18/04/2014
Thứ Sáu Tuần Thánh
Kỷ Niệm Cuộc Khổ Nạn Của
Chúa
Phần
Thứ Nhất: Phụng Vụ Lời Chúa
Bài
Ðọc I: Is 52, 13-53, 12
"Người
đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta".
(Bài
ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa)
Trích
sách Tiên tri Isaia.
Này
tôi tớ Ta sẽ được cao minh, sẽ vinh thăng tấn phát, cao cả tuyệt vời. Cũng như
nhiều người đã kinh ngạc, vì thấy người tàn tạ mất hết vẻ người, dung nhan người
cũng không còn nữa, cũng thế, muôn dân sẽ sửng sốt, các vua không còn biết nói
chi trước mặt người. Vì họ sẽ thấy việc chưa ai kể cho mình, sẽ biết điều mình
chưa hề được nghe.
Ai
mà tin được điều chúng ta nghe? Và Chúa đã tỏ ra sức mạnh cho ai? Người sẽ lớn
lên trước mặt Ngài như một chồi non, như một rễ cây, tự đất khô khan. Người chẳng
còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên
ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ
đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi
đó, chúng ta không kể chi đến người.
Thật
sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của
chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt
và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan
nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an,
và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang
như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả
chúng ta.
Người
hiến thân vì người tình nguyện và không mở miệng như con chiên bị đem đi giết,
và như chiên non trước mặt người xén lông, người thinh lặng chẳng hé môi. Do cưỡng
bách và án lệnh, người đã bị tiêu diệt; ai sẽ còn kể đến dòng dõi người nữa, bởi
vì người đã bị khai trừ khỏi đất người sống; vì tội lỗi dân Ta, Ta đánh phạt
người. Người ta định đặt mồ người giữa những kẻ gian ác, nhưng khi chết, người
được chôn giữa kẻ giàu sang, mặc dầu người đã không làm chi bất chánh, và miệng
người không nói lời gian dối. Chúa đã muốn hành hạ người trong đau khổ.
Nếu
người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng dõi trường tồn, và
nhờ người, ý định Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của người, người sẽ thấy
và sẽ được thoả mãn. Nhờ sự thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính
hoá nhiều người, sẽ gánh lấy những tội ác của họ. Bởi đó, Ta trao phó nhiều dân
cho người, người sẽ chia chiến lợi phẩm với người hùng mạnh. Bởi vì người đã hiến
thân chịu chết và đã bị liệt vào hàng phạm nhân, người đã mang lấy tội của nhiều
người, và đã cầu bầu cho các phạm nhân.
Ðó
là lời Chúa.
Ðáp
Ca: Tv 30, 2 và 6. 12-13. 15-16. 17 và 25
Ðáp: Lạy Cha, con
phó linh hồn con trong tay Cha (Lc 23, 46).
Xướng:
1) Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con muôn đời tủi hổ, vì đức
công minh Ngài, xin cứu chữa con! Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa, lạy
Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con. - Ðáp.
2)
Con trở nên đồ ô nhục đối với những người thù, nên trò cười cho khách lân bang,
và mối lo sợ cho người quen biết; gặp con ngoài đường, họ tránh xa con. Con bị
người ta quên, không để ý tới, dường như đã chết, con đã trở nên như cái bình bị
vỡ tan. - Ðáp.
3)
Phần con, lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài, con kêu lên: Ngài là Thiên Chúa của
con! Vận mạng con ở trong tay Ngài, xin cứu gỡ con khỏi tay quân thù và những
người bách hại. - Ðáp.
4)
Xin cho tôi tớ Chúa được thấy long nhan dịu hiền, xin cứu sống con theo lượng từ
bi của Chúa. Lòng chư vị hãy can trường mạnh bạo, hết thảy chư vị là người cậy
trông ở Chúa. - Ðáp.
Bài
Ðọc II: Dt 4, 14-16; 5, 7-9
"Người
đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên
căn nguyên ơn cứu độ đời đời".
Trích
thư gởi tín hữu Do-thái.
Anh
em thân mến, chúng ta có một thượng tế cao cả đã đi qua các tầng trời, là Ðức
Giêsu, Con Thiên Chúa, nên chúng ta hãy giữ vững việc tuyên xưng đức tin của
chúng ta. Vì chưng, không phải chúng ta có thượng tế không thể cảm thông sự yếu
đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như
chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.
Khi
còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện
lên Ðấng có thể cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính, Người đã được nhậm lời.
Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và
khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ
tùng phục Người.
Ðó
là lời Chúa.
Câu
Xướng Trước Phúc Âm: Pl 2, 8-9
Chúa
Kitô vì chúng ta đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên
Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.
Phúc
Âm: Ga 18, 1 - 19, 42
"Sự
Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".
C: Người đọc Chung,
Thánh Sử; S: Người đối thoại khác, hoặc Cộng đoàn. J: Chúa
Giêsu
C. Bài Thương
Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Gioan.
Khi
ấy, Chúa Giêsu đi với môn đệ sang qua suối Xêrông, ở đó có một khu vườn, Người
vào đó cùng với các môn đệ. Giuđa, tên phản bội, đã biết rõ nơi đó, vì Chúa
Giêsu thường đến đấy với các môn đệ. Nên Giuđa dẫn tới một toán quân cùng với vệ
binh do các thượng tế và biệt phái cấp cho, nó đến đây với đèn đuốc và khí giới.
Chúa Giêsu đã biết mọi sự sẽ xảy đến cho Mình, nên Người tiến ra và hỏi chúng:
J. "Các
ngươi tìm ai?"
C. Chúng thưa lại:
S. "Giêsu
Nadarét".
C. Chúa Giêsu bảo:
"Ta đây".
C. Giuđa là kẻ định
nộp Người cũng đứng đó với bọn chúng. Nhưng khi Người vừa nói "Ta
đây", bọn chúng giật lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi chúng:
J. "Các
ngươi tìm ai?"
C. Chúng thưa:
S. "Giêsu
Nadarét".
C. Chúa Giêsu
đáp lại: "Ta đã bảo các ngươi rằng Ta đây! Vậy nếu các ngươi tìm bắt Ta,
thì hãy để cho những người này đi".
C. Như thế là trọn
lời đã nói: "Con chẳng để mất người nào trong những kẻ Cha đã trao phó cho
Con". Bấy giờ Simon Phêrô có sẵn thanh gươm, liền rút ra đánh tên đầy tớ vị
thượng tế, chém đứt tai bên phải. Ðầy tớ ấy tên là Mancô. Nhưng Chúa Giêsu bảo
Phêrô rằng:
J. "Hãy xỏ
gươm vào bao. Chén Cha Ta đã trao lẽ nào Ta không uống!"
C. Bấy giờ, toán
quân, trưởng toán và vệ binh của người Do-thái bắt Chúa Giêsu trói lại, và điệu
Người đến nhà ông Anna trước, vì ông là nhạc phụ của Caipha đương làm thượng tế
năm ấy. Chính Caipha là người đã giúp ý kiến này cho người Do-thái: để một người
chết thay cho cả dân thì lợi hơn. Còn Phêrô và môn đệ kia vẫn theo Chúa Giêsu.
Môn đệ sau này quen vị thượng tế nên cùng với Chúa Giêsu vào trong sân vị thượng
tế, còn Phêrô đứng lại ngoài cửa. Vì thế, môn đệ kia là người quen với vị thượng
tế, nên đi ra nói với người giữ cửa và dẫn Phêrô vào. Cô nữ tì gác cửa liền bảo
Phêrô:
S. "Có phải
ông cũng là môn đệ của người đó không?"
C. Ông đáp:
S. "Tôi
không phải đâu".
C. Ðám thủ hạ và
vệ binh có nhóm một đống lửa và đứng đó mà sưởi vì trời lạnh, Phêrô cũng đứng
sưởi với họ. Vị thượng tế hỏi Chúa Giêsu về môn đệ và giáo lý của Người. Chúa
Giêsu đáp:
J. "Tôi đã
nói công khai trước mặt thiên hạ, Tôi thường giảng dạy tại hội đường và trong đền
thờ, nơi mà các người Do-thái thường tụ họp, Tôi không nói chi thầm lén cả. Tại
sao ông lại hỏi Tôi? Ông cứ hỏi những người đã nghe Tôi về những điều Tôi đã giảng
dạy. Họ đã quá rõ điều Tôi nói".
C. Nghe vậy, một
tên vệ binh đứng đó vả mặt Chúa Giêsu mà nói:
S. "Anh trả
lời vị thượng tế như thế ư".
C. Chúa Giêsu
đáp:
J. "Nếu Ta
nói sai, hãy chứng minh điều sai đó; mà nếu Ta nói phải, thì tại sao anh lại
đánh Ta?"
C. Rồi Anna cho
giải Người vẫn bị trói đến cùng vị thượng tế Caipha. Lúc ấy Phêrô đang đứng sưởi.
Họ bảo ông:
S. "Có phải
ông cũng là môn đệ người đó không?"
C. Ông chối và
nói:
S. "Tôi
không phải đâu".
C. Một tên thủ hạ
của vị thượng tế, có họ với người bị Phêrô chém đứt tai, cãi lại rằng:
S. "Tôi đã
chẳng thấy ông ở trong vườn cùng với người đó sao?"
C. Phêrô lại chối
nữa, và ngay lúc đó gà liền gáy.
Bấy
giờ họ điệu Chúa Giêsu từ nhà Caipha đến pháp đình. Lúc đó tảng sáng và họ
không vào pháp đình để khỏi bị nhơ bẩn và để có thể ăn Lễ Vượt Qua. Lúc ấy
Philatô ra ngoài để gặp họ và nói:
S. "Các
ngươi tố cáo người này về điều gì".
C. Họ đáp:
S. "Nếu hắn
không phải là tay gian ác, chúng tôi đã không nộp cho quan".
C. Philatô bảo họ:
S. "Các ông
cứ bắt và xét xử theo luật của các ông".
C. Nhưng người
Do-thái đáp lại:
S. "Chúng
tôi chẳng có quyền giết ai cả".
C. Thế mới ứng
nghiệm lời Chúa Giêsu đã nói trước: Người sẽ phải chết cách nào. Bấy giờ
Philatô trở vào pháp đình gọi Chúa Giêsu đến mà hỏi:
S. "Ông có
phải là Vua dân Do-thái không?"
C. Chúa Giêsu
đáp:
J. "Quan tự
ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?"
C. Philatô đáp:
S. "Ta đâu
phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta.
Ông đã làm gì?"
C. Chúa Giêsu
đáp:
J. "Nước
tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những
người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng nước
tôi không thuộc chốn này".
C. Philatô hỏi lại:
S. "Vậy ông
là Vua ư?"
C. Chúa Giêsu
đáp:
J. "Quan
nói đúng: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng
về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng tôi".
C. Philatô bảo
Người:
S. "Chân lý
là cái gì?"
C. Nói lời này
xong, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ:
S. "Ta không
thấy nơi người này có lý do để khép án. Nhưng theo tục lệ các ngươi, ta sẽ
phóng thích cho các ngươi một tù nhân vào dịp Lễ Vượt Qua. Vậy các ngươi có muốn
ta phóng thích Vua Do-thái cho các ngươi chăng?"
C. Họ liền la
lên:
S. "Không
phải tên đó, nhưng là Baraba".
C. Baraba là một
tên cướp. Bấy giờ Philatô truyền đem Chúa Giêsu đi mà đánh đòn Người. Binh sĩ kết
một triều thiên bằng gai nhọn đội lên đầu Người và nói:
S. "Tâu Vua
Do-thái!"
C. Và vả mặt Người.
Philatô lại ra ngoài và nói:
S. "Ðây ta
cho dẫn người ấy ra ngoài cho các ngươi để các ngươi biết rằng ta không thấy
nơi người ấy một lý do để kết án".
C. Bấy giờ Chúa
Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo đỏ. Philatô bảo họ:
S. "Này là
Người".
C. Vừa thấy Người,
các thượng tế và vệ binh liền la to:
S. "Ðóng
đinh nó vào thập giá! Ðóng đinh nó vào thập giá!"
C. Philatô bảo họ:
S. "Ðấy các
ngươi cứ bắt và đóng đinh ông vào thập giá, phần ta, ta không thấy lý do nào kết
tội ông".
C. Người Do-thái
đáp lại:
S. "Chúng
tôi đã có luật, và theo luật đó nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Thiên
Chúa".
C. Nghe lời đó
Philatô càng hoảng sợ hơn. Ông trở vào pháp đình và nói với Chúa Giêsu:
S. "Ông ở
đâu đến?"
C. Nhưng Chúa
Giêsu không đáp lại câu nào. Bấy giờ Philatô bảo Người:
S. "Ông
không nói với ta ư? Ông không biết rằng ta có quyền đóng đinh ông vào thập giá
và cũng có quyền tha ông sao?"
C. Chúa Giêsu
đáp:
J. "Quan chẳng
có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho, vì thế nên kẻ nộp tôi
cho quan, mắc tội nặng hơn".
C. Từ lúc đó
Philatô tìm cách tha Người. Nhưng người Do-thái la lên:
S. "Nếu
quan tha cho nó, quan không phải là trung thần của Xêsa, vì ai xưng mình là
vua, kẻ đó chống lại Xêsa".
C. Philatô vừa
nghe lời đó, liền cho điệu Chúa Giêsu ra ngoài rồi ông lên ngồi toà xử, nơi gọi
là Nền đá, tiếng Do-thái gọi là Gabbatha. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu ngày
chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Philatô bảo dân:
S. "Ðây là
vua các ngươi".
C. Nhưng họ càng
la to:
S. "Giết
đi! Giết đi! Ðóng đinh nó đi!"
C. Philatô nói:
S. "Ta đóng
đinh vua các ngươi ư?"
C. Các thượng tế
đáp:
S. "Chúng
tôi không có vua nào khác ngoài Xêsa".
C. Bấy giờ quan
giao Người cho họ đem đóng đinh.
Vậy
họ điệu Chúa Giêsu đi. Và chính Người vác thập giá đến nơi kia gọi là Núi Sọ,
tiếng Do-thái gọi là Golgotha. Ở đó họ đóng đinh Người trên thập giá cùng với
hai người khác nữa: mỗi người một bên, còn Chúa Giêsu thì ở giữa. Philatô cũng
viết một tấm bảng và sai đóng trên thập giá. Bảng mang những hàng chữ này:
"Giêsu, Nadarét, vua dân Do-thái". Nhiều người Do-thái đọc được bảng
đó, vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh thì gần thành phố, mà bảng viết thì bằng
tiếng Do-thái, Hy-lạp và La-tinh. Vì thế các thượng tế đến thưa với Philatô:
S. Xin đừng viết
"Vua dân Do Thái", nhưng nên viết: "Người này đã nói: 'Ta là vua
dân Do-thái'".
C. Philatô đáp:
S. "Ðiều ta
đã viết là đã viết".
C. Khi quân lính
đã đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá rồi thì họ lấy áo Người chia làm bốn phần
cho mỗi người một phần, còn cái áo dài là áo không có đường khâu, đan liền từ
trên xuống dưới. Họ bảo nhau:
S. "Chúng
ta đừng xé áo này, nhưng hãy rút thăm xem ai được thì lấy".
C. Hầu ứng nghiệm
lời Kinh Thánh: "Chúng đã chia nhau các áo Ta và đã rút thăm áo dài của
Ta". Chính quân lính đã làm điều đó.
Ðứng
gần thập giá Chúa Giêsu, lúc đó có Mẹ Người, cùng với chị Mẹ Người là Maria, vợ
ông Clopas và Maria Mađalêna. Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa
Giêsu thưa cùng Mẹ rằng:
J. "Hỡi Bà,
này là con Bà".
C. Rồi Người lại
nói với môn đệ:
J. "Này là
Mẹ con".
C. Và từ giờ đó
môn đệ đã lãnh nhận Bà về nhà mình. Sau đó, vì biết rằng mọi sự đã hoàn tất, để
lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, Chúa Giêsu nói:
J. "Ta
khát!"
C. Ở đó có một
bình đầy dấm. Họ liền lấy miếng bông biển thấm đầy dấm cắm vào đầu ngành cây
hương thảo đưa lên miệng Người. Khi đã nếm dấm rồi, Chúa Giêsu nói:
J. "Mọi sự
đã hoàn tất".
C. Và Người gục
đầu xuống trút hơi thở cuối cùng.
(Quỳ
gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)
Hôm
đó là ngày chuẩn bị lễ: để tội nhân khỏi treo trên thập giá trong ngày Sabbat,
vì ngày Sabbat là ngày đại lễ, nên người Do-thái xin Philatô cho đánh dập ống
chân tội nhân và cho cất xác xuống. Quân lính đến đánh dập ống chân của người
thứ nhất và người thứ hai cùng chịu treo trên thập giá với Người. Nhưng lúc họ
đến gần Chúa Giêsu, họ thấy Người đã chết, nên không đánh dập ống chân Người nữa,
tuy nhiên một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy
ra. Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng, mà lời chứng của người đó chân thật, và
người đó biết rằng mình nói thật để cho các người cũng tin nữa. Những sự việc
này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: "Người ta sẽ không đánh dập một
cái xương nào của Người". Lời Kinh Thánh khác rằng: "Họ sẽ nhìn xem Ðấng
họ đã đâm thâu qua".
Sau
đó, Giuse người xứ Arimathia, môn đệ Chúa Giêsu, nhưng thầm kín vì sợ người
Do-thái, xin Philatô cho phép cất xác Chúa Giêsu. Philatô cho phép. Và ông đến
cất xác Chúa Giêsu. Nicôđêmô cũng đến, ông là người trước kia đã đến gặp Chúa
Giêsu ban đêm. Ông đem theo chừng một trăm cân mộc dược trộn lẫn với trầm
hương. Họ lấy xác Chúa Giêsu và lấy khăn bọc lại cùng với thuốc thơm theo tục
khâm liệm người Do-thái. Ở nơi Chúa chịu đóng đinh có cái vườn và trong vườn có
một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai. Vì là ngày chuẩn bị lễ của người Do-thái và
ngôi mộ lại rất gần, nên họ đã mai táng Chúa Giêsu trong mộ đó.
Suy
Niệm:
Người
Tôi Tớ Của Thiên Chúa
Phụng
Vụ Thứ Sáu Tuần Thánh A
Ys
52,13-53,12; Hr 4,14-16;5,7-9; Yn 18,1-19,42
Phụng
vụ hôm nay không phải là Phụng vụ Thánh Thể mà là Phụng vụ Thánh Giá. Cao điểm
của buổi phụng vụ này là nghi thức mở Thánh Giá và thờ lạy Thánh Giá. Nhưng để
giúp chúng ta hiểu biết mầu nhiệm Thánh Giá, ba bài Kinh Thánh vừa nghe lần lượt
giới thiệu với chúng ta những khía cạnh của Thánh gía Ðức Kitô, cũng là những
nét chính trên khuôn mặt Ðức Kitô ở trên Thánh giá. Là vì từ ngày Người bị đóng
đinh, thập giá đã trở thành Thánh giá khi mang xác thánh Người; và như lời
thánh Phaolô nói, chúng ta cũng chẳng biết một Ðức Kitô nào khác ngoài chính Ðức
Kitô đã bị đóng đinh vào Thập giá. Nên suy nghĩ về Thánh giá, là chiêm ngưỡng Ðức
Kitô chịu đóng đinh. Qua những bài Kinh Thánh vừa nghe, Phụng vụ muốn chúng ta
nhìn ngắm Ðức Kitô trên Thánh giá như là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa, như là Vị
Thượng Tế của Ðạo Mới, và như là Ðấng Hoàng Ðế đã cứu chuộc chúng ta.
A.
Người Tôi Tớ Của Thiên Chúa
Isaia
có một đoạn sách rất mầu nhiệm, đoạn mà chúng ta vừa nghe đọc. Cho đến ngày Ðức
Kitô chịu treo trên Thập giá, người ta chẳng hiểu gì về đoạn sách này. Tác giả
nói đến một người Tôi Tớ của Ðức Yavê. Người có đủ mọi tư cách của một người
công chính và của một vị tiên tri. Hơn nữa đó còn là Vị Tiên tri công chính đặc
biệt. Chẳng người công chính và vị tiên tri nào trong lịch sử hội đủ những tư
cách của Người. Phải nói Người là vị thánh duy nhất và là Người của Thiên Chúa
có một không hai. Bản chất của con người của Người đã rất mầu nhiệm vì dường
như Người không phải là một cá nhân nhưng là toàn dân Thiên Chúa ở nơi Người. Ðịnh
mệnh của Người còn mầu nhiệm hơn nữa. Người đạo đức thánh thiện tuyệt vời, thế
mà không hiểu sao lại bị đánh đập, mắng chửi, ruồng rẫy, vất bỏ như một tên vô
đạo, như một kẻ bất lương. Và cực hình Người phải chịu dữ dằn đến nỗi làm nát
khuôn mặt Người, khiến ai nhìn vào cũng phải rùng rợn ngó đi nơi khác. Thế rồi
Người được tôn vinh, tôn vinh đến cùng độ khiến cả thiên hạ phải ngỡ ngàng. Ai
hiểu được con người lạ lùng ấy? Isaia viết ra theo ơn linh hứng cũng phải bàng
hoàng. Ông suy nghĩ và táo bạo viết thêm chính vì tội lỗi loài người mà Vị công
chính kia phải chịu khổ như vậy. Người là bầy tôi Thiên Chúa dùng để gánh vác
các khổ đau của chúng ta, hầu trở nên Vị trung gian cầu bầu cho tội nhân. Isaia
được linh hứng viết đoạn trên, nhưng ông cũng như mọi độc giả đều ngậm tăm, chẳng
biết nhân vật mình mô tả đó là ai. Lời tiên tri trên còn chờ mạc khải.
Nay
Ðức Kitô chịu treo trên Thập giá. Và chính lúc ấy trời đất chuyển động. Nhiều kẻ
đấm ngực ăn năn thú nhận: Người bị treo kia thật là Con Thiên Chúa. Mầu nhiệm
Phục sinh tiếp đến chứng thực cho lời thú nhận trên. Và bài sách Isaia nay được
ứng nghiệm. Ðức Kitô bị đóng đinh chính là Ðấng Thánh đã mang lấy tội lỗi và khổ
đau của loài người. Người bị đánh đập, ruồng rẫy, vứt bỏ như viên đá mà thợ xây
quẳng đi. Nhưng Thiên Chúa đã nhặt lại làm đá góc xây nên Ðền thờ mới là Hội
Thánh hiện thời. Ðức Kitô Chúa chúng ta đã hoàn tất lời tiên tri; đã làm trọn
thời Cựu ước; đã trở nên phương xá cứu rỗi loài người.
Bài
sách Isaia ít nhất khuyên nhủ chúng ta điều này: mỗi khi nhìn vào Thập giá Ðức
Kitô, lập tức chúng ta phải nghĩ đến tội lỗi lớn lao và khổ đau dữ dằn của loài
người. Không có tội lỗi và hậu quả của nó, thì không có việc Ðức Kitô phải đập
đánh và khổ đau trên Thập giá. Thân thể rách nát của Người nhắc nhở chúng ta ý
thức sự kiện tội lỗi tràn lan mọi nơi, mọi thời một cách thật độc dữ. Và trước
hết chính mỗi người chúng ta phải nhận thức lương tâm và đời sống nhiều khi còn
tội lỗi của mình. Thiếu sự công nhận này là phủ nhận Thánh giá Ðức Kitô; là
không chấp nhận ý nghĩa cứu thế của việc Người tử nạn; là cho rằng việc Người
chịu chết thật vô ích, nếu không phải chỉ có hệ tới Người. Và như vậy rõ rệt là
phạm thượng và xúc phạm.
Ngược
lại, ai có cái nhìn như Isaia, ai nhận thức rằng Ðấng bị treo trên Thập giá đã
phải khổ hình vì tội lỗi chúng ta, người đó dễ nhận ra Ðức Kitô bị đóng đinh hiện
nay là Vị trung gian cầu bầu cho kẻ có tội. Khi ấy Thập giá của Người trở nên
Thánh giá, trở thành phương xa cứu độ loài người tội nhân.
Thế
nên thái độ đầu tiên phải có để cử hành Phụng vụ Thánh giá hôm nay là tâm tình
nhận thức mình là tội nhân và Ðấng bị đóng đinh kia đang đau khổ vì mình; chúng
ta đến với Thập giá vừa khiêm cung vừa cảm mến. Cái hôn nồng nàn đặt vào chân Ðấng
bị đóng đinh sẽ có giá trị tha tội khác nào những cái hôn đầy nước mắt của bà
Maria đặt vào chân Chúa khi Người còn sống. Ðó là những cái hôn thú nhận tội lỗi
và trao phó chúng cho Ðấng đầy yêu thương muốn gánh đỡ hết tội lỗi của loài người.
Tuy
nhiên bài sách Isaia mới đem đến thái độ mở đầu. Chúng ta còn phải đi xa hơn nữa
vào Phụng vụ Thánh giá hôm nay. Và bài thư Hipri tiếp sau gợi lên một tâm tình
mới.
B.
Vị Thượng Tế Của Ðạo Mới
Tác
giả thư Hipri nói với chúng ta: Ðức Kitô bị đóng đinh Thập giá là Vị Thượng tế
đã tiến vào thiên cung. Không giống như bất cứ vị thượng tế nào trong đạo cũ,
hay đã gặp ở trần gian này, Vị Thượng tế của chúng ta độc nhất vô song và đáng
tin cậy hoàn toàn, vì lẽ Người đã chịu khổ nạn.
Ý
tác giả muốn nói gì? Mấy lời thư chúng ta vừa nghe chỉ nêu lên một ý tưởng.
Theo ông, cuộc khổ nạn Ðức Kitô đã chịu chứng tỏ Người có lòng tôn kính vâng phục
Thiên Chúa. Người đã khiêm nhường sấp mình nài van Ðấng có thể cứu thoát Người
khỏi chết. Lòng vâng phục của Người đã khiến Người được chấp nhận. Và cũng nhờ
sự vâng phục cho đến chết như thế, Người đã trở nên phương xá tội tất cả những
ai tùng phục Người.
Muốn
hiểu ý tác giả một cách đơn sơ, có lẽ chúng ta có thể nói theo như đã học biết.
Thánh Kinh dạy loài người đã sa ngã phạm tội bất vâng phục Thiên Chúa và càng
đi càng vấp váp nặng nề. Ðức Kitô đến gánh vác mọi tội lỗi trần gian. Người phải
tỏ ra vâng phục hết mình, tức là phải vâng phục cho đến chết và chết trên Thập
giá. Khi đó Người mới được nâng lên, trở thành phương xá cứu độ tất cả những ai
chấp nhận tinh thần vâng phục của Người. Nói một cách vắn tắt hơn, như vì sự bất
tuân phục của một người mà cả loài người phải chết, thì nay nhờ sự vâng phục của
một người khác mà cả nhân loại lại được sống. Nhiều tác giả đạo đức còn suy
nghĩ thêm: như loài người đã hư đi vì một người đã bất tuân phục nơi cây trái cấm,
thì nay nhân loại được cứu chuộc nhờ một người khác đã vâng phục cho đến chết
và chết trên cây gỗ. Do đó, Thánh giá Ðức Kitô đã trở thành cây thang đưa người
ta trở về Thiên Quốc. Và Ðức Kitô cũng chỉ có thể lên nơi vinh hiển qua nhiều
gian khổ đớn đau để học biết vâng phục.
Tuy
nhiên như vậy chúng ta vẫn chưa nói đủ về tư cách Thượng tế của Ðức Kitô như
bài Thánh thư hôm nay muốn. Tác giả nghĩ đến ngày xá tội trong dân Dothái. Ông
thấy đạo cũ đặt cả tin tưởng vào vị thượng tế, khi ngài bước vào cung cực
thánh, dâng máu chiên máu bò để xin ơn tha tội. Ðó là lễ xá tội lớn nhất của đạo
cũ. Ðó là ngày thượng tế thi hành đặc quyền của mình. Nhưng nếu chỉ có vậy, thì
sánh làm sao được với lễ xá tội trong Ðạo Mới? Hay nói cách khác, lễ đền tội
trên Thánh giá tỏ ra trổi vượt hơn biết bao! Ở đây không phải là vị thượng tế
thường, nhưng là vị Thượng tế tuyệt vời. Ở đây không phải chỉ là máu chiên máu
bò, nhưng là chính Máu Thánh Ðức Kitô. Ở đây vị Thượng tế không khách quan dùng
một hy lễ ngoài mình để dâng lên, nhưng dâng chính sự đau khổ và sự chết của
mình làm Hy tế. Nhất định vị Thượng tế này thật là trổi vượt, Hy tế của Người
thật là giá trị. Thế nên chúng ta hãy tin tưởng đến gần ngai ân sủng để được cứu
độ. Và để lòng tin tưởng không bị một nghi ngờ nào có thể làm lung lay, thì
chúng ta cũng cần biết: Vị Thượng tế của chúng ta thông cảm vô ngần, vì Người
đã kinh nghiệm nơi cuộc đời và thân thể của Người mọi nỗi khổ đau của chúng ta
ngoài trừ tội lỗi.
Nói
đúng ra, khi nêu lên lý do tin tưởng này, tác giả cũng hàm ý bảo chúng ta: muốn
tin tưởng đến gần ngai ân sủng, chúng ta cũng phải cảm thông những đau khổ đớn đau
của Người. Cũng như khi gợi lên giá trị của sự vâng lời trong cuộc Khổ nạn của
Ðức Kitô, tác giả đã khuyên ta chỉ mong được cứu độ khi chúng ta tuân phục Người.
Như
vậy bài thư Hipri đã đi xa hơn bài sách Isaia nhiều. Nhìn vào Thánh giá Ðức
Kitô không những chúng ta phải nhận thức rằng chính vì tội lỗi của loài người
chúng ta mà Người Tôi Tớ Thiên Chúa đã phải cực hình như vậy; nhưng sau bài thư
Hipri, chúng ta còn thấy rõ hơn; Ðức Kitô đã phải đi qua nhiều đau khổ và chết
trên Thập giá để học biết và chứng tỏ lòng vâng phục hầu chuộc tội bất tuân phục,
khiến một đàng Người trở thành vị Thượng tế duy nhất có thể ban ơn tha tội và
đàng khác chúng ta chỉ có thể đến gần ngai ân sủng nếu tùng phục Ðấng đã bị
đóng đinh, tức là tham gia vào cuộc Khổ nạn của Người. Tư tưởng cuối cùng này dẫn
ta sang bài tường thuật việc Chúa chịu nạn theo Tin Mừng Yoan.
C.
Ðấng Hoàng Ðế Cứu Ðộ
Như
đã có lần chúng ta nói: mỗi tác giả Tin Mừng có một lối riêng để trình bày việc
Chúa chịu chết. Nhờ vậy chúng ta có những bài tường thuật phong phú và độc đáo.
Cách thánh Yoan thuật lại việc Chúa chịu nạn cũng thật là của người. Ở đây
chúng ta chỉ làm nổi bật lên hai tư tưởng: Ðức Kitô là Thượng Tế và là Hoàng Ðế.
Nếu
tác giả thư Hipri còn nhận thấy Chúa chịu đóng đinh là Thượng tế tuyệt vời, thì
huống nữa là tác giả Tin Mừng Yoan. Cuốn Tin Mừng sau chót này luôn có khuynh
hướng phụng vụ: làm sao lại có thể không nhận ra khuôn mặt Tư tế của Ðức Kitô
trong cuộc Người thương khó?
Theo
Yoan, sau khi bị bắt, Ðức Yêsu bị điệu đến nhà Hanna là thân phụ của vị thượng
tế năm ấy là Caipha. Và khi Người ở trước mặt ông này, Yoan dùng đi dùng lại
danh từ thượng tế để chúng ta thấy rõ tư cách trổi vượt của Ðức Yêsu, khiến
chúng ta công nhận chức thượng tế của đạo cũ không còn giá trị gì nữa.
Rồi
Yoan phân biệt rõ trong số y phục của Chúa mà lý hình đem ra chia nhau, có cái
áo dài một đường chỉ. Lý hình đã để nguyên và rút thăm. Cái áo ấy gợi lên hình ảnh
cái áo dài của thầy thượng tế. Và như vậy, Yoan muốn cho chúng ta nhìn nhận nơi
Ðức Kitô chịu đóng đinh, vị Thượng tế ở trên bàn thờ Thánh giá.
Mà
quả thật Thánh giá đã trở thành bàn thờ của Ðạo Mới. Khi người lính không đánh
dập ống chân Chúa như đã làm cho hai người tử tội hai bên, Yoan đã nhận ra Người
là Chiên Vượt qua, mà khi hy tế không được để gẫy một cái xương nào.
Hơn
nữa, lúc người lính cầm đòng đâm cạnh sườn Chúa, Yoan thấy nước với máu chảy
ra. Ông thấy ngay đó là Ðền thờ Yêrusalem mới, có nước sinh sống chảy ra từ bên
hông, đem sự sống mới đến phục sinh mọi loài.
Như
vậy Yoan đã kín đáo nhưng rất tài tình và sâu sắc giới thiệu Ðức Kitô chịu cực
hình là Thượng tế, là Ðền thờ, là Hy lễ, tức là tất cả tôn giáo mới của chúng
ta. Ông đồng ý với tác giả thư Hipri. Cũng như ông nhắc lại một câu trong sách
Isaia để chứng tỏ ông coi Ðức Kitô chịu nạn đây là Người Tôi Tớ Thiên Chúa:
"Chúng sẽ trông lên Người chúng đã đâm".
Nhưng
khi trông lên Ðấng đã bị đâm, Yoan còn nhìn thấy Người là Hoàng đế muôn dân
trông đợi. Tác giả sách Tin Mừng thứ tư có cái nhìn đặc biệt này: ngay khi thấy
Ðức Yêsu còn sinh hoạt ở trần gian này, ông đã nhìn ra vinh quang của Người là
Ngôi Lời Thiên Chúa. Lúc nào Người cũng có vẻ uy nghi, mặc dầu kín đáo, vì Ngôi
Lời đã hóa thành xác phàm. Thế nên cả trong cuộc Khổ nạn này, Ðức Kitô uy nghi,
lẫm liệt, và có thể nói, hơn bao giờ hết. Một mình Yoan đã nói lên cái oai của
Ðức Kitô nơi vườn Cây Dầu. Tiếng của Người vừa phán, bọn lính đã ngã lăn ra. Mà
không phải chỉ một lần! Thái độ của Người ở trước tòa Caipha cũng vậy. Ðặc biệt
cuộc đối thoại giữa Người với Philatô. Yoan thuật lại tỉ mỉ và ông đã giải
thích vương quyền của Chúa là gì. Ðến nỗi Philatô bị ám ảnh. Hay bị chinh phục?
Ông đã đưa Ðức Kitô ra trước mặt dân, chỉ vào Người mà tuyên bố: Ðây là Người.
Nhưng ông cũng đã nói: Ðây là Vua các ngươi! Rồi một mình tác giả Tin Mừng thứ
tư nhấn mạnh việc Philatô từ chối không sửa lại bảng viết đặt trên đầu Thánh
giá Ðức Yêsu. Ông muốn muôn đời người ta nhìn nhận Ðấng chịu đóng đanh đây là
Hoàng đế cứu độ muôn dân. Ông ngồi ghế quan tòa, mà cuối cùng đã thú nhận người
bị xét xử kia là Vua! Cũng như Caipha là thượng tế đã bị mất mặt trước Vị Thượng
tế mới!
Vậy,
nếu chúng ta phải tóm tắt những tư tưởng và tâm tình của Phụng vụ muốn chúng ta
phải có khi đến với Thánh giá Ðức Kitô, thì chúng ta có thể nói:
*
Mọi người hãy như Isaia nhìn lên Thập giá mà nhận thức rằng: Thân thể tan nát
kia là nạn nhân của tội lỗi. Ðó là Người Tôi Tớ Thiên Chúa đã gánh chịu mọi tội
lỗi và hậu quả của trần gian. Không thể tôn thờ Thánh giá mà không nhìn nhận phần
trách nhiệm tội lỗi của mình; nên phải thống hối ăn năn đến với Thánh giá Chúa
Kitô.
*
Khi đó, theo lời thư Hipri, chúng ta sẽ được dạn dĩ, tin tưởng đến gần ngai ân
sủng vì có Ðức Kitô làm Thượng tế. Người đã chịu đóng đinh để tiến vào thiên
cung với Máu Thánh của Người, hầu cầu bầu ơn tha thứ cho chúng ta với một tấm
lòng rất thông cảm mọi sự yếu đuối của chúng ta.
*
Như vậy, chúng ta hãy để Ðức Kitô chịu đóng đinh kéo mình lên với Người. Chính
Người đã phán: khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi sự lên cùng Ta. Người thống
nhất mọi sự khi ở trên Thánh giá. Người chinh phục mọi người khi hy sinh đến cả
mạng sống cho người mình yêu. Người là Vua Tình yêu khi chịu đóng đinh.
Phụng
vụ hôm nay quy tụ chúng ta lại bên Thánh giá. Chúng ta hãy nhìn lên Ðấng đã bị
đóng đinh và bị lưỡi đòng đâm thâu. Người đang khẩn khoản nài xin Chúa Cha tha
tội cho chúng ta. Và ơn tha tội ấy như đang chảy ra từ cạnh sườn Người trong Nước
và Máu để rửa sạch và tưới mát chúng ta thành tạo vật mới. Như vậy Ðấng bị đóng
đinh vừa là Của Lễ Ðền Tội, vừa là Vị Thượng Tế ban ơn cứu độ và là Thủ Cấp của
một cơ thể mới, hay là Vua của Dân Thánh Mới. Chúng ta đến với Thánh giá không
những trong tâm tình ăn năn thống hối, nhưng còn để được đổi mới canh tân và ý
thức từ nay phải liên kết với Vị Thủ Lãnh của mình đang giang tay trên Thập giá
để cầu bầu cho nhân loại và đang để mở cạnh sườn cho thiên hạ thấy tình yêu to
lớn đã hy sinh phục vụ cho đến chết và chết trên Thập giá. Liên kết với Ðấng
yêu thương loài người như vậy, chúng ta hãy đứng lên cầu nguyện cho mọi hạng
người, mong mọi người đến thờ lạy Thánh giá Chúa Kitô.
(Trích
dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của
Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
Thứ Sáu Tuần Thánh
Bài đọc: Isa 52:13 – 53:12;
Heb 4:14-16, 5:7-9; Jn 18-19.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Vinh quang tuyệt đỉnh
qua đau khổ tột cùng
Phụng
vụ Lời Chúa hôm nay tập trung trong những đau khổ của Đức Kitô và lý do tại sao
Ngài phải chịu những đau khổ này.
Trong
Bài Đọc I, tiên tri Isaiah nói rõ lý do tại sao Người Tôi Trung của Thiên Chúa
chịu đau khổ: Ngài mang lấy thương tích của chúng ta. Ngài đã bị đâm vì chúng
ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm. Ngài đã chịu sửa trị để chúng
ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Trong
Bài Đọc II, tác-giả Thư Do Thái chứng minh Chúa Giêsu là Vị Thượng Tế tuyệt hảo,
vì Ngài vừa biết những gì nơi Thiên Chúa, vừa biết những gì nơi con người; nên
Ngài có thể cầu bầu với Thiên Chúa một cách hiệu quả cho con người. Hơn nữa, vì
sự vâng phục Thiên Chúa và những đau khổ Chúa Giêsu chịu, Ngài đã trở nên nguồn
ơn cứu độ cho muôn người. Trong Phúc Âm, thánh-sử Gioan tường thuật Cuộc Thương
Khó của Chúa Giêsu, từ khi Ngài bị phản bội bởi Judah cho tới khi ông Joseph
Arithmatha và Nicodemus an táng Ngài trong huyệt mộ, Chúa Giêsu biết tất cả những
đau khổ xảy đến cho Ngài, và Ngài luôn can đảm đối phó và chịu đựng.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/
Bài đọc I:
Bài ca thứ tư về Người Tôi Trung của Thiên Chúa
Trong
Bài ca thứ tư, Thiên Chúa cho biết lý do tại sao Người Tôi Trung phải chịu đau
khổ: (1) để gánh chịu hình phạt cho nhân lọai, và (2) để đạt được vinh quang
tuyệt đỉnh.
1.1/
Người Tôi Trung được vinh quang tuyệt đỉnh qua đau khổ tột cùng: Tiên tri Isaiah muốn
nhấn mạnh đến cách thức được vinh quang: “qua đau khổ tột cùng.” Cần chú ý đến
4 động từ dùng trong câu này: “Này đây, người tôi trung của Ta sẽ cư xử
khôn ngoan (sakal), sẽ được vươn cao (rum), được
tuyên dương (nasa), và được suy tôn đến tuyệt đỉnh (gabah
meod). Vì Người Tôi Trung biết hành động khôn ngoan và hiệu quả, nên Người
được vươn cao, được tuyên dương, và đạt tới vinh quang tuyệt đỉnh. Một người
không thể đọc câu này mà không suy nghĩ đến (Phi 2:6-11, Acts 2:33, và Acts
3:13, 26). Tác giả Stier so sánh 3 giai đọan được nâng cao của Người với 3 giai
đọan sống lại, lên trời, và ngự bên hữu Thiên Chúa (Psa 110:1). Ai là Người Tôi
Trung biết cư xử khôn ngoan để đạt được vinh quang tuyệt đỉnh như thế? Vua
David? dân Israel? tiên tri? Chỉ có Đức Kitô mà thôi.
Đau
khổ mà Người Tôi Trung phải chịu vượt quá đau khổ con người có thể tưởng tượng
được: “bao kẻ đã sửng sốt khi thấy người tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng
ra người, không còn dáng vẻ con người nữa.” Điều này tác giả muốn nhấn mạnh đến
hậu quả của hình phạt: Vì chịu quá nhiều đau khổ nơi thân xác, Người Tôi Trung
không còn giữ được dáng vẻ con người nữa.
Có
một sự khác biệt giữa Bản Bảy Mươi và Bản Do Thái trong câu 52:15: Nhóm PVCGK dịch
theo Bản Bảy Mươi: “Nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ…” Theo Bản
Do-thái: “Nó sẽ rẩy (yazah) trên các dân tộc …” E.J. Young cắt nghĩa: Động
từ yazah là một động từ đặc biệt, dùng trong luật Moses cho việc
rẩy dầu, nước, hay máu như một lễ nghi thanh tẩy bởi các tư tế (Lev 4:6, 8:11,
14:7a). Chúa Giêsu rẩy máu của người trên các dân tộc để thanh tẩy tội lỗi của
họ như lời người Do-thái nói: “Máu của nó sẽ đổ trên chúng tôi và con cháu
chúng tôi” (Mt 27:25).
1.2/
Phản ứng của con người khi nhìn thấy Người Tôi Trung.
(1)
Phản ứng của các vua chúa: Khi được chứng kiến tòan bộ: vinh quang tuyệt đỉnh cũng như đau
khổ tột cùng của Người Tôi Trung, “các vua chúa sẽ phải câm miệng, vì được thấy
điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ.”
(2)
Phản ứng của dân Chúa: “Ai
mà tin được điều chúng ta đã tường thuật? Cánh tay uy quyền của Đức Chúa đã được
mặc khải cho ai?” Vì điều Thiên Chúa làm quá cao siêu, vượt quá trí hiểu biết của
con người; hậu quả là con người sẽ khó lòng tin được. Thánh Phaolô gọi Thập Giá
là một điên rồ với người Hy-lạp, và sự sỉ nhục với người Do-thái. Họ không thể
nào hiểu được một Thiên Chúa uy quyền muốn con mình chấp nhận điều đó. Nhưng
Thiên Chúa uy quyền sẽ làm cho con người hiểu được Mầu Nhiệm Thập Giá và tin
vào Đức Kitô, đó là Tin Mừng mà chúng ta rao giảng.
Tiên-tri
tường thuật về cuộc đời của Người Tôi Trung với các động từ ở thời quá khứ tiên
tri: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi non trước Nhan
Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn (Isa 11:1). Người chẳng
còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì
khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền
miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị
chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.”
1.3/
Lý do tại sao Người phải chịu đau khổ: Người Tôi Trung chịu đau khổ vì con người.
*
Lý do đúng: “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã
gánh chịu những đau khổ của chúng ta.”
*
Lý do sai: “Còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng
hoạ, phải nhục nhã ê chề.”
“Chính
người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người
đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta
được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một
ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta. Bị ngược
đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt,
như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng. Người đã bị ức hiếp,
buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị
khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt. Người đã bị
chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn
bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa.”
1.4/
Những thắng lợi của Người Tôi Trung được hưởng.
(1)
Ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện: Người Tôi Trung là nhân vật chính trong Kế Hoạch Cứu
Độ của Thiên Chúa, chính Ngài sẽ đưa kế hoạch này tới chỗ thành tựu và hòan hảo:
“Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm
lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người,
ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy
ánh sáng và được mãn nguyện.”
(2)
Ức triệu sinh linh được cứu độ: Mục đích của Kế Hoạch Cứu Độ là giải thóat con người
khỏi quyền lực của tội lỗi và mang lại ơn cứu độ cho muôn người: “Vì đã nếm mùi
đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công
chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ. Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm
gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm,
bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra,
nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.”
2/
Bài đọc II:
Chúa Giêsu đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.
2.1/
Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội (Heb 4:14-16): “Chúng
ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con
Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của
chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì
Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi
thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót
thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.”
-
Vai trò của vị Thượng Tế: mang những gì Thiên Chúa nói cho dân và hướng dẫn dân
ra trước sự hiện diện của Ngài. Vị Thượng Tế hòan hảo là người vừa biết Thiên
Chúa vừa biết dân. Vai trò này chỉ Chúa Giêsu mới có thể hòan thành.
(1)
Chúa Giêsu biết Thiên Chúa: vì bản chất của Ngài là Thiên Chúa. Tác giả Thư Do-thái xác tín:
“Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức
Giêsu, Con Thiên Chúa.”
(2)
Chúa Giêsu biết con người: vì Ngài mang thân xác con người. Hơn nữa, “Người đã chịu thử
thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội.”
-
Chúa Giêsu biết, chịu, và thắng cám dỗ hơn ai hết: Lý do, chúng ta sa chước cám
dỗ trước khi ma quỉ dùng hết thủ đoạn của nó; Chúa Giêsu biết, chịu, và thắng
vượt tất cả thủ đoạn của ma quỉ. Ví dụ, khi gián điệp tra tấn, họ sẽ dùng các
tra tấn từ nhẹ tới nặng. Tra tấn nặng nhất chỉ dành cho con người can đảm nhất.
Một người yếu bóng vía sẽ không biết mọi thủ đọan tra tấn.
-
Ngài muốn chịu khổ đau của con người: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là
Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta.” Người Hy-lạp và Do-thái
không thể hiểu nổi tại sao Thiên Chúa chịu đau khổ; họ không thể chấp nhận một
Thiên Chúa chết treo trên Thập Giá. Đây là một ý tưởng hay quan niệm hoàn toàn
mới. Họ tin một Thiên Chúa vô cảm (apatheia); vì một Thiên Chúa nhạy cảm
sẽ thay đổi trước những đau khổ của con người; và nếu Thiên Chúa thay đổi, Ngài
không còn là Thiên Chúa nữa. Người nào làm Thiên Chúa phải thay đổi, người đó sẽ
lớn hơn Thiên Chúa. Họ không thể tưởng tượng một Thiên Chúa muốn liên quan với
thế giới vật chất này.
-
Ngài hiểu biết sự đau khổ con người phải trải qua: “Có đau mắt mới biết thương
người mù.” Ngài có thể giúp đỡ con người cách hiệu quả: Vì đã trải qua tất cả,
Ngài có kinh nghiệm tất cả. Vì thế, không ai có thể giúp con người hiệu quả hơn
người đi trước đã có kinh nghiệm về điều đó.
2.2/
Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người (Heb 5:7-9). Tác giả
Thư Do Thái tóm tắt công trình cứu độ của Đức Kitô như sau:
(1)
Chúa Giêsu biết những gì sẽ xảy đến cho Ngài trong Cuộc Thương Khó: Ngài đã khóc trong
vườn Ghetsemane vì sắp phải đương đầu với chúng. Trong giây phút sợ hãi, Ngài
đã cầu nguyện để xin Thiên Chúa chọn cho Ngài một con đường khác, nếu có thể:
“Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời
khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được
nhậm lời, vì có lòng tôn kính.”
(2)
Chúa Giêsu vâng phục Chúa Cha cho đến chết: Dẫu vậy, Ngài vẫn xin vâng theo thánh ý của Thiên
Chúa Cha: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học
được thế nào là vâng phục.” Hậu quả của sự vâng phục là Ngài đã phải chết trên
Thập Giá.
(3)
Chúa Giêsu trở nên nguồn cứu độ: Vì sự vâng phục qua những đau khổ Ngài chịu, Chúa
Giêsu đã trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.
3/
Phúc Âm:
Cuộc Thương Khó Chúa Giêsu theo thánh Gioan
3.1/
Judah bán Chúa Giêsu: “Sau
khi nói những lời đó, Đức Giêsu đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối
Kedron. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với các môn đệ đi vào. Judah, kẻ nộp
Người, cũng biết nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. Vậy,
Judah tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm
Pharisees; họ mang theo đèn đuốc và khí giới. Đức Giêsu biết mọi việc sắp xảy đến
cho mình, nên tiến ra và hỏi: "Các anh tìm ai?" Họ đáp: "Tìm
Giêsu Nazareth." Người nói: "Chính tôi đây." Judah, kẻ nộp Người,
cũng đứng chung với họ. Khi Người vừa nói: "Chính tôi đây!" thì họ
lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi một lần nữa: "Các anh tìm
ai?" Họ đáp: "Tìm Giêsu Nazareth."”
-
Chúa Giêsu bảo vệ các môn đệ của Ngài: Đức Giêsu nói: "Tôi đã bảo các anh
là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này
đi." Thế là ứng nghiệm lời Đức Giêsu đã nói: "Những người Cha đã ban
cho con, con không để mất một ai." Ông Simon Phêrô có sẵn một thanh gươm,
bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của y. Người
đầy tớ ấy tên là Mankhô. Đức Giêsu nói với ông Phêrô: "Hãy xỏ gươm vào
bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?"
3.2/
Chúa Giêsu trước dinh Thượng Tế: “Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ
của người Do-thái bắt Đức Giêsu và trói Người lại. Trước tiên, họ điệu Đức
Giêsu đến ông Hannah là nhạc phụ ông Caiaphas. Ông Caiaphas làm thượng tế năm
đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do-thái là nên để một người chết thay
cho dân thì hơn.”
(1)
Thẩm vấn Chúa Giêsu:
-
Vị thượng tế tra hỏi Đức Giêsu về các môn đệ và giáo huấn của Người.
-
Đức Giêsu trả lời: "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng
dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề
nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người
đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì."
-
Đức Giêsu vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người
mà nói: "Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?"
-
Đức Giê-su đáp: "Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu
tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?"
Ông
Hannah cho giải Người đến thượng tế Caiaphas, Người vẫn bị trói.
(2)
Phêrô chối Chúa Giêsu 3 lần: “Ông Simon Phêrô và một môn đệ khác đi theo Đức Giêsu. Người môn
đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giêsu vào sân trong của tư dinh
vị thượng tế. Còn ông Phêrô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen
biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào.”
-
Lần thứ nhất: Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phêrô: "Cả bác nữa, bác
không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao?" Ông liền đáp: "Đâu phải."
-
Lần thứ hai: Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó;
ông Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Người ta nói với ông: "Cả bác nữa, bác
không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao?" Ông liền chối: "Đâu phải."
-
Lần thứ ba: Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phêrô
chém đứt tai, lên tiếng hỏi: "Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy
sao?" Một lần nữa ông Phêrô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.
3.3/
Chúa Giêsu trước tòa Philatô: Vậy, người Do-thái điệu Đức Giêsu từ nhà ông Caiaphas đến dinh tổng
trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn
lễ Vượt Qua được.
(1)
Quan Philatô từ chối không xử Chúa Giêsu:
-
Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi: "Các người tố cáo ông này về tội
gì?"
-
Họ đáp: "Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho
quan."
-
Ông Philatô bảo họ: "Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của
các người."
-
Người Do-thái đáp: "Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả."
Thế
là ứng nghiệm lời Đức Giêsu đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
*
Kiểu Do-thái: ném đá cho tới chết. Người Do-thái từ chối không xử tử Chúa
Giêsu.
*
Kiểu Rôma: đóng đinh vào thập giá. Chúa Giêsu bị xử tử theo kiểu Rôma.
(2)
Quan Philatô thẩm vấn Chúa Giêsu:
-
Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giêsu và nói với Người: "Ông có phải
là vua dân Do-thái không?"
-
Đức Giêsu đáp: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với
ngài về tôi?"
-
Ông Phi-la-tô trả lời: "Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các
thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?"
-
Đức Giêsu trả lời: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc
về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người
Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này."
-
Ông Philatô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?"
-
Đức Giê-su đáp: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến
thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì
nghe tiếng tôi."
-
Ông Philatô nói với Người: "Sự thật là gì?"
-
Chúa Giêsu không trả lời. Một người không biết sự thật, làm sao có thể sống và
làm chứng cho sự thật như tổng trấn Philatô?
(3)
Philatô muốn tha Chúa Giêsu:
-
Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha một người nào đó
cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Do-thái cho các người
không?
-
Họ la lên rằng: "Đừng tha nó, nhưng xin tha Barabba!" Mà Barabba là một
tên cướp.
(4)
Philatô cho quân lính đánh đòn Chúa Giêsu: “Bấy giờ ông Philatô truyền đem Đức Giêsu đi và đánh
đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và
khoác cho Người một áo choàng đỏ. Họ đến gần và nói: "Kính chào Vua dân
Do-thái!" rồi vả vào mặt Người.”
(5)
Philatô không tìm ra lý do để kết tội Chúa Giêsu:
-
Ông Philatô lại ra ngoài và nói với người Do-thái: "Đây ta dẫn ông ấy ra
ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội
ông ấy." Vậy, Đức Giêsu bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình
khoác áo choàng đỏ. Ông Philatô nói với họ: "Đây là Người!"
-
Khi vừa thấy Đức Giêsu, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng:
"Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá!"
-
Ông Philatô bảo họ: "Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập
giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy."
-
Người Do-thái đáp lại: "Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì
nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa." Nghe lời đó, ông
Philatô càng sợ hơn nữa.
(6)
Philatô tìm cách tha Chúa Giêsu:
-
Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Giêsu: "Ông từ đâu đến?"
-
Nhưng Đức Giêsu không trả lời.
-
Ông Philatô nói với Người: "Ông không trả lời tôi ư? Ông không biết rằng
tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao?"
-
Đức Giêsu đáp lại: "Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban
cho. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn."
Từ
đó, ông Philatô tìm cách tha Người. Nhưng dân Do-thái kêu lên rằng: "Nếu
ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Caesar. Ai xưng mình là vua, thì chống
lại Caesar."
(7)
Philatô trao Chúa Giêsu cho họ đóng đinh: Khi nghe thấy thế, ông Philatô truyền dẫn Đức Giêsu
ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên toà, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Do-thái là
Gabbatha.
Hôm
ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng mười hai giờ trưa.
-
Ông Philatô nói với người Do-thái: "Đây là vua các người!"
-
Họ liền hô lớn: "Đem đi! Đem nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!"
-
Ông Philatô nói với họ: "Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người
sao?"
-
Các thượng tế đáp: "Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Caesar."
Bấy
giờ ông Philatô trao Đức Giêsu cho họ đóng đinh vào thập giá.
-
Người Do-thái phạm thượng khi họ nói: "Chúng tôi không có vua nào cả,
ngoài Caesar." Họ chỉ có một vua là Thiên Chúa.
3.4/
Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào Thập Giá: Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là
Cái Sọ, tiếng Do-thái là Golgotha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng
thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giêsu thì ở
giữa.
(1)
Người Do-thái xin sửa bảng viết: “Ông Philatô cho viết một tấm bảng và treo trên thập
giá; bảng đó có ghi: "Giêsu Nazareth, Vua dân Do-thái." Trong dân
Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giêsu bị đóng đinh là một
địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng: Do-thái, La-tinh và
Hy-lạp.”
-
Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Philatô: "Xin ngài đừng viết:
"Vua dân Do-thái;" nhưng viết: "Tên này đã nói: Ta là Vua dân
Do-thái."”
-
Ông Philatô trả lời: "Ta viết sao, cứ để vậy!"
(2)
Chia nhau áo của Chúa Giêsu: “Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của
Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng
chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. Vậy họ nói với
nhau: "Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được." Thế là ứng nghiệm lời
Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó
là những điều lính tráng đã làm.”
3.5/
Chúa Giêsu sinh thì trên Thập Giá: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị
của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cleopas, cùng với bà Maria Magdala.”
(1)
Chúa Giêsu trối Đức Mẹ cho Gioan: Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên
cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: "Thưa Bà, đây là con của Bà."
Rồi Người nói với môn đệ: "Đây là mẹ của anh." Kể từ giờ đó, người
môn đệ rước bà về nhà mình.
(2)
Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng: “Sau đó, Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để
ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: "Tôi khát!" Ở đó, có một bình đầy
giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo,
rồi đưa lên miệng Người.
Nhắp
xong, Đức Giêsu nói: "Thế là đã hoàn tất!" Rồi Người gục đầu xuống và
trao Thần Khí.”
3.6/
Táng xác Chúa Giêsu:
(1)
Chúa Giêsu bị đâm thâu: “Hôm
đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày
Sabbath, mà ngày Sabbath đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Philatô cho
đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. Quân lính đến, đánh
giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu.
Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người.
Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước
chảy ra. Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực;
và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. Các việc này
đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Không một khúc xương nào của Người sẽ bị
đánh giập. Lại có lời Kinh Thánh khác: Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.”
(2)
Tháo đanh và táng xác Chúa Giêsu: “Sau đó, ông Joseph, người Arithmatha, xin ông
Philatô cho phép hạ thi hài Đức Giêsu xuống. Ông Joseph này là một môn đệ theo
Đức Giêsu, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Philatô chấp thuận. Vậy,
ông Joseph đến hạ thi hài Người xuống. Ông Nicodemus cũng đến. Ông này trước
kia đã tới gặp Đức Giêsu ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn
với trầm hương. Các ông lãnh thi hài Đức Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà
quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái.
Nơi
Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới,
chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần
bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó.”
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
-
Mỗi khi đọc lại Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, chúng ta phải nhận thức: lẽ ra
chúng ta là người phải ngang qua những đau khổ này, chứ không phải là Con Thiên
Chúa.
-
Chúa Giêsu chấp nhận vâng phục Thiên Chúa và tất cả các đau khổ là để cứu chuộc
con người. Chúng ta đã làm gì để đáp lại tình thương của Thiên Chúa?
-
Nếu Chúa Giêsu chấp nhận vâng phục và đau khổ để chứng tỏ tình thương cho Thiên
Chúa và cho con người; chúng ta cũng phải làm tương tự để đền bù lại tình
thương Thiên Chúa và mang sự sống cho tha nhân.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
HẠT GIỐNG NẨY MẦM TUẦN THÁNH
Ga
18,1--19,42
A.
Hạt giống...
Thánh
Gioan có một cái nhìn đặc biệt đối với cuộc chịu nạn của Chúa Giêsu. Thập giá
không chỉ là con đường dẫn tới vinh quang, mà thập giá chính là vinh quang :
-
Đó là GIỜ mà từ lâu Chúa Giêsu hằng nghĩ tới và chuẩn bị, là thời điểm vinh
quang mà vận động viên marathon chạy về tới đích đoạt chiếc cúp vàng.
-
Do đó Ga cho thấy Chúa Giêsu bước vào cuộc thụ nạn một cách đầy ý thức và chủ động.
Ga luôn lặp đi lặp lại nhũng chữ “Ngài biết”. Chúa Giêsu biết trước những gì sắp
xảy đến. Ngài luôn làm chủ những diễn biến.
-
Trên thập giá, Chúa Giêsu trở thành VUA và lấy lại Vinh Quang Ngài vốn có nơi
Chúa Cha.
-
Từ Thập giá, Ngài
. Kéo mọi người lên với Ngài
. Sinh ra Hội Thánh
. ban cho Hội Thánh một người mẹ là Đức Maria
. tuôn tràn Thánh Linh xuống cho Hội Thánh
Bởi
đó, khi chúng ta cùng Gioan đi theo những chặng đường thập giá Chúa Giêsu, tâm
tình chúng ta phải có là Lạc quan và Biết ơn.
B....
nẩy mầm.
1.
Chính vì Chúa Giêsu luôn ý thức và chủ động trong mọi diễn biến của cuộc chịu nạn
mà cuộc chịu nạn này mới có giá trị. Những đau khổ của chúng ta cũng thế.
2.
Đối với Chúa Giêsu, thập giá là vinh quang. Thánh Phaolô cũng nói “Vinh dự của
chúng ta là Thập giá Đức Kitô”. Xin Chúa giúp chúng con cũng có thể nói được
như thế.
3.
Khi George Nixon Briggs làm Thống đốc bang Massachusetts, có ba người bạn của
ông đi viếng Thánh Địa. Họ leo lên đỉnh núi Gôngôta, bẻ một nhánh cây làm gậy.
Khi trở về, họ tặng vị Thống đốc cây gậy đó và nói : “Chúng tôi muốn ngài biết
cho rằng, khi đứng trên đỉnh đồi Can vê, chúng tôi đã nghĩ tới ngài. ”Thống đốc
hết lòng cám ơn họ, ưu ái nhận quà tặng và nói thêm : “Nhưng thưa các bạn,
tôi còn nghĩ xa hơn : ở đó, có một Đấng khác cũng đã nghĩ đến tôi." (Góp
nhặt)
4.
Có lần một nhà truyền giáo hỏi lớp giáo lí Thánh Kinh : nếu các bạn thấy một
nhóm gồm 12 người đàn ông rất giống nhau, trong đó có đức Kitô, làm sao các bạn
nhận ra Ngài ? Nhiều người bảo không biết. Nhưng một em bé nói : “Nhờ những dấu
đanh trên tay Ngài”. (Góp nhặt)
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI – Gp. Cần Thơ
18/04/14 THỨ SÁU TUẦN THÁNH
Tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa
Ga 18,1-19,42
Tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa
Ga 18,1-19,42
NGÀI ĐÃ CHẾT VÌ TÔI
Chính Người vác lấy thập giá
đi ra, đến nơi gọi là cái Sọ, tiếng Hipri là Gôngôtha; tại đó, họ đóng đing Người
vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên,
còn Đức Giêsu thì ở giữa.
(Ga 19,17-18)
Suy niệm: Giáo Hội mời gọi con cái mình đặc biệt chiêm ngắm
sự việc Chúa Giê-su chịu khổ nhục thập giá để chuộc tội cho con người. Chính
Người đã tự nguyện vác lấy thập giá. Người tự hiến mình cho những thụ tạo mà
Người yêu. Người chịu đóng đinh cùng với tên cướp để nói lên sự tự hạ tột cùng
của Người, như có lời chép: “Người bị liệt vào hàng tội
nhân” (Is
53,12). Những tên trộm không ai khác hơn là chính mỗi người chúng ta. Chẳng
phải khi chúng ta phạm tội, khi chúng ta lỗi nghĩa cùng Chúa và anh em, chúng
ta đã tự tay lên án và đóng đinh Người vào thập giá đó sao? Ai đã từng biết
yêu, ắt hiểu rằng tình yêu là cho đi, là dâng hiến trọn vẹn cho người mình yêu.
Thế mà đã có nhiều lần chúng ta nói chúng ta yêu mến Chúa, chúng ta chưa thực
sự nói bằng cả con tim của chính mình.
Mời Bạn: Thánh
Bê-na-đô đã nói: “Chúa Ki-tô đã kích thích tình yêu nhân loại bằng cái chết của
mình”. Bạn có cảm thấy mình được rung động bởi tình yêu thập giá Chúa hôm nay
không?
Chia sẻ: Chúng
ta cần có điều kiện gì, biện pháp gì để sống chấp nhận thập giá của mình như
Chúa?
Sống Lời Chúa: Tôi
quyết tâm cùng vác thánh giá với Chúa bằng một việc từ bỏ mình nào đó khi phục
vụ anh em.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, con còn có thể nói gì trước tình thương bao la
của Chúa dành cho con? Con chỉ biết cúi đầu xin Chúa ơn tha thứ và xin Chúa gia
tăng tình yêu của Chúa trong con mỗi ngày một hơn. Amen.
Thế là đã hoàn tất
Đức Giêsu Kitô đã trở về
với Cha bằng con đường khó đi. Người Kitô hữu cũng về với Thiên Chúa bằng con
đường hẹp.
Suy niệm:
Vào Chúa nhật Lễ Lá chúng ta
đã nghe đọc bài Thương Khó
trong các sách Tin Mừng Nhất
Lãm.
Vào thứ Sáu Tuần Thánh,
chúng ta luôn nghe đọc bài Thương Khó theo Gioan.
Thánh Gioan kể lại cuộc Khổ
nạn của Chúa Giêsu với những nét riêng của ông.
Chúng ta trân trọng cái nhìn
bổ sung của thánh Gioan cho những Tin Mừng khác.
Trong cuộc Khổ Nạn, Đức
Giêsu của Gioan tỏ ra là người chủ động.
Ngài biết trước các biến cố
sắp xảy ra, và Ngài có quyền năng làm chủ mọi sự.
Chính Ngài tiến ra và hỏi
các kẻ đến bắt Ngài: “Các anh tìm ai?”
Câu trả lời của Ngài đủ làm
họ lùi lại và ngã xuống đất (18, 4-9).
Đức Giêsu bình an và uy
nghiêm bước vào cuộc Khổ nạn,
vì Ngài đã chấp nhận chén
đắng Cha trao (18, 11).
Khi bị vị thượng tế Khanna
tra hỏi về giáo huấn,
chẳng chút sợ hãi, Ngài đã
thẳng thắn từ chối trả lời (18, 19-21).
Khi bị vả mặt, Ngài cũng đòi
kẻ xúc phạm Ngài phải nói rõ tại sao (18, 23).
Đức Giêsu bị đem tới dinh
tổng trấn Philatô lúc trời đã sáng.
Philatô là người xét xử Đức
Giêsu, nhưng có vẻ ông là người bị động.
Ông bị giằng co giữa một bên
là Đức Giêsu đang ở trong dinh,
bên kia là đám đông và các
nhà lãnh đạo Do thái giáo đang ở ngoài dinh.
Một bên là ông Giêsu mà ông
không tìm thấy lý do nào để kết tội (18, 38; 19, 4. 6).
Bên kia là chức tổng trấn và
chức “Bạn của Xêda” mà ông đang nắm giữ (19, 12).
Philatô không biết phải theo
ai, chọn ai trong tình cảnh căng thẳng này.
Vì thế ông đã đi ra, đi vào
cả thảy bảy lần (18, 18, 29. 33. 38; 19, 1. 4. 9. 13).
Đức Giêsu đã đối thoại khá
dài với Philatô về Nước của Ngài (18, 36-37),
một nước không có trên bản
đồ, không có quân đội, không dùng bạo lực.
Nước của Ngài gồm những
người biết nghe sự thật và đứng về phía sự thật,
sự thật này được Ngài làm
chứng và cất tiếng nói lên.
“Đây là Vua các người”,
Philatô đã giới thiệu Đức Giêsu như thế (19, 14)
và ông đã cương quyết giữ
lại tấm bảng treo trên thập giá mang dòng chữ :
“Giêsu
Nadarét, Vua dân Do thái” (19, 19).
Đức
Giêsu đã tự mình vác thập giá lên đồi Sọ và bị đóng đinh vào giữa trưa.
Chiên
Thiên Chúa bị giết đúng vào lúc ở Đền Thờ người ta giết chiên Vượt qua.
Đức
Giêsu không cô đơn trên thập giá vì có Mẹ và người môn đệ dấu yêu.
Suốt
một đời Ngài đã sống cho sứ mạng Cha trao, nay Ngài biết nó đã hoàn tất.
Chủ
động cả trong cái chết, Ngài “gục đầu xuống và trao Thần Khí” (19, 30).
Qua
cái chết trên thập giá, Đức Giêsu cho thấy tình yêu lớn nhất của Ngài (15, 13),
tình
yêu trao hiến cả Máu và Nước từ trái tim bị đâm thâu (19, 34).
Nhưng
thập giá cũng cho thấy tình yêu của Cha khi ban Con Một cho ta (3, 16).
Đức
Giêsu Kitô đã trở về với Cha bằng con đường khó đi.
Người
Kitô hữu cũng về với Thiên Chúa bằng con đường hẹp.
Ước gì chúng ta sống cuộc
Khổ nạn của mình với sự bình an, can đảm của Giêsu.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
vì Chúa đã bẻ tấm bánh trao cho chúng con,
xin cho những người nghèo khổ được no đủ.
Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Dầu,
xin cho các bạn trẻ đủ sức
đối diện
với những khó khăn gay gắt
của cuộc sống.
Vì Chúa bị kết án bất công,
xin cho chúng con can đảm
bênh vực sự thật.
Vì Chúa bị làm nhục và nhạo báng,
xin cho phụ nữ và trẻ em
được tôn trọng.
Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề,
xin cho những người bệnh tật
được đỡ nâng.
Vì Chúa bị lột áo và đóng đinh,
xin cho sự hiền hòa thắng
được bạo lực.
Vì Chúa dang tay chết trên thập giá,
xin cho đất nối lại với
trời,
con người nối lại mối dây
liên đới với nhau.
Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui òa vỡ,
xin cho chúng con biết đón
lấy đời thường
với tâm hồn thanh thản bình
an. Amen.
Lm Antôn Nguyễn Cao
Siêu, SJ
Suy
niệm
Con là ai trong hành
trình thương khó của Chúa?
Con có phải là những
Thượng tế, những biệt phái và Pharisêu muốn tiêu diệt Chúa để đừng
làm phiền, đừng ai nhắc nhở những sai trái của con không?
Con có phải là dân chúng
bàng quang, hoặc có tâm lý hùa theo đám đông mà không dám nói lên
chính kiến của mình, để sẵn sàng làm ngơ hoặc hùa theo để kết án
người khác?
Con có phải là những tên
lính đã đánh đòn, đóng đinh, hành hạ Chúa cho hả cơn giận của con,
mặc dù con biết Chúa không có tội gì. Có những bực bội, bức bối
gì, về nhà con đổ trên đầu những người thân mà con có vẻ “trên cơ”
họ?
Con có phải là những
người phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương chỉ vì tội nghiệp Chúa chứ
chưa biết phải làm sao để cho Chúa hết đau?
Con có phải là tên trộm
oán trách cuộc đời và thách thức Chúa: “Ông là con Thiên Chúa
thì tự cứu mình và cứu chúng tôi với”?
…
Hay con là Simon sẵn sàng
vác lấy thánh giá Chúa bằng cách san sẻ nỗi đau với người khác?
Hay con là Đức Mẹ, mạnh
dạn, can trường bước theo con đường đau khổ của Chúa, không một vẻ
yếu nhược, không một lời than thở, không một chút kêu than?
Hay con là Gioan đón lấy
sứ mạng của Chúa để sẵn sàng hiến thân mình cho những chương trình,
hoạch định của Chúa?
…
Có lẽ, lạy Chúa, xin cho
con giống như viên đại đội trưởng: “Thấy sự việc xảy ra như thế,
viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 23,47).
Đã biết bao lần con ngước nhìn lên Chúa bị đóng đinh, nhưng con đã
xác tín niềm tin vào Chúa chưa? Câu hỏi này tiếp tục vang vọng trong
tâm hồn con. Vang mãi, vang mãi cho đến chết.
Lm.
Thiện Duy
Hãy
Nâng Tâm Hồn Lên
18 THÁNG TƯ
Đức Giêsu Có Thể Xóa Tan Các Mối
Nghi Ngờ Của Chúng Ta
Chúa Giê-su phán: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh
em”. Và khi nói những lời ấy, Người thổi hơi trên các môn đệ và phán: “Hãy nhận
lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì tội người ấy được tha; anh em cầm
buộc ai thì người ấy bị cầm buộc”. (Ga 20,21-23)
Từ ngày đầu tiên ấy, Giáo Hội sống trong hiệu lực của
giao ước mới – giao ước vĩnh cửu. Giáo Hội sống trong hiệu lực của cái chết và
cuộc Phục Sinh cứu độ của Con Thiên Chúa. Vì thế, Giáo Hội được Đức Kitô – là
chính sự sống của Giáo Hội – trực tiếp trao cho quyền năng trên sự dữ.
Một lần nữa, chúng ta được dẫn lên căn gác thượng. Đây là
ngày thứ tám sau Phục Sinh. Đức Giêsu hiện ra cho Tô-ma, một trong Nhóm Mười
Hai. Tô-ma được mời gọi – cùng với các đồng môn của mình – trở thành chứng nhân
của Đấng Phục Sinh. Ông không có mặt cùng với các bạn tám ngày trước đó, khi
Chúa hiện ra với nhóm. Ông phải đích thân trông thấy. Rồi, Chúa Giê-su hiện đến
lần thứ hai. Người đến để thuyết phục sự cứng cỏi của Tô-ma – và Người đã cho
ông thấy chứng cứ hùng hồn của cuộc Phục Sinh của Người.
Tô-ma bị thuyết phục về sự Phục Sinh khi ông tận mắt nhìn
thấy Chúa Giê-su và các vết thương của Người. Ông không nghi ngờ nữa – và đã
thốt lên lời tuyên xưng đức tin hết sức triệt để: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa
của tôi!” (Ga 20,28).
Vâng, Giáo Hội sống sự sống Phục Sinh của Đức Kitô ngay
từ chính những ngày đầu tiên của lịch sử mình. Giáo Hội sống trong mầu nhiệm
Vượt Qua của Thầy và phu quân của mình. Từ mầu nhiệm này, Giáo Hội nhận lãnh
sức mạnh hai mặt: sức mạnh của lời chứng và sức mạnh của ân sủng có năng lực
cứu độ con người. Thời đại của Giáo Hội chỉ bắt đầu sau Lễ Hiện Xuống. Tuy
nhiên, Lễ Hiện Xuống lại khởi đầu từ chính cuộc Phục Sinh. Thực vậy, ngay trong
lần đầu tiên hiện ra với các Tông Đồ “sau ngày sa-bát”, Chúa Phục Sinh đã nói
với các ông: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22).
- suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II -
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II
Lời
Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 18-4
THỨ SÁU TUẦN THÁNH
TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA
Is 52, 13-53,12; Dt 4, 14-16; 5, 7-9; Ga 18, 1-19,42.
LỜI SUY NIỆM: “Bọn lính kết một vòng gai làm
vương niệm, đặt trên đầu Người, và khoát cho Người một áo choàng đỏ. Họ đến gần
và nói: Kính chào vua dân Do-Thái! Rồi vả vào mặt Người.”
Đây là cao điểm của cuộc Thương Khó Chúa Giêsu. Trong
cuộc Thương Khó này: Lãnh đạo chính quyền và giáo quyền cấu kết với nhau để lên
án giết chết Chúa. Đưa đến chịu cực hình Chúa phải chịu: toàn thân thể của Chúa
bị đánh nát dữ tợn, không còn nơi nào còn nguyên vẹn, trở thành một cây thịt
máu. Trong luật đánh đòn, không được đánh vào đầu tội nhân; nên Đầu của Chúa
còn nguyên vẹn, lý hình chưa thỏa mãn ác tính của mình, nên đã làm một mão gai
nhọn, đóng vào đầu Chúa và nhạo báng Chúa. Kết thức hành hạ và nhạo bang chúng
kê vào vai của Chúa Thập Giá nặng nề bắt Chúa phải vác, trên đường ra pháp
trường Chúa đã ngã xuống đất nhiều lần. Chúa chịu đóng đinh chân tay vào Thập
Giá. Khi Chúa đã chết, người ta muốn chắc chắn đã giết được Chúa. Một tay thiện
nghệ đã đâm lưỡi dòng thâu qua trái tim một cách chính xác. Chúa đã tự nguyện,
tự hiến vì tình yêu, để làm của Hy Tế đền tội cho muôn dân, giải thoát sự chết
cho muôn dân, đem lại sự sống đời đời cho những ai tin vào Chúa là Đấng cứu độ
trần gian.
Lạy Chúa Giêsu. Mão gai, do tay quân dữ làm ra, rồi
đội lên đầu Chúa với ý đồ xấu và gian ác. Xin Chúa cho mọi người trong gia đình
chúng con, đừng bao giờ làm nên những mão gai và đội lên đầu người khác, nhưng
nếu bị đội mão gai thì xin Chúa cho chúng con biết chấp nhận để nên giống Chúa
hơn.
Mạnh Phương
18 Tháng Tư
Ðôi
Tay Cầu Nguyện
Albrecht Durer là một họa sĩ và điêu
khắc gia nổi tiếng của nước Ðức vào thế kỷ thứ 16. Một trong những tác phẩm nổi
tiếng nhất của ông đó là bức tranh "Ðôi tay cầu nguyện".
Sự tích của họa phẩm này như sau:
Thuở hàn vi, Durer kết nghĩa với một người bạn chí thân. Cả hai đã thề thốt là
sẽ giúp nhau trở thành họa sĩ. Ðể thực hiện ước nguyện đó, người bạn của Durer
đã chấp nhận làm thuê làm mướn đủ cách để kiếm tiền cho Durer ăn học thành tài.
Theo thỏa thuận, sau khi đã thành công, Durer cũng sẽ dùng tiền bạc của mình để
giúp cho người bạn ăn học cho đến khi thành đạt.
Thế nhưng khi Durer đã thành tài,
danh tiếng của anh bắt đầu lên, thì đôi tay của người bạn cũng đã ra chai cứng
vì lam lũ vất vả, khiến anh không thể nào cầm cọ để học vẽ nữa.
Một ngày nọ, tình cờ bắt gặp đôi tay
của người bạn đang chắp lại trong tư thế cầu nguyện, Durer nghĩ thầm: "Ta
sẽ không bao giờ hồi phục lại được năng khiếu cho đôi bàn tay này nữa, nhưng ít
ra ta có thể chứng minh tình yêu và lòng biết ơn của ta bằng cách họa lại đôi
bàn tay đang cầu nguyện này. Ta muốn ca tụng đôi bàn tay thanh cao và tấm lòng
quảng đại vị tha của một người bạn".
Thế là kể từ hôm đó, Durer đã để hết
tâm trí vào việc thực hiện bức tranh đó. Ðó không phải chỉ là một tác phẩm nghệ
thuật, nhưng là tất cả tình yêu và lòng biết ơn mà ông muốn nói lên với một
người bạn. Bức tranh đã trở thành bất hủ, nhưng càng bất hủ hơn nữa đó là tấm
lòng vàng của người bạn và tâm tình tri ân của nhà họa sĩ.
Phúc Âm kể lại cuộc gặp gỡ cảm động giữa Chúa Giêsu và
một người đàn bà mà mọi người đang nhìn bằng một con mắt khinh bỉ, bởi vì bà ta
bị xếp vào loại người tội lỗi... Bất chấp mọi dòm ngó và xì xào, người đàn bà
đã tiến đến bên Chúa Giêsu, đập vỡ một bình dầu thơm, đổ trên chân Chúa Giêsu
và dùng tóc lau chân Ngài.
Nhiều người xì xào, tỏ vẻ khó chịu. Chúa Giêsu đã lên
tiếng biện minh cho người đàn bà và Ngài đã tiên đoán: nơi nào tin Mừng được
loan báo thì nơi đó cử chỉ của người đàn bà được nhắc tới.
Qua lời tuyên bố trên đây, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta
rằng: tất cả mọi nghĩa cử, dù là một hành vi nhỏ bé đến đâu và làm cho mọi
người nhỏ mọn đến đâu, cũng được ghi nhớ muôn đời.
Tiền của có thể qua đi, danh vọng có thể mai một, nhưng
những việc làm bác ái luôn có giá trị vĩnh cửu. Thánh Phaolô đã nói: trong ba
nhân đức Tin, Cậy, Mến, chỉ có Ðức Mến là tồn tại đến muôn đời.
Cuộc đời của mỗi người Kitô chúng ta cũng giống như một
bức tranh cần được hoàn thành. Mỗi một nghĩa cử chúng ta làm cho người khác là
một đường nét chúng ta thêm vào cho bức tranh. Khuôn mặt của chúng ta có thể
khô cằn, hoặc rướm máu vì những cày xéo của những thử thách, khó khăn, đôi tay
của chúng ta có thể khô cứng vì những quảng đại, quên mình. Tuy nhiên, những
đường nét bác ái sẽ làm cho khuôn mặt ấy trở thành bất tử...
(Lẽ Sống)
Lectio Divina: Thứ Sáu Tuần Thánh
Thứ Sáu, 18 Tháng 4, 2014
Bài
Thương Khó của Chúa Giêsu theo thánh Gioan
Ga 18:1
– 19:42
1. Tưởng
Niệm trong lời cầu nguyện – Statio
Lạy
Chúa xin hãy ngự đến, xin Ngài đổi mới chúng con,
Chúa là
vị khách đáng ngưỡng mộ của linh hồn,
Xin
Chúa hãy đến cất đi tất cả những gì là của con,
và đổ
vào trong con tất cả những gì là của Chúa.
Xin hãy
đến, Chúa là của ăn nuôi dưỡng cho mọi ý nghĩ thanh khiết,
Chúa là
nguồn mạch của mọi lòng thương xót, là sự tổng hợp của tất cả sự tinh khiết.
Xin hãy
đến và đốt đi tất cả những gì trong con là nguyên nhân cản trở con không thể
thuộc về Chúa.
Lạy
Chúa Thánh Thần, xin hãy ngự đến,
Đấng
luôn hiện hữu cùng với Chúa Cha và Tân Lang,
và ngự
trên các cô dâu của Tân Lang.
(Thánh
Maria Mađalêna thành Pazzi, dòng Cát Minh, trích trong La Probatione ii,
193-194)
2. Đọc Lời Chúa cầu nguyện trong cầu nguyện – Lectio
Trích
Tin Mừng theo thánh Gioan:
18:1 Khi
ấy, Chúa Giêsu đi với các môn đệ sang qua suối Xê-rông, ở đó có một khu vườn,
Người vào đó cùng với các môn đệ. 2 Giuđa, tên phản
bội, đã biết rõ nơi đó, vì Chúa Giêsu thường đến đấy với các môn đệ. 3 Nên
Giuđa dẫn tới một toán quân cùng với vệ binh do các thượng tế và Biệt Phái cấp
cho, nó đến đây với đèn đuốc và khí giới. 4 Chúa
Giêsu đã biết mọi sự sẽ xảy đến cho mình, nên Người tiến ra và hỏi chúng: “Các
người tìm ai?” 5 Chúng thưa lại: “Giêsu
Nagiarét.” Chúa Giêsu bảo: “Ta đây.” Giuđa
là kẻ định nộp Người cũng đứng đó với bọn chúng. 6 Nhưng
khi Người vừa nói: “Ta đây,” bọn chúng giật lùi lại và ngã xuống
đất. 7 Người lại hỏi chúng: “Các ngươi tìm
ai?” Chúng thưa: “Giêsu Nagiarét.” 8 Chúa
Giêsu đáp lại: “Ta đã bảo các ngươi rằng Ta đây! Vậy nếu
các ngươi tìm bắt Ta, thì hãy để cho những người này đi.” 9 Như
thế là trọn lời đã nói: “Con chẳng để mất một người nào trong những kẻ Cha
đã giao phó cho Con.” 10 Bấy giờ Simon Phêrô có sẵn
thanh gươm, liền rút ra đánh tên đầy tớ vị thượng tế, chém đứt tai bên
phải. Đầy tớ ấy tên là Mancô. 11Nhưng Chúa
Giêsu bảo Phêrô rằng: “Hãy xỏ gươm vào bao, Chén Cha Ta đã trao lẽ
nào Ta không uống?”
12 Bấy giờ, toán quân, trưởng toán và vệ binh của người Do
Thái bắt Chúa Giêsu trói lại, 13 và điệu Người đến nhà ông
Anna trước, vì ông ta là nhạc phụ của Caipha đương làm thượng tế năm ấy. 14 Chính
Caipha là người đã giúp ý kiến này cho người Do Thái: “Để một người
chết thay cho cả dân thì lợi hơn.”
15 Còn Phêrô và môn đệ kia vẫn theo Chúa Giêsu. Môn
đệ sau này quen vị thượng tế nên cùng với Chúa Giêsu vào trong sân vị thượng tế, 16 còn
Phêrô đứng lại ngoài cửa. Vì thế, môn đệ kia là người quen với vị
thượng tế, nên đi ra nói với người giữ cửa và dẫn Phêrô vào. 17 Cô
nữ tì gác cửa liền bảo Phêrô: “Có phải ông cũng là môn đệ của người
đó không?” Ông đáp: “Không phải tôi đâu.” 18 Đám
thủ hạ và vệ binh có nhóm một đống lửa và đứng đó mà sưởi vì trời lạnh, Phêrô
cũng đứng sưởi với họ.
19 Vị thượng tế hỏi Chúa Giêsu về môn đệ và giáo lý của
Người. 20 Chúa Giêsu đáp: “Tôi đã nói
công khai trước mặt thiên hạ, tôi thường giảng dạy tại hội đường và trong Đền
Thờ, nơi mà các người Do Thái thường tụ họp; tôi không nói chi thầm lén
cả. 21 Tại sao ông lại hỏi tôi? Ông cứ
hỏi những người đã nghe tôi về những điều tôi đã giảng dạy. Họ đã
quá rõ điều tôi nói.” 22 Nghe vậy, một tên vệ binh
đứng đó vả mặt Chúa Giêsu mà nói: “Anh trả lời vị thượng tế như thế
ư?” 23 Chúa Giêsu đáp: “Nếu Ta nói sai,
hãy chứng minh điều sai đó, mà nếu Ta nói phải thì tại sao lại đánh Ta?” 24 Rồi
Anna cho giải Người vẫn bị trói đến cùng vị thượng tế Caipha.
25 Lúc ấy Phêrô đang đứng sưởi. Họ lại
bảo ông: “Có phải ông cũng là môn đệ người đó không?” Ông
chối và nói: “Không phải tôi đâu.” 26 Một
tên thủ hạ của vị thượng tế có họ với người bị Phêrô chém đứt tai cãi lại
rằng: “Tôi đã chẳng thấy ông ở trong vườn cùng với người đó
sao?” 27 Phêrô lại chối nữa, và ngay lúc đó gà liền
gáy.
28 Bấy giờ họ điệu Chúa Giêsu từ nhà Caipha đến Pháp
Đình. Lúc đó tảng sáng và họ không vào Pháp Đình để khỏi bị nhơ bẩn
và để có thể ăn lễ Vượt Qua. 29 Lúc ấy Philatô ra ngoài
gặp họ và nói: “Các ngươi tố cáo người này về điều gì?” 30 Họ
đáp: “Nếu hắn không phải là tay gian ác, chúng tôi đã không nộp cho
quan.” 31Philatô bảo họ: “Các ông cứ bắt và
xét xử theo luật của các ông.” Nhưng người Do Thái đáp lại: “Chúng
tôi chẳng có quyền giết ai cả.” 32 Thế mới ứng
nghiệm lời Chúa Giêsu đã nói trước: Người sẽ phải chết cách nào.
33 Bấy
giờ Philatô trở vào Pháp Đình gọi Chúa Giêsu đến mà hỏi: “Ông có
phải là vua dân Do Thái không?” 34Chúa Giêsu đáp: “Quan
tự ý nói thế hay là có người khác nói với quan về tôi?” 35 Philatô
đáp: “Ta đâu phải là người Do Thái. Nhân dân ông cùng các
thượng tế đã trao nộp ông cho ta, ông đã làm gì?” 36 Chúa
Giêsu đáp: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu
nước tôi thuộc về thế gian này thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi
không bị nộp cho người Do Thái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này.” 37 Philatô
lại hỏi: “Vậy ông là vua ư?” Chúa Giêsu đáp: “Quan
nói đúng: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ
để làm chứng về chân lý. Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng
tôi.” 38 Philatô bảo Người: “Chân lý là
cái gì?” Nói lời này xong, ông lại ra gặp người Do Thái và bảo
họ: “Ta không thấy nơi người này có lý do để khép án. 39 Nhưng
theo tục lệ các ngươi, ta sẽ phóng thích cho các ngươi một tù nhân vào dịp lễ
Vượt Qua. Vậy các ngươi muốn ta phóng thích Vua Do Thái cho các ngươi
chăng?” 40 Họ liền la lên: “Không phải
tên đó, nhưng là Baraba.” Baraba là một tên cướp.
19:1 Bấy
giờ Philatô truyền đem Chúa Giêsu đi mà đánh đòn Người. 2 Binh
sĩ kết một triều thiên bằng gai nhọn đội lên đầu Người và chúng mặc cho Người
một áo choàng đỏ. 3 Rồi chúng đến gần Người và
nói: “Tâu Vua Do Thái!” và vả mặt Người. 4 Philatô
lại ra ngoài và nói: “Đây ta cho dẫn người ấy ra ngoài cho các ngươi
để các ngươi biết rằng ta không thấy nơi người ấy một lý do để kết án.” 5 Bấy
giờ Chúa Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo đỏ. Philatô bảo
họ: “Này là Người.” 6 Vừa thấy Người, các
thượng tế và vệ binh liền la to: “Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng
đinh nó vào thập giá!” Philatô bảo họ: “Đấy các
ngươi cứ bắt và đóng đinh ông vào thập giá, phần ta, ta không thấy lý do nào
kết tội ông.” 7 Người Do Thái đáp lại: “Chúng
tôi đã có luật và theo luật đó nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Thiên Chúa.”
8 Nghe lời đó Philatô càng hoảng sợ hơn. 9 Ông
trở vào Pháp Đình và nói với Chúa Giêsu: “Ông ở đâu đến?” Nhưng
Chúa Giêsu không đáp lại câu nào. 10 Bấy giờ Philatô
bảo Người: “Ông không nói với ta ư? Ông không biết rằng
ta có quyền đóng đinh ông vào thập giá và cũng có quyền tha ông sao?” 11 Chúa
Giêsu đáp: “Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống
cho, vì thế nên kẻ nộp tôi cho quan, mắc tội nặng hơn.”
12 Từ lúc đó Philatô tìm cách tha Người. Nhưng
người Do Thái la lên: “Nếu quan tha cho nó, quan không phải là trung
thần của Xê-da, vì ai xưng mình là vua, kẻ đó chống lại Xê-sa.” 13 Philatô
vừa nghe lời đó, liền cho điệu Chúa Giêsu ra ngoài rồi ông lên ngồi tòa xử, nơi
gọi là Nền Đá, tiếng Do Thái gọi là Gabbatha. 14Lúc đó
vào khoảng giờ thứ sáu ngày chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Philatô bảo
dân: “Đây là vua các ngươi.” 15Nhưng họ càng
la to: “Giết đi! Đóng đinh nó đi.” Philatô nói: “Ta
đóng đinh vua các ngươi ư?” Các thượng tế đáp: “Chúng tôi
không có vua nào khác ngoài Xê-sa.” 16 Bấy giờ quan
giao Người cho họ đem đi đóng đinh. Vậy họ điệu Chúa Giêsu đi.
17 Và chính Người vác thập giá đến nơi kia gọi là Núi Sọ,
tiến Do Thái gọi là Gôngôtha. 18 Ở đó họ đóng đinh
Người trên thập giá cùng với hai người khác nữa: mỗi người một bên, còn Chúa
Giêsu thì ở giữa. 19 Philatô cũng viết một tấm bảng
và sai đóng trên thập giá; bảng mang những hàng chữ này: “Giêsu
Nagiarét, vua dân Do Thái.” 20 Nhiều người Do Thái
đọc được bảng đó, vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh thì gần thành phố, mà bảng
thì viết bằng tiếng Do Thái, Hy Lạp, và La Tinh. 21 Vì
thế các thượng tế đến thưa với Philatô: “Xin đừng viết ‘Vua dân Do
Thái,’ nhưng nên viết, ‘người này đã nói: Ta là Vua dân Do Thái.’” 22 Philatô
đáp: “Điều ta đã viết là đã viết.”
23 Khi quân lính đã đóng đinh Chúa Giêsu trên
thập giá rồi thì họ lấy áo Người chia làm bốn phần cho mỗi người một phần, còn
cái áo dài là áo không có đường khâu, đan liền từ trên xuống dưới. 24 Họ
bảo nhau: “Chúng ta đừng xé áo này, nhưng hãy rút thăm xem ai được thì
lấy.” Hầu ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Chúng đã chia nhau các
áo Ta và đã rút thăm áo dài của Ta.” Chính quân lính đã làm điều
đó.
25 Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, lúc đó có mẹ Người, cùng với
chị mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas, và Maria Mađalêna. 26 Khi
thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng Mẹ rằng: “Hỡi
Bà, này là con Bà.” 27 Rồi Người lại nói với môn đệ: “Này
là Mẹ con.” Và từ giờ đó môn đệ đã lãnh nhận bà về nhà mình.
28 Sau đó, vì biết rằng mọi sự đã hoàn tất, để lời Kinh Thánh
được ứng nghiệm, Chúa nói: “Ta khát.” 29 Ở
đó có một bình đầy dấm. Họ liền lấy miếng bọt biển thấm đầy dấm cắm
vào đầu ngành cây hương thảo đưa lên miệng Người. 30 Khi
đã nếm dấm rồi, Chúa Giêsu nói: “Mọi sự đã hoàn tất”; và Người gục
đầu xuống trú hơi thở cuối cùng.
31 Hôm đó là ngày chuẩn bị lễ, để tội nhân khỏi treo trên
thập giá trong ngày Sabát – vì ngày Sabát là ngày đại lễ -- nên người Do Thái
xin Philatô cho đánh dập ống chân tội nhân và cho cất xác xuống. 32 Quân
lính đến đánh dập ống chân của người thứ nhất và người thứ hai cùng chịu treo
trên thập giá với Người. 33Nhưng lúc họ đến gần Chúa
Giêsu, họ thấy Người đã chết, nên không đánh dập ống chân Người nữa; 34 tuy
nhiên một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy ra.
35 Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng – mà lời chứng của người
đó chân thật, và người đó biết rằng mình nói thật – để cho các người cũng tin
nữa. 36 Những sự này đã xảy ra để ứng nghiệm lời
Kinh Thánh: “Người ta sẽ không đánh dập một cái xương nào của
Người.” 37 Lời Kinh Thánh khác rằng: “Họ
sẽ nhìn xem Đấng họ đã đâm thâu qua.”
38 Sau đó,
Giuse người xứ Arimathia, môn đệ Chúa Giêsu – nhưng thầm kín vì sợ người Do
Thái – xin Philatô cho phép cất xác Chúa Giêsu. 39 Nicôđêmô
cũng đến – ông là người trước kia đã đến gặp Chúa Giêsu ban đêm – ông đem theo
chừng một trăm cân mộc dược trộn lẫn với trầm hương. 40 Họ
lấy xác Chúa Giêsu và lấy khăn bọc lại cùng với thuốc thơm theo tục khám liệm
người Do Thái. 41 Ở nơi Chúa chịu đóng đinh có cái
vườn và trong vườn có một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai. 42 Vì
là ngày chuẩn bị lễ của người Do Thái và ngôi mộ lại rất gần, nên họ đã mai
táng Chúa Giêsu trong mộ đó.
3. Suy
gẫm Lời Chúa – Meditatio
3.1 Chìa
khóa của bài đọc:
- Chúa
Giêsu làm chủ số phận của Người
Tôi
muốn đề nghị chúng ta suy gẫm trong tinh thần của Đức Maria, tại chân thập giá
của Chúa Giêsu. Bà, người phụ nữ can trường đã hiểu được ý nghĩa đầy
đủ sự kiện này của cuộc thương khó và cái chết của Chúa, sẽ giúp chúng ta có
được một cái nhìn chiêm niệm về thập giá (Ga 19:25-27). Chúng ta
đang đọc chương 19 của Tin Mừng theo thánh Gioan, bắt đầu với cảnh đánh đập và
mão gai. Philatô trình diện “Giêsu Nagiarét, vua dân Do Thái” trước
các thượng tế và vệ binh là những kẻ đòi đóng đinh Chúa vào thập giá (Ga
19:6). Việc này bắt đầu cho Chúa Giêsu trên đường thập giá hướng về
đồi Gôngôtha, nơi Người sẽ bị đóng đinh. Trong câu chuyện cuộc
Thương Khó theo thánh Gioan, Chúa Giêsu tỏ cho thấy như là một bậc thầy và làm
chủ được tất cả những gì đang xảy ra cho Người. Bản văn của Gioan
chứa đầy đủ những nhóm chữ chỉ về sự kiện thần học này, Chúa Giêsu dâng hiến
mạng sống của Người. Chúa cam chịu một cách tích cực, không thụ động, các diễn
tiến của cuộc thương khó. Sau đây chỉ là một số các thí dụ để nhấn
mạnh đến một số câu và lời nói. Người đọc có thể tìm thấy những thí
dụ khác:
Biết rõ
tất cả những việc sắp xảy đến cho Người, Chúa Giêsu đã tiến tới và
nói: “Các ngươi tìm ai?” Chúng thưa lại: “Giêsu
Nagiarét.” Chúa Giêsu bảo: “Ta đây.” Bấy giờ
Giuđa, tên phản bội, cũng đang đứng đó với bọn chúng. Khi Chúa
Giêsu vừa nói với chúng “Ta đây” thì bọn chúng giật lùi lại và ngã xuống đất. Chúa
hỏi chúng lần thứ hai: “Các ngươi tìm ai?” Chúng
đáp: “Giêsu Nagiarét.” Chúa Giêsu trả lời: “Ta
đã bảo các ngươi rằng Ta đây. Nếu các ngươi tìm bắt ta, thì hãy
để cho những người này đi.” Như thế là trọn lời Người đã
nói: “Con chẳng để mất người nào trong những kẻ Cha đã trao phó
cho Con” (Ga 18:4-9).
“Bấy
giờ Chúa Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo choàng đỏ” (Ga 19:5),
Chúa
Giêsu đáp lại: “Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ
trên không ban xuống cho.” (Ga 19:11)
Trên
thập giá cũng vậy, Chúa Giêsu giữ phần tích cực trong cái chết của Người. Chúa
không để cho mình bị giết như những tên trộm cắp bị đánh gẫy ống chân (Ga
19:31-33), nhưng Người tự trút linh hồn (Ga 19:30). Các chi tiết được kể
lại bởi Tác Giả Phúc Âm rất là quan trọng: Nhìn thấy Mẹ Người và bên
cạnh có người môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng Mẹ rằng: “Hỡi
Bà, này là con Bà.” Rồi Người lại nói với môn đệ: “Này là Mẹ
con” (Ga 19:26-27). Những lời đơn giản này của Chúa Giêsu chịu sức
nặng của sự mặc khải, những lời tỏ lộ cho chúng ta biết ý nguyện của
Người: “Đây là con Bà” (câu 26); “Đây là Mẹ con” (câu 27). Những
lời này cũng nhắc lại những lời được công bố bởi Philatô trên Nền Đá: “Đây
là vua các ngươi” (Ga 19:5). Với những lời ngày, Chúa Giêsu trên
thập giá, ngai của Người, tỏ lộ ước nguyện và tình yêu của Người vì chúng
ta. Người là Chiên Thiên Chúa, vị mục tử đã dâng hiến mạng sống mình
cho đoàn chiên của Người. Vào lúc ấy, trên cây thập giá, Người đã
khai sinh Giáo Hội, được đại diện bởi Mẹ Maria, chị mẹ Người là Maria, vợ ông
Clopas và Maria Mađalêna cùng với người môn đệ Chúa yêu (Ga 19:25).
- Những
người môn đệ trung thành và được Chúa yêu
Sách
Tin Mừng thứ tư chỉ rõ rằng các môn đệ này “đứng gần thập giá” (Ga
19:25-26). Chi tiết này có một ý nghĩa sâu sắc. Chỉ có
Tin Mừng thứ tư cho chúng ta biết rằng năm người này đứng gần thập giá. Các
tác giả Phúc Âm khác không nói như thế. Thí dụ, Luca cho biết rằng
tất cả những người quen biết Chúa theo dõi những sự việc từ đàng xa (Lc
23:49). Mátthêu cũng nói rằng nhiều phụ nữ đi theo Chúa Giêsu từ
Galilêa để giúp đỡ Người. Nhưng giờ đây họ theo Người từ đàng xa (Mt
27:55-56). Giống như Mátthêu, Máccô cho chúng ta biết tên những
người đã đi theo Chúa Giêsu cho đến lúc chết từ xa xa (Mc 15:40-41). Như
thế chỉ có quyển Tin Mừng thứ tư cho biết mẹ của Chúa Giêsu và các người phụ nữ
khác cùng với môn đệ Chúa yêu “đã đứng gần thập giá.” Họ đứng đó như
những bầy tôi trước quân vương của họ. Họ có mặt một cách dũng cảm
vào lúc mà Chúa Giêsu đã tuyên bố rằng “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19:30). Thân
mẫu của Chúa Giêsu có mặt vào giờ khắc cuối cùng “đã đến”. Giờ khắc
đó đã được báo trước tại lễ cưới Cana (Ga 2:1 và các câu tiếp theo). Sách
Tin Mừng thứ tư sau đó đã nhận xét rằng “mẹ Chúa Giêsu cũng ở đó” (Ga
2:1). Do đó, một người mà vẫn luôn trung thành với Chúa trong số
phận của Người, người ấy phải là người môn đệ Chúa yêu. Thánh Sử cho
người môn đệ này ẩn danh để mỗi người chúng ta có thể thấy mình được phản chiếu
trong người đã biết về các mầu nhiệm của Chúa, người đã tựa đầu vào ngực Chúa
Giêsu tại bữa tiệc ly (Ga 13:25).
3.1.1 Một
vài câu hỏi và gợi ý để hướng dẫn việc suy niệm và thực hành của
chúng ta
· Hãy đọc
lại bài Tin Mừng lần nữa và tìm trong Kinh Thánh những đoạn được đề cập trong
chìa khóa dẫn đến bài đọc. Hãy tìm các văn bản tương đương khác để
có thể giúp chúng ta lắng đọng sâu hơn vào trong đoạn Tin Mừng được trình bày
cho việc suy niệm của chúng ta.
· Trong
tinh thần, và với sự giúp đỡ của bài đọc trong cầu nguyện của Tin Mừng theo
thánh Gioan, hãy thăm viếng các địa điểm của cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu,
hãy dừng lại trên đồi Can-vê để chứng kiến với Đức Maria và người môn đệ Chúa
yêu các sự kiện của cuộc Thương Khó.
· Điều gì
đã đánh động bạn nhất?
· Bạn có
những cảm giác gì khi đọc câu chuyện của Bài Thương Khó?
· Dữ kiện
Chúa Giêsu đã tích cực chấp nhận sự thương khó của Người có ý nghĩa gì đối với
bạn?
4. Cầu
Nguyện – Oratio
Lạy
Đấng Khôn Ngoan Muôn Đời, Tốt Lành Vô Biên, Chân Lý Khôn Tả, Đấng thấu suốt
lòng người, lạy Thiên Chúa Hằng Hữu, xin giúp chúng con hiểu được Người có thể
làm, biết và muốn!
Lạy
Chiên Thiên Chúa Yêu Thương và Rỉ Máu, Chúa Kitô chịu đóng đinh vào thập giá,
xin hãy thực hiện trong chúng con những lời Chúa đã nói: “Ai theo
Ta, sẽ không phải bước trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự
sống” (Ga 8:12). Lạy Đấng sự sáng hoàn hảo, từ Người mà tất cả ánh
sáng được tiếp tục! Lạy Đấng vì Người mà ánh sáng được tạo thành,
không có Người tất cả chỉ là bóng tối và với Người tất cả là ánh sáng. Xin
thắp sáng lên, thắp lên, sáng lên! Xin Chúa hãy ngự vào tất cả các
tác giả và cộng tác viên mà Chúa đã chọn trong công việc đổi mới này. Lạy
Chúa Giêsu, Chúa Giêsu yêu thương, Chúa Giêsu, xin hãy biến đổi chúng con và
khiến cho chúng con tuân theo ý Chúa. Lạy Đấng Khôn Ngoan Tự Hữu,
Ngôi Lời Hằng Sống, Đấng Chân Lý dịu dàng, Tình Yêu yên lặng, lạy Chúa Giêsu,
Chúa Giêsu yêu thương!
(Thánh
Maria Mađalêna thành Pazzi, dòng Cát Minh, trích trong Sự Canh Tân của
Giáo Hội, trang 90-91)
5. Chiêm
Niệm – Contemplatio
Hãy lặp
lại thường xuyên và chậm rãi những lời này của Chúa Giêsu khi Người
đã dâng hiến mạng sống mình:
“Lạy
Cha, Con xin phó linh hồn Con trong tay Cha”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét