Trang

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2025

05.09.2025: THỨ SÁU TUẦN 22 THƯỜNG NIÊN

 05/09/2025

 Thứ Sáu đầu tháng, tuần 22 thường niên

 


Bài Ðọc I: (Năm I) Cl 1, 15-20

“Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.

Ðức Giêsu Kitô là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi tạo vật, vì trong Người, muôn loài trên trời dưới đất đã được tác thành, mọi vật hữu hình và vô hình, dù là các Bệ thần hay Quản thần, dù là Chủ thần hay Quyền thần: Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người. Và Người có trước mọi loài, và mọi loài tồn tại trong Người. Người là đầu thân thể, tức là Hội thánh, là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài. Vì chưng, Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người, và Thiên Chúa đã giao hoà vạn vật nhờ Người và vì Người; nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới đất.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 99, 2. 3. 4. 5

Ðáp: Hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá (c. 2c).

Xướng: Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ! Hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá

Xướng: Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc quyền sở hữu của Người, ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi.

Xướng: Hãy vào trụ quan nhà Người với lời khen ngợi, vào hành lang với khúc ca vui, hãy tán dương, hãy chúc tụng danh Người.

Xướng: Vì Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người còn tới muôn muôn thế hệ.

 

Alleluia: Cl 3, 16a và 17c

Alleluia, alleluia! – Nguyện cho lời Chúa Kitô cư ngụ dồi dào trong anh em; anh em hãy nhờ Ðức Kitô mà tạ ơn Thiên Chúa Cha. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 5, 33-39

“Khi tân lang phải đem đi khỏi họ, bấy giờ họ ăn chay”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, những người biệt phái và luật sĩ nói với Chúa Giêsu rằng: “Tại sao môn đồ của Gioan năng ăn chay và cầu nguyện, cả môn đồ của những người biệt phái cũng vậy, còn môn đệ của Thầy lại cứ ăn uống?” Người đáp lại rằng: “Các ông có thể bắt các bạn hữu đến dự tiệc cưới, ăn chay, đang khi tân lang còn ở với họ chăng? Nhưng sẽ đến những ngày mà tân lang phải đem đi khỏi họ, bấy giờ họ sẽ ăn chay trong những ngày ấy”.

Người còn nói với họ thí dụ này rằng: “Không ai xé miếng vải áo mới mà vá vào áo cũ; chẳng vậy, áo mới đã bị xé, mà mảnh vải áo mới lại không ăn hợp với áo cũ. Cũng chẳng ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; chẳng vậy, rượu mới sẽ làm vỡ bầu da, rượu chảy ra và bầu da hư mất. Nhưng rượu mới phải đổ vào bầu da mới, thì giữ được cả hai. Và không ai đang uống rượu cũ mà lại thèm rượu mới, vì người ta nói: ‘Rượu cũ thì ngon hơn”.

Ðó là lời Chúa

 


Chú giải về Cô-lô-sê 1,15-20

Một trong những vấn đề chính mà Phao-lô giải quyết khi viết thư cho người Cô-lô-sê liên quan đến quan niệm của họ về quyền năng thiên sứ trong vũ trụ, vốn đe dọa đẩy Chúa Giê-su xuống vị trí thứ yếu. Hôm nay, chúng ta có câu trả lời tuyệt vời của Phao-lô, một trong những đoạn Kinh Thánh được soi dẫn nhiều nhất trong Tân Ước, mà như chúng ta sẽ thấy, có nhiều điểm tương đồng với lời mở đầu đầy uy quyền của Gioan về Chúa Giê-su là Ngôi Lời.

Ban đầu, có lẽ đây là một bài thánh ca Ki-tô giáo thời kỳ đầu về quyền tối cao của Chúa Giê-su, và được Phao-lô sử dụng ở đây để phản bác những giáo lý sai lầm tại Cô-lô-sê. Bài thánh ca được chia thành hai phần:

1. Quyền tối cao của Chúa Giê-su trong công cuộc sáng tạo (các câu 15-17)

2. Quyền tối cao của Chúa Giê-su trong công cuộc cứu chuộc (các câu 18-20)

Bản Kinh Thánh New American Bible đưa ra phân tích sau đây về đoạn văn này:

Các học giả đặt ra câu hỏi liệu Phao-lô có thể đã chuyển thể những câu này từ một bài thánh ca Ki-tô giáo hay một bài thơ khôn ngoan của người Hy Lạp hay không. Dù thế nào đi nữa, đoạn văn với tất cả chất trữ tình của nó có lẽ là của Phao-lô. Thần học Kitô học cao siêu của nó tổng hợp nhận thức ngày càng tăng trong thời Tân Ước về Chúa Kitô là con người, Con Thiên Chúa, vua và thẩm phán của thế gian, được ban cho quyền năng cứu chuộc thần thánh, và chứa đựng trong chính mình sự hiện diện trọn vẹn của Thiên Chúa giữa loài người, điều đã được biểu lộ lần đầu tiên trong Cựu Ước (xem Ga 1,1-18). Trong khi con người được mô phỏng theo hình ảnh của Thiên Chúa, được ban cho một sự giống Ngài nhất định (St 1,26), thì Chúa Kitô là hình ảnh thực sự của Thiên Chúa. Nhờ đức tin, thực tại xa xôi của Thần tính được thể hiện rõ ràng trong Ngài và con người có thể hiểu được. Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (câu 15), theo nghĩa là với tư cách là một ngôi vị, Ngài tối cao trên mọi phương diện của toàn thể tạo vật. Quyền tối cao của Chúa Kitô không chỉ đòi hỏi không có gì xuất hiện trong tạo vật mà không liên quan đến Ngài, mà còn đòi hỏi chính Ngài phải tham gia vào việc tạo dựng muôn vật (câu 16). Quyền tối cao của Ngài đến mức Ngài đã hiện hữu trước khi tạo vật được tạo thành. Chính nhờ Ngài mà tạo vật có được tất cả những gì đã, đang và sẽ có (câu 17).

Đấng Ki-tô không thể là gì khác ngoài Đấng tối cao trên toàn thể Hội thánh, điều này trong mọi trường hợp đều không thể tưởng tượng và không thể hiện thực hóa nếu không có Ngài (thân thể Ngài). Hơn nữa, nhờ quyền tối cao của mình, Ngài là người đầu tiên được Đức Chúa Trời khiến sống lại từ cõi chết; và sự phục sinh của Ngài đã đặt Ngài vào vị trí hoàn toàn làm đầu cộng đồng mà Ngài đã tạo dựng (câu 18). Vì, như đã thấy rõ qua vai trò của Đấng Christ trong công cuộc sáng tạo (câu 16), vũ trụ lệ thuộc vào Ngài (câu 19), nên sự chết của Ngài trên thập tự giá đã ảnh hưởng đến toàn thể tạo vật, không trừ một ai, mang lại hòa bình và hiệp nhất với Đức Chúa Trời (câu 20). Việc Phao-lô trình bày rõ ràng về quyền tối cao của Đấng Christ xuất phát từ những khó khăn của người Cô-lô-sê liên quan đến mối quan hệ giữa các thiên thần với thế gian. (đã chỉnh sửa)

Phao-lô giới thiệu hai cách mà Chúa Kitô có thể tuyên bố là “đầu” của mọi vật hiện hữu:

1. Ngài là đầu của tạo vật, của tất cả những gì hiện hữu theo tự nhiên (câu 15-17).

2. Ngài là đầu của tạo vật mới và của tất cả những gì hiện hữu một cách siêu nhiên nhờ được cứu rỗi (câu 18-20).

Chủ đề của bài thơ là Chúa Kitô hiện hữu từ trước, nhưng chỉ được xem xét trong chừng mực Ngài được biểu lộ trong con người lịch sử độc nhất, tức là Con Thiên Chúa làm người (xem Phi-líp-phê 2,5-8). Chính với tư cách là Thiên Chúa nhập thể, Chúa Giê-su là “hình ảnh của Thiên Chúa”, nghĩa là bản tính con người của Ngài là sự biểu hiện hữu hình của Thiên Chúa vô hình (xem Rô-ma 8,29). Như vậy, chính trong bản tính con người cụ thể của Ngài, và là một phần của tạo vật, mà Chúa Giê-su được gọi là “con đầu lòng của tạo vật”—không phải theo nghĩa trần tục là được sinh ra trước nhất, mà theo nghĩa được trao cho vị trí danh dự hàng đầu.

Giờ đây, chúng ta hãy cùng xem xét văn bản bài đọc của Phao-lô.

Quyền tối cao của Chúa Kitô trong công trình sáng tạo (các câu 15-17):

Chúa Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình; nghĩa là khi chúng ta nhìn thấy và nghe thấy Người, chúng ta nhìn thấy và nghe thấy Thiên Chúa, mặc dù bị che khuất trong những giới hạn của hình hài con người. Vinh quang trọn vẹn của Thiên Chúa không thể được nhìn thấy trong nhân tính của Chúa Giêsu. Trong sách Híp-ri, Người được mô tả là:

…phản chiếu vinh quang của Thiên Chúa và là hình ảnh chính xác của bản thể Thiên Chúa. (Híp-ri 1,3)

Hình ảnh này gợi lên hai chân lý:

1. Thiên Chúa vô hình (“chưa ai từng thấy Thiên Chúa”, xem Gioan 1,18)

2. Chúa Kitô, là Con vĩnh cửu của Thiên Chúa và là Đấng đã trở thành Thiên Chúa-nhân, phản chiếu và mặc khải Người cho chúng ta (xem Gioan 1,18; 14,9).

Cũng như Môi-se phải che mặt khi nói chuyện với người Híp-ri sau khi trò chuyện với Đức Chúa, Chúa Giêsu cũng cần che giấu bản chất thần linh của Người bằng nhân tính để chúng ta có thể tiếp cận Người. Trong trải nghiệm Biến Hình, ba môn đồ thoáng thấy bức màn được vén lên trong giây lát.

Chúa Giê-su là Con đầu lòng của muôn loài thọ tạo:

Từ khởi đầu, Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. (Gioan 1,2)

Là một thành viên của nhân loại, Ngài là Con đầu lòng về phẩm giá, nhưng không phải về thời gian. Giống như con trai đầu lòng có những đặc quyền và quyền lợi nhất định trong thế giới Kinh Thánh, Chúa Giê-su cũng có những quyền nhất định liên quan đến toàn thể tạo vật—quyền ưu tiên, sự trổi vượt và quyền tối thượng (câu 16-18):

…trong Ngài, muôn vật trên trời và dưới đất đều được tạo dựng, vật hữu hình và vật vô hình, dù là ngôi vua, quyền thống trị, bậc cầm quyền hay bậc cầm quyền… (câu 16-18)

Như Gioan cũng đã nói:

 

Muôn vật nhờ Ngài mà có, và chẳng vật chi được tạo dựng mà không bởi Ngài. (Gioan 1,3)

Trong bài đọc, chúng ta thấy Phao-lô bác bỏ niềm tin của tín hữu Cô-lô-sê vào các quyền năng vũ trụ. Mọi vật hiện hữu, dù cao cả và hùng mạnh đến đâu, đều được tạo dựng nhờ Chúa Giê-su và nhờ Ngài mà trở về với Đức Chúa Trời.

Trong sáu câu, Phao-lô đề cập đến “toàn thể tạo vật”, “muôn vật” và “mọi vật” bảy lần, qua đó nhấn mạnh rằng Đấng Ki-tô là tối cao trên hết mọi sự. “Ngai vàng, quyền thống trị, bậc cai trị hay quyền năng” ám chỉ các thiên thần, và hệ thống cấp bậc thiên thần đóng vai trò nổi bật trong niềm tin dị giáo của một số người Cô-lô-sê. Ở đây, Phao-lô khẳng định rõ ràng rằng các thiên thần có nguồn gốc từ Đấng Ki-tô, là Lời Sáng Tạo của Đức Chúa Trời. Họ được tạo dựng bởi Ngài và vì Ngài. Họ cúi xuống thờ phượng Ngài.

Đấng Ki-tô hiện hữu trước mọi vật:

Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. (Gioan 1,1-2)

Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi Áp-ra-ham hiện hữu, đã có ta. (Gioan 8,58)

Muôn vật đều đứng vững trong Ngài:

Điều đã tạo nên trong Ngài là sự sống, và sự sống là sự sáng của loài người. (Gioan 1,3-4)

Sự tồn tại liên tục của mọi tạo vật hoàn toàn phụ thuộc vào quyền năng sáng tạo và bảo tồn của Ngài.

 

Tạo dựng hòa bình qua cái chết của Chúa Kitô trên thập tự giá

Sau tất cả những ngôn từ chiến thắng của đoạn văn, điều này có vẻ như một sự hụt hẫng đáng ngạc nhiên, nhưng hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa của Chúa Kitô. Hòa bình và sự hòa giải mà Ngài mang lại là qua huyết thập tự giá, sự hy sinh tột cùng của nhân tính Ngài trong tình yêu dành cho dân Ngài và thế giới. Đây chính là điều tạo nên sự vĩ đại thực sự của Chúa Kitô. Nhờ cái chết của Ngài trên thập tự giá:

…Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài rất cao

và ban cho Ngài danh

vượt trên mọi danh hiệu,

để khi nghe danh Chúa Giêsu

mọi đầu gối phải quỳ xuống,

trên trời, dưới đất và trong nơi âm phủ,

và mọi lưỡi phải tuyên xưng

rằng Chúa Giêsu Kitô là Chúa,

để tôn vinh Thiên Chúa Cha. (Phi-líp-phê 2,9-11)

Chúng ta cũng được kêu gọi noi theo bước chân Ngài, sẵn sàng vác thập giá mình vì Nước Trời:

Phước cho những ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. (Mát-thêu 5,9)

Đoạn văn này vô cùng phong phú về ý nghĩa và cần nhiều thời gian để thấm nhuần vào tư duy của chúng ta. Nó vừa là một lời tuyên xưng đức tin vừa là nền tảng cho một lời cầu nguyện sâu sắc.

 


Chú giải về Luca 5,33-39

Việc Chúa Giêsu kêu gọi các tông đồ đầu tiên được tiếp nối trong Luca bằng việc chữa lành một người phong hủi và sau đó là một người bại liệt. Tiếp theo là việc Chúa Giêsu kêu gọi Lêvi (được gọi là Mát-thêu trong Phúc Âm Mát-thêu) và cuộc thảo luận với Chúa Giêsu về việc ông giao du với những người tội lỗi và ô uế. Đây là cuộc đối đầu đầu tiên trong số rất nhiều cuộc đối đầu giữa Chúa Giêsu và các nhà lãnh đạo Do Thái.

Sau đó, chúng ta đến với bài đọc hôm nay. Một số kinh sư và người Pha-ri-sêu muốn biết tại sao, trong khi các tông đồ của họ và của Gio-an Tẩy Giả thường xuyên ăn chay, thì các tông đồ của Chúa Giêsu lại ăn uống thoải mái. Chúng ta biết rằng Gio-an lớn lên trong sa mạc và sống một chế độ ăn uống khắc khổ với châu chấu và mật ong rừng. Ông cũng rao giảng một thông điệp sám hối khắc khổ và sống một cuộc sống rất kỷ luật. Người Pha-ri-sêu cũng có một lối sống rất kỷ luật và nghiêm ngặt. Tuy nhiên, Chúa Giêsu cùng với các tông đồ của mình thường được thấy ăn uống tại bàn của người Pha-ri-sêu, người thu thuế và tại nhà của bạn bè. Tuy Chúa Giê-su bác bỏ việc ăn chay phô trương, chúng ta biết Ngài đã ăn chay (một lần trong 40 ngày) và ca ngợi điều đó cùng với lời cầu nguyện và việc bố thí, miễn là việc đó được thực hiện một cách kín đáo chứ không phải để phô trương.

 

Chúa Giê-su đưa ra hai câu trả lời cho câu hỏi này. Thứ nhất, Ngài nói rằng khách dự tiệc không nên ăn chay khi chú rể vẫn còn ở đó. Đám cưới của người Do Thái đã và đang là một dịp đặc biệt vui vẻ (cần rất nhiều rượu, như chúng ta đã thấy ở Cana) và có thể kéo dài cả tuần. Thật không thể tưởng tượng được việc ăn chay vào thời điểm như vậy. Ở đây, Chúa Giê-su là chú rể. Sẽ có lúc Ngài không ở bên các môn đồ, và khi đó họ sẽ ăn chay.

Lý do thứ hai đi sâu hơn và được trình bày dưới dạng một dụ ngôn. Người ta không dùng một mảnh vải mới để vá một chiếc áo cũ. Ngay khi có dấu hiệu căng thẳng đầu tiên, mảnh vải mới sẽ bền hơn và mảnh vải cũ sẽ rách ra. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ. Rượu mới vẫn đang lên men và nở ra. Bầu da cũ, làm bằng da dê, đã căng phồng và không còn mềm dẻo nữa. Khi rượu mới nở ra, bầu da cũ sẽ không còn giãn nở được nữa và sẽ vỡ ra. Kết quả là rượu bị mất và bầu da bị hỏng. Vì vậy, rượu mới phải được đổ vào bầu da mới.

Trong câu này, Chúa Giê-su rõ ràng đang nói rằng toàn bộ quan điểm của Ngài về tôn giáo là mới, và nó chỉ có thể được chấp nhận và áp dụng bởi những người sẵn sàng nhìn nhận mọi thứ theo một cách mới. Giáo huấn, quan điểm của Ngài không thể bị ghép vào tôn giáo cũ. Tôn giáo cũ nhấn mạnh đến những yếu tố bên ngoài như tuân thủ các quy định pháp lý, nghi lễ và ăn chay; Chúa Giê-su nhấn mạnh đến tinh thần bên trong, đó là thước đo thực sự giá trị của một con người.

Dụ ngôn này cũng có thể được đọc kết hợp với câu chuyện của Giăng về tiệc cưới tại Cana, nơi Chúa Giê-su đã biến nước trong các chum rửa nghi lễ thành rượu mới và ngon hơn.

Chúa Giêsu biết những khó khăn mà kẻ thù của Người phải đối mặt:

Không ai sau khi uống rượu cũ lại muốn rượu mới, nhưng lại nói: ‘Rượu cũ ngon hơn.’

Những ai đã lớn lên với ‘rượu cũ’ của Luật Môsê sẽ thấy khó chuyển sang ‘rượu mới’ mà Chúa Giêsu đã ban tặng.

Ngay cả trong Giáo hội chúng ta ngày nay, vẫn còn một số người khao khát ‘rượu cũ’ của thời kỳ trước Công đồng Vatican II. Họ chưa thực hiện sự thay đổi nội tâm cần thiết. Họ chưa hiểu rằng Công đồng Vatican II không chỉ là một sự thay đổi về thực hành bên ngoài (như đã diễn ra trong phụng vụ). Họ hoài niệm về Thánh lễ Tridentine bằng tiếng Latinh và cho rằng nó tốt hơn phụng vụ ‘mới’ mà họ cho là hời hợt và thiếu tôn kính. Nhưng dường như họ không nắm bắt được tư tưởng đằng sau những thay đổi phụng vụ. Miếng vá mới không vừa với tấm vải cũ của họ. “Rượu cũ ngon hơn”, họ nói.

Trong tương lai, tư tưởng này có lẽ sẽ không biến mất bởi vì “thế gian viết nên chương trình nghị sự cho Giáo hội” và chắc chắn sẽ có những thay đổi khác. Rượu mới sẽ không được thưởng thức cho đến khi bầu da cũng được thay; nếu không, chúng ta sẽ rơi vào tình huống giống như người Pha-ri-sêu đã từng gặp Chúa Giê-su.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o1226g/

 

 


Suy niệm: Dứt khoát tận căn

Kỷ luật hay cách sống của Chúa Giêsu đề ra cho các môn đệ Ngài khiến nhiều người khó chịu. Ngài và các môn đệ sống theo một lề lối hoàn toàn khác với những tuân giữ của những người Biệt phái và ngay cả với Gioan Tẩy giả: trong khi Gioan Tẩy giả và các người Biệt phái tuân giữ một số ngày chay tịnh trong tuần, thì các môn đệ Chúa Giêsu xem chừng không biết thế nào là chay tịnh.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hai dụ ngôn để biện minh cho thái độ ấy. Trước hết, Ngài nói đến sự hiện diện của Tân Lang: bao lâu Tân Lang còn đó, thì việc chay tịnh được miễn chuẩn. Trong Cựu Ước, việc giữ chay gắn liền với việc mong đợi Ðấng Cứu Thế. Chay tịnh là thể hiện của lòng mong đợi. Gioan Tẩy giả đã lấy chay tịnh làm qui luật cơ bản cho cuộc sống của ông và của các môn đệ. Như vậy khi miễn chước cho các môn đệ của Ngài khỏi chay tịnh, Chúa Giêsu muốn cho mọi người thấy rằng Ngài chính là Ðấng Cứu Thế, họ không còn phải mong đợi gì nữa; thời cứu thế đã đến, con người không còn phải chay tịnh, trái lại, họ phải vui mừng hoan hỉ.

Dụ ngôn thứ hai Chúa Giêsu đưa ra để giải thích tại sao các môn đệ Ngài không phải giữ chay, đó là hình ảnh chiếc áo mới và rượu mới: Không nên lấy áo cũ mà vá vào áo mới, không nên đổ rượu mới vào bầu da cũ. Dĩ nhiên, ở đây Chúa Giêsu không có ý bảo rằng cái mới thì đương nhiên tốt hơn cái cũ; Ngài không có ý so sánh cho bằng đưa ra một sự bất tương hợp. Bài học thật rõ ràng: không nên có thái độ nước đôi hoặc thỏa hiệp, mà phải dứt khoát tận căn. Bài học này được Chúa Giêsu lặp lại nhiều lần khi nêu ra những điều kiện để vào Nước Trời: "Hãy bán tất cả, bố thí cho người nghèo, rồi đến theo Ta", "Ai cầm cày mà còn ngó lại sau, thì không xứng với Nước Thiên Chúa", "Ai yêu cha mẹ hơn Ta thì không xứng đáng làm môn đệ Ta". Tựu trung, vì Ngài, con người phải chấp nhận hy sinh tất cả, ngay cả mạng sống mình.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta duyệt xét lại niềm tin cơ bản trong cuộc sống hàng ngày. Thỏa hiệp vốn là cơn cám dỗ triền miên trong cuộc sống đạo của chúng ta: Muốn làm môn đệ Chúa Kitô, nhưng lại đeo đuổi những gì nghịch với Tin Mừng; đi theo Chúa Kitô, nhưng lại không muốn sống theo giáo huấn của Ngài; muốn là thành phần của Giáo Hội, nhưng lại chống báng Giáo Hội. Thỏa hiệp để được cả đạo lẫn đời như thế cũng chỉ là đánh mất bản thân mà thôi. Lời sách Khải huyền đáng được chúng ta suy nghĩ: Thà ngươi nguội lạnh hay nóng hẳn đi; nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta mửa ngươi ra khỏi miệng.

Xin Chúa nâng đỡ đức tin chúng ta để chúng ta tiến bước theo Chúa, làm môn đệ Chúa với một đức tin tinh tuyền và làm chứng cho mọi người xung quanh.

 (‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét