫu cho mọi gia đình Kitô giáo từ nay biết đặt Thánh Ý Chúa lên trên để không những biết sống thuận hòa yêu thương nhau, mà hơn nữa còn biết thi hành Thánh Ý Chúa là cởi mở sang cả thế giới, muốn phục vụ hạnh phúc của đồng bào và của mọi người, để có thể nói mọi gia đình Kitô giáo là một thánh gia thất ở Galilê dân ngoại, tức là biết chuyển ơn cứu độ của Chúa đến môi trường chung quanh. Muốn vậy chúng ta hãy bắt đầu bằng việc dâng lễ sốt sắng để nhờ việc Chúa ngự vào tâm hồn mọi trái tim chúng ta trở thành một thánh gia cho gia đình chúng ta và cho mọi gia đình khác.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)




LỜI CHÚA MỖI NGÀY
L Thánh Gia, Năm ABC

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Bí quyết để có một gia đình Thánh

Mọi người trong chúng ta đều đã nhìn thấy và cảm nghiệm được sự khủng hỏang của gia đình hôm nay. Chúng ta phải đương đầu với bao nhiêu những vấn nạn liên quan đến gia đình như: săn sóc và báo hiếu cha mẹ già, cho vào viện dưỡng lão, giết người già bằng cái chết êm dịu; ly dị, ly thân, và độc thân; hạn chế sinh sản và phá thai; con cái bỏ học, bỏ nhà, và bỏ đạo.
Gia đình Thánh cũng có những vấn đề như gia đình chúng ta: Thánh Giuse cũng toan bỏ Đức Mẹ cách kín đáo để bảo tòan sự công chính; Đức Mẹ cũng có những quyết định riêng cho đời mình bằng cuộc sống độc thân để phục vụ Chúa trong Đền Thờ; Chúa Giêsu cũng để cho cha mẹ vất vả mệt nhọc đi tìm kiếm mình, khi cha mẹ tìm thấy trong Đền Thờ lại còn hỏi: “Tại sao cha mẹ đi tìm con? Cha mẹ không biết con phải lo việc của Cha con sao?” Nhưng làm sao Gia Đình Thánh có thể vượt qua những trở ngại trong đời sống gia đình? Câu trả lời đơn giản là họ biết lắng nghe và làm theo ý Thiên Chúa.
Các vấn nạn xảy ra khi con người quá ích kỷ chỉ biết lo cho mình, và đánh mất tính tương giao với người khác. Họ không biết định giá, cám ơn, và trả ơn những gì Thiên Chúa và những người khác đã làm cho họ. Họ không biết kiên nhẫn và tha thứ cho người khác như Thiên Chúa và những người khác vẫn tha thứ cho họ. Họ quên đi rằng nếu Thiên Chúa và những người khác cũng ích kỷ như thế, họ sẽ không có cơ hội để có mặt trên trái đất này.
Hậu quả phải lãnh nhận: Vì gia đình là nền tảng của xã hội và Giáo Hội, nên khủng hỏang gia đình đứa tới khủng hỏang trong xã hội và Giáo Hội. Một ví dụ cụ thể: Việc hạn chế sinh sản dẫn tới việc mất quân bằng dân số trong quốc gia, các thống kê cho biết mỗi gia đình cần có 2.2 người con thì mới giữ được sự thăng bằng về dân số, các nước Âu Châu, Bắc Mỹ, và một số nước kỹ nghệ đã không có đủ tỉ lệ này. Hạn chế sinh sản cũng là lý do chính của việc khan hiếm linh mục và tu sĩ; nếu chỉ có một hay hai con, rất khó cho cha mẹ dâng con để phục vụ Chúa!
Các Bài đọc hôm nay cung cấp cho chúng ta những chất liệu suy tư và nhìn lại hòan cảnh gia đình của mỗi người chúng ta. Trong Bài đọc I, tác giả Sách Huấn Ca khuyên con cái phải săn sóc và báo hiếu cha mẹ già, dẫu các ngài đã lú lẫn và không tự săn sóc mình được nữa. Trong Bài đọc II, Thánh Phaolô liệt kê những đức tính và các cách cư xử cần có để bảo đảm hạnh phúc gia đình. Trong Phúc Âm, Thánh Luca tường thuật Ngày Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ của Thánh Gia. Một gia đình hạnh phúc phải biết kính sợ Thiên Chúa, và giữ cẩn thận Lề Luật của Ngài.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Hãy săn sóc cha con khi người đến tuổi già.

1.1/ Giới răn thứ tư: Phải thảo kính cha mẹ.
(1) Lời Thiên Chúa dạy: “Con ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người.”
(2) Lập luận của con người: Quá bận, không có thời giờ lo cho cha mẹ! Già yếu bệnh họan như thế đưa vào viện dưỡng lão tốt hơn. Có bác sĩ và y tá săn sóc thường trực. Thỉnh thỏang vào thăm tí được rồi. Thực tế: Có những viện dưỡng lão cả ngày không thay tã cho cha mẹ; có những y tá đã không săn sóc, chẳng để ý cha mẹ có ăn không, lại còn đánh luôn cha mẹ. Chúng ta cứ thử hỏi: Nếu cha mẹ đứt ruột đẻ ra và hy sinh chăm sóc cho mình, mình còn không chịu đựng săn sóc được, sao chờ đợi người khác chăm sóc cẩn thận? Điều chúng ta cần nhận ra là người già rất dễ cô đơn và tủi nhục. Họ không cần những chăm sóc bên ngòai, nhưng cần tình thương của con cháu. Chúng tôi đã từng đi xức dầu, và từng thấy các bậc cha mẹ từ giã cuộc đời trong cay đắng của nước mắt.
(3) Điều nên làm: Mọi người trong gia đình sẽ học được rất nhiều điều khi săn sóc cha mẹ già. Tất cả đều nhận ra sự mong manh của cuộc sống và biết nương tựa vào nhau hơn. Các anh chị em biết đòan kết với nhau để chia sẻ trách nhiệm. Các trẻ học biết cách chia sẻ bổn phận với cha mẹ: Khi thấy cha mẹ quá vất vả trong việc làm ăn và săn sóc ông bà, chúng sẽ tình nguyện chia sẻ gánh nặng với cha mẹ; điều này sẽ giúp chúng trưởng thành hơn so với những trẻ không có cơ hội thực tập. Các trẻ cũng sẽ học kinh nghiệm chăm sóc và đối xử với người già, và chúng sẽ áp dụng những gì chúng học được khi săn sóc cha mẹ.

1.2/ Ơn lành Thiên Chúa ban cho những ai hiếu thảo với cha mẹ: Sách Huấn Ca liệt kê những ơn lành như sau:
(1) Con cái cũng hiếu thảo với mình: “Đức Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái, cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con.” Tục ngữ Việt Nam cũng khuyên: “Sóng trước đổ đâu, sóng sau theo đó.” Người biết hiếu thảo và chăm sóc cha mẹ cũng sẽ được hưởng sự hiếu thảo và chăm sóc từ con cái mình. Ngược lại, người đối xử tàn tệ với cha mẹ, sẽ bị con cái mình đối xử tàn tệ hơn nhiều.
(2) Tội lỗi được tha thứ, ân sủng được thương ban: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu… Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con.”
(3) Lời cầu xin được Thiên Chúa nhận lời: “Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe.”
(4) Được sống trường thọ: “Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng.” Khi một người săn sóc cha, người ấy cũng làm vui lòng mẹ.

2/ Bài đọc II: Những đức tính và cách xử thế cần có để giữ gia đình hạnh phúc.

2.1/ Những đức tính cần học:
(1) Đức bác ái yêu thương: “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo… Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh, và yêu thương.” Bí-tích Thánh Thể là nguồn mạch yêu thương; gia đình nào năng tham dự Thánh-lễ và lãnh nhận Mình Thánh, sẽ có tình yêu của Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu này mới mạnh đủ để xóa tan những bất hòa và khác biệt trong gia đình, và liên kết mọi người trong gia đình với nhau.
(2) Kiên nhẫn chịu đựng và tha thứ cho nhau: “Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau.” Mọi người trong gia đình cùng nhau năng lãnh nhận Bí-tích Hòa Giải là cách thức để học và thực hành 2 nhân đức quan trọng này.
(3) Tâm tình biết ơn: “Ước gì sự bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng sự bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân.” Trước tiên là biết ơn Thiên Chúa đã lo lắng mọi sự cho con người. Thứ đến là biết ơn cha mẹ đã có công sinh thành, dưỡng dục, và cầu nguyện cho mình. Sau cùng là biết ơn tất cả những ai đã góp phần làm cuộc đời mình được thăng hoa và ý nghĩa.

2.2/ Tầm quan trọng của Thiên Chúa trong đời sống gia đình:
(1) Lời Chúa: “Ước chi lời Đức Kitô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú. Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan.” Để làm được điều này trong gia đình, cha mẹ cần học hỏi để hiểu biết Lời Chúa và gây phong trào học và áp dụng Thánh Kinh trong gia đình; vì cha mẹ không thể cho con cái mình không có.
(2) Thánh Ca: “Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi, và thánh ca, do Thánh Thần linh hứng.” Điều này cũng nhắc nhở chúng ta tránh nghe và hát những bài hát vô nghĩa và lãng mạn, những chương trình hài hước và kịch nghệ vô bổ, có chủ tâm khinh thường Thiên Chúa và các giá trị đạo đức.
(3) Cầu nguyện: “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha.” Mẹ Têrêxa cũng quả quyết điều này: “Gia đình nào dành thời giờ cùng nhau cầu nguyện sẽ ở với nhau lâu dài.”

2.3/ Cách cư xử trong gia đình: Tất cả các mối liên hệ đều đòi hỏi hai chiều thì mới có kết quả tốt đẹp được. Thánh Phaolô liệt kê 2 mối liên hệ chính và cách cư xử cần có:
(1) Liên hệ vợ chồng: “Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ.”
(2) Liên hệ cha con: “Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng.”

3/ Phúc Âm: Những tâm tình biết ơn
Năm A:
3.1/ Sự vâng lời làm theo thánh ý Thiên Chúa của Giuse: "Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Herode sắp tìm giết Hài Nhi đấy!" Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Herode băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập."
Chúng ta học được rất nhiều nơi cách hành xử của Giuse: Ông không hiểu nổi kế hoạch của Thiên Chúa: Hài Nhi vừa mới được các nhà đạo sĩ tôn thờ và dâng lễ vật như một vì vua; giờ lại phải lẩn trốn như một tội nhân! Ông không than trách Thiên Chúa tạo hoàn cảnh khó khăn hay xin Thiên Chúa sai sứ thần bảo vệ gia đình. Ông không suy nghĩ đi Ai-cập rồi phải làm gì để sinh sống, nhưng ông hoàn toàn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Ông không trì hoãn để sáng mai; nhưng trỗi dậy trong đêm rét mướt và đưa gia đình đi ngay.

3.2/ Giuse bảo vệ Hài Nhi khỏi mọi nguy hiểm: Định cư bên Ai-cập chưa được bao lâu, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giuse bên Ai-cập, báo mộng cho ông rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi." Giuse liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel. Khi nghe biết Archelaus đã kế vị vua cha là Herode, cai trị miền Judah, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Galilee,
và đến ở tại một thành kia gọi là Nazareth, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: Người sẽ được gọi là người Nazareth."
Di chuyển chỗ ở không phải là điều dễ dàng vì nó liên quan tới nghề nghiệp, nhà cửa, đồ đạc, trường học của con cái... nhưng Giuse vững tin nơi sự quan phòng của Thiên Chúa cho gia đình, ông vâng lời sứ thần bỏ đất Ai-cập trở về quê hương, ông can đảm tránh nơi nguy hiểm cho dù là quê cha đất tổ, gần Đền Thờ, để đi đến Nazareth, một nơi xa lạ, để tránh nguy hiểm cho con.
Những người cha hôm nay phải học nơi gương Giuse: Họ cần can đảm tránh những nơi gây nguy hiểm cho con cái và chọn những môi trường lành mạnh để con cái có thể lớn lên tốt đẹp. Họ không thể hy sinh tương lai của con cái bằng lý do việc làm hay nhà cửa.

Năm B:
3.1/ Gia Đình Thánh cảm tạ Thiên Chúa: Thánh Giuse và Mẹ Maria cám ơn Thiên Chúa về món quà gia đình, cho hai người thành vợ chồng; và món quà sự sống, Chúa Giêsu. Họ cùng nhau lên Đền Thờ để dâng Con cho Thiên Chúa như đã chép trong Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa." Tuy nghèo, nhưng họ cũng cố gắng chuẩn bị một đôi chim gáy và một cặp bồ câu non để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền. Sau khi hòan tất, họ trở về Nazareth, còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.

3.2/ Ông Simeon cảm tạ Thiên Chúa: Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Israel, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. Ông đã được Thánh Thần linh hứng cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Kitô của Đức Chúa. Được Thánh Thần thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng: "Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel Dân Ngài."
Cha mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Simeon nói về Người. Ông Simeon chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Maria, mẹ của Hài Nhi: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và vì thế, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà."

3.3/ Nữ Ngôn-sứ Anna cảm tạ Thiên Chúa: Bà là con ông Penuel, thuộc chi tộc Aser. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Jerusalem.

Năm C:
3.1/ Phải vâng lời làm theo thánh ý Thiên Chúa: Có nhiều điều chúng ta cần học nơi gia đình thánh hôm nay:
(1) Mọi người trong gia đình phải tuân giữ Lề Luật của Thiên Chúa: Thánh Luca mô tả gia đình thánh tuân giữ Luật Thiên Chúa: "Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Jerusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ." Nếu muốn con cái giữ Luật Thiên Chúa, cha mẹ phải tuân giữ trước và tạo mọi cơ hội cho con giữ Luật. Cha mẹ không thể bắt con đi lễ, nếu cha mẹ không đi và không tạo cơ hội cho con.
(2) Phải kiên nhẫn và tôn trọng nhau cho dù phải đương đầu với thử thách của cuộc sống; nếu không, sự hiệp nhất trong gia đình sẽ có nguy cơ bị tan vỡ. Trong trình thuật hôm nay, mặc dù hai ông bà đau buồn và có thể tức giận vì phải vất vả lo lắng tìm con suốt ba ngày; nhưng thái độ kiên nhẫn của Mẹ Maria phải trở thành gương mẫu cho các cha mẹ học hỏi: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!"
(3) Cha mẹ phải tôn trọng con cái khi chúng muốn làm theo thánh ý Thiên Chúa: Chúa Giêsu đáp lời Mẹ Maria: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" Bổn phận của con người đối với Thiên Chúa là bổn phận hàng đầu phải chu toàn. Các cha mẹ đừng bắt buộc con cái phải chu toàn bổn phận với cha mẹ trước khi chu toàn bổn phận với Thiên Chúa; nhưng phải vui mừng khi thấy con cái làm điều đó. Cha mẹ không bao giờ được ngăn cản con cái khi chúng muốn tận hiến cuộc đời để làm việc cho Thiên Chúa.
(4) Khi chưa hiểu thánh ý Thiên Chúa, hãy giữ thái độ thinh lặng, cầu nguyện, và suy niệm trong lòng để tìm ra thánh ý. Trình thuật hôm nay kể "nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói;" tuy vậy họ không lớn tiếng tranh cãi hay đổ lỗi cho nhau.

3.2/ Chúa Giêsu vâng phục thánh Giuse và Mẹ Maria: Trình thuật Luca tiếp tục: "Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazareth và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta."
(1) Chúa Giêsu tuy là Thiên Chúa, hạ mình và khiêm nhường vâng phục loài người: Thiên Chúa tôn trọng sự thật, cho dẫu sự thật đòi Ngài phải vâng phục con người. Để có bình an thực sự trong gia đình, mọi phần tử trong gia đình đều phải tôn trọng và sống theo sự thật; nếu không, sự bình an có được chỉ là giả tạo và sớm muộn gì cũng tan vỡ. Ví dụ, con cái có thể vâng lời cha mẹ làm điều sai trái vì sợ hãi; nhưng khi có dịp, chúng sẽ không ngần ngại phản ứng và thoát ly gia đình.
(2) Vâng phục Thiên Chúa và cha mẹ làm con người lớn lên trong khôn ngoan và gặt hái được mọi điều tốt đẹp cho cuộc đời: Nhiều người cho vâng phục là nhu nhược hay hèn kém; nhưng kinh nghiệm khôn ngoan cho thấy khi tuân phục luật của Thiên Chúa và những lời dạy dỗ khôn ngoan của cha mẹ, con cái tránh được tội lỗi và những cám dỗ nguy hiểm trong cuộc đời; nhất là được đẹp lòng Thiên Chúa, sống thuận hòa với tha nhân, và gặt hái nhiều thành công.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta phải diệt trừ tính ích kỷ trong con người, vì đó là mầm mống của mọi khủng hỏang trong gia đình. Đồng thời, chúng ta cần biết rộng lượng để yêu thương và lo lắng cho người khác như Thiên Chúa và người khác đã yêu thương và lo lắng cho chúng ta.
- Chúng ta cần biết xét mình và xưng tội thường xuyên để nhận ra những yếu đuối và tội lỗi của con người chúng ta. Nếu chúng ta có can đảm xin Thiên Chúa tha thứ tôi lỗi và kiên nhẫn với chúng ta, chúng ta cũng phải sẵn sàng kiên nhẫn và tha thứ những yếu đuối và tội lỗi của tha nhân; vì họ cũng là những con người yếu đuối và tội lỗi như chúng ta. Người không năng xét mình và xưng tội sẽ dễ rơi vào thái độ tự nhận mình tốt lành để dễ phê phán, kết tội, và khai trừ tha nhân.
- Chúng ta cần khiêm nhường nhìn nhận: chúng ta không khôn ngoan hơn Thiên Chúa. Nếu chúng ta muốn làm môn đệ của Đức Kitô, chúng ta phải “từ bỏ ý riêng mình, làm theo ý Thiên Chúa, và vác Thập Giá hằng ngày để theo Ngài.”
- Chúng ta có tự do để làm theo ý chúng ta; nhưng đồng thời chúng ta cũng phải lãnh nhận mọi hậu quả do sự cố chấp, thờ ơ, và khinh thường những lời giảng dạy của Thiên Chúa.

Lm. An-tôn ĐINH MINH TIÊN, OP.

29/12/13 CHÚA NHẬT TRONG TUẦN BÁT NHẬT GS – A
Lễ Thánh Gia
Mt 2,13-15.19-23

MỘT GIA ĐÌNH THÁNH
Sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng :”Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập.” (Mt 2,13)
Suy niệm: Nếu tổ phụ Giuse trong Cựu Ước được các anh mình gọi là “thằng chiêm bao” thì thánh cả Giuse, dưỡng phụ của Chúa Giêsu, cũng là một ‘con người của chiêm bao’ như thế. Ngài đã từng được báo mộng để chấp nhận đón Maria (đang mang thai) về nhà. Trong trình thuật hôm nay, Thánh Giuse được báo mộng đến ba lần nữa, mỗi lần là một thông điệp cụ thể Chúa truyền cho ngài thi hành. Thế đấy, thánh cả Giuse sống đắm chìm trong thánh ý Thiên Chúa như cá sống trong nước! Ngài nhạy bén với tiếng của Chúa đến mức nghe được tiếng ấy hết sức rõ ràng và thật dễ dàng: Giuse nghe được tiếng Chúa ngay trong giấc mơ của mình – chẳng cần qua bất cứ trung gian nào cả! Và nhất là mỗi lần nhận ra tiếng Chúa, ngài luôn mau mắn thi hành.
Mời Bạn: Đức vâng phục tuyệt vời của thánh cả Giuse – và của cả Thánh Gia – phải trả giá với biết bao lận đận, nhọc nhằn phải gánh chịu. Chúng ta hãy hình dung một gia đình di cư / tị nạn gần như hoàn toàn tay trắng. Cuộc sống của gia đình ấy thật bấp bênh, không có gì bảo đảm ngoài nghị lực của Giuse và Maria, nghị lực được rút ra từ niềm tin vững vàng vào thiên ý. Nhìn Thánh Gia và khám phá bí quyết để làm cho một gia đình trở thành gia đình thánh, đó là: chỉ tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa.
Sống Lời Chúa: Có điều gì nơi đời sống cá nhân bạn hay trong gia đình bạn bấy lâu nay rõ ràng không phù hợp với thánh ý Thiên Chúa? Bạn hãy dũng cảm bắt đầu chỉnh đốn lại.
Cầu nguyện: Hát một bài thánh ca về thánh cả Giuse.

Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
29 THÁNG MƯỜI HAI
Đến Gần Bởi Đức Tin
Mầu nhiệm Giáng Sinh soi sáng chúng ta thấy rõ tiếng gọi mời người Kitôhữu yêu thương anh chị em mình bằng tình yêu huynh đệ. Đến với nguồn suối ân sủng và yêu thương bất tận này, chúng ta được mời gọi tiến đến cảm nếm bằng con mắt đức tin và bằng sự khôn ngoan đích thực.
Sự khôn ngoan cho chúng ta biết bằng cách nào chúng ta có thể sống như anh chị em của nhau, rút ra nguồn cảm hứng và năng lực từ mầu nhiệm Thiên Chúa làm người. Thật vậy, khi chúng ta tiến tới gần Bê-lem hơn, chúng ta thấy Thiên Chúa của mình bé nhỏ biết bao. Vốn là Đấng cao cả vô hạn, nhưng Ngài đã tự hạ mình xuống làm một đứa trẻ thấp hèn. Ngài giống chúng ta mọi sự, dù Ngài là Thiên Chúa.
Thiên Chúa đã tự đồng hóa với chúng ta và đến ở gần chúng ta quá đỗi! Nếu chúng ta đến với Ngài ở Bê-lem với lòng đơn sơ và với sự khôn ngoan của những người chăn chiên và những nhà đạo sĩ ấy, Đức Giêsu sẽ dạy cho ta biết cách đến gần gũi mọi người, bắt đầu từ những người bé nhỏ thấp hèn nhất – để chúng ta có thể giúp mọi người sống cho Thiên Chúa.
- suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II -
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II


Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 29-12
CHÚA NHẬT TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH
THÁNH GIA CHÚA GIÊSU, ĐỨC MARIA VÀ THÁNH GIUSE
Hc 3, 3-7.14-17a; Cl 3, 12-21; Mt 2, 13-15.19-23.

LỜI SUY NIỆM: Sau khi được báo mộng, ông lui về miền Ga-li-lê, và đến ở tại một thành kia gọi là Na-da-rét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng:Người sẽ được gọi là người Na-da-rét”.
Thánh Giuse đã chọn nơi ở cho gia đình của ngài với Đức Mẹ và Chúa Giêsu theo sự chỉ dẫn của Thiên Chúa. Khi suy ngắm về “Thánh gia Chúa Giêsu, Đức mẹ và Thánh Giuse”. Chúng ta thấy được các Ngài đều có những thử thách trong cuộc sống; nhưng các ngài đã vượt qua được là luôn biết vâng nghe Lời Thiên Chúa truyền dạy và thực thi một cách tích cực.
Lạy Chúa Giêsu. Trong cuộc sống của mỗi thành viên trong gia đình của chúng con, luôn có những thử thách. Xin Chúa ban cho chúng con biết dùng Lời Chúa và sức mạnh tình thương Chúa Thánh Thần để vượt thắng những thử thách đó, giúp chúng con giữ vững đức tin.
Mạnh Phương


Gương Thánh Nhân
Ngày 29-12: Thánh TOMA BECKET
Giám Mục Tử Đạo - (1118 - 1170)

Thánh Toma Becket sinh ra tại Luân Đôn năm 1118. Cha Ngài, ông Gibert Becket, là một hiệp sĩ người Normandy, đã trở thành thương gia giàu có ở Luân Đôn. Mẹ Ngài cũng là người Normandy. Ngài có ít là hai chị em mà một người sau này làm tu viện trưởng Barking. Ngài thừa hưởng từ người mẹ lòng đạo đức, lòng sùng kính Đức Mẹ và lòng quảng đại đối với người nghèo khó.
Từ người cha, Toma Becket thừa hưởng một tính khí kiêu hùng và cương quyết. Dáng người cao ráo, đẹp trai, hấp dẫn và thông minh. Sau khi theo học tại Oxford, Đức Tổng giám mục Cantebury là Thaobald đã triệu mời Ngài làm quản trị, lo những chuyện liên hệ với Roma. Toma Becket đã kể ra đáng kể đến nỗi vua Henri II đã đặt Ngài làm chưởng ấn của vương quốc. Ngài thường khoe khoang, ngựa giòng chim ưng, chó quí là bạn thân của Ngài. Bù lại sự xa hoa này, Ngài đã tỏ ra quảng đại nhiều với những hy sinh thầm kín. Ngài cũng rất hiếu chiến và dùng đến các quyền hạn của hoàng tử mình, Ngài đã tỏ ra có giá trong một trận chiến gần Toulouse. Ngài còn tự lượng sức trong một trận chiến đấu đơn với một hiệp sĩ danh tiếng người Pháp.
Tổng giám mục Theobald qua đời, và Toma được chọn làm kế vị bất kể sự chống đối Chúa hàng giáo sĩ khi thấy "một người thế tục và ồn ào như vậy" được đưa lên tòa giám mục.
Trong khi đó, Toma Becket đã tiên báo cho nhà vua biết rằng: - "Thưa Ngài, nếu Chúa cho phép tôi làm Tổng giám mục Canterbury, tôi sẽ hết được Ngài sủng ái. Ngài sẽ đòi tôi nhiều điều, và Ngài đã làm nhiêu điều chống lại Giáo hội mà tôi sẽ không thể chịu nổi. Tình cảm của Ngài sẽ sớm đổi thành thù hận không chấm dứt nổi.
Nhưng nhà vua vẫn muốn thấy Ngài lên ngai giám mục. Ngày 3 tháng sáu năm 1162, Toma Becket đã thụ phong linh mục và ngày hôm sau được tấn phong giám mục. Kẻ nô bộc của các hoàng tử đã trở thành nộ bộc của Giáo hội, và chỉ còn muốn giữ vẻ xa hoa bên ngoài, Ngài trở nên khiêm tốn hơn, mặc áo nhặm, tha thiết yêu thương kẻ nghèo và xa cách đối với người giàu. Những nhưng điều lo ngại của thánh nhân không tự biện minh mãi được.
Vua Henri II bóp nghẹt sự tự do của các tác viên Giáo hội, muốn bắt chàng giáo sĩ nước Anh phải phục thẩm quyền các tòa án hoàng gia, tước đoạt kho tàng của dân nghèo. Trước ý muốn của nhà vua, các vị giám mục ngập ngừng, nhiều vị khứng chịu. Nhưng Tổng giám mục Canterbury không để mình bị quyến dũ. Tức giận, nhà vua triệu vời các giám mục vương quốc lại.
Trong căn phòng tụ họp, hiện ra những con người mang khí giới như s ẵn sàng tiêu diệt các Ngài. Các giám mục và các lãnh Chúa kinh hoàng khấn nài xin vị giáo chủ nhượng bộ.
Để cứu những người chung quanh, Toma Becket như nửa ưng thuận, đã xin hoãn lại để nghiên cứu vấn đề. Ngài viết thư cho đức Thánh Cha xin phán định. Đức Thánh Cha đã kết án tất cả những ai đã phát thệ. Thế là Toma Becket đã rút lại lời một cách cao thượng. Nhà vua bắt bớ Ngài. Đáp lại các lời tố cáo, Ngài tỏ ra cương quyết và luôn giữ được tâm hồn thanh thản. Thất vọng nhà vua hô hoán: - "Hoặc là ta mất ngôi, hoặc là con người ấy không còn là tổng giám mục nữa".
Các hiệp sĩ gọi Ngài là kẻ bội phản. Toma Becket đã trả lời cho một người trong bọn họ:  "Nếu đôi tay này không phải là đôi tay của một linh mục thì ông phải biết".
Trong một công đồng ở Nerthampton năm 1164, Ngài lại tỏ ra chống đối và khi bị đe dọa đếng mạng sống hoặc tù tội. Một đêm kia, Ngài đã tàng hình để thoát thân. Lang thang nhiều ngày, Ngài tới bờ biển và được một thuyền đánh cá tiếp nhận Ngài đang lúc mệt nhọc đến đứt hơi và đưa qua Pháp.
Vua Lu-y VII đã hân hạnh tiếp đón vị tổng giám mục Caterbury, ông nói: - "Nước Pháp có thói quen nuôi dưỡng vbảo vệ những người chịu đau khổ, nhất là những người bị lưu đày vì công chính".
Vị giáo chủ lưu ngụ tại tu viện Pontiguy và tăng gấp nếp sống khắc khổ, đến nỗi có thể nói được đây là cuộc "Hoán cải thứ nhì, từ đạo đức tới thánh thiện". Ngài có giờ để cầu nguyện và suy gẫm. Ngài tuân theo luật và nếp sống của tu viện. Dầy vậy cuộc trả thù của nhà vua vẫn tiếp tục. Cha mẹ và bạn hữu Ngài bị tước hết tài sản, bị trục xuất tới số 400 người. Họ buộc lòng phải đến với Ngài, làm thành một đoàn người đáng thương. Toma Becket rất nhiệt thành năng đỡ người nghèo. Lần này bất lực vì không thể giúp đỡ được những người thân yêu nhất đang bị khổ cực vì mình. Sau cùng, vua Henri loan báo là sẽ tiêu diệt mọi nhà dòng Xitô, nếu một nhà dòng Xitô nào còn tiếp tục dung duõng Ngài. Toma Becket liền đến một nữ tu viện Bênedictô ở Sens. Những năm tháng đau khổ và trơ trọi nối tiếp nhau.
Trong khi đó, nhà vua bị Đức Thánh Cha đe dọa, tỏ ra muốn giao hòa với vị Tổng giám mục vào những tháng cuối cùng năm 1169. Một thứ hòa hoãn chẳng dễ gì. Nhưng vị giáo chủ đã nói với những người muốn ngăn cuộc hồi hương của mình rằng:  - "Dù có biết chắc mình sẽ bị chặt thành trăm mảnh, tôi vẫn trở về. Đã sáu năm rồi, đoàn chiên của tôi vắng bóng chủ chăn".
Ngài tạo thêm nhiều thù địch khi đưa ra những sắc lệnh huyền chức những vị giám mục muốn chống đối lại Ngài. Khi tới Canterbury, dân chúng chen lẫn nhau giữa những khúc thánh ca và những hồi chuông đổ dồn để đến lãnh phép lành của Ngài. Những lời đầu tiên Ngài nói trên tòa giảng là: - "Tôi đã tới để chịu chết giữa anh em".
Nhà vua tức giận với cuộc trở về khải hoàn này của Toma Becket, một con người không thể lay chuyển trong mọi việc bảo vệ những quyền tự do của Giáo hội. Người ta nghe thấy vua Henri kêu lớn: - "Không có được lấy một người trong số những kẻ hèn ta nuôi dưỡng đây gỡ cho chúng ta người giáo sĩ ngạo mạn này sao ?"
Khi ấy có bốn hiệp sĩ đi Canterbury. Họ gặp vị giáo chủ trong căn phòng gần nhà thờ chính tòa với các linh mục và tu sĩ. Họ nhục mạ Ngài, nhưng Ngài nói: - "Đừng mất thời gian đe dọa tôi. Để sát cánh chiến đấu, các người sẽ thấy tôi luôn luôn ở trong trận chiến của Chúa".
Các hiệp sĩ hùng hổ đi ra. Các giáo sĩ trách Ngài làm cho họ phải chết. Toma Becket không trốn tránh, Ngài nói với họ: - "Tất cả chúng ta hoặc phải chết. Đừng để sự sợ hãi làm cho chúng ta xa rời sự công chính. Tôi sẵn sàng chết vì tình yêu Chúa mà những người này giết tôi không phải vì tình yêu như vậy".
Và khi nghe bước chân và tiếng kêu của các hiệp sĩ có võ trang, Ngài leo lên thang nhà thờ chính tòa Ngài nói: - "Tôi ra tiền tuyến".
Trả lời cho những lăng nhục, Ngài nói: - "Tôi không phải là kẻ phản bội, nhưng là một linh mục. Tôi sẵn sàng vì Danh đấng đã lấy máu cứ chuộc tôi ... Nhưng vì Danh Thiên Chúa, đừng động tới những người này của tôi".
Dựa lưng vào cột, Đức Tổng giám mục chống lại những người muốn đưa Ngài đi, đẩy những người tấn công ngã soài xuống đất: "Tôi không đi đâu hết, hãy làm việc đó ở đây đi".
Những người khác ngập ngừng. Vị tử đạo lớn tiếng phú mình cho Chúa và Giáo hội: "Lạy Chúa, con phó linh hồn con trong tay Chúa".
Hai nhát gươm tiếp liền. Toma Becket ngã xuống miệng còn nói: - "Vì danh Chúa Giêsu và vì Giáo hội, tôi bằng lòng chịu chết". Và Ngài nằm chết cạnh bàn thờ.
Cái chết của Đức tổng giám mục làm chấn động lương tâm toàn thể Chân Au. Các phép lạ được phổ biến trên mộ Ngài. Đức Alexander III năm 1173 đã phong Ngài làm thánh tử đạo. Nhà vua đã thống hối công khai bên mộ Ngài và những gì khiến thánh nhân chịu khổ đã được sua sai nhờ cái chết của Ngài. Canterbury trở thành nơi hành hương thứ nhì sau Rôma.
(daminhvn.net)


29 Tháng Mười Hai
Hoàng Tử Và Cậu Bé Nghèo
Văn hào Anh Mark Twain cách đây ba thế kỷ, có viết một quyển tiểu thuyết mang tựa đề "Hoàng tử và cậu bé nghèo". Chuyện kể lại tình bạn của hai cậu bé giống hệt nhau khiến người ta tưởng là sinh đôi. Một trong hai cậu bé tên là Edward, hoàng tử xứ Galles. Còn Tom Canty, người bạn của vị hoàng tử, lại là một cậu bé con nhà nghèo.
Một ngày kia, hai cậu bé có một ý nghĩ ngộ nghĩnh là thay đổi địa vị xã hội. Tom vào thế chỗ của vị hoàng tử Edward trong triều đình, còn Edward thì khoác lên mình mảnh áo rách rưới và bắt đầu cuộc phiêu lưu. Cậu lang thang đầu đường xó chợ bên cạnh những người cùng cực nhất trong xã hội.
Thế nhưng một lúc nào đó, hai cậu bé cũng cảm thấy mệt mỏi với trò chơi đầy phiêu lưu này. Edward mới sực tỉnh về ngôi vị hoàng tử của mình. Trong bộ quần áo rách rưới nhơ bẩn, cậu tìm đủ mọi cách để chứng minh rằng mình là hoàng tử nối ngôi của xứ Galles. Nhưng cảnh sát đã không tin... Thế là hoàng tử Edward đành phải lặng lẽ bước vào tù vì tội giả mạo.
Giữa lúc Tom, cậu bé nghèo, sắp sửa được tấn phong làm vua, thì hoàng tử Edward xuất hiện... Không mấy chốc cậu đã được phục hồi trong ngôi vị hoàng tử của cậu. Chính nhờ kinh nghiệm của những tháng ngày làm người ăn xin, lang thang đầu đường xó chợ với những người cùng khổ, mà Edward đã trở thành một vị vua đạo đức và giàu lòng thương người.
Cũng giống như câu chuyện trên đây, Thiên Chúa đã đến giữa loài người để hoán đổi vị thế với chúng ta. Ngài mặc lấy thân xác nghèo hèn của chúng ta để chúng ta được mang lấy tước phẩm được làm con Chúa. Nhờ ân sủng của Ngài, Ngài chia sẻ với chúng ta sự sống thần linh và đón nhận trong thân xác Ngài tất cả những hệ lụy của kiếp sống khổ đau của con người.
Mang lấy trong thân xác Ngài khổ đau của nhân loại, Chúa Giêsu đã tự đồng hóa mình với từng người, nhất là những người khổ đau. Ðồng hóa mình với những người đau khổ, Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta con đường để gặp gỡ Ngài: Ngài hiện diện trong những đau khổ, bé mọn nhất. Tiếp rước những người đó chính là tiếp rước Ngài.
Thiên Ðàng là một gặp gỡ triền miên với Chúa, nhưng cuộc gặp gỡ này chỉ được chuẩn bị bằng những gặp gỡ của chúng ta với tha nhân, chúng ta sẽ gặp được Chúa. Chúng ta khước từ tha nhân, chúng ta cũng khước từ chính Chúa.
Tha nhân là Bí Tích của Thiên Chúa. Chính trong tha nhân mà chúng ta phải nhận ra và yêu mến Chúa.
Nơi bàn thờ, vị linh mục đọc lại lời của Chúa Giêsu: này là Mình Ta, này là Máu Ta... Khi chỉ cho chúng ta mỗi một con người, có lẽ Chúa Giêsu cũng sẽ nói: "Này là Mình Ta...".
Thánh lễ là một cuộc gặp gỡ với Chúa. Cuộc gặp gỡ này chỉ có ý nghĩa và giá trị nếu trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng biết nhận ra Chúa trong từng cuộc gặp gỡ với tha nhân... Xin Chúa thêm Ðức Tin để chúng ta có thể nhận ra Chúa Giêsu trong tha nhân, nhất là những người cùng khổ, bé mọn trong xã hội.
(Lẽ Sống)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét