Trang

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

02-04-2017 : (phần II) CHÚA NHẬT V MÙA CHAY năm A

02/04/2017
Chúa Nhật 5 Mùa Chay năm A
(phần II)


Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật 5 Mùa Chay, năm A
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY A

(Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-45)

SỰ SỐNG THẦN LINH

“Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26)

***

I. CÁC BÀI ĐỌC

Sự sống thần linh phát xuất từ Thiên Chúa, được ban qua và trong Đức Giêsu, nhờ tác động của Thần Khí. Các bài đọc lời Chúa của Chúa Nhật V Mùa Chay cho thấy các khía cạnh khác nhau của sự sống thần linh đó.

1. Bài đọc 1

Thi hành sứ vụ ngôn sứ trong thời lưu đày ở Babylon, lúc dân Israel đang chán nản, thất vọng, ngôn sứ Êdêkien loan báo về một sự hồi sinh diệu kỳ mà Thiên Chúa sẽ thực hiện cho dân của Ngài.

Sống trong cảnh mất nước và phải chịu kiếp lưu đày, dân Israel mất hết niềm hy vọng; họ cảm thấy mình chỉ như những bộ xương khô không còn sự sống nằm trong huyệt mộ (x. Ed 37,11). Thiên Chúa sai ngôn sứ Êdêkien đến loan báo cho dân Israel biết rằng Thiên Chúa không hề bỏ rơi họ. Ngài sẽ mở huyệt, đưa họ ra khỏi mộ và ban cho họ thần khí của Ngài để họ được hồi sinh; đồng thời, Ngài sẽ mang họ trở về quê hương Israel, phục hưng họ thành một dân tộc độc lập và thống nhất.

Như thế, từ trong tột cùng thất vọng của sự chết, lời ngôn sứ Êdêkien đem lại niềm hy vọng lớn lao do dân Chúa, giúp họ được hồi sinh. Khi mà tự thân dân Israel hoàn toàn không còn khả năng phục hồi, thì quyền năng vô song của Thiên Chúa mới có sức mạnh tái sinh họ. Qua sự hồi sinh kỳ diệu này, dân Israel “sẽ nhận biết Ta là Đức Chúa” (Ed 37,13.14). Một lần nữa, dân Israel phải mở to mắt để nhận biết rằng chỉ mình Thiên Chúa là Đấng trung thành. Dù trong hoàn cảnh bi đát nhất, Ngài vẫn dõi theo từng bước chân của họ và chỉ có Ngài mới thật sự là Đấng cứu độ của họ.

Sứ điệp hy vọng của ngôn sứ Êdêkien vừa mang lại sự hồi sinh kỳ diệu cho dân Israel, vừa giúp họ nhận biết rằng Thiên Chúa luôn trung thành và sẽ ra tay cứu vớt họ, nên dù trong hoàn cảnh nào, họ hãy luôn trung tín với Thiên Chúa và đặt trọn niềm tin tưởng nơi Ngài.

2. Bài đọc 2

Thánh Phaolô phân biệt hai xu hướng đối nghịch nơi con người: hướng chiều về tính xác thịt và hướng chiều về Thần Khí; đồng thời, nhấn mạnh đến hậu quả của việc chọn lựa sống theo xác thịt hay Thần Khí.

Thánh Phaolô xác định rằng tính xác thịt thì nghịch cùng Thiên Chúa và những ai sống theo tính xác thịt thì không thể làm vừa lòng Ngài, vì hướng đi của tính xác thịt dẫn đến sự chết. Trái lại, hướng đi của Thần khí là sự sống và bình an (Rm 8,7). Ai có Thần Khí Đức Kitô thì thuộc về Người, mà ai thuộc về Người thì dù có chết vì tội lỗi đã phạm thì cũng được Thần Khí của Người ban cho sự sống.

Quả vậy, theo thánh Phaolô, thân xác không chỉ chết về thể lý mà còn chết về mặt thiêng liêng do hậu quả của tội (x. Rm 5,12). Chỉ có Thần Khí của Chúa Cha, Đấng đã làm cho Đức Giêsu chỗi dậy từ cõi chết, mới đem lại cho tội nhân ơn tha thứ và sự sống thiêng liêng ở đời này và nhất là sự phục sinh ở đời sau. Tất cả những ai tin vào Đức Giêsu và liên kết chặt chẽ với Người thì có Thần Khí của Người; Thần Khí xưa đã phục sinh Đức Giêsu thế nào, thì nay cũng tiếp tục ban sự sống cho các Kitô hữu như thế (Rm 8,11).

Tóm lại, tác giả thư Rôma xác tín rằng Thần Khí của Thiên Chúa là nguyên lý sự sống xưa đã phục sinh Đức Giêsu từ cõi chết và nay vẫn tiếp tục ban sự sống mới cho những ai tin vào Đức Giêsu, dù họ có chết vì tội lỗi đã phạm.

3. Bài Tin Mừng

Câu chuyện Chúa Giêsu cho anh Ladarô sống lại từ cõi chết minh chứng rằng chỉ mình Thiên Chúa mới là Đấng ban sự sống đích thực trong và qua Đức Giêsu, Con của Ngài.

Dù quý mến anh Ladarô, và thực sự thổn thức khi chứng kiến người ta thương khóc anh, nhưng Chúa Giêsu không vội vàng đến thăm khi nghe tin anh đau nặng. Người biết việc Người sắp làm không đơn thuần là tình cảm cá nhân; Người không chỉ đến để bày tỏ lòng quý mến nhưng qua việc cho Ladarô sống lại, Chúa Giêsu còn cho thấy quyền năng của Thiên Chúa trên sự chết. Điều quan trọng là Thiên Chúa được tôn vinh cùng với Đức Giêsu, Con của Ngài (x. Ga 11,4).

Quả vậy, dù hai chị em cô Mácta và Maria hiểu lòng quý mến mà Chúa Giêsu dành cho gia đình họ đến nỗi Người không nỡ để Ladarô phải chết (Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết), nhưng Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa khi cho họ thấy rằng nếu họ tin vào Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian (x. Ga 11,27) thì sẽ được thấy vinh quang Thiên Chúa (11,40). Nếu họ tin vào Đức Giêsu thì dù anh Ladarô đã chết thật sự về mặt thể lý (11,39), Người vẫn cho anh sống lại để vinh quang và quyền năng của Thiên Chúa được tỏ hiện.

Chúa Giêsu thật là sự sống, và là sự sống lại, nên những ai tin vào Người thì luôn có sự sống của Người. Vì thế, dù có chết về mặt thân xác thì vẫn có sự sống thần linh nơi mình. Sự sống thần linh này là bảo đảm cho sự phục sinh mai sau, lúc con người sẽ không bao giờ phải chết nữa (x. Ga 11,25-26).

II. GỢI Ý MỤC VỤ

1/ Sứ điệp của ngôn sứ Êdêkien cho dân Israel đang chịu cảnh lưu đày mang lại niềm hy vọng lớn lao cho họ về một cuộc hồi hương. Họ phải nhận ra rằng chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền năng mang lại sự hồi sinh cho họ, và rằng Thiên Chúa, Đấng luôn trung thành, sẽ ra tay cứu vớt họ, nên dù trong hoàn cảnh nào, họ hãy luôn trung tín với Thiên Chúa và đặt trọn niềm tin tưởng nơi Ngài. Trong những khi tưởng như chán nản, thất vọng nhất, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con cái Ngài. Thiên Chúa sẽ kịp can thiệp để con cái ngài được hồi sinh. Tôi có xác tín như vậy không?

2/ Thánh Phaolô cho thấy sự đối nghịch giữa việc sống theo tính xác thịt thì dẫn tới sự chết và sống theo Thần Khí mới hướng đến sự sống. Ngài xác tín rằng Thần Khí của Thiên Chúa là nguyên lý sự sống xưa đã phục sinh Đức Giêsu từ cõi chết và nay vẫn tiếp tục ban sự sống mới cho những ai tin vào Đức Giêsu, dù họ có chết vì tội lỗi đã phạm. Tôi đang để cho Thần Khí hướng dẫn đời mình hay đang để cho tính xác thịt lôi kéo?

3/ Câu chuyện Chúa Giêsu cho anh Ladarô sống lại từ cõi chết là một minh chứng rõ ràng rằng chỉ mình Thiên Chúa mới là Đấng ban sự sống đích thực trong và qua Con của Ngài là Đức Giêsu. Những ai tin vào Đức Giêsu thì dù có chết về mặt thể xác vẫn được Người ban cho sự sống thần linh là bảo đảm cho sự phục sinh mai sau. Tôi có tin chắc chắn vào Đức Giêsu là Đấng ban sự sống đích thực cho tôi, để được chia sẻ sự sống thần linh của Người ở đời này, và thông phần sự phục sinh của Người mai sau?

III. LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa đã ban cho tất cả chúng ta một đời sống mới trong Đức Giêsu Kitô, Đấng là sự sống lại và là sự sống. Trong tâm tình tri ân và phó thác, cộng đoàn chúng ta cùng tha thiết dâng lời cầu nguyện.

1. Khi chứng kiến việc Chúa Giêsu làm, nhiều người Do thái đã tin vào Người. Chúng ta hiệp ý cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô cùng các vị chủ chăn trong Hội Thánh, qua hoạt động mục vụ và đời sống chứng tá của mình, tiếp tục củng cố đức tin của Dân Chúa và đem nhiều người đến với Đức Kitô.

2. Bà Martha thưa với Chúa Giêsu: “Con tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Chúng ta hiệp ý cầu nguyện cho những người đang gặp đau khổ, thất bại hay bế tắc trong cuộc sống, tìm được nơi Đức Kitô niềm an ủi và hy vọng, để luôn biết tín thác và sống lạc quan trước mọi nghịch cảnh hiện tại.

3. “Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa”. Chúng ta hiệp ý cầu nguyện cho những người nghiện ngập: hút sách, cờ bạc, rượu chè, hay đang mê muội vì những đam mê bất chính, biết từ bỏ con đường lầm lạc và quyết tâm canh tân đời sống theo sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần.

4. Ai tin thì sẽ được xem thấy vinh quang của Thiên Chúa. Chúng ta hiệp ý cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta, biết đặt trọn niềm tin vào Chúa Kitô, Đấng là sự sống lại và là sự sống, luôn trung thành bước theo và hăng say làm chứng cho Chúa, để xứng đáng được chia sẻ vinh quang cùng với Người.

Chủ tế: Lạy Thiên Chúa là Cha và là Đấng cứu độ chúng con, xin thương nhậm lời chúng con cầu nguyện và ban ơn trợ giúp, để chúng con luôn vững lòng tin tưởng vào tình thương của Chúa và không ngừng canh tân đời sống trong Đức Kitô. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.


SCĐ CHÚA NHỰT V MC A

CHỦ ĐỀ :

THEO CHÚA SẼ TỚI ĐƯỢC SỰ SỐNG

"Ta là sự sống lại và là sự sống" (Ga 11,25)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc Cựu Ước : Thiên Chúa cho dân Ngài sống lại.

- Bài Tin Mừng : Đức Giêsu làm cho Ladarô sống lại.

- Bài đọc Tân Ước : Thánh Thần ban sự sống cho mọi xác phàm.



I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Chúng ta đang ngày càng đi sâu vào Mùa Chay. Trong thời gian này, nhiều tín hữu đã sám hối trở lại cùng Chúa, nhiều dự tòng đang chuẩn bị đón nhận cuộc sống mới. Chúng ta có thực sự tin rằng Đức Giêsu Kitô đã chết và sống lại vì chúng ta không ?

Hy vọng rằng qua Thánh lễ này Ngài sẽ ban thêm đức tin cho chúng ta, một đức tin đủ mạnh để chúng ta can đảm đối diện với những khó khăn trong cuộc sống này và dẫn chúng ta đến cõi sống muôn đời.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúng ta là những người tội lỗi vì đã nhiều lần hoài nghi tình thương của Chúa khi chúng ta gặp những khó khăn trong cuộc sống.

- Chúng ta là những người tội lỗi vì đã coi trọng sự sống phần xác hơn sự sống linh hồn.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc Cựu Ước : Êd 37,12-14

- Dân Israel đang bị lưu đày bên Babylon, tâm trạng chán chường tuyệt vọng. Họ nói "Xương chúng tôi đã khô. Hy vọng tiêu ma". Nói "xương" nhưng phải hiểu là toàn thể con người. Cho nên câu này có 2 nghĩa : a/ Họ bị chết về tinh thần : hoàn toàn tuyệt vọng rồi. b/ Thân xác của họ cũng như chết luôn, vì sống nô lệ thì cũng như chết mà thôi.

- Thiên Chúa bảo ngôn sứ Êdêkien an ủi họ : "Ta sẽ đem các người lên khỏi mồ, hỡi dân Ta. Ta sẽ dẫn các ngươi về lại thửa đất của Israel... Ta sẽ ban Thần khí của Ta xuống trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống". Câu này là một lời tiên tri hứa ban sự phục sinh và cũng mang 2 nghĩa : a/ Phục sinh tinh thần : họ sẽ được hồi hương ; b/ Phục sinh thể xác.

- Lịch sử sau này cho thấy Thiên Chúa đã thực hiện ý nghĩa thứ nhất : họ đã được hồi hương vào năm 539. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu sẽ thực hiện luôn ý nghĩa thứ hai.

2. Đáp ca : Tv 129

Trong cơn gian nan, tác giả Thánh vịnh tưởng như mình bị rơi xuống một vực thẳm tối tăm. Tác giả còn tưởng mình như đã chết. Nhưng tác giả tin tưởng Thiên Chúa sẽ kéo mình lên và ban lại cho mình sự sống.

3. Bài Tin Mừng : Ga 11,1-45

- Đức Giêsu thực hiện lời hứa phục sinh theo nghĩa thứ hai : phục sinh thể xác.

- Việc cứu sống Ladarô là sự phục sinh thể xác cho chính Ladarô, và còn báo trước sự phục sinh thể xác của Đức Giêsu và của mọi người.

- Hai bài đọc Cựu Ước và Tân Ước cho thấy : Thiên Chúa "là sự sống lại và là sự sống" (câu 25a) ; và "ai tin vào Ngài thì dù đã chết cũng sẽ được sống" (câu 25b).

4. Bài Thánh Thư : Rm 8,8-11

Thánh Phaolô triển khai giáo lý về sự sống :

- "Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần khí chi phối" (c 9) : con người có hai sự sống : sự sống theo xác thịt và sự sống theo Thần khí. Sự sống theo Thần khí quan trọng hơn.

- "Nếu Đức Kitô ở trong anh em thì dù thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần khí cũng ban cho anh em được sống" (c 10)

- "Đấng đã làm cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần khí của Ngài đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới" (c 11) : sự sống thần khí có thể chết vì tội, nhưng có thể sống lại nhờ Thiên Chúa.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Sự sống của thể xác :

- Hầu hết những quan tâm của chúng ta đều là lo cho cuộc sống thể xác : ăn uống, tiền bạc, thuốc men, sung sướng. Và rất nhiều tội ta phạm cũng vì quá lo cho cuộc sống thể xác này.

- Thánh Phaolô nói sự sống thần khí quan trọng hơn sự sống thể xác ; và chúng ta vẫn tuyên xưng "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại". Nhưng hình như ta không sống đúng theo niềm tin ấy. Nếu ta thực sự tin như thế thì :

Ta đâu có quá sợ chết

Ta đâu có quá bám víu vào những thứ nuôi cuộc sống thân xác này

- Đức Giêsu nói "Ai dám liều bỏ sự sống (thể xác) thì sẽ được sự sống đời đời".

2. Sự sống thần linh :

- Được ban ngày ta lãnh nhận bí tích Rửa tội.

- Được lớn dần lên nhờ cầu nguyện, nhờ Thánh Thể, nhờ kết hợp với Chúa hàng ngày.

- Ta có lo bồi dưỡng nó không ?

3. Lời cầu nguyện của Đức Giêsu trước mồ Ladarô đáng ta bắt chước :

- Thông thường, thứ tự của lời ta cầu xin là : a/ Trình bày nhu cầu của mình ; b/ Xin Chúa giúp ; c/ Nếu được Chúa ban thì ta cám ơn. Thứ tự lời Đức Giêsu cầu nguyện ngược hẳn lại : a/ Tạ ơn "Lạy Cha, con cảm tạ Cha" (c 41a) ; b/ Không cần trình bày yêu cầu (vì hiểu ngầm Chúa Cha đã biết) ; c/ Tin chắc lời xin của mình đã được nhậm lời "vì cha đã nhậm lời con" (c 41b).

- Tại sao ? Đức Giêsu và Chúa Cha kết hợp mật thiết nên một : Đức Giêsu muốn cũng là Chúa Cha muốn, người xin cũng là người ban, nên chắc chắn lời xin sẽ được thực hiện.

- Chúng ta có được như thế không ? Được, nếu như ta cũng kết hợp mật thiết với Đức Giêsu và qua Ngài với Chúa Cha, và do đó ta chỉ muốn điều Chúa muốn.

* Mùa Chay chuẩn bị chúng ta chia sẻ cuộc phục sinh của Đức Giêsu. Cuộc sống thần linh của chúng ta có thể đã chết hay chưa sống dồi dào. Ta hãy kết hợp với Đức Giêsu mà xin được phục sinh. Và hãy tin chắc ta sẽ được, miễn là ta thực sự muốn mình phục sinh.

4. Một người bạn đặc biệt

Đức Giêsu là bạn thân thiết của Ladarô. Điều này hiển nhiên vì chính Ngài đã khóc trước mồ Ladarô, và dân chúng hôm đó đã xác nhận như thế ("Kìa xem, ông ta thương Ladarô biết mấy").

Nhưng dù vậy, Ngài đã không làm gì để ngăn chận Ladarô khỏi chết : "Sau khi được tin ông Ladarô lâm bệnh, Ngài còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở". Thái độ của Ngài đã khiến Matta phiền trách : "Nếu có Thầy ở đây thì em con đã không chết". Chúng ta cũng giống Matta : khi gặp gian nan, thử thách, khổ đau, chúng ta bị cám dỗ phiền trách Chúa, thậm chí nói phạm tới Ngài.

Tuy nhiên, không ngăn chận Ladarô khỏi chết không có nghĩa là để cho ông đi vào ngõ cụt, không có nghĩa là không cứu sống ông. Bài đọc I hôm nay cho thấy Thiên Chúa cũng hành xử như thế đối với dân Israel : Ngài không ngăn chận những diễn biến tất nhiên phải đến theo lôgic lịch sử cứu độ : họ đã bất trung, đã băng hoại nên đất nước họ sụp đổ, họ phải đi lưu đày. Thế nhưng con đường đó không phải là con đường dẫn đến ngõ cụt mà là con đường cứu độ : cuối cùng thì Israel đã được hồi hương và Ladarô được sống lại. Khoảng thời gian "chết" của Israel và của Ladarô chính là thời gian người ta học được rất nhiều bài học quý giá. Tác giả Tv 116 đã hiểu thế nên đã hát lên : "Quý thay trước mắt Yavê, cái chết của những ai thành tín với Ngài" (Tv 116,15).

5. Chết và sống

Chết và sống liên đới chặt chẽ với nhau : Đức Giêsu đã làm cho Ladarô sống lại. Nhưng chính sự sống lại của ông lại là cớ khiến Đức Giêsu phải chết (x. Ga 11,47-50 : sau chuyện này, Thượng Hội Đồng do thái quyết định giết Đức Giêsu).

Chúa chết để chúng ta được sống.

Phần tội lỗi trong con người chúng ta phải chết để cho phần thần linh sống mạnh.

"Ai muốn cứu mạng sống mình (mạng sống thể xác) thì sẽ mất mạng sống (mạng sống thần linh) ; còn ai liều mất mạng sống mình (mạng sống thể xác) vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống (mạng sống thần linh)" (Mt 16,25).

6. Giêsu là ai ?

Là một nhà diễn thuyết hấp dẫn : "Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Ngài, vì Ngài giảng dạy như một đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư" (Mc 1,21).

Là một vĩ nhân đầy quyền phép : "Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau : Thế nghĩa là gì ?.. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh" (Mc 1,27).

Nhưng không phải chỉ có thế, bài Tin Mừng này cho ta biết thêm Ngài chính là sự sống : "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin Ta thì sẽ không phải chết bao giờ" (câu 25-26). Sau khi tuyên bố như thế, Đức Giêsu hỏi Matta : "Con có tin như thế không ?" (câu 27). Đó cũng chính là câu Ngài hỏi chúng ta.

7. Tôi tin vào sự chết

Tôi tin vào sự chết

Tôi tin rằng sự chết là một phần của sự sống

Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, chết để có thể sống trọn vẹn hơn.

Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, mỗi ngày chết một phần : một phần ích kỷ, một phần tự phụ, một phần tội lỗi.

Tôi tin rằng mỗi khi chúng ta bước từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của cuộc đời, thì đều có một cái gì đó chết đi và một cái gì đó mới sinh ra.

Tôi tin rằng chúng ta nếm mùi sự chết trong những lúc cô đơn, phiền muộn, thất vọng, thất bại, bị ruồng bỏ.

Tôi tin rằng mỗi ngày chính chúng ta tạo ra cái chết cho mình bằng cung cách chúng ta sống.

Với đức tin của người tín hữu, tôi tin rằng cái chết không dập tắt được ánh sáng, mà chỉ là tắt đèn đi ngủ (Anon, "I believe in death")

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Đức Giêsu là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Người thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Người thì sẽ không bao giờ phải chết. Tin tưởng vào mầu nhiệm kẻ chết sống lại, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1- Đức Kitô đã hiến mình trên thập giá / lấy máu cùng nước từ cạnh sườn mà thanh tẩy và thánh hoá Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh không ngừng canh tân / và mãi mãi tinh tuyền / nhờ lòng thống hối ăn năn.

2- Chết chóc gây ra biết bao cảnh chia ly làm tan nát cõi lòng / đem đến vô vàn đau khổ cho những người còn đang sống / lắm lúc còn làm cho đức tin của người kitô hữu bị lung lay dữ dội / Chúng ta hiệp lời cầu xin / cho những anh chị em đang gặp tang tóc buồn phiền / biết luôn vững tin vào tình thương và sự quan phòng của Chúa.

3- Đối với người kitô hữu / chết không phải là hết mà là bước sang một thế giới khác / và cuộc sống trần gian hôm nay quyết định số phận mai ngày của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết tích cực chuẩn bị cho cuộc sống đời sau / bằng một nếp sống thắm đượm tình bác ái yêu thương.

4- "Vui với người vui và khóc với người khóc" / phải là những việc làm thường xuyên của người kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng sống theo lời dạy của vị tông đồ dân ngoại.

CT : Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương nhân loại, Chúa đã hiến thân chịu khổ hình thập giá. Xin ban ơn trợ giúp để chúng con biết noi gương Chúa mà hết lòng yêu thương anh chị em chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Có người cha nào mà không thương con mình ? Huống chi Thiên Chúa, người Cha vừa nhân lành vừa quyền năng của chúng ta. Chúng ta hãy hết lòng tin tưởng dâng lên Ngài những lời nguyện xin của chúng ta.

VII. GIẢI TÁN

Đức Giêsu là sự sống lại và là sự sống. Chúc anh chị em ra về bình an trong niềm tin tuyệt vời ấy.

Lm.Carolo HỒ BẶC XÁI

Lectio Divina: Chúa Nhật V Mùa Chay (A)
Chúa Nhật, 2 Tháng 4, 2017


Sự sống lại của Lagiarô
Trong “Nhà của người Nghèo Khó”
Chúa Giêsu mặc khải chính Người là nguồn mạch của sự sống
Ga 11:1-45

1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy sai Thần Khí Chúa đến giúp chúng con đọc Kinh Thánh với cùng tâm tình mà Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường đi Emmau.   Trong ánh sáng của Lời Chúa, được viết trong Kinh Thánh, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi đau buồn về bản án và cái chết của mình.  Vì thế, cây thập giá tưởng như là sự kết thúc của mọi niềm hy vọng, đã trở nên nguồn mạch của sự sống và sự sống lại.

Xin hãy tạo trong chúng con sự thinh lặng để chúng con có thể lắng nghe tiếng Chúa trong sự Tạo Dựng và trong Kinh Thánh, trong các sự việc của đời sống và trong những người chung quanh, nhất là nơi những người nghèo khó và đau khổ.  Nguyện xin Lời Chúa hướng dẫn chúng con để cũng giống như hai môn đệ từ Emmau, chúng con cũng sẽ hưởng được sức mạnh sự phục sinh của Chúa và làm chứng cho những người khác rằng Chúa đang sống hiện hữu giữa chúng con như nguồn mạch của tình anh em, công lý và hòa bình.  Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu, con Đức Maria, Đấng đã mặc khải cho chúng con về Chúa Cha và đã sai Chúa Thánh Thần đến với chúng con.  Amen.


2.  Bài Đọc:  Ga 11:1-45

a)  Chìa khóa để hướng dẫn bài đọc:

Chúng ta hãy đọc bài Tin Mừng, trong đó mô tả sự sống lại của Lagiarô.  Trong lúc đọc, hãy cố gắng theo chân nhóm người, các môn đệ đi theo Chúa Giêsu từ xứ Galilê đến làng Bêtania.  Bạn phải chăm chú theo dõi tất cả các sự việc, bắt đầu từ lúc việc em trai các bà Máctha và Maria lâm bệnh được loan báo đến tai Chúa Giêsu, lúc Người đang ở Galilê, cho đến lúc Lagiarô sống lại.  
  
b)  Phân đoạn bài Tin Mừng để trợ giúp cho bài đọc cặn kẽ:

Ga 11:1-16:  Chúa Giêsu nghe tin và chuẩn bị lên đường đến Bêtania để làm cho Lagiarô sống lại.
Ga 11:17-31:  Chúa Giêsu gặp gỡ hai chị em Máctha và Maria và lời tuyên xưng đức tin của bà Máctha.
Ga 11:32-35:  Phép lạ tuyệt vời việc sống lại của Lagiarô.

c)  Phúc Âm:

1-16:  Khi ấy, có một người đau liệt tên là Lagiarô, ở Bêtania, làng quê của Maria và Máctha.  Maria chính là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người.  Em trai bà là Lagiarô lâm bệnh.  Vậy hai chị em sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng:  “Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt.”  Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo:  “Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển.”  Chúa Giêsu thương Máctha và em là Maria và Lagiarô.  Khi hay tin ông này đau liệt.  Người còn lưu lại đó hai ngày.  Rồi Người bảo các môn đệ:  “Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa.”  Các môn đệ thưa:  “Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư?”  Chúa Giêsu đáp:  “Một ngày lại chẳng có mười hai giờ sao?  Nếu ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì người ta thấy ánh sáng mặt trời; nhưng kẻ đi ban đêm sẽ vấp ngã vì không có ánh sáng.”  Người nói thế, rồi lại bảo họ:  “Lagiarô bạn chúng ta đang ngủ, dầu vậy Ta đi đánh thức ông.”  Các môn đệ thưa:  “Thưa Thầy, nếu ông ta ngủ, ông sẽ khỏe lại.”  Chúa Giêsu có ý nói về cái chết của Lagiarô, nhưng các môn đệ lại nghĩ Người nói về giấc ngủ.  Bấy giờ Chúa Giêsu mới nói rõ:  “Lagiarô đã chết.  Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó để các con tin.  Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông.”  Lúc đó, Tôma – cũng có tên là Điđimô – nói với đồng bạn:  “Chúng ta cũng đi để cùng chết với Người.”
17-31:  Đến nơi, Chúa Giêsu thấy Lagiarô đã được an táng bốn ngày rồi.  Bêtania chỉ cách Giêrusalem chừng mười lăm dặm.  Nhiều người Do Thái đến nhà Máctha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết.  Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Máctha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà.  Máctha thưa Chúa Giêsu:  “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết.  Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy.”  Chúa Giêsu nói:  “Em con sẽ sống lại.”  Máctha thưa:  “Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con sẽ sống lại.”  Chúa Giêsu nói:  “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống.  Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ.  Con có tin điều đó không?  Bà thưa:  “Thưa Thầy: vâng con đã tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian.”  Nói xong, bà về gọi Maria, em gái bà, và nói thầm với em rằng:  “Thầy ở ngoài kia, Thầy gọi em.”  Nghe vậy, Maria vội vàng đứng dậy và đi đến cùng Chúa.  Vì lúc đó Chúa Giêsu chưa vào làng; Người còn đang đứng ở nơi Máctha đã gặp Người.  Những người Do Thái cùng ở trong nhà với Maria và an ủi bà, khi thấy bà vội vã đứng dậy ra đi, họ cũng đi theo bà, tưởng bà đi ra khóc ngoài mộ.
32-45:  Vậy khi Maria đến chỗ Chúa Giêsu đứng, thấy Người, bà liền sấp mình xuống dưới chân Người và nói:  “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây, thì em con không chết.”  Khi thấy bà khóc nức nở và những người Do Thái theo bà cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thức và xúc động.  Người hỏi:  “Đã an táng Lagiarô ở đâu?”  Họ thưa:  “Thưa Thầy, xin đến mà xem.”  Chúa Giêsu rơi lệ.  Người Do Thái liền nói:  “Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao.”  Nhưng có mấy kẻ trong đám nói:  “Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?”  Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ.  Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên.  Chúa Giêsu bảo:  “Hãy đẩy tảng đá ra.”  Máctha là chị người chết, thưa:  “Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày.”  Chúa Giêsu lại nói:  “Ta đã chẳng bảo con rằng:  Nếu con tin thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?”  Thế là người ta cất tảng đá ra.  Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói:  “Lạy Cha, con cảm tạ Cha đã nhậm lời con.  Con biết:  Cha hằng nghe lời con.  Nhưng con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai con.”  Nói rồi, Người kêu lớn tiếng:  “Lagiarô!  Hãy ra đây!”  Người  đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm.  Chúa Giêsu bảo:  “Hãy cởi cho anh ấy đi.”  Một số người Do Thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người.
 
3.  Giây phút cầu nguyện trong thinh lặng

Để Lời Chúa có thể thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta.

4.  Một vài câu hỏi gợi ý

Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.

a)  Điều gì đã thu hút sự chú ý của bạn nhất trong câu chuyện rất chi tiết này?  Tại sao?
b)  Đâu là điểm trọng tâm và quan trọng nhất của toàn bộ câu chuyện?  Tại sao?   
c)  Thái độ của các môn đệ ra sao?  Họ đã nói gì và làm gì?
d)  Thái độ của bà Máctha và Maria ra sao?  Họ đã nói gì và làm gì? 
e)  Các người Do Thái có thái độ như thế nào?  Họ đã nói gì, làm gì và dự tính gì?
f)   Bạn có thể nhận thấy mình giống ai nhất:  các môn đệ, hai chị em bà Máctha, hay những người Do Thái, hoặc không một ai trong số những người này?
g)  Bạn đã có bao giờ trải qua những lần tuyệt vọng và hy vọng, sự sống và cái chết lẫn lộn trong suy nghĩ của bạn chưa?  Trong những lần như thế, điều gì đã giúp bạn giữ được đức tin?
h)  Ngày nay Lagiarô sống lại như thế nào?  Sự sống lại ngày nay xảy ra như thế nào, cho người nghèo khó sự sống mới như thế nào?
                                                                                                                                                                               
5.  Ý chính của bài đọc

Dành cho những ai muốn đào sâu hơn vào bài Tin Mừng

·         Sự khác biệt giữa Tin Mừng của thánh Gioan và của ba tác giả Tin Mừng kia.

*  Một so sánh để hiểu được sự khác biệt giữa ảnh chụp và ảnh quang tuyến X.  Bạn đang tự hỏi trước vẻ đẹp của thiên nhiên vào một buổi rạng đông.  Bạn nhìn và chiêm ngưỡng những gì mà mắt bạn trông thấy.  Đây là một bức ảnh!  Bên cạnh bạn, một người bạn nói với bạn:  “Bạn có nhận thấy đám mây nhỏ đó đã đổi sang một màu rực rỡ như thế nào không?  Tình bạn của chúng ta cũng như thế!”  Cô bạn ấy đã nhìn thấy xa hơn những gì đôi mắt ta đang nhìn thấy. Đây là bức ảnh quang tuyến-X.  Tình yêu và niềm tin vào người khác đã mở rộng tầm mắt của cô ta.  Tin Mừng của thánh Gioan là như thế; đó là Tin Mừng của người môn đệ yêu dấu.  Ông dạy chúng ta cách đọc các quyển Tin Mừng khác và khám phá ra trong đó một chiều sâu hơn.  Ba quyển Tin Mừng kia chụp lại hình ảnh của các phép lạ.  Gioan chụp hình quang tuyến và tiết lộ ý thức sâu sắc của ông về Thiên Chúa, điều mà chỉ có đức tin mới có thể trông thấy việc làm của Chúa Thánh Thần (Ga 14:26; 16:19).

*  Ví dụ, các sách Phúc Âm Nhất Lãm đề cập đến hai mươi tám phép lạ khác nhau.  Phúc Âm của thánh Gioan chỉ đề cập đến bảy và ông gọi đó là “những dấu lạ”.  Trong số bảy dấu lạ, chỉ có ba là được tìm thấy trong các sách Phúc Âm Nhất Lãm.  Còn bốn dấu lạ kia được dành riêng trong Tin Mừng của Gioan:  tiệc cưới ở Cana (Ga 2:1-11), việc chữa lành người bệnh tê liệt tại hồ Silôe (Ga 5:1-9), việc chữa lành người mù từ thuở mới sinh (Ga 9:1-7), và sự sống lại của Lagiarô (Ga 11:1-44).  Trong cách ông trình bày những “dấu lạ” này, Gioan không chỉ đơn giản thuật lại phép lạ.  Ông khai triển các sự kiện để chúng biểu lộ Chúa Giêsu như là sự mặc khải của Chúa Cha.  Tin Mừng của thánh Gioan cố gắng soi sáng lời nói của Chúa Giêsu:  “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9).  Khi chúng ta soi lên ánh sáng hình quang tuyến-X của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Gioan, chúng ta sẽ thấy diện mạo của Chúa Cha.
      
·          Sự sống lại của Lagiarô trong giản đồ của Tin Mừng theo thánh Gioan

*  Giản đồ của bảy dấu lạ:
Dấu lạ thứ nhất:  tiệc cưới tại Cana (Ga 2:1-12)
Dấu lạ thứ hai: chữa lành con của một sĩ quan cận vệ nhà vua (Ga 4:46-54)
Dấu lạ thứ ba:  chữa lành người bị bệnh bất toại (Ga 5:1-18)
Dấu lạ thứ tư:  hóa bánh ra nhiều (Ga 6:1-15)
Dấu lạ thứ năm:  Chúa Giêsu đi trên nước (Ga 6:16-21)
Dấu lạ thứ sáu:  chữa lành người mù từ thuở mới sinh (Ga 9:1-40)
Dấu lạ thứ bảy:  Lagiarô sống lại (Ga 11:1-44)

Dấu lạ vĩ đại là GIỜ KHẮC vinh quang của Chúa Giêsu.

*  Bảy dấu lạ là bảy dấu biểu hiện trước sự vinh quang của Chúa Giêsu sẽ xảy ra tại thời điểm cuộc thương khó, cái chết và sự phục sinh của Người.  Mỗi dấu lạ tượng trưng cho một khía cạnh về ý nghĩa của sự thương khó, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu vì chúng ta.  Đó là sự “suy gẫm ngày đêm” qua Lectio Divina hay Đọc Sách Thánh Trong Tinh Thần Cầu Nguyện mà chúng ta sẽ khám phá ra ý nghĩa này, nó sẽ làm phong phú thêm cho đời sống chúng ta.

*  Việc sống lại của Lagiarô, dấu lạ thứ bảy, mở đường cho Giờ sắp đến, giờ Con Người được tôn vinh diễn ra qua cái chết (Ga 12:23; 17:1).  Một trong những lý do tại sao Đức Giêsu bị lên án sẽ là việc sống lại của Lagiarô (Ga 11:50; 12:10).  Vì thế dấu lạ thứ bảy sẽ là dịp để làm vinh danh Thiên Chúa (Ga 11:4):  “Bệnh này không đến nỗi chết nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển”.  Các môn đệ không thể hiểu được điều này (Ga 11:6-8).  Nhưng cho dù họ không hiểu, họ sẵn sàng để đi và cùng chết với Chúa Giêsu (Ga 11:16).  Sự hiểu biết của họ tuy mơ hồ, nhưng đức tin của họ rõ ràng.

·         Ý nghĩa sự sống lại của Lazarô

*  Tại làng Bêtania:  Mọi việc xảy ra tại Bêtania, một ngôi làng nhỏ bé ở chân Núi Cây Dầu, gần thành Giêrusalem.  Trong câu chuyện, gia đình của Lagiarô, nơi Chúa Giêsu thường lui tới, là một tấm gương cho cộng đoàn của người Môn Đệ Chúa Yêu vào cuối thế kỷ đầu tiên.  Đây cũng là tấm gương cho các cộng đoàn chúng ta.  Bêtania có nghĩa là “Nhà của Người Nghèo”.  Máctha có nghĩa là “Bà Quản” (điều hợp viên); người phụ nữ phối hợp trong cộng đoàn.  Lagiarô nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng phù trợ” cộng đoàn người nghèo khó, đã trông mong tất cả từ Thiên Chúa.  Maria nghĩa là “người thân yêu của Thiên Chúa”, hình ảnh của cộng đoàn.  Câu chuyện sống lại của Lagiarô muốn truyền đạt điều chắc chắn này:  Chúa Giêsu mang lại sự sống cho cộng đoàn người nghèo; Người là nguồn mạch của sự sống cho những ai tin vào Người.

*  Giữa sự sống và cái chết:  Lagiarô đã chết.  Nhiều người Do Thái đến nhà Máctha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết.  Những người đại diện Cựu Ước không mang lại sự sống mới.  Họ chỉ có thể an ủi.  Chúa Giêsu là Đấng mang lại sự sống mới!  Trong sách Tin Mừng theo thánh Gioan, chính những người Do Thái cũng là những kẻ muốn giết Chúa Giêsu (Ga 10:31).  Vì thế, chúng ta có một bên là mối đe dọa muốn sát hại Chúa Giêsu, và bên kia là Chúa Giêsu đến để chiến thắng sự chết!  Trong bối cảnh của cuộc xung đột giữa sự sống và cái chết là dấu lạ thứ bảy việc sống lại của Lagiarô, về sự chiến thắng cái chết, đã xảy ra.

*  Hai cách tin vào sự sống lại:  Trung tâm điểm là sự tương phản giữa phương cách cũ tin vào việc sống lại vào ngày sau hết và đường hướng mới được mang tới bởi Chúa Giêsu cho đến ngày nay, là chinh phục cái chết.  Bà Máctha, những người Biệt Phái và phần lớn dân chúng đã tin có sự sống lại (Cv 23:6-10; Mc :12:18).  Họ đã tin, nhưng không tỏ lộ nó, vì đức tin của họ là chỉ tin rằng có sự sống lại vào ngày tận thế và không tin có sự sống lại tại đây và bây giờ.  Sự sống lại ấy đã không làm mới đời sống.  Một mắt xích đã bị thiếu.  Cuộc sống mới của sự phục sinh đến cùng với Chúa Giêsu.

*  Lời tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu và tuyên xưng đức tin vào sự sống:  Chúa Giêsu đòi hỏi bà Máctha thực hiện điều đó.  Nếu chỉ tin vào sự Phục Sinh ở ngày tận thế thì chưa đủ, chúng ta phải tin tưởng rằng Sự Phục Sinh đã hiện diện ở đây hôm nay trong con người của Chúa Giêsu và trong những ai tin vào Người.  Cái chết không còn làm chủ những người ấy, bởi vì Chúa Giêsu là “sự sống lại và là sự sống”.  Và, bà Máctha, mặc dù vẫn chưa nhìn thấy một dấu hiệu chắc chắn về sự sống lại của Lagiarô, đã tuyên xưng đức  tin của mình:  “Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian này.” 

*  Con người, rất con người, bình đẳng với chúng ta trong mọi sự:  Sau khi tuyên xưng đức tin, bà Máctha về gọi Maria, em gái bà.  Maria đi đến gặp Chúa.  Bà lặp lại câu nói của bà Máctha:  “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây, thì em con không chết” (Ga 11:21).  Bà Maria khóc, mọi người theo bà cũng khóc.  Chúa Giêsu xúc động.  Khi người nghèo khóc, Chúa Giêsu xúc động và rơi lệ.  Khi thấy Chúa Giêsu khóc, những người Do Thái đã nói:  “Kìa, xem ông ấy thương Lagiarô biết bao!”  Đây là đặc điểm của cộng đoàn người Môn Đệ Chúa Yêu:  tình yêu giữa Chúa Giêsu và các thành viên của cộng đoàn.  Một số người không tin và một số vẫn còn hồ nghi:  “Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không thể làm cho làm được cho người này khỏi chết ư?”  Lẩn thứ ba, Chúa Giêsu đã thổn thức (Ga 11:33, 35, 38).  Vì thế, thánh Gioan nhấn mạnh đến bản tính loài người của Chúa Giêsu với những người mà vào cuối thế kỷ thứ nhất, đã thiêng liêng hóa đức tin và phủ nhận bản tính con người của Chúa Giêsu.

*  Đối với chúng ta, chỉ còn việc đẩy tảng đá ra để Thiên Chúa có thể ban sự sống lại cho chúng ta:  Chúa Giêsu bảo hãy đẩy tảng đá ra.  Bà Máctha thốt lên:  “Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày!”  Một lần nữa, Chúa Giêsu thách đố bà nhớ lại đức tin vào sự phục sinh, tại đây và lúc này, như một dấu chỉ sự vinh quang của Thiên Chúa:  “Ta đã chẳng bảo con rằng:  Nếu con tin thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?”  Thế là người ta cất tảng đá ra.  Đứng trước ngôi mộ được mở và trước sự nghi ngờ của những người đang đứng đó, Chúa Giêsu ngước nhìn lên Chúa Cha.  Trước hết, Người tạ ơn Chúa Cha:  “Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con.  Con biết Cha hằng nghe lời Con”.  Cha của Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa Đấng luôn nhậm lời kêu xin của người nghèo (Es 2:24; 3:7).  Chúa Giêsu biết Chúa Cha và tin tưởng nơi Người.  Nhưng bây giờ Người xin một dấu lạ vì những người đứng quanh đó, để họ có thể tin rằng Người, Chúa Giêsu, được Chúa Cha sai đến.  Sau đó, Người kêu lớn tiếng:  “Lagiarô!  Hãy ra đây!”  Và Lagiarô bước ra.  Đây là chiến thắng của sự sống đối với cái chết, của đức tin đối với những kẻ không tin!  Một người nông dân trong đất Ba-Tây đã nói:  “Điều tùy thuộc vào chúng ta là phải cất tảng đá ra!  Để Thiên Chúa làm sống lại cộng đoàn.  Có những người không muốn đẩy tảng đá đi, và do đó, trong cộng đoàn của họ không có sự sống!”

6.  Thánh Vịnh 16 (15): 

Muôn đời Thiên Chúa là phần gia nghiệp của chúng con

Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con,
vì bên Ngài, con đang ẩn náu.
Con thưa cùng CHÚA: "Ngài là Chúa con thờ,
ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc? "
Còn thần ngoại xứ này, những thần linh xưa con sùng mộ,
vẫn gia tăng tàn phá, và thiên hạ tới tấp chạy theo.
Máu tế thần, con quyết chẳng dâng,
tên của thần, môi con không tụng niệm!

Lạy CHÚA, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng,
là chén phúc lộc dành cho con;
số mạng con, chính Ngài nắm giữ.
Phần tuyệt hảo may mắn đã về con,
vâng, gia nghiệp ấy làm con thoả mãn.

Con chúc tụng CHÚA hằng thương chỉ dạy,
ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con.
Con luôn nhớ có Ngài trước mặt,
được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ.

Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan,
thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn.
Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty,
không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ.
Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống:
trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề,
ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!

7.  Lời nguyện kết

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin cảm tạ Chúa vì những Lời của Chúa đã trao ban để giúp chúng con có thể hiểu cặn kẽ hơn Thánh ý của Chúa Cha.  Nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho những việc chúng con đang làm và ban cho chúng con sức mạnh để chúng con có thể thực thi những Lời Chúa đã mặc khải cho chúng con.  Chúng con nguyện xin được giống như Đức Maria, mẹ Người, không những chỉ lắng nghe mà còn thực hành Lời Chúa.  Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Đức Chúa Cha trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  Amen.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét