Trang

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

KHUÔN MẶT LỄ NẾN NGÀY 02.02

 

(hình minh họa)

Khuôn mặt lễ Nến ngày 02.02.


Hằng năm Giáo Hội vào ngày 02.02., 40 ngày sau khi Đức mẹ Maria sinh Chúa Giêsu ở Bethlehem (Lc 2,21), mừng lễ hài nhi Giêsu, theo luật lệ từ thời thánh tiên tri Mose ( Sách Levi 12, 2-8), được cha mẹ mang vào đền thờ Jerusalem dâng cho Thiên Chúa.

Giáo Hội mừng lễ Đức mẹ dâng hài nhi Giesu vào đền thờ từ thế kỷ 04. sau Chúa giáng sinh. Lễ mừng này được nối kết trình bày Chúa Giêsu là ánh sáng dựa theo lời vị tiên tri Simeon nói về hài nhi Giesu dịp ông gặp được trong đền thánh: Là ánh sáng cho muôn dân. ( Lc 2, 32). Vì thế lễ này có tên là lễ Nến.

Và theo tập tục phụng vụ đó, vào ngày lễ này những cây nến được làm phép, kiệu rước Nến trước thánh lễ trong thánh đường.

Thánh sử Gioan đã diễn tả trình bày Thiên Chúa xuống trần gian nhập thể làm người qua Chúa Giêsu Kitô bằng hình ảnh ánh sáng:

“Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng…Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng thế gian, và chiếu soi mọi người.” ( Ga 1,5.9)

Ánh sáng thần linh của Chúa ẩn chứa mầu nhiệm không thể nhìn thấy bằng con mắt con người, nhưng có sức mang đến niềm hy vọng cho con người trong đời sống.

Ánh sáng thần linh nơi các tôn giáo, trong lễ nghi phụng vụ xưa nay được biểu hiện qua cây nến đốt thắp chiếu sáng.

Nhưng khắp nơi trong đời sống xã hội ánh sáng đèn điện ngày càng nhiều, cùng chiếu sáng mạnh phổ thông tiện lợi hơn ánh sáng của cây nến. Những ngọn đèn điện được lắp ráp nơi đường phố, nơi nhà tư và cả nơi thờ tự trong thánh đường nữa.

Phải chăng ánh sáng của đèn điện thay thế được ánh sáng linh thiêng chiếu tỏa ra từ cây nến?

Với nghệ thuật điều chỉnh làm cho ánh sáng đèn điện chiếu tỏa những làn sóng ánh sáng mờ ảo, to nhỏ…tạo ra cảm giác ảo thuật huyền bí đầm ấm, cùng có chút chiều kích linh thiêng nữa. Và như thế cũng mang cảm gíac niềm an ủi, niềm hy vọng.

Những nhà chiêm niệm chuyên viên về ánh sáng đã có suy tư nhận xét: Đúng vậy, con người chúng ta không cần đến cây nến nữa để đốt thắp, và chúng ta dẫu vậy lại vẫn còn cần đến chúng. Những ngọn nến không là khí cụ để chiếu tỏa ánh sáng. Nhưng nhiều hơn chúng diễn tả ý nghĩa biểu tượng hình ảnh về ánh sáng. Và như thế không có gì có thể hoàn toàn thay thế được ánh sáng của cây nến!

Một cây nến khi được đốt thắp lên diễn tả nói lên sự hiên diện cách mầu nhiệm của Thiên Chúa trong lễ nghi phụng tự kính thờ Thiên Chúa.

Không chỉ trong nghi lễ phụng vụ tôn giáo cây nến được đốt thắp lên, nhưng cả khi một hay nhiều người tụ họp nhau lại đọc kinh cầu nguyện một hay nhiều cây nến cũng được đốt thắp lên. Ánh sáng cây nến diễn tả chiều kích thiêng liêng về sự hiện diện của Thiên Chúa, của Thần Thánh.

Ánh sáng cây nến cũng diễn tả tâm tình cầu khấn của người đọc kinh cầu nguyện, như ở những nơi hành hương, khách hành hương thường đốt thắp những cây nến nói lên tâm tình lòng thành kính nguyện cầu.

Ngày nhận lãnh làn nước Bí Tích rửa tội, cây nến người được rửa tội, được đốt thắp lên từ ngọn lửa cây nến Chúa Kitô phục sinh, ánh sáng cây nến đức tin vào Chúa Kitô.

Và ngày sau cùng đời sống, cây nến Chúa Kitô phục sinh cũng được dựng đốt thắp lên bên cạnh cỗ áo quan người qúa cố nói lên niềm hy vọng được cùng phục sinh sống lại với Chúa Kitô, Đấng đã chiếu soi ánh sáng vào đêm tối sự chết do tội lỗi gây ra, không để người qúa cố bơ vơ một mình trong thung lũng tối tăm sự chết.

Chúng ta sống trong xã hội ngày đêm có nhiều ánh sáng đèn điện. Nhưng vẫn có nhiều bóng tối bao phủ, không chỉ ngoài thiên nhiên ban đêm, mà ngay trong đời sống hằng ngày mỗi người, trong gia đình, trong thế giới xã hội. Bóng tối tội lỗi, bóng tối đe dọa, gây áp bức, hoang mang lo âu sợ hãi, đau khổ chia lìa mất mát…

Ánh sáng ngọn nến thần thiêng nguyện cầu vẫn luôn cần thiết cho tâm hồn trong những khi gặp bóng tối khủng hoảng.

Cuộc gặp gỡ trong đền thờ Jerusalem ngày xưa Tiên tri Simeon đã ca ngợi hài nhi Giêsu là ánh sáng cho muôn người mang hơi sưởi ấm cho tâm hồn những người tin theo Giesu. Điều này luôn là ý nghĩa của ngày lễ ánh sáng cây nến thần thiêng thánh đức.

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

http://vietcatholic.net/News/Html/300055.htm

ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN: NGỌN NẾN SÁNG TIÊU HAO CHO MỘT TÌNH YÊU LỚN!

 


Các Nữ tu lặp lại Lời Khấn dòng tại nhà thờ Chính tòa Vilnius, Lithuania, ngày 2/2/2024.  (© Aistė Karpytė)

 

Đời sống thánh hiến: Ngọn nến sáng tiêu hao cho một Tình yêu lớn!

Ngọn nến sáng trong Thánh lễ ngày 2/2 hàng năm, gợi nhắc hình ảnh Hài Nhi Giêsu được Mẹ Maria và Thánh Giuse đưa vào Đền Thờ để tiến dâng cho Thiên Chúa, và sâu xa hơn, để mặc khải Người là "Ánh sáng” soi đường cho muôn dân. Chính từ ý nghĩa của sự "hiến dâng" và "ánh sáng" đó, vào năm 1997, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã thiết lập Ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến.

Vatican News

Giữa một thế giới đang bị bủa vây bởi vô vàn biến động và khủng hoảng, đời sống thánh hiến hiện lên như một dấu chỉ “ngược dòng”, một vẻ đẹp mang tính ngôn sứ về ơn gọi tự hiến mà ở đó, nốt nhạc chủ đạo chính là tình yêu đối với Thiên Chúa và con người.

Căn tính của đời sống thánh hiến: Sự phản chiếu của mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi

Tông huấn Vita Consecrata khởi đầu bằng việc truy nguyên nguồn gốc sâu xa của đời sống thánh hiến từ trong chính mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Đây tuyệt nhiên không phải là một sự lựa chọn nghề nghiệp thông thường, mà là một ơn gọi – tiếng gọi thiêng liêng phát xuất từ Chúa Cha, qua Chúa Con và dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần.

Trước hết, đó là sáng kiến từ Chúa Cha ("a Patre"). Mọi đời sống thánh hiến đều bắt đầu từ Thiên Chúa; chính Người, Đấng Tạo Hóa và là nguồn mọi ơn lành, bằng một tình yêu đặc biệt, đã lôi kéo mọi thụ tạo đến với mình để thực hiện một sứ mạng đặc biệt. Đáp lại tiếng gọi ấy, người được chọn tự nguyện phó thác và thuộc trọn về Người. Như Thánh Tôma Aquinô từng so sánh, căn tính của người thánh hiến chính là sự tự hiến hoàn toàn, như một hy lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa.

Tiếp đến là hành trình bước theo dấu chân Chúa Con ("per Filium"). Chúa Giêsu Kitô chính là mẫu gương trổi vượt nhất về sự Khiết tịnh, Nghèo khó và Vâng phục. Đời sống thánh hiến không thuần túy là việc giữ luật, mà là sự "họa lại" cách sống động lối sống của Người: khi chọn Khiết tịnh, người tu sĩ tuyên xưng tình yêu thuần khiết của Chúa Kitô dành cho Chúa Cha; khi chọn Nghèo khó, họ khẳng định Thiên Chúa là kho tàng duy nhất; và khi chọn Vâng phục, họ dâng hiến tự do cá nhân để hòa nhập vào ý định cứu độ của Người.

Cuối cùng là sự biến đổi bởi Chúa Thánh Thần ("in Spiritu"). Chính Người là Đấng "xức dầu", là tác giả của các đặc sủng giúp biến đổi tâm hồn người được gọi. Tông huấn ví đời sống thánh hiến như một cây có nhiều cành, đâm rễ sâu vào Phúc Âm và trổ sinh hoa trái qua mọi thời đại. Chính Chúa Thánh Thần giúp người thánh hiến giữ được sự tươi trẻ trong tâm hồn để nhận ra vẻ đẹp của Thiên Chúa ngay giữa những thăng trầm của lịch sử.

Các hình thái đa dạng: Vườn hoa rực rỡ của Thánh Thần

Một trong những vẻ đẹp rực rỡ nhất của đời sống thánh hiến chính là sự đa dạng trong các hình thái đặc sủng khởi nguồn từ Thánh Thần. Tông huấn Vita Consecrata đã liệt kê và tôn vinh những nét đặc thù này, bởi mỗi hình thái đều phản chiếu một khía cạnh độc đáo trong mầu nhiệm sâu thẳm của Chúa Kitô.

Trước hết là Đời sống Đan tu, nơi mà ngay từ thời sơ khai, các nam nữ đan sĩ đã chọn rút lui vào sa mạc hoặc đan viện để tìm kiếm "Hesychia" – sự bình an nội tâm – thông qua nhịp sống cầu nguyện liên lỉ và lao động cần cù. Họ chấp nhận trở thành những người "vác Thánh Giá" thầm lặng để thực sự trở thành những người "mang Thánh Thần" cho Giáo hội.

Kế đến là các Dòng hoạt động tông đồ, nơi quy tụ những chiến sĩ Tin Mừng đầy nhiệt huyết, sẵn sàng dấn thân vào các lĩnh vực giáo dục, y tế và truyền giáo. Chính qua đôi tay và trái tim mình, họ mang sự hiện diện sống động của Chúa Giêsu đến tận tay những người nghèo khổ và bị bỏ rơi trong xã hội.

Bên cạnh đó, một hình thức đặc biệt của thế kỷ XX là các Tu hội đời đã xuất hiện, cho phép các thành viên sống thánh hiến ngay giữa lòng đời, từ công sở cho đến trường học và ngoài xã hội. Sự hiện diện của họ giống như "men" được ủ vào khối bột nhân loại để thánh hóa thế gian từ bên trong.

Cuối cùng, sự phục hưng của Hội trinh nữ và Đan sĩ ẩn tu trong thế kỷ XXI này là một minh chứng hùng hồn cho thấy sức hút mãnh liệt của tình yêu dành cho Chúa Kitô vẫn không hề thuyên giảm theo năm tháng.

Đời sống thánh hiến tại Việt Nam: Những con số và thực tiễn mục vụ

Trong bối cảnh số lượng ơn gọi và tu sĩ tại nhiều nước phương Tây đang ngày càng sụt giảm, đời sống thánh hiến tại Việt Nam vẫn đang trải qua một "mùa xuân ơn gọi" đầy hy vọng.

Theo thống kê mới nhất từ Hội đồng Giám mục Việt Nam, sức sống này được minh chứng qua những con số ấn tượng: khoảng 300 dòng tu, tu đoàn và tu hội đang miệt mài hoạt động trên khắp 27 giáo phận. Với đội ngũ hơn 30.000 nam nữ tu sĩ thuộc nhiều hình thái khác nhau như dòng tu, tu hội đời và hiệp hội tông đồ, Giáo hội Việt Nam không chỉ duy trì được số lượng ơn gọi trẻ dấn thân ở mức cao so với mặt bằng chung thế giới mà còn bắt đầu vươn mình ra hải ngoại. Sự hiện diện bền bỉ của các dòng tu quốc tế có mặt từ thế kỷ 17–19 kết hợp cùng các hội dòng nội địa đã tạo nên một bức tranh đa dạng, giàu sức sống và tràn đầy nhiệt huyết thừa sai.

Vượt ra khỏi bốn bức tường nhà dòng, người tu sĩ Việt Nam hôm nay dấn thân mạnh mẽ vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội thông qua các hoạt động mục vụ thực tiễn và đa dạng. Từ những bản làng hẻo lánh vùng sâu vùng xa vùng cao, nơi các tu sĩ miệt mài mở trường học và trạm xá, cho đến các khu công nghiệp trọng điểm của các thành phố lớn, họ luôn là những người đồng hành, hỗ trợ cho hàng triệu công nhân giữa áp lực mưu sinh và làn sóng di dân.

Đặc biệt, trong công cuộc giáo dục thế hệ Alpha, các dòng tu đã chủ động điều hành hệ thống trường mầm non và trung tâm kỹ năng sống ở khắp nơi, góp phần quan trọng vào việc đào tạo nhân cách và xây dựng nền tảng giá trị Kitô giáo cho tương lai. Sự dấn thân này khẳng định rằng đời sống thánh hiến không chỉ là lời khấn nguyện thiêng liêng mà còn là sự hiện diện sống động của lòng thương xót Chúa giữa lòng nhân thế.

Những thách đố của đời sống thánh hiến trong kỷ nguyên số

Dù Tông huấn Vita Consecrata đã sớm tiên liệu về một thế giới bị tục hóa, nhưng thực tế ngày nay cho thấy sự tục hóa ấy đã trở nên tinh vi và lắt léo hơn bao giờ hết bởi sự bùng nổ của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo.

Trước hết, đó là cuộc khủng hoảng về sự cô độc và kết nối trong kỷ nguyên số. Những người trẻ dấn thân vào đời sống tu trì hôm nay vốn là thế hệ lớn lên cùng smartphone, nơi sự thinh lặng nội tâm – điều kiện tiên quyết để lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa – đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự ồn ào không dứt từ các thông báo và sức hấp dẫn của thế giới ảo. Thách đố đặt ra cho họ là làm sao để làm chủ công nghệ, biến nó thành công cụ truyền giáo sắc bén mà không để những dòng chảy thông tin ấy xâm chiếm và làm xói mòn đời sống cầu nguyện.

Bên cạnh đó, đức Khiết tịnh cũng đang phải đối diện với một nền văn hóa hưởng thụ đầy rẫy những quan niệm lệch lạc, nơi tính dục bị tách rời khỏi các giá trị đạo đức và bị hạ thấp thành một món hàng tiêu dùng đơn thuần. Trong bối cảnh ấy, người tu sĩ chọn sống khiết tịnh không phải vì họ chối bỏ tình yêu, mà là để minh chứng cho một "tình yêu lớn hơn" – một tình yêu trọn vẹn dành cho Đấng Tuyệt Đối. Đây thực sự là một lối đi ngược dòng đầy cam go, đòi hỏi một sự chín chắn về cả tâm lý lẫn tình cảm để không bị cuốn theo những trào lưu của thế giới tục hóa.

Cuối cùng, chủ nghĩa thực dụng trong xã hội hiện đại liên tục đặt ra câu hỏi về sự "hữu ích" của đời sống thánh hiến: "Đi tu để làm gì? Tại sao không dùng năng lực đó để cống hiến cho kinh tế hay đầu tư cho những dự án từ thiện xã hội chuyên nghiệp?". Đứng trước những chất vấn ấy, một câu trả lời tuyệt vời có thể được tìm thấy qua hình ảnh cô Maria làng Bêtania xức dầu thơm quý giá lên chân Chúa: đó là một sự "lãng phí thánh thiêng". Đời sống thánh hiến chính là lời khẳng định mạnh mẽ rằng Thiên Chúa xứng đáng để con người dám "lãng phí" cả cuộc đời chỉ để yêu mến và phụng sự Người, vượt lên trên mọi thước đo tính toán về hiệu quả vật chất của thế gian.

Định hướng mục vụ: Trung thành sáng tạo và Linh đạo Hiệp hành

Nhằm giúp các tu sĩ "Sống Ơn Gọi Thừa Sai Trong Thời Đại Mới" một cách nhiệt thành và hiệu quả nhất, Đại hội lần thứ VIII của Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam, diễn ra từ ngày 17-21/11/2025 tại Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Núi Cúi, đã đề ra những định hướng mục vụ cụ thể, tập trung vào việc trung thành với căn tính và đổi mới trong sứ mạng.

Trước hết, linh đạo Hiệp hành được xác định không chỉ là một khẩu hiệu nhất thời mà phải trở thành lối sống cốt lõi, nơi các dòng tu được mời gọi thực hành việc lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần qua những chia sẻ chân thành của anh chị em trong cộng đoàn cũng như qua các biến cố thời đại. Việc áp dụng phương pháp "Đối thoại trong Thánh Thần" sẽ giúp các tu sĩ giải quyết những bất đồng nội bộ, cùng nhau phân định ý Chúa để tìm ra hướng đi đúng đắn cho tương lai.

Gắn liền với tinh thần đó là sứ mạng "Anh em là ánh sáng thế gian", thôi thúc mỗi tu sĩ trở thành một ngọn nến cháy sáng bằng chính sự thánh thiện cá nhân thay vì tìm kiếm những ánh hào quang bên ngoài. Giáo hội mời gọi những người tận hiến can đảm "đi ra" khỏi vùng an toàn của nhà dòng để hiện diện tại những "vùng ngoại biên" tối tăm nhất của xã hội, mang hy vọng đến cho những người bị gạt ra bên lề, những tâm hồn trầm cảm hay những người trẻ đang mất phương hướng giữa dòng đời.

Đặc biệt, trong bối cảnh kỷ nguyên số, hình ảnh nhà thừa sai mới cần được khắc họa qua việc thích ứng với các diễn đàn trực tuyến, đòi hỏi người tu sĩ phải am hiểu về trí tuệ nhân tạo và văn hóa kỹ thuật số. Chỉ khi làm chủ được ngôn ngữ của thời đại, họ mới có thể trình bày Tin Mừng một cách thuyết phục và sống động mà vẫn giữ vững được cốt lõi đức tin giữa một thế giới đang biến chuyển không ngừng.

Sự hiệp thông của Dân Chúa

Chương III của Tông huấn Vita Consecrata nhấn mạnh đời sống thánh hiến không phải là tài sản riêng của người tu sĩ, mà thuộc về toàn bộ dân Chúa. Sự hiệp thông này đòi hỏi trách nhiệm và vai trò cụ thể từ mọi thành phần trong Giáo hội.

Trước hết, Tông huấn khẳng định mỗi gia đình chính là một "chủng viện sơ cấp". Một tổ ấm đạo đức, nơi mọi thành viên biết cùng nhau thắp sáng giờ kinh tối và chia sẻ Lời Chúa, chính là mảnh đất màu mỡ nhất để hạt giống ơn gọi được nảy mầm và lớn mạnh. Vì thế, các bậc cha mẹ được mời gọi hãy nhìn nhận việc có con cái dâng mình cho Thiên Chúa là một hồng ân cao quý dành cho gia đình, thay vì coi đó là một sự mất mát hay chia lìa.

Bên cạnh đó, đối với các Kitô hữu giáo dân, tất cả chúng ta đều có bổn phận thiêng liêng là nâng đỡ các tu sĩ bằng lời cầu nguyện chân thành và tinh thần cộng tác nhiệt tâm. Chính sự khích lệ, yêu thương từ cộng đoàn giáo xứ sẽ trở thành nguồn động viên vô tận, tiếp thêm sức mạnh cho các tu sĩ đang ngày đêm dấn thân phục vụ trên cánh đồng truyền giáo.

Trong ngày lễ 2/2 sắp tới, khi cầm trên tay ngọn nến sáng kỷ niệm 29 năm Ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến, chúng ta được nhắc nhở rằng đặc tính của nến là phải cháy và tiêu hao để tỏa sáng. Đời sống thánh hiến chính là một cuộc "tiêu hao" tự nguyện: họ tiêu hao thời gian để cầu nguyện cho thế giới, tiêu hao sức khỏe để phục vụ người nghèo và tiêu hao cái tôi cá nhân để tôn vinh Thiên Chúa. Dù thế gian có thể coi đây là sự lãng phí, nhưng dưới con mắt đức tin, đó chính là sự "lãng phí thánh thiêng" của tình yêu. Chừng nào nhân loại còn những tâm hồn dám dâng hiến trọn vẹn như thế, chừng đó Giáo hội vẫn còn sức sống và thế giới vẫn còn hy vọng. Xin gửi đến các tu sĩ nam nữ một tâm tình tri ân chân tình cùng lời cầu chúc cho “ngọn lửa nhiệt huyết thuở ban đầu” luôn rực cháy, trở thành ánh sáng soi đường cho nhân loại trên hành trình tiến về Quê Trời.

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2026-01/doi-song-thanh-hien-ngon-nen-sang-tieu-hao-cho-mot-tinh-yeu-lon.html

THƯ BỘ TU SĨ GỞI CÁC TU SĨ NHÂN NGÀY THÉ GIỚI ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN NĂM 2026

 


Thư Bộ Tu sĩ gửi các tu sĩ nhân Ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến năm 2026

Ngày 28/1/2026, Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Tu đoàn Tông đồ, được gọi tắt là Bộ Tu sĩ, đã gửi thư đến các tu sĩ nam nữ trên toàn thế giới, trong đó nhấn mạnh chiều kích ngôn sứ mạnh mẽ của tu sĩ như một “sự hiện diện kiên trì”: ở lại với con người bị tổn thương, chia sẻ nỗi đau của họ và làm chứng cho Tin Mừng bằng đời sống trung thành, khiêm tốn và sáng tạo.

Vatican News

Bức thư được ký bởi nữ tu Simona Brambilla, Tổng trưởng của Bộ, Đức Hồng y Ángel Fernández Artime, Đồng Tổng trưởng, và nữ tu Tiziana Merletti, Tổng Thư ký, có tựa đề “Sự hiện diện mang tính ngôn sứ: đời sống thánh hiến ở nơi phẩm giá bị tổn thương và đức tin bị thử thách”, được công bố nhân Ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến lần thứ 30, sẽ được cử hành vào thứ Hai ngày 2/2/2026.

Sự hiện diện của tu sĩ là dấu hiệu Thiên Chúa không bỏ rơi dân Người

Nội dung thư được gợi hứng từ những chuyến thăm mục vụ và các cuộc gặp gỡ với nhiều cộng đoàn thánh hiến đang hiện diện tại những nơi chịu ảnh hưởng nặng nề bởi xung đột, bất ổn chính trị – xã hội, nghèo đói, di cư cưỡng bức, bạo lực, và tình trạng thiểu số tôn giáo. Trong những hoàn cảnh ấy, phẩm giá con người và thậm chí cả đức tin bị đặt trước những thử thách nghiêm trọng.

Tuy nhiên, các vị lãnh đạo của Bộ Tu sĩ nhấn mạnh rằng chính trong những bối cảnh mong manh và đau khổ đó, đời sống thánh hiến bộc lộ chiều kích ngôn sứ mạnh mẽ của mình như một “sự hiện diện kiên trì”: ở lại với con người bị tổn thương, chia sẻ nỗi đau của họ và làm chứng cho Tin Mừng bằng đời sống trung thành, khiêm tốn và sáng tạo. "Sự hiện diện 'trung thành, khiêm nhường, sáng tạo và kín đáo' của những người thánh hiến trở thành một 'dấu hiệu' cho thấy 'Thiên Chúa không bỏ rơi dân Người'".

Sự hiện diện mang tính ngôn sứ

Sự “ở lại” này, theo các vị lãnh đạo của Bộ Tu sĩ, không phải là thái độ cam chịu hay bất động, nhưng là niềm hy vọng tích cực, được thể hiện qua những lời nói làm dịu bớt hận thù, những mối quan hệ thúc đẩy đối thoại và những lựa chọn bảo vệ người bé mọn, ngay cả khi phải trả giá. Sự "ở lại" này không chỉ đơn thuần là một lựa chọn cá nhân hay cộng đồng, mà trở thành “một sự hiện diện mang tính ngôn sứ cho toàn thể Giáo hội và thế giới”.

Ở lại trong tình yêu và không bỏ rơi con người

Bức thư cũng làm nổi bật sự phong phú của các hình thức đời sống thánh hiến: đời sống tông đồ thể hiện sự gần gũi cụ thể; đời sống chiêm niệm gìn giữ hy vọng bằng lời cầu nguyện trung thành; các Tu hội đời sống thế tục là men Tin Mừng giữa xã hội; Hội Trinh nữ và đời sống ẩn tu nhắc nhớ về tính nhưng không, lòng trung tín và sự tối thượng của Thiên Chúa. Trong sự đa dạng ấy, một lời ngôn sứ duy nhất được thể hiện: ở lại trong tình yêu và không bỏ rơi con người.

Kết thúc, Bộ Tu sĩ cảm ơn các tu sĩ nam nữ vì sự kiên trì của họ, mời gọi họ tiếp tục là những người hành hương của hy vọng, để đời sống thánh hiến thực sự trở thành “ngôn sứ của sự hiện diện và hạt giống hòa bình” cho Giáo hội và thế giới hôm nay.

https://www.vaticannews.va/vi/vatican-city/news/2026-01/ngay-the-gioi-doi-song-thanh-hien-bo-tu-si-hien-dien-ngon-su.html

FEBRUARY 2, 2026: FEAST OF THE PRESENTATION OF THE LORD - WORLD DAY OF CONSECRATED AND RELIGIOUS LIFE

 February 2, 2026

Feast of the Presentation of the Lord

Lectionary: 524

 


Reading I

Malachi 3:1-4

    Thus says the Lord GOD:
Lo, I am sending my messenger
    to prepare the way before me;
And suddenly there will come to the temple
    the LORD whom you seek,
And the messenger of the covenant whom you desire.
    Yes, he is coming, says the LORD of hosts.
But who will endure the day of his coming?
    And who can stand when he appears?
For he is like the refiner’s fire,
    or like the fuller’s lye.
He will sit refining and purifying silver,
    and he will purify the sons of Levi,
Refining them like gold or like silver
    that they may offer due sacrifice to the LORD.
Then the sacrifice of Judah and Jerusalem
    will please the LORD,
    as in the days of old, as in years gone by.
 

Responsorial Psalm

Psalm 24:7, 8, 9, 10

R.    (8) Who is this king of glory?  It is the Lord!
Lift up, O gates, your lintels;
    reach up, you ancient portals,
    that the king of glory may come in!
R.    Who is this king of glory?  It is the Lord!
Who is this king of glory?
    The LORD, strong and mighty,
    the LORD, mighty in battle.
R.    Who is this king of glory?  It is the Lord!
Lift up, O gates, your lintels;
    reach up, you ancient portals,
    that the king of glory may come in!
R.    Who is this king of glory?  It is the Lord!
Who is this king of glory?
    The LORD of hosts; he is the king of glory.
R.    Who is this king of glory?  It is the Lord!
 

Reading II

Hebrews 2:14-18

Since the children share in blood and flesh,
Jesus likewise shared in them,
that through death he might destroy the one
who has the power of death, that is, the Devil,
and free those who through fear of death
had been subject to slavery all their life.
Surely he did not help angels
but rather the descendants of Abraham;
therefore, he had to become like his brothers and sisters
in every way,
that he might be a merciful and faithful high priest before God
to expiate the sins of the people.
Because he himself was tested through what he suffered,
he is able to help those who are being tested.

 

Alleluia

Luke 2:32

R. Alleluia, alleluia.
A light of revelation to the Gentiles,
and glory for your people Israel.
R. Alleluia, alleluia.
 

Gospel

Luke 2:22-40 or 2:22-32

When the days were completed for their purification
according to the law of Moses,
Mary and Joseph took Jesus up to Jerusalem
to present him to the Lord,
just as it is written in the law of the Lord,
Every male that opens the womb shall be consecrated to the Lord,
and to offer the sacrifice of
a pair of turtledoves or two young pigeons,
in accordance with the dictate in the law of the Lord. 

Now there was a man in Jerusalem whose name was Simeon.
This man was righteous and devout,
awaiting the consolation of Israel,
and the Holy Spirit was upon him.
It had been revealed to him by the Holy Spirit
that he should not see death
before he had seen the Christ of the Lord. 
He came in the Spirit into the temple;
and when the parents brought in the child Jesus
to perform the custom of the law in regard to him,
he took him into his arms and blessed God, saying:

    “Now, Master, you may let your servant go 
        in peace, according to your word,
    for my eyes have seen your salvation,
        which you prepared in the sight of all the peoples:
    a light for revelation to the Gentiles,
        and glory for your people Israel.”

The child’s father and mother were amazed at what was said about him;
and Simeon blessed them and said to Mary his mother,
“Behold, this child is destined
for the fall and rise of many in Israel,
and to be a sign that will be contradicted
-and you yourself a sword will pierce-
so that the thoughts of many hearts may be revealed.”
There was also a prophetess, Anna,
the daughter of Phanuel, of the tribe of Asher.
She was advanced in years,
having lived seven years with her husband after her marriage,
and then as a widow until she was eighty-four.
She never left the temple,
but worshiped night and day with fasting and prayer.
And coming forward at that very time,
she gave thanks to God and spoke about the child
to all who were awaiting the redemption of Jerusalem.

When they had fulfilled all the prescriptions
of the law of the Lord,
they returned to Galilee, to their own town of Nazareth.
The child grew and became strong, filled with wisdom;
and the favor of God was upon him.

OR:

When the days were completed for their purification
according to the law of Moses,
Mary and Joseph took Jesus up to Jerusalem
to present him to the Lord,
just as it is written in the law of the Lord,
Every male that opens the womb shall be consecrated to the Lord,
and to offer the sacrifice of
a pair of turtledoves or two young pigeons,
in accordance with the dictate in the law of the Lord. 

Now there was a man in Jerusalem whose name was Simeon.
This man was righteous and devout,
awaiting the consolation of Israel,
and the Holy Spirit was upon him.
It had been revealed to him by the Holy Spirit
that he should not see death
before he had seen the Christ of the Lord. 
He came in the Spirit into the temple;
and when the parents brought in the child Jesus
to perform the custom of the law in regard to him,
he took him into his arms and blessed God, saying:

    “Now, Master, you may let your servant go 
        in peace, according to your word,
    for my eyes have seen your salvation,
        which you prepared in the sight of all the peoples:
    a light for revelation to the Gentiles,
        and glory for your people Israel.”

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/020226.cfm

 

 


Commentary on Malachi 3:1-4 or Hebrews 2:14-18; Luke 2:22-40

Today’s Gospel says:

…they brought [Jesus] up to Jerusalem to present him to the Lord (as it is written in the law of the Lord, “Every firstborn male shall be designated as holy to the Lord”)…

The actual ritual is not described, but we are introduced to two elderly people who were in the Temple at the time. 

The first of these was a devout man called Simeon. He had been told that he would not die until he had first laid eyes on the promised Messiah. Guided by the Spirit, he came into the Temple and recognized Mary’s child as the long-awaited Messiah. He makes a prayer of thanksgiving to God for answering his prayer “for my eyes have seen your salvation”. And what he has seen is:

…a light for revelation to the gentiles
and for glory to your people Israel.

Jesus, the Incarnate Word of God, is a divine revelation to the non-Jews and the glory of God’s own people from whom he came. 

Mary and Joseph are quite amazed at the words being spoken. There is a lot they still do not know about their Son. But Simeon then had some ominous words for the Mother:

This child is destined for the falling and the rising of many in Israel and to be a sign that will be opposed so that the inner thoughts of many will be revealed—and a sword will pierce your own soul, too.

This is the paradox of Jesus. He comes as Saviour bringing life for the whole world, and yet there will be people who will reject his message of truth and life. His own people will be deeply divided over him. This will be a source of deep pain for his Mother, something she will not realize fully until she sees him die in agony before her eyes. Though at the time, Simeon’s words must have been very puzzling and even alarming to Mary and Joseph.

The second person to greet the parents and their Child was another deeply religious person. She was Anna, who:

…lived with her husband seven years after her marriage, then as a widow to the age of eighty-four.

She spent all her time in the Temple in prayer and fasting. On seeing the Child, she gave thanks to God and spoke about him to everyone she met. 

In the past, when this feast was called the Purification of Our Lady, there was for a long time a custom in the Church for mothers to go through a purification ceremony after giving birth. Such a rite is now seen as unnecessary, but the revised Rituale Romanum (Roman Ritual) still provides for the “blessing of a woman” both before and after childbirth. The latter is only in cases where the mother could not be present at the baptism of her child. In general, it would seem highly appropriate for a special blessing to be given to mothers on this day.

The feast is now called the Presentation of Our Lord and the emphasis is more on Jesus than on his Mother. The blessing and the procession of candles, as well as the Scripture readings, focus on Jesus who is the “Light of the World”.

The First Reading* is from the prophet Malachi. It consists of a prophecy which can be applied to the Messiah, and hence to Jesus. The opening sentence reminds one of John the Baptist:

See, I am sending my messenger to prepare the way before me…

But then the rest of the paragraph foreshadows today’s feast:

…the Lord whom you seek will suddenly come to his temple. The messenger of the covenant in whom you delight—indeed, he is coming, says the Lord of hosts.

This is a clear reference to Jesus as the Word of God and the one who will inaugurate the New Covenant between God and his people. The prophecy goes on to warn that the coming Messiah will be a real challenge; he will be “like the refiner’s fire”. He will:

…purify the descendants of Levi and refine them like gold and silver, until they present offerings to the Lord in righteousness.

For those who welcome his message and his call, Jesus is good news, but for those who will reject his call, it will mean death and the end of life. 

The alternate First Reading (or Second Reading when the feast falls on a Sunday) is from the Letter to the Hebrews. It speaks of the meaning of God’s Son coming to live among us as one of us—which, of course, is the theme of today’s feast. For the Son of God came to share our flesh and blood and all that goes with it. It was in this way that he would:

…destroy the one who has the power of death, that is, the devil…

On the contrary, for us he has come to:

…free those who all their lives were held in slavery by the fear of death.

In order to do this, the Son:

…had to become like his brothers and sisters in every respect, so that he might become a merciful and faithful high priest in the service of God, to make a sacrifice of atonement for the sins of the people.

And, on the cross, Jesus will be both Priest and Victim, the Lamb of God who takes away the sins of the world. 

As the reading concludes,

Because he himself was tested by what he suffered, he is able to help those who are being tested.

All of this is foreshadowed in the warnings that Simeon gives to Mary about the sword of sorrow which will pierce her heart.
_________________________________________

*During years when this feast falls on a Sunday, both First Reading options are read as a First Reading and Second Reading.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0202r/

 

 


Monday, February 2, 2026

The Presentation of the Lord

Opening Prayer

O God, our Creator and Father, You willed that Your Son, generated before the dawn of the world, should become a member of the human family. Rekindle in us an appreciation for the gift of life, so that parents may participate in the fruitfulness of Your love, old people may pass on to young ones their mature wisdom, and children may grow in wisdom, piety and grace, all giving praise to Your holy name. Through Christ our Lord.

Gospel Reading: Luke 2: 22-40

When the days were completed for their purification according to the law of

Moses, Mary and Joseph took Jesus up to Jerusalem to present him to the Lord, just as it is written in the law of the Lord, Every male that opens the womb shall be consecrated to the Lord, and to offer the sacrifice of a pair of turtledoves or two young pigeons, in accordance with the dictate in the law of the Lord. 

Now there was a man in Jerusalem whose name was Simeon. This man was righteous and devout, awaiting the consolation of Israel, and the Holy Spirit was upon him. It had been revealed to him by the Holy Spirit that he should not see death before he had seen the Christ of the Lord. He came in the Spirit into the temple; and when the parents brought in the child Jesus to perform the custom of the law in regard to him, he took him into his arms and blessed God, saying: “Now, Master, you may let your servant go in peace, according to your word, for my eyes have seen your salvation, which you prepared in the sight of all the peoples: a light for revelation to the Gentiles, and glory for your people Israel.”  The child’s father and mother were amazed at what was said about him; and Simeon blessed them and said to Mary his mother, “Behold, this child is destined for the fall and rise of many in Israel, and to be a sign that will be contradicted

Band you yourself a sword will pierce so that the thoughts of many hearts may be revealed.” 

There was also a prophetess, Anna, the daughter of Phanuel, of the tribe of Asher. She was advanced in years, having lived seven years with her husband after her marriage, and then as a widow until she was eighty-four. She never left the temple, but worshiped night and day with fasting and prayer. And coming forward at that very time, she gave thanks to God and spoke about the child to all who were awaiting the redemption of Jerusalem. 

When they had fulfilled all the prescriptions of the law of the Lord, they returned to Galilee, to their own town of Nazareth. The child grew and became strong, filled with wisdom; and the favor of God was upon him.

A Moment of Prayerful Silence

           that the Word of God may dwell in us and that we may allow it to enlighten our lives;

           that before we share any comments, the very light of the Word may shine and dominate with the mystery of the living presence of the Lord.

Some Questions

to help us in our personal reflection.

           Why should Jesus, Son of the Most High, and His mother Mary, conceived without sin, obey the prescriptions of Moses? Was Mary perhaps not yet aware of her innocence and holiness?

           Is there special significance in the words and attitudes of Simeon and the prophetess Anna? Do not their actions and joy perhaps recall the style of the ancient prophets?

           How can we explain this "sword" that pierces? Is it a rending of consciences before the challenges and richness of Jesus? Or is it only the inner pains of the Mother?

           Can this scene mean anything to parents today: for the religious formation of their children; for the plan that God has for each of their children; for the fears and sufferings that parents carry in their hearts when they think of the time when their children grow up?

A Key to the Reading

for those who wish go deeper into the text.

           As laid down in the law of Moses/of the Lord. This is a kind of refrain repeated several times. Luke mixes two prescriptions without making any distinction. The purification of the mother was foreseen in Leviticus (12: 2-8) and was to take place forty days after the birth. Until then, the woman could not approach sacred places, and the ceremony was accompanied by the gift of a small animal. But the consecration of the first-born was prescribed in Exodus (13: 11-16) and was considered a kind of "ransom" in memory of the saving action of God when He liberated the Israelites from slavery in Egypt. For this also the offering was a small animal. Throughout this scene, the parents seem to be in the process of presenting/offering their son as was done with sacrifices and Levites, while through the persons of Simeon and Anna it seems rather God who offers/presents the son for the salvation of people.

           Simeon and Anna: these are figures full of symbolic value. Their role is one of recognition, that comes from both the enlightenment and action of the Spirit and a life lived in expectation and faith. Simeon especially is defined as prodek menos, that is, one entirely absorbed in waiting, and one who goes forward to welcome. He, too, appears to be obedient to the law, the law of the Spirit, who leads him towards the child in the temple. The canticle he proclaims manifests his pro-existentia: he has lived in order to come to this moment, and now he withdraws so that others may see the light and the salvation to come for Israel and the gentiles. Anna completes the picture, by her very age (symbolic value: 84 equals 7x12, the twelve tribes of Israel; or 84 7 = 77, double perfection), but above all by her way of living (fasting and praying) and by her proclamation to all who "looked forward". She is led by the Spirit of prophecy, docile and purified in her heart. Besides, she belongs to the smallest of the tribes, that of Asher, a sign that the small and fragile are the ones more disposed to recognize Jesus, the Savior. Both of these old people, who look like an original couple, are symbols of the best of Judaism, of faithful and meek Jerusalem, that awaits and rejoices and that from now on allows the new light to shine.

           A sword will pierce: generally, these words are interpreted as meaning that Mary will suffer, a drama made visible in Our Lady of Sorrows. Rather, we need to see the Mother as a symbol of Israel. Simeon feels the drama of his people who will be deeply torn by the living and sharp word of the redeemer (cf. Lk 12: 51-53). Mary represents the path: she must trust, but will go through times of pain and darkness, struggles and painful silences. The story of the suffering Messiah will be painful for all, even for the Mother. One does not follow the new light of the whole world without paying the cost, without being provoked to make risky choices, without being always born again from on high and in newness. But these images of the "sword that pierces," of the child who will "trip" and shake hearts from their lethargy, are not to be separated from the meaningful action of the two old people: the one, Simeon, takes the child in his arms to show that faith is a meeting and an embrace, not an idea or theorem; the other, Anna, takes on the role of proclaiming and en-kindles a bright light in the hearts of all who "looked forward" to Him.

           Daily life, an epiphany of God. Finally, it is interesting to note that the whole episode emphasizes the situation of the most simple and homely: the young couple with the child in their arms; the old man who rejoices and embraces, the old woman who prays and proclaims, those listening who appear to be indirectly involved. At the end of the passage, we also get a glimpse of the village of Nazareth, of the growth of the child in a normal context, the impression of a child extraordinarily gifted with wisdom and goodness. The theme of wisdom, woven into the fabric of normal life and growth in a village context, leaves the story as if in suspense, and it will be taken up again precisely with the theme of the wisdom of the boy among the doctors in the temple. Indeed, this is the episode that follows immediately (Lk 2:41-52).

Psalm 122

I was glad when they said to me, "Let us go to the house of the Lord!" Our feet have been standing within your gates, O Jerusalem!

Jerusalem, built as a city which is bound firmly together, to which the tribes go up, the tribes of the Lord, as was decreed for Israel, to give thanks to the name of the Lord. There thrones for judgment were set, the thrones of the house of David.

Pray for the peace of Jerusalem! "May they prosper who love you! Peace be within your walls, and security within your towers!"

For my brethren and companions' sake I will say, "Peace be within you!" For the sake of the house of the Lord our God, I will seek your good.

Final Prayer

Father, we praise You and we bless You because through Your Son, born of woman by the working of the Holy Spirit, born under the law, has ransomed us from the law and You have filled our life with light and new hope. May our families welcome and remain faithful to Your designs; may they help and sustain in their children the new dreams and enthusiasm, wrap them in tenderness when they are fragile, educate them in love for You and for all creatures. All honor and glory to You, Father. Amen.

www.ocarm.org

 

02.02.2026: THỨ HAI TUẦN IV THƯỜNG NIÊN - DÂNG CHÚA GIÊ-SU TRONG ĐỀN THÁNH (LỄ NẾN) - LỄ KÍNH

 02/02/2026

 Thứ Hai tuần 4 thường niên.

 DÂNG CHÚA GIÊSU TRONG ĐỀN THÁNH (Lễ nến).

 Lễ kính

Ngày cầu nguyện cho đời sống thánh hiến

 


* Dâng Chúa trong Đền Thánh, Chúa Kitô gặp gỡ dân thánh nơi con người cụ già Simêon, Đức Maria được thanh tẩy theo luật Môsê, lễ Nến, đó là những tên gọi khác nhau để chỉ ngày lễ hôm nay, bốn mươi ngày sau lễ Giáng Sinh, kết thúc những ngày lễ trọng mừng việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người nơi Ngôi Lời mặc xác phàm.

 

Làm phép và kiệu nến

Hình thức 1: kiệu nến giáo dân tụ họp ngoài nhà thờ

Chủ tế chào giáo dân như thường lệ và đọc:

Anh chị em thân mến, cách đây bốn mươi ngày, chúng ta đã hân hoan cử hành lễ Chúa Cứu Thế giáng sinh. Hôm nay chúng ta mừng ngày Chúa Cứu Thế được Thân Mẫu và thánh Giu-se dâng cho Thiên Chúa Cha trong đền thánh.

Nhìn từ bên ngoài, ta thấy Người làm theo luật dạy, nhưng thực ra, qua biến cố này, Người đến gặp dân Người. Quả vậy, cụ già Si-mê-on và nữ ngôn sứ An-na, được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, đã tới đền thánh. Cũng chính nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng mà các ngài đã nhận ra em bé Giêsu chính là Chúa của mình và hoan hỷ loan báo cho những người khác.

Phần chúng ta hôm nay cũng vậy, chúng ta đã được Chúa Thánh Thần quy tụ nơi đây, và chúng ta sẽ cùng nhau tiến về nhà Chúa gặp Ðức Ki-tô. Chắc chắn chúng ta sẽ gặp Người, sẽ nhận ra Người khi bẻ bánh, trong lúc đợi chờ Người trở lại vinh quang.

Làm phép nến:

Lạy Chúa là nguồn ánh sáng thật và là Ðấng tạo thành ánh sáng. Chúa đã chỉ cho cụ già Si-mê-on nhận ra Ðức Ki-tô chính là ánh sáng soi đường cho dân ngoại. Chúng con tha thiết nài xin Chúa ban phúc lành mà X thánh hoá những cây nến này. Xin nhận lời dân Chúa đang tụ họp, miệng ca mừng Thánh Danh, tay cầm đèn cháy sáng: Ước gì chúng con luôn thẳng đường ngay lối tiến đến cùng Ðức Ki-tô là ánh sáng chẳng bao giờ tàn lụi. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

Chủ tế thinh lặng rảy nước thánh.

Chủ tế nhận nến và bắt đầu đi kiệu, ngài nói:

Chúng ta cùng an vui tiến bước để chào đón Chúa Ki-tô.

Sau khi đi kiệu thì hát kinh vinh danh thánh lễ như thường

Hình thức 2: nghi thức nhập lễ trọng thể; giáo dân tụ họp trong nhà thờ.

Chủ tế đến nơi đã định ngoài cung thánh; chào khuyên, làm phép nến, đi kiệu như hình thức I.

 

Bài Ðọc I: Ml 3, 1-4

“Ðấng Thống Trị mà các ngươi tìm kiếm, đến trong đền thánh Người”.

Trích sách Tiên tri Malakhi.

Này đây Chúa là Thiên Chúa phán: “Ðây Ta sai thiên thần Ta đi dọn đường trước mặt Ta!” Lập tức Ðấng Thống Trị mà các ngươi tìm kiếm, và thiên thần giao ước mà các ngươi mong ước, đến trong đền thánh Người. Chúa các đạo binh phán: “Này đây Người đến”. Ai có thể suy tưởng đến ngày Người đến, và có thể đứng vững để trông nhìn Người? Vì Người sẽ như lửa thiêu đốt, như thuốc giặt của thợ giặt. Người sẽ ngồi như thợ đúc và thợ lọc bạc, Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi, và làm cho chúng nên sạch như vàng bạc. Chúng sẽ hiến dâng lễ tế cho Chúa trong công bình. Lễ tế của Giuđa và Giêrusalem sẽ đẹp lòng Chúa, như ngày xưa và như những năm trước. Ðó là lời Chúa toàn năng phán.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 23, 7. 8. 9. 10

Ðáp: Vua hiển vinh là ai vậy?

Xướng: Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên; vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu! để Vua hiển vinh Người ngự qua.

Xướng: Nhưng Vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa dũng lực hùng anh, đó là Chúa anh hùng của chiến chinh.

Xướng: Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên, vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để vua hiển vinh Người ngự qua.

Xướng: Nhưng Vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa đạo thiên binh, chính Người là Hoàng Ðế hiển vinh. 

 

Bài Ðọc II: Dt 2, 14-18

“Người phải nên giống anh em mình mọi đàng”.

Trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Vì các con trẻ cùng chung thân phận máu thịt, chính Chúa Giêsu cũng giống như chúng, cũng thông phần điều đó, để nhờ cái chết của Người mà Người huỷ diệt kẻ thống trị sự chết là ma quỷ, và để giải thoát tất cả những kẻ sợ chết mà làm nô lệ suốt đời. Vì chưng Người không đến cứu giúp các thiên thần, nhưng đến cứu giúp con cái Abraham. Bởi thế, Người nên giống anh em Mình mọi đàng, ngõ hầu trong khi phụng sự Chúa, Người trở thành đại giáo trưởng nhân lành và trung tín với Chúa, để đền tội cho dân. Quả thật, bởi chính Người đã chịu khổ hình và chịu thử thách, nên Người có thể cứu giúp những ai sống trong thử thách.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Lc 2,32

Alleluia, alleluia! – Ánh sáng đã chiếu soi muôn dân, và là vinh quang của Israel dân Chúa. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 2, 22-32 [hoặc 22-40]

“Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Lề luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là người thánh thuộc về Chúa”. Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, như có nói trong Luật Chúa, là một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu con.

Và đây ở Giêrusalem, có một người tên là Simêon, là người công chính, kính sợ Thiên Chúa, và đang đợi chờ niềm ủi an của Israel. Thánh Thần cũng ở trong ông. Ông đã được Thánh Thần trả lời rằng: Ông sẽ không chết, trước khi thấy Ðấng Kitô của Chúa. Ðược Thánh Thần thúc giục, ông vào đền thờ ngay lúc cha mẹ trẻ Giêsu đưa Người đến để thi hành cho Người những tục lệ của Lề luật. Ông bồng Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:

“Lạy Chúa, giờ đây, Chúa để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an theo như lời Chúa đã phán: vì chính mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là Ánh sáng chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa”.

[ Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Maria mẹ Người rằng: “Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ!”

Lúc ấy, cũng có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.

Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo Luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người. ]

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Malakhi 3,1-4 hoặc Híp-ri 2,14-18; Luca 2,22-40

Bài Phúc Âm hôm nay nói rằng:

…họ đem [Chúa Giê-su] lên Giê-ru-sa-lem để dâng Ngài cho Chúa (như đã chép trong luật của Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng đều phải được thánh hiến cho Chúa”)…

Nghi thức cụ thể không được mô tả, nhưng chúng ta được giới thiệu với hai người già có mặt trong Đền thờ lúc đó.

Người đầu tiên là một người đàn ông mộ đạo tên là Si-mê-ôn. Ông đã được báo trước rằng ông sẽ không chết cho đến khi ông được tận mắt nhìn thấy Đấng Mê-si-a đã được hứa. Được Thánh Linh hướng dẫn, ông đến Đền thờ và nhận ra con của Ma-ri-a là Đấng Mê-si-a được mong đợi từ lâu. Ông dâng lời cầu nguyện tạ ơn Chúa vì đã nhậm lời cầu nguyện của ông “vì mắt tôi đã thấy sự cứu rỗi của Ngài”. Và điều ông đã thấy là:

…ánh sáng để tỏ bày cho dân ngoại

và để vinh hiển cho dân Ít-ra-en của Ngài.

Chúa Giê-su, Ngôi Lời nhập thể của Thiên Chúa, là một mặc khải thiêng liêng cho những người không phải là người Do Thái và là vinh quang của chính dân Chúa, từ đó Ngài xuất thân.

Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse vô cùng kinh ngạc trước những lời được nói ra. Có rất nhiều điều họ vẫn chưa biết về Con trai mình. Nhưng Si-mê-ôn sau đó đã nói những lời đầy điềm báo với Mẹ:

Đứa trẻ này được định sẵn cho sự sa ngã và trỗi dậy của nhiều người trong Ít-ra-en và là một dấu hiệu sẽ bị chống đối để những suy nghĩ sâu kín của nhiều người sẽ bị phơi bày—và một thanh gươm cũng sẽ đâm thấu tâm hồn của chính Mẹ.

Đây là nghịch lý của Chúa Giê-su. Ngài đến như Đấng Cứu Thế mang lại sự sống cho toàn thế giới, nhưng vẫn sẽ có những người từ chối thông điệp về chân lý và sự sống của Ngài. Chính dân Ngài sẽ bị chia rẽ sâu sắc về Ngài. Điều này sẽ là nguồn gốc của nỗi đau đớn tột cùng cho Mẹ Ngài, điều mà bà sẽ không nhận ra hoàn toàn cho đến khi bà chứng kiến ​​Ngài chết trong đau đớn trước mắt mình. Mặc dù vào thời điểm đó, những lời của Si-mê-ôn hẳn đã rất khó hiểu và thậm chí đáng báo động đối với Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse. Người thứ hai đến chào đón cha mẹ và Hài nhi là một người cũng rất sùng đạo. Đó là Anna, người:

…sống với chồng bảy năm sau khi kết hôn, sau đó góa chồng đến năm tám mươi tư tuổi.

Bà dành toàn bộ thời gian ở Đền thờ để cầu nguyện và ăn chay. Khi nhìn thấy Hài nhi, bà tạ ơn Chúa và kể về Người cho mọi người bà gặp.

Trước đây, khi lễ này được gọi là Lễ Thanh Tịnh Đức Mẹ, trong một thời gian dài, Giáo hội có tục lệ các bà mẹ phải trải qua nghi lễ thanh tẩy sau khi sinh con. Nghi thức như vậy hiện nay được coi là không cần thiết, nhưng Nghi thức La Mã (Rituale Romanum) sửa đổi vẫn quy định việc “ban phước cho người phụ nữ” cả trước và sau khi sinh con. Việc ban phước sau chỉ áp dụng trong trường hợp người mẹ không thể có mặt trong lễ rửa tội của con mình. Nói chung, dường như rất thích hợp để ban phước lành đặc biệt cho các bà mẹ vào ngày này.

 

Lễ này hiện được gọi là Lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thờ và trọng tâm được đặt nhiều hơn vào Chúa Giêsu hơn là Mẹ của Người. Việc ban phước và rước nến, cũng như việc đọc Kinh Thánh, đều tập trung vào Chúa Giê-su, Đấng là “Ánh sáng của thế gian”.

Bài đọc thứ nhất* là từ sách tiên tri Malakhi. Đó là một lời tiên tri có thể áp dụng cho Đấng Mê-si-a, và do đó, cho Chúa Giê-su. Câu mở đầu gợi nhớ đến Gioan Tẩy giả:

Này, Ta sai sứ giả của Ta đi trước để dọn đường…

Nhưng sau đó, phần còn lại của đoạn văn báo trước về lễ hôm nay:

…Chúa mà các ngươi tìm kiếm sẽ đột nhiên đến đền thờ của Ngài. Sứ giả của giao ước mà các ngươi vui mừng—quả thật, Ngài đang đến, Chúa các đạo binh phán.

Đây là một sự ám chỉ rõ ràng đến Chúa Giê-su là Ngôi Lời của Thiên Chúa và là Đấng sẽ thiết lập Giao ước Mới giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Lời tiên tri tiếp tục cảnh báo rằng Đấng Mê-si-a sắp đến sẽ là một thách thức thực sự; Ngài sẽ “như lửa luyện kim”. Ngài sẽ:

…thanh tẩy dòng dõi Lê-vi và tinh luyện họ như vàng và bạc, cho đến khi họ dâng lễ vật cho Chúa trong sự công chính.

Đối với những người đón nhận sứ điệp và lời kêu gọi của Ngài, Chúa Giê-su là tin mừng, nhưng đối với những người từ chối lời kêu gọi của Ngài, điều đó sẽ có nghĩa là cái chết và sự kết thúc của cuộc sống.

Bài đọc thứ nhất thay thế (hoặc Bài đọc thứ hai khi lễ rơi vào Chúa nhật) là từ Thư gửi tín hữu Do Thái. Bài đọc này nói về ý nghĩa việc Con Thiên Chúa đến sống giữa chúng ta như một người trong chúng ta – điều mà dĩ nhiên là chủ đề của lễ hôm nay. Vì Con Thiên Chúa đến để chia sẻ thân xác và máu thịt của chúng ta cùng tất cả những gì đi kèm với nó. Chính bằng cách này mà Ngài sẽ:

…tiêu diệt kẻ có quyền lực sự chết, tức là ma quỷ…

Ngược lại, vì chúng ta mà Ngài đến để:

…giải thoát những người cả đời bị giam cầm trong sự nô lệ bởi nỗi sợ hãi về cái chết.

Để làm được điều này, Con Thiên Chúa:

…phải trở nên giống như anh chị em mình về mọi phương diện, để Ngài có thể trở thành một vị Thượng tế nhân từ và trung tín phục vụ Thiên Chúa, để dâng tế lễ chuộc tội cho dân chúng.

Và trên thập tự giá, Chúa Giêsu sẽ vừa là Thầy tế lễ vừa là Vật tế lễ, là Chiên Thiên Chúa cất đi tội lỗi của thế gian. Như đoạn Kinh Thánh kết thúc,

Vì chính Ngài đã trải qua thử thách của những đau khổ, nên Ngài có thể giúp đỡ những người đang gặp thử thách.

 

Tất cả điều này được báo trước trong những lời cảnh báo mà Si-mê-ôn dành cho Đức Mẹ về lưỡi gươm đau buồn sẽ đâm thấu tim Mẹ.

 

_________________________________________

*Trong những năm lễ này rơi vào Chúa Nhật, cả hai lựa chọn Bài đọc thứ nhất đều được đọc như Bài đọc thứ nhất và Bài đọc thứ hai.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0202r/

 

 


Xin Mẹ Dâng Chúng Con Cho Chúa  

Lễ này còn được gọi là Lễ Nến. Ông Simêon, người công chính và mộ đạo, được Thánh Thần linh báo cho biết, ông sẽ không thấy cái chết trước khi gặp Đức Kitô. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền, được Thần Khí thúc đẩy, hôm đó ông lên Đền Thánh, gặp gỡ Hài Nhi trên tay, ẵm trên tay và chào là “Ánh Sáng muôn dân” (Lc 2, 32).

Đức Maria dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh, vì theo Luật Môisen (x. Xh 13, 11-13); “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa” (Lc 2, 23) đó là lý do Hài Nhi Giêsu được dâng cho Thiên Chúa.

Đây cũng là Lễ Thanh Tẩy, kính nhớ việc Đức Maria được thanh tẩy theo luật Môsê, 40 ngày sau khi sinh Đức Giêsu. Đức Trinh Nữ Maria đã tuân theo nghi lễ thanh tẩy được ghi trong sách Lêvi: “Luật cho phụ nữ sinh trai hay gái” (Lv 12, 6-8).

Sự kiện dâng Chúa Giêsu vào đền thánh và thanh tẩy Đức Trinh Nữ đã được Luca ghi lại (Lc 2,22-39). Sự kiện này nhằm thực hiện những lề luật đã được ghi rõ trong Cựu ước (Lv 12,8). Theo luật Môsê, phụ nữ sau khi sinh con thì bị coi là nhơ uế trong 40 ngày nếu sinh con trai và trong 80 này nếu sinh con gái.

Lễ này được du nhập vào Đế quốc Đông Phương dưới triều vua Justinianô (527-565). Đối với Hội thánh Tây phương, lễ này được nhắc đến trong sách bí tích của Giáo hoàng Gelasianô vào thế kỷ 7. Kể từ cuối thế kỷ IV, Giáo hội Giêrusalem đã mừng kính lễ này. Giáo hội Hy Lạp và Milanô kể lễ này vào một số lễ trọng kính Chúa, một nghi lễ chính trong năm. Giáo hội Rôma lại thường kể lễ này vào số các lễ Đức Trinh Nữ.

Trong thông điệp về lòng tôn sùng Maria, Giáo hoàng Phaolô VI viết: “Lễ mùng 2 tháng 2, được cải tên là lễ”dâng Chúa vào đền thánh", cũng cần nhắc nhở để hưởng nguồn phong phú lớn lao của ân sủng Chúa Giêsu và Maria đi song song. Đức Kitô thực hiện mầu nhiệm cứu độ. Maria mật thiết kết hợp với Chúa chịu khổ hình, để thực hiện một sứ mạng vừa thuộc về Dân Chúa của Cựu ước, vừa là hình ảnh của Dân Tân ước luôn luôn vị bắt bớ gian khổ, thử thách đức tin và lòng trông cậy” (Lc 2,21-35) (Marialis Cultur, số 7b).

Trong ngày này, người ta làm phép nến để tưởng nhớ lời tiên tri Simêon gọi Đức Kitô là “ánh sáng soi đường cho dân ngoại” (Lc 2,32) và tổ chức kiệu nến trong nhà thờ, tượng trưng cho việc Đức Giêsu tiến vào đền thờ Giêrusalem.

Khi sát nhập vào Phụng vụ Rôma, Đức Giáo Hoàng Sergiô I (678-701) lại thêm vào nghi thức rước nến. Vì thế, từ đây, lễ này được gọi là Lễ Nến. Vì trước Thánh lễ có nghi thức làm phép nến và kiệu nến vào nhà thờ như cuộc đón rước Chúa Giêsu là Ánh Sáng của muôn dân. Những cây nến được làm phép và thắp sáng trong ngày lễ này, tượng trưng cho ánh sáng và vinh quang của Chúa Giêsu. Từ cuộc canh tân Phụng vụ năm 1960, thánh lễ này cũng qui hướng về Chúa Giêsu, hơn là Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền thờ.

Trong ngày này, Giáo hội ca vang “Vui lên, hỡi Đức Trinh Nữ Mẹ Chúa Trời, Đấng đầy ân sủng, vì từ lòng Mẹ đã sinh ra Đức Kitô Chúa chúng con là Mặt Trời công chính, Ánh Sáng chiếu soi những ai ngồi trong bóng tối. Vui lên, hỡi cụ Symêon, người công chính, vì chính cụ đã bồng ẵm Đấng giải thoát muôn dân, cho muôn dân tham dự vào sự Phục sinh của Người” (x. Phụng vụ Byzantine).

Giáo hội Đông phương hiểu Thánh lễ này thể hiện cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và dân Người. Được Ðức Maria và thánh Giuse đem vào Ðền Thánh, Chúa Giêsu đã gặp gỡ dân người mà hai cụ già Symêon và Anna là đại diện. Ðây cũng là cuộc gặp gỡ lịch sử của dân Chúa, gặp gỡ giữa các người trẻ là Ðức Marria và thánh Giuse và các người già là Symêon và Anna. Chúa Giêsu là trung tâm, chính Người lôi kéo con người đến Ðền Thánh, nhà Cha Người. Ðây còn là cuộc gặp gỡ giữa sự vâng phục của người trẻ và lời tiên tri của người già. Việc tuân giữ Luật được chính Thần Khí linh hoạt, và lời tiên tri di chuyển trên con đường do Luật vạch ra.

Lời của cụ già Symêon nói: “Đó là Ánh Sáng chiếu soi muôn dân” (Lc 2, 32). Hôm nay ai trong chúng ta cầm nến sáng trong tay mà không nhớ tới ngày cụ già Symêon bồng ẵm Hài Nhi Giêsu, Ngôi Lời trong xác phàm, là Ánh Sáng. Chính cụ là ngọn lửa cháy sáng, chứng nhân của ánh sáng, khi được đầy ơn Chúa Thánh Thần, cụ đã làm chứng rằng Hài Nhi Giêsu là Tình Yêu và là Ánh Sáng chiếu soi muôn dân.

Vậy hôm nay, chúng ta hãy nhìn cây nến cháy sáng tên tay cụ già Symêon, từ ánh sáng đó hãy thắp sáng cây nến của chúng ta…Như thế, chúng ta không những sẽ cầm ánh sáng trong tay, mà chính chúng ta là ánh sáng, ánh sáng trong lòng ta, cho đời ta, và cho mọi người.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đồng Trinh, chúng con đặt cuộc đời chúng con vào trong vòng từ mẫu của Mẹ để Mẹ dâng lên Thiên Chúa như xưa Mẹ đã dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh, tất cả chúng con thuộc về Mẹ. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ