Trang

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

18-10-2015 : (phần II) CHÚA NHẬT XXIX MÙA THƯỜNG NIÊN năm B - KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

18/10/2015
Chúa Nhật tuần 29 thường niên năm B
KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO
(phần II)

Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật XXIX Thường Niên - năm B
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN
Chúa Nhật Truyền Giáo
(Is 53,10-11; Dt 4,14-16; Mc 10,35-45)
TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC
THỂ HIỆN QUA SỰ HIẾN THÂN
“Vì Con Người đến
không phải để được người ta phục vụ, 

nhưng là để phục vụ,
và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”

(Mc 10,45)
I. CÁC BÀI ĐỌC
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta sống yêu thương bằng sự phục vụ vì phần ích của người khác. Sự ích kỷ và tính toán hơn thua đang làm cho con người không biết rung cảm trước những nỗi đau khổ của người khác. Đức Giêsu đã dạy chúng ta bài học này qua chính đời sống và sự hi sinh của Ngài. Chính vì thế mà chúng ta mới cảm nghiệm được tình yêu đích thực của Thiên Chúa dành cho con người tội lỗi của chúng ta.
1. Bài đọc I (Is 53,10-11)
Ngôn sứ Isaia trình bày cho chúng ta hình ảnh về người Tôi trung của Thiên Chúa. Người Tôi trung chịu những đau khổ để trở nên “lễ vật đền tội” và “sẽ gánh lấy tội lỗi” của muôn người. Qua những hi sinh, đau khổ của người Tôi trung mà Thiên Chúa thực hiện kế hoạch cứu độ. Truyền thống Kitô giáo nhìn người Tôi trung là hình ảnh của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chấp nhận mọi khổ hình và cái chết trên thập giá để đem lại ơn cứu độ cho con người, giải thoát con người khỏi ách nô lệ của tội lỗi.
2. Bài đọc II (Dt 4,14-16)
Tác giả thư Do Thái đã mô tả cho chúng ta thấy Đức Giêsu, Vị Thượng Tế, đã chia sẽ thân phận con người và biết cảm thương những nỗi yếu hèn của con người, dù Ngài không hề phạm tội. Qua hành vi của Ngài, con người nhận ra tình yêu của Thiên Chúa. Bởi vì Ngài đã trút bỏ mọi sự vì con người chúng ta và đã mặc lấy thân phận yếu hèn của con người để cho chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa trong Người. Như lời của thánh Phaolô đã nói: “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,7-8).
3. Tin Mừng (Mc 10,35-45)
Ngay sau khi Đức Giêsu loan báo lần thứ ba về cuộc thương khó và Phục Sinh của Ngài, hai môn đệ Giacôbê và Gioan đã đến gần Đức Giêsu để xin một điều, đó là: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang”. Lời cầu xin này thật sự bất ngờ, bởi vì, trong khi Đức Giêsu loan báo sự hi sinh của Ngài phải lãnh chịu: “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người”; thì hai môn đệ Giacôbê và Gioan lại tìm kiếm chỗ đứng quan trọng và vinh quang theo kiểu con người.
Đứng trước lời xin đó, Đức Giêsu đã không quở trách hai ông, nhưng đã kêu mời hai môn đệ hiệp thông với khổ hình của Ngài: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu”. Họ đã chấp nhận lời mời gọi này. Ngài cũng cho họ biết việc ngồi bên hữu hay bên tả thì “Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được”.
Các môn đệ khác cũng có tham vọng như Giacôbê và Gioan, cho nên họ bực tức khi nghe biết điều cầu xin của hai môn đệ này. Biết được những suy nghĩ và tính toán của các môn đệ, Đức Giêsu đã dạy cho họ bài học về sự phục vụ và hi sinh vì người khác. Hơn hết, chính Đức Giêsu đã trở nên mẫu gương sống động về những gì Ngài dạy bảo: “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”.
II. GỢI Ý MỤC VỤ
1. “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ”. Hình ảnh của Người Tôi Trung được thể hiện cách trọn vẹn nơi Con Người của Đức Giêsu Kitô. Tôi có để cho cuộc sống của mình hướng theo mẫu gương của Đức Giêsu, đó là sống vì người khác? Bởi vì khi tôi biết sống cho đi, tôi sẽ tìm gặp lại chính mình và ý nghĩa của cuộc sống.
2. Đức Giêsu đã chia sẽ thân phận yếu hèn của con người, hầu đem lại cho chúng ta ơn cứu độ. Tôi có một tâm hồn gần gũi và nâng đỡ đối với những con người mà Thiên Chúa gởi đến trong cuộc sống của tôi? Tôi có một quả tim biết rung cảm trước những nhu cầu cần thiết của anh chị em?
3. “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Quyền lực và địa vị luôn là những cám dỗ đối với con người. Tôi có sử dụng những gì mà Thiên Chúa ân ban cho tôi để phục vụ người khác? Tôi có sẵn sàng hi sinh phục vụ trong đời sống gia đình, trong các hội đoàn, trong công việc của giáo xứ?
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa Cha đã sai Con Một của Người đến trần gian để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Trong tâm tình tạ ơn, chúng ta cùng tha thiết cầu nguyện cho Hội Thánh và cho thế giới hôm nay:
1. “Ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho các thành phần trong Hội Thánh luôn ý thức thực thi sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ bằng một đời sống yêu thương phục vụ theo gương Chúa Giêsu.
2. Cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Xin cho các dân tộc trên thế giới ngày càng biết mở lòng khi nghe rao giảng, để đón nhận Tin Mừng cứu độ; cũng xin cho nhiều bạn trẻ Công Giáo biết dấn thân cho sứ vụ loan báo Tin Mừng.
3. “Chén đắng Thầy uống, các con cũng sẽ uống.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho các kitô hữu, đặc biệt những người đang sống trong đau khổ thất vọng, biết sẵn sàng đón nhận mọi thử thách, để được thông phần vào công cuộc cứu độ của Chúa Kitô.
4. Đức tin dẫn chúng ta vào đời sống hiệp thông với Thiên Chúa. Xin cho các bậc cha mẹ trong cộng đoàn chúng ta luôn ý thức chu toàn bổn phận giáo dục đức tin cho con cái bằng những lời chỉ dạy khôn ngoan và một đời sống tốt lành gương mẫu.
Chủ tế: Lạy Chúa là Cha rất nhân từ, xin nhận lời chúng con cầu nguyện và ban tặng Chúa Thánh Thần giúp chúng con luôn tích cực cộng tác và tiếp nối sứ mạng cứu độ của Con Chúa nơi trần gian. Người hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

SCĐ CHÚA NHỰT XXIX TN.B
Chủ đề : Phục vụ

"Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em"
(Mc 10,43)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Is 53,10-11) : Người Tôi Tớ Giavê sẵn sàng gánh chịu mọi đau khổ để nhờ đó làm cho muôn người nên công chính.
- Tin Mừng (Mc 10,35-45) : Con Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.
I. Dẫn vào Thánh  lễ
Anh chị em thân mến
Đức Giêsu dạy chúng ta nhiều điều rất ngược đời : đối với người đời, làm lớn thì có quyền sai khiến và được cung phụng, còn làm nhỏ thì phải hầu hạ người lớn. Đức Giêsu dạy khác hẳn : "Ai muốn làm lớn thì phải làm người phục vụ, ai muốn làm đầu thì phải làm đầy tớ".
Thực ra giáo huấn của Đức Giêsu rất khôn ngoan. Nếu những người làm lớn đều biết phục vụ những kẻ dưới quyền mình thì xã hội sẽ rất bình an, và mọi người đều hạnh phúc.
Xin Chúa giúp chúng ta thấm nhuần bài học quý báu này.
II. Gợi ý sám hối
- Khi được làm lớn, chúng con không lo phục vụ những kẻ dưới quyền mình, trái lại thường hống hách bắt họ phục vụ chúng con.
- Chúng con hay đòi hỏi người khác phục vụ chúng con mà không nhiệt tình phục vụ người khác.
- Chúng con coi thường những công việc nhỏ nhặt ít người để ý tới.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Is 53,10-11)
Người Tôi Tớ Giavê bị nghiền nát vì đau khổ để hiến thân làm lễ vật đền tội và làm cho muôn người nên công chính.
2. Đáp ca (Tv 32)
Thiên Chúa cũng phục vụ loài người : Ngài để mắt trông nom người kính sợ Chúa, cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống họ trong buổi cơ hàn.
3. Tin Mừng (Mc 10,35-45)
Chuyện xảy ra ngay sau khi Đức Giêsu loan báo (đây đã là lần thứ ba) rằng Ngài sắp chịu nạn, chịu chết và sống lại.
- Hai môn đệ Giacôbê và Gioan lại xin hai địa vị ưu tiên trong "nước" mà họ nghĩ Đức Giêsu sắp thành lập. 10 môn đệ kia bực tức. Không phải vì cho rằng hai môn đệ này sai mà vì nghĩ họ đã muốn "chơi trội" hơn mình trong cuộc chạy đua tranh dành địa vị.
Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu dạy về Nước Thiên Chúa và nước trần gian, về cách cư xử của những người lớn trong hai nước đó :
- Trong nước trần gian, kẻ làm lớn thì lấy quyền mà trị dân, bắt dân phục vụ mình.
- Trong Nước Thiên Chúa, làm lớn là làm đầy tớ, càng làm lớn thì càng phải phục vụ.
4. Bài đọc II (Dt 4,14-16) (Chủ đề phụ)
Đức Giêsu là Vị Thượng Tế siêu phàm : (1) Ngài chính là Con Thiên Chúa ; (2) Ngài cảm thông những nỗi yếu hèn của loài người vì chính bản thân Ngài cũng từng trải qua đau khổ. Bởi vậy chúng ta hãy mạnh dạn tiến đến gần Ngài để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp.
IV. Gợi ý giảng
* 1. Quyền bính để phục vụ
a. Một nhà tu đức tên là Jean Vanier, người sáng lập dòng Arche, phân biệt hai loại quyền bính :
- Một loại quyền bính từ trên áp xuống. Người nắm loại quyền bính này tự coi mình là kẻ ở trên và những kẻ thuộc quyền mình là những người ở dưới. Người này bắt những kẻ dưới phải làm theo ý mình, nếu không theo thì phạt. Loại quyền bính này được dùng để cai trị, hay nói chính xác hơn là thống trị.
- Loại quyền bính thứ hai không từ trên áp xuống mà đứng bên cạnh để giúp đỡ. Người nắm quyền bính này không coi mình là ở trên cũng không coi kẻ thuộc quyền mình là ở dưới. Người này không nhắm cho ý mình được người ta thực hiện, nhưng nhắm đến ích lợi chung và ích lợi của kẻ mình muốn giúp đỡ. Loại quyền bính này được dùng để phục vụ.
b. Khi hai người con ông Dêbêđê, tức là Gioan và Giacôbê đến xin Đức Giêsu cho mình được hai chỗ bên tả và bên hữu Chúa là họ muốn loại quyền bính nào ? Thưa là quyền thống trị.
Nhưng Đức Giêsu đã từ chối. Lý do thứ nhất là Ngài thấy trong các tổ chức chính trị, hành chánh và xã hội, những người lãnh đạo đều thích loại quyền thống trị đó. Nhưng các tổ chức mà họ lãnh đạo người ta không được hạnh phúc gì cả, trái lại còn phải đau khổ. Lý do thứ hai là trong tổ chức mà Ngài thành lập, tức Giáo Hội, không có người trên kẻ dưới, không có người lớn kẻ nhỏ, mà tất cả đều bình đẳng với nhau vì tất cả đều là anh em với nhau, cùng là con của một Cha trên trời. Cho nên không có chuyện người này bắt người kia làm theo ý mình, nhưng mọi người đều giúp nhau để làm theo ý Cha trên trời. Bởi vậy trong Giáo Hội, quyền bính được trao không phải cho kẻ ham muốn kiếm tìm nó, mà trao cho những người nào có thiện chí và khả năng phục vụ.
c. Khi 10 môn đệ kia bực tức với hai người con ông Dêbêđê, thì họ cũng có quan niệm giống như hai ông này về quyền bính. Vì cùng ham quyền thống trị như nhau cho nên họ ganh tị nhau, bực tức nhau và tranh dành nhau.
Có một câu chuyện ngụ ngôn như sau : một chiếc đồng hồ đeo tay một hôm đi dạo ở công trường trước một nhà thờ. Nó nhìn lên tháp nhà thờ thấy một chiếc đồng hồ rất lớn nên thấy ghét. Nó nói : Anh tưởng là anh ngon lắm hả. Thực ra cái mặt anh to quá khổ chẳng đẹp chút nào, hai cánh tay thì dài thượt coi chẳng đẹp gì cả. Giọng nói thì khàn khàn. Chiếc đồng hồ lớn chỉ mỉm cười và nói "Hãy lên đây". Chiếc đồng hồ nhỏ leo lên. Khi đứng bên chiếc đồng hồ lớn nhìn xuống thì nó mới hoảng sợ. Thì ra ở trên cao này nguy hiểm quá té xuống tan xác như chơi. Rồi lúc nào cũng bị bao nhiêu cắp mắt nhìn lên, và lại còn cô đơn nữa. Khi đó chiếc đồng hồ lớn khều nó nói "Ở dưới có người muốn biết giờ kìa. Em đưa mặt ra cho họ xem đi". Chiếc đồng hồ nhỏ đáp : "Không được, từ đây xuống dưới xa quá mà mặt em nhỏ quá ở dưới xem không thấy đâu". "Vậy thì em nói giờ cho họ nghe đi". "Cũng không được, vì tiếng em nhỏ quá". Khi đó chiếc đồng hồ lớn mới ôn tồn giải thích : "Đó em thấy chưa. Em cũng không thể làm việc của anh, mà anh cũng không thể làm việc của em. Mỗi người chúng ta ai làm việc nấy, chỉ để phục vụ cho người ta thôi. Từ này về sau mình đừng chỉ trích nhau nữa nhé".
Câu chuyện rất ý nhị : mỗi người có một nhiệm vụ để phục vụ người khác. Kẻ ở địa vị cao thì phải phục vụ nhiều hơn. Và ở địa vị cao thì càng gặp khó khăn nhiều hơn, có khi còn cô đơn hơn nữa.
d. Bởi vậy, khi hai người con ông Dêbêđê xin địa vị, Đức Giêsu đã hỏi : "Chúng con có uống nổi chén đắng không ?" Địa vị và quyền bính trong Giáo Hội luôn đi kèm với chén đắng, tức là những hy sinh, đau khổ.
* 2. "Các anh không biết các anh xin gì"
Chuyện hai người con nhà Dêbêđê xin được hai địa vị trong Nước Đức Giêsu không có gì lạ. Có lạ chăng là họ đã xin điều đó liền ngay sau khi Đức Giêsu loan báo Ngài sẽ chịu nạn chịu chết.
Ai mà không thích địa vị. Nhiều người cũng giống hai môn đệ kia thôi, chỉ khác là không dám nói ra như họ.
Vả lại Đức Giêsu cũng không muốn lập một Giáo Hội không có phẩm trật. Giáo Hội, như bất cứ tổ chức nào khác, cũng cần có phẩm trật, kẻ trên người dưới chứ.
Cái đáng nói là hai môn đệ ấy đã xin một điều mà họ không hiểu :
- Họ không hiểu rằng trong Nước Chúa, địa vị rất khác với nước trần gian, vì địa vị là để phục vụ chứ không phải để được người ta phục vụ mình.
- Họ không hiểu rằng có địa vị trong Nước Chúa thì họ sẽ phải uống chén đắng chứ không phải sẽ ngồi đó mà hưởng thụ.
Tóm lại, họ không đáng trách vì đã ham muốn địa vị, nhưng đáng trách vì chưa hiểu mục đích và điều kiện của địa vị trong Nước Chúa, thế mà đã nhanh nhẫu xin cho bằng được.
Một lần Đức Hồng Y Roncalli vừa từ trên xe bước xuống. Ngài mới đi xa về. Phái đoàn tòa Giám mục ra đón. Mọi người ngạc nhiên trên vai áo Hồng Y có vương mấy cọng rơm đồng quê. Ai hỏi ngài cũng cười xoà vui vẻ, nhưng mấy nhân viên phụ tá trên xe đều hiểu chuyện. Chiếc xe của Đức hồng Y đang từ hướng Bắc xuống miền Nam qua vòng đồng ruộng. Giữa đường một chiếc xe bò chở rơm sa hố. Người đánh xe gắng sức đẩy phụ nhưng xe không nhúc nhích. Đức Hồng Y cho xe dừng lại, xắn tay áo hò dô ta đẩy phụ, và chiếc xe rơm sa lầy lại chuyển bánh tiếp tục lên đường.
Những cọng rơm trên vai áo Hồng Y đối với ngài chỉ cười xoà cho qua. Nhưng thực sự tỏ rõ cho chúng ta một Hồng Y không quản ngại khó khăn hay sợ bẩn chiếc áo dòng sang trọng.
Sau này lên ngôi Giáo hoàng, Đức Gioan 23 vẫn tiếp tục sống nếp sống bình dị phục vụ.
Lần khác, cả giáo triều Rôma báo động : "Đức Giáo hoàng mất tích". Nhân viên an ninh đổ xô đi tìm. Cuối cùng người ta gặp ngài đang chuyện trò thân mật với các tù nhân trong khám đường Rôma.
*
"Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người" (Mc.10,45).
Đó là Hiến chương Nước Trời, là Hiếp Pháp Đức Kitô đã tuyên bố cho Giáo hội. Từ đây, mỗi tín hữu Kitô phải là đầy tớ của mọi người.
Người lãnh đạo trong Giáo hội chính là "Đầy tớ của các đầy tớ" (Sevrus Servorum). Chữ Latin"Minister" có nghĩa là đầy tớ. Vì thế, trong Giáo hội chỉ có kẻ thừa sai, người thừa tác, nữ tì, tôi tá, hay mục tử chăm lo cho đoàn chiên.
Mẹ của Giacôbê và Gioan xin Đức Giêsu cho hai con bà được làm tể tướng trong nước của Người. Nhưng họ đã không hiểu rằng Đức Giêsu không bước lên ngai vàng để thống trị, mà Người chỉ leo lên thập giá để hiến dâng mạng sống, để yêu thương và "yêu cho đến cùng". (Ga.13,1).
Hôm nay, Chúa cũng mời gọi các tín hữu Kitô hãy noi gương Người : Phục vụ và hiến dâng mạng sống cho tha nhân. Trước nhất là yêu thương phục vụ những người trong gia đình : "Charity begin at home" (Bác ái bắt đầu từ gia đình), sau đó mới lan tỏa sang những người chung quanh, nhất là những người nghèo hèn, yếu đuối.
Nếu chúng ta chưa nên giống được như Cha Maximilien Kolbe xin chết thay cho bạn tù, như thánh Martino Porres bán mình làm nô lệ, hoặc như cha Damien tông đồ người hủi, thì ít là mỗi ngày chúng ta hãy âm thầm phục vụ hết mình những người thân yêu, những người Chúa giao phó trong gia đình mình, trong cộng đoàn mình.
Báo chí Pháp đăng hình của Cha Damien sau mấy chục năm phục vụ trong trại cùi, ghép cạnh hình cha hồi còn tẻ. Tấm hình gây xúc động cho biết bao con người. Khi nhìn vào tấm hình, mẹ Ngài không thể tin được con mình đã thay hình đổi dạng đến thế. Chính thái độ tận tụy phục vụ đã tiêu hao sức lực và tàn phá hình hài con người. Vì thế, chúng ta không thể phục vụ nếu không có sẵn một tấm lòng dấn thân quảng đại.
Người thành công nhất là người phục vụ cho đồng loại nhiều nhất. Albett Shweitzer đã nói :"Người hạnh phúc thật là người biết tìm cách sống thiện ích cho người khác". Martin Luther King nói : "Chúng ta học bay như chim trên trời, học bơi như cá dưới nước, nhưng lại chưa học sống với nhau như anh em". Ở giây phút định mệnh của mỗi con người chỉ có cường độ tình yêu và tinh thần phục vụ là có giá trị.
*
Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng có một chút ham mê địa vị, chức quyền. Nếu Chúa xếp đặt cho chúng con một chức vụ nào đó, xin cũng ban chúng con một ơn này, là chức vụ càng cao, chúng con càng biết khiêm tốn phục vụ anh em nhiều hơn. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 4. Hiến thân phục vụ
Thiên Chúa đã gọi Cha Kỷ bước ra khỏi vực thẳm của nghèo khó
 Một cậu bé nhà nghèo bị bố bỏ rơi, 4 tuổi đã phải đi ăn xin. Xong tiểu học ở tuổi 13, Giuse Lê Đình Kỷ (Joseph Wresinski) học được nghề làm bánh ngọt để sống tới tuổi 19. Qua trung gian phong trào Thanh Sinh Công, cậu được hướng dẫn theo ơn gọi linh mục.
 Năm 1937 cậu nhập ngũ theo tuổi quân dịch. Hai năm sau, chiến tranh bùng nổ ở Pháp, cậu bị bắt làm tù binh nhưng trốn được và về học ở chủng viện Sinh Đông (Soissons), nơi Thầy Giuse thụ phong linh mục năm 1946. Kế đó là 4 năm làm cha phó và 6 năm làm cha sở.
 Năm 1956 Cha Kỷ được giao nhiệm vụ mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới không riêng cho cha. Cha ghi lại như sau :
 Đức Giám Mục đã phái tôi đến trại tiếp cư khẩn cấp vùng ngoại ô Noisy-le-Grand của Thủ đô Paris. Ngày đầu tôi tới đó là 14 tháng 7, 1956. Tôi được gặp những gia đình gợi nhớ tình cảnh túng quẫn của mẹ tôi. Trẻ con tới tấp tới quấy phá tôi, tôi kể đó là những người em trong gia đình tôi.
 Đó là hình ảnh của chính tôi, bốn mươi năm trước đây trên đường Gia-cô-bê của thành phố Anh Dương (Angers). Từ ngày tôi đặt chân tới trại, chính những gia đình ấy đã khởi hứng cho tôi về tất cả những gì tôi thực hiện nhằm giải phóng họ. Họ ôm chầm lấy tôi, ám ảnh tôi, thúc bách tôi, đưa đẩy tôi cùng với họ thiết lập một phong trào. Chính họ rèn luyện nên căn tính riêng và tự xưng là "Thế giới thứ Bốn".
 Để cha hiến thân phục vụ người nghèo
 Tại sao gọi là "Thế giới thứ Bốn" ? Cha Kỷ muốn người ta nhìn nhận phẩm giá của những gia đình đó. Ngài muốn nói lên thái độ của họ muốn từ khước túng quẫn. Chính vì muốn chấm dứt cảnh túng quẫn của họ nên Cha Kỷ đã khởi xướng kế hoạch phát triển cộng đồng cùng với họ. Cùng với những gia đình đó, cha Kỷ đã thiết lập phong trào Trợ Giúp người lâm bất cứ cảnh túng quẫn nào (Aide à Toute Détress (ATD), tức International Movement ATD Fourth World).
 Nhật ký của Cha Kỷ ghi tiếp :
 "Ngày đó, tôi nguyền làm cho thế giới biết đến những gia đình đó. Tôi đoan thề sẽ tìm cho họ nơi ở xứng đáng, thanh niên có việc làm, người trẻ được dạy nghề, trẻ con có trường để học hành. Hôm đó tôi chọn cho tôi con đường nhắm tới mục tiêu là làm cho người nghèo có chỗ đứng và chỗ đứng ấy được thế giới nhìn nhận và tôn trọng. Tôi sẽ phải làm thế nào để họ có cơ hội trèo lên những bậc thang của Liên Hiệp Quốc, của cơ quan Giáo Dục UNESCO, của Tổ Chức Lao Động thế giới (ILO), của Hội Đồng các nước Âu Châu và của Vatican, để tiếng nói của họ được nghe thấy.
 Năm 1961 Cha Kỷ thiết lập Viện nghiên cứu đầu tiên để nghiên cứu về cảnh cùng cực (Research Institute on extreme poverty), lôi cuốn các chuyên gia đến từ các nước và các ngành khoa học. Qua những chuyến công du và những bài thuyết trình, nhiều dự án nghiên cứu của phong trào lan rộng đến nhiều nước Âu Châu và Hoa Kỳ.
 Được thúc đẩy do thâm tín rằng túng quẫn phải được chấm dứt khỏi đời sống con người, những người thiện nguyện đầu tiên đến cộng tác với cha Kỷ từ năm 1960. Họ đến từ nước, thuộc nhiều quốc tịch, nhiều tín ngưỡng và nghề nghiệp. Một số có gia đình, một số độc thân. Con số những thành viên chí nguyện này hiện là 350 tại 20 quốc gia, trong số đó 200 người đã phụcvụ trên 5 năm và 35 người đã phục vụ trên 20 năm. Họ sống trong những cộng đoàn nơi họ phục vụ bằng cách cổ võ giao lưu giữa những gia đình nghèo và dân chúng nói chung.
 Cuộc viếng Ấn Độ năm 1965 khiến Cha Kỷ có thêm phong trào Tapori, trong đó các em thiếu nhi từ nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội trở nên bạn thân với nhau. Song song nữa là phong trào thanh niên cũng nhằm mục tiêu là gây tình bạn vượt mọi rào cản.
 Hai biến cố đánh dấu năm 1987 là năm chót đời cha Kỷ. Năm ấy cha đệ lên Hội Đồng Kinh Tế và Xã Hội của Pháp Quốc một đề nghị tổng hợp nhằm diệt tận căn bệnh nghèo trường kỳ. Tài liệu của cha Kỷ nhan đề là "nghèo cùng cực và sự bấp bênh Kinh Tế và Xã Hội" khiến chó nước Pháp đã làm luật để bảo đảm đồng lương tối thiểu. Điều này đã gây hứng khởi cho những nước khác của Âu Châu và lôi kéo sự chú ý trên toàn cầu.
 Cũng năm ấy, vào ngày 17 tháng 10, trước sự có mặt của trên 100,000 người từ khắp nơi trên thế giới, cha Kỷ đã đặt viên đá kỷ niệm nhằm tán dương những khổ đau và lòng can đảm của người nghèo. Viên đá kỷ niệm được đặt tại Công Trường Các Quyền Con Người tại Paris, đối diện tháp Eiffel. Bảng viết ghi rõ : "Bất cứ khi nào người nam hay nữ phải sống trong nghèo khổ thì quyền làm người của họ bị chà đạp (condemned). Ta có bổn phận cùng nhau bảo đảm cho những quyền đó được tôn trọng."
 Trong lễ an táng cha Kỷ tại nhà thờ chính toà Paris, Đức Hồng Y Lustiger nói : "Thiên Chúa đã gọi cha Giuse Kỷ bước ra khỏi vực thẳm của nghèo khó để cha hiến thân trở nên sức hút nhằm loại bỏ tận căn tệ nạn người loại bỏ người. Điều dễ phát sinh ra căm hờn đã trở nên dấu chỉ của tình thương. Điều dễ phát sinh ra tàn phá đã mở lối vào để con người được triển nở, được nhận ra mình và khám phá ra phẩm giá của mình.
 Lý tưởng cao đẹp nhất của người môn đệ Đức Giêsu
 Câu chuyện Cha Kỷ hiến thân phục vụ người nghèo được kể để giúp lãnh hội ý nghĩa bài Tin Mừng hôm nay. Ý nghĩa ấy quả thật ngược lại với xu hướng tự nhiên của Nhóm Mười Hai. Khởi sự là hai anh em trong nhóm, tức Giacôbê và Gioan, đã xin để được ngồi bên hữu bên tả Đức Giêsu khi người thiết lập Vương quốc, nhưng Người đã giao cho hai ông vác thập giá theo Người. Lời hai anh em này yêu cầu cũng dễ hiểu vì cả nhóm đã từng : "cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả" (Mc 9,34). Tin Mừng Mátthêu còn cho thấy chính bà mẹ của hai ông nói lên lời thỉnh cầu của gia đình (Mt 20,20). Nhưng Đức Giêsu đã phản ứng với lời thách đố : "các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?" (Mc 10,38). Đức Giêsu có ý nói tới cơn hấp hối và cái chết mà Người sẽ chịu. Hai anh em được thách đố để theo Đức Giêsu đến cùng. Đức Giêsu kết thúc đối thoại bằng cách đặt hai anh em trước một câu trả lời đòi họ phải được hoán cải để theo ý muốn của Thiên Chúa. Người nói : "Có thể Chúa Cha sẽ dành địa vị cho các anh, nhưng các anh phải sẵn sàng vác thập giá tôi vác, uống chén đắng tôi uống và chịu phép rửa tôi chịu." Nghĩa là hai anh em phải bước theo Đức Giêsu cho tới cái chết trên thập tự.
 Không riêng hai anh em là Giacôbê và Gioan, mười người còn lại trong nhóm Mười Hai, đều bị chỉnh khi họ tỏ ra tức tối với hai anh em liên quan tới việc tranh giành ảnh hưởng giữa nhau. Để bước theo Đức Giêsu cần phải dứt khoát loại bỏ thái độ "hống hách đối với người khác" (c.42). Là Kitô hữu có nghĩa là trở nên kẻ phục vụ tha nhân như Đức Giêsu đã phục vụ (c.45). Ai ở địa vị cao nhất và uy thế nhất, người đó nhận lấy trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của mọi người theo gương Đức Giêsu (c.44). Đó là con đường đưa người môn đệ vào vinh quang của Đức Giêsu.
 Bài Tin Mừng hôm nay liên quan trước hết tới hai môn đệ thân cận nhất của Đức Giêsu là ông Giacôbê và Gioan (cùng với Simon-Phêrô, hai ông này được Đức Giêsu chọn để tháp tùng Ngài lên núi biến hình (9,2-9) và có mặt trong cơn hấp hối tại Vườn Dầu (14,32-42)). Sứ điệp mà Tin Mừng Máccô có ý truyền đạt liên quan tới địa vị lãnh đạo trong Giáo Hội, họ phải là người đầu tiên "uống chén đắng" bằng cách phục vụ nhu cầu của anh chị em, bất cứ là nhu cầu nào họ nhận thấy và bất cứ trong hoàn cảnh nào họ nhận ra. Đó quả là một đòi hỏi tận căn, hầu như không bao giờ người được giao trách nhiệm cảm thấy mình đã chu toàn được nhiệm vụ.
 Nơi Cha Kỷ, ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay được sáng tỏ. Thiên Chúa đã an bài để Cha sinh ra trong khó nghèo hầu cả đời hiến thân phục vụ người nghèo. Cha không căm hờn người giàu nhưng đòi họ bằng mọi giá phải hoán cải bản thân. Bằng mọi giá họ phải trả lại cho người nghèo quyền lợi và phẩm giá thuộc về họ. Lý tưởng cao đẹp nhất được nêu cho người môn đệ Đức Giêsu là họ phải cúi mình phục vụ người nghèo theo gương chính Đức Giêsu. (Lm Augustine sj, Vietcatholic 2001)
V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã tuyên bố : "Con Người đến để được người ta hầu, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người". Chúng ta hãy cảm tạ Chúa thương chúng ta và dâng lời cầu xin :
1. Đức Giêsu đã nói với các tông đồ rằng : đối với anh em, ai muốn làm lớn thì phải làm bé hầu hạ / ai muốn làm đầu thì phải làm đầy tớ mọi người / Xin Chúa cho các người lãnh đạo trong Hội thánh biết ứng xử đúng theo lời dạy của Chúa / để luôn sẵn sàng phục vụ mọi người.
2. Đức Giêsu cũng cho biết rằng / những người được coi là thủ lãnh các nước thì cai trị dân như những bạo chúa / và những người làm lớn thì lấy quyền mà áp chế dân / Xin Chúa cho các nhà cầm quyền ngày nay biết từ bỏ cách cai trị độc tài chuyên chế / để tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền của mọi người.
3. Khắp nơi trên thế giới vẫn còn rất nhiều người đang cần được giúp đỡ và phục vụ / Xin Chúa cho họ được nhiều người trong Hội thánh và trong xã hội / biết quan tâm và lo lắng cho họ.
4. Đức Giêsu đến trần gian để cứu độ bằng phục vụ, và Chúa phục vụ để cứu độ / Xin Chúa cho mọi người trong xứ đạo chúng ta biết noi gương Chúa / luôn sẵn sàng phục vụ để truyền giáo cho những người chung quanh.
Chủ tế  : Lạy Đức Giêsu, khi bắt đầu theo Chúa, các tông đồ còn mơ ước một cuộc sống giàu sang và quyền lực, nhưng sau các ngài đã hiểu và tự nguyện bước theo đường Chúa đã đi ; Xin giúp mỗi người chúng con biết noi gương các ngài, chấp nhận hy sinh thiệt thòi, để phục vụ cho việc truyền giáo. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. Trong Thánh lễ
- Trước khi rước lễ : Đức Giêsu đã hiến thân làm của ăn nuôi sống linh hồn chúng ta. Xin Chúa cho chúng ta sau khi rước Chúa vào lòng cũng biết hiến thân phục vụ anh chị em chúng ta.
VII. Giải tán
Hôm nay chúng ta đã học được bài học phục vụ : người lớn phải phục vụ người nhỏ, càng làm lớn thì càng phải phục vụ. Chúng ta hãy ra về và cố gắng thực hành bài học này.
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI

Lectio Divina: Chúa Nhật XXIX Thường Niên (B)
Chúa Nhật, 18 Tháng 10, 2015
Người lãnh đạo phải phục vụ
Mc 10:35-45


1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Thiên Chúa của bình an và tha thứ, Chúa đã ban cho chúng con Đức Kitô như một gương mẫu về việc hoàn toàn phục vụ, thậm chí còn ban cho chúng con chính mạng sống của Người; xin Chúa hãy cho chúng con tìm thấy được sự thứ lỗi của Chúa để chúng con có thể chia sẻ cạn chén của thánh ý Chúa và sống trong sự quảng đại và phục vụ tốt đẹp lẫn nhau.
 2.  Bài Đọc 

a)  Bối cảnh:
Đoạn Tin Mừng này tiếp ngay sau lời tiên báo thứ ba về cuộc Thương Khó (Mc 10:32-34).  Cũng như trong dịp về các lời tiên báo khác, phản ứng của các môn đệ thì không tích cực:  hai trong số các ông đang lo lắng về việc ai sẽ là kẻ trước hết trong Nước Trời và những người khác trở nên bực tức.  Điều này cho chúng ta biết rằng các môn đệ đã gặp khó khăn trong việc chấp nhận số phận đầy đau đớn của Thầy mình và trong sự hiểu biết về mầu nhiệm Nước Trời.  Hai người tiến đến với lời yêu cầu – các ông Giacôbê và Gioan – là anh em và là những người bạn của Chúa Giêsu (Mc 1:19-20).  Biệt danh của họ là bô-a-nê-ghê nghĩa là “con của thiên lôi” (Mc 3:17).  Lúc ấy, các ông có phần hơi bốc đồng.

b)  Tin Mừng:

35 Khi ấy, Giacôbê và Gioan con ông Giêbêđê đến gần Chúa Giêsu và thưa Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin Thầy". 36 Người hỏi: "Các con muốn Thầy làm gì cho các con?" 38 Các ông thưa: "Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy". 39 Chúa Giêsu bảo: "Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?" 39 Các ông đáp: "Thưa được". Chúa Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống, và phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì không thuộc quyền Thầy ban, nhưng là dành cho những ai đã được chỉ định".  
41 Mười môn đệ kia nghe chuyện đó liền bực tức với Giacôbê và Gioan. 42 Chúa Giêsu gọi các ông lại gần mà bảo: "Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước, thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. 43 Còn các con không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. 44 Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. 45 Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người".

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện

Để đọc lại bài đọc với tâm hồn chúng ta và để nhận ra trong những lời và trong cấu trúc, có sự hiện diện mầu nhiệm của Thiên Chúa hằng sống.

4.  Một vài câu hỏi gợi ý

Để nhìn thấy những điểm quan trọng trong bài đọc và bắt đầu hấp thụ chúng.

a)  Tại sao các môn đệ lại quá quan tâm đến việc dành những chỗ trên trước?
b)  Câu trả lời của Chúa Giêsu có ý nghĩa không?           
c)  Chúa Giêsu muốn nói gì khi đề cập đến chén sắp uống và phép rửa sắp chịu?
d)  Chúa Giêsu dựa vào đâu mà nói về việc phục vụ cộng đoàn?

5.  Dành cho những ai muốn đào sâu vào trong bài đọc


"Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy"
Mặc dù các ông đã cẩn trọng trong cách đặt câu hỏi của mình, thật rõ ràng là các ông có khá đầy tham vọng.  Theo truyền thống, các ông có thể là anh em họ của Chúa Giêsu, và vì thế - chiếu theo lề luật đông phương – các ông có một quyền đặc biệt, là người trong gia đình.  Dù sao chăng nữa, rõ ràng là các ông đã không hiểu tí gì về những điều Chúa Giêsu sắp làm.  Người đang trên đường tiến về cây thập giá ô nhục, và các ông vẫn còn chưa hiểu Người.  Quyền năng thực sự của Chúa Giêsu không bao gồm việc chia chác chỗ ngồi danh dự, mà là đòi hỏi các ông chia sẻ số phận bi thảm của Người: “Các con có thể uống chén Thầy sắp uống?”

"Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống”
Cuộc đối thoại liên quan đến chén sắp uống và phép rửa (các câu 38-39) rõ ràng là song song.  Nhưng không dễ dàng hiểu được làm thế nào mà hai môn đệ có thể uống chén và chịu phép rửa, trừ phi người ta nghĩ đến việc tử đạo mà hai ông phải chịu đựng sau đó.  Bằng vào hai hình ảnh này, Chúa Giêsu dường như gợi lên cái chết thê lương của mình, mà Người tiên báo như một nghĩa vụ tuyệt đối của lòng trung thành với Chúa Cha.  Câu trả lời cho lời yêu cầu của họ để được ngồi cạnh bên Người thì rất thoái thác:  nhưng chúng ta có thể hiểu được rằng câu trả lời ấy muốn nói đường lối của họ không phải là phương cách đúng để đạt được lời cầu xin.

“Mười môn đệ kia… bắt đầu bực tức”
Rõ ràng là họ cũng có cùng một tham vọng.  Tuy nhiên, câu này có vẻ là một câu được soạn bổ sung để nối kết hai đoạn, mà ban đầu đã không được đặt chung với nhau.  Điều này thay đổi chủ đề hoàn toàn.  Dù sao, sự thật về lòng bực tức của họ đã được ghi lại, có lẽ được dựa trên một số đoạn Tin Mừng khác nơi mà các môn đệ không xuất hiện trong quan niệm đúng và vì thế nó là xác thực.

“Những người được coi là lãnh tụ các nước, thì sai khiến dân chúng như ông chủ… Còn các con không như thế.”
Chúa Giêsu đề cập đến các nhà lãnh đạo chính trị vào thời ấy:  và thực sự đây cũng là phong cách của các nhà lãnh đạo chính trị ở mọi lúc.  Nói cách khác, cộng đoàn các môn đệ phải được lãnh đạo bằng sự phục vụ:  hai từ ngữ nói về việc phục vụ này trong một phương cách từ từ.  Đầu tiên Chúa Giêsu nói về “người đày tớ” (diakonos) và sau đó về “người nô lệ” (doulos).  Người ta không thể chọn người mà người ta sẽ phục vụ:  họ phải làm nô lệ cho tất cả, do đó làm đảo lộn trật tự thế gian.

“Vì chính Con Người cũng…”
Ở đây chúng ta thấy nền tảng của lề luật hiến chế của cộng đoàn:  tuân theo phong cách của Thầy mình, bằng cách cho đi, giống như Người, đời sống của mình trong tinh thần phục vụ; do đó, thực sự trở thành “chúa tể” thông qua món quà của đời sống người ấy, không phải chỉ là giả vờ.  Thật khó mà giải thích chữ “giá chuộc” hay là ơn cứu chuộc, như Cha X. Léon Dufour đã nói:  chúng ta có thể hiểu được điều này rõ ràng khi chúng ta suy niệm về những lời mà Chúa Giêsu nói trong Bữa Tiệc Ly.  Sau đó, cả mạng sống của Chúa Giêsu xuất hiện dưới ánh sáng của “giá chuộc”, của lòng trung thành cho đến cùng vì sự tự do của nhân loại.  Người tước đoạt sự tự do của chính mình để Người có thể ban sự tự do, để cứu chuộc những kẻ không có tự do. 
Vì vậy, quy chế của cộng đoàn các môn đệ được đặc trưng bởi sự phục vụ, không bởi vì tham vọng, mà bởi một đời sống trao ban và ràng buộc làm giá chuộc cho tha nhân.  

6.  Thánh Vịnh 33 (32)

Lời cầu nguyện cho công lý và hòa bình 
Nào dâng Chúa một khúc tân ca,
rập tiếng hoan hô, nhã nhạc vang lừng.

Vì lời CHÚA phán quả là ngay thẳng,
mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin.
Chúa yêu thích điều công minh chính trực,
tình thương CHÚA chan hoà mặt đất.
Một lời CHÚA phán làm ra chín tầng trời,
một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú.
Chúa dồn đại dương về một chỗ,
Người đem biển cả trữ vào kho.

Cả địa cầu phải kính sợ CHÚA,
mọi thế nhân hãy khiếp oai Người.
Vì Người đã phán, và muôn loài xuất hiện,
Người ra lệnh truyền, tất cả được dựng nên.
CHÚA đảo lộn chương trình muôn nước,
Người phá tan ý định chư dân.
Chương trình CHÚA ngàn năm bền vững,
ý định của lòng Người vạn kiếp trường tồn.

Hạnh phúc thay quốc gia được CHÚA làm Chúa Tể,
hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp.
Từ trời cao nhìn xuống, CHÚA thấy hết mọi người.
Từ thiên cung Chúa ngự, Chúa dõi theo người thế.
Lòng mỗi người, chính Chúa dựng nên,
việc họ làm, Chúa thông suốt cả.
7.  Lời Nguyện Kết

Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin Chúa hãy gìn giữ các môn đệ của Con Chúa khỏi những hư danh, khỏi những vinh hoa phù phiếm, và dẫn dắt họ trên bước đường đến với những người nghèo khó và bị áp bức của thế gian, để cho họ có thể nhận thấy trong những khuôn mặt ấy là khuôn mặt của Thầy Chí Thánh và Đấng Cứu Chuộc.  Xin hãy ban cho họ có mắt để có thể nhìn thấy những con đường của hòa bình và đoàn kết; có tai để nghe những lời cầu xin của lương tri và ơn cứu rỗi của rất nhiều người đang tìm kiếm bằng cảm giác; xin hãy làm phong phú trái tim của họ với lòng trung thành quảng đại và một tri giác và sự hiểu biết để họ có thể đi theo con đường và là những chứng nhân đích thực và chân thành cho sự vinh quang tỏa sáng trên Đấng đã chịu đóng đinh, đã phục sinh và chiến thắng. Người là Đấng hằng sống hằng trị vinh quang cùng với Đức Chúa Cha đến muôn thuở muôn đời.  Amen.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét