07/08/2019
Thứ tư tuần 18 thường
niên
BÀI ĐỌC I: Ds 13,
1-3a. 26 -- 14, 1. 26-29. 34-35
"Đất ngon lành họ đã không thèm" (Tv 77, 24)
Trích sách Dân Số.
Trong những ngày ấy,
Chúa phán cùng Môsê (ở trong hoang địa Pharan) rằng: "Ngươi hãy sai đàn
ông, mỗi chi tộc một người (thuộc hàng vương công trong chúng), đi xem đất
Canaan mà Ta sẽ ban cho con cái Israel".
Sau bốn mươi ngày, những
người dò thám đất đi khắp miền, đoạn trở về. Họ đi gặp
Môsê, Aaron và toàn thể cộng đồng con cái Israel ở sa mạc Pharan, tại Cađê. Và
họ đã báo cáo với các ông và toàn thể cộng đồng, và cho người ta thấy thổ sản đất
ấy. Họ đã tường thuật và nói: "Chúng tôi đã vào đất, nơi các ông sai chúng
tôi đến, và thật là đất chảy tràn sữa và mật, và đây là thổ sản đất ấy. Hiềm một
nỗi là dân cư trong xứ hùng cường! Thành trì kiên cố (và) lớn lắm, và chúng tôi
đã thấy ở đó cả những con cháu Anaq. Có Amalec ở vùng Namsa; có dân Hit-tit,
Giơbusi và Amori ở trên núi; còn dân Canaan thì ở gần biển và bờ sông
Giođan".
Bấy giờ Caleb truyền
cho dân nín bặt trước Môsê. Ông nói: "Ta cứ lên chiếm đất ấy, vì ta sẽ thắng
nổi nó!" Những người cùng lên với ông đáp lại: "Ta không thể lên đánh
dân ấy, vì nó mạnh hơn ta". Và họ buông lời chê bai giữa con cái Israel về
đất họ đã dò thám, họ nói: "Đất chúng tôi đã băng qua để dò thám là đất
làm tiêu diệt cả những người ở trên ấy; dân chúng tôi đã thấy trong xứ toàn là
những người vóc dạng. Chúng tôi đã thấy ở đó những người khổng lồ (con cháu của
Anaq thuộc hạng người khổng lồ). Quay nhìn lại mình, thật chúng tôi chỉ như những
con châu chấu, và trước mắt họ, chúng tôi chỉ như thế đó".
Và toàn thể cộng đồng
kêu la; họ lên tiếng, và đêm ấy toàn dân la lối khóc lóc. (Họ trách móc Môsê và
Aaron, và nói rằng: "(...) Phải chi chúng tôi chết quách ở trong sa mạc
này!").
Chúa phán cùng Môsê và
Aaron rằng: "Dân bạc ác này kêu trách Ta cho đến bao giờ? Ta đã nghe tiếng
kêu trách của con cái Israel. Ngươi hãy nói với chúng rằng: Chúa phán: Ta hằng
sống, như các ngươi đã nói, Ta đã nghe, nên Ta sẽ làm cho các ngươi như vậy.
Xác chết của các ngươi sẽ nằm trên rừng vắng này. Tất cả các ngươi, tính từ hai
mươi tuổi trở lên, đều đã kêu trách Ta. Các ngươi đã xem thấy đất, trong bốn
mươi ngày, (thì) một năm kể thay cho một ngày; các ngươi mang lấy cái khổ của sự
gian ác các ngươi, và sẽ biết sự thù ghét của Ta: vì Ta đã phán thế nào, thì Ta
sẽ làm cho dân bạc ác này dấy lên chống lại Ta như vậy: nó sẽ hao mòn và chết
trên rừng vắng này". Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 105, 6-7a.
13-14. 21-22. 23
Đáp: Lạy Chúa, xin
nhớ đến chúng con (c. 4a).
Xướng: 1) Chúng con đã
phạm tội cũng như tổ phụ chúng con, chúng con đã làm điều gian ác và ăn ở bất
nhân. Tổ phụ chúng con khi còn ở bên Ai-cập, đã không suy xét những việc lạ
lùng của Chúa. - Đáp.
2) Nhưng họ đã mau
quên công việc của Chúa khi gia ân huệ cho dân Ngài, họ không tin cậy vào định
kế của Ngài. Họ chiều theo dục vọng ở nơi hoang địa, và thử thách Thiên Chúa
trong cõi cô liêu. - Đáp.
3) Họ đã quên Thiên
Chúa là Đấng cứu độ mình, Đấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Đấng đã
làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Đỏ.
- Đáp.
4) Chúa đã nghĩ tới
chuyện tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là Người Chúa chọn, không đứng ra cầu
khẩn với Người, để Người nguôi giận và đừng tiêu diệt họ. - Đáp.
ALLELUIA: 1 Sm 3, 9
Alleluia, alleluia!
- Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự
sống đời đời. - Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 15, 21-28
"Này bà, bà có lòng mạnh tin".
Tin Mừng Chúa Giêsu
Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, ra khỏi đó,
Chúa Giêsu lui về miền Tyrô và Siđon, thì liền có một bà quê ở Canaan từ xứ ấy
đến mà kêu cùng Người rằng: "Lạy Ngài là con Vua Đavít, xin thương xót
tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm".
Nhưng Người không đáp
lại một lời nào. Các môn đệ đến gần Người mà rằng: "Xin Thầy thương để bà ấy
về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi". Người trả lời: "Thầy chỉ
được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel".
Nhưng bà kia đến lạy
Người mà nói: "Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi". Người đáp: "Không
nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó". Bà ấy đáp lại: "Vâng, lạy
Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống".
Bấy giờ, Chúa Giêsu trả
lời cùng bà ấy rằng: "Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy".
Và ngay lúc đó, con gái bà đã được lành. Đó là lời Chúa.
SUY NIỆM : Sống Niềm
Tin
Mahatma Gandhi, người
có công giành độc lập cho Ấn Ðộ bằng con đường bất bạo động, đã có lần tuyên bố:
"Tôi yêu mến Chúa Kitô, nhưng tôi không phục những người Kitô hữu".
Câu nói của con người đã từng lấy giáo lý của Chúa Kitô làm nền tảng cho chủ
trương bất bạo động đáng làm cho chúng ta suy nghĩ.
Giáo lý của Chúa Kitô
thì cao đẹp, nhưng nhiều Kitô hữu làm cho bao nhiêu người xa lánh Giáo Hội, chỉ
vì cuộc sống của họ đi ngược lại với những gì họ tuyên xưng. Người ta thường
nói: "Bà con xa không bằng láng giềng gần". Ðôi khi chúng ta cảm thấy
gần gũi với những người láng giềng hơn là với những người thân thuộc. Trong
liên hệ với Chúa Giêsu cũng thế, có biết bao người chưa từng được nghe nói đến
Chúa Giêsu, có biết bao người không mang danh hiệu Kitô, nhưng lại gần gũi với
Chúa Kitô và sống tinh thần Kitô hơn chính những người Kitô hữu.
Trong Tin Mừng hôm
nay, Chúa Giêsu đề cao lòng tin của người đàn bà xứ Canaan, tức là một người
ngoại giáo. Một trong những điều hẳn sẽ làm chúng ta ngỡ ngàng, đó là trên
Thiên đàng, chúng ta sẽ gặp gỡ những người chúng ta chưa từng quen biết, ngay cả
những người chưa một lần mang danh hiệu Kitô hay đặt chân đến nhà thờ.
Thời Chúa Giêsu, có biết
bao người ngoại giáo có lòng tin sâu sắc hơn cả những người Do thái. Trước hết,
tiên tri Isaia đã từng khiển trách lòng giả dối của người Do thái: "Dân
này thờ Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng họ thì xa Ta". Thời Chúa Giêsu, có
biết bao người bị loại ra khỏi xã hội, bị đặt bên lề Ðền thờ, và có lẽ cũng
không hề thuộc toàn bộ lề luật của Môsê, nhưng lại có lòng sám hối và tin tưởng
sâu xa hơn. Nói với những người chỉ giữ đạo một cách hình thức, Chúa Giêsu đã cảnh
cáo: "Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời;
nhưng là những kẻ thực thi ý Chúa".
Người đàn bà Canaan có
lẽ không hề biết đến lề luật Môsê, nhưng đã sống niềm tin của mình một cách
mãnh liệt. Lòng tin đó được thể hiện qua việc phó thác hoàn toàn vào quyền năng
của Chúa Giêsu. Trong tình thế hầu như tuyệt vọng, bà đã chạy đến với Chúa
Giêsu; sự van nài của bà cho thấy sự kiên nhẫn và lòng tin sắt đá của bà. Sự
khác biệt cơ bản giữa một người có niềm tin và một người không có niềm tin,
không hệ tại ở danh hiệu Kitô hay những thực hành đạo đức, mà chính là lòng
tin. Tin vào sự hiện diện quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc sống, tin vào
tình yêu vô biên của Ngài, tin vào ý nghĩa của cuộc sống, tin vào tình người,
đó là sắc thái chủ yếu của người có niềm tin: chính trong niềm tin đó, con người
gặp gỡ Chúa Giêsu.
Trong một hoàn cảnh mà
cái nhìn của con người có thể cho là tuyệt vọng, người Kitô hữu hơn bao giờ hết
được mời gọi để nêu cao niềm tin của mình. Ðây là thời điểm để họ chứng tỏ bản
sắc đích thực của mình. Trong cuộc sống chỉ có nghi kỵ và hận thù, họ được mời
gọi để đốt lên ngọn đuốc của yêu thương. Trong một xã hội bị gậm nhấm bởi chán
nản tuyệt vọng, họ được mời gọi để mang lại niềm hy vọng. Chỉ khi nào giữ đúng
vai trò đó, người Kitô hữu mới thực sự xứng đáng với danh hiệu của mình.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày
Một Tin Vui’)
Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Tư Tuần 18 TN1,
Năm Lẻ
Bài đọc: Num
13:1-2, 25 -14:1, 26ª-29ª, 34-35; Mt 15:21-28.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải
kiên trì vượt qua gian khổ mới hy vọng được thành công.
Nhiều người thích được
thành công, thích ngồi mơ mộng để dệt đời mình bằng những tương lai huy hoàng rực
rỡ, được trở nên những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử hay ngoài xã hội; nhưng
khi giật mình tỉnh giấc và phải đương đầu với những hy sinh gian khổ, những mơ
ước bị tan biến như bọt biển bị sóng đánh tan tành. Họ quên đi một thực tế là
ai cũng phaỉ trải qua những hy sinh gian khổ trước khi đạt được những kết quả tốt
đẹp.
Các Bài Đọc hôm nay
đưa ra hai thái độ tương phản của nhân loại. Trong Bài Đọc I, con cái Israel
thích thú khi nghe các thám tử tường thuật chuyến đi xem xét tình hình Đất Hứa
miền Canaan; nhưng khi nghe đến binh lính to lớn và thành trì kiên cố của họ
thì họ hết mong Đất Hứa, vì họ sợ phải trả giá bằng gian khổ và chết chóc. Họ bắt
đầu toa rập nhau và gào thét điệp khúc "chúng tôi muốn trở về Ai-cập,"
để kêu trách Thiên Chúa và ông Moses. Trong Phúc Âm, người đàn bà xứ Canaan muốn
xin Chúa Giêsu chữa lành cho con gái bị quỉ ám. Mặc dù bị thử thách nặng nề bởi
các môn đệ và bởi Chúa Giêsu, Bà nhất định vượt qua mọi thử thách để kiên trì
van xin cho tới khi được. Chúa Giêsu phải ngạc nhiên trước cách biểu lộ niềm
tin này, nên đã ban cho Bà điều Bà xin.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Cho tới bao giờ cái cộng đồng hư đốn này cứ tiếp tục lẩm bẩm
kêu trách Ta?
1.1/ Lý do con cái Israel
kêu trách Thiên Chúa: Hai mục đích Thiên
Chúa muốn làm cho con cái Israel: thứ nhất, Ngài muốn giải phóng con cái Israel
khỏi làm nô lệ cho người Ai-cập; thứ hai, Ngài muốn đưa họ vào Đất Hứa mà Ngài
đã hứa với các tổ-phụ của họ.
Để chuẩn bị tinh thần,
Đức Chúa phán với ông Moses: "Ngươi hãy sai người đi do thám đất Canaan, đất
mà Ta sẽ ban cho con cái Israel. Các ngươi sẽ sai đi mỗi chi tộc một người và tất
cả phải là kỳ mục trong dân." Sau bốn mươi ngày do thám đất, họ trở về và
tường thuật những gì mắt thấy tai nghe cho ông Moses và toàn thể dân chúng. Muốn
hiểu chi tiết những gì họ tường thuật, xin đọc Sách Dân Số, chương 13 và 14. Một
cách tổng quát, con cái Israel mắt sáng rỡ khi nghe đến vùng đất tràn đầy sữa
và mật, những chùm nho phải hai người khiêng; nhưng mắt họ tối sầm lại khi nghe
đến binh lính to lớn và thành trì kiên cố. Nỗi lo sợ phải hy sinh gian khổ và
có thể phải chết thắng vượt ước mơ được định cư trong Đất Hứa, nên toàn thể cộng
đồng lớn tiếng kêu la, dân chúng khóc lóc cả đêm ấy. Họ muốn trở về Ai-cập hay ở
lại trong sa mạc để chết cách an toàn!
Nghe những tiếng kêu
la than khóc, Đức Chúa lại phán với ông Moses và ông Aaron:
"Cho tới bao giờ
cái cộng đồng hư đốn này cứ tiếp tục lẩm bẩm kêu trách Ta? Ta đã nghe thấy toàn
những lời cằn nhằn, đám con cái Israel này cứ lẩm bẩm chống Ta."
1.2/ Hậu quả của việc
than trách: Chúa truyền cho ông Moses và ông
Aaron: "Ngươi hãy nói với chúng: Ta thề - sấm của Đức Chúa - Ta sẽ xử với
các ngươi như lời các ngươi kêu thấu tai Ta. Trong sa mạc này, thây các ngươi sẽ
ngã gục: trong các ngươi, tất cả những người đã được kiểm tra đăng ký, từ hai
mươi tuổi trở lên, mà đã cằn nhằn chống Ta, Theo số ngày các ngươi đã đi do
thám đất - bốn mươi ngày - mỗi ngày tính là một năm, các ngươi sẽ phải gánh chịu
tội ác của các ngươi bốn mươi năm, và các ngươi sẽ biết Ta trừng phạt những kẻ
bất tuân như thế nào.
Ta, Đức Chúa, Ta đã
phán; Ta quyết sẽ thi hành như thế cho toàn thể cộng đồng hư đốn này đã cấu kết
với nhau chống lại Ta. Trong sa mạc này chúng sẽ bị tiêu diệt và sẽ chết hết."
Theo những lời này,
con cái Israel sẽ phải lãnh nhận những hậu quả như sau:
(1) Họ phải sống lang
thang trong sa mạc 40 năm, mặc dù từ Biển Đỏ, nơi họ xuất hành khỏi Ai-cập chỉ
mất khoảng ít ngày tới Đất Hứa. 40 ngày dọ thám trở thành bản án 40 năm lưu đày
trong sa mạc; và tất cả những thám tử phản động xúi giục dân làm phản bị giết
chết hết, ngoại trừ ông Caleb và ông Joshua, những người không chống lại Thiên
Chúa và Moses.
(2) Thế hệ của họ (từ
hai mươi tuổi trở lên) sẽ dần dần chết hết trong sa mạc theo như lời họ than
trách; mặc dù ông Moses đã hết lòng cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho họ.
(3) Thế hệ con cháu của
họ sẽ được vào hưởng Đất Hứa vì chưa chống lại Thiên Chúa.
2/ Phúc Âm: "Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ
được vậy."
2.1/ Thái độ kiên trì của
người đàn bà Dân Ngoại: Trong cuộc đời hành
đạo, Chúa Giêsu rất ít ra khỏi lãnh thổ của Palestine. Trình thuật hôm nay là một
ngoại lệ, thánh Matthew tường thuật: "Ra khỏi đó, Đức Giêsu lui về miền
Tyre và Sidon, thì này có một người đàn bà Canaan, ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng:
"Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ
ám khổ sở lắm!"
Người đàn bà Canaan
này phải đương đầu với ít nhất 3 thử thách lớn như sau:
(1) Nạn kỳ thị chủng tộc:
Người Do-thái khinh thường những người Dân Ngoại, họ không muốn có bất cứ liên
hệ gì với Dân Ngoại cả. Bà phải can đảm lắm mới vượt qua được bức tường kỳ thị
chủng tộc này.
(2) Các môn đệ coi Bà
như một gánh nặng cần trút bỏ càng sớm càng tốt: Thấy Chúa Giêsu không đáp lại
một lời, các môn đệ thưa với Ngài: "Xin Thầy bảo Bà ấy về đi, vì Bà ấy cứ
theo sau chúng ta mà xin mãi!" Chúa Giêsu tỏ thái độ cho các môn đệ và cho
cả Bà: "Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel mà
thôi."
(3) So sánh Bà với
chó: Đây có lẽ là một thử thách to lớn nhất về đức tin. Nhiều nhà chú giải có
khuynh hướng làm dịu lại bằng cách đề cập tới chó nhà hay chó con; nhưng điều
chính yếu là con người phải làm chứng cho đức tin cho dù bị xỉ nhục. Hãy nghe lời
Bà đối thoại với Chúa Giêsu:
- Bà ấy đến bái lạy mà
thưa Người rằng: "Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!"
- Người đáp:
"Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con."
- Bà ấy nói:
"Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên
bàn chủ rơi xuống."
2.2/ Sự ngạc nhiên của
Chúa Giêsu: Lời đối đáp của Bà nói lên một sự
thật: mặc dù không được ăn bánh dành cho con cái, nhưng "lũ chó con cũng
được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống." Tuy Chúa Giêsu không trực
tiếp rao giảng cho Dân Ngoại, nhưng Ngài đang huấn luyện các môn đệ để làm việc
đó. Trong Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa, Ngài muốn chọn dân Do-thái trước khi
bành trướng ơn cứu độ đến tất cả Dân Ngoại.
Vì Bà biểu lộ đức tin
cách vững chắc, nhiệt thành, và khôn ngoan; nên Đức Giêsu trả lời Bà: "Này
bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy." Từ giờ đó,
con gái bà được khỏi.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải trải
qua gian khổ trước khi đạt tới vinh quang Nước Trời. Nếu chúng ta cùng chịu
gian khổ với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng thống trị vinh quang với Ngài.
- Chúng ta phải nghe lời
Đức Kitô để đi qua đường hẹp; vì đường rộng rãi thênh thang chỉ dẫn tới diệt
vong. Cuộc đời chúng ta có thể ví như cuộc đời con cái Israel 40 năm trong sa mạc.
Linh mục Anthony
Đinh Minh Tiên, OP
07/08/2019
THỨ TƯ TUẦN 18 TN
Mt 15,21-28
Mt 15,21-28
LỜI CẦU XIN VỚI LÒNG TIN
“Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy.” (Mt 15, 28)
Suy niệm: Thật kỳ lạ, Chúa Giê-su đã
làm rất nhiều phép lạ chữa lành, có khi chẳng cần người ta cầu xin, thế mà trước
lời khẩn cầu chữa lành cho con gái của người đàn bà xứ Canaan, Ngài lại từ chối
đến ba lần. Lần thứ nhất, khi bà kể lể con gái “bị quỷ ám khổ sở lắm,” Chúa
đã làm ngơ dường như là vô cảm. Lần thứ hai, khi các tông đồ cầu bầu cho bà ấy,
Chúa đã trả lời một cách lạnh lùng: “Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc
nhà Ít-ra-en.” Lần thứ ba, khi bà ấy tiếp tục nài van dai dẳng, Chúa
đã buông lời ruồng rẫy cách phũ phàng: “Không nên lấy bánh của con cái
mà ném cho chó con.” Thế nhưng cái kết thật bất ngờ, Ngài lại chấp nhận
chữa lành cho con bà ấy chỉ vì: “Lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao
thì sẽ được vậy.”
Mời Bạn: Cũng như người đàn bà xứ
Canaan, ta không xứng đáng để Chúa ban ơn, cũng chẳng có quyền đòi Ngài làm
phép lạ. Điều ta có thể làm và phải làm, là tuyệt đối tin tưởng vào Chúa, xác
tín tình thương của Ngài, và đặt trọn niềm hy vọng nơi Ngài. Chúng ta được mời
gọi bắt chước gương đức tin của người mẹ này. Bạn nhớ rằng Chúa biết rõ bạn và
người thân của bạn cần gì. Việc của bạn là kiên trì cầu xin cho mình sẵn sàng
vâng theo thánh ý Chúa, và Ngài cũng sẵn sàng ban cho bạn điều mà Ngài biết sẽ
đem lại lợi ích tốt đẹp nhất cho bạn và người thân của bạn.
Sống Lời Chúa: Tôi đón nhận một biến cố,
một hoàn cảnh hay một con người “trái ý” với thái độ sẵn sàng, xem đó như một
cơ hội để Chúa thanh luyện mình.
Cầu nguyện: Lạy
Chúa, xin ban thêm niêm tin cho chúng con, để chúng con vững bước trên con đường
tình yêu, dẫu có lắm chông gai. Amen.
(5 phút Lời Chúa)
Lòng tin của bà lớn thật (7.8.2019 – Thứ tư Tuần 18
Thường niên)
Chính tình thương thêm sức mạnh cho lòng tin, khiến lòng tin trở
nên kiên trì, bất chấp thinh lặng và từ chối. Lòng tin không mất hy vọng ngay
khi có vẻ chẳng còn gì để hy vọng.
Suy niệm:
Bài Tin Mừng hôm nay kể lại chuyện Đức Giêsu chữa bệnh từ xa,
tại Tia và Xiđon, vùng đất của dân ngoại.
Nhưng chuyện chữa bệnh không quan trọng lắm.
Chuyện quan trọng là lòng tin của người phụ nữ Canaan.
Hẳn bà biết ít nhiều về Do Thái giáo, khi gọi Đức Giêsu là Con Vua Đavít.
Con Vua Đavít là tước hiệu người Do Thái dùng để chỉ Đấng Mêsia.
Bà tin Đức Giêsu có thể chữa lành con gái của bà.
Người phụ nữ trực tiếp gặp Đức Giêsu và ngỏ lời nài xin:
“Xin thương xót tôi… con gái tôi bị quỷ hành hạ dữ lắm.”
Người mẹ đau vì con của mình đau.
Bà kêu xin Đức Giêsu thương mình, bằng cách chữa lành cho cô con gái.
Nhưng bà chỉ gặp sự thinh lặng như thể Người không nghe thấy.
Dầu vậy bà vẫn không ngừng đi sau và kêu to.
Tiếng kêu dai dẳng của bà đuổi theo các môn đệ khiến họ bực bội.
Khi không chịu nổi được nữa, họ mới chạy đến với Thầy Giêsu.
“Xin Thầy cho bà ấy đi đi, vì bà ấy cứ kêu sau lưng chúng ta mãi.”
Có vẻ các môn đệ muốn Thầy gặp bà và cho điều bà cần.
Cho đến nay vẫn chưa có cuộc đối thoại giữa bà và Đức Giêsu.
Người phụ nữ vẫn là người độc thoại.
Nhưng Đức Giêsu vẫn chưa muốn nói chuyện với bà.
Người chỉ nói với các môn đệ và xác định sứ vụ của mình:
“Thầy chỉ được sai đến với những chiên lạc nhà Israel thôi.”
Đây là lời từ chối đầu tiên, rõ ràng và dứt khoát.
Nó như đặt một dấu chấm hết cho mọi hy vọng của người mẹ.
Đức Giêsu như muốn nói: Đừng kêu la vô ích.
Chị không phải là chiên của nhà Israel.
Dân ngoại lúc này không phải là sứ vụ của tôi,
vì Cha tôi chưa sai tôi đến.
Lòng tin của người phụ nữ bị thử thách đến tột độ.
Chắc bà bị cám dỗ bỏ đi vì sự thinh lặng lạnh lùng,
và sự từ chối cương quyết của Đức Giêsu.
Nhưng trái tim của một người mẹ không cho phép bà làm thế.
Bà trở nên táo bạo hơn và dám vượt lên trước để gặp Đức Giêsu.
Trong thái độ cung kính bái lạy, bà tiếp tục nài xin:
“Lạy Ngài, xin giúp tôi” (c. 25);
khác với lúc nãy: “Lạy Ngài, xin thương xót tôi” (c. 22).
Cả hai lời nài xin đều nhắm đến người con, dù có vẻ bà chỉ xin cho bà.
Xin giúp tôi bằng cách giúp con tôi khỏi móng vuốt quỷ dữ.
Hạnh phúc của người mẹ gắn liền với hạnh phúc của con,
vì tình yêu nối kết cả hai nên một.
Tuy vậy lời nài xin này của trái tim người mẹ
dường như vẫn chưa đụng được vào trái tim Thầy Giêsu.
Người đưa ra lời từ chối thứ hai
quyết liệt hơn và có thể gây tổn thương nghiêm trọng:
“Không nên lấy bánh dành cho con mà ném cho chó.”
Con ở đây là dân Israel, là người trong nhà, có quyền hành.
Dân ngoại đôi khi được ví với chó nuôi trong nhà.
Hai bên không ở trên cùng một mặt phẳng.
Câu nói này của Đức Giêsu phản ánh cái nhìn của người Do Thái.
Họ tự hào về tính ưu việt của mình
trong tư cách là Dân riêng của Chúa.
Nói chung họ cho rằng chỉ họ mới xứng đáng hưởng ơn cứu độ.
Người phụ nữ không phản đối cái nhìn của Đức Giêsu
Bà không cảm thấy mình bị xúc phạm và giận dữ bỏ đi.
Trái lại, bà đón nhận cái nhìn ấy và tìm thấy một kẽ hở cho ơn Chúa:
“Thưa Ngài đúng thế.
Nhưng chó con cũng được ăn các mảnh vụn rơi xuống từ bàn của chủ.”
Bà chấp nhận mình chỉ là chó con nuôi trong nhà,
không phải là ông chủ đang ngồi tại bàn ăn.
Bà tin rằng dù mình không đủ tư cách
để ngồi dự bàn tiệc cánh chung như những người Do Thái,
bà vẫn có thể được hưởng chút vụn bánh từ bàn ăn rớt xuống.
Bà vẫn giữ niềm hy vọng ngay khi bị từ chối thẳng thừng.
Chính lời từ chối của Đức Giêsu lại mở ra niềm hy vọng.
Đức Giêsu bị ấn tượng bởi lòng tin của bà.
Người kêu lên: “Này bà, lòng tin của bà lớn thật.”
Đức Giêsu từng ngỡ ngàng trước lòng tin của viên bách quản (Mt 8,10-11).
Giờ đây Người đối diện với lòng tin của một người mẹ thương con.
Chính tình thương thêm sức mạnh cho lòng tin,
khiến lòng tin trở nên kiên trì, bất chấp thinh lặng và từ chối.
Lòng tin không mất hy vọng ngay khi có vẻ chẳng còn gì để hy vọng.
Lòng tin mạnh mẽ và khiêm hạ của người mẹ đã chinh phục Đức Giêsu,
và cuối cùng đã chạm được vào trái tim của Người.
Đức Giêsu đã để mình bị cuốn đi, ngỡ ngàng và ngây ngất…
Bây giờ Người mới thực sự nói chuyện với bà: “Này bà…”
Người sẽ làm điều trước đây Người không định làm.
Người sẽ đáp lại lòng tin của bà, lòng ao ước của bà
chỉ bằng một lời nói từ xa cho một cô bé chưa hề gặp mặt:
“Hãy xảy ra cho bà như bà muốn”.
Cô bé đã được chữa lành kể từ lúc đó.
Mẹ cô đã được thương xót và trợ giúp.
Đức Giêsu không cứng nhắc và bó hẹp trong sứ vụ Cha giao.
Người vẫn nghe tiếng kêu của con người và chấp nhận những ngoại lệ.
Ngoại lệ cũng nằm trong Ý Cha.
Ý Cha vẫn mở ra mới mẻ từng ngày đòi ta phải tìm kiếm liên tục.
Ngoại lệ hôm nay sẽ mở đường cho sứ vụ ngày mai:
“Các con hãy đi, hãy làm cho mọi dân tộc thành môn đệ,”
để “nhiều người từ Đông sang Tây sẽ đến và dự tiệc trong Nước Trời.”
Xã hội hôm nay không thiếu những bà mẹ khổ vì con mình bị ám.
Ám vì đủ thứ nghiện ngập do cuộc sống đem lại.
Các bà mẹ thấy mình bất lực, chỉ biết hy vọng vào Chúa.
Nhiều khi có cảm tưởng Chúa không nghe và lạnh lùng trước nỗi đau.
Hãy có lòng tin lớn của người phụ nữ Dân ngoại,
tiếp tục tin, tiếp tục yêu, tiếp tục hy vọng
và biết mình có thể chạm được vào trái tim của Thiên Chúa.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa,
xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải,
để con làm bật rễ khỏi lòng con
những ích kỷ và khép kín.
Xin cho con đức tin can đảm
để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến,
chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.
Xin cho con đức tin sáng suốt
để con thấy được thế giới
mà mắt phàm không thấy,
thấy được Đấng Vô hình,
nhưng rất gần gũi thân
thương,
thấy được Đức Kitô nơi những
người nghèo khổ.
Xin cho con đức tin liều lĩnh,
dám mất tất cả chỉ vì yêu
Chúa và tha nhân,
dám tiến bước trong bóng đêm
chỉ vì mang trong tim một đốm
lửa của Chúa,
dám lội ngược dòng với thế
gian
và khước từ những mời mọc
quyến rũ của nó.
Xin cho con đức tin vui tươi,
hạnh phúc vì biết những gì
đang chờ mình ở cuối đường,
sung sướng vì biết mình được
yêu
ngay giữa những sa mù của cuộc
sống.
Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp
qua những cọ xát đau thuong
của phận người,
để dù bao thăng trầm dâu bể,
con cũng không để tàn lụi niềm
tin
vào Thiên Chúa và vào con
người.
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
7 THÁNG TÁM
Không Gì Có Thể
Tách Chúng Ta
Ra Khỏi Tình Yêu
Thiên Chúa
Thánh Tông Đồ Gia-cô-bê cũng diễn tả tương tự khi ngài dạy các Kitôhữu
thái độ đương đầu các thử thách với niềm vui và kiên nhẫn: “Anh em hãy tự cho
mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết:
đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn. Chớ gì anh em chứng tỏ
lòng kiên nhẫn đó ra bằng những việc hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo, không
thiếu sót điều gì” (Gc 1,2-4).
Cuối cùng, trong Thư gửi các tín hữu Rôma, Thánh Phaolô so sánh những đau
khổ của con người và của vũ trụ với ‘cơn đau sinh nở’ của mọi tạo vật. Ngài nhấn
mạnh rằng đây là ’những tiếng rên siết’ của những ai lãnh nhận Thần Khí như ‘ơn
huệ mở đầu’ nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là
‘cứu chuộc thân xác chúng ta nữa’(Rm 8,22-23).
Rồi, Thánh Phaolô ghi nhận về đau khổ: “Chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm
cho mọi sự đều sinh lợi cho những ai yêu mến Ngài, tức là cho những kẻ được
Ngài kêu gọi theo như ý Ngài định…” (Rm 8,28). Cũng trong văn mạch này, ngài
tuyên bố: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là
gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8,35).
Với cảm nhận sâu xa ấy về tình yêu và sự tốt lành của Thiên Chúa trong Đức
Kitô, Thánh Phaolô kết luận: “Tôi tin chắc rằng: dù sự chết hay sự sống, dù
thiên thần hay ma vương quỉ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh
nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì
tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu,
Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).
Ở đây Thiên Chúa, Cha chúng ta đang yêu thương chúng ta đời đời trong Đức
Kitô. Ngài là người Cha dạy bảo chúng ta trong sự quan phòng yêu thương của
Ngài: “Con hãy kiên trì để cho Ta sửa dạy; Ta đối xử với con như con cái. Thật
vậy, có đứa con nào mà người Cha không sửa dạy?… Ta sửa dạy con vì lợi ích của
con, để con được thông phần vào sự thánh thiện của Ta” (Dt 12,7.10).
- suy tư 366 ngày của
Đức Gioan Phaolô II -
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations
by Pope John Paul II
Lời Chúa Trong Gia Đình
Ngày 07- 8
Ds 13,
1-2.25-14,1.26-29.34-35; Mt 15, 21-28.
Lời suy niệm: “Ra khỏi đó, Đức
Giêsu lại về miền Tia và Xiđon, thì này có một người đàn bà Canaan, ở miền ấy
đi ra, kêu lên rằng: Lạy Ngài là Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con
gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm”
Trong câu chuyện người
đàn bà ngoại giáo đến bái lạy Chúa Giêsu để xin Người chữa lành cho con gái của
bà bị quỷ ám, cho chúng ta thấy những tình huống đức tin bị thử thách. Trước hết
Chúa Giêsu đã không đáp lại lời nào, thứ đến là sự xua đuổi của các môn đệ của
Chúa. Với sự năn nỉ của bà thì được nghe chính Chúa nói với bà một cách phủ
phàng: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lủ chó con.” Nhưng rồi với
thân phận và tình thương đối với người con gái của bà và bà đã cúi xuống thưa
lên cùng Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lủ chó con cũng được ăn những
mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”
Lạy Chúa Giêsu, Chúa
đã khen người đàn bà ngoại giáo ấy: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật, bà muốn
sao thì được vậy.” Xin cho chúng con trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống luôn có
được lòng tin cho mạnh, lòng trông cậy cho vững bền và lòng yêu mến được sốt sắng
để mọi lời cầu xin của chúng con được Chúa chúc phúc.
Mạnh Phương
Gương Thánh Nhân
7 Tháng Tám
Thánh Cajetan
(1480-1547)
Vào năm 1523, Giáo Hội
trong tình trạng tiêu điều. Ðời sống tâm linh cần thiết của giáo dân không được
chăm sóc bởi rất đông các mục tử thiếu học thức và thiếu đạo đức, họ chỉ biết đồng
tiền mà không hoạt động gì cả. Khi các linh mục tốt lành và giáo dân chạy đến các
đấng có quyền để xin giúp đỡ, họ cũng chỉ gặp sự thờ ơ lãnh đạm của các vị chủ
chiên.
Một người Công Giáo tốt
lành phải phản ứng thế nào trước hoàn cảnh này? Tất cả chúng ta đều biết Luther
và một số người khác đã phản ứng bằng cách tách rời khỏi Giáo Hội Công Giáo khi
thỉnh cầu của họ không được lắng nghe.
Thánh Cajetan lại theo
một phương cách khác. Cũng như Luther, khi lưu tâm đến những gì họ được thấy
trong đời sống Giáo Hội, ngài đến Rôma năm 1523 -- không phải để trình lên đức
giáo hoàng hay đấng có quyền nhưng để gia nhập Hội A¨i Hữu Tình Yêu Thiên Chúa,
là một tổ chức nhỏ bé, bán chính thức, tận tụy trong công việc bác ái. Họ chăm
sóc người nghèo, người đau yếu, trẻ mồ côi và các tù nhân. Dần dà họ gây được ảnh
hưởng khắp nước Y¨.
Sau khi chịu chức linh
mục, năm 1518 Cajetan trở về quê nhà ở Vicenza khi mẹ ngài sắp từ trần. Ở đây,
ngài gia nhập Hội Dòng Thánh Giêrôme. Sau khi mẹ chết, ngài dùng tất cả tài sản
để cứu giúp người đau yếu, đồng thời sáng lập một hội dòng tương tự ở Venice, là
nơi ngài cổ võ đời sống tâm linh và chăm sóc người nghèo, người đau yếu không
chỉ bằng lời nói mà còn bằng gương mẫu anh hùng.
Năm 1523, ngài trở về
Rôma, với sự tiếp tay của các bạn thân trong hàng giáo phẩm, ngài quyết định thành
lập một tu hội dựa trên đời sống của các tông đồ, với hy vọng rằng đời sống của
các thánh sẽ khích lệ họ và người khác cố gắng sống một cuộc đời thánh thiện vì
Ðức Giêsu Kitô. Ðể hoàn thành mục đích này, họ nhắm đến đời sống luân lý, học hỏi
Kinh Thánh, rao giảng và chăm sóc mục vụ, giúp đỡ người bệnh tật, và các nền tảng
vững chắc của đời sống mục vụ. Tu hội mới này được gọi là Tu Sĩ Dòng Theatine.
Dĩ nhiên, các linh mục
phóng túng và tham lam chẳng bao giờ đặt chân đến tu hội, nhưng Cajetan vẫn kiên
trì chịu đựng sự chống đối từ các giáo sĩ và giáo dân không muốn cải tổ. Chính
gương mẫu đời sống thánh thiện cũng như lời rao giảng của ngài mà nhiều người đã
hoán cải.
Kiệt quệ vì các khó khăn
trong Giáo Hội và ở quê nhà, Cajetan lâm trọng bệnh. Khi các y sĩ tìm cách khiêng
ngài từ chiếc giường gỗ thô thiển lên chiếc giường nệm êm ấm, Cajetan thều thào,
"Chúa Cứu Thế chết trên thập giá. Hãy để tôi được chết trên tấm gỗ
này." Ngài từ trần ngày 7 tháng Tám 1547.
Ngài được Ðức Giáo Hoàng
Clêmentê phong thánh năm 1671.
Lời Trích
Có lần Thánh Cajetan nói
với các anh em trong dòng, "Chúng ta cố gắng phục vụ Thiên Chúa
qua sự thờ phượng trong hội dòng này; nhưng trong bệnh viện, chúng ta mới có thể
nói là thực sự tìm thấy Ngài."
Trích từ NguoiTinHuu.com
7 Tháng Tám
Con Bọ Cạp Giữa Dòng Sông
Một tín đồ Ấn giáo nọ xuống dòng sông Gange để thanh tẩy
và cầu nguyện...
Ông đang trầm mình giữa dòng sông thì bỗng đâu rác rưởi tấp
lại dày đặc xung quanh ông. Trong đống rác, một con bọ cạp đang chao đảo chới với
giữa dòng nước. Sẵn lòng khoan dung đối với thú vật, người tín đồ Ấn giáo mới
chìa cánh tay ra để cứu vớt con vật. Nhưng cánh tay ông vừa đưa ra đã bị con vật
dùng chiếc vòi độc của nó đốt lấy. Người đàn ông không mất kiên nhẫn, con vật càng
hung hãn, ông càng chịu đựng để nó dùng nọc độc chích liên hồi, miễn là cứu sống
nó thoát khỏi dòng nước đang cuốn trôi.
Có người theo dõi cảnh tượng, mới trách người tín đồ như
sau: "Ông mất giờ vô ích. Nó là con bọ cạp, bản chất của nó chỉ là dùng nọc
độc để chích mà thôi".
Người tín đồ Ấn giáo mới điềm nhiên trả lời: "Bản chất
của con bọ cạp là dùng nọc độc để chích, nhưng bản chất của con người là cứu vớt".
Chúng ta dễ có khuynh
hướng phân biệt xã hội thành hai loại người: xấu và tốt, bạn và thù... Kẻ xấu là
người đáng xa lánh, người thù thì phải oán căm sâu sắc... Chúa Giêsu đã đánh đổ
mọi thứ óc "biệt phái". Những kẻ bị xã hội loại ra bên lề đã được Ngài
biến thành bạn hữu, những kẻ đồng bàn. Ngài đã không nhìn người bằng những nhãn
hiệu có sẵn, mà chỉ bằng hình ảnh cao quý của Thiên Chúa. Trong cái nhìn ấy, hàng
rào giữa bạn và thù, giữa tốt và xấu sẽ được tháo gỡ giữa mọi người. Trong cái
nhìn ấy, tất cả mọi người đều có chung một danh xưng; đó là anh em của nhau...
Trích sách Lẽ Sống







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét