Trang

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

08.08.2026: THỨ BẢY TUẦN XVIII THƯỜNG NIÊN - THÁNH ĐA-MINH, LINH MỤC - Lễ Nhớ

 


08/08/2026

Thánh Đaminh, linh mục.

Lễ nhớ

 

Thánh nhân sinh quãng năm 1170, tại Ca-lê-ru-ê-ga, Tây Ban Nha. Người học thần học tại Pa-len-xi-a rồi làm kinh sĩ giáo phận Ốt-ma. Trước hết, người quy tụ một số phụ nữ về sống tại Pơ-rô-vin-lơ (Pháp), theo một tu luật, rồi sau người lập Dòng Anh Em Thuyết Giáo tại Tu-lu-dơ để đối lại lạc giáo Ca-tha.

Chính người đã chiến đấu với lạc giáo bằng lời giảng thuyết, bằng gương sáng và đã thu hoạch được kết quả khả quan. Người muốn các anh em trong Dòng phải sống khất thực, -------- và lời giảng dạy phải xuất phát và được nuôi dưỡng bằng chiêm niệm. Người đã đặt trung tâm Dòng ở Rôma trước khi qua đời ở Bô-lô-nha ngày 6 tháng 8 năm 1221.

 


Bài Ðọc I: (Năm II) Kb 1, 12 – 2, 4

Người công chính sống được nhờ trung tín”.

Trích sách Tiên tri Khabacúc.

Chớ thì ngàn xưa Chúa chẳng phải là Thiên Chúa, Chúa của tôi, là Ðấng Thánh của tôi? Vậy là chúng tôi không sao chết được. Lạy Chúa, Chúa đã đặt nó lên để xét xử, làm cho nó vững mạnh để trừng phạt. Mắt Chúa tinh sạch, không thể nhìn sự dữ, không thể xem sự gian ác. Tại sao Chúa lại nhìn những kẻ gian ác, và kẻ bất lương nuốt người công chính hơn nó, sao Chúa vẫn làm thinh?

Chúa để loài người như cá biển, như sâu bọ không có vua quan. Nó lấy lưỡi câu mà bắt hết, lấy chài mà kéo mọi sự, lấy lưới mà thu lượm: bởi thế nó hớn hở vui mừng. Vì vậy, nó cúng tế cho chài, nó dâng lễ vật cho lưới, vì bởi đấy nó được phần béo tốt và món ăn ngon. Lẽ nào nó cứ thả lưới không ngừng và luôn luôn tàn nhẫn sát hại các dân?

Tôi sẽ đứng ở vọng canh của tôi, đứng yên nơi thành lũy của tôi, tôi chờ xem Chúa dạy tôi thế nào, và trả lời ra sao cho điều tôi biện bạch? Chúa đáp lại tôi rằng: “Hãy chép điều ngươi thấy, hãy khắc nó vào tấm bảng để đọc được dễ dàng. Bởi hình lạ còn xa, nó sẽ xuất hiện trong thời sau hết và sẽ chẳng hư không. Nó kết duyên với ngươi, hãy chờ đợi nó, vì nó sẽ đến không trì hoãn. Chắc chắn nó sẽ đến, không sai. Người không có lòng ngay thì ngã gục, nhưng người công chính sẽ sống nhờ trung tín”.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 9, 8-9. 10-11. 12-13

Ðáp: Lạy Chúa, Chúa không bỏ rơi kẻ kiếm tìm Chúa (c. 11b).

Xướng: Chúa ngự trị tới muôn đời, Người dựng vững ngai vàng ngõ hầu cai trị. Người công minh thống trị địa cầu, Người chính trực xét xử chư dân.

Xướng: Chúa là chỗ dung thân cho người bị ức, chỗ dung thân dành cho những lúc gian truân, để những ai nhìn biết uy danh, cậy trông vào Chúa, vì lạy Chúa, Chúa không bỏ rơi kẻ kiếm tìm Ngài.

Xướng: Hãy đàn ca Chúa, Người ngự ở Sion; hãy loan truyền công cuộc Chúa khắp chư dân: vì Ðấng đòi nợ máu, Người nhớ họ, Người không quên tiếng kêu của những kẻ cơ bần.

 

Alleluia: Tv 129, 5

Alleluia, alleluia! – Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 17, 14-19

Nếu các con có lòng tin, thì chẳng có gì các con không làm được”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, có một người đến gần, quỳ gối trước mặt Chúa Giêsu mà nói rằng: “Lạy Ngài, xin thương xót con trai tôi vì nó mắc chứng kinh phong và rất trầm trọng: nó thường ngã vào lửa và lắm lúc nó ngã xuống nước. Tôi đã đem nó đến cùng môn đệ Ngài, nhưng các ông không thể chữa nó được”. Chúa Giêsu đáp: “Ôi thế hệ cứng lòng tin và hư hỏng! Ta phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa? Hãy đem nó lại đây cho Ta”. Chúa Giêsu quát mắng quỷ và quỷ liền ra khỏi đứa bé. Và nó được lành ngay trong lúc ấy. Bấy giờ các môn đệ đến hỏi riêng Chúa Giêsu rằng: “Tại sao chúng con không thể trừ quỷ ấy được?” Chúa Giêsu bảo các ông rằng: “Vì các con yếu lòng tin! Thầy bảo thật các con: Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì các con có khiến núi này rằng: ‘Hãy rời khỏi đây mà sang nơi kia’, thì nó liền đi sang, và chẳng có gì các con không làm được”.

Đó là lời Chúa.

 


Chú giải về sách Kha-ba-cúc 1,12—2,4

Hôm nay, chúng ta có một bài đọc trích từ sách Tiên tri Kha-ba-cúc. Sách này có niên đại từ những năm 605-597 TCN, tức là khoảng thời gian giữa chiến thắng vang dội của người Babylon tại Carchemish và cuộc xâm lược của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo vào vương quốc Giu-đa ở phương nam, dẫn đến việc chiếm đóng và tàn phá Giê-ru-sa-lem. Bên cạnh mối đe dọa xâm lược, chính thành phố này cũng là nơi đầy rẫy những âm mưu chính trị và nạn thờ ngẫu tượng lan tràn.

Hai chương đầu—nguồn trích dẫn cho bài đọc hôm nay—là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và vị tiên tri; đây có lẽ là nơi duy nhất trong Kinh Thánh mà một người dám chất vấn cách Thiên Chúa điều hành các sự kiện.

Bản dịch *New American Bible* có lời bình như sau:

“Chương ba [phần không được đọc trong bài hôm nay] là một bài thơ tôn giáo tuyệt diệu, chứa đựng những hồi ức về quá khứ của Israel và mang đậm dấu ấn văn học vay mượn từ thơ ca Canaan cổ đại, nhưng vẫn thể hiện đức tin đích thực của dân Israel. Thiên Chúa hiện ra trong vẻ uy nghi lẫm liệt và thi hành sự báo oán lên kẻ thù của Giu-đa. Lời tiên tri kết thúc bằng lời tuyên xưng đầy hân hoan và tin tưởng vào Đức Chúa—Đấng Cứu Độ.”

Trong bài đọc hôm nay, vị tiên tri than trách với Thiên Chúa về việc Ngài có thể dung thứ cho sự gian ác của những kẻ gây ra biết bao đau khổ cho dân được Ngài tuyển chọn. Bản dịch *Jerusalem Bible* tóm tắt tâm trạng của vị tiên tri như sau:

“Nếu quả thực chiến thắng của người Can-đê (Chaldaean) rốt cuộc là do ý muốn của Gia-vê (Yahweh), thì vấn đề lại quy về chính Gia-vê—Đấng phải đưa ra câu trả lời. Làm sao một Thiên Chúa công chính và thánh thiện, Đấng gìn giữ công lý, lại có thể đối xử với các dân tộc—và đặc biệt là dân được tuyển chọn—như vậy? Liệu Ngài có để cho kẻ gian ác nuốt chửng người công chính?”

Ngoài ra, bản dịch *New International Bible* cũng có nhận định:

Kha-ba-cúc không thể nhìn thấy sự công chính trong việc Giu-đa bị trừng phạt bởi một dân tộc còn gian ác hơn, và ông cho rằng người Babylon chắc chắn sẽ không được phép chinh phục hoàn toàn vương quốc Giu-đa.

Vị tiên tri nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Thánh hằng sống từ thuở đời đời, tức là từ thời Xuất Hành—đây chính là nền tảng cho niềm hy vọng vào tương lai của ông. Ông thưa với Thiên Chúa:

Lạy Chúa, Ngài đã định họ để chịu phán xét,

và lạy Đấng là Tảng Đá, Ngài đã đặt họ để chịu hình phạt.

 Ông gọi Đức Chúa Trời là "Hòn Đá" — một danh xưng công nhận quyền năng bất biến của Ngài. Tuy nhiên, chính Đức Chúa Trời ấy lại dùng Babylon làm công cụ để phán xét dân tuyển của Ngài.

Đồng thời, vị tiên tri nhận thấy một sự mâu thuẫn ở đây. Ông thưa với Đức Chúa Trời rằng:

Mắt Ngài quá thanh sạch, chẳng thể nhìn điều ác,

và Ngài không thể dung thứ sự gian tà;

tại sao Ngài lại nhìn xem kẻ phản trắc

và im lặng khi kẻ gian ác nuốt chửng

những người công chính hơn chúng?

Đó là câu hỏi kinh điển, được đặt ra hết lần này đến lần khác: Tại sao cái ác dường như lại hoành hành mà không bị ngăn chặn bởi một Đức Chúa Trời công chính và thánh khiết? Đây là câu hỏi thường được đặt ra kể từ sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001, ngày 7 tháng 10 năm 2023 và sau biết bao cuộc tấn công đẫm máu khác trong thời đại chúng ta.

Đức Chúa Trời, theo lời Kha-ba-cúc, đối xử với con người:

…như loài cá dưới biển…

Những nạn nhân của người Babylon bất lực như cá bơi vào lưới. Trên thực tế, các bức phù điêu của người Lưỡng Hà cho thấy những kẻ thống trị chinh phục tượng trưng cho việc bắt nạn nhân của họ bằng lưới đánh cá. Có vẻ như Người Babylon được phép làm bất cứ điều gì họ thích và cuối cùng là "vui mừng và hân hoan". Người Babylon dâng lễ vật ăn mừng khi 'bắt' được và thắp hương cho chiến lợi phẩm để thưởng cho họ sự giàu có và sang trọng.

Nhà tiên tri muốn biết liệu tất cả những điều này có kết thúc hay không:

Có phải người ấy [Babylon] sau đó sẽ tiếp tục làm trống lưới của mình

và tiêu diệt các quốc gia không thương tiếc?

Vì vậy, nhà tiên tri tiếp tục canh gác lâu dài các bức tường thành Giê-ru-sa-lem để xem Chúa có trả lời gì cho những lời phàn nàn của ông không. Nhà tiên tri canh giữ như người lính canh thay cho dân mình. Anh ấy nhìn ra từ “trạm canh gác” của mình để chờ đợi phản hồi cho thử thách của mình.

Câu trả lời của Đức Chúa đến trong phần thứ hai của bài đọc hôm nay:

Rồi Chúa trả lời tôi và nói…

Nhà tiên tri cho biết:

Viết lại thị kiến;

Khắc nó vào tấm bia,

để ai nấy đọc được trôi chảy.

Điều này là để nó có thể dễ dàng được người đưa tin mang đi và đọc ra và chuyển đến tất cả những người có ý định nhận nó. Từ được sử dụng ở đây đặc biệt đề cập đến khải tượng của một nhà tiên tri.

Thông báo chỉ “trong thời gian đã định” mà không có bất kỳ thông tin xác định nào về thời điểm nó sẽ xảy ra. Nó sẽ được thực hiện vào thời điểm được chỉ định. Trên thực tế, nó sẽ đề cập đến sự sụp đổ của Ba-by-lon vào năm 539 trước Công nguyên, 66 năm sau khi Kha-ba-cúc đưa ra lời tiên tri của mình:

Nếu nó có vẻ trì hoãn, hãy đợi nó…

Nó có sức mạnh riêng của nó, bởi vì nó là sự diễn đạt lời của Đức Chúa đang hướng đến sự thành tựu tất yếu. Phụng vụ Mùa Vọng của chúng ta sử dụng câu này để bày tỏ lòng mong đợi Đấng Thiên Sai.

Vậy thì thông điệp là hãy kiên nhẫn. Nó có thể đến chậm, nhưng:

…chắc chắn nó sẽ đến; nó sẽ không trì hoãn.

Tóm lại, có sự tương phản giữa hai loại người. Một bên có những “kẻ kiêu ngạo” có “tinh thần không ngay thẳng”, mặt khác có những “người công chính”, những người “sống theo sự chung thủy của mình”. Vua Ba-by-lon và những người theo ông có thể được xếp vào loại đầu tiên, cũng như những người dân Giu-đa đã mất niềm tin nơi Đức Chúa Trời. Những người khác vẫn hoàn toàn trung thành với Chúa cho dù điều gì xảy ra và người đó phải chờ đợi bao lâu.

‘Trung thành’ với Thiên Chúa, tức là với lời nói và ý muốn của Ngài, là đặc điểm của “người công chính”, và đảm bảo cho họ an ninh và cuộc sống ở đây trên trái đất. Kẻ ác không có ‘sự công bình’ này sẽ bị hủy hoại. Người công chính và kẻ ác trong bối cảnh này lần lượt là Giu-đa và người Can-đê—người trước sẽ sống còn người khác sẽ diệt vong.

Theo sự mặc khải của Đức Chúa Trời về cách thức (và thời điểm) Ngài làm việc, dân Ngài phải kiên nhẫn chờ đợi và sống bởi đức tin, tin cậy vào Đức Chúa Trời tối cao của họ. Mệnh đề cuối cùng của bài đọc được trích dẫn thường xuyên trong Tân Ước để hỗ trợ cho lời dạy rằng con người được cứu bởi ân sủng nhờ đức tin và phải sống bởi đức tin (xem Dt 10,38-39). Nó cũng trở thành lời kêu gọi tập hợp của cuộc Cải cách Tin lành vào thế kỷ 16.

Cần có sự phân biệt giữa ‘đức tin’ và ‘trung thành’. ‘Đức tin’ bao hàm sự tin tưởng sâu sắc và vô điều kiện vào tình yêu và sự chăm sóc của Chúa dành cho chúng ta, ngay cả khi chúng ta tội lỗi. 'Chung thủy' hay 'chung thủy' gợi ý việc duy trì, dù dày hay mỏng và có lẽ trong một thời gian dài, tính toàn vẹn của một mối quan hệ (như trong hôn nhân). Rõ ràng cả hai đều áp dụng trong đoạn văn này.

Tất cả chúng ta đều cần phải sống bằng đức tin và sự chung thủy. Đây là một trong những bí mật của hòa bình và hạnh phúc trong cuộc sống của chúng ta.

 


Chú giải về Tin Mừng Mát-thêu 17,14-20

Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta bắt gặp câu chuyện về một người cha đang đau khổ tột cùng trước những hành vi bất thường của con trai mình. Như thường thấy, cách kể chuyện của thánh Mác-cô về sự kiện này kịch tính hơn nhiều so với thánh Mát-thêu. Tuy nhiên, thánh Mát-thêu vẫn giữ lại được những điểm cốt yếu.

Ta thấy được nỗi tuyệt vọng của người cha khi cảm thấy bất lực trước những hành vi dường như không thể kiểm soát được của con mình. Các triệu chứng trông rất giống bệnh động kinh—một căn bệnh mà ngày nay người ta đã hiểu khá rõ và cũng biết được nguyên nhân, ít nhất là ở mức độ tổng quát. Thế nhưng, vào thời đó, người ta rất dễ tin rằng một thế lực tà ác nào đó đã đột ngột chiếm hữu một người vốn dĩ bình thường, khiến họ có những hành vi kỳ quặc như vậy.

Ban đầu, người đàn ông này đã tìm đến các môn đệ, nhưng họ không giúp được gì. Chúa Giê-su bày tỏ sự phiền muộn và thất vọng trước việc thiếu lòng tin của mọi người—có lẽ bao gồm cả các môn đệ của Ngài—qua lời quở trách:

"Hỡi thế hệ cứng lòng và thiếu đức tin, Ta còn phải ở với các ngươi bao lâu nữa? Ta còn phải chịu đựng các ngươi bao lâu nữa?"

Sau đó, Chúa Giê-su xua trừ tên quỷ đang hành hạ đứa trẻ và cậu bé được chữa lành hoàn toàn. Các môn đệ—những người từng thực hiện nhiều phép chữa lành trong các chuyến truyền giáo—đã thắc mắc tại sao họ lại không thể chữa lành cho cậu bé. Chúa Giê-su bảo họ:

"Tại vì các con thiếu đức tin. Thầy bảo thật các con: nếu các con có đức tin chỉ bằng hạt cải thôi, thì dù các con có bảo ngọn núi này: 'Hãy dời từ đây sang kia', nó cũng sẽ dời đi, và sẽ chẳng có gì là không thể đối với các con."

Đức tin và lòng tín thác của tôi vào sự quan phòng của Thiên Chúa mạnh mẽ đến mức nào? Tất nhiên, lời của Chúa Giê-su không phải là tấm giấy thông hành cho phép ta đòi hỏi bất cứ điều gì nảy ra trong đầu. Đó không phải là lời mời gọi để ta thao túng Thiên Chúa; trái lại, đó là lời kêu gọi hãy đặt trọn niềm tin vào Ngài, với xác tín rằng dù chuyện gì xảy ra, Ngài vẫn luôn quan tâm đến điều tốt đẹp nhất cho chúng ta. Chính đức tin ấy, hòa quyện cùng tình yêu sâu sắc, mới là điều mang lại hạnh phúc và bình an cho cuộc sống của chúng ta.

https://livingspace.sacredspace.ie/o2187g/

 


Suy Niệm: Ðức Tin Rất Cần Thiết

Thánh Augustinô nói: "Thiên Chúa dựng nên con người không cần con người, nhưng để cứu chuộc con người, thì Ngài cần đến sự cộng tác của con người". Sở dĩ như vậy là vì Thiên Chúa dựng nên con người có tự do, và tự do bao hàm sự lựa chọn tin nhận hoặc khước từ Thiên Chúa. Ðức tin cần thiết cho con người, không những để được cứu rỗi, mà còn để biết vui tươi đón nhận những biến cố trong đời sống theo thánh ý Chúa.

Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu chữa một đứa bé bị kinh phong. Có thể nói, không có gì đặc biệt, nếu phép lạ được thực hiện do Chúa Giêsu, bởi vì Ngài là Thiên Chúa toàn năng làm được mọi sự. Nhưng điều quan trọng là phép lạ có thể xẩy ra là do đức tin của con người. Thật thế, trong bất cứ phép lạ nào, Chúa Giêsu cũng đòi hỏi con người phải tin, hoặc chính đương sự hoặc cha mẹ hay người bảo trợ. Là Ðấng Cứu Thế, Chúa Giêsu yêu thương và muốn cứu chữa con người khỏi mọi tật bệnh; nhưng mỗi khi thực hiện phép lạ để cứu chữa một người nào, Ngài cũng đòi phải có đức tin. Nếu việc cứu chữa riêng lẻ đó chỉ là hình ảnh lu mờ của việc cứu chữa tối hậu mà Chúa còn đòi hỏi đức tin, thì để được cứu rỗi trong thời cứu độ viên mãn, đức tin còn cần thiết biết chừng nào.

Kết thúc bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì chẳng có gì các con không làm được. Ðức tin làm cho chúng ta từ con người tội lỗi trở thành con cái Thiên Chúa; đức tin giúp cho những việc tầm thường trong đời sống trở thành có giá trị vĩnh cửu; đức tin cho chúng ta có cái nhìn lạc quan tin tưởng vào mọi biến cố cuộc sống; đức tin giúp con người làm được những điều mà người không có đức tin không hiểu nổi: các thánh tử đạo can đảm chấp nhận cái chết đau thương, các thánh hiển tu đã từ bỏ tất cả để hoàn toàn sống theo Chúa.

Nguyện xin Chúa củng cố đức tin của chúng ta để nhận ra bàn tay Chúa luôn dẫn dắt chúng ta và luôn sống trong bình an dưới sự chăm sóc của Ðấng Toàn Năng.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 


Ngày 8/8: Thánh Đa-minh – Linh mục (khoảng 1170-1221)

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ thánh Đa-minh được cử hành hai ngày sau ngày Ngài qua đời (6 tháng 8 năm 1221) ở Bologne. Ngài được Đức Grégoire IV phong thánh năm 1234.

Dominique de Guzman sinh tại Caleruega gần Burgos, Tây Ban Nha, vào khoảng năm 1170. Mẹ Người là chân phước Jeanne d’Aza. Sau khi học xong trường kinh sĩ ở Palencia, Dominique nhận chức thành viên kinh sĩ hội ở Osma. Năm hai mươi bốn tuổi, Dominique theo Đức giám mục Diego de Azevedo sang Rôma, nhưng Đức giáo hoàng Innocent III sai người sang miền Nam nước Pháp lúc đó đang bị các lạc giáo Albigeoir và Cathare gây rối. Tại đây Ngài tổ chức một đoàn truyền giáo, và trong nơi trú ngụ của mình tại Prouille, gần Toulouse, Ngài thành lập một tu viện nữ theo luật dòng thánh Augustin để các chị trợ giúp công việc truyền giáo. Cũng tại đây, năm 1215, gần nhà thờ Saint-Romain ở Toulouse, đã xuất hiện hạt nhân đầu tiên của cộng đoàn tu sĩ thuyết giáo, theo luật dòng thánh Augustin. Các tu sỹ đặc biệt chú trọng lời khấn khó nghèo và việc giảng thuyết, sau một thời gian chuẩn bị nghiêm túc về mặt trí thức. Đức Giáo Hoàng Honorius III chấp thuận dòng mới năm 1216.

Dòng thuyết giáo (hay còn gọi là dòng Đa minh) trước tiên phát triển tại các thành phố đại học như Paris, Roma và Bologne. Cũng tại Bologne này đã có cuộc tổng hội đầu tiên của dòng năm 1220-1221. Nhưng hao tổn do một cuộc sống căng thẳng lao động và đền tội, thánh Đa minh đã qua đời lúc mới năm mươi mốt tuổi, chỉ năm năm sau khi Dòng của ngài được chuẩn nhận. Di hài Người an nghỉ tại Bologne, trong đại thánh đường Saint-Nicôlas-des Vignes. Nữ chân phước Cécile d’Andalo, nữ tu Đa minh, tả về con người của thánh Đa minh: “Thánh nhân tầm thước trung bình, mình hơi dẹp, mắt đẹp, tay đẹp và dài, tiếng nói rổn rảng. Vành tóc của Người thật hoàn hảo, thỉnh thoảng có điểm sợi bạc. Nét mặt người lúc nào cũng tươi cười, vui vẻ, trừ khi bị xúc động trước nổi khổ nào đó của tha nhân”.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày gọi thánh Đa minh là “Nhà giảng thuyết siêu việt của chân lí”. Ngài bắt đầu sứ mệnh tại Languedoc bằng một cách sống nghèo, đi bộ, không tiền bạc, giống như các tông đồ xưa. Trong mười năm, Ngài hoàn toàn việc “giảng thuyết thánh”, nghĩa là loan báo phúc âm và làm chứng bằng nếp sống nghèo của phúc âm. Dòng của Ngài đã có công đem tin mừng đến khắp các thành phố lớn bằng lời giảng thuyết và các trường đại học qua việc giảng huấn. Các trách nhiệm quản trị trong Dòng được trao phó qua việc bỏ phiếu bầu chọn với nhiệm kỳ ngắn hạn.

Lời nguyện trên lễ vật nhắc tới “những người chiến đấu cho đức tin”. Quả thế, thời nào cũng vậy, cũng có những sai lầm mà Kitô hữu được kêu gọi phải chiến đấu; khí giới chiến đấu cũng chính là những thứ thánh Đa minh sử dụng xưa là lấy sự tinh truyền của phúc âm chống lại lạc giáo, lấy tự nguyện nghèo khó chống lại của cải.

Lời nguyện tạ lễ cầu xin Chúa cho Giáo hội “được nâng đỡ nhờ lời cầu nguyện của đấng đã soi chiếu Giáo hội bằng lời giảng của mình”. Phụng vụ bài đọc trích dẫn một đoạn trong bản phong thánh cho thánh nhân, theo đó Ngài “chỉ nói với Chúa trong khi suy niệm, hoặc nói về Chúa, và Ngài thúc giục các tu sỹ của mình cũng làm như thế”. Lòng mộ mến việc suy niệm đó bắt nguồn từ tình yêu và việc học tập Kinh thánh: “Ngài luôn mang theo mình cuốn Phúc âm thánh Matthêu và các thư của thánh Phaolô, và ngài siêng năng nghiên cứu đến nỗi thuộc lòng những sách đó” (Phụng vụ bài đọc).

Họa sĩ Fra Angelico đã vẽ thánh Đa minh với một ngôi sao chiếu phía trên đầu. Ánh sáng của ngôi sao ban đầu hiểu là hình ảnh sự thánh thiện của đấng sáng lập dòng Đa minh, người mà Đức giáo hoàng Grégoire IV nói: “Tôi biết cha Đa minh là một người hoàn toàn tuân thủ qui luật các thánh tông đồ”. Nhưng ngôi sao đó cũng chính là hình ảnh ánh sáng lớn mà thánh Đa minh cùng các đệ tử đã chiếu giải lên thế giới qua các thế kỷ, bởi vì Dòng Thuyết giáo đã đem lại cho Giáo hội những vị thánh lớn, như thánh Albert Cả và Thomas Aquinô. Ngài cũng còn được trình bày với cổ chuỗi trên tay để nhắc nhớ lòng sùng kính của ngài với chuỗi Mân Côi mà Ngài thường giải thích các mầu nhiệm trong khi thuyết giảng.

Enzo Lodi

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét