05/09/2025
Thứ Sáu đầu tháng,
tuần 22 thường niên
Bài Ðọc I: (Năm
I) Cl 1, 15-20
“Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.
Ðức Giêsu Kitô là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng
tử mọi tạo vật, vì trong Người, muôn loài trên trời dưới đất đã được tác thành,
mọi vật hữu hình và vô hình, dù là các Bệ thần hay Quản thần, dù là Chủ thần
hay Quyền thần: Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người. Và Người có
trước mọi loài, và mọi loài tồn tại trong Người. Người là đầu thân thể, tức là
Hội thánh, là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi
loài. Vì chưng, Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người, và Thiên Chúa
đã giao hoà vạn vật nhờ Người và vì Người; nhờ máu Người đổ ra trên thập giá,
Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới đất.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 99, 2. 3. 4. 5
Ðáp: Hãy vào trước
thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá (c. 2c).
Xướng: Toàn thể địa
cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ! Hãy vào
trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá
Xướng: Hãy biết rằng
Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc quyền sở hữu của
Người, ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi.
Xướng: Hãy vào trụ
quan nhà Người với lời khen ngợi, vào hành lang với khúc ca vui, hãy tán dương,
hãy chúc tụng danh Người.
Xướng: Vì Thiên
Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người
còn tới muôn muôn thế hệ.
Alleluia: Cl 3, 16a và 17c
Alleluia, alleluia! – Nguyện cho lời Chúa Kitô cư ngụ dồi
dào trong anh em; anh em hãy nhờ Ðức Kitô mà tạ ơn Thiên Chúa Cha. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 5, 33-39
“Khi tân lang phải đem đi khỏi họ, bấy giờ họ ăn chay”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, những người biệt phái và luật sĩ nói với Chúa Giêsu
rằng: “Tại sao môn đồ của Gioan năng ăn chay và cầu nguyện, cả môn đồ của những
người biệt phái cũng vậy, còn môn đệ của Thầy lại cứ ăn uống?” Người đáp lại rằng:
“Các ông có thể bắt các bạn hữu đến dự tiệc cưới, ăn chay, đang khi tân lang
còn ở với họ chăng? Nhưng sẽ đến những ngày mà tân lang phải đem đi khỏi họ, bấy
giờ họ sẽ ăn chay trong những ngày ấy”.
Người còn nói với họ thí dụ này rằng: “Không ai xé miếng vải
áo mới mà vá vào áo cũ; chẳng vậy, áo mới đã bị xé, mà mảnh vải áo mới lại
không ăn hợp với áo cũ. Cũng chẳng ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; chẳng vậy, rượu
mới sẽ làm vỡ bầu da, rượu chảy ra và bầu da hư mất. Nhưng rượu mới phải đổ vào
bầu da mới, thì giữ được cả hai. Và không ai đang uống rượu cũ mà lại thèm rượu
mới, vì người ta nói: ‘Rượu cũ thì ngon hơn”.
Ðó là lời Chúa
Chú giải về Cô-lô-sê 1,15-20
Một trong những vấn đề chính mà Phao-lô giải quyết khi viết
thư cho người Cô-lô-sê liên quan đến quan niệm của họ về quyền năng thiên sứ
trong vũ trụ, vốn đe dọa đẩy Chúa Giê-su xuống vị trí thứ yếu. Hôm nay, chúng
ta có câu trả lời tuyệt vời của Phao-lô, một trong những đoạn Kinh Thánh được
soi dẫn nhiều nhất trong Tân Ước, mà như chúng ta sẽ thấy, có nhiều điểm tương
đồng với lời mở đầu đầy uy quyền của Gioan về Chúa Giê-su là Ngôi Lời.
Ban đầu, có lẽ đây là một bài thánh ca Ki-tô giáo thời kỳ đầu về quyền tối cao của
Chúa Giê-su, và được Phao-lô sử dụng ở đây để phản bác những giáo lý sai lầm tại
Cô-lô-sê. Bài thánh ca được chia thành hai phần:
1. Quyền tối cao của Chúa Giê-su trong công cuộc sáng tạo
(các câu 15-17)
2. Quyền tối cao của Chúa Giê-su trong công cuộc cứu chuộc
(các câu 18-20)
Bản Kinh Thánh New
American Bible đưa ra phân tích sau đây về đoạn văn này:
Các học giả đặt ra câu hỏi liệu Phao-lô có thể đã chuyển thể
những câu này từ một bài thánh ca Ki-tô
giáo hay một bài thơ khôn ngoan của người Hy Lạp hay không. Dù thế nào
đi nữa, đoạn văn với tất cả chất trữ tình của nó có lẽ là của Phao-lô. Thần học
Kitô học cao siêu của nó tổng hợp nhận thức ngày càng tăng trong thời Tân Ước về
Chúa Kitô là con người, Con Thiên Chúa, vua và thẩm phán của thế gian, được ban
cho quyền năng cứu chuộc thần thánh, và chứa đựng trong chính mình sự hiện diện
trọn vẹn của Thiên Chúa giữa loài người, điều đã được biểu lộ lần đầu tiên
trong Cựu Ước (xem Ga 1,1-18). Trong khi con người được mô phỏng theo hình ảnh
của Thiên Chúa, được ban cho một sự giống Ngài nhất định (St 1,26), thì Chúa
Kitô là hình ảnh thực sự của Thiên Chúa. Nhờ đức tin, thực tại xa xôi của Thần
tính được thể hiện rõ ràng trong Ngài và con người có thể hiểu được. Ngài là
hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (câu 15), theo nghĩa là với tư cách là một ngôi
vị, Ngài tối cao trên mọi phương diện của toàn thể tạo vật. Quyền tối cao của
Chúa Kitô không chỉ đòi hỏi không có gì xuất hiện trong tạo vật mà không liên
quan đến Ngài, mà còn đòi hỏi chính Ngài phải tham gia vào việc tạo dựng muôn vật
(câu 16). Quyền tối cao của Ngài đến mức Ngài đã hiện hữu trước khi tạo vật được
tạo thành. Chính nhờ Ngài mà tạo vật có được tất cả những gì đã, đang và sẽ có
(câu 17).
Đấng Ki-tô
không thể là gì khác ngoài Đấng tối cao trên toàn thể Hội thánh, điều này trong
mọi trường hợp đều không thể tưởng tượng và không thể hiện thực hóa nếu không
có Ngài (thân thể Ngài). Hơn nữa, nhờ quyền tối cao của mình, Ngài là người đầu
tiên được Đức Chúa Trời khiến sống lại từ cõi chết; và sự phục sinh của Ngài đã
đặt Ngài vào vị trí hoàn toàn làm đầu cộng đồng mà Ngài đã tạo dựng (câu 18).
Vì, như đã thấy rõ qua vai trò của Đấng Christ trong công cuộc sáng tạo (câu
16), vũ trụ lệ thuộc vào Ngài (câu 19), nên sự chết của Ngài trên thập tự giá
đã ảnh hưởng đến toàn thể tạo vật, không trừ một ai, mang lại hòa bình và hiệp
nhất với Đức Chúa Trời (câu 20). Việc Phao-lô trình bày rõ ràng về quyền tối
cao của Đấng Christ xuất phát từ những khó khăn của người Cô-lô-sê liên quan đến
mối quan hệ giữa các thiên thần với thế gian. (đã chỉnh sửa)
Phao-lô giới thiệu hai cách mà Chúa Kitô có thể tuyên bố là
“đầu” của mọi vật hiện hữu:
1. Ngài là đầu của tạo vật, của tất cả những gì hiện hữu
theo tự nhiên (câu 15-17).
2. Ngài là đầu của tạo vật mới và của tất cả những gì hiện hữu
một cách siêu nhiên nhờ được cứu rỗi (câu 18-20).
Chủ đề của bài thơ là Chúa Kitô hiện hữu từ trước, nhưng chỉ
được xem xét trong chừng mực Ngài được biểu lộ trong con người lịch sử độc nhất,
tức là Con Thiên Chúa làm người (xem Phi-líp-phê 2,5-8). Chính với tư cách là Thiên Chúa nhập thể, Chúa Giê-su
là “hình ảnh của Thiên Chúa”, nghĩa là bản tính con người của Ngài là sự biểu
hiện hữu hình của Thiên Chúa vô hình (xem Rô-ma 8,29). Như vậy, chính trong bản
tính con người cụ thể của Ngài, và là một phần của tạo vật, mà Chúa Giê-su được
gọi là “con đầu lòng của tạo vật”—không phải theo nghĩa trần tục là được sinh
ra trước nhất, mà theo nghĩa được trao cho vị trí danh dự hàng đầu.
Giờ đây, chúng ta hãy cùng xem xét văn bản bài đọc của
Phao-lô.
Quyền tối cao của
Chúa Kitô trong công trình sáng tạo (các câu 15-17):
Chúa Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình; nghĩa là khi
chúng ta nhìn thấy và nghe thấy Người, chúng ta nhìn thấy và nghe thấy Thiên
Chúa, mặc dù bị che khuất trong những giới hạn của hình hài con người. Vinh
quang trọn vẹn của Thiên Chúa không thể được nhìn thấy trong nhân tính của Chúa
Giêsu. Trong sách Híp-ri, Người được mô tả là:
…phản chiếu vinh quang
của Thiên Chúa và là hình ảnh chính xác của bản thể Thiên Chúa. (Híp-ri 1,3)
Hình ảnh này gợi lên hai chân lý:
1. Thiên Chúa vô hình (“chưa ai từng thấy Thiên Chúa”, xem
Gioan 1,18)
2. Chúa Kitô, là Con vĩnh cửu của Thiên Chúa và là Đấng đã
trở thành Thiên Chúa-nhân, phản chiếu và mặc khải Người cho chúng ta (xem Gioan
1,18; 14,9).
Cũng như Môi-se phải che mặt khi nói chuyện với người Híp-ri sau khi trò chuyện với Đức
Chúa, Chúa Giêsu cũng cần che giấu bản chất thần linh của Người bằng nhân tính
để chúng ta có thể tiếp cận Người. Trong trải nghiệm Biến Hình, ba môn đồ
thoáng thấy bức màn được vén lên trong giây lát.
Chúa Giê-su là Con đầu lòng của muôn loài thọ tạo:
Từ khởi đầu, Ngài ở
cùng Đức Chúa Trời. (Gioan 1,2)
Là một thành viên của nhân loại, Ngài là Con đầu lòng về phẩm
giá, nhưng không phải về thời gian. Giống như con trai đầu lòng có những đặc
quyền và quyền lợi nhất định trong thế giới Kinh Thánh, Chúa Giê-su cũng có những
quyền nhất định liên quan đến toàn thể tạo vật—quyền ưu tiên, sự trổi vượt và
quyền tối thượng (câu 16-18):
…trong Ngài, muôn vật
trên trời và dưới đất đều được tạo dựng, vật hữu hình và vật vô hình, dù là
ngôi vua, quyền thống trị, bậc cầm quyền hay bậc cầm quyền… (câu 16-18)
Như Gioan cũng đã nói:
Muôn vật nhờ Ngài mà
có, và chẳng vật chi được tạo dựng mà không bởi Ngài. (Gioan 1,3)
Trong bài đọc, chúng ta thấy Phao-lô bác bỏ niềm tin của tín
hữu Cô-lô-sê vào các quyền năng vũ trụ. Mọi vật hiện hữu, dù cao cả và hùng mạnh
đến đâu, đều được tạo dựng nhờ Chúa Giê-su và nhờ Ngài mà trở về với Đức Chúa
Trời.
Trong sáu câu, Phao-lô đề cập đến “toàn thể tạo vật”, “muôn
vật” và “mọi vật” bảy lần, qua đó nhấn mạnh rằng Đấng Ki-tô là tối cao trên hết mọi sự. “Ngai
vàng, quyền thống trị, bậc cai trị hay quyền năng” ám chỉ các thiên thần, và hệ
thống cấp bậc thiên thần đóng vai trò nổi bật trong niềm tin dị giáo của một số
người Cô-lô-sê. Ở đây, Phao-lô khẳng định rõ ràng rằng các thiên thần có nguồn
gốc từ Đấng Ki-tô, là Lời
Sáng Tạo của Đức Chúa Trời. Họ được tạo dựng bởi Ngài và vì Ngài. Họ cúi xuống
thờ phượng Ngài.
Đấng Ki-tô
hiện hữu trước mọi vật:
Ban đầu có Ngôi Lời,
Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở
cùng Đức Chúa Trời. (Gioan 1,1-2)
Quả thật, quả thật, ta
nói cùng các ngươi, trước khi Áp-ra-ham hiện hữu, đã có ta. (Gioan 8,58)
Muôn vật đều đứng vững trong Ngài:
Điều đã tạo nên trong
Ngài là sự sống, và sự sống là sự sáng của loài người. (Gioan 1,3-4)
Sự tồn tại liên tục của mọi tạo vật hoàn toàn phụ thuộc vào
quyền năng sáng tạo và bảo tồn của Ngài.
Tạo dựng hòa bình qua
cái chết của Chúa Kitô trên thập tự giá
Sau tất cả những ngôn từ chiến thắng của đoạn văn, điều này
có vẻ như một sự hụt hẫng đáng ngạc nhiên, nhưng hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa
của Chúa Kitô. Hòa bình và sự hòa giải mà Ngài mang lại là qua huyết thập tự
giá, sự hy sinh tột cùng của nhân tính Ngài trong tình yêu dành cho dân Ngài và
thế giới. Đây chính là điều tạo nên sự vĩ đại thực sự của Chúa Kitô. Nhờ cái chết
của Ngài trên thập tự giá:
…Thiên Chúa đã tôn
vinh Ngài rất cao
và ban cho Ngài danh
vượt trên mọi danh hiệu,
để khi nghe danh Chúa
Giêsu
mọi đầu gối phải quỳ
xuống,
trên trời, dưới đất và
trong nơi âm phủ,
và mọi lưỡi phải tuyên
xưng
rằng Chúa Giêsu Kitô
là Chúa,
để tôn vinh Thiên Chúa
Cha. (Phi-líp-phê 2,9-11)
Chúng ta cũng được kêu gọi noi theo bước chân Ngài, sẵn sàng
vác thập giá mình vì Nước Trời:
Phước cho những ai xây
dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. (Mát-thêu 5,9)
Đoạn văn này vô cùng phong phú về ý nghĩa và cần nhiều thời
gian để thấm nhuần vào tư duy của chúng ta. Nó vừa là một lời tuyên xưng đức
tin vừa là nền tảng cho một lời cầu nguyện sâu sắc.
Chú giải về Luca 5,33-39
Việc Chúa Giêsu kêu gọi các tông đồ đầu tiên được tiếp nối
trong Luca bằng việc chữa lành một người phong hủi và sau đó là một người bại
liệt. Tiếp theo là việc Chúa Giêsu kêu gọi Lêvi (được gọi là Mát-thêu trong
Phúc Âm Mát-thêu) và cuộc thảo luận với Chúa Giêsu về việc ông giao du với những
người tội lỗi và ô uế. Đây là cuộc đối đầu đầu tiên trong số rất nhiều cuộc đối
đầu giữa Chúa Giêsu và các nhà lãnh đạo Do Thái.
Sau đó, chúng ta đến với bài đọc hôm nay. Một số kinh sư và
người Pha-ri-sêu muốn biết tại sao, trong khi các tông đồ của họ và của Gio-an
Tẩy Giả thường xuyên ăn chay, thì các tông đồ của Chúa Giêsu lại ăn uống thoải
mái. Chúng ta biết rằng Gio-an lớn lên trong sa mạc và sống một chế độ ăn uống
khắc khổ với châu chấu và mật ong rừng. Ông cũng rao giảng một thông điệp sám hối
khắc khổ và sống một cuộc sống rất kỷ luật. Người Pha-ri-sêu cũng có một lối sống
rất kỷ luật và nghiêm ngặt. Tuy nhiên, Chúa Giêsu cùng với các tông đồ của mình
thường được thấy ăn uống tại bàn của người Pha-ri-sêu, người thu thuế và tại
nhà của bạn bè. Tuy Chúa Giê-su bác bỏ việc ăn chay phô trương, chúng ta biết
Ngài đã ăn chay (một lần trong 40 ngày) và ca ngợi điều đó cùng với lời cầu
nguyện và việc bố thí, miễn là việc đó được thực hiện một cách kín đáo chứ
không phải để phô trương.
Chúa Giê-su đưa ra hai câu trả lời cho câu hỏi này. Thứ nhất,
Ngài nói rằng khách dự tiệc không nên ăn chay khi chú rể vẫn còn ở đó. Đám cưới
của người Do Thái đã và đang là một dịp đặc biệt vui vẻ (cần rất nhiều rượu,
như chúng ta đã thấy ở Cana) và có thể kéo dài cả tuần. Thật không thể tưởng tượng
được việc ăn chay vào thời điểm như vậy. Ở đây, Chúa Giê-su là chú rể. Sẽ có
lúc Ngài không ở bên các môn đồ, và khi đó họ sẽ ăn chay.
Lý do thứ hai đi sâu hơn và được trình bày dưới dạng một dụ
ngôn. Người ta không dùng một mảnh vải mới để vá một chiếc áo cũ. Ngay khi có dấu
hiệu căng thẳng đầu tiên, mảnh vải mới sẽ bền hơn và mảnh vải cũ sẽ rách ra.
Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ. Rượu mới vẫn đang lên men và nở
ra. Bầu da cũ, làm bằng da dê, đã căng phồng và không còn mềm dẻo nữa. Khi rượu
mới nở ra, bầu da cũ sẽ không còn giãn nở được nữa và sẽ vỡ ra. Kết quả là rượu
bị mất và bầu da bị hỏng. Vì vậy, rượu mới phải được đổ vào bầu da mới.
Trong câu này, Chúa Giê-su rõ ràng đang nói rằng toàn bộ
quan điểm của Ngài về tôn giáo là mới, và nó chỉ có thể được chấp nhận và áp dụng
bởi những người sẵn sàng nhìn nhận mọi thứ theo một cách mới. Giáo huấn, quan
điểm của Ngài không thể bị ghép vào tôn giáo cũ. Tôn giáo cũ nhấn mạnh đến những
yếu tố bên ngoài như tuân thủ các quy định pháp lý, nghi lễ và ăn chay; Chúa
Giê-su nhấn mạnh đến tinh thần bên trong, đó là thước đo thực sự giá trị của một
con người.
Dụ ngôn này cũng có thể được đọc kết hợp với câu chuyện của
Giăng về tiệc cưới tại Cana, nơi Chúa Giê-su đã biến nước trong các chum rửa
nghi lễ thành rượu mới và ngon hơn.
Chúa Giêsu biết những khó khăn mà kẻ thù của Người phải đối
mặt:
Không ai sau khi uống
rượu cũ lại muốn rượu mới, nhưng lại nói: ‘Rượu cũ ngon hơn.’
Những ai đã lớn lên với ‘rượu cũ’ của Luật Môsê sẽ thấy khó
chuyển sang ‘rượu mới’ mà Chúa Giêsu đã ban tặng.
Ngay cả trong Giáo hội chúng ta ngày nay, vẫn còn một số người
khao khát ‘rượu cũ’ của thời kỳ trước Công đồng Vatican II. Họ chưa thực hiện sự
thay đổi nội tâm cần thiết. Họ chưa hiểu rằng Công đồng Vatican II không chỉ là
một sự thay đổi về thực hành bên ngoài (như đã diễn ra trong phụng vụ). Họ hoài
niệm về Thánh lễ Tridentine bằng tiếng Latinh và cho rằng nó tốt hơn phụng vụ
‘mới’ mà họ cho là hời hợt và thiếu tôn kính. Nhưng dường như họ không nắm bắt
được tư tưởng đằng sau những thay đổi phụng vụ. Miếng vá mới không vừa với tấm
vải cũ của họ. “Rượu cũ ngon hơn”, họ nói.
Trong tương lai, tư tưởng này có lẽ sẽ không biến mất bởi vì
“thế gian viết nên chương trình nghị sự cho Giáo hội” và chắc chắn sẽ có những
thay đổi khác. Rượu mới sẽ không được thưởng thức cho đến khi bầu da cũng được
thay; nếu không, chúng ta sẽ rơi vào tình huống giống như người Pha-ri-sêu đã từng
gặp Chúa Giê-su.
https://livingspace.sacredspace.ie/o1226g/
Suy niệm: Dứt khoát tận căn
Kỷ luật hay cách sống của Chúa Giêsu đề ra cho các môn đệ
Ngài khiến nhiều người khó chịu. Ngài và các môn đệ sống theo một lề lối hoàn
toàn khác với những tuân giữ của những người Biệt phái và ngay cả với Gioan Tẩy
giả: trong khi Gioan Tẩy giả và các người Biệt phái tuân giữ một số ngày chay tịnh
trong tuần, thì các môn đệ Chúa Giêsu xem chừng không biết thế nào là chay tịnh.
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hai dụ ngôn để biện
minh cho thái độ ấy. Trước hết, Ngài nói đến sự hiện diện của Tân Lang: bao lâu
Tân Lang còn đó, thì việc chay tịnh được miễn chuẩn. Trong Cựu Ước, việc giữ
chay gắn liền với việc mong đợi Ðấng Cứu Thế. Chay tịnh là thể hiện của lòng
mong đợi. Gioan Tẩy giả đã lấy chay tịnh làm qui luật cơ bản cho cuộc sống của
ông và của các môn đệ. Như vậy khi miễn chước cho các môn đệ của Ngài khỏi chay
tịnh, Chúa Giêsu muốn cho mọi người thấy rằng Ngài chính là Ðấng Cứu Thế, họ
không còn phải mong đợi gì nữa; thời cứu thế đã đến, con người không còn phải
chay tịnh, trái lại, họ phải vui mừng hoan hỉ.
Dụ ngôn thứ hai Chúa Giêsu đưa ra để giải thích tại sao các
môn đệ Ngài không phải giữ chay, đó là hình ảnh chiếc áo mới và rượu mới: Không
nên lấy áo cũ mà vá vào áo mới, không nên đổ rượu mới vào bầu da cũ. Dĩ nhiên, ở
đây Chúa Giêsu không có ý bảo rằng cái mới thì đương nhiên tốt hơn cái cũ; Ngài
không có ý so sánh cho bằng đưa ra một sự bất tương hợp. Bài học thật rõ ràng:
không nên có thái độ nước đôi hoặc thỏa hiệp, mà phải dứt khoát tận căn. Bài học
này được Chúa Giêsu lặp lại nhiều lần khi nêu ra những điều kiện để vào Nước Trời:
"Hãy bán tất cả, bố thí cho người nghèo, rồi đến theo Ta", "Ai cầm
cày mà còn ngó lại sau, thì không xứng với Nước Thiên Chúa", "Ai yêu
cha mẹ hơn Ta thì không xứng đáng làm môn đệ Ta". Tựu trung, vì Ngài, con
người phải chấp nhận hy sinh tất cả, ngay cả mạng sống mình.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta duyệt xét lại niềm tin cơ
bản trong cuộc sống hàng ngày. Thỏa hiệp vốn là cơn cám dỗ triền miên trong cuộc
sống đạo của chúng ta: Muốn làm môn đệ Chúa Kitô, nhưng lại đeo đuổi những gì
nghịch với Tin Mừng; đi theo Chúa Kitô, nhưng lại không muốn sống theo giáo huấn
của Ngài; muốn là thành phần của Giáo Hội, nhưng lại chống báng Giáo Hội. Thỏa
hiệp để được cả đạo lẫn đời như thế cũng chỉ là đánh mất bản thân mà thôi. Lời
sách Khải huyền đáng được chúng ta suy nghĩ: Thà ngươi nguội lạnh hay nóng hẳn
đi; nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta mửa ngươi ra khỏi miệng.
Xin Chúa nâng đỡ đức tin chúng ta để chúng ta tiến bước theo
Chúa, làm môn đệ Chúa với một đức tin tinh tuyền và làm chứng cho mọi người
xung quanh.
(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét