Trang

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

01.08.2026: THỨ BẢY TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN - THÁNH ANPHONGSÔ, GIÁM MỤC, TIẾN SĨ HỘI THÁNH - Lễ Nhớ

 


01/08/2026

Thứ Bảy đầu tháng, tuần 17 thường niên.

Thánh Anphongso, Giám mục Tiến sĩ Hội Thánh.

Lễ Nhớ

 


* Thánh nhân sinh năm 1696 tại Napôli. Người từ bỏ nghề luật sư để làm linh mục, rồi sau lại nhận trách nhiệm giám mục để loan báo tình yêu của Chúa Kitô. Người đi giảng không mỏi mệt, siêng năng giải tội và rất nhân từ với các hối nhân. Người đã lập Dòng Chúa Cứu Thế nhằm mục đích loan báo Tin Mừng cho dân các miền quê (1732). Người đã giảng dạy luân lý và viết nhiều tác phẩm về đời sống thiêng liêng. Người qua đời năm 1787.

 

Bài Ðọc I: (Năm II) Gr 26, 11-16. 24

“Thật Chúa đã sai tôi đến nói với các ngươi những lời đó”.

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Trong những ngày ấy, các tư tế và các tiên tri nói cùng các đầu mục và toàn dân rằng: “Người này đáng xử tử, vì nó đã nói tiên tri chống lại thành này, như tai các ngươi đã nghe”. Giêrêmia nói cùng tất cả các đầu mục và toàn dân rằng: “Chúa đã sai tôi đến nói tiên tri về đền thờ này và về thành này tất cả những lời các ngươi đã nghe. Vậy giờ đây, các ngươi hãy cải thiện đời sống và những điều các ngươi ưa thích, hãy nghe tiếng Chúa là Thiên Chúa các ngươi, thì Chúa sẽ hối tiếc tai hoạ Người đã phán chống lại các ngươi. Phần tôi đây, tôi ở trong tay các ngươi, các ngươi cứ đối xử với tôi điều mà các ngươi cho là tốt là phải. Nhưng các ngươi hãy hiểu biết rằng: nếu các ngươi giết tôi, thì các ngươi sẽ đổ máu vô tội lên chính các ngươi, lên thành này và dân cư của nó. Vì thật Chúa đã sai tôi đến với các ngươi để nói vào tai các ngươi tất cả những lời đó”.

Những đầu mục và toàn dân nói cùng các tư tế và các tiên tri rằng: “Không được xử tử người này, vì ông đã nhân danh Chúa là Thiên Chúa chúng ta mà nói với chúng ta”. Vậy Ahica con của Sapha ra tay bảo vệ Giêrêmia, để ông khỏi bị nộp vào tay dân chúng định giết ông.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 68, 15-16. 30-31. 33-34

Ðáp: Ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương, xin nhậm lời con (c. 14).

Xướng: Nguyện cứu con thoát nơi bùn nhơ kẻo bị chìm; xin giải thoát con khỏi tay những người ghen ghét, và thoát khỏi những đầm nước thẳm sâu. Xin đừng để cho ba đào lôi cuốn; xin đừng để cho vực thẳm nuốt trửng, cũng đừng để cho giếng ngậm miệng nhốt con. –

Xướng: Phần con, con đau khổ cơ hàn, lạy Chúa, xin gia ân phù trợ, bảo toàn con. Con sẽ xướng bài ca ngợi khen danh Chúa, và con sẽ chúc tụng Ngài với bài tri ân.

Xướng: Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ; các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân của Người bị bắt cầm tù.

 

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia! – Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! – Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Allleluia.)

 

Phúc Âm: Mt 14, 1-12

“Hêrôđê sai người đi chặt đầu Gioan, và các môn đệ của Gioan đi báo tin cho Chúa Giêsu”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy quận vương Hêrôđê nghe danh tiếng Chúa Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: “Người này là Gioan Tẩy Giả, ông từ cõi chết sống lại, nên mới làm được các phép lạ như vậy”. Tại vì Hêrôđia vợ của anh mình mà vua Hêrôđê đã bắt trói Gioan tống ngục, bởi Gioan đã nói với vua rằng: “Nhà vua không được lấy bà ấy làm vợ”. Vua muốn giết Gioan, nhưng lại sợ dân chúng, vì họ coi Gioan như một tiên tri. Nhân ngày sinh nhật của Hêrôđê, con gái Hêrôđia nhảy múa trước mặt mọi người, và đã làm cho Hêrôđê vui thích. Bởi đấy vua thề hứa sẽ ban cho nó bất cứ điều gì nó xin. Ðược mẹ nó dặn trước, nên nó nói: “Xin vua đặt đầu Gioan Tẩy Giả trên đĩa này cho con”. Vua lo buồn, nhưng vì đã trót thề rồi, và vì các người đang dự tiệc, nên đã truyền làm như vậy. Ông sai người đi chặt đầu Gioan trong ngục, và để đầu Gioan trên đĩa đem trao cho cô gái, và nó đem cho mẹ nó. Các môn đồ của Gioan đến lấy xác thầy và chôn cất, rồi đi báo tin cho Chúa Giêsu.

Ðó là lời Chúa.

 


Chú giải về Giê-rê-mi-a 26,11-16. 24

Hôm nay chúng ta tiếp tục bài đọc hôm qua về phản ứng đối với lời tiên tri của Giê-rê-mi-a về số phận tương lai của Đền thờ và Giê-ru-sa-lem. Hôm qua chúng ta đã thấy Giê-rê-mi-a bị các lãnh đạo tôn giáo bắt giữ sau khi ông cảnh báo rằng Đền thờ và Giê-ru-sa-lem sẽ bị tàn phá nếu dân chúng không thay đổi lối sống của mình. Lời nói của ông nghe có vẻ phạm thượng đối với những người nghe, và giờ đây ông đang bị phán xét.

Trong một câu nằm giữa hai đoạn văn, nhưng không có trong cả hai bài đọc, chúng ta được biết rằng các lãnh đạo của Giu-đa đã được thông báo về tình hình và đã tổ chức một phiên tòa chính thức tại Cổng Mới của Đền thờ. Các thầy tế lễ và các tiên tri nói với các lãnh đạo và dân chúng tụ tập xung quanh rằng Giê-rê-mi-a đáng phải chết vì những gì ông đã nói chống lại Đền thờ và thành thánh. Những người buộc tội ông đã tuyên án ông ngay cả trước khi Giê-rê-mi-a có cơ hội tự bào chữa.

Khi Giê-rê-mi-a có cơ hội lên tiếng, ông nói rằng mọi điều ông nói với họ đều đến trực tiếp từ Chúa. Đó không phải là suy nghĩ của riêng ông. Một lần nữa, ông nói với họ rằng họ chỉ cần thay đổi lối sống và phục tùng luật pháp của Đức Chúa Trời thì tai họa đã được đe dọa sẽ không xảy ra. Giê-rê-mi-a đang ở trong tay họ và ông nói rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn với ông. Nhưng nếu họ hành quyết ông, họ sẽ vấy máu người vô tội trên tay mình:

…vì quả thật Đức Chúa Trời đã sai tôi đến với các ngươi để nói tất cả những lời này vào tai các ngươi.

Tuyên bố này tạo ra sự chia rẽ giữa các quan chức tòa án và dân chúng với các nhà lãnh đạo tôn giáo, các thầy tế lễ và các tiên tri. Những người trước nói rằng Giê-rê-mi-a không đáng phải chết vì những gì ông đã nói, ông đã nói nhân danh Đức Chúa Trời.

Những gì xảy ra tiếp theo trong đoạn văn không được ghi trong bài đọc của chúng ta (xem Giê-rê-mi-a 26,17-23). ​​Trước hết, một số trưởng lão nhắc nhở dân chúng rằng tiên tri Mi-kha đã đưa ra những lời tiên tri rất giống với những lời tiên tri của Giê-rê-mi-a, nhưng ông không bị kết án tử hình. Mi-kha đã nói rằng:

Si-on sẽ bị cày xới như một cánh đồng;

Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành một đống đổ nát,

và núi đền thờ sẽ trở thành một ngọn đồi có rừng cây. (Mi-kha 3,12)

Nhưng rồi chúng ta được kể về một vị tiên tri khác tên là U-ri-a, người cũng rao giảng cùng một sứ điệp như Giê-rê-mi-a. Khi nhà vua muốn thủ tiêu ông, ông đã trốn sang Ai Cập, nhưng bị truy đuổi, bắt về, hành quyết và chôn trong một ngôi mộ chung.

Tuy nhiên, Giê-rê-mi-a đã được cứu thoát khỏi cái chết chắc chắn nhờ sự can thiệp của một người có quyền lực. A-hi-am, con trai của Sa-phan, là một quan chức cấp cao, một người ghi chép trong triều đình của vua Giô-si-a và luôn có thiện cảm với Giê-rê-mi-a. Ông cũng là cha của Ghê-đa-li-gia, người sau này trở thành thống đốc Giê-ru-sa-lem sau khi thành bị phá hủy vào năm 586 trước Công nguyên, và cũng là bạn của Giê-rê-mi-a.

 

Ở đây chúng ta thấy một ví dụ về việc sự chính trực của nhà tiên tri được đền đáp, mặc dù không phải lúc nào kết quả cũng như vậy. Dù hậu quả thế nào, Giê-rê-mi-a vẫn phải nói ra điều ông tin là sứ điệp của Chúa. Hoàn toàn không hay biết, hoàn cảnh đã có lợi cho ông và bảo toàn mạng sống của ông.

Đây là một ví dụ về việc mạng sống của một người nằm trong tay Đấng Tạo Hóa. Giê-rê-mi-a sẽ chết khi đến lúc, chứ không phải trước đó. Ông hay bất cứ ai khác cũng không thể thay đổi điều đó. Rõ ràng, Đức Chúa Trời còn có một số việc cần ông làm.

Đối với chúng ta cũng vậy. Trong cuộc sống của chúng ta, sự quan phòng của Chúa cũng có thể hoạt động theo những cách kỳ lạ và sử dụng những công cụ rất bất ngờ. Hôm nay, chúng ta hãy đếm những phước lành mình nhận được và nhớ lại biết bao lần tình yêu của Chúa đã được cảm nhận qua những sự can thiệp bất ngờ và khó lường.

 


Chú giải về Mát-thêu 14,1-12

Bài đọc hôm nay nói về cái chết của Gioan Tẩy Giả dưới tay Hê-rô-đê. Khi Hê-rô-đê Cả qua đời, vương quốc của ông được chia cho bốn người con trai. Một trong số họ, Hê-rô-đê trong Phúc Âm hôm nay (cũng được biết đến với tên Hê-rô-đê An-ti-pát), được gọi là “tứ vương”, nghĩa là ông cai trị một phần tư lãnh thổ.

Hê-ô-đêt An-ti-pát cai trị xứ Ga-li-lê và Pê-rê từ năm 4 trước Công nguyên đến năm 39 sau Công nguyên, tức là suốt cuộc đời của Chúa Giê-su và cả sau đó. Ông chính là người muốn gặp Chúa Giê-su, và người mà Chúa Giê-su gọi là “con cáo đó”. Ông là người mà Phi-la-tô đã sai Chúa Giê-su đến trong phiên tòa xét xử Ngài. Cái chết đau đớn và ghê tởm của ông được mô tả trong Công Vụ Các Tông Đồ (12,20-23). ​​Mặc dù chỉ là một tứ vương, Mát-thêu gọi ông là “vua” vì đó là tước hiệu phổ biến của ông trong số người Ga-li-lê và cả ở Rô-ma.

Dường như, theo mọi lời kể, Hê-rô-đê là một người đàn ông độc ác và, như câu chuyện hôm nay cho thấy, cũng là một người yếu đuối và rất mê tín. Điều đáng chú ý là, ngay cả ngày nay, nhiều người tưởng chừng như quyền lực lại cảm thấy bất an vì mê tín (ví dụ, cần phải mặc cùng một bộ vest công sở "may mắn" hoặc chỉ lái xe hoặc đi một kiểu xe cụ thể).

Hê-rô-đê đã nghe những điều phi thường về Chúa Giê-su và ông đi đến kết luận rằng Chúa Giê-su là sự tái sinh của Gioan Tẩy Giả, người mà ông đã hành quyết vì những lý do mà ông biết rất rõ là hoàn toàn sai trái. Giờ đây, linh hồn của Gioan đã trở lại để chế giễu ông, vì ông đã giết tôi tớ của Đức Chúa Trời. Điều này dẫn đến việc Mát-thêu kể lại những sự kiện dẫn đến cái chết của Gioan.

Goan, người không thiên vị ai, đã công khai chỉ trích Hê-rô-đê vì đã lấy Hê-rô-đi-át, vợ của anh cùng cha khác mẹ mình là Phi-líp-phê, làm vợ. Điều này rõ ràng là trái với Luật Môi-se. Lỗi của Hê-rô-đê không phải ở chỗ cưới một người họ hàng gần, mà là lấy bà làm vợ khi Phi-líp-phê vẫn còn sống, đồng thời bỏ người vợ cũ.

Đó vốn dĩ đã là một gia đình loạn luân tột độ. Hê-rô-đi-át là cháu gái của Hê-rô-đê Đại đế và do đó là cháu của Hê-rốt An-ti-pát. Đầu tiên, bà kết hôn với một người chú khác, Hê-rô-đê Phi-líp-phê, sống ở Rô-ma. Ông là anh em cùng cha khác mẹ với Hê-rốô-đê An-ti-pát. Chính trong một chuyến thăm Rô-ma, Hê-rô-đê An-ti-pát đã thuyết phục Hê-rô-đi-át bỏ chồng để đến với mình. Điều này, dĩ nhiên, bị luật Môi-se nghiêm cấm:

Ngươi chớ xem trần truồng vợ của anh ngươi; đó là sự trần truồng của anh ngươi. (Lê-vi 18,16)

Hê-rô-đê, chắc chắn dưới áp lực của Hê-rô-đi-át, muốn thoát khỏi sự xấu hổ mà Gioan gây ra cho mình, nhưng lại sợ làm gì vì, trong mắt dân chúng, Gioan là một tiên tri và nói nhân danh Đức Chúa Trời.

Hê-rô-đi-át có cơ hội vào dịp sinh nhật của Hê-rô-đê. Biết được điểm yếu của người chồng mới cưới, bà đã sai con gái mình nhảy múa trước mặt ông. Theo nhà sử học Do Thái Josephus, cô con gái đó tên là Salome. Sau này, cô kết hôn với ông chú của mình, cũng tên là Philipphê, con trai của Hê-rô-đê Đại đế, người cai trị các vùng lãnh thổ phía bắc. Ông được nhắc đến trong sách Lu-ca.

Chúng ta không biết liệu điệu nhảy đó có dâm dục hay không (như những bộ phim Hollywood cũ đã gợi ý), nhưng Hê-rô-đê rất thích thú với màn trình diễn đó. Trước mặt các cận thần và rất có thể đã uống quá nhiều rượu, ông hứa với cô gái rằng sẽ cho cô bất cứ điều gì cô muốn, thậm chí là một nửa vương quốc của mình. Dưới sự xúi giục của mẹ, cô gái đã yêu cầu đầu của Gioan Tẩy giả được đặt trên một chiếc đĩa. Hê-rô-đê rõ ràng rất kinh hãi và sợ hãi, nhưng ông đã thề trước mặt rất nhiều người. Ông không thể rút lại lời thề. Gioan bị chặt đầu và đầu của ông được giao theo yêu cầu. Các môn đệ của ông đến chôn cất thi thể và sau đó đi báo cho Chúa Giê-su. Câu chuyện này có những điểm tương đồng với cái chết của chính Chúa Giê-su. Ngài cũng chết vì sự yếu đuối về mặt đạo đức của Phi-la-tô, người đã khuất phục trước những lời đe dọa của các lãnh đạo Do Thái vì lợi ích sự nghiệp của chính mình. Cái chết của Chúa Giê-su cũng là kết quả của lòng thù hận mù quáng. Và khi Ngài chết, các môn đệ đã lo liệu việc chôn cất Ngài.

Không nghi ngờ gì nữa, Gioan là một vị tử đạo. Ông đã chết như một nhân chứng cho sự thật và công lý trong việc phụng sự Chúa. Mặt khác, Hê-rô-đê lại đặt sự tiện lợi và lợi ích cá nhân lên trên sự thật và công lý. Ông ta có mối quan hệ bất chính với một người phụ nữ và đã khuất phục trước những gì ông ta cảm thấy sẽ là sự chỉ trích và có lẽ là sự chế giễu của người khác. Ông ta quả thực đã thề, nhưng đó là lời thề mà trong hoàn cảnh đó, ông ta buộc phải không tuân thủ.

Tôi đồng cảm với ai hơn? Gioan Tẩy giả, người bảo vệ không sợ hãi cho sự thật và công lý? Hay Hê-rô-đê, kẻ do dự, người đã thỏa hiệp với sự thật và công lý vì áp lực dư luận và lợi ích cá nhân của mình? Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều có thể nhớ lại những lúc mình đã thỏa hiệp với điều mình biết là tốt hoặc đúng đắn và chọn con đường ít kháng cự hơn.

Gioan là một tấm gương về sự chính trực cho chúng ta. Và giống như ông, mỗi người trong chúng ta đều được kêu gọi theo cách riêng của mình để trở thành những nhà tiên tri, để trở thành người phát ngôn cho đường lối của Chúa. Điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2177g/

 

 


Suy Niệm: Tương Quan Giữa Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu

Trong Tin Mừng hôm nay, tác giả hai lần nhắc đến Gioan Tẩy giả trong tương quan với Chúa Giêsu.

Ở khởi đầu trình thuật, vua Hêrôđê nghe danh tiếng Chúa Giêsu, thì ông cho đó chính là Gioan Tẩy giả, người mà ông đã cho chém đầu nay sống lại. Ơn gọi của Gioan Tẩy giả như chính miệng ông Zacaria loan báo trong ngày lễ đặt tên cho con mình: "Con là tiên tri của Ðấng tối cao, con sẽ đi trước dọn đường cho Ngài". Ơn gọi đó Gioan đã chu toàn một cách tốt đẹp. Gioan chuẩn bị cho Chúa Giêsu đến, không những bằng việc rao giảng thống hối, mà còn bằng chính cái chết vì trung thành với sự thật. Dung mạo của Gioan Tẩy giả loan báo dung mạo của Chúa Giêsu một cách tốt đẹp, đến nỗi khi Chúa Giêsu xuất hiện, vua Hêrôđê tưởng Ngài là hiện thân của Gioan Tẩy giả sống lại.

"Các con sẽ làm chứng về Thầy", đó là mệnh lệnh của Chúa Giêsu cho các Tông đồ, cho mỗi môn đệ của Chúa. Chúng ta cần trở nên một Chúa Kitô cho anh em mình, vận mệnh của Chúa sẽ là vận mệnh của chúng ta.

Một chi tiết nữa, đó là các môn đệ Gioan Tẩy giả, sau khi chôn cất ông xong, thì đến báo tin cho Chúa Giêsu. Chi tiết này nói lên mối liên hệ thân tình giữa Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Gioan Tẩy giả là hướng về Chúa Giêsu. Gioan Tẩy giả không phải là Chúa Giêsu, nhưng là người giúp anh em mình đến với Chúa. Chính Gioan Tẩy giả đã tuyên bố: "Tôi không phải là ánh sáng, nhưng tôi đến để làm chứng cho ánh sáng".

Người Kitô hữu được mời gọi sống hướng về Chúa, kết hợp với Chúa, trở thành một Chúa Kitô thứ hai cho anh em. Nhưng đó là để giúp anh em đến với Chúa, chứ không dừng lại nơi mình. Người Kitô hữu không được chiếm chỗ của Chúa trong tâm hồn anh em: Chúa Kitô phải lớn lên trong tâm hồn anh em, còn tôi chỉ là phương thế, tôi không được cản trở anh em đến với Chúa.

Xin Chúa ban cho chúng ta lòng can đảm và trung thành với sự thật, dù phải hy sinh chính mạng sống mình, để giúp người khác đến với Chúa và tin nhận Chúa.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 


Ngày 1/8: Thánh An-phong-sô Ma-ri-a Li-gô-ri – Giám mục – Tiến sĩ Hội Thánh

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Alphonse (An-phong) là Đấng sáng lập hội dòng Chúa Cứu Thế vào một giai đoạn chủ nghĩa duy lý thống trị. Qua đời ngày 1 tháng tám năm 1787 tại Campanie (nước Italie), Ngài được phong thánh năm 1839 và năm 1871, Giáo hội tuyên bố Ngài là tiến sỹ Hội thánh.

Alphonse-Marie de Liguori sinh năm 1696 gần Naples, trong một gia đình quí tộc. Đỗ tiến sĩ luật đời và cả luật đạo năm mười bảy tuổi, nhưng năm 1723, Alphonse rời bỏ tòa án để đi làm linh mục (năm 1726). Trước tiên Ngài lo đào tạo các thừa sai sang Trung quốc tại một chủng viện ở Naples, nhằm phục vụ các bệnh nhân và giảng dạy giới bình dân. Về sau, Ngài giảng dạy trong các vùng quê miền Naples, nơi đây Ngài khám phá thấy sự thiếu thốn lớn trong vấn đề đạo đức. Điều này đưa Ngài tới việc thành lập một hội dòng mới (Dòng Chúa Cứu Thế) vào năm 1732 nhằm mục đích truyền giáo cho các miền quê, đặc biệt là cho giới bình dân và dạy dỗ về bí tích hòa giải. Năm 1749, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV sẽ phê chuẩn luật dòng mới này. Mặc dầu có các khó khăn buổi đầu, hội dòng đã nhanh chóng phát triển, đặc biệt nhờ công của thánh Clément Hofbauer phổ biến sang Ba Lan và trong các xứ thuộc Đức.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày cầu khẩn Chúa là Đấng không ngừng thúc đẩy phát sinh trong Hội Thánh “nhưng gương mẫu nhân đức mới”. Quả thế, vào thời đó giữa hai chủ trương lạc quan tôn giáo và nhặt nhiệm do Janséniste chủ xướng, thánh Alphonse đã xây dựng một hệ thống thần học luân lý được mệnh danh là “thuyết trung dung”, dựa trên nguyên tắc lòng nhân từ vô biên của Chúa, và đứng giữa hai thái cực nhặt nhiệm và thả lỏng của những người chủ trương “có thể”. Qua công trình của nhà luân lý quân bình, thánh Alphonse đã đặc biệt có công trong việc giải phóng các giáo hữu đương thời khỏi chủ trương quá nhiệm nhặt của phái Jansenius. Là nhà giảng thuyết và nhà luân lý lớn, thánh nhân cũng biết khai thác các tài năng thơ – nhạc của mình phục vụ cho nhiệt tình truyền giáo. Ngài là một trong những tác giả thánh ca Noel nổi tiếng. Người ta gán cho thánh Alphonse một trăm sáu mươi tác phẩm thần học hoặc đạo đức, trong đó phải kể Viếng Mình Thánh Chúa (1745), Vinh quang của Đức Maria (1750), Phương pháp lớn là cầu nguyện (1759), Luận về tình yêu của Đức Giêsu Kitô và Thần học luân lý (1753 – 1755). Tác phẩm trọn bộ của Người đã được dịch sang tiếng Pháp (1834 – 1842).

Phụng vụ bài đọc trích dẫn từ bộ Luận về tình yêu của Đức Giêsu Kitô cho ta thấy linh đạo của thánh An-phong là dựa trên tình yêu:“Vì Chúa biết rằng con người thường bị các ân huệ chinh phục, Chúa đã muốn buộc nó yêu Chúa vì các ơn của Người. Chúa nói, Ta muốn lôi kéo chúng bằng những thứ lưới mà loài người mắc phải, để chúng yêu Ta, vì đó là những sợi dây yêu thương”.

Lời nguyện trên lễ vật nhắc lại rằng thánh Alphonse đã tự dâng hiến chính mình “như một hy lễ thánh”. Đặc biệt là khi đã lớn tuổi, vị sáng lập dòng Chúa Cứu Thế đã gặp phải bao thử thách do những đau khổ lớn lao, nhưng ngài đã đón nhận tất cả với sự kiên nhẫn anh hùng: bệnh tật, ngờ vực, thậm chí cả sự xa lánh của chính gia đình dòng tu của mình, những cuộc tranh giành gây đối chọi giữa các thành viên hội dòng, kết cuộc đi đến chia rẽ, và sau hết nổi lo bị kết án, đã hằn sâu những năm cuối đời thánh nhân.

Lời nguyện tạ lễ gọi thánh An-phong là “nhà giảng thuyết và tư tế trung thành của Thánh Thể”. Ngài luôn tận tâm với việc canh tân lòng tôn sùng Thánh thể, – cách riêng, việc thực hiện các cuộc Viếng Mình Thánh Chúa, và Ngài đòi hỏi phải tôn kính Thánh Thể cách xứng đáng. Vị chủ chăn lớn thường nói: “Chính nhờ việc cầu nguyện mà các thánh nên thánh”; chính vì ý thức rõ tính cách quan trọng của cầu nguyện mà bản thân Ngài luôn thực hành và rao giảng, thánh nhân cũng đã thành lập một ngành nữ của hội dòng Chúa Cứu Thế với hoạt động chủ yếu là thần vụ, suy gẫm và đọc sách thiêng liêng. Thánh nhân đặt “tình yêu vô biên” của Cha vĩnh cửu đối với nhân loại làm nền tảng cho toàn bộ giáo lý của Người, bởi vì “Đấng đã không từ chối giao phó chính Con Một mình vì tất cả chúng ta, làm sao Chúa lại không ban tất cả cho chúng ta, cùng với Con của Người?” (Luận về tình yêu Đức Giêsu Kitô).

Enzo Lodi

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét