19/08/2018
Chúa Nhật tuần 20 Thường Niên năm B.
(phần II)
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật 20 thường
niên- năm B
CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN-B
Cn 9,1-6; Ep 5,15-20; Ga 6,51-58
SỐNG KHÔN NGOAN
“Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống
muôn đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết, vì thịt tôi thật
là của ăn và máu tôi thật là của uống” (Ga 6,54)
I.
CÁC BÀI ĐỌC:
Ai cũng muốn chọn cho mình cách sống khôn ngoan. Bạn
và tôi, đã nhiều lần chúng ta tự hào vì đã chọn cách sống khôn ngoan. Có thể
các bài đọc Lời Chúa hôm nay gợi ý cho chúng ta một cách sống khôn ngoan khác,
không hề giống với kiểu sống khôn ngoan của con người.
1. Bài
đọc 1:
Đoạn sách Châm Ngôn trình bày Đức Khôn Ngoan được
nhân cách hóa để biết xây nhà và mở tiệc đãi khách. Đối tượng khách mời của Đức
Khôn Ngoan là những người ngu si và những kẻ ngây thơ. Qua bữa tiệc, Đức Khôn
Ngoan muốn họ được sống và bước đi trên con đường hiểu biết.
Trước hết, như một con người, Đức Khôn Ngoan tiến
hành việc xây nhà. Nhà của Đức Khôn Ngoan là nhà có “bảy cây cột”, một ngôi nhà
lớn. Đức Khôn Ngoan hẳn phải là một người khá giả. Khi hoàn tất việc xây dựng,
Đức Khôn Ngoan “hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn” để chuẩn bị mở tiệc mừng
tân gia. Cách Đức Khôn Ngoan mời khách đến dự tiệc thật đặc biệt. Đức Khôn
Ngoan sai các tỳ nữ “lên các nơi cao trong thành phố” và kêu gọi khách đến dự
tiệc. Có lẽ khi chọn những nơi cao trong thành phố để công bố lời mời, Đức Khôn
Ngoan không muốn bỏ sót bất cứ một vị khách đáng mời nào.
Thứ đến, đối tượng khách mời mà Đức Khôn Ngoan nhắm
đến cũng gây ngạc nhiên không kém: “hỡi người ngây thơ, hãy lại đây; hỡi người
ngu si, hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế” (Cn 9,4-5).
Đức Khôn Ngoan không mời các khách quen, trọng vọng, giàu có theo cấp bậc hay địa
vị của mình, mà là những người ngây thơ và những kẻ ngu si. Xét cho cùng, những
người ngây thơ và ngu si lại là những đối tượng cần đến Đức Khôn Ngoan hơn cả.
Sau cùng, thức ăn mà Đức Khôn Ngoan dùng để thết đãi
khách chính là những lời giáo huấn. Giáo huấn của Đức Khôn Ngoan đem lại sự sống
và sự hiểu biết (x. Is 55,1-3; Am 8,11). Đức Khôn Ngoan ở đây chính là Thiên
Chúa, Đấng ban lời giáo huấn mang lại sự sống cho người nghe và biết đón nhận:
“Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống” (Is 55,3).
Vậy, khôn ngoan là biết lắng nghe giáo huấn của
Thiên Chúa để được sống.
2. Bài
đọc 2:
Thư Êphêsô khuyên các tín hữu hãy bắt chước Thiên
Chúa bằng cách sống bác ái (5,1-2), thanh khiết (5,3-7), sống trong ánh sáng
(5,8-14) và sống khôn ngoan, biết cân nhắc, lựa chọn và cầu nguyện tạ ơn
(5,15-20). Đoạn thư Êphêsô hôm nay (5,15-20) làm nổi bật chủ đề sống khôn
ngoan.
Trước hết, sống khôn ngoan là biết tận dụng thời
gian hiện tại. Theo cái nhìn thần học của thánh Phaolô thì thời gian hiện tại
là khoảng thời gian trước khi Chúa quang lâm (Rm 8,18; 13,11). Đây là thời gian
được xem là vắn vỏi (1 Cr 7,29) và đầy những khó khăn, trắc trở (Ep 5,16). Biết
sử dụng thời gian hiện tại là biết tận dụng mỗi phút giây hiện tại, những cơ hội
mình đang có được để lo sao cho mình được cứu độ và đồng thời cũng giúp anh chị
em cũng được cứu độ (Gl 6,10).
Hơn nữa, sống khôn ngoan còn là biết tìm hiểu xem
đâu là ý Chúa và thấm nhuần Thần Khí. Thánh Phaolô khuyên các tín hữu đừng hóa
ra ngu xuẩn khi không biết đâu là ý Chúa, đừng say sưa mà không nhận ra Thần
Khí. Dưới cái nhìn thần học của Phaolô, những ai không nhận biết ý Chúa và
không thấm nhuần Thần Khí đều là kẻ ngu xuẩn và say sưa. Đó không phải là cách
sống khôn ngoan.
Sau cùng, sống khôn ngoan là biết chúc tụng ngợi
khen Thiên Chúa. Lời ngợi khen chúc tụng cao đẹp là lời ca do Thần Khí linh hứng,
được dâng lên để cảm tạ Thiên Chúa, nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Sống khôn ngoan
không chỉ là biết chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa mà còn là ngợi khen chúc tụng
sao cho đúng cách: đó là, nhờ Chúa Thánh Thần tác động mà ca hát chúc tụng Đức
Giêsu Kitô là Chúa và nhờ Người dâng lên Thiên Chúa Cha lời cảm tạ.
Vậy, sống khôn ngoan, theo thư Êphêsô, là biết tận dụng
thời gian hiện tại để được cứu độ, là tìm kiếm thánh ý Chúa và thấm nhuần Thần
Khí, và là biết chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Giêsu Kitô và
trong Chúa Thánh Thần.
3. Bài
Tin Mừng
Nếu sống khôn ngoan theo sách Châm Ngôn là đón nhận
giáo huấn của Thiên Chúa để được sự sống, thì khôn ngoan theo lời Đức Giêsu
trong diễn từ về bánh hằng sống là ăn thịt và uống máu Người để được sự sống đời
đời. Chúa Giêsu nêu lên ba hiệu quả của việc đón nhận thịt và máu Người.
Thứ nhất, những ai ăn thịt và uống máu Người thì
ngay ở đời này được liên kết mật thiết với Chúa Giêsu, được ở lại trong Người,
được sự sống từ Người. Và sự sống của Chúa Giêsu không phát xuất từ Người mà là
từ Chúa Cha, Đấng đã sai Người. Sự sống thần linh phát xuất từ Thiên Chúa Cha,
và qua Chúa Giêsu, sự sống này được thông truyền cho những ai ăn thịt và uống
máu Người. Sự sống thần linh này không chỉ là một lời hứa xa xôi mà đã được ban
cho người lãnh nhận ngay từ đời này.
Thứ hai, những ai ăn thịt và uống máu Đức Giêsu thì
được Người hứa ban sự sống đời đời. Sự sống thần linh phát xuất từ Thiên Chúa không
chỉ được ban cho con người cách tạm bợ nơi trần gian này, mà còn là lời hứa chắc
chắn cho cuộc sống đời đời. Quả vậy, thịt và máu Đức Giêsu không chỉ là lương
thực thiêng liêng cho con người trong cuộc lữ hành trần thế, mà còn là bảo đảm
cho con người sự sống viên mãn mai sau.
Thứ ba, thịt và máu Chúa Giêsu còn là bảo đảm cho cuộc
phục sinh mai sau: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời và tôi sẽ
cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,54). Sự phục sinh là cuộc chiến
thắng và hiển trị của Chúa Giêsu trên sự chết. Một khi đón nhận thịt và máu
Chúa Giêsu, con người được thông dự vào cuộc chiến thắng và vinh quang phục
sinh với Người.
Chúa Giêsu khẳng định thịt Người thật là của ăn và
máu Người thật là của uống. Thứ lương thực thần linh này phát xuất từ Thiên
Chúa, và được ban qua Chúa Giêsu để những ai lãnh nhận thì không chỉ được thông
dự vào sự sống thần linh ở đời này, được bảo đảm cho cuộc sống mai sau mà còn
được hiển trị cùng Chúa Giêsu trong cuộc phục sinh của Người. Đó thật là cách sống
khôn ngoan mà Chúa Giêsu muốn mạc khải cho con người.
II. GỢI
Ý ÁP DỤNG:
1/ Đức Khôn Ngoan mở tiệc mời những người ngây thơ
và những kẻ ngu si và thết đãi bằng chính giáo huấn của Người để những ai đón
nhận thì được sự sống. Tôi có sẵn sàng nhận mình là người ngây thơ hay kẻ ngu
si để được Đức Khôn Ngoan mời dự tiệc lời Người? Tôi có sẵn lòng để cho lời
Chúa trở thành lời khôn ngoan hướng dẫn cuộc đời tôi?
2/ Sống khôn ngoan, theo thư Êphêsô, là biết tận dụng
thời gian hiện tại để được cứu độ, là tìm kiếm thánh ý Chúa và thấm nhuần Thần
Khí, và là biết chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Giêsu Kitô và
trong Chúa Thánh Thần. Tôi có muốn sống khôn ngoan theo tiêu chuẩn của thư
Êphêsô? Tôi có biết tận dụng thời gian hiện tại để được cứu độ? Tôi có tìm kiếm
thánh ý Chúa và để cho Thánh Thần hướng dẫn đời mình? Tôi có biết ngợi khen
Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu, trong Chúa Thánh Thần?
3/ Chúa Giêsu vạch ra con đường khôn ngoan dẫn đến sự
sống không chỉ ở đời này, đời sau mà còn bảo đảm cho cuộc phục sinh mai hậu.
Tôi có xác tín thịt và máu Chúa Giêsu thật sự là lương thực thần linh cho tôi ở
đời này và cuộc sống vĩnh cửu mai sau? Tôi đã đón nhận thịt và máu Chúa Giêsu
thế nào để nên lương thực thật sự cho cuộc đời tôi?
III.
LỜI NGUYỆN CHUNG:
Chủ
tế: Anh chị em
thân mến! Thiên Chúa đã yêu thương tái sinh chúng ta qua Bí tích Rửa tội, và
còn tận tình nuôi dưỡng chúng ta mỗi ngày bằng Lời của Người và Bí tích Thánh
Thể. Chúng ta hãy thành tâm cảm tạ Chúa và khiêm tốn dâng lời cầu xin:
1. “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và
Ta ở trong kẻ ấy.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Hội Thánh
luôn khao khát kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, và biết
dọn mình xứng đáng mỗi khi đón rước Chúa.
2. “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh
này, thì sẽ sống đời đời.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho con người trong thế giới
hôm nay, đang khi miệt mài với những tiện nghi và của ăn trần thế, cũng thao thức
tìm kiếm sự sống đích thực nơi Thiên Chúa.
3. Thánh Thể là bí tích tình yêu và hợp nhất. Chúng
ta cùng cầu nguyện cho các vị mục tử trong Tổng giáo phận, khi tham dự kỳ tĩnh
tâm Linh mục vào những ngày sắp tới, biết kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu
Thánh Thể và gặt hái được nhiều hoa trái thiêng liêng.
4. “Hãy luôn luôn cảm tạ Thiên Chúa là Cha trong mọi
nơi mọi sự.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta
luôn ý thức những ân huệ Chúa ban, và sống tâm tình tạ ơn bằng cách trở nên tấm
bánh bẻ ra cho mọi người theo gương Chúa Giêsu.
Chủ
tế: Lạy Chúa là
Cha rất nhân từ, Chúa đã quy tụ và không ngừng nuôi dưỡng chúng con trong Hội
Thánh Chúa. Xin nhận lời chúng con tha thiết cầu xin và giúp chúng con biết thể
hiện sự khôn ngoan của con cái Chúa khi sống giữa thế gian. Chúng con cầu xin
nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.
SCĐ Chúa Nhật 20 TN.B
Chủ đề :
Bàn tiệc Chúa
“Thịt Ta thật là của ăn, máu Ta thật là của
uống”
(Ga 6,55)
(Ga 6,55)
Sợi
chỉ đỏ :
Hai ý
tưởng lớn của các bài đọc hôm nay là Bàn tiệc Mình Chúa và Bàn tiệc Khôn ngoan
của Lời Chúa.
– Bài
đọc I (Cn 9,1-6) : Đức Khôn Ngoan mời người ta đến dự tiệc
– Đáp
ca (Tv 33) : Kêu mời học sự Khôn ngoan
– Tin Mừng
(Ga 6,51-58) : Mình thánh Đức Kitô là lương thực
I.
Dẫn
vào Thánh lễ
Anh chị
em thân mến
Chúng
ta đói khát nhiều thứ, và chỉ có Chúa mới thỏa mãn được tất cả cho chúng ta.
Thánh lễ chính là một bữa tiệc. Trong Thánh lễ, chúng ta được lắng nghe Lời
Chúa, chúng ta được ăn Mình Thánh Chúa.
Chúng
ta hãy chuẩn bị tâm hồn cho xứng đáng tham dự Bàn tiệc Chúa.
II. Gợi
ý sám hối
–
Chúng ta chưa thực sự tin rằng Mình Thánh Chúa là lương thực rất cần thiết cho
cuộc sống chúng ta.
–
Chúng ta chưa thiết tha học hỏi sự khôn ngoan trong Lời Chúa.
–
Chúng ta không siêng năng dự tiệc Thánh Lễ.
III.
Lời Chúa
- Bài đọc I (Cn
9,1-6)
Cựu Ước
rất quý chuộng sự Khôn ngoan, đến nỗi đã nhân hình hóa sự Khôn ngoan như một Mệnh
phụ hào phóng dọn một bữa tiệc thịnh soạn và kêu mời mọi người đến dự, tức là đế
học hỏi sự khôn ngoan của mình.
Hình
tượng về sự Khôn ngoan này sẽ được thực hiện bởi Đức Giêsu.
2.
Đáp
ca (Tv 33)
Thánh
vịnh này quảng diễn tiếp bài đọc I về sự khôn ngoan : khôn ngoan thật là
biết kính sợ Chúa.
3.
Tin
Mừng (Ga 6,51-58)
Tiếp
tục bài giảng sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu hướng thính giả về bí
tích Thánh Thể : Ngài nói rõ hơn về bánh ban sự sống, đó là Thịt và Máu
Ngài : “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời”.
– Ở
cuối đoạn tuần trước, Đức Giêsu đã nói rõ : “Bánh ta sẽ ban chính là thịt
ta đây” (câu 51).
– Câu
đó đã khiến những người do thái tranh luận với nhau. Sở dĩ họ tranh luận vì
trong họ có người hiểu theo nghĩa đen (ăn thịt sống của Đức Giêsu), có người hiểu
theo nghĩa bóng (tin vào Ngài).
– Phần
Đức Giêsu, Ngài muốn hiểu theo nghĩa nào ? Thưa theo nghĩa đen. Bởi đó Đức
Giêsu dùng những động từ rất mạnh và cụ thể. Động từ “ăn” nguyên gốc là Trôgô nghĩa
là “nhai”, lấy răng mà nhai một thức ăn nào đó. Và động từ trôgô này
được lặp đi lặp lại nhiều lần (các câu 53-54). Tới câu 55 Ngài tuyên bố dứt
khoát “Thịt ta thật là của ăn và máu ta thật là của uống”.
– Như
thế là Đức Giêsu nói tới bí tích Thánh thể, trong đó Ngài ban chính thịt và máu
Ngài làm của ăn của uống cho loài người.
– Hiệu
quả của việc rước lễ : “Ai ăn thịt Ta và uống máu ta thì có sự sống đời đời…
thì ở trong ta và ta ở trong kẻ ấy”.
4.
Bài
đọc II (Êp 5,15-20)
Đoạn
thư này cũng trùng hợp với hai bài đọc Cựu Ước và Tin Mừng vì cũng đề cập đến sự
khôn ngoan. Thánh Phaolô khuyên tín hữu đừng sống như kẻ khờ dại, mà hãy sống
như người khôn ngoan. Theo ngài, khôn ngoan là
– biết
tận dụng thời buổi hiện tại
– biết
tìm hiểu đâu là thánh ý Chúa
IV.
Gợi
ý giảng
Theo
tạp chí Times, gần đây có nhiều vụ tự tử trong giới doanh nghiệp Nhật Bản. Ông
Saysi, 40 tuổi mạnh khỏe, là quản lý của công ty bảo hiểm Taiho, ông có đủ điều
kiện để sống hạnh phúc, an khang. Nhưng vào tháng 11-97 ông Saysi đã nhảy lầu tự
vẫn vì công ty mẹ là Yematri bị phá sản. Cũng trong thời gian này, một quan chức
trong Bộ tài chánh và hai viên chức khác thuộc công ty xã hội Nhật cũng kết liễu
đời mình khi bị kết án có dính líu đến tham nhũng.
Theo
thống kê của cục cảnh sát Nhật Bản năm 1996 có đến 23.000 người Nhật tự tử, gấp
hai lần số người chết vì tai nạn giao thông. Trong đó 3025 người tự tử vì thất
bại về kinh tế. Các nhà tâm lý giải thích cho những người mất việc rằng : “Thất
nghiệp là chuyện bình thường trong cuộc sống. Hơn nữa, trong cuộc sống còn có một
cái gì khác hơn việc làm”.
*
Trong
cuộc hành trình tìm về quê trời, người tín hữu Kitô còn phải tìm kiếm một điều
gì khác hơn là công việc, tiền của, danh vọng và chức quyền.
Chúng
ta luôn được nhắc nhở : “Sống giữa thế gian nhưng không thuộc về
thế gian” (x.Ga.15,19). Đừng gắn bó với của cải chóng qua nhưng hãy
tìm kiếm những giá trị trường tồn. Đó chính là Đức Giêsu Kitô. Tấm bánh được
trao ban cho nhân loại : “Bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho
thế gian được sống” (Ga.6,51).
Tấm
Bánh ấy không chỉ là bí tích Thánh Thể mà còn là Tấm Bánh Lời Chúa. Hiến chế về
Phụng vụ quả quyết : “Chúa Kitô hiện diện trong Lời của Người, vì
chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Giáo hội” (Pv.7). Đức
Giêsu vẫn trao cho ta sức sống của Người chính là Tấm Bánh Lời
Chúa : “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn nhờ mọi Lời
do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt.4,4).
Hiến
chế Tín lý Mạc khải số 21 viết : “Giáo hội luôn tôn kính Kinh Thánh như
chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng vụ Thánh, Giáo hội không ngừng lấy
Bánh ban Sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để
ban phát cho các tín hữu”.
Mỗi
thánh lễ là một bữa tiệc. Chúng ta được mời đến tham dự bàn tiệc Lời Chúa, trước
khi cử hành bàn tiệc Thánh Thể. Cả hai đều là lương thực cần thiết cho cuộc sống
đời đời.
Mọi
tín hữu đều biết ích lợi vô song của Bí tích Thánh thể, nhưng lại dễ dàng bỏ
qua việc rước lễ, chưa kể là thiếu chuẩn bị, thiếu sốt sắng và thiếu thân tình.
Mọi
tín hữu đều biết Lời Chúa là cần thiết, nhưng lại ít quan tâm suy niệm và sống
Lời Chúa.
Mahatma
Gandhi, vị thánh của dân tộc Ấn Độ có nói : “Tôi sẵn sàng trở thành một
Kitô hữu, nếu tôi thấy những người Kitô hữu thực thi Tám mối phúc thật”.
*
Lạy
Đức Giêsu, xin cho Lời Chúa luôn tỏa sáng lối đường chúng con đi. Xin cho Mình
Thánh Chúa là lương thực hàng ngày cho chúng con. Xin dạy chúng con cũng trở
nên tấm bánh được bẻ ra cho anh chị em. Xin giúp chúng con không chỉ lắng nghe
mà còn biết thực thi lời Chúa ; không chỉ yêu mến, mà còn biết sống Lời
Ngài ; không chỉ tuyên xưng, mà còn biết thực hành đức tin. Amen. (Thiên Phúc, “Như Thầy đã yêu”)
*
2. Chỗ trong bàn tiệc
Một
thương gia giàu có kia sống chung với con trai và con dâu mình. Người con trai
rất thương người nghèo, hay làm việc thiện nguyện trong những tổ chức giúp đỡ
người nghèo, và cũng thường bố thí cho người nghèo. Ít lâu sau vợ chồng người
con trai sinh được đứa con đầu lòng. Ông thương gia rất mừng và định tổ chức một
bữa tiệc mừng rất lớn.
Người
con hỏi người cha : “Cha định sắp xếp chỗ ngồi cho khách thế nào ? Có
phải là để những người giàu ngồi những bàn trên còn những người nghèo ngồi những
bàn gần cửa không ?” Người Cha xác nhận đúng như thế. Người con mới
xin : “Vì đây là bữa tiệc mừng đứa con của con, nên xin Cha hãy chìu ý con
mà đảo ngược lại, nghĩa là hãy đề những người nghèo ngồi bàn trên và những người
giàu ngồi bàn dưới”. Người Cha đáp : “Con ơi, khó mà thay đổi thế giới được.
Này nhé con hãy suy nghĩ thử xem : Những người nghèo đến dự tiệc là để ăn,
còn những người giàu đến đây không phải để ăn mà để được vinh dự. Vậy nếu ta xếp
những người nghèo ở bàn trên thì họ phải cố gắng giữ tư thế cho đàng hoàng,
không dám ăn uống tự nhiên, cho nên dù có ăn họ cũng ăn không ngon. Thà để họ
ngồi các bàn dưới thì họ sẽ thoải mái hơn và muốn ăn uống thế nào và bao nhiêu
tuỳ thích. Còn những người giàu đến đây thực ra không cần ăn, vì họ đã ăn uống
đầy đủ ở nhà rồi. Xếp họ ngồi các bàn dưới thì họ sẽ buồn ; cho nên xếp họ
ngồi bàn trên thì hợp ý họ hơn”.
Nghe
người cha giải thích như vậy, người con thấy hợp lý và không nài nỉ nữa.
Câu
chuyện trên không có ý dạy ta coi trọng người giàu và coi nhẹ người nghèo,
nhưng muốn giúp ta so sánh với Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là một bàn
tiệc. Nhưng bàn tiệc này khác với những bàn tiệc của loài người ở chỗ là mọi
người đều được mời, bất kể họ giàu hay nghèo. Những chỗ ngồi trong bàn tiệc
Thánh Thể cũng bình đẳng như nhau, không ai cao mà cũng không ai thấp. Tất cả
chúng ta đến dự tiệc Thánh Thể đều là những người nghèo về mặt thiêng liêng,
cho nên đến đây tất cả chúng ta đều được ăn uống no nê. Chẳng những thế tất cả
chúng ta còn được vinh dự vì được tham dự bàn tiệc của Thiên Chúa. Và hơn nữa
những người cùng tham dự bàn tiệc Chúa sẽ liên kết với nhau bằng sợi dây tình
nghĩa, vì cùng chia xẻ một thức ăn và một tình yêu của Đức Giêsu Kitô. (Viết
theo Flor McCarthy)
3.
Chuyện
minh họa
Mẹ
Têrêxa Calcutta có một quy luật là khi một thiếu nữ nào đến xin nhập Dòng thì ngay
ngày hôm sau sẽ được gửi tới Nhà Lâm Chung (nơi chăm sóc những người sắp chết).
Một
hôm, có một thiếu nữ đến xin nhập Dòng. Theo thông lệ, Mẹ Têrêxa gửi chị này đến
Nhà Lâm Chung. Mẹ căn dặn : “Con đã thấy các Linh mục chạm đến Mình Thánh
Chúa một cách cung kính và trìu mến thế nào. Bây giờ con hãy đến Nhà Lâm Chung
và cũng hãy làm như thế, bởi vì Đức Giêsu trong Mình Thánh Chúa cũng là một với
Đức Giêsu đang ở trong những người khốn khổ ấy”.
Ba giờ
sau, thiếu nữ trở về với một nụ cười rạng rỡ trên mặt. Cô trình với Mẹ
Têrêxa : “Thưa Mẹ, con đã được chạm đến Mình Thánh Chúa suốt 3 giờ đồng hồ”.
“Sao ? Con đã làm gì ?” Mẹ Têrêxa hỏi. Cô đáp : “Khi con đến đấy
thì người ta cũng vừa mang đến một ông bị rơi vào một cái cống và phải nằm
trong đó một thời gian. Mình mẩy ông rất dơ bẩn và rất nhiều thương tích. Con
đã rửa cho ông và lau các vết thương của ông. Đang lúc con làm thế, con biết là
con đang chạm chính Mình Thánh Đức Kitô”.
*
4. Lương thực thần linh
“Có
thực mới vực được đạo.” Câu nói đó chắc chắn không áp dụng với người giáo dân
tên là Têrêxa Niu Man, là người đã trải qua 36 năm trời không ăn uống gì mà vẫn
sống và giữ đạo sốt sắng. Têrêxa sinh ngày 8 tháng 4, 1898, trong một gia đình
Công Giáo ngoan đạo miền Bắc Baveria của nước Đức. Người dân trong làng Cổ Môn
Trường gồm gần 1,000 người, hầu hết sống bằng nghề nông. Gia đình của Têrêxa rất
nghèo như phần đông các gia đình trong làng. Học xong tiểu học, Têrêxa 14 tuổi
và em là Maria 13 tuổi, đi làm thuê cho những điền chủ ở các làng lân cận để có
tiền giúp đỡ cha mẹ. Công việc nặng nhọc nhưng Têrêxa không ngại vì bản tính vốn
ưa thích việc đồng ruộng và chăm sóc súc vật. Giống như mấy em gái của nàng,
Têrêxa cũng có những chàng trai để ý ngắm nghía, nhưng nàng đã có mơ ước riêng.
Từ nhỏ nàng đã mơ ước là một nữ tu truyền giáo ở Phi Châu và đã nhiều lần liên
lạc với các tu sĩ truyền giáo Dòng Biển Đức. Nhưng Thiên Chúa đã an bài một hướng
truyền giáo khác cho Têrêxa.
Ngày
13 tháng 11, 1925, Têrêxa bị đau ruột dư dữ dội, cơn sốt cao khủng khiếp. Bác
sĩ chăm sóc cho nàng đề nghị một cuộc giải phẫu tức khắc tại một bệnh viện gần
đó. Mẹ nàng khóc hết nước mắt. Cha sở Ngô Biên (Nobert) có mặt. Têrêxa xin cha
Biên đặt thánh tích của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu lên chỗ đau và chính
nàng cầu xin : “Lạy thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, chỉ có Ngài mới có thể
chữa con lành bệnh, Ngài đã chữa lành con nhiều lần rồi. Con không xin Ngài vì
con nhưng vì mẹ con.”
Đáp
lại thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã cho nàng lập tức khỏi bệnh. Cùng với mẹ nàng
đến nhà thờ tạ ơn Chúa trước sự ngỡ ngàng của mọi người có mặt. Nhưng trước đó
thánh nhân đã nói cho Têrêxa Niu Man biết rằng : Sự tuân phục và vui tươi
chấp nhận đau khổ của con làm ta rất hài lòng. Để mọi người nhận thức đây là một
biến cố phi thường, con sẽ không cần phải trải qua cuộc giải phẫu và hãy mau
mau tạ ơn Chúa. Con sẽ phải chịu đau khổ nhiều hơn nữa, nhưng đừng sợ điều gì,
cả những đau khổ trong nội tâm. Chỉ có cách này con mới cứu được các linh hồn.
Con phải từ bỏ mình nhiều hơn, nhưng hãy luôn sống trong sạch, đơn sơ như hiện
nay.
Quả
thật, không đầy bốn tháng sau, Têrêxa cảm thấy mệt mỏi phải nằm giường cả hơn
tháng trời cho tới lễ Phục Sinh. Đêm thứ năm ngày 4 tháng 3 khi nằm nghỉ trên
giường, nàng chợt thấy trong một thị kiến, Đức Giêsu đang quì cầu nguyện ở vườn
cây dầu và thấy các môn đệ đang ngủ. Nàng cảm thấy dấy lên nơi tâm hồn niềm
thương cảm vô biên đối với Đấng Cứu Chuộc. Cùng lúc Đức Giêsu nhìn chằm chặp
vào nàng. Nàng cảm thấy đau đớn tột độ ở gần nơi trái tim đến nỗi có thể chết
được. Khi tỉnh lại, Têrêxa thấy ở cạnh sườn bên trái của nàng một vết thương,
máu rỉ ra cho đến ngày hôm sau. Nàng băng vết thương lại để mọi người không thấy
và nói với em gái ở chung phòng với nàng là nàng bị phỏng.
Một
tuần lễ sau cũng vào giờ đó Têrêxa lại thấy Đức Giêsu trong vườn cây dầu, và
sau đó cảnh Ngài bị đánh bằng roi. Tuần lễ sau nữa, nàng chứng kiến cảnh Chúa đội
mão gai. Mỗi lần như thế, vết thương cạnh sườn nàng chảy máu chan hoà đến ngày
hôm sau. Ngày thứ sáu 26 tháng 3, Têrêxa thấy Chúa vác thánh giá và té ngã dưới
sức nặng. Khi tỉnh lại nàng thấy một vết thương hiện lên nơi bàn tay trái của
nàng, không cách chi che giấu được. Khi mẹ nàng hỏi tại sao bị thương như thế,
Têrêxa trả lời rằng vết thương ấy đã xuất hiện cách tự nhiên. Trong đêm thứ năm
tuần thánh, tức ngày 1 tháng 4, lần đầu tiên Têrêxa được mục kích trọn đường
thánh giá từ vườn cây dầu tới đỉnh núi Sọ và cái chết của Chúa trên thập giá.
Sau
đó những vết thương khác xuất hiện thêm trên tay mặt và hai chân của nàng. Cha
sở Ngô Biên được mời đến. Cha vội đến nói với một linh mục khác và cha đã ghi
như sau trong nhật ký của cha : ” Têrêxa nằm đó như một vị tử đạo, cặp mắt
nàng đầy máu và hai giọt máu chảy xuống má nàng. Gương mặt nàng nhợt nhạt như một
người chết. Đến 3 giờ chiều, giờ chết của Đấng Cứu Chuộc, nàng phải chịu những
cơn đau khủng khiếp đến chết đi được. Sau đó, nàng trở nên yên lặng hoàn toàn.
Cha sở bị đánh động mạnh trước biến cố. Các dấu thánh ấy đồng thời khiến cha mẹ
và cả gia đình của Têrêxa sầu khổ tột độ.
Ngày
4 tháng 4 là Chúa Nhật Phục Sinh, Têrêxa được thấy Đấng Cứu Chuộc Phục Sinh.
Nàng cảm thấy khoẻ khoắn trong người để có thể ra khỏi giường.
Ban
đầu gia đình Têrêxa nghi ngờ về những dấu lạ này nên cố gắng chữa trị cho
Têrêxa. Nhưng càng chạy chữa, xức thuốc và băng bó, những vết thương ấy càng lở
loét và gây thêm đau nhức. Têrêxa lấy làm lạ về hiện tượng đó nên thỉnh ý thánh
nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu và được Ngài cho biết là không nên chữa trị những vết
thương đó. Chúng không làm độc và chỉ mở ra mỗi thứ sáu.
Tháng
11 cùng năm đó, giữa hai ngày 18 và 19, tức thứ năm và thứ sáu, trong khi
Têrêxa nhận được thị kiến về Đức Giêsu chịu đội mão gai, người ta thấy xuất hiện
3 vết máu trên chiếc khăn màu trắng nàng đội trên đầu. Khi cất khăn đi người ta
thấy đầu nàng ướt sũng máu và rất đau đớn. Tuần kế tiếp có 8 vết máu trên đầu
nàng. Những vết ấy sẽ ở mãi trên đầu nàng.
Từ
lễ Giáng Sinh 1926, Têrêxa kinh nghiệm một sự thay đổi đột ngột là ngưng hẳn việc
ăn uống. Hằng ngày sau khi rước lễ nàng chỉ dùng vài giọt nước để giúp nàng nuốt
trôi Mình Thánh Chúa. Nhưng cha sở Ngô Biên chứng thực rằng sau tháng 9, 1927,
nàng không cần những giọt nước này nữa.
Từ
đó trở đi, trong 36 năm liền, Têrêxa sống mà không cần ăn uống gì cả. Mình
Thánh Chúa là thức ăn duy nhất của nàng. Cha Ngô Biên, người đã cho Têrêxa rước
lễ mỗi ngày cho đến khi nàng chết, đã ghi trong nhật ký của ngài rằng Têrêxa
thường nói với mọi người là nàng sống nhờ vào Đấng Cứu Chuộc. Và cha còn thêm rằng
nơi Têrêxa thực đã ứng nghiệm lời tuyên bố của Đức Giêsu khi nói : “Thịt
Ta thật là của ăn. Máu Ta thật là của uống.”
Câu
chuyện vừa kể minh họa lời Đức Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay là “Ai ăn thịt
và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (c.56). Câu
chuyện cho thấy Chúa ở lại một cách lạ lùng : (1) Chúa ở lại và tỏ lộ quyền
năng của Người nơi một giáo dân chỉ cần chịu lễ mà thôi… không cần ăn uống gì
khác trong suốt thời gian 36 năm, mà vẫn mạnh khỏe ! (2) Chúa còn ở lại và
cho người ấy dự phần vào cuộc thương khó của Chúa cả nơi thân xác lẫn nơi nội
tâm người đó. (3) Mục tiêu nhắm tới là : “Con đừng sợ đau khổ, kể cả đau
khổ nội tâm. Chỉ có cách đó, con mới cứu được các linh hồn. Con phải từ bỏ mình
nhiều hơn, phải luôn sống trong sạch và đơn sơ như hiện nay” – mục tiêu ấy được
tiết lộ qua trung gian thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu trong một thị kiến.
Nhân
vật trong câu chuyện có thực, vì ta biết rõ lý lịch. Sự kiện mà người đó chịu lễ
và không ăn uống gì khác suốt 36 năm, cũng như sự kiện về năm dấu thánh nơi
thân xác người đó với những đau đớn người đó phải chịu các ngày thứ sáu, những
hiện tượng đó đã được kiểm chứng đầy đủ do các bác sĩ có thẩm quyền của Toà
Thánh và của giáo phận Ratisbon của Đức Quốc. Đồng thời, vụ án phong chân phước
cho bà Têrêxa Niu Man đang được xúc tiến.
Chẳng
ai buộc người Kitô phải tin vào ơn mạc khải riêng bao giờ. Nhưng mọi Kitô hữu đều
phải bén nhạy đối với những việc Chúa làm nơi thọ tạo. (Lm Augustine sj,
Vietcatholic 2001)
V.
Lời
nguyện cho mọi người
Chủ tế :
Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã nói : “Tôi là bánh từ Trời xuống, bánh
Tôi sẽ ban tặng chính là thịt và máu Tôi. Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì được sống
muôn đời”. Chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện :
1.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho các giáo sĩ, tu sĩ các giáo dân trong Hội
thánh / biết sốt sắng tham dự thánh lễ và siêng năng Rửa tội / để
luôn sống hiệp thông với Đức Giêsu và với nhau.
3.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các dân tộc / được ơn khôn
ngoan sáng suốt để chọn đường lối tốt đẹp nhất mà phục vụ cho đồng bào mình.
2.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người chưa biết Đức Giêsu Kitô / được sớm
nhận ra Người chính là Đường, là sự Thật và là Sự Sống của mọi người.
4.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho anh chị em giáo hữu trong họ đạo chúng ta /
ngày càng hiểu biết hơn tầm quan trọng của bí tích thánh thể trong cuộc sống hằng
ngày của mỗi Kitô hữu.
Chủ tế :
Lạy Đức Giêsu, xin cho mỗi người chúng con hiểu biết rằng, chỉ nhờ sức sống của
Chúa ban cho trong bí tích Thánh Thể, chúng con mới có thể sống yêu thương và
phục vụ tốt cho gia đình và xã hội. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI.
Trong
Thánh lễ
– Trước
lúc rước lễ : Chúng ta hãy nhớ lại lời Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng :
“Đây là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”
VII. Giải tán
Chúng
ta tạ ơn Chúa đã cho chúng ta tham dự Thánh lễ này, vì nhờ đó chúng ta được
nghe những Lời khôn ngoan của Chúa và được rước lấy Mình Thánh Ngài. Ước gì Lời
Chúa và Mình Chúa giúp chúng ta sống thật tốt suốt tuần này.
Lm.Carolo HỒ BẶC XÁI
Lectio
Divina: Chúa Nhật XX Thường Niên (B)
Chủ
Nhật 19 Tháng Tám, 2018
Đức
Giêsu, Bánh Hằng Sống
Ga
6:51-58
Chúng
ta hãy cầu xin sự hiện diện của Thiên Chúa
Lạy
Thiên Chúa toàn năng,
Chúa
đã biến đời sống mỏng manh của chúng con thành đá tảng đền thờ Chúa ngự.
Xin
hãy hướng dẫn tâm trí chúng con biết đập vỡ những phiến đá trong sa mạc,
để
cho nước có thể chảy ra hầu làm dịu cơn khát của chúng con.
Nguyện
xin cho sự nghèo nàn về cảm xúc của chúng con che phủ chúng con như tấm áo
choàng trong bóng tối của đêm đen.
Và
xin Chúa hãy mở lòng trí chúng con để chúng con có thể nghe được tiếng vang vọng
của sự im lặng cho đến lúc bình minh,
Xin
hãy ấp ủ chúng con trong ánh sáng của buổi rạng đông,
Xin
hãy mang đến cho chúng con,
Với
than hồng từ lửa của những người chăn chiên thần thánh
Là những
người canh thức cho chúng con được gần với Thầy Chí Thánh, hương vị của kỷ niệm
thánh.
- Bài Đọc
- a) Tin Mừng:
51 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân
Do-thái rằng: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống
đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”. 52 Vậy
người Do-thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình
cho chúng ta ăn được?” 53 Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ:
“Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu
Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. 54 Ai
ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại
ngày sau hết. 55 Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật
là của uống. 56 Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong
Ta và Ta ở trong kẻ ấy. 57 Cũng như Cha, là Đấng hằng sống
đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ
Ta. 58 Đây là bánh bởi trời xuống. Không phải như cha ông
các ngươi đã ăn manna và đã chết, ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”.
- b) Giây phút
thinh lặng cầu nguyện:
Hãy để
cho Lời Chúa vang vọng ở trong lòng chúng ta.
2.
Suy Gẫm
- a) Một vài câu hỏi
gợi ý:
– Ta
là bánh hằng sống… Đức Giêsu, mình và máu, bánh và rượu.
Những lời này làm nên một sự thay đổi trên bàn thờ, như thánh Augustinô đã
nói: “Nếu bạn cất đi những lời ấy, bạn chỉ còn lại bánh và rượu; thêm vào
các lời ấy vào và nó trở nên một cái gì khác. Cái gì khác này là mình và
màu Đức Kitô. Bỏ những chữ này đi, bạn chỉ còn lại bánh và rượu; thêm những
chữ này vào và chúng trở thành nhiệm tích”. Lời của Chúa đối với tôi quan
trọng như thế nào? Nếu lời được tuyên bố trên xác thịt tôi thì nó có thể
nào khiến tôi trở thành bánh cho thế gian không?
- b) Chúng ta hãy
bước vào bài Tin Mừng:
Câu
51: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời.
Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”. Tin Mừng theo Gioan không kể lại
việc thành lập Bí Tích Thánh Thể, mà là ý nghĩa của nó được giả định trong đời
sống của cộng đoàn Kitô hữu. Biểu tượng việc rửa chân và giới răn mới (Ga
13:1-35) hướng về việc bẻ bánh và rượu được rót. Nội dung về thần học thì
tương tự như trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm. Tuy nhiên, nghi lễ truyền
thống của Gioan có thể được tìm thấy trong “bài giảng về nhiệm tích
Thánh Thể” theo sau phép lạ bánh hóa nhiều (Ga 6:26-65). Văn bản
này làm nổi bật ý nghĩa sâu xa về sự hiện diện của Chúa Kitô cho thế gian, một
ân sủng về nguồn gốc sự sống và dẫn đến sự hiệp thông sâu sắc trong giới răn mới
cho những người gia nhập. Việc nhắc đến phép lạ xưa kia về bánh manna giải
thích biểu tượng lễ vượt qua nơi mà ý tưởng về cái chết được đề cập đến và bị
khắc phục bởi sự sống: “Cha ông các ngươi đã ăn manna trong sa mạc và
đã chết. Đây là bánh bởi trời xuống, để ai ăn bánh này thì khỏi chết” (Ga
6:49-50). Bánh bởi trời (xem Es 16; Ga 6:31-32) theo
nghĩa bóng hoặc trong thực tế không mang ý nghĩa nhiều cho cá nhân như cho cộng
đoàn các tín hữu, ngay cả khi mọi người được kêu gọi tham dự để cùng chia sẻ của
ăn được ban cho tất cả mọi người. Bất cứ ai ăn bánh hằng sống sẽ không bị
chết: Thức ăn của sự mặc khải là nơi mà sự sống không bao giờ kết
thúc. Từ việc bánh, Gioan tiếp tục dùng một biểu hiện khác để chỉ về
mình: Sàrx. Trong Kinh Thánh, chữ này bao hàm ý nghĩa một
phàm nhân trong thực tại mong manh và yếu đuối của mình trước Thiên Chúa, và
trong Tin Mừng Gioan, nó bao hàm ý nghĩa con người thực của Ngôi Lời Thiên Chúa
đã trở nên người phàm (Ga 1:14a): bánh được xác định với chính thịt của
Chúa Giêsu. Ở đây không phải là một vấn đề về bánh ẩn dụ, đó là về sự mặc
khải của Đức Kitô trong thế gian, mà là về bánh Thánh Thể. Trong sự mặc
khải, đó là bánh ban sự sống được xác định với con người của Đức
Giêsu (Ga 6:35), là món quà ân sủng của Chúa Cha (động từ ban cho được
dùng ở thì hiện tai, câu 32), bánh Thánh Thể, đó chính là thân thể của Chúa
Giêsu sẽ được ban phát bởi Người qua cái chết trên thập giá được miêu tả trước trong
việc truyền phép bánh và rượu tại bữa tiệc ly: “và bánh Ta sẽ ban tặng
chính là thịt Ta đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6:51).
Câu
52: Vậy
người Do-thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình
cho chúng ta ăn được?” Ở đây bắt đầu câu chuyện của lối suy
nghĩ dừng lại ở ngưỡng cửa của vật thể và sự có thể thấy được và không dám lấn
qua bức màn của sự mầu nhiệm. Đây là một sự chướng tai gai mắt cho những
kẻ tin mà không tin… của những kẻ giả vờ biết mà không biết. Thịt để
ăn: việc cử hành lễ Vượt Qua, nghi thức lưu niên sẽ truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác, một bữa tiệc vì Thiên Chúa và một lễ tưởng niệm (xem Es 12:14),
mang ý nghĩa là Chúa Kitô. Lời mời của Đức Giêsu để làm những gì Người đã
làm để “tưởng nhớ” về Người, song song với những lời của ông Môisen khi ông đặt
luật quy định cho lễ hồi tưởng ngày vượt qua: “Các ngươi phải lấy ngày
này làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các
ngươi phải mừng ngày lễ này” (Xh 12:14), Bây giờ, chúng ta biết rằng đối
với người Do Thái việc cử hành ngày Lễ Vượt Qua không chỉ là một sự tưởng nhớ về
một sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, mà nó cũng là một nghi thức, theo ý nghĩa
là Thiên Chúa đã sẵn sàng để ban phát lần nữa ơn cứu độ cần thiết cho dân của Người
trong những hoàn cảnh mới và khác nhau. Do đó, quá khứ đã xâm nhập vào hiện tại,
dấy men bằng quyền năng cứu rỗi của nó. Trong cùng một cách hy lễ Thánh
Thể “sẽ có thể” ban cho hằng thế kỷ đời sau “thịt để ăn”.
Câu
53: Bấy
giờ Chúa Giêsu nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn
thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Phúc Âm Gioan, cũng như các sách
Tin Mừng Nhất Lãm, dùng các sự diễn đạt khác nhau khi nói về việc Chúa Giêsu hiến
mình trong cái chết, không muốn truyền đạt riêng rẽ từng phần như thế, mà là
toàn cả con người đã cho tặng: Sự hữu hình được sinh động hóa của Chúa Kitô Phục
Sinh, hoàn toàn tràn ngập bởi Chúa Thánh Thần trong biến cố mầu nhiệm của Lễ Vượt
Qua, sẽ trở thành nguồn gốc sự sống cho tất cả các tín hữu, đặc biệt là qua Bí
Tích Thánh Thể, liên kết chặt chẽ mỗi người với Đức Kitô vinh hiển ngự bên hữu
Đức Chúa Cha, và làm cho mỗi người dự phần vào đời sống thiêng liêng của chính
mình. Gioan không đề cập đến bánh và rượu, nhưng lại trực tiếp nói đến những
gì được biểu thị: thịt để ăn bởi vì Đức Kitô hiện diện để nuôi dưỡng và
máu để uống – một hành động báng bổ đối với người Do Thái – bởi vì Đức Kitô là
chiên hiến tế. Nhân vật phụng vụ hiến tế hiển nhiên ở đây: Chúa Giêsu khẳng
định trên thực tế về thịt và máu đề cập đến cái chết của Người, bởi vì trong
hành động hiến tế vật hy sinh thì thịt bị tách rời khỏi máu.
Câu
54: Ai
ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại
ngày sau hết. Lễ Vượt Qua được cử hành bởi Chúa Giêsu, người Do
Thái, và bởi các Kitô hữu tiên khởi tạo nên một linh hồn mới: về sự phục
sinh của Đức Kitô, cuộc ra đi cuối cùng của sự tự do đầy đủ và hoàn hảo (Ga
19:31-37), trong Bí Tích Thánh Thể có sự tưởng niệm mới, biểu tượng Bánh của sự
sống đã duy trì suốt cuộc hành trình trong sa mạc, hy tế và sự hiện diện duy
trì dân của Thiên Chúa, Giáo Hội, đã vượt qua vùng nước tái sinh, sẽ không mệt
mỏi về việc làm lễ tưởng nhớ, như Người đã nói, (Lc 22:19; 1Cr 11:24) cho đến
ngày Lễ Vượt Qua đời đời. Được thu hút và thấm nhập bởi sự hiện diện của
Ngôi Lời làm người, các Kitô hữu sẽ sống ngày Lễ Vượt Qua của họ trong suốt
dòng lịch sử, chuyến vượt qua từ sự nô lệ cho tội lỗi đến sự tự do làm con cái
Thiên Chúa. Trong việc noi gương Đức Kitô, họ sẽ có thể loan truyền các kỳ
công tuyệt vời đáng ngưỡng mộ của Người, việc ban phát phép Thánh Thể hữu hình
của Người: của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa trong
cách thức thờ phượng xứng hợp (Rm 12:1) giúp ích cho dân chúng vì vinh quang của
Người, là dân riêng của Thiên Chúa, là hàng tư tế vương giả (xem 1 Pr 2:9).
Các
câu 55-56: Vì
thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống
máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Lời hứa này về sự
sống của Đức Kitô ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của các tín hữu: “Ai
ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy” (Ga
6:56). Sự hiệp thông của sự sống mà Chúa Giêsu có với Chúa Cha thì được
ban cho tất cả những ai ăn thịt hy tế của Đức Kitô. Điều này không phải để
được hiểu như là sự nhượng bộ kỳ diệu về của ăn bí tích tự động ban sự sống đời
đời cho những ai ăn thịt ấy. Ân sủng của mình và máu này cần sự giải
thích để làm cho nó dễ hiểu và cung cấp sự hiểu biết cần thiết về việc làm của
Thiên Chúa, nó cần đức tin về phần của những kẻ đã dự phần vào bàn tiệc Thánh
Thể, và nó cần tác động của Thiên Chúa trước, đó là Chúa Thánh Linh, không có
Người thì không có sự lắng nghe hoặc đức tin.
Câu
57: Cũng như Cha, là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha,
thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Sự nhấn mạnh không được đặt ở
sự tôn kính như tột đỉnh và là nền tảng của tình yêu, mà vào sự hiệp nhất của
thể cách Đức Kitô hằng sống và hoạt động trong cộng đoàn. Không có nghi
thức phụng vụ mà không có sự sống. “Một Bí Tích Thánh Thể không có tình
huynh đệ thì bằng như tự lên án, bởi vì thân thể Đức Kitô, là cộng đoàn, bị xem
thường”. Thật vậy, trong phần phụng vụ Thánh Thể, lịch sử ơn cứu độ của
quá khứ, hiện tại và tương lai tìm thấy một biểu tượng hữu hiệu cho cộng đoàn
Kitô hữu, biểu lộ nhưng không bao giờ thay thế cho những kinh nghiệm đức tin mà
luôn phải hiện diện trong lich sử. Qua Bữa Tiệc Ly và Thập Giá không thể
tách rời, dân Thiên Chúa đã bước vào những lời hứa xưa, miền đất thực sự vượt
biển, vượt sông, vượt sa mạc, miền đất của sữa và mật ong, của khả năng tự do
vâng phục. Tất cả các dự tính xưa được tìm thấy trong giờ này (xem Ga
17:1) sự viên mãn của chúng; từ lời hứa với tổ phụ Abraham (St 17:1-8) đến bữa
Lễ Vượt Qua của thời kỳ Lưu Đày (Xh 12:1-51). Đây là thời điểm quyết định
tập họp lại toàn bộ lịch sử của dân riêng (xem GL 4) và Bí Tích Thánh Thể đầu
tiên cao quý nhất được cử hành về giao ước mới thì được ban bởi Chúa Cha: sự
hoàn thành có kết quả của tất cả các kỳ vọng trên bàn tế lễ thập giá.
Câu
58: Đây
là bánh bởi trời xuống. Không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết,
ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”. Khi Đức Giêsu công bố những lời: “Đây là mình
Ta” và “Đây là máu Ta”, Người thiết lập một mối quan hệ đích thực và khách quan
giữa những nguyên tố vật chất và mầu nhiệm về cái chết của Người, điều mà tìm
thấy sự vinh quang của nó trong sự sống lại. Đây là những lời sáng tạo về
một tình thế mới với các nguyên tố phổ biến trong kinh nghiệm của con người, những
lời sẽ và luôn luôn nhận thực được sự hiện diện mầu nhiệm của Đức Kitô hằng sống.
Các nguyên tố được lựa chọn có mục đích phải là biểu tượng và khí cụ cùng một
lúc. Nguyên tố bánh, bởi vì sự tương quan của nó với sự sống tự nó có một
ý nghĩa cánh chung (xem Lc 14:15), dễ dàng được xem như là một thức ăn không thể
thiếu và phương tiện chung của sự chia sẻ. Nguyên tố rượu, bởi vì sự tượng
trưng tự nhiên của nó, bao hàm sự viên mãn của sự sống và sự phấn khởi của lòng
người (xem Tv 103:15). Trong quan điểm hiện sinh Semite, sự hữu hiệu của
hệ thống các phép lạ bị xem là chuyện đương nhiên. Nó tạo ra những nét đặc
thù để có thể thấu hiểu những nhiệm tích bằng đức tin khi mà các giác quan
không thể nhận ra được. Bằng cách đề cập đến sa mạc và bánh manna, điều
này khác với lễ “Vượt Qua”, vật chất và phép lạ hợp cùng với nhau, nhưng nhục dục,
đến từ xác thịt, biến đổi phép lạ trở thành vật thể, trong khi lòng ước muốn, đến
từ tinh thần, biến đổi vật thể trở thành phép lạ” (P. Beauchamp, L’uno
e l’altro testament, ấn bản Paideia, Brescia, trang 54). Thực ra,
bánh manna bởi trời đến từ Thiên Chúa trong dạng thức vô hình và vì thế thiếu đặc
tính. Việc thiếu bằng chứng này được thấy cách rõ ràng trong từ nguyên của
chữ “manna”: “Cái gì đây?” (Xh 16:15). Điều này nói cái gì đây, một
tên hầu như không có ý nghĩa gì, một phép lạ và không phải là một vật thể, một
phép lạ được ký kết. Nó được chứng minh tại thời điểm nó biến mất, bởi vì
người ta cố gắng khắc phục những gì biến mất, dự trữ bánh manna để không phải
lo thiếu thức ăn. Đây là giá phải trả cho những gì biến mất theo các giác
quan. Sự xen kẽ là thời gian ở sa mạc. Manna là bánh mà tuân theo lề
luật của Đấng ban nó. Lề luật, mà bánh manna biểu thị, là tất cả mong đợi
từ Người: Điều đòi hỏi là lòng tin. Bởi vì không có thực thể, bánh
manna tạo ra lòng ước muốn cho sự hỗ trợ vững chắc hơn; nhưng ở nơi được gọi là
“ngôi mộ tham lam”, thiếu thốn phép lạ, mang đến sự chết chóc (Ds 11:34).
Trong sa mạc điều thôi thúc người ta tiếp tục với lòng tự tin là điều trông thấy
bánh manna như là một phép lạ hay như một vật tự nó mà có và vì thế đã hoặc là
tin hoặc là chết.
- c) Chúng ta hãy
suy niệm:
Chúa
Giêsu hoàn thành lễ Vượt Qua thực sự của lịch sử nhân loại: “Trước lễ Vượt
Qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa
Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người
yêu thương họ đến cùng. Nên trong bữa ăn…” (Ga 13:1). Vượt
qua: lễ Vượt Qua mới chính là sự vượt qua khỏi thế gian này của Đức Kitô
về cùng Chúa Cha qua máu hiến tế hy sinh của Người. Bí tích Thánh Thể là
sự tưởng niệm, bánh của sa mạc và sự hiện diện cứu rỗi, giao ước của lòng trung
tín và sự hiệp thông được viết trong con người của Ngôi Lời. Lịch sử cứu
độ cho dân tộc Israel được tạo bởi những biến cố, tên và địa điểm, đưa đến một
sự phản ảnh đức tin qua kinh nghiệm của cuộc sống làm cho danh Đức Gia-Vê không
chỉ là một tên trong số rất nhiều tên mà là Danh duy nhất. Tất cả mọi việc
bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ, một sự kiện đối thoại giữa Thiên Chúa và nhân loại
chuyển thành một giao ước liên đới, cũ và mới. Biển cả của sự vội vàng là
biên giới cuối cùng của chế độ nô lệ và đàng sau đó là giải đất của sự tự
do. Trong ngôi mộ ngập nước này thi thể cũ của dân tộc Israel được đặt
yên nghỉ và một dân tộc Israel tự do và mới mẻ sống dậy. Đây là nơi mà
danh phận dân Israel được khai sinh. Mỗi lần đoạn Tin Mừng này đi qua biển
tái sinh thì được gợi lại hơn chỉ là một biến cố lịch sử được ghi nhớ, biến cố
mang tính cách cánh chung sẽ phát sinh, có khả năng làm sự viên mãn Thiên Chúa
trở thành hiện tại, nhiệm tích về sự trung tín của Thiên Chúa khởi xướng ngày
nay cho các thế hệ mới, trong niềm kỳ vọng về sự giải thoát cuối cùng mà Chúa sẽ
ban cho. Đó là sự kinh ngạc của một người trong đêm trước lễ Vượt Qua tìm
thấy căn tính sâu sắc cá biệt của họ và như một người, trong đêm trước khi Con
Một Thiên Chúa hằng sống hiến cả thân mình trong hình thức bánh và rượu.
3.
Cầu Nguyện
Thánh
Vịnh 116
Biết
lấy chi đền đáp CHÚA bây giờ
vì mọi ơn lành Người đã ban cho?
Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ
và kêu cầu thánh danh ĐỨC CHÚA.
vì mọi ơn lành Người đã ban cho?
Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ
và kêu cầu thánh danh ĐỨC CHÚA.
Lời
khấn nguyền với CHÚA, tôi xin giữ trọn,
trước toàn thể dân Người.
Đối với CHÚA thật là đắt giá
cái chết của những ai trung hiếu với Người.
trước toàn thể dân Người.
Đối với CHÚA thật là đắt giá
cái chết của những ai trung hiếu với Người.
Vâng
lạy CHÚA, thân này là tôi tớ,
tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài,
xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi.
Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn, và kêu cầu thánh danh ĐỨC CHÚA.
tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài,
xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi.
Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn, và kêu cầu thánh danh ĐỨC CHÚA.
Lời
khấn nguyền với CHÚA, tôi xin giữ trọn,
trước toàn thể dân Người,
tại khuôn viên đền CHÚA, giữa lòng ngươi, hỡi Giêrusalem!
trước toàn thể dân Người,
tại khuôn viên đền CHÚA, giữa lòng ngươi, hỡi Giêrusalem!
4. Chiêm Niệm
Lạy
Chúa, khi chúng con nghĩ đến Chúa, chúng con không gợi nhớ lại những biến cố đã
xảy ra và đã được hoàn thành từ lâu lắm rồi, nhưng chúng con đến gặp gỡ Chúa
trong sự hiện diện thực sự và sống động của Chúa, chúng con thấy sự chuyển động
liên tục của Chúa giữa chúng con. Chúa can thiệp vào trong đời sống chúng
con để khôi phục lại chúng con cho giống hình ảnh Chúa, để chúng con không thể
bị biến dạng bởi những hòn đá của lề luật, mà chúng con có thể tìm thấy sự thể
hiện đầy đủ nhất trong thánh nhan của Chúa là Chúa Cha, được mặc khải trong
luôn mặt của người phàm, Đức Giêsu, lời hứa về lòng trung tín và tình yêu cho đến
chết. Không cần thiết phải bước ra khỏi sự hiện hữu thông thường để được
gặp Chúa bởi vì sự chăm sóc mà Chúa lo cho các tạo vật của Người mở ra về những
việc của loài người chúng con như một cuốn sách trong phạm trù của kinh nghiệm.
Lạy Chúa, Đấng tác tạo nên trời và đất, thật sự ẩn mình trong các trang sử, và
mặc dù lúc đầu che khuất và ẩn mặt, Chúa đã cho chúng con được gặp gỡ Chúa
trong sự siêu nhiên của Chúa, điều mà không bao giờ thiếu trong các sự việc
bình thường. Khi sự suy gẫm của chúng con về đời sống mang lại cho chúng
con sự thừa nhận về sự hiện diện khắp nơi của Chúa, cuộc gặp gỡ này chỉ có thể
được tán dương, ca tụng, diễn tả bằng những biểu tượng thiêng liêng, làm sống lại
tưng bừng trong niềm hân hoan lớn lao. Vì thế, chúng con không chỉ đến với
Chúa, mà như là dân tộc của sự giao ước. Điều kỳ diệu của sự hiện diện của
Chúa là luôn luôn nhưng không: trong các thành viên của Giáo Hội, nơi có
hai hoặc ba người tụ họp nhau lại trong danh của Đức Giêsu (Mt 18:20), trong những
trang của Kinh Thánh, trong những buổi rao giảng Tin Mừng, trong những người
nghèo khó và đau khổ (Mt 25:40), trong các hoạt động bí tích của các linh mục.
Nhưng chính trong hy lễ thánh thể sự hiện diện của Chúa mới trở nên thực sự;
trong Mình và Máu Thánh có đầy đủ bản thể con người và thiên tính của Chúa Phục
Sinh, thực sự hiện diện.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét