25/05/2014
Chúa Nhật VI Phục Sinh Năm A
(phần I)
Bài Ðọc I: Cv 8, 5-8. 14-17
"Các ngài đặt tay trên
họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, Philipphê đi
xuống một thành thuộc sứ Samaria, rao giảng Ðức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý
đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cũng nghe biết và xem thấy các phép lạ
ngài làm. Quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra.
Nhiều người bất toại và què quặt được chữa lành. Bởi đó cả thành được vui mừng
khôn tả.
Khi các tông đồ ở Giêrusalem nghe
tin Samaria đón nhận lời Thiên Chúa, liền gởi Phêrô và Gioan đến với họ. Khi
đến nơi, hai ngài cầu nguyện cho họ được nhận lãnh Thánh Thần: vì chưa có ai
trong họ được nhận lãnh Thánh Thần, họ mới chỉ được chịu phép rửa nhân danh
Chúa Giêsu. Bấy giờ các ngài đặt tay trên họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 65, 1-3a. 4-5. 6-7a.
16 và 20
Ðáp: Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa! (c. 1)
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Toàn thể đất nước, hãy
reo mừng Thiên Chúa! Hãy ca ngợi vinh quang danh Người; hãy kính dâng Người lời
khen ngợi hiển vinh. Hãy thưa cùng Thiên Chúa: kinh ngạc thay sự nghiệp Chúa! -
Ðáp.
2) Toàn thể đất nước thờ lạy và ca
khen Ngài, ca khen danh thánh của Ngài. Hãy tới và nhìn coi sự nghiệp của Thiên
Chúa, Người thi thố những chuyện kinh ngạc giữa con cái người ta! - Ðáp.
3) Người biến bể khơi thành nơi khô
cạn, người ta đã đi bộ tiến qua sông, bởi đó ta hãy hân hoan trong Chúa! Với
quyền năng, Người thống trị tới muôn đời. - Ðáp.
4) Phàm ai tôn sợ Chúa, hãy đến,
hãy nghe tôi kể lại, Chúa đã làm cho linh hồn tôi những điều trọng đại biết
bao. Chúc tụng Chúa là Ðấng không hất hủi lời tôi nguyện, và không rút lại lòng
nhân hậu đối với tôi. - Ðáp.
Bài Ðọc II: 1 Pr 3, 15-18
"Người đã chết theo thể
xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô
Tông đồ.
Anh em thân mến, anh em hãy tôn thờ
Chúa Kitô trong lòng anh em, hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời thoả mãn cho mọi kẻ
hỏi lý do của niềm hy vọng nơi anh em, nhưng phải làm cách hiền từ, kính cẩn,
hãy có lương tâm ngay chính, để những kẻ lăng mạ đời sống đạo đức của anh em
trong Ðức Kitô, phải hổ thẹn về điều họ gièm pha anh em. Vì nếu Thiên Chúa
muốn, thì thà làm việc thiện mà đau khổ còn hơn là làm điều gian ác. Vì Ðức
Kitô đã chết một lần cho tội lỗi chúng ta, Người là Ðấng công chính thay cho kẻ
bất công, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa; thật ra Người đã chết theo thể
xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! - Chúa phán:
"Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người
ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". - Alleluia.
Phúc Âm: Ga 14, 15-21
"Thầy sẽ xin Cha và Người
sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các
môn đệ rằng: "Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy. Và Thầy
sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với
các con luôn mãi. Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận, vì thế
gian không thấy và cũng chẳng biết được Ngài; còn các con, các con biết Ngài,
vì Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con. Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi:
Thầy sẽ đến với các con. Một ít nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần các
con, các con thấy Thầy vì Thầy sống và các con cũng sẽ sống. Trong ngày đó, các
con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở
trong các con. Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là
kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ
tỏ mình ra cho nó".
Ðó là lời Chúa.
Suy Niệm: Hội Thánh Có
Thánh Thần Ở Luôn
Xét về nhiều mặt, Chúa nhật
hôm nay muốn tiếp nối tư tưởng của Chúa nhật trước. Bài sách Công vụ các Tông
đồ Chúa nhật trước nói đến việc thiết lập các Phó tế, trong số đó có Philip.
Hôm nay cũng sách ấy cho ta thấy hoạt động của ông. Chúa nhật trước, thư thánh
Phêrô phân biệt kẻ tin và những người không tin. Vừa giờ chúng ta lại nghe
thánh nhân khuyên nhủ những kẻ tin phải sống thế nào với những người không tin.
Sau cùng bài Tin Mừng hôm nay rõ rệt tiếp theo bài Tin Mừng Chúa nhật trước và
nói đến những việc Chúa Yêsu làm cho chúng ta nơi Cha Người. Vậy nếu quan niệm
duy nhất đã có thể nối kết các tư tưởng của Chúa nhật trước, thì hôm nay đào
sâu thêm quan niệm ấy, chúng ta sẽ thấy cả ba bài Kinh Thánh đều quy về Chúa
Thánh Thần. Nói cách khác, Chúa nhật trước đã để chúng ta thấy Chúa Yêsu chịu
chết và sống lại là Ðá sống xây nên Hội Thánh, thì hôm nay chúng ta sẽ được chứng
kiến Hội Thánh mạnh mẽ như thế nào.
A. Hội Thánh Ðầy Sức Mạnh Thánh
Thần
Những chương đầu trong sách Công vụ
các Tông đồ đã cho chúng ta thấy sức mạnh của Hội Thánh ở Yêrusalem. Số các tín
hữu gia tăng, uy tín các Tông đồ sâu rộng, cộng đoàn được toàn dân mến phục.
Sức sống mạnh mẽ ấy tất nhiên muốn làm nổ tung những giới hạn chật hẹp. Nhưng
xác thịt con người nhiều khi nặng nề, chậm chạp. Mối căng thẳng rõ rệt đầu tiên
đã hiện ra nơi tương quan giữa Dothái và Hylạp. Các Tông đồ đã sáng suốt đặt tay
trên bảy người Hylạp nổi tiếng, đầy Thánh Thần và khôn ngoan. Họ tỏ ra thật
xứng đáng. Stêphanô khiến cả thành chấn động vì lời lẽ và thái độ tuyên xưng
đức tin của ông. Philip lợi dụng ngay hoàn cảnh phải phân tán vì bắt bớ để đi
truyền giáo ở Samari.
Chúng ta để ý: cả hai người đều đã
bắt đầu hoạt động nơi lương dân, rao giảng Tin Mừng cứu độ cho những người
không phải là Dothái. Công việc của họ không phải chỉ là phục vụ bàn ăn, như
thoạt đầu chúng ta tưởng. Nói đúng hơn thấy họ hoạt động như vậy, chúng ta phải
tự hỏi công thức "phục vụ bàn ăn"
nghĩa là gì? Cả Stêphanô và Philip đều rao giảng Tin Mừng. Philip còn làm phép
Rửa nữa. Thành ra khi Phêrô nói: "Còn
(các Tông đồ) chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa",
chúng ta phải hiểu như thế nào? Thiết tưởng thật là sai lầm khi phân biệt phận
vụ các Tông đồ là cầu nguyện và giảng Lời Chúa, còn trách nhiệm các "Phó tế" là phục vụ bàn ăn. Chúng
ta đã có lần thấy không được hạn chế sinh hoạt Giáo hội trong phụng vụ. Thế thì
cũng không nên giới hạn quá mức phận vụ của các Thừa tác viên. Rõ ràng các Phó
tế mới cũng đã giảng Tin Mừng, làm phép Rửa và làm nhiều phép lạ nữa. Hoạt động
của họ có khác với công việc của các Tông đồ bao nhiêu? Hay là chúng ta chỉ nên
hiểu kiểu nói "chuyên lo cầu nguyện
và phục vụ Lời Chúa" áp dụng cho các Tông đồ chỉ có nghĩa là quyền chủ
trì các cộng đồng phụng vụ và tổ chức việc rao giảng Tin Mừng, thuộc về các
ngài. Công việc của những người khác cần đến các ngài một cách nào đó mới được
hoàn toàn. Dường như chính bài sách Công vụ hôm nay khiến ta hiểu như vậy. Vì
cho dù Philip đã truyền giáo ở Samari y như một Tông đồ, tín hữu ở đó phải đợi
Phêrô và Yoan đến mới được lãnh nhận Thánh Thần.
Suy nghĩ trên đây không vô ích cho
đời sống hiện nay của chúng ta. Nhiều khi chúng ta quá tách rời các phận vụ giáo
dân dửng dưng với công việc của Linh mục và Linh mục cũng hầu như không muốn biết
tới công việc của giáo dân. Chúng ta quên mọi người trong Giáo hội đều đã lãnh
nhận Thánh Thần; và ơn Thánh Thần phong phú mạnh mẽ hơn chúng ta tưởng. Chuyện
Stêphanô và Philip cho thấy rõ: Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ nơi những con
người gốc Hylạp ấy. Họ đã làm việc hầu như các Tông đồ. Chỉ có điều họ đã lựa
chọn môi trường dân ngoại, hợp hơn với họ và họ vẫn công nhận quyền các Tông
đồ. Nói đúng hơn, Thánh Thần đã dùng họ để đi vào những lãnh vực mới, khiến
việc truyền giáo cho lương dân đã khởi sự với chính những người gốc lương dân.
Và giáo đoàn Yêrusalem, giáo đoàn mẹ đã mau mắn đến tiếp sức cho các cộng đoàn
mới. Các Tông đồ đã gửi ngay Phêrô và Yoan tới, Hai người đã ban Thánh Thần,
hoàn tất công việc của Philip, khiến một lần nữa, chúng ta lại thấy chính Thánh
Thần là dây bác ái xây dựng và bảo toàn sự duy nhất trong Giáo hội. Chính điều
đó đem lại hân hoan vui mừng không những cho Samari mà cả Yêrusalem, tức là cho
toàn thể Hội Thánh.
Nhưng đời sống không luôn luôn như
vậy. Hội Thánh đã bị bắt bớ ở Yêrusalem trong câu chuyện Stêphanô. Hội Thánh
còn có thể gặp khó khăn ở mọi thời. Khi ấy Thánh Thần sẽ làm việc thế nào trong
Hội Thánh? Chúng ta hãy đọc đoạn thư Phêrô.
B. Hội Thánh Ðược Tái Sinh Về
Thần Khí
Nhìn thấy Giáo hội đang bị bắt bớ ở
nhiều nơi, vị Tông đồ trưởng đã không ngần ngại căn dặn tín hữu những thái độ
cụ thể. Ngài nói: "Anh em hãy hiểu
biết Ðức Kitô là Chúa nơi lòng anh em". Ðó là thái độ căn bản. Hơn bao
giờ hết, trong những hoàn cảnh khó khăn, tín hữu phải tôn vinh Ðức Kitô ở trong
lòng. Phải hiểu biết Người là Chúa, tức là phải nhận thức Người đã sống lại.
Không nắm vững niềm tin đó, đức tin của chúng ta sẽ trở nên vô ích. Ngược lại
khi tin vững vàng Người sống lại, thì như trước đây thư Phêrô đã nói, người ta
tất không bị hổ thẹn (2,6).
Và một khi đã tin vững vàng, bức
thư nói tiếp: "Anh em hãy luôn sẵn
sàng đáp lời với mọi người hỏi lẽ anh em... với một lòng hiền từ, kính nể".
Phêrô biết, và Chúa Yêsu cũng đã báo trước, "có ngày người ta lôi chúng con đến pháp đình". Tín hữu sẽ bị
hỏi. Phải trả lời, vì đó là chuyện có hệ đến "mối hy vọng có nơi anh em", tức là Tin Mừng cứu độ chúng ta
mang ở trong mình. Nhưng phải ăn nói hiền từ, kính nể. Lời rao giảng Tin Mừng
không được tựa vào sự khôn ngoan thế gian và sức mạnh tu từ của loài người.
"Lúc đó, không phải chúng con nói,
nhưng là Thần trí nói cho chúng con". Lời ấy mang đầy sức mạnh của
Thiên Chúa; nhưng Thiên Chúa hành động mạnh mẽ mà lại dịu dàng (fortiter et
suaviter). Chính việc nắm bắt chân lý khiến lời nói khoan thai. Vậy nếu "chúng ta đã hiểu biết Ðức Kitô là Chúa ở
trong lòng chúng ta rồi", thì không có lý nào lời nói của chúng ta lại
không hiền từ kính nể.
Ðàng khác, như vậy không phải chỉ
là suy diễn mà còn là bắt chước. Tín hữu luôn phải dõi theo vết chân Chúa Cứu
Thế. Thế mà Người đã đi qua đau khổ làm sao? Phêrô không cần dài dòng nhắc lại
nữa. Ngài chỉ tóm tắt trong một câu rất súc tích: "Ngài, Ðức Yêsu Kitô
Chúa chúng ta, đã bị giết chết về xác thịt, nhưng đã được tái sinh về Thần khí.
Ước gì khi Giáo hội bị bắt bớ, lúc chúng ta phải đau khổ, bề ngoài xác thịt có
như chết thì tinh thần cũng hãy sống động. Ðúng hơn nữa, ước gì Thần khí của
Chúa tỏ ra mạnh mẽ nơi thân xác yếu hèn của chúng ta!
Như vậy, dù trong hoàn cảnh nào,
thuận cũng như nghịch, sức mạnh của Hội Thánh và của chúng ta vẫn là Thánh
Thần. Ðiều cần duy nhất là phải có Thánh Thần. Thế mà đó lại là ơn Chúa Yêsu
hằng ban cho chúng ta, theo bài Tin Mừng hôm nay.
C. Hội Thánh Có Thánh Thần Ở Luôn
Nói với môn đệ trong bữa Tiệc ly,
Chúa Yêsu tuyên bố: Người sẽ ra đi, nhưng không để họ mồ côi. Người sẽ trở lại
với họ, không phải trong thân xác như hiện nay, nhưng "sẽ tỏ mình ra cho họ". Thế gian sẽ
không còn thấy Người, nhưng họ thấy vì Người vẫn sống.
Chắc chắn Lời Chúa chỉ sáng sủa, dễ
hiểu sau khi có ánh sáng Phục sinh. Lúc đó môn đệ mới rõ: Ðức Yêsu đã đi thật;
thế gian không còn thấy Người nữa vì Người đã chết theo xác thịt; nhưng Người đã
trở lại với môn đệ, trong những lần tỏ mình ra. Và nhất là nhận được Thần Khí
Người thổi cho, họ cảm thấy gần Người hơn bao giờ hết. Rõ ràng Người vẫn sống
và họ cũng sống. Họ sống ở trong Người và Người sống ở trong họ. Ý thức ấy minh
chứng được vì "do tay các Tông đồ,
lắm dấu lạ điềm thiêng đã xảy ra trong dân", từ sau ngày Thánh Thần
hiện xuống. Thế nên câu Chúa nói: "Không
để họ mồ côi" đã được hiểu như là Thần trí của Người đã được ban cho
họ để lưu lại nơi họ và ở trong họ (c.15-16).
Như vậy, họ cũng ý thức hơn về mệnh
lệnh Chúa truyền như là điều kiện để không bị bỏ mồ côi. Ðó là giữ Lời Người.
Chắc chắn Hội Thánh lúc ban đầu đã
chuyên cần với việc này. Các tín hữu kiên trì với giáo huấn của các Tông đồ.
Các vị này chuyên lo phục vụ Lời Chúa. Chính nhờ nhiệt tình như vậy mà đức tin
tăng trưởng, Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ, cả thành đều vui mừng và có ai bị
bắt bớ thì cũng hân hoan vì đã thấy mình đáng được chịu sỉ nhục vì Danh Người.
Ðời sống của Hội Thánh luôn luôn
như vậy. Lúc thuận cũng như lúc nghịch, Hội Thánh chỉ mạnh mẽ nhờ Thánh Thần.
Chính Người là sức mạnh của Hội Thánh vì là Thần trí của Ðức Kitô đã được ban
cho Hội Thánh sau khi Chúa Cứu Thế đã về cùng Cha qua mầu nhiệm Tử nạn Phục
sinh. Thánh Thần hoạt động nơi mọi thành phần trong Dân Chúa, không phân biệt
Dothái hay Hylạp, Tông đồ hay Phó tế. Người phân phối phận vụ nhưng đồng thời
hằng xây dựng, thắt chặt tình liên đới để xứ mẹ xứ con cũng chỉ là một Hội
Thánh. Chúng ta cầu xin Người đến trong chúng ta và trong các giáo đoàn của chúng
ta. Thật ra, Người vẫn đến vì có bao giờ Ðức Kitô bỏ chúng ta mồ côi. Mỗi lần
Giáo Hội cử hành Thánh lễ, mầu nhiệm Vượt qua của Chúa lại được tái hiện. Mầu
nhiệm Chúa về cùng Cha ban Thánh Thần xuống lại được cử hành. Tất cả tùy ở
chúng ta và cộng đoàn chúng ta có đón nhận và để Thánh Thần hoạt động nơi mình
và qua mình hay không?
Ước gì Thánh lễ này ban cho chúng
ta được đầy Thánh Thần. Và cũng ước gì lãnh nhận ơn Thánh Thần rồi, mỗi người
sẽ như Stêphanô và Philip, tỏ ra hăng say trong môi trường của mình, thi hành
sứ mệnh Tông đồ, làm cho nhiều người tin Ðức Yêsu là Chúa để xã hội thêm hân
hoan trong tình liên đới nhiệt thành xây dựng hạnh phúc chung mỗi ngày mỗi lan
rộng. Có như vậy mới có Mùa Phục sinh trong đời sống chúng ta và mới đáng
ngưỡng vọng mầu nhiệm Chúa lên trời và ban Thánh Thần xuống, những mầu nhiệm mà
chúng ta sẽ kính nhớ cách đặc biệt trong các Chúa nhật tới.
(Trích dẫn từ tập sách Giải
Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô
Nguyễn Sơn Lâm)
Lời Chúa Mỗi Ngày
Chủ Nhật VI Phục Sinh, Năm A
Bài đọc: Acts 8:5-8,
14-17; 1 Pet 3:15-18; Jn 14:15-21.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thánh
Thần sẽ ở với anh em luôn mãi.
Để
giúp con người thông phần vào sống cuộc thần linh, Thiên Chúa ban tặng con người
Thánh Thần của Ngài. Nhưng để con người có thể ý thức được sự hiện diện của
Thánh Thần này, và ngôi vị của Ngài trong cung lòng Chúa Ba Ngôi, Thiên Chúa
trước tiên đã làm con người trở nên sống động qua điều linh thiêng nhất trong
việc tạo dựng: hơi thở của sự hô hấp (Gen 2:7) và sức mạnh của gió (Exo
14:21-22; 15:8-10). Bằng hai yếu tố này, con người dần ý thức được hành động của
Thánh Thần của Thiên Chúa trong chính họ và trong muôn người. Sau khi đã dần được
linh thiêng hóa, con người ý thức rằng Thánh Thần của Thiên Chúa làm việc trong
thế giới không gì khác hơn là chính Thánh Thần, hành động không chỉ qua gió hay
hơi thở, nhưng qua các bí-tích khác nhau của Giáo Hội, để mang đời sống thần
linh mới cho con người và cho một dân mới.
Chủ
Nhật sau cùng của Mùa Phục Sinh chuẩn bị cho việc Hiện Xuống của Chúa Thánh Thần.
Các bài đọc hôm nay nhằm nói lên những đặc tính riêng của Chúa Thánh Thần và
giúp đỡ chúng ta học hỏi về Ngài. Trong bài đọc I, tác giả Sách CVTĐ phân biệt
hai Phép Rửa: Phép Rửa bởi nước của Gioan để được ơn tha tội, và Phép Rửa bởi
Thánh Thần bằng việc cầu nguyện và đặt tay để được các ơn thánh giúp thánh hóa
các tín hữu. Trong bài đọc II, tác giả nêu lên hai đặc tính của Thánh Thần:
Ngài là nguyên ủy của sự thật và sự sống. Chính Thánh Thần đã làm cho Chúa
Giêsu sống lại từ cõi chết. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu mặc khải cho các môn đệ
nhiều điều về Thánh Thần: Ngài là sự thật, Ngài sẽ ở với con người luôn mãi.
Ngài là một Paracletos khác bên cạnh Chúa Giêsu để bênh vực cho con người. Ai
có Ngài, thì cũng có Chúa Giêsu và Chúa Cha.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/
Bài đọc I:
Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.
1.1/
Phép Rửa bởi Nước để được ơn tha tội: Người Do-thái chỉ biết tới Phép Rửa bởi nước được
làm bởi ông Gioan Tẩy Giả để được tha tội. Chúng ta có thể thấy rõ điều này
trong giáo hội sơ khai được tường thuật bởi tác giả sách CVTĐ như sau: “Trong
khi ông Apollo ở Côrintô thì ông Phaolô đi qua miền thượng du đến Ephesô. Ông
Phaolô gặp một số môn đệ và hỏi họ: "Khi tin theo, anh em đã nhận được
Thánh Thần chưa?" Họ trả lời: "Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi
cũng chưa hề được nghe nói." Ông hỏi: "Vậy anh em đã được chịu phép rửa
nào?" Họ đáp: "Phép rửa của ông Gioan." Ông Phaolô nói:
"Ông Gioan đã làm một phép rửa tỏ lòng sám hối, và ông bảo dân tin vào Đấng
đến sau ông, tức là Đức Giêsu." Nghe nói thế, họ chịu phép rửa nhân danh
Chúa Giêsu. Và khi ông Phaolô đặt tay trên họ, thì Thánh Thần ngự xuống trên họ,
họ nói tiếng lạ và nói tiên tri. Cả nhóm có chừng mười hai người.” (Acts
19:1-7).
1.2/
Phép Rửa bởi Thánh Thần để thánh hóa con người: Để hiểu Phép Rửa bởi Thánh Thần,
chúng ta cần trở về với trình thuật của Matthew tường thuật biến cố Chúa Giêsu
chịu Phép Rửa tại sông Jordan: “Bấy giờ, Đức Giêsu từ miền Galilee đến sông
Jordan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng ông một mực can
Người và nói: "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến
với tôi!" Nhưng Đức Giêsu trả lời: "Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta
nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính." Bấy giờ ông Gioan mới chiều
theo ý Người. Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng
trời mở ra. Người thấy Thánh Thần Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự
trên Người. Và có tiếng từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài
lòng về Người" (Mt 3:13-17). Chúa Giêsu không cần chịu Phép Rửa bởi nước để
được tha tội, vì Ngài chẳng có tội gì để được tha; nhưng Ngài muốn làm gương
cho các tín hữu, và muốn thánh hóa nước sông Jordan và tất cả mọi nước mà Giáo
Hội sẽ dùng để rửa tội sau này.
Tin
Mừng Nhất Lãm đều bắt đầu sứ vụ công khai rao giảng của Chúa Giêsu sau biến cố
Ngài chịu Phép Rửa tại sông Jordan và biến cố Ngài được Thánh thần mang vào
trong sa mạc để chịu cám dỗ. Lucas bắt đầu sứ vụ rao giảng của Chúa Giêsu tại
Nazareth, khi Ngài vào trong hội đường và đọc những lời tiên tri của Isaiah:
“Thánh Thần của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn
phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan
nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân,
công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng
ta; Người sai tôi đi yên ủi mọi kẻ khóc than” (Isa 61:1-2). Vì thế, việc xức dầu
tấn phong của Chúa Thánh Thần và sứ vụ công khai rao giảng của Chúa Giêsu liên
quan mật thiết với nhau. Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Đấng Thiên Sai: tha tội,
chữa lành, phóng thích, và thánh hóa con người.
Theo
trình thuật CVTĐ hôm nay, khi “Các Tông Đồ ở Jerusalem nghe biết dân miền
Samaria đã đón nhận lời Thiên Chúa, thì cử ông Phêrô và ông Gioan đến với họ.
Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần. Vì Thánh Thần
chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa
Giêsu. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.” Giáo Hội vẫn
theo truyền thống này khi ban bí-tích Thêm Sức cho các tín hữu bằng việc xức dầu
tấn phong, cầu nguyện, và đặt tay. Tất cả những dấu chỉ này muốn nói người tín
hữu đã nhận được Chúa Thánh Thần và tất cả các quà tặng của Ngài, để bắt đầu cuộc
sống thần linh và chu toàn sứ vụ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Đức Kitô.
2/
Bài đọc II:
Nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh.
2.1/
Thánh Thần là yếu tố làm cho con người được sống: Theo truyền thống
Do-thái, họ chỉ có một chữ “ruah” để chỉ chung Thánh Thần, gió và hơi thở.
Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa “thổi hơi” vào lỗ mũi con người, và họ trở
thành một sinh vật. Cũng vậy, khi Thiên Chúa rút hơi thở ra là họ trở về cát bụi
(Psa 103:29-30; Eze 37). Vì thế, Thần Khí của Thiên Chúa là yếu tố làm cho muôn
vật được sống, con người không phải là chủ nhân của sự sống.
Đức
Kitô khi mang trong mình thân xác con người cũng phải chịu chết: “Chính Đức
Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi - Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương
- hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.” Tin Mừng Gioan diễn tả giây phút từ
giã cuộc đời của Chúa Giêsu như sau: “Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy
giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Đức
Giê-su nói: "Thế là đã hoàn tất!" Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần
Khí” (Jn 19:29-30).
Tuy
nhiên, “thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục
sinh.” Thánh Thần của Thiên Chúa lại tiếp tục đến với Ngài và làm cho Ngài sống
dậy từ cõi chết. Mọi tín hữu trung thành theo Đức Kitô cũng được phục sinh như
Ngài. Điều này cũng đã được mô tả chi tiết trong thị kiến “Ruộng Xương Khô” của
Ezekiel 37.
2.2/
Thánh Thần giúp con người sống ngay thẳng theo sự thật của Đức Kitô: Thánh Thần là
chính sự thật, Ngài giúp con người nhận ra sự thật và hướng dẫn họ tới sự thật
toàn vẹn. Trong trình thuật hôm nay, tác giả Thư Phêrô I diễn tả tiến trình biết
và sống theo sự thật như sau:
(1)
Phải nhìn nhận sự thật: “Hãy
tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em.” Sự thật bắt đầu với Đức Kitô.
Chính Đức Kitô đã mặc khải sự thật về Thiên Chúa cho con người. Sự thật này đã
được ghi chép lại rõ ràng trong Kinh Thánh. Người môn đệ phải nhìn nhận Đức
Kitô là sự thật và học hỏi tất cả những lời của Ngài dưới sự chỉ dẫn của Thánh
Thần.
(2)
Làm chứng cho sự thật: “Hãy
luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.
Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng.” Người Kitô hữu làm chứng
cho sự thật bằng cuộc sống vui tươi, chân thành và bác ái.
(3)
Kiên trì sống theo sự thật: “Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì
anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Kitô, thì chính họ phải xấu hổ vì những điều họ
vu khống, bởi lẽ thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của
Thiên Chúa, còn hơn là vì làm điều ác.” Người Kitô hữu được trang bị để kiên
trì làm việc lành và chịu đau khổ bằng những ân huệ được ban tặng bởi Chúa
Thánh Thần.
3/
Phúc Âm:
Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.
3.1/
Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận: Danh xưng
“Paracletos” rất khó dịch sang tiếng Việt-nam. Theo nghĩa đen, có nghĩa là người
được gọi đến để trợ giúp trong khi cần: có thể là Trạng Sư để bênh vực trước
tòa án, có thể là người an ủi khi sầu khổ, có thể là Cố Vấn khi phải đương đầu
với các vấn nạn khó khăn, có thể là người động viên tinh thần để giúp cho khỏi
bị chán nản. Để biết ý nghĩa chính xác, chúng ta cần xem xét vai trò của Chúa
Giêsu đối với các môn đệ, vì Ngài cũng là một “Paracletos.” Chúa Giêsu là Thầy,
là Chúa, là bạn hữu, là Mục Tử Tốt Lành, là người an ủi, là người khích lệ, người
bảo vệ... Có lẽ để yên theo tiếng Hy-lạp là hợp lý nhất. Thánh Thần sẽ do Chúa
Cha ban theo lời cầu xin của Đức Kitô, và Ngài sẽ ở với các tín hữu luôn mãi.
Triều đại chúng ta đang sống là triều đại của Ngài. Chúng ta cần ý thức sự hiện
diện của Ngài trong cuộc sống. Điều kiện để được Chúa Giêsu xin Chúa Cha ban
Thánh Thần là phải giữ các giới răn của Chúa Giêsu. Thánh Thần là sự thật, thế
gian không thể đón nhận, vì thế gian không biết sự thật. Các môn đệ biết Người,
vì các môn đệ biết sự thật đã được mặc khải bởi Chúa Giêsu.
3.2/
Anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong
anh em: Chúa
Giêsu tuy không còn ở ở với các môn đệ bằng thân xác; nhưng Ngài ở với các môn
đệ bằng sự kết hiệp với Thánh Thần. Nơi nào có Thánh Thần thì cũng có Chúa Cha
và Chúa Giêsu. Thánh Thần là sự sống, Ngài đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ
cõi chết, và Ngài ban tặng sự sống thần linh cho các môn đệ qua các bí-tích và
những hồng ân của Chúa Thánh Thần.
Thánh
thần là tình yêu: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến
Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người
ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy." Tình yêu Chúa Giêsu đề cập đến ở đâu
không phải là tình yêu do cảm giác hay cảm xúc; nhưng tình yêu phải được biểu lộ
cụ thể qua sự vâng lời là giữ các giới răn của Ngài. Tình yêu thực sự đòi phải
luôn làm lành, sẵn sàng hy sinh chịu đau khổ, và kiên trì làm như thế trọn đời.
Điều này chắc chắn sẽ khó đối với sức con người, nhưng có thể làm dưới sự hướng
dẫn và trợ giúp của Thánh Thần.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
-
Chúng ta hãy luôn ý thức để nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc
sống. Ngài là nguyên ủy của sự sống: thể chất, trí tuệ, cũng như thần linh.
-
Ngài là sự thật và sẽ hướng dẫn chúng ta đến toàn sự thật. Ngài là tình yêu
liên kết chúng ta với Chúa Cha, Chúa Con, và với nhau. Ngài là Đấng thánh hóa
làm chúng ta càng ngày càng trở nên giống Thiên Chúa.
-
Thân xác chúng ta là Đền Thờ của Thánh Thần, những ai sống theo lối sống của thế
gian và xác thịt là đi ngược lại với lối sống của Thánh Thần. Ngài sẽ không ở
trong những ai có một lối sống như thế.
Lm.Anthony ĐINH MINH TIÊN, OP.
25/05/14 CHÚA NHẬT TUẦN 6 PS – A
Ga 14,15-21
Ga 14,15-21
Suy niệm: Lời trăng trối của Chúa Giê-su trước khi bước
vào cuộc khổ nạn là lời mời gọi yêu thương: “Ai
yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy.” Cũng thế, sau khi sống lại Chúa Giê-su đã hỏi
Phê-rô ba lần “Có
yêu mến Thầy không?” rồi
mới trao cho ông sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Chúa (x. Ga 21,15-17). Chúa
đòi hỏi Phê-rô một tình yêu trọn vẹn và ở mức cao nhất: “yêu mến Thầy hơn các anh em
này”. Như thế chắc chắn rằng điều kiện tiên quyết để làm môn đệ của
Chúa, để trở thành “anh em, chị em và là mẹ” của Chúa là yêu mến Thầy. Và đã
yêu mến Thầy thì cũng “giữ
lời của Thầy”, “tuân giữ các điều răn của Thầy.”
Mời Bạn: Là
môn đệ của Đức Ki-tô, chúng ta có thực sự là “kẻ yêu mến Thầy” bằng việc giữ
các điều răn của Ngài không? Lời Chúa đã trở thành tiêu chí hướng dẫn những lựa
chọn, quyết định của chúng ta trước những vấn đề của cuộc sống chưa? Muốn vậy,
chúng ta hãy thường xuyên đọc, lắng nghe và suy gẫm Lời Chúa mỗi ngày.
Chia sẻ: Nếu
đức tin không có việc làm là đức tin chết, thì lòng mến không “giữ lời” Chúa
cũng là lòng mến héo khô. Bạn nghĩ gì về câu nói này?
Sống Lời Chúa: Gia
đình tôi, và riêng cá nhân tôi quyết trung thành với việc cầu nguyện và suy
niệm Lời Chúa hằng ngày, đồng thời quyết tâm thực hành Lời Chúa bằng việc bác ái
cụ thể.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, xin ban sức mạnh thúc đẩy chúng con mau mắn thực
thi Lời Chúa để nhờ đó mỗi ngày chúng con càng thêm lòng yêu mến Chúa và thương
yêu anh em hơn.
Anh
em cũng sẽ sống (25.5.2014 – Chúa nhật 6 Phục sinh năm A)
Suy
Niệm
Marina
Picasso là cháu của họa sĩ nổi tiếng Pablo Picasso.
Từ năm 73-75, bà phải chịu nhiều cái tang lớn:
ông nội mất, anh ruột tự tử, cha đột ngột qua đời.
Ðây thật là những mất mát không sao bù đắp,
dù bà năm trong tay một gia sản khổng lồ.
Năm 1990, bà nhận các em bé Việt Nam làm con nuôi,
và giúp cho các trẻ mồ côi được có nơi ăn học.
Từ lúc ấy, bà thấy một sự thay đổi nơi nội tâm:
“Nhờ giúp đỡ con em của nước này
mà tôi đã tìm lại được chính mình.
Giờ đây tôi cảm thấy mình như sống lại,
và tôi muốn phân phát sự sống đó cho các em.”
Từ năm 73-75, bà phải chịu nhiều cái tang lớn:
ông nội mất, anh ruột tự tử, cha đột ngột qua đời.
Ðây thật là những mất mát không sao bù đắp,
dù bà năm trong tay một gia sản khổng lồ.
Năm 1990, bà nhận các em bé Việt Nam làm con nuôi,
và giúp cho các trẻ mồ côi được có nơi ăn học.
Từ lúc ấy, bà thấy một sự thay đổi nơi nội tâm:
“Nhờ giúp đỡ con em của nước này
mà tôi đã tìm lại được chính mình.
Giờ đây tôi cảm thấy mình như sống lại,
và tôi muốn phân phát sự sống đó cho các em.”
Hẳn
có những Kitô hữu đã trải qua kinh nghiệm của Marina,
kinh nghiệm thấy mình được sống lại
nhờ biết ra khỏi nỗi đau của mình
để cúi xuống trên nỗi đau của người khác.
Kinh nghiệm tìm lại được chính mình trong bình an,
khi không còn bận tâm lo cho mình nữa,
kinh nghiệm thấy sự sống được nhân lên gấp bội
khi được đem chia sẻ tận tình.
kinh nghiệm thấy mình được sống lại
nhờ biết ra khỏi nỗi đau của mình
để cúi xuống trên nỗi đau của người khác.
Kinh nghiệm tìm lại được chính mình trong bình an,
khi không còn bận tâm lo cho mình nữa,
kinh nghiệm thấy sự sống được nhân lên gấp bội
khi được đem chia sẻ tận tình.
Kitô
giáo là tôn giáo của Ðấng đã sống lại,
Ðấng đang sống sự sống tràn trề của Thiên Chúa.
Ðức Giêsu phục sinh không chỉ hiện ra một đôi lần,
Ngài muốn ở mãi bên chúng ta cho đến tận thế.
Một sự hiện diện hai chiều, thâm sâu và mới mẻ:
“Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (c.20)
Một sự hiện diện đem lại sức sống dồi dào:
“Vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống” (c.19).
Kitô hữu tự bản chất là người đã được phục sinh,
nhờ thông hiệp với Ðấng đang sống là Ðức Kitô.
“Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi,
mà là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Ðấng đang sống sự sống tràn trề của Thiên Chúa.
Ðức Giêsu phục sinh không chỉ hiện ra một đôi lần,
Ngài muốn ở mãi bên chúng ta cho đến tận thế.
Một sự hiện diện hai chiều, thâm sâu và mới mẻ:
“Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (c.20)
Một sự hiện diện đem lại sức sống dồi dào:
“Vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống” (c.19).
Kitô hữu tự bản chất là người đã được phục sinh,
nhờ thông hiệp với Ðấng đang sống là Ðức Kitô.
“Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi,
mà là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Mùa
Phục sinh nhắc ta nhìn lại sư sống nơi mình.
Lắm khi tôi sống èo uột, chỉ vì không dám yêu thương.
Bắt đầu yêu thương là bắt đầu thấy Chúa tỏ mình,
thấy sự sống Chúa bùng lên mạnh mẽ.
Thế giới hôm nay cố làm cho cuộc sống được bảo đảm hơn,
tiện nghi hơn và kéo dài hơn.
Nhưng thế giới hôm nay vẫn đầy nguy hiểm.
Mạng sống bi đe dọa bởi chiến tranh, tội ác, đói nghèo…
Cuộc sống bị héo úa vì không tìm thấy ý nghĩa.
Thế giới đói khát sự sống đích thực.
Nếu chúng ta thật sự là người đang sống trong Ðức Kitô,
chúng ta có thể trao cho thế giới sự sống đó
qua việc phục vụ trong yêu thương.
Lắm khi tôi sống èo uột, chỉ vì không dám yêu thương.
Bắt đầu yêu thương là bắt đầu thấy Chúa tỏ mình,
thấy sự sống Chúa bùng lên mạnh mẽ.
Thế giới hôm nay cố làm cho cuộc sống được bảo đảm hơn,
tiện nghi hơn và kéo dài hơn.
Nhưng thế giới hôm nay vẫn đầy nguy hiểm.
Mạng sống bi đe dọa bởi chiến tranh, tội ác, đói nghèo…
Cuộc sống bị héo úa vì không tìm thấy ý nghĩa.
Thế giới đói khát sự sống đích thực.
Nếu chúng ta thật sự là người đang sống trong Ðức Kitô,
chúng ta có thể trao cho thế giới sự sống đó
qua việc phục vụ trong yêu thương.
Cầu
Nguyện
Lạy
Chúa Giêsu phục sinh
xin ban cho con sự sống của Chúa,
sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
xin ban cho con sự sống của Chúa,
sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
Xin
ban cho con bình an của Chúa,
bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
Xin
ban cho con niềm vui của Chúa,
niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
Xin
ban cho con hy vọng của Chúa,
hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
Xin
ban cho con Thánh Thần của Chúa,
Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.
Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.
Lm. Antôn Nguyễn Cao
Siêu, S.J.
Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
25
THÁNG NĂM
Giấc
Mơ Xa Vời Bỗng Thành Hiện Thực
Kể
từ ngày Lễ Hiện Xuống, cuộc giao hòa của tất cả các dân tộc trong Thiên Chúa
không còn là một giấc mơ xa xăm nữa. Cuộc giao hòa ấy đã trở thành hiện thực –
và mở rộng không ngừng theo nhịp lan rộng của Giáo Hội mang trong mình Tin Mừng
cứu độ. Chúa Thánh Thần, Đấng là Thần Khí tình yêu và hiệp nhất, hiện thực hóa
mục tiêu của cuộc hiến thân cứu chuộc của Đức Kitô – bằng cách qui tụ con cái
Thiên Chúa đang tản mác về một mối.
Khi
Thánh Thần hiệp nhất mọi người trở thành Dân Thiên Chúa, có hai điều quan trọng
được ghi nhận rõ ràng. Bằng cách dẫn đưa người ta gắn kết với Đức Kitô, Thánh
Thần đem họ vào trong mối hiệp nhất của Giáo Hội là Thân Mình Đức Kitô. Như vậy,
Thánh Thần giao hòa con người với nhau trong tình huynh đệ – dù giữa họ có những
nét khác biệt về địa dư và về văn hóa. Nói cách khác, Thánh Thần làm cho Giáo Hội
trở thành một nguồn hiệp nhất và hòa giải. Hơn nữa, Chúa Thánh Thần hòa giải cả
những người bên ngoài Giáo Hội – bằng một cách nào đó. Ngài khơi lên trong mọi
người niềm khát vọng hiệp nhất sâu rộng hơn và Ngài thúc đẩy những cố gắng của
người ta để họ vượt qua những mối xung đột ngổn ngang vẫn còn phân rẽ thế giới.
-
suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II -
Lm.
Lê Công Đức dịch
từ nguyên tác
LIFT
UP YOUR HEARTS
Daily
Meditations by Pope John Paul II
Lời Chúa Trong Gia
Đình
NGÀY 25-5
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH
Cv 8, 5-8.14-17; 1Pr 3,
15-18; Ga 14, 15-21.
LỜI SUY NIỆM: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh
em sẽ giữ các điều răn của Thầy.”
Với tình yêu, và khi đã yêu;
thì tất cả những gì người yêu muốn, đều có thể thực hiện được với sự cố gắng hết
khả năng của mình, dù là đi ngược lại ý muốn và quyền lợi của mình. Chúa Giêsu
đang kêu mời Kitô hữu yêu mến Chúa và tuân giữ giới răn của Chúa trong tình yêu
mến. Trong mọi sự Chúa Giêsu luôn đòi hỏi tình yêu phải đi trước; như trong việc
Chúa Giêsu mời gọi Phêrô lãnh nhận trách nhiệm chăm sóc đoàn chiên của Chúa;
Phêrô đã phải trả lời với Chúa đến ba lần: “Con yêu mến Thầy”.
Lạy Chúa Giêsu. Vì yêu
thương chúng con, Chúa đã tự hiến mình trên Thập Giá, để xóa tội chúng con. Xin
cho các thành viên trong gia đình chúng con luôn yêu mến Chúa, và cho chúng con
luôn giữ đạo, sống đạo với một tình yêu Chúa.
Mạnh
Phương
Gương Thánh Nhân
Ngày
25-05: Thánh BÊ-ĐA Đáng Kính
Linh
mục, Tiến Sĩ Hội Thánh (673 - 735)
Chính
thánh Beđa kể cho chúng ta biết mọi điều về cuộc đời thơ ấu của Ngài. Trong vài
câu thêm vào cuốn lịch sử Giáo hội, thánh nhân sinh năm 673 hay là 674. Tên
Bêđa theo từ ngữ Saxon có nghĩa là cầu nguyện. Cuộc sống của Ngài rất gương mẫu
nên người ta thêm cho Ngài biệt danh Vênêrabilê có nghĩa là khả kính. Lên bảy
tuổi Ngài bị mồ côi cha mẹ và được giao phó cho tu viện trưởng Bênêdictô Biscop
săn sóc giáo dục. Lúc 18 tuổi Ngài được thụ phong chức phó tế và năm 702 hay
703 tức là lúc 29 tuổi Ngài được thụ phong linh mục.
Cuộc
sống của Ngài trong tu viện rất cực nhọc. Chúng ta có thể tóm lược cuộc sống ấy
bằng chính lời Ngài: - "Tôi đã sống trọn đời nỗ lực học hỏi kinh thánh và
trong khi tuân thủ luật dòng cũng như bổn phận hàng ngày và hát thánh ca tại nhà
thờ, tôi sung sứơng được học hành, dạy dỗ và viết lách".
Đây
quả là tổng hợp chính xác trọn cuộc sống của thánh Bêđa, Ngài rất ít rời bỏ nhà
dòng. Chúng ta chỉ nghe biết có hai chuyện du hành của Ngài. Một lần Ngài đi
thu tập tài liệu về đời thánh Cuthbert, Ngài ở lại Lindisfanne và từ đó đến viếng
Farne Islanol để khảo sát những di tích trong căn phòng của vị thánh. Một lần
khác, Ngài đến York để thăm Đức tổng giám mục Egbert, và để quan sát các trường
học nổi tiếng ở đó.
Dạy
học, thánh Bêna tỏ ra là một bậc thầy lỗi lac. Ngài không quan tâm suy tư và ao
ước được nổi bật. Tài năng của Ngài là cố gắng không cùng để tự đào luyện mình
rồi truyền thông không phải chỉ có những gì mình đã học mà còn cả cảm thức về
giá trị của điều đã được hiểu biết, đặt tầm quan trọng của việc giảng dạy. Tuy
nhiên chúng ta không thể nói nhiều về điểm này. Nhưng các sách đủ loại Ngài viết
đều là kiểu mẫu trong việc trưng dẫn các tài liệu. Chính cách trình bày cẩn thận
và điều độ và gắng để được chính xác và đúng đắn làm cho các sách ấy có thế
giá. Các tác phẩm của thánh Bêda có thể xếp thành ba loại. Các bút tích về thần
học của Ngài chính yếu gồm những phần dẫn giải thánh kinh của một thầy dạy phần
lớn dựa trên các sách giáo phụ Tây phương. Dầu thiếu sự độc sáng trong cách
trình bày, nhưng những dẫn giải của thánh Bêda ngày nay còn là phương tiện tốt
đẹp nhất để hiểu về các giáo phụ.
Các
tác phẩm về khoa học của Ngài một phần là những giải thích cổ truyền về các hiện
tượng tự nhiên, một phần bàn về niên lịch và cách tính của Đông phương. Cách
tính niên lịch của Ngài kể từ thời Chúa Giêsu Giáng sinh đã được Kitô giáo Tây
phương chấp nhận rộng rãi hơn cả.
Các
tác phẩm về lịch sử của thánh nhân có lẽ ngày nay được nhớ tới nhiều hơn hết.
Cuốn "Lịch sử Giáo hội của dân Anh" là một trong những tác phẩm quan
trọng nhất về lịch sử về thời đầu Trung cổ. Ngài đã viết cách khách quan và phê
phán cách quân bình, dựa trên những tài liệu và nhân chứng đáng tin cậy, Ngài
cũng viết một tiểu sữ về các tu viện ở Wearmonth và thơ văn về cuộc đời thánh
Cuthbert.
Kể
từ năm 679, Ngài ở hai tu viện Wearmonth và Jarrow, chăm chú thi hành bổn phận
thuộc đời sống tu trì và vẫn không ngừng viết lách và dạy học. Lời kinh ở cuối
cuốn "Lịch sử Giáo hội" trình bày lý tưởng của Ngài: - "Lạy Chúa
Giêsu nhân từ, con khẩn cầu Chúa, khi đã cho con được vui hưởng những lời khôn
ngoan của Chúa thì xin Chúa cho con một ngày kia được đến gần bên thánh nhan
Chúa".
Đương
thời, không ai nghi ngờ sự thánh thiện của thánh nhân, nhưng Ngài đã không làm
một phép lạ, không được một thị kiến và không mở ra một đường lối tu đức mới mẻ
nào. Mùa hè năm 735 vào tuổi 63, sức khỏe suy giảm, Ngài còn bị đau khổ bị bệnh
suyễn. Dầu vậy, Ngài vẫn làm việc đến giây phút cuối cùng, đọc cho thầy thơ ký
hoàn tất cuốn sách Chú giải Phúc âm thánh Gioan và 48 giờ cuối cùng trên giường
bệnh. Đúng ngày lễ Thăng thiên 27 tháng 5 năm 735, thánh Beda từ trần.
Ngày
25-05: Thánh GRÊGORIÔ VII
Giáo
Hoàng (1028 - 1085)
Thánh
Gregoriô hay là Hildebrand theo tên rửa tội, sinh khoảng năm 1028. Gia đình Ngài
không thuộc dòng tộc quí phái và có thuộc gốc Do thái. Thấy con mình thông minh
lại hiếu học, thân phụ thánh nhân gởi Ngài tới thụ huấn với người chú là Tu viện
trưởng Đức Bà Maria ở Aventin, Hildebrand đã trở thành một tu sĩ dòng
Bênêdictô.
Tuy
nhiên khả năng đặc biệt của Ngài đã sớm kéo Ngài ra khỏi hàng rào tu viện để phục
vụ tại giáo triều. Khi đắc cử giáo hoàng, trên đường về nhận chức, Đức Leo IX
ghé qua Cluny và dẫn theo thày dòng trẻ tuổi Hildebrand để làm cố vấn cho mình.
Đức giáo hoàng đã trao cho Ngài điều khiển tu viện thánh Phaolô và đặt làm hồng
y. Đức giáo hoàng Leo IX là vị tiên khởi trong cuộc cải cách Grêgoriô, danh hiệu
dựa vào khuôn mặt sáng giá nhất cuộc cải cách này, nhưng chính đức Leo là người
khởi xướng.
Kể
từ việc đề cử của Đức Leo IX Hildebrand đã có ảnh hưởng lớn lao trong nhiều triều
đại liên tiếp. Khi được cử làm đặc sứ tại Pháp Đức Hồng y Hildebrand, đã chống
lại nhiều tập tục xấu. Trong hội đồng họp ở Tour, Ngài đã buộc Berenger từ bỏ
những lầm lạc của mình. Thế là chính Ngài đã giữ phần quyết định trong cuộc
tranh luận về bí tích Thánh Thể giữa Lanfranc và Berenger. Ngài ủng hộ giáo
thuyết về sự biến thể của Lanfranc nhưng cũng giảm bớt sức đối kháng để trình
bày cách mầu nhiệm hơn.
Dưới
ảnh hưởng của Đức hồng y Hildebrand, chức giáo hoàng ngày càng nghịch với hoàng
đế hơn. Một liên minh hình thành với nhiều nhà cai trị ở miền nam nước Ý chống
lại các Hoàng đế nhà Hohenstanen. Đức giáo hoàng nâng đỡ phong trào quần chúng
chống lại hoàng đế ở Milanô nhưng tâm điểm đường lối chính trị của tòa thánh được
diễn tả trong việc chọn lựa Đức Giáo hoàng, dành riêng cho hồng y đoàn. Nói
cách khác, ảnh hưởng của hoàng để bị rút lại, nếu không nói là bị hủy bỏ. Năm
1073 dưới ảnh hưởng đã trở nên lớn mạnh, Đức Hồng y Hildebrand đắc cử giáo
hoàng với hiệu Gregoriô VII.
Tình
hình Giáo hội lúc này thật đáng buồn với nhiều thảm trạng đang diễn ra. Đích
thân giáo hoàng thấy rõ những điều đó, sống khắc khổ như một thày dòng, Ngài đã
sáng ngời như mặt trời chiếu dãi vào ngôi nhà Giáo hội. Đầy uy quyền trong lời
nói và việc làm, Ngài đã nỗ lực tái lập kỷ lục truyền bá đức tin, diệt trừ các
lỗi lầm. Nhất là Ngài được chống lại hoàng đế Henri IV nước Đức. Ông hoàng này
ham mê khoái lạc và tham lam, đã dám bán quyền giám mục và các chức vụ trong
Giáo hội cho những người bất xứng.
Năm
1075, Đức Gregoriô VII đã tuyên bố phạt mọi người ở bất cứ địa vị nào dám dùng
tiền để mua bán chức thánh. Với tình phụ tử, Ngài cảnh cáo hoàng đế Henri IV và
các lạm quyền của ông. Tức giận ông bắt cóc Đức Giáo hoàng đang khi Ngài làm lễ
và giam ngục. Nhưng rồi dưới áp lực của dân Roma, ông phải thả Ngài ra. Đức
giáo hoàng đã tha thứ cho ông. Tuy nhiên nhà vua vẫn ngoan cố. Năm 1076, ông
triệu tập một số giám mục rồi đặt Gnibert de Ravenna làm giáo hoàng. Đức
Gregoriô VII liền ra vạ tuyệt thông Henri IV. Hối hận và sợ các quan bất phục,
Henri IV lo giữ ngôi bằng cách đến Canossa làm việc đền tội.
Ngày
28 tháng giêng năm 1077, Đức giáo hoàng giải vạ cho ông.
Một
thời gian sau Henri IV lại trở mặt, ông cầm quân sang Roma để bắt Đức Giáo
hoàng. Nhưng Đức Gregoriô đã kịp thời rút lui về Sôlerna và qua đời tại đây năm
1085. Trước khi qua đời Ngài đã nói: - Ta yêu mến điều công chính và chê ghét sự
gian tà nên mới phải chết ở chốn lưu đày này.
Người
ta đã nói tới cuộc cải cách thời Gregoriô. Phải nhận đinh rằng ý tưởng của Ngài
rất cao thượng, Ngài quan niệm hàng giáo sĩ được đặt ra ngoài mọi người khác bởi
phép truyền chức thánh làm thành một cộng đoàn siêu nhiên ấn định bởi quyền ban
bí tích và được cai quản bởi đấng kế vị thánh Phêrô. Họ phải sống xứng đáng với
phận vụ thiêng liêng, Ngài nhiệt hành ủng hộ luật độc thân của giáo sĩ và chống
lại mọi thứ buôn thần bán thánh.
Ngài
cũng nỗ lực diệt trừ mọi can thiệp vào việc chọn giám mục, nhất là sự can thiệp
của hoàng đế. Dầu không thành công trong việc này, nhưng chắc chắn đã làm thay
đổi thái độ của mọi người đối với Giáo hội.
Sau
khi đã từ trần, lý tưởng canh tân Giáo hội của Ngài mới rõ rệt hơn, sắc bén hơn
và tiến gần tới hiện thực hơn.
Ngày
25-05: Thánh MARIA MADALENA ĐỆ PAZZI
(1566
- 1607)
Thánh
Maria Madalena Pazzi sinh năm 1566 tại Florence. Khi rửa tội Ngài được đặt tên
là Catarina. Ngay từ nhỏ, Ngài đã ham thích cầu nguyện và làm việc lành. Muốn
cho Ngài vui thích, cứ việc đọc cho Ngài nghe truyện các thánh hay là dẫn Ngài
tới nhà thờ.
Lên
7 tuổi lòng thương người của Ngài đã tiến xa tới độ nhịn ăn để giúp đỡ người
nghèo. Có dịp về miền quê, niềm vui chính của Ngài là tập họp trẻ em lại để dạy
giáo lý cho chúng. Một lần kia, khi mới bắt dầu dạy đạo cho một em bé con một
nông dân, thì Ngài phải báo cho biết là phải trở về Florence. Ngài đã buồn rầu
đến độ không cầm được nước mắt, Cha Ngài chỉ có thể an ủi Ngài bằng cách dẫn em
bé ấy về để dạy cho xong.
Thánh
nữ có lòng sùng kính phép Thánh thể một cách đặc biệt. Lên 10 tuổi, tức là năm
1576, Ngài được rước lễ lầ đầu. Dịp này, Ngài đã khấn dâng mình trọn vẹn cho
Chúa. Năm 13 tuổi Ngài còn tự ý làm một mão gai để đội đầu mỗi khi đi ngủ để cảm
thông với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô.
Đến
16 tuổi, Catarina đã ao ước được gia nhập dòng Carmêlô. Sau một thời gian luỡng
lự, cuối cùng cha mẹ Ngài đã chấp nhận, Catarina vào dòng ngày 14 tháng 8 năm
1582 và ngay 30 tháng giêng năm 1583, được mặc áo dòng với danh hiệu Maria
Madalena. Cuộc đời Ngài là một phép lạ liên tục. Một cơn bệnh xâu xé Ngài. Có nữ
tu hỏi thánh nữ xem bí mật nào đã giúp Ngài nhẫn nại chịu đựng như vậy, chỉ vào
cây thánh giá Ngài trả lời: - Hãy xem điều Chúa Giêsu đã làm để cứu chuộc tôi.
Những ai nhớ tới những đau khổ của Chúa Giêsu và dâng những đau khổ của mình
lên Thiên Chúa, họ chỉ còn thấy êm ái đối với những gì mình phải chịu mà thôi.
Đau
đớn vì bệnh hoạn, thánh nữ lại hay xuất thần. Những yếu tố ấy đều góp phần xây
dựng đời sống thánh thiện của Ngài. Dù suốt năm năm liền kể từ tháng 6 năm
1585, Ngài đã phải trải qua một cuộc thử thách dữ dằn, Thiên Chúa cho Ngài thấy
sự dữ đang diễn ra trong Giáo hội, những xúc phạm do hàng giáo sĩ và do các
giám mục gây nên. Các tu sĩ trong cộng đoàn vấp phạm vì những khuyến cáo Ngài
trình lên Đức gíao hoàng và các đức giám mục để thực hiện cuộc canh tân. Sự
nghi ngờ của họ trở thành sự khinh bỉ, khi thánh nữ chịu cơn thử thách khủng
khiếp này, là thấy mình bị Thiên Chúa bỏ rơi. Thêm vào đó, Ngài còn bị cám dỗ
trở nên kiêu căng thất vọng.
Dầu
vậy, ý chí của Ngài bám chặt vào Chúa không ngơi, Ngài chỉ còn biết rên rỉ: -
Tôi không hiểu mình có còn trí khôn nữa không. Tôi không thấy mình còn có gì
đáng kể ngoài một chút thiện chí là không bao giờ dám xúc phạm đến Thiên Chúa.
Nhưng
nhìn lên thánh giá Ngài thêm phấn khởi: - Đừng chết, nhưng chớ gì được chịu đau
khổ mãi.
Bị
cám dỗ quá, Ngài gieo mình vào bụi gai, bình thường Ngài hãm mình kinh khủng và
thường mặc áo nhặm.
Năm
năm bão tố trôi qua nhằm lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống trong khi hát kinh tạ
ơn, Maria Madalena đã bỗng xuất thần và thưa với bề trên trong niềm vui mừng: -
Bão tố qua rồi, xin hãy giúp con cảm tạ Chúa tạo thành khả ái.
Từ
đây Ngài chỉ còn ước muốn vô cùng là được làm việc để tôn vinh Chúa và mưu ích
cho các linh hồn. Ngài luôn tìm kết hiệp với thánh ý Chúa. Thánh Thần đọc cho
Ngài những ý tưởng thâm sâu và hai chị thơ ký đã ghi thành một pho sách được
các người nhân đức và thông thái ở Ý chuẩn nhận.
Với
nhiệt tình, Ngài đã nguyện hy sinh không muốn biết đến một sự dịu ngọt nào nữa.
Khi làm phó bề trên, Ngài bị tật bệnh dày vò lại còn mất ơn an ủi, cha linh hướng
tìm cách an ủi, nhưng Ngài nói: - Không, đó không phải là thứ an ủi con tìm kiếm.
Con chỉ ước mong được đau khổ đến lúc cuối đời. Khi sắp từ trần thánh nữ nói:
-
Tôi sắp từ giã mà không hiểu tại sao một thụ tạo lại quyết tâm phạm tội chống lại
Chúa tạo thành được.
Với
các nữ tu vây quanh, Ngài nói những lời sau cùng: - Tôi sắp từ giã các chị để
đi vào vĩnh cửu, tôi xin các chị như là một ân huệ cuối cùng là chỉ yêu mến một
mình Chúa, đăt trọn niềm hy vọng nơi Ngài và chịu đựng tất cả vì tình yêu Ngài.
Thánh
nữ từ trần ngày 25 tháng 5 năm 1607. Thân xác Ngài vẫn còn nguyên vẹn cho tới
ngày nay.
(daminhvn.net)
25
Tháng Năm
Cái Bật Lửa
Ðể
kỷ niệm một trận chiến, một quận công bên Anh Quốc đã làm một bữa tiệc khoản
đãi một nhóm cựu sĩ quan đã từng chiến đấu sát cánh bên ông.
Tong
bữa tiệc, ông dem kho một cái bật lửa rất đẹp mà Nữ hoàng Anh đã tặng cho ông.
Cái bật lửa đã được truyền từ tay người này đến tay người nọ để được trầm trồ
khen ngợi.
Sau
bữa ăn, mọi người được mời ra phòng khách để uống trà. Ông quận công mới đem
thuốc lá ra mời mọi người. Nhưng mặt ông bỗng biến sắc, vì ông lục lạo mãi
trong túi áo mà vẫn không tìm ra cái bật lửa. Ông hỏi quan khách có ai thấy nó ở
đâu không. Mọi người chia nhau đi tìm khắp nơi mà tuyệt nhiên vẫn không thấy
cái bật lửa. Lúc bấy giờ, một viên sĩ quan mới đề nghị cho tất cả mọi quan
khách nên lật túi áo của mình ra may ra mới có thể tìm thấy nó chăng. Lần lượt
tất cả mọi người đều kéo tất cả những gì có trong túi áo của mình ra. Duy chỉ
có một người không chịu chấp nhận công việc này. Mọi người đều đưa mắt nhìn về
ông và ai cũng đoán chắc đây là người đã đánh cắp cái bật lửa, bởi vì dáng vẻ của
ông tiều tụy, áo quần của ông lại rách rưới. Ông lấy danh dự của một cựu sĩ
quan để thề thốt và dứt khóat không mở túi áo ra cho mọi người xem.
Vài
tuần lễ sau, ông quận công lại mở một bữa tiệc khác và lần này, ông khám phá ra
cái bật lửa trong túi áo của ông. Cảm thấy xấu hổ vì đã nghi oan cho một viên
sĩ quan đã từng chiến đấu bên cạnh mình, ông quận công đã quyết định đến thăm
anh ta để xin lỗi.
Nhà
của viên cựu sĩ quan này nằm trong khu phố lầy lội nghèo nàn. Sau khi đã xin lỗi,
ông quận công đã hỏi viên sĩ quan: "Tại sao trong bữa tiệc hôm đó, anh đã
khước từ không mở túi ra cho mọi người xem?".
Anh
ta mới giải thích như sau: "Hẳn ngài đã thấy được căn nhà tôi đang ở tồi
tàn như thế nào. Từ lâu, tôi đã thất nghiệp mà vẫn phải nuôi nhiều miệng ăn
trong nhà. Ngài đâu có biết rằng hôm đó, tôi đã nhét vào túi tôi tất cả những đồ
ăn thừa trên bàn để mang về cho vợ con tôi".
Sau
khi hiểu được hoàn cảnh đáng thương của một người đã từng vào sinh ra tử với
mình, ông quận công quyết định đền bù bằng cách tìm cho viên cựu sĩ quan một
công việc xứng đáng.
Câu
chuyện đáng thương tâm trên đây có lẽ cũng diễn ra trong cuộc sống chúng ta dưới
nhiều cấp độ và hình thức khác nhau. Nhưng tựu trung, có lẽ mẫu số chung của
câu chuyện ấy thường giống nhau: đó là chúng dễ nhìn và đoán xét người theo bề
ngoài. Lại nữa, một xã hội có quá nhiều lừa gạt đảo điên cũng khiến cho chúng
ta có thái độ e dè, nghi kỵ đối với những người thân thuộc.
Là
tín hữu, chúng ta hãy nhìn ngắm cung cách cư xử của Chúa Giêsu. Ngài không nhìn
người bằng nhãn hiệu có sẵn. Ngài không đến với người bằng những định kiến. Bên
kia bộ quần áo sang trọng hay rách rưới, Chúa Giêsu chỉ nhìn thấy hình ảnh cao
quý của chính Thiên Chúa. Ngài dành yêu thương cho những người nghèo khổ, phường
thu thuế, bọn gái điếm, những kẻ tội lỗi, những ngwòi con bị xã hội đẩy ra bên
lề. Ngài muốn cho mọi người thấy rằng Ngài chỉ có một cái nhìn duy nhất về con
người: đó là cái nhìn của cảm thông, của tha thứ, của yêu thương.
(Lẽ
Sống)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét