27/08/2026
Thứ Năm tuần 21 thường niên
Thánh nữ Mônica.
Lễ nhớ.
Bổn mạng Giới Hiền
Mẫu
* Thánh nữ MONICA sinh năm 331 tại Ta-gát, châu Phi
trong một gia đình theo Kitô giáo. Lúc còn thanh xuân, thánh nữ đã kết hôn với
anh Pa-tri-xi-ô và sinh được những người con, trong đó có thánh Âu-tinh. Khi
Âu-tinh mất đức tin, thánh nữ đã dâng những dòng lệ tựa những lời cầu nguyện âm
thầm lên Thiên Chúa. Khi thấy Âu-tinh trở lại, thánh nữ đã tràn ngập vui mừng.
Người không còn gì để chờ đợi ở trần gian này nữa, Thiên Chúa đã gọi người về ở
Ốt-ti-a, năm 387, khi người đang sửa soạn trở về châu Phi, quê hương của người.
Thánh nữ là tấm gương sáng chói cho những người làm mẹ: nuôi dưỡng lòng tin bằng
lời cầu nguyện và chiếu tỏa ra bên ngoài bằng các nhân đức.
Bài Ðọc I: (Năm
II) 1 Cr 1, 1-9
“Trong mọi sự, anh em hãy nên giàu có trong Người”.
Khởi đầu thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu
Côrintô.
Phaolô, do thánh ý Chúa, được kêu gọi làm Tông đồ của Chúa
Giêsu Kitô, và Sôtênê, anh em chúng tôi, kính chào Hội Thánh Chúa ở Côrintô, những
người được thánh hoá trong Chúa Giêsu Kitô, được kêu gọi nên thánh, làm một với
tất cả mọi người khắp nơi đang kêu cầu thánh danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng
ta: Nguyện xin ân sủng và bình an của Thiên Chúa là Cha chúng ta, và của Ðức
Giêsu Kitô, ở cùng anh em.
Tôi hằng cảm tạ Chúa thay cho anh em, vì ơn đã ban cho anh
em trong Chúa Giêsu Kitô. Vì chưng, trong Người, anh em được tràn đầy mọi ơn:
ơn ngôn ngữ và ơn hiểu biết, đúng như Chúa Kitô đã minh chứng nơi anh em, khiến
anh em không còn thiếu ơn nào nữa trong khi mong chờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng
ta tỏ mình ra. Cũng chính Người sẽ ban cho anh em bền vững đến cùng, không có
gì đáng khiển trách trong ngày Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta ngự đến. Thiên
Chúa là Ðấng Trung Tín, đã kêu mời anh em hiệp nhất với Con của Người, là Ðức
Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 144, 2-3. 4-5. 6-7
Ðáp: Lạy Chúa,
con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời (c. 1b).
Xướng: Hằng ngày
con sẽ chúc tụng Chúa, và con sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời, Chúa vĩ đại
và rất đáng ngợi khen, sự vĩ đại của Chúa không thể đo lường được.
Xướng: Thế hệ này
rao giảng cho thế hệ kia hay công việc Chúa, và thiên hạ loan tin quyền năng của
Ngài. Người ta nói đến vinh quang cao cả oai nghiêm, và phổ biến những điều kỳ
diệu của Chúa.
Xướng: Người ta
nói tới quyền năng trong những việc đáng sợ, và kể ra sự vĩ đại của Ngài. Người
ta lớn tiếng khen ngợi lòng nhân hậu bao la, và hân hoan vì đức công minh của
Chúa.
Alleluia: Cl 3, 16a và 17c
Alleluia, alleluia! – Nguyện cho lời Chúa Kitô cư ngụ dồi
dào trong anh em; anh em hãy nhờ Ðức Kitô mà tạ ơn Thiên Chúa Cha. – Alleluia.
(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! – Anh em hãy canh thức và
hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến. –
Alleluia.)
Phúc Âm: Mt 24, 42-51
“Các con hãy sẵn sàng”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con hãy tỉnh
thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến. Nhưng các con phải biết điều
này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để
cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con
không ngờ, Con Người sẽ đến.
“Vậy các con nghĩ ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan mà chủ
đã đặt lên coi sóc gia nhân, để cứ giờ mà phân phát lương thực cho họ? Phúc cho
đầy tớ ấy, khi chủ nó đến thấy nó đang làm như vậy. Thầy bảo thật các con, chủ
sẽ đặt người ấy lên coi sóc tất cả gia sản ông. Nhưng nếu đầy tớ ấy xấu, nghĩ
trong lòng rằng: “Chủ tôi về muộn”, rồi nó đánh đập các bạn đầy tớ, lại còn chè
chén với lũ say sưa: chủ đầy tớ ấy trở về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó
không biết, ông sẽ xé xác nó ra, và cho nó chung số phận với những kẻ giả hình:
ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng”.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về 1 Cô-rin-tô 1,1-9
Hôm nay, chúng ta bắt đầu đọc Thư thứ nhất của Phao-lô gửi
các tín hữu tại Cô-rin-tô, một thành phố ở miền nam Hy Lạp. Phao-lô đã đến đó
sau thất bại ê chề khi rao giảng cho những cư dân Athens vốn tự hào về sự uyên
bác của mình. Tại Cô-rin-tô—một thành phố có dân cư đa dạng và không mấy tiếng
tăm tốt đẹp về mặt đạo đức—ông đã đạt được kết quả khả quan hơn nhiều. Bức thư
này là một trong những văn bản quan trọng nhất của Tân Ước và chứa đựng những
giáo huấn cốt lõi của Phao-lô. Vì vậy, chúng ta sẽ cùng suy niệm về bức thư này
cho đến cuối Tuần 24—tổng cộng là ba tuần rưỡi.
Theo thông lệ của các bức thư thời bấy giờ, Phao-lô bắt đầu
bằng việc giới thiệu bản thân và liệt kê mình vào hàng ngũ các Tông đồ được
Thiên Chúa kêu gọi. Theo nghĩa gốc, từ "tông đồ" (apostle) có nghĩa là "người được
phái đi thực hiện một sứ mệnh hoặc truyền đạt một thông điệp". Trong Tân Ước,
từ này có thể được dùng theo nghĩa chung để chỉ bất kỳ ai được sai đi làm nhiệm
vụ (từ động từ tiếng Hy Lạp *apostello*).
Cụ thể hơn, từ này được dùng để chỉ Nhóm Mười Hai mà chúng ta gặp trong các
sách Tin Mừng, nhưng sau đó cũng được áp dụng cho Phao-lô (người tự gọi mình là
"kẻ hèn mọn nhất trong các Tông đồ"). Danh hiệu này đôi khi cũng được
dành cho một nhóm rộng hơn, bao gồm Ba-na-ba, Gia-cô-bê ("anh em của
Chúa") và có thể là An-đrô-ni-cô cùng Giu-ni-a—những người được nhắc đến
trong Thư gửi tín hữu Rô-ma.
Phao-lô sử dụng danh hiệu này trong hầu hết các bức thư của
mình để khẳng định thẩm quyền của ông với tư cách là sứ giả của Đấng Ki-tô—một thẩm quyền đôi khi bị người
khác thách thức. Tại đây, ông củng cố lời khẳng định của mình bằng cách thêm cụm
từ "theo ý muốn của Thiên Chúa". Nói cách khác, ông không tự phong
cho mình chức vị này.
Lời chào đầu thư cũng nhắc đến tên Sốt-then; có thể ông
chính là vị trưởng hội đường từng bị chính đồng bào Do Thái tại Cô-rin-tô hành
hung khi lời tố cáo của họ chống lại Phao-lô bị quan tổng trấn Ga-li-ô bác bỏ
(Ga-li-ô là quan tổng trấn cai quản tỉnh A-khai-a). (Câu chuyện này được ghi lại
trong sách Công vụ Tông đồ chương 18 và là một phần của Bài Đọc 1 vào ngày Thứ
Sáu của Tuần 6 Mùa Phục Sinh). Nếu đó thực sự là cùng một người, thì hẳn ông đã
trở thành Kitô hữu vào thời điểm Phao-lô đang rao giảng tại Cô-rin-tô hoặc
trong giai đoạn A-pô-lô thi hành sứ vụ tại đây.
Phao-lô gửi bức thư này cho "Hội Thánh của Thiên Chúa tại
Cô-rin-tô". “Hội Thánh của Thiên Chúa” là một trong những cụm từ ông ưa
thích và chỉ riêng ông sử dụng. Cụm từ này chỉ cộng đoàn các Kitô hữu quy tụ lại
với nhau, thường là tại tư gia của họ. Tương ứng với nó trong Cựu Ước là “cộng
đoàn (hay hội chúng) của Đức Chúa”. Vào giai đoạn này, chưa hề có tòa nhà hay
cơ cấu tổ chức chính thức nào.
Ông cũng gọi họ là những người được “thánh hóa”, nghĩa là trở
nên thánh thiện trong Đức Kitô. Điều này không chủ yếu nói về cách cư xử của họ—vì
như Phaolô thẳng thắn chỉ ra, họ có nhiều thiếu sót—mà nói về việc họ đã được
kêu gọi, cùng với các Kitô hữu ở những hội thánh khác, để trở thành một dân
riêng biệt, nổi bật nhờ sự dấn thân vào Con Đường của Đức Kitô. Từ *hagios* trong tiếng Hy Lạp, được dịch là
“thánh”, có nghĩa là “được tách riêng”, và thuật ngữ “các thánh” được dùng để
chỉ tất cả các Kitô hữu trong các thư của Phaolô, chứ không chỉ những người có
đức hạnh xuất sắc.
Lời chào mở đầu kết thúc bằng một lời chúc phúc và cầu nguyện
xin “ân sủng và bình an” từ Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu; đây là lời chào mà
ngày nay chúng ta vẫn sử dụng trong phụng vụ Thánh Thể.
“Ân sủng” (tiếng Hy Lạp là *charis*) hàm ý tình yêu của Thiên Chúa được ban tặng nhưng không,
chứ không phải do con người xứng đáng được hưởng. Dù chúng ta có tốt lành đến
đâu, Thiên Chúa cũng không bao giờ mắc nợ chúng ta. Sáng kiến yêu thương luôn
đến từ Thiên Chúa chứ không phải từ chúng ta, và chúng ta cũng không thể làm bất
cứ điều gì để giành lấy nó. Ân sủng luôn hiện diện trước tiên, chờ đợi chúng ta
đón nhận.
Giờ đây, bức thư thực sự bắt đầu khi Phaolô cất lời tạ ơn về
mọi minh chứng cho tình yêu của Thiên Chúa—tức “ân sủng” của Người—đã tuôn đổ
trên cộng đoàn Côrintô trong Đức Giêsu Kitô. Ông đặc biệt tạ ơn về những ân huệ
“lời nói và sự hiểu biết”, được thể hiện qua các nhà giảng thuyết và giáo viên
của họ. Đây là những ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần (sẽ được đề cập sau
này cùng với các ân huệ khác). “Lời nói” là ân huệ có khả năng loan báo Tin Mừng
một cách hiệu quả. “Sự hiểu biết” hàm ý sự thấu hiểu sâu sắc về sứ điệp Tin Mừng,
chứ không chỉ là những dữ kiện về sứ điệp đó.
Lời chứng về Đức Kitô mà Phaolô đã trao cho họ hoàn toàn
không uổng phí; trái lại, lời chứng ấy đã được xác nhận rõ ràng qua các ân huệ
của Thần Khí Đức Giêsu đang hiện diện sống động nơi họ. Những ân huệ của Thần
Khí giúp họ phục vụ Thân Thể Đức Kitô—tức là Hội Thánh—cho đến khi Chúa Giêsu
được tỏ hiện vào thời cánh chung, tức là lúc Người quang lâm lần cuối cùng.
Phaolô sẽ bàn chi tiết hơn về các ân huệ này trong các chương 12-14.
Theo các chương đó, ân huệ thiêng liêng là sự biểu lộ của
Chúa Thánh Thần, giúp một người đáp ứng các nhu cầu của Thân Thể Đức Kitô là Hội
Thánh. Các ân huệ này không dành cho lợi ích cá nhân, mà để giúp người nhận đáp
ứng nhu cầu của cộng đoàn. Có những ân huệ khác nhau cho những nhu cầu khác
nhau. (Lưu ý rằng sự quang lâm của Đức Giêsu không còn được xem là sắp xảy ra
ngay lập tức như trong lá thư chúng ta đã đọc vào đầu tuần.)
Người Côrintô sẽ cần đến những ân huệ này trong khi chờ đợi
sự tỏ hiện trọn vẹn của Đức Giêsu Kitô, khi những kế hoạch ẩn giấu của Thiên
Chúa được công bố. Khi ấy, Đức Kitô sẽ tỏ mình ra vào thời cánh chung, thời điểm
của cuộc quang lâm (tiếng Hy Lạp là *parousia*)
và sự xuất hiện của Người. Trước đó, "kẻ vô luật pháp" sẽ 'tự phơi
bày' bản chất của mình, để rồi bị Đức Kitô tiêu diệt (2 Tx 2,3-8).
Chính Thiên Chúa sẽ ban cho họ sự trợ giúp cần thiết để họ
giữ được sự "vững vàng và không tì vết" cho đến "ngày của Chúa
Giêsu Kitô chúng ta", ngày Người trở lại để quy tụ tất cả những ai thuộc về
Người. Nhờ được Thiên Chúa kêu gọi, họ được hiệp nhất một cách đặc biệt với Đức
Giêsu Kitô. (Khái niệm "ngày của Chúa" dưới nhiều hình thức khác nhau
đã được đề cập trong bài đọc hôm thứ Ba vừa qua.)
Và Phaolô kết luận rằng: "Thiên Chúa là Đấng trung
tín". Người là Thiên Chúa luôn giữ lời hứa. Tình yêu của Người bất biến, bất
kể chúng ta hành động ra sao. Và chính Người là Đấng đã kêu gọi chúng ta bước
vào sự hiệp thông với Người qua Đức Giêsu Kitô, Con của Người và cũng là Chúa của
chúng ta.
Trong lá thư này, Phaolô sẽ đưa ra nhiều lời khiển trách đối
với người Côrintô, nhưng trước hết, ông bắt đầu bằng lời tạ ơn về tất cả những
điều tốt đẹp đích thực mà ông nhận thấy nơi họ. Chúng ta rất dễ nhận thấy những
thiếu sót của các cá nhân và hội nhóm, dù ở trong hay ngoài Giáo hội, và cũng
chẳng ngần ngại bày tỏ quan điểm khi tụ họp để bàn tán về người khác. Tuy nhiên,
điều quan trọng là chúng ta biết nhìn thấy những điều tốt đẹp nơi mỗi con người,
nơi các cộng đoàn và ngay cả nơi chính bản thân mình.
Hãy luôn bắt đầu bằng lòng biết ơn đối với những hồng ân
mình đã lãnh nhận, cũng như những điều tốt đẹp mà ta thấy nơi bản thân và những
người xung quanh. Thật đáng buồn khi ta không thể dành cho nhau những lời khen
ngợi và sự trân trọng chân thành.
Và đặc biệt trong ngày hôm nay, hãy cùng suy ngẫm về những
ân sủng mà Thiên Chúa đã tuôn đổ xuống cuộc đời mỗi người chúng ta. Một mặt,
hãy chân thành cảm tạ Người; mặt khác, hãy tự hỏi xem ta đã sử dụng những ân sủng
ấy như thế nào để thể hiện tình yêu và sự phục vụ đối với Thiên Chúa cũng như đối
với anh chị em mình. Suy cho cùng, đó chính là mục đích ban đầu mà những ân sủng
ấy được trao ban cho chúng ta (chúng ta sẽ còn nghe nói thêm về điều này ở phần
sau của lá thư).
Chú giải về Tin Mừng Mát-thêu 24,42-51
Chúng ta bước vào giai đoạn cuối cùng của các bài đọc trích
từ Tin Mừng Mát-thêu, sẽ kết thúc vào thứ Bảy tuần này. Chúng ta sẽ theo dõi
các đoạn trích chọn lọc từ chương 24 và 25, hợp thành nội dung được gọi là
"Bài giảng về Cánh chung" (Eschatological
Discourse). Đây là bài giảng thứ năm và cũng là bài giảng cuối cùng trong
chuỗi các bài giảng của Chúa Giê-su – một nét đặc trưng của Tin Mừng Mát-thêu.
Bài giảng này đề cập đến ngày tận thế và sự quang lâm (lần đến thứ hai và cũng
là lần cuối cùng) của Đức Ki-tô để quy tụ muôn vật.
Phần đầu của chương 24 có đề cập đến lời tiên báo về sự tàn
phá thành Giê-ru-sa-lem; đối với người Do Thái thời bấy giờ (kể cả những người
đã theo đạo Ki-tô), sự kiện này hẳn đã mang dáng dấp của ngày tận thế (tương tự
như việc Đế chế La Mã sụp đổ sau này đã được Thánh Âu-gút-ti-nô và những người
cùng thời coi như ngày tận thế vậy).
Các tín hữu Ki-tô giáo thời sơ khai từng mong đợi được chứng
kiến sự Quang Lâm ngay trong cuộc đời mình; việc thành Giê-ru-sa-lem bị tàn
phá và Đền Thờ bị hủy hoại một cách phạm thánh hẳn đã được xem là những dấu hiệu
chắc chắn về thời cánh chung (từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "sự kiện cuối
cùng"). Tuy nhiên, vào thời điểm Tin Mừng Mát-thêu được phổ biến, sự kiện
đó đã lùi xa ít nhất 15 năm. Ngày tận thế, dù chắc chắn sẽ xảy ra, dường như
không còn là điều quá cấp bách hay sắp sửa diễn ra ngay lập tức nữa.
Trong bài giảng này, Thánh Mát-thêu đã đưa vào một số dụ
ngôn nói về sự Quang Lâm (Parousia).
Theo mô thức thường thấy trong các phần khác của Tin Mừng này, có tất cả bảy dụ
ngôn như vậy. Bài đọc hôm nay trình bày hai dụ ngôn ngắn. Cả hai đều mang lời
khuyên nhủ chúng ta phải luôn sẵn sàng đón chờ ngày Chúa quang lâm.
Ở dụ ngôn thứ nhất, chúng ta được mời gọi hãy tỉnh thức chờ
đợi Chúa đến, giống như một gia chủ canh chừng để ngăn kẻ trộm đột nhập và lấy
cắp tài sản. Chúa Giê-su sẽ đến bất ngờ như một kẻ trộm, vào lúc chúng ta ít ngờ
tới nhất.
Trong dụ ngôn thứ hai, Chúa Giê-su ví chúng ta như người đầy
tớ được giao trông coi nhà cửa khi chủ vắng mặt. Hình ảnh này có thể ám chỉ các
vị lãnh đạo trong cộng đoàn của Thánh Mát-thêu, và rộng hơn là các nhà lãnh đạo
cộng đoàn ở khắp mọi nơi. Thật hạnh phúc cho người đầy tớ nào khi chủ bất ngờ
trở về và thấy anh ta vẫn đang cần mẫn chu toàn công việc của mình. Sự sẵn sàng
được đo lường bằng sự kiên định của con người trong việc thực thi trách nhiệm của
mình. Ngược lại, người đầy tớ có thể nghĩ rằng chẳng thấy tăm hơi chủ đâu cả
(dù lẽ ra ông phải về sớm hơn), nên quay sang đánh đập các đầy tớ khác và sống
một cuộc đời sa đọa. Thật tai hại cho người đầy tớ ấy khi người chủ bất ngờ xuất
hiện.
Bài học thật rõ ràng. Nhiều Kitô hữu từng mong đợi Chúa sớm
trở lại, nay không thấy dấu hiệu nào của Ngài nên bắt đầu sa sút trong đời sống
đức tin. Chúng ta cũng có thể bị cám dỗ hành xử như vậy: “Hãy cứ vui chơi thỏa
thích (dù là những thú vui sai trái về mặt đạo đức) bây giờ đã, rồi tính chuyện
quay về với Chúa sau.” Đó không phải là một cách tính toán khôn ngoan. Về lâu
dài, một cuộc sống thực sự tốt đẹp—tức là cuộc sống dựa trên sự thật và lòng
chính trực, trên tình yêu thương, lòng trắc ẩn và sự sẻ chia—luôn tốt hơn hẳn một
cuộc sống dựa trên sự giả tạo, ích kỷ, tham lam, lối sống hưởng thụ và việc thỏa
mãn tức thì mọi khoái lạc.
Và “Ngày Chúa Quang Lâm” có thể sẽ không bao giờ đến trong
cuộc đời của một số người trong chúng ta—kéo theo việc mất đi cơ hội quay về
với Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống—nhưng cuộc đời của mỗi cá nhân
chúng ta chắc chắn sẽ có lúc kết thúc. Những người khôn ngoan nhất là những ai
luôn kiên trì tìm kiếm và phục vụ Chúa trong từng khoảnh khắc của mỗi ngày. Họ
vừa được tận hưởng niềm hạnh phúc ngay lúc này, vừa nhận ra rằng Chúa Giêsu sẽ
không còn là người xa lạ khi Ngài đến để gọi họ về với Ngài. Họ chính là những
người vừa trung tín vừa khôn ngoan.
https://sacredspace.com/commentary
TỈNH THỨC CHỜ NGÀY CHÚA ĐẾN
Chúa Giê-su đã đến trần gian để mở cửa Nước Trời cho con người.
Ngài là con đường để dẫn đưa con người bước vào trong vinh quang và hạnh phúc
viên mãn trên Thiên Quốc. Nước Trời đã xuất hiện ở thế gian này nhưng sự hiện
diện của nó chưa trọn vẹn. Vẫn còn cỏ lùng xen lẫn lúa tốt trong cánh đồng của
Chúa và người tín hữu được mời gọi hãy vượt qua những cám dỗ, thử thách cho đến
ngày Chúa Giê-su Ki-tô trở lại trong vinh quang. Tuy nhiên, chúng ta không biết
được giờ phút nào Chúa sẽ đến. Vì thế, một sự tỉnh thức và thái độ sẵn sàng để
chờ đợi Ngài luôn là điều cần thiết. Chính Chúa Giê-su đã nhắc nhở chúng ta về
điều này trong bài Phúc Âm hôm nay.
Tỉnh thức giúp chúng ta sống một đời sống tốt lành, thánh
thiện, noi gương người Thầy chí thánh. Tỉnh thức làm cho chúng ta nhận ra ý
Chúa qua Lời Chúa hay trong từng biến cố cuộc đời và giúp chúng ta sống theo
thánh ý Ngài. Là người tín hữu, chúng ta không thể sống theo những ý muốn của
con người xác thịt, nhưng là sống sao cho xứng với danh hiệu Ki-tô hữu mà chúng
ta lãnh nhận qua bí tích Rửa tội. Cuộc sống trần gian luôn đầy những thú vui,
lôi cuốn và chúng rất hấp dẫn đối với chúng ta. Tiền bạc, danh lợi, lạc thú…
luôn làm cho chúng ta cảm thấy thích và nếu chúng ta không cảnh tỉnh, chúng ta
dễ coi chúng là những kho tàng quý giá và sẵn sàng đặt mọi tâm trí của chúng ta
vào đó. Như thế, chúng ta được mời gọi hãy tỉnh thức và cố gắng tìm ra đâu là
kho tàng thực sự cho cuộc đời mình trong hành trình dương thế nhiều gian nan và
chông gai.
Xin Chúa luôn ở bên và nâng đỡ cho chúng ta. Amen.
Lm. Gio-an Trần Văn
Viện
Ngày 27/8: Thánh nữ Mô-ni-ca
(332-387)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh nữ Mônica qua đời tại Ostie gần Roma mùa thu năm 387,
lễ kính được ghi vào lịch Roma ngày 4 tháng 5, áp lễ kỷ niệm cuộc trở lại của
con là thánh Augustin. Ngày nay lễ được cử hành vào áp trước lễ duy nhất mừng
thánh Augustin vào ngày 28 tháng tám.
Thánh nữ Mônica sinh tại Thagaste (Souk-Ahras, Algérie) năm
332 trong một gia đình công giáo. Kết bạn với Patricius, một nghiệp chủ ở
Thagaste thương vợ nhưng nóng nảy, bà học cách thương chồng, và cả chịu đựng những
chuyện thiếu chung thủy của chồng một cách hiền lành và kiên nhẫn. Bà có với
Patricius ba người con: Augustin,
Navigius và một người con gái, chết lúc còn làm bề trên nữ tu viện Hippone. Năm
424. Patricius vốn là một người lính viễn chinh Roma ngoại đạo trở thành dự
tòng năm 370 và lãnh bí tích thánh tẩy vào năm sau, trên giường bệnh. Ông để lại
cho vợ cậu con trai Augustin mười sáu tuổi, đang là dự tòng, nhưng tính tình lộn
xộn. Bà đi theo con trai từ Madaure đến Carthage, nhất quyết sống cạnh cậu quí
tử sa đọa chứ không xa con vì các sai lạc của cậu. Nhưng bà thất vọng đau đớn
khi Augustin sang Italia, về sau bà mới đến được với cậu ở Milan, khi Augustin
nhận ghế giáo sư tu từ học và đã được thánh giám mục Ambroise chinh phục cải đạo
cho. Phục sinh 387, đêm 24 tháng tư, bà vui mừng được dự lễ rửa tội cho con
trai.
Nhưng cũng vào chính cuối năm đó, sau một thời gian sống với
con trai và bạn hữu ở Cassiciacum, bà qua đời tuổi mới năm mươi lăm, ở Ostie,
bên cạnh Augustin, khi đang chuẩn bị trở về Châu Phi. Xác bà được chôn cất
trong chính ngôi nhà nơi bà tắt thở. Với những ai thắc mắc có sợ bỏ xác nơi đất
khách quê người không, bà trả lời: “Đối với Chúa, không có gì là xa hay
gần, đâu có sợ vào ngày thế mạt Chúa không nhận ra nơi đã phục sinh tôi”
(Confessions IX,II)
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện trong ngày nhắc đến “những giọt nước mắt
thánh nữ Mônica đổ ra cho sự trở lại của Augustin con trai mình” đã được
Chúa đón nhận với lòng yêu thương. Bà đã được yên ủi lần đầu tiên khi nghe những
lời tiên báo của vị giám mục ở Thagaste lúc Bà nhờ Người đánh tan các điều lầm
lạc của con trai: “Thôi mà … Tôi nói thật đấy, đứa con đã làm bà rơi
nhiều nước mắt, không thể hư mất đâu” (Confessions III,12).
Phụng vụ bài đọc dẫn một trang trong sách Tự Thuật nhắc lại
những ngày cuối đời của thánh nữ Mônica ở Ostie và cuộc tâm sự với
Augustin: “Vậy là chỉ có chúng con nói chuyện với nhau, thật êm đềm.
Quên đi quá khứ, nghĩ tới tương lai, chúng con cùng nhau tìm hiểu nơi Đấng chân
lý, nghĩa là nơi Chúa, thế là cuộc sống vĩnh cửu của các thánh mà mắt chưa thấy,
tai chưa nghe, trái tim không thể hiểu thấu. Tâm hồn chúng con hăm hở mở rộng
đón những đợt sóng thiên đình từ nguồn mạch của Ngài, nguồn mạch sự sống trong
Ngài”. Cũng trong trích đoạn đó, thánh Augustin kể lại những lời nói cuối
cùng của bà mẹ thánh thiện này: “Con ơi, đối với mẹ không còn gì ở trần
gian này làm mẹ vui thích. Mẹ còn làm gì ở đây đâu? Sao mẹ còn ở đây? Mẹ không
biết. Trông đợi ở đời này đối với mẹ giờ đây đã cạn. Chỉ còn một điều mà mẹ muốn
nán lại nơi đời này ít lâu là trước khi mẹ nhắm mắt, được thấy con thành người
công giáo; về điều này Chúa đã ban cho mẹ quá hơn mong đợi, vì mẹ thấy giờ đây
con đã là tôi tớ Chúa đến độ coi khinh các hoan lạc trần thế. Mẹ còn làm gì ở
đây?” (IX,10)
Trong nước mắt và lời cầu nguyện, thánh Mônica đã biết tin
tưởng vào Chúa và giao con trai Augustin cho Người. Gương mẫu của bà cho chúng
ta thấy rằng muốn đưa một linh hồn về với Chúa, cần hành động một cách hiền từ,
tin tưởng và kiên nhẫn, bởi vì Chúa không dập tắt đốm lửa sắp tàn (Is 42,3),
Người sẽ can thiệp vào thời điểm của Người.
Enzo Lodi






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét