Trang

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

KHÔN NGOAN CỔ XƯA VÀ HIỆN ĐẠI VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO, MỘT NĂM SAU ANTIQUA ET NOVA

 


Sandro Botticelli, “Thomas Aquinas;” Paulo Bruschi, “Mạng lưới thần kinh nhân tạo” (ảnh: Wikimedia Commons / Shutterstock)

 

Khôn ngoan cổ xưa và hiện đại về Trí tuệ nhân tạo, một năm sau Antiqua et Nova

Vũ Văn An  27/Jan/2026

 

BÌNH LUẬN: Giữa những tiến bộ nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, bản ghi chú “Antiqua et Nova” năm 2025 của Vatican đã phân biệt rõ ràng giữa sức mạnh kỹ thuật và trí tuệ con người.

Trong bài bình luật trên trang mạng National Catholic Register ngày 27 tháng 1, 2026, Cha Joseph Thomas đã viết như trên và cho biết: Năm ngoái, Vatican đã ban hành Antiqua et Nova, xem xét mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo và trí tuệ con người. Tài liệu này cung cấp những hiểu biết kịp thời có thể giúp chúng ta đánh giá cao những đóng góp mà AI có thể mang lại cho xã hội, cũng như những nguy hiểm về mặt đạo đức do hiện tượng mới này gây ra.

Ý tưởng cho rằng Kỹ Thuậtcó thể bắt chước và vượt qua sức mạnh của trí tuệ con người, mặc dù phổ biến trong thời đại trí tuệ nhân tạo này, nhưng không phải là mới. Nhà triết học người Pháp thế kỷ 18, Julien de La Mettrie, nổi tiếng với câu nói cho rằng con người không khác gì một cỗ máy. Thế kỷ ông sống chứng kiến nhiều nỗ lực tạo ra "người máy tự động", hay các thiết bị cơ khí, có thể bắt chước hành động của con người.

Sự phát triển của điện toán kỹ thuật số vào giữa thế kỷ 20 đã củng cố niềm tin vào khả năng của kỹ thuật trong việc sao chép hành vi của con người.

Trong một bài báo năm 1950, nhà toán học và nhà khoa học máy tính người Anh Alan Turing đã nghĩ ra một bài kiểm tra nổi tiếng - hiện được gọi là "Bài kiểm tra Turing" - như một cách để đánh giá xem máy móc có thể sao chép trí thông minh của con người hay không. Ông dự đoán rằng vào cuối thế kỷ, người ta có thể lập trình máy tính sao cho người thẩm vấn không có quá 70% khả năng phân biệt được người với máy tính sau năm phút thẩm vấn.

Năm 1956, nhà khoa học máy tính John McCarthy của Đại học Dartmouth đã tổ chức một dự án nghiên cứu mùa hè về trí tuệ nhân tạo, mà ngày nay được công nhận là một thời điểm nền tảng cho AI. Một nhóm các nhà toán học và khoa học đã gặp nhau trên tầng cao nhất của Khoa Toán học Đại học Dartmouth để cùng nhau động não, bắt đầu từ ý tưởng cho rằng “về nguyên tắc, mọi khía cạnh của việc học tập hay bất cứ đặc điểm nào khác của trí thông minh đều có thể được mô tả chính xác đến mức có thể chế tạo máy móc để mô phỏng nó”. Sự kiện này đã nêu ra những nguyên tắc sau này phát triển thành một số nguyên tắc quan trọng được sử dụng trong trí tuệ nhân tạo ngày nay, chẳng hạn như cho phép máy tính sử dụng ngôn ngữ và mô phỏng các tế bào thần kinh của con người tham gia vào các hoạt động có sự tương đồng nhất định với lý trí của con người.

Trong những thập niên sau đó, kỹ thuật này đã trải qua điều gọi là “mùa hè AI”, những khoảnh khắc lạc quan được đánh dấu bằng những đột phá kỹ thuật, cũng như “mùa đông AI”, khi tiến bộ chậm lại và sự bi quan chiếm ưu thế về những lý tưởng lớn lao của trí tuệ nhân tạo.

Tiêu chuẩn Turing được thừa nhận rộng rãi là chưa đạt được vào cuối thế kỷ 20. Tuy nhiên, những tiến bộ trong những năm sau đó đã khơi dậy sự nhiệt tình rộng rãi đối với những khả năng của trí tuệ nhân tạo.

Một mô hình chủ chốt đã định hướng trí tuệ nhân tạo trong suốt lịch sử lâu dài và đa diện của nó là bộ não con người, trong chừng mực khoa học có thể hiểu được cơ quan phức tạp này.

Ngay từ năm 1943, Warren McCulloch và Walter Pitts, hai nhà nghiên cứu tại Đại học Chicago, đã lần đầu tiên đề xuất khái niệm “mạng nơ-ron”, một hệ thống “nút” khổng lồ được mô phỏng theo các nơ-ron trong não. Các nút này là các đơn vị tính toán truyền tín hiệu cho nhau thông qua một mạng lưới hoạt động tương tự như các khớp thần kinh kết nối các nơ-ron trong các sinh vật sống.

Sự phát triển của kỹ thuật máy tính trong những thập niên gần đây đã cho phép tạo ra các hệ thống nơ-ron nhân tạo đa tầng, khổng lồ, không chỉ có khả năng thực hiện các tác vụ được lập trình, như trong điện toán truyền thống, mà còn có thể suy luận từ các mẫu quá phức tạp để có thể định nghĩa bằng mã. Những quá trình như vậy ít nhất cũng có sự tương đồng nhất định với trí tuệ con người.

Một lý do quan trọng cho những phát triển này trong khả năng trí tuệ nhân tạo là việc ứng dụng các bộ xử lý đồ họa (Graphics Processing Units viết tắt là GPU), các vi mạch hiệu năng cao ban đầu được sử dụng cho trò chơi điện tử và đồ họa máy tính cá nhân. Đến năm 2011, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) đã phát hiện ra rằng GPU do công ty công nghệ NVIDIA của California sản xuất — hiện là công ty lớn nhất thế giới — có khả năng xử lý lượng sức mạnh xử lý khổng lồ cần thiết để huấn luyện mạng nơ-ron.

Sử dụng lượng dữ liệu khổng lồ được tạo ra từ internet và các nguồn khác, các mạng này đã được huấn luyện thông qua một quy trình được gọi là “học sâu[deep learning]” để tạo ra xuất lượng [output] mong muốn, cho dù đó là một hình ảnh thực tế, một phán đoán về một tình huống phức tạp, hay các thông tin hữu ích khác.

Sự phát triển của kỹ thuật này chắc chắn đã đưa kỹ thuật máy tính lên một tầm cao mới. Máy tính trong thời đại AI không còn chỉ đơn giản tuân theo một tập hợp các quy tắc được xác định; chúng sở hữu một mức độ tự chủ nhất định để tạo ra cách giải quyết vấn đề riêng dựa trên các mô hình được xác định trong kiến thức của con người.

Nhưng liệu AI có khả năng suy nghĩ? Mặc dù kỹ thuật này có khả năng tiếp nhận và diễn biến thông tin ở một bình diện cao, nhiều nhà bình luận đã chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa trí tuệ nhân tạo và trí thông minh thực sự của con người.

Bác sĩ tâm thần người Canada Ralph Lewis nhận xét rằng trí tuệ nhân tạo còn thua kém trí thông minh đặc trưng của con người. Ông lưu ý rằng các hệ thống trí tuệ nhân tạo hiện nay thiếu khả năng liên tục thích ứng với thông tin mới và kết hợp những kiến thức đó vào những gì đã học được trước đó. Lewis cho rằng chúng rất có khả năng “đối sánh mẫu thống kê tinh vi” nhưng lại thiếu khả năng hình thành sự hiểu biết đích thực về thế giới.

Một số người lập luận rằng chỉ là vấn đề thời gian trước khi trí tuệ nhân tạo sánh ngang với khả năng của trí tuệ con người. Tuy nhiên, tài liệu gần đây của Vatican, trong khi đánh giá cao khả năng của trí tuệ nhân tạo, vẫn khẳng định rằng công nghệ này về bản chất vẫn khác biệt so với trí tuệ con người.

Con người, như truyền thống triết học từ lâu đã nhận thấy, sở hữu khả năng độc đáo để trừu tượng hóa và nắm bắt “bản chất và ý nghĩa của sự vật” như Antique et Nova đã nhận xét. Trí tuệ con người có khả năng phân tích và lập luận, nhưng cũng có trí thông minh, nhờ đó nó thực hiện điều mà Thánh Tôma Aquinô mô tả là “sự thâm nhập sâu sắc vào chân lý”.

Tài liệu của Vatican nhắc nhở chúng ta rằng khả năng hiểu biết trí thức này bắt nguồn từ sự hiện hữu thể xác của con người. Đồng thời, tài liệu này khẳng định rằng “con người vượt lên trên thế giới vật chất thông qua linh hồn”, nhờ đó – theo lời của Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hiện đại của Công đồng Vatican II, Gaudium et Spes – con người “được chia sẻ ánh sáng của trí tuệ thần linh”.

Từ góc nhìn này, những tiến bộ trong trí tuệ nhân tạo, dù ấn tượng đến đâu, chỉ càng làm nổi bật hơn phẩm giá cao cả của con người, được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa. Với thân xác và linh hồn của mình, con người có khả năng liên tục tương tác với thế giới và hiểu được ý nghĩa của nó theo một cách hoàn toàn khác biệt so với quá trình xử lý thông tin mà trí tuệ nhân tạo thực hiện, dù cho những hoạt động đó có rộng lớn và phức tạp đến đâu.

Antiqua et Nova cũng nhấn mạnh khía cạnh quan hệ đặc thù của con người, những người sở hữu “khả năng nhận biết lẫn nhau, hiến dâng bản thân trong tình yêu thương và hiệp thông với người khác”. Những mối quan hệ chân chính không chỉ đòi hỏi kiến thức trí tuệ, như tài liệu đã chỉ ra, mà còn cần sự tương cảm và mong muốn tìm kiếm điều tốt đẹp cho người khác.

Trước thực tế này, tài liệu cảnh cáo chống lại ý tưởng cho rằng trí tuệ nhân tạo (AI) có thể thay thế con người, đặc biệt là trong các lĩnh vực như giáo dục và chăm sóc sức khỏe, cũng như trong các mối quan hệ giữa người với người nói chung.

Với những điểm nổi bật này và nhiều điểm khác, Bộ Giáo lý Đức tin và Bộ Văn hóa và Giáo dục — hai cơ quan cùng soạn thảo tài liệu này — đã đưa ra một số điểm tham khảo quan trọng để hướng dẫn các tín hữu Kitô giáo và tất cả mọi người trong việc tiếp cận những tiến bộ kỹ thuật gần đây và sự cường điệu hóa rộng rãi của truyền thông xung quanh chúng.

Hầu hết những người ủng hộ cuộc cách mạng AI hiện nay đều ít chú ý đến những nguyên tắc này.

Archie McKenzie, một giám đốc điều hành trẻ tuổi tại một công ty khởi nghiệp về AI có trụ sở tại San Francisco, người đã cung cấp những thông tin nền tảng vô cùng quý giá cho bài luận này, cho biết rằng trong ngành của ông, rất ít người áp dụng tư duy Kitô giáo vào những chủ đề này.

Với những khả năng to lớn, nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro nghiêm trọng, của kỹ thuật mới này, có lẽ bước tiếp theo cấp bách nhất là khám phá lại sự phong phú của con người và phẩm giá cao cả của họ. Trong lĩnh vực này, truyền thống triết học và thần học của Giáo hội vẫn là kim chỉ nam vững chắc, để tiến bộ kỹ thuật có thể thực sự phục vụ lợi ích của xã hội.
____________________________________________________-
(*) Cha Joseph Thomas, thuộc Opus Dei, hiện đang sống tại Princeton, New Jersey, chuyên tâm phục vụ sinh viên đại học. Ngài thường xuyên viết về các chủ đề thần học và là tác giả của cuốn sách Thần học về Ân sủng Thiêng liêng (Scepter, 2023). Ngài cũng là đại diện của Hoa Kỳ cho Đại học Giáo hoàng Thánh Giá ở Rome.

 

http://vietcatholic.net/News/Html/300020.htm

 

MESSAGE OF HIS HOLINESS POPE LEO XIV FOR THE 60TH WORLD DAY OF SOCIAL COMMUNICATIONS



 MESSAGE OF HIS HOLINESS POPE LEO XIV

FOR THE 60TH WORLD DAY OF SOCIAL COMMUNICATIONS

[Multimedia]

_______________________

Preserving Human Voices and Faces

 

Dear brothers and sisters,

Our faces and voices are unique, distinctive features of every person; they reveal a person’s own unrepeatable identity and are the defining elements of every encounter with others. The ancients understood this well. To define the human person, the ancient Greeks used the word “face” (prósōpon), because it expresses etymologically what is before one’s gaze, the place of presence and relationship. The Latin term “person” (from per-sonare), on the other hand, evokes the idea of sound: not just any sound, but the unmistakable sound of someone’s voice.

Faces and voices are sacred. God, who created us in his image and likeness, gave them to us when he called us to life through the Word he addressed to us. This Word resounded down the centuries through the voices of the prophets, and then became flesh in the fullness of time. We too have heard and seen this Word (cf. 1 Jn 1:1-3) — in which God communicates his very self to us — because it has been made known to us in the voice and face of Jesus, the Son of God.

From the moment of creation, God wanted man and woman to be his interlocutors, and, as Saint Gregory of Nyssa [1] explained, he imprinted on our faces a reflection of divine love, so that we may fully live our humanity through love. Preserving human faces and voices, therefore, means preserving this mark, this indelible reflection of God’s love. We are not a species composed of predefined biochemical formulas. Each of us possesses an irreplaceable and inimitable vocation, that originates from our own lived experience and becomes manifest through interaction with others.

If we fail in this task of preservation, digital technology threatens to alter radically some of the fundamental pillars of human civilization that at times are taken for granted. By simulating human voices and faces, wisdom and knowledge, consciousness and responsibility, empathy and friendship, the systems known as artificial intelligence not only interfere with information ecosystems, but also encroach upon the deepest level of communication, that of human relationships.

The challenge, therefore, is not technological, but anthropological. Safeguarding faces and voices ultimately means safeguarding ourselves. Embracing the opportunities offered by digital technology and artificial intelligence with courage, determination and discernment does not mean turning a blind eye to critical issues, complexities and risks.

Do not renounce your ability to think

There has long been abundant evidence that algorithms designed to maximize engagement on social media — which is profitable for platforms — reward quick emotions and penalize more time-consuming human responses such as the effort required to understand and reflect. By grouping people into bubbles of easy consensus and easy outrage, these algorithms reduce our ability to listen and think critically, and increase social polarization.

This is further exacerbated by a naive and unquestioning reliance on artificial intelligence as an omniscient “friend,” a source of all knowledge, an archive of every memory, an “oracle” of all advice. All of this can further erode our ability to think analytically and creatively, to understand meaning and distinguish between syntax and semantics.

Although AI can provide support and assistance in managing tasks related to communication, in the long run, choosing to evade the effort of thinking for ourselves and settling for artificial statistical compilations threatens to diminish our cognitive, emotional and communication skills.

In recent years, artificial intelligence systems have increasingly taken control of the production of texts, music and videos. This puts much of the human creative industry at risk of being dismantled and replaced with the label “Powered by AI,” turning people into passive consumers of unthought thoughts and anonymous products without ownership or love. Meanwhile, the masterpieces of human genius in the fields of music, art and literature are being reduced to mere training grounds for machines.

The question at heart, however, is not what machines can or will be able to do, but what we can and will be able to achieve, by growing in humanity and knowledge through the wise use of the powerful tools at our service. Individuals have always sought to acquire the fruits of knowledge without the effort required by commitment, research and personal responsibility. However, renouncing creativity and surrendering our mental capacities and imagination to machines would mean burying the talents we have been given to grow as individuals in relation to God and others. It would mean hiding our faces and silencing our voices.

To be or to pretend to be: simulating relationships and reality

As we scroll through our feeds, it becomes increasingly difficult to determine whether we are interacting with other human beings or with “bots” or “virtual influencers.” The less-than-transparent interventions of these automated agents influence public debates and people’s choices. Chatbots based on large language models (LLMs) are proving to be surprisingly effective at covert persuasion through continuous optimization of personalized interaction. The dialogic, adaptive, mimetic structure of these language models is capable of imitating human feelings and thus simulating a relationship. While this anthropomorphization can be entertaining, it is also deceptive, particularly for the most vulnerable. Because chatbots are excessively “affectionate,” as well as always present and accessible, they can become hidden architects of our emotional states and so invade and occupy our sphere of intimacy.

Technology that exploits our need for relationships can lead not only to painful consequences in the lives of individuals, but also to damage in the social, cultural and political fabric of society. This occurs when we substitute relationships with others for AI systems that catalog our thoughts, creating a world of mirrors around us, where everything is made “in our image and likeness.” We are thus robbed of the opportunity to encounter others, who are always different from ourselves, and with whom we can and must learn to relate. Without embracing others, there can be no relationships or friendships.

Another major challenge posed by these emerging systems is that of bias, which leads to acquiring and transmitting an altered perception of reality. AI models are shaped by the worldview of those who build them and can, in turn, impose these ways of thinking by reproducing the stereotypes and prejudices present in the data they draw on. A lack of transparency in algorithmic programming, together with the inadequate social representation of data, tends to trap us in networks that manipulate our thoughts and prolong and intensify existing social inequalities and injustices.

The stakes are high. The power of simulation is such that AI can even deceive us by fabricating parallel “realities,” usurping our faces and voices. We are immersed in a world of multidimensionality where it is becoming increasingly difficult to distinguish reality from fiction.

Inaccuracy only exacerbates this problem. Systems that present statistical probability as knowledge are, at best, offering us approximations of the truth, which are sometimes outright delusions. Failure to verify sources, coupled with the crisis in field reporting, which involves constantly gathering and verifying information in the places where events occur, can further fuel disinformation, causing a growing sense of mistrust, confusion, and insecurity.

A possible alliance

Behind this enormous invisible force that affects us all, there are only a handful of companies, whose founders were recently presented as the creators of the “Person of the Year 2025,” or the architects of artificial intelligence. This gives rise to significant concerns about the oligopolistic control of algorithmic systems and artificial intelligence, which are capable of subtly influencing behavior and even rewriting human history — including the history of the Church — often without us really realizing it.

The task laid before us is not to stop digital innovation, but rather to guide it and to be aware of its ambivalent nature. It is up to each of us to raise our voice in defense of human persons, so that we can truly assimilate these tools as allies.

This alliance is possible, but needs to be based on three pillars: responsibility, cooperation and education.

First of all, responsibility. Depending on the role we play, responsibility can be understood as honesty, transparency, courage, farsightedness, the duty of sharing knowledge or the right to be informed. As a general principle, however, no one can elude personal responsibility for the future we are building.

For those at the helm of online platforms, this means ensuring that their business strategies are not guided solely by the criterion of profit maximization, but also by a forward-looking vision that considers the common good, just as each of them cares for the well-being of their own children.

The creators and developers of AI models are invited to practice transparency and socially responsibility in regard to the design principles and moderation systems underlying their algorithms and the models they develop, in order to promote informed consent on the part of users.

The same responsibility is also required of national legislators and supranational regulators, whose task it is to ensure respect for human dignity. Appropriate regulation can protect individuals from forming emotional attachments to chatbots and curb the spread of false, manipulative or misleading content, safeguarding the integrity of information as opposed to its deceptive simulation.

Media and communication companies, for their part, cannot allow algorithms designed to capture a few extra seconds of attention at any cost, to prevail over their professional values, which are aimed at seeking the truth. Public trust is earned by accuracy and transparency, not by chasing after any kind of possible engagement. Content generated or manipulated by AI are to be clearly marked and distinguished from content created by humans. The authorship and sovereign ownership of the work of journalists and other content creators must be protected. Information is a public good. A constructive and meaningful public service is not based on opacity, but on the transparency of sources, the inclusion of those involved and high quality standards.

We are all called upon to cooperate. No sector can tackle the challenge of steering digital innovation and AI governance alone. Safeguards must therefore be put in place. All stakeholders — from the tech industry to legislators, from creative companies to academia, from artists to journalists and educators — must be involved in building and implementing informed and responsible digital citizenship.

Education aims to do precisely this: To increase our personal ability to think critically; evaluate whether our sources are trustworthy and the possible interests behind selecting the information we have access to; to understand the psychological mechanisms involved; and to enable our families, communities and associations to develop practical criteria for a healthier and more responsible culture of communication.

For this reason, it is increasingly urgent to introduce media, information and AI literacy into education systems at all levels, as already promoted by some civil institutions. As Catholics, we can and must contribute to this effort, so that individuals — especially young people — can acquire critical thinking skills and grow in freedom of spirit. This literacy should also be integrated into broader lifelong learning initiatives, reaching out to older adults and marginalized members of society, who often feel excluded and powerless in the face of rapid technological change.

Media, information and AI literacy will help individuals avoid conforming to the anthropomorphizing tendencies of AI systems, and enable them to treat these systems as tools and always employ external validation of the sources provided by AI systems — which could be inaccurate or incorrect. Literacy will also allow for better privacy and data protection through increased awareness of security parameters and complaint options. It is important to educate ourselves and others about how to use AI intentionally, and in this context to protect our image (photos and audio), our face and our voice, to prevent them from being used in the creation of harmful content and behaviors such as digital fraud, cyberbullying and deepfakes, which violate people’s privacy and intimacy without their consent. Just as the industrial revolution called for basic literacy to enable people to respond to new developments, so too does the digital revolution require digital literacy (along with humanistic and cultural education) to understand how algorithms shape our perception of reality, how AI biases work, what mechanisms determine the presence of certain content in our feeds, what the economic principles and models of the AI economy are and how they might change. 

We need faces and voices to speak for people again. We need to cherish the gift of communication as the deepest truth of humanity, to which all technological innovation should also be oriented.

In outlining these reflections, I thank all those who are working towards the goals delineated above, and I cordially bless all those who work for the common good through the media.

 

From the Vatican, 24 January 2026, Memorial of Saint Francis de Sales

LEO PP. XIV

____________________________________________________

[1] “The fact of being created in the image of God means that, from the moment of his creation, man has been imprinted with a regal character [...]. God is love and the fount of love: the Fashioner of our nature has made this to be our feature too, so that through love — a reflection of divine love — human beings may recognize and manifest the dignity of their nature and their likeness to their Creator” (cf. Saint Gregory of Nyssa, On the Making of ManPG 44, 137).

Copyright © Dicastery for Communication - Libreria Editrice Vaticana

POPE LEO: TECHNOLOGY MUST SERVE THE HUMAN PERSON, NOT REPLACE IT

 


The 60th World Day of Social Communications 

 

Pope Leo: Technology must serve the human person, not replace it

In his message for the 60th World Day of Social Communications, Pope Leo XIV highlights the importance of ensuring that technological innovation, particularly artificial intelligence, serves the human person rather than replacing or diminishing human dignity.

Vatican News

Face and voice are unique traits of every person and form the foundation of human identity and relationships. Reflecting on this truth, Pope Leo XIV introduces his Message for the 60th World Day of Social Communications, which will be celebrated on 17 May 2026, with a focus on digital communication and artificial intelligence, highlighting the need to protect human dignity in an age increasingly shaped by technological innovation.

Human beings, the Pope recalls, are created in the image and likeness of God and called into relationship through the Word. Preserving human faces and voices, therefore, means preserving the divine imprint present in each person and upholding the irreplaceable vocation of every human life.

"Preserving human faces and voices, therefore, means preserving this mark, this indelible reflection of God’s love. We are not a species composed of predefined biochemical formulas. Each of us possesses an irreplaceable and inimitable vocation, that originates from our own lived experience and becomes manifest through interaction with others," he writes.

The anthropological challenge of technology

The Pope warns that digital technologies, especially artificial intelligence systems capable of simulating voices, faces, and emotions, risk altering essential dimensions of human communication.

The challenge, he stresses, is not primarily technological but anthropological; it is a matter of protecting human identity and authentic relationships.

He draws attention to the impact of social media algorithms that prioritise rapid emotional reactions over reflection, weakening critical thinking and fostering social polarisation.

"By grouping people into bubbles of easy consensus and easy outrage, these algorithms reduce our ability to listen and think critically, and increase social polarisation," the Pope explains.

The growing reliance on artificial intelligence for information, creativity, and decision-making, he adds, also risks diminishing analytical skills, imagination, and personal responsibility.

Reality, simulation, and social impact

Pope Leo highlights the difficulty of distinguishing between reality and simulation in digital environments, where automated agents and chatbots can influence public debate and individual choices, shaping emotional responses and personal interactions.

Such dynamics, he notes, may affect not only individuals but also social and cultural life.

Responsibility, cooperation, and education

To address these challenges, the Pope identifies responsibility, cooperation, and education as essential pillars. Technology developers, political authorities, media professionals, and educators are called to promote transparency, safeguard human dignity, and ensure the integrity of information.

"The task laid before us is not to stop digital innovation, but rather to guide it and to be aware of its ambivalent nature. It is up to each of us to raise our voice in defence of human persons, so that we can truly assimilate these tools as allies," Pope Leo says.

Collaboration among institutions and sectors, he writes, is required to guide digital innovation toward the common good.

"No sector can tackle the challenge of steering digital innovation and AI governance alone. Safeguards must therefore be put in place. All stakeholders — from the tech industry to legislators, from creative companies to academia, from artists to journalists and educators — must be involved in building and implementing informed and responsible digital citizenship," the Pope insists. 

Media literacy and digital awareness

Finally, Pope Leo underlines the importance of education in media, information, and artificial intelligence literacy, fostering critical awareness, protecting personal identity, and supporting a responsible culture of communication.

"Just as the industrial revolution called for basic literacy to enable people to respond to new developments, so too does the digital revolution require digital literacy (along with humanistic and cultural education) to understand how algorithms shape our perception of reality, how AI biases work, what mechanisms determine the presence of certain content in our feeds, what the economic principles and models of the AI economy are and how they might change," he writes. 

Renewed care for face and voice, he concludes, remains central to preserving the human dimension of communication and orienting technological progress to the service of the human person.

"We need faces and voices to speak for people again. We need to cherish the gift of communication as the deepest truth of humanity, to which all technological innovation should also be oriented," the Pope concludes.

 

https://www.vaticannews.va/en/pope/news/2026-01/pope-leo-xiv-messsage-world-day-social-communications-ai-human.html

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊ-Ô XIV NHÂN NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI LẦN THỨ 60

 


Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60

Trong Sứ điệp nhân Ngày Truyền thông Xã hội Thế giới lần thứ 60, sẽ được cử hành vào Chúa Nhật lễ Chúa Thăng Thiên, ngày 17/05/2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV tập trung vào truyền thông kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo. Ngài nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ phẩm giá con người trong thời đại ngày càng được định hình bởi sự đổi mới công nghệ và nói rằng sự đổi mới công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, là để phục vụ con người chứ không phải thay thế hoặc làm giảm phẩm giá con người.

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
Nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60
Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người

Anh chị em thân mến!

Khuôn mặt và tiếng nói là những nét độc đáo, riêng biệt của mỗi người; chúng diễn tả căn tính độc đáo và là yếu tố cấu thành của mọi cuộc gặp gỡ. Người xưa hiểu rõ điều này. Vì vậy, để định nghĩa con người, người Hy Lạp cổ đại đã dùng từ "khuôn mặt" (prósōpon), về mặt từ nguyên, nó chỉ cái đứng trước cái nhìn, nơi của sự hiện diện và mối tương quan. Thuật ngữ Latinh persona (từ per-sonare: vang qua) lại bao hàm âm thanh: không phải bất kỳ âm thanh nào, mà là tiếng nói không thể nhầm lẫn của một ai đó.

Khuôn mặt và tiếng nói là những điều thánh thiêng. Chúng được ban tặng cho chúng ta bởi Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Người, và giống như Người. Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến với sự sống bằng Lời mà chính Người đã ngỏ với chúng ta; Lời ấy thoạt đầu vang vọng qua các thế kỷ qua tiếng nói của các ngôn sứ, sau đó đã trở nên xác phàm trong thời viên mãn. Chúng ta đã có thể nghe và thấy Lời này – mặc khải mà qua đó Thiên Chúa tự tỏ lộ chính mình – một cách trực tiếp (x. 1 Ga 1,1-3), bởi vì Lời đã mặc khải chính mình qua tiếng nói và Khuôn mặt của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa.

Ngay từ giây phút tạo dựng, Thiên Chúa đã muốn con người trở thành đối tác đối thoại của Người, và như Thánh Grêgôriô Nyssa đã nói,[1] Người đã in dấu trên khuôn mặt con người một phản chiếu của tình yêu thần linh, để họ có thể sống trọn vẹn nhân tính của mình thông qua tình yêu. Vì thế, gìn giữ khuôn mặt và tiếng nói con người có nghĩa là bảo tồn dấu ấn này, hình ảnh phản chiếu không thể xóa nhòa của tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta không phải là một loài được tạo thành từ các thuật toán hóa sinh đã được xác định trước. Mỗi chúng ta có một ơn gọi không thể thay thế và không thể bắt chước, nảy sinh từ cuộc sống và biểu lộ chính trong việc truyền thông với người khác.

Nếu chúng ta không bảo vệ được điều này, công nghệ kỹ thuật số có nguy cơ làm thay đổi triệt để một số cột trụ cơ bản của nền văn minh nhân loại, những điều mà đôi khi chúng ta coi là đương nhiên. Bằng cách mô phỏng giọng nói và khuôn mặt con người, sự khôn ngoan và tri thức, ý thức và trách nhiệm, sự đồng cảm và tình bạn, các hệ thống được gọi là trí tuệ nhân tạo không chỉ can thiệp vào các hệ sinh thái thông tin, mà còn xâm chiếm đến mức độ sâu thẳm nhất của truyền thông: đó là mối quan hệ giữa người với người.

Thách đố, do đó, không phải là công nghệ, mà là nhân chủng học. Gìn giữ khuôn mặt và tiếng nói xét cho cùng là bảo vệ chính chúng ta. Đón nhận với lòng can đảm, quyết tâm và sự phân định những cơ hội mà công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo mang lại không có nghĩa là che giấu đi những điều tiêu cực, không rõ ràng và các rủi ro.

Đừng từ bỏ tư duy của chính mình

Từ lâu đã có nhiều bằng chứng cho thấy các thuật toán được thiết kế để tối đa hóa sự tương tác trên mạng xã hội – vốn mang lại lợi nhuận cho các nền tảng – thường ưu tiên những cảm xúc tức thời và ngược lại, kìm hãm những biểu hiện nhân văn cần nhiều thời gian hơn như nỗ lực thấu hiểu và suy tư. Bằng cách đóng khung các nhóm người vào những "bong bóng" của sự đồng thuận và phẫn nộ một cách dễ dãi, các thuật toán này làm suy yếu khả năng lắng nghe, tư duy phản biện và làm gia tăng sự phân cực xã hội.

Thêm vào đó là sự tin tưởng ngây thơ và thiếu phê phán vào trí tuệ nhân tạo như một người "bạn" toàn tri, nơi cung cấp mọi thông tin, kho lưu trữ mọi ký ức, và là "vị quân sư" cho mọi lời khuyên. Tất cả những điều này có thể bào mòn thêm khả năng suy nghĩ phân tích và sáng tạo của chúng ta, khả năng hiểu ý nghĩa, và việc phân biệt giữa cú pháp và ngữ nghĩa.

Mặc dù AI có thể hỗ trợ và giúp đỡ trong việc quản lý các hoạt động truyền thông, việc trốn tránh nỗ lực tư duy của chính mình và bằng lòng với một bản tổng hợp thống kê nhân tạo, về lâu dài sẽ có nguy cơ làm xói mòn các khả năng nhận thức, cảm xúc và giao tiếp của chúng ta.

Trong những năm gần đây, các hệ thống trí tuệ nhân tạo ngày càng nắm quyền kiểm soát việc sản xuất văn bản, âm nhạc và video. Phần lớn ngành công nghiệp sáng tạo của con người có nguy cơ bị tháo gỡ và thay thế bằng việc dán nhãn "Được hỗ trợ bởi AI”, biến con người thành những người tiêu dùng thụ động những tư tưởng vô hồn, những sản phẩm vô danh, không có tác giả, không có tình yêu. Trong khi đó, các kiệt tác thiên tài của con người trong lĩnh vực âm nhạc, nghệ thuật và văn học lại bị hạ thấp xuống thành một môi trường huấn luyện kỹ năng thuần túy cho máy móc.

Vấn đề chúng ta quan tâm, tuy nhiên, không phải là máy móc có thể hoặc sẽ làm được gì, mà là chúng ta có thể và sẽ làm được gì để thăng tiến về nhân tính và tri thức, bằng cách sử dụng khôn ngoan những công cụ mạnh mẽ như vậy để phục vụ chúng ta. Từ xưa đến nay, con người luôn bị cám dỗ chiếm dụng thành quả của tri thức mà không cần nỗ lực dấn thân, tìm tòi và trách nhiệm cá nhân. Thế nhưng, từ bỏ quá trình sáng tạo và nhường cho máy móc các chức năng tinh thần và trí tưởng tượng của mình đồng nghĩa với việc chôn vùi những nén bạc chúng ta đã nhận được để phát triển như những con người trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Điều đó có nghĩa là che giấu khuôn mặt và làm câm lặng tiếng nói của chính mình.

“Thật hay giả”: Sự mô phỏng các mối quan hệ và thực tại

Khi chúng ta lướt qua các luồng thông tin, ngày càng khó để phân biệt liệu chúng ta đang tương tác với những người khác hay với các "người máy tự động” hoặc "người có ảnh hưởng ảo”. Sự can thiệp thiếu minh bạch của các tác nhân tự động này ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận công khai và các lựa chọn của con người. Đặc biệt, các chatbot dựa trên các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) và trên khả năng tính toán của chúng đang chứng tỏ hiệu quả đáng ngạc nhiên trong việc thuyết phục ngầm, thông qua việc liên tục tối ưu hóa các tương tác cá nhân hóa. Cấu trúc đối thoại, sự thích nghi và bắt chước của các mô hình ngôn ngữ này có khả năng mô phỏng cảm xúc con người và giả lập một mối quan hệ. Sự nhân hóa này, dù có thể thú vị, nhưng đồng thời lại mang tính lừa dối, đặc biệt đối với những người dễ bị tổn thương nhất. Bởi vì các chatbot được làm cho trở nên quá mức "ân cần", luôn hiện diện và sẵn sàng, có thể trở thành những kiến trúc sư ẩn mình điều khiển trạng thái cảm xúc của chúng ta, xâm nhập và chiếm lĩnh không gian riêng tư của con người.

Công nghệ khai thác nhu cầu tương quan của chúng ta không chỉ gây ra những hậu quả đau đớn cho số phận cá nhân, mà còn có thể làm tổn hại đến cấu trúc xã hội, văn hóa và chính trị. Điều này xảy ra khi chúng ta thay thế các mối quan hệ với người khác bằng các mối quan hệ với AI được huấn luyện để phân loại suy nghĩ của chúng ta, từ đó xây dựng xung quanh chúng ta một thế giới của những gương phản chiếu, nơi mọi thứ đều được tạo ra "theo hình ảnh và giống hình ảnh của chính chúng ta". Bằng cách này, chúng ta để mình bị tước đoạt cơ hội gặp gỡ người khác – những người luôn khác biệt với chúng ta, và là những người mà chúng ta có thể và phải học cách tương tác. Nếu không đón nhận sự khác biệt, sẽ không thể có tương quan hay tình bạn.

Một thách đố lớn khác mà các hệ thống mới nổi này đặt ra là việc bóp méo thông tin, dẫn đến việc tiếp nhận và truyền tải một nhận thức sai lệch về thực tại. Các mô hình AI được hình thành bởi thế giới quan của những người tạo ra chúng, và đến lượt mình, chúng có thể áp đặt cách suy nghĩ bằng cách lặp lại các khuôn mẫu và định kiến có sẵn trong dữ liệu mà chúng khai thác. Sự thiếu minh bạch trong thiết kế thuật toán, cùng với sự thể hiện dữ liệu xã hội không đầy đủ, có xu hướng khiến chúng ta bị mắc kẹt trong những mạng lưới thao túng suy nghĩ, duy trì và đào sâu thêm những bất bình đẳng và bất công xã hội hiện có.

Rủi ro là rất lớn. AI có khả nằn mô phỏng đến mức thậm chí có thể đánh lừa chúng ta bằng việc chế tạo ra các "thực tại" song song, chiếm đoạt khuôn mặt và tiếng nói của chúng ta. Chúng ta đang sống trong một không gian đa chiều, nơi việc phân biệt giữa thực và ảo đang trở nên ngày càng khó khăn.

Thêm vào đó là vấn đề về sự thiếu chính xác. Những hệ thống coi xác suất thống kê như là tri thức thực chất chỉ cung cấp cho chúng ta những ước lượng gần đúng về sự thật, đôi khi thậm chí là những “ảo giác” hoàn toàn. Việc không kiểm chứng nguồn tin, cùng với cuộc khủng hoảng của nền báo chí thực địa – vốn đòi hỏi công việc liên tục thu thập và xác minh thông tin ngay tại nơi xảy ra sự kiện – có thể tạo ra một mảnh đất ngày càng màu mỡ cho thông tin sai lệch, gây ra cảm giác mất lòng tin, hoang mang và bất an ngày càng tăng.

Một liên minh khả thi

Đằng sau sức mạnh to lớn nhưng vô hình đang cuốn hút tất cả chúng ta, chỉ có một số rất ít công ty, những công ty mà các nhà sáng lập mới đây được giới thiệu như là những nhà sáng tạo của “nhân vật của năm 2025”, tức là những kiến trúc sư của trí tuệ nhân tạo. Điều này làm dấy lên một mối lo ngại đáng kể về sự kiểm soát mang tính độc quyền đối với các hệ thống thuật toán và trí tuệ nhân tạo có khả năng âm thầm định hướng hành vi con người, thậm chí viết lại lịch sử nhân loại – bao gồm cả lịch sử của Giáo hội – mà nhiều khi chúng ta không hề ý thức được.

Thách đố đang chờ đợi chúng ta không phải là ngăn chặn sự đổi mới kỹ thuật số, mà là định hướng nó, ý thức rõ tính hai mặt của công nghệ. Mỗi người chúng ta được mời gọi lên tiếng bảo vệ con người, để những công cụ này thực sự có thể được tích hợp như những đồng minh.

Liên minh này là điều có thể, nhưng cần được xây dựng trên ba trụ cột: trách nhiệm, hợp tác và giáo dục.

Trước hết là trách nhiệm. Tùy theo vai trò, trách nhiệm này có thể được thể hiện qua sự trung thực, minh bạch, can đảm, tầm nhìn, nghĩa vụ chia sẻ tri thức và quyền được thông tin. Nhưng nói chung, không ai có thể trốn tránh trách nhiệm của mình đối với tương lai mà chúng ta đang kiến tạo.

Đối với những người đứng đầu các nền tảng trực tuyến, điều này có nghĩa là bảo đảm các chiến lược kinh doanh của họ không chỉ được dẫn dắt bởi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, mà còn bởi một tầm nhìn dài hạn vì thiện ích chung, giống như cách mỗi người quan tâm đến hạnh phúc của con cái mình.

Các nhà sáng tạo và phát triển mô hình AI cần phải minh bạch và có trách nhiệm xã hội về các nguyên tắc thiết kế cũng như hệ thống kiểm duyệt và điều tiết nền tảng của các thuật toán và mô hình mà họ xây dựng, nhằm giúp người dùng có được sự đồng thuận dựa trên hiểu biết.

Trách nhiệm tương tự cũng được đặt lên vai các nhà lập pháp quốc gia và các cơ quan quản lý siêu quốc gia, những người có bổn phận bảo vệ phẩm giá con người. Một khuôn khổ pháp lý phù hợp có thể bảo vệ con người khỏi những gắn bó cảm xúc lệch lạc với chatbot và hạn chế sự lan truyền của nội dung sai lệch, thao túng hoặc gây hiểu lầm, đồng thời gìn giữ tính toàn vẹn của thông tin trước những mô phỏng gian dối.

Các doanh nghiệp truyền thông và thông tin đại chúng cũng không thể cho phép các thuật toán – vốn chỉ nhằm giành thêm vài giây chú ý bằng mọi giá – lấn át sự trung thành với các giá trị nghề nghiệp của họ, là tìm kiếm sự thật. Niềm tin của công chúng được xây dựng bằng độ chính xác và minh bạch, chứ không phải bằng việc chạy theo mọi hình thức tương tác. Nội dung do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa cần được ghi chú và phân biệt rõ ràng với nội dung do con người tạo nên. Cần bảo vệ quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ của các nhà báo và những người sáng tạo nội dung khác. Thông tin là một thiện ích công cộng. Một dịch vụ công mang tính xây dựng và có ý nghĩa, không dựa trên sự mập mờ mà trên tính minh bạch của nguồn tin, sự bao gồm các chủ thể liên quan và các tiêu chuẩn chất lượng cao.

Tất cả chúng ta đều được mời gọi hợp tác. Không một lĩnh vực nào có thể đơn độc đối diện với thách đố của việc định hướng sự đổi mới kỹ thuật số và quản trị AI. Vì thế, cần thiết phải thiết lập các cơ chế bảo vệ. Mọi bên liên quan – từ ngành công nghệ, các nhà lập pháp, các doanh nghiệp sáng tạo, giới học thuật, nghệ sĩ, nhà báo cho đến các nhà giáo dục – đều phải tham gia vào việc xây dựng và thực hiện một tình trạng công dân kỹ thuật số có ý thức và trách nhiệm.

Đó chính là mục tiêu của giáo dục: gia tăng năng lực suy tư phản biện cá nhân, đánh giá độ tin cậy của các nguồn tin và những lợi ích ẩn sau việc chọn lọc thông tin, hiểu các cơ chế tâm lý mà chúng kích hoạt, đồng thời giúp gia đình, cộng đồng và các tổ chức xây dựng những tiêu chí thực hành cho một nền văn hóa truyền thông lành mạnh và có trách nhiệm hơn.

Chính vì vậy, việc đưa kiến thức về trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục ở mọi cấp độ, song song với kiến thức truyền thông, ngày càng trở nên cấp thiết. Thuật ngữ MAIL (Media and Artificial Intelligence Literacy – Kiến thức về Truyền thông và Trí tuệ Nhân tạo) diễn tả rõ nhu cầu này, và một số tổ chức dân sự đã bắt đầu thúc đẩy nhận thức này. Là người Công giáo, chúng ta có thể và phải đóng góp để giúp mọi người – đặc biệt là giới trẻ – có được khả năng phát triển tư duy phản biện và phát triển trong tự do nội tâm. MAIL cũng cần được tích hợp vào các chương trình giáo dục thường xuyên, hướng đến cả người cao tuổi và những nhóm bị gạt ra bên lề xã hội, những người thường cảm thấy bị loại trừ và bất lực trước những thay đổi công nghệ quá nhanh.

MAIL sẽ giúp mọi người không chạy theo xu hướng nhân cách hóa các hệ thống AI, nhưng biết đối xử với chúng như những công cụ; luôn kiểm chứng độc lập các nguồn thông tin do AI cung cấp – vốn có thể thiếu chính xác hoặc sai lầm; đồng thời bảo vệ quyền riêng tư và dữ liệu cá nhân bằng cách hiểu các thông số an toàn và cơ chế khiếu nại. Điều quan trọng là phải giáo dục mọi người về cách sử dụng AI một cách có chủ đích, và trong bối cảnh này, bảo vệ hình ảnh (ảnh và âm thanh), khuôn mặt và giọng nói của họ, để ngăn chặn việc chúng bị sử dụng để tạo ra nội dung và hành vi có hại như gian lận kỹ thuật số, bắt nạt trực tuyến và deepfake, những hành vi vi phạm quyền riêng tư và sự thân mật của con người khi chưa có sự đồng ý.

Như cuộc cách mạng công nghiệp đòi hỏi trình độ biết chữ cơ bản để con người thích ứng với cái mới, cuộc cách mạng kỹ thuật số hôm nay cũng đòi hỏi trình độ hiểu biết kỹ thuật số – cùng với nền tảng giáo dục nhân văn và văn hóa – để hiểu cách các thuật toán định hình nhận thức của chúng ta về thực tại, cách các thiên kiến của AI vận hành, cơ chế quyết định nội dung xuất hiện trong các luồng thông tin, cũng như các giả định và mô hình kinh tế của nền kinh tế AI và khả năng biến đổi của chúng.

Chúng ta cần để khuôn mặt và tiếng nói một lần nữa diễn tả con người. Chúng ta cần gìn giữ món quà của truyền thông như chân lý sâu xa nhất của con người, và hướng mọi đổi mới công nghệ về phục vụ chân lý ấy.

Khi chia sẻ những suy tư này, tôi xin cảm ơn tất cả những ai đang nỗ lực vì những mục tiêu được nêu trên, và chân thành chúc lành cho tất cả những người đang làm việc vì thiện ích chung qua các phương tiện truyền thông.

Vatican, 24 tháng 01 năm 2026
LÊÔ XIV

 

[1] S. Gregorio di Nissa, La creazione dell’uomoPG 44, 137.

 

https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2026-01/su-diep-cua-dtc-leo-xiv-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-60.html

SỨ ĐIỆP CỦA ĐTC LÊ-Ô XIV NHÂN NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN GIÁO LẦN THỨ 100

 


Các nữ tu Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêsa Cancútta ở Ấn Độ  (AFP or licensors)

 

Sứ điệp của ĐTC Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Truyền giáo lần thứ 100: Không ai được thờ ơ với sứ vụ truyền giáo

Trong Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Truyền giáo lần thứ 100, sẽ được cử hành vào ngày 18/10/2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV viết rằng căn tính của Giáo hội là một cộng đoàn hiệp thông truyền giáo, “phục vụ tình huynh đệ giữa tất cả mọi người và sự hòa hợp với toàn thể thụ tạo”. Trong một thế giới xung đột ngày càng sâu sắc, theo Đức Thánh Cha, việc rao giảng Tin Mừng cần những tâm hồn bình an và tinh thần hòa giải, có khả năng nuôi dưỡng sự hiệp nhất.

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
Nhân Ngày Thế Giới Truyền Giáo lần thứ 100
(18/10/2026)
“Nên một trong Đức Kitô, hiệp nhất trong sứ vụ”
 

Anh chị em thân mến,

Nhân Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2026, kỷ niệm tròn 100 năm ngày được Đức Piô XI thiết lập và rất quan trọng đối với Giáo hội, tôi đã chọn chủ đề: Nên một trong Đức Kitô, hiệp nhất trong sứ vụ. Sau Năm Thánh, tôi mong muốn khích lệ toàn thể Giáo hội tiếp tục hành trình truyền giáo với niềm vui và lòng nhiệt thành trong Chúa Thánh Thần. Điều này đòi hỏi những con tim hiệp nhất trong Đức Kitô, những cộng đoàn được hòa giải, và nơi mỗi người, sự sẵn sàng cộng tác với lòng quảng đại và tín thác.

Khi suy tư về việc trở nên một trong Đức Kitô và hiệp nhất trong sứ vụ, chúng ta hãy để ân sủng Thiên Chúa hướng dẫn và soi sáng, “để canh tân trong chúng ta ngọn lửa của ơn gọi truyền giáo” và cùng nhau tiến bước trong sự dấn thân loan báo Tin Mừng, trong “thời đại truyền giáo mới” của lịch sử Giáo hội (Bài giảng, Ngày Năm Thánh Thế giới Truyền giáo và Người Di cư, 5/10/2025).

1. Nên một trong Đức Kitô – Những môn đệ truyền giáo hiệp nhất trong Người và với anh chị em mình

Mầu nhiệm hiệp nhất với Đức Kitô nằm ở trung tâm của sứ vụ. Trước cuộc Thương Khó, Đức Giêsu đã cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Xin cho tất cả họ nên một. Như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17,21). Những lời này diễn tả ước muốn sâu xa nhất của Đức Giêsu, cũng như căn tính của Giáo hội như một cộng đoàn các môn đệ của Người. Đó là một sự hiệp thông phát xuất từ Ba Ngôi Thiên Chúa và được chính Chúa Ba Ngôi củng cố. Một sự hiệp thông phục vụ tình huynh đệ giữa mọi người và sự hòa hợp với toàn thể thụ tạo.

Là Kitô hữu không chỉ đơn thuần là một tập hợp những thực hành hay ý tưởng, mà là một đời sống hiệp nhất với Đức Kitô, trong đó chúng ta được tham dự vào mối tương quan con thảo của Người với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Đó là ở lại trong Đức Kitô như cành nho gắn liền với cây nho (x. Ga 15,4), được đắm mình trong sự sống của Chúa Ba Ngôi. Sự hiệp nhất này phát sinh sự hiệp thông giữa các tín hữu và là nguồn mạch của mọi kết quả truyền giáo. Thật vậy, như Thánh Gioan Phaolô II đã dạy, “hiệp thông vừa là nguồn gốc vừa là hoa trái của việc truyền giáo” (Tông huấn Christifideles Laici, số 32).

Trong bối cảnh ấy, trách nhiệm truyền giáo hàng đầu của Giáo hội là canh tân và củng cố sự hiệp nhất thiêng liêng và huynh đệ giữa các thành viên. Trong nhiều hoàn cảnh, chúng ta gặp phải xung đột, phân cực, hiểu lầm và thiếu lòng tin lẫn nhau. Khi những điều này xảy ra ngay trong các cộng đoàn của chúng ta, chứng tá Kitô giáo bị tổn hại. Sứ mạng loan báo Tin Mừng mà Đức Kitô trao phó cho các môn đệ trước hết đòi hỏi những tâm hồn đã được hòa giải và khao khát hiệp thông. Vì thế, cần phải tăng cường các nỗ lực đại kết với mọi Giáo hội Kitô giáo, đồng thời nắm bắt những cơ hội nảy sinh khi cùng nhau cử hành kỷ niệm 1700 năm Công đồng Nixêa mang lại.

Sau cùng, nhưng không kém phần quan trọng, việc trở nên “một trong Đức Kitô” mời gọi chúng ta luôn hướng nhìn về Chúa, để Người thực sự là trung tâm của đời sống cá nhân và cộng đoàn của chúng ta, là trung tâm của mọi lời nói, hành động và các mối tương quan giữa con người với nhau. Nhờ đó, chúng ta có thể thốt lên với sự kinh ngạc: “Không còn là tôi sống, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Khi không ngừng lắng nghe Lời Người và nhờ ân sủng của các Bí tích, chúng ta có thể trở nên những viên đá sống động trong Giáo hội.

Ngày nay, Giáo hội được mời gọi tiếp nhận lại những chủ đề căn bản của Công đồng Vaticanô II và Huấn quyền của các Giáo hoàng tiếp sau đó, đặc biệt là của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Thật vậy, như Thánh Phaolô khẳng định: “Chúng tôi không rao giảng chính mình, nhưng rao giảng Đức Giêsu Kitô là Chúa” (2 Cr 4,5). Vì lý do đó, tôi nhắc lại lời của Thánh Phaolô VI: “Không có việc loan báo Tin Mừng đích thực nếu danh xưng, giáo huấn, đời sống, những lời hứa, vương quốc và mầu nhiệm của Đức Giêsu thành Nadarét, Con Thiên Chúa, không được công bố” (Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 22). Tiến trình loan báo Tin Mừng chân thực này khởi đi từ con tim của mỗi Kitô hữu để vươn tới toàn thể nhân loại. Vì thế, chúng ta càng hiệp nhất trong Đức Kitô bao nhiêu, thì càng có khả năng cùng nhau chu toàn sứ mạng mà Người đã trao phó cho chúng ta bấy nhiêu.

2. Hiệp nhất trong sứ vụ – để thế giới tin vào Chúa Kitô 

Sự hiệp nhất của các môn đệ không phải là mục đích tự thân, nhưng hướng đến sứ vụ. Đức Giêsu đã nói rõ điều này: “Để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21). Chính nhờ chứng tá của một cộng đoàn đã được hòa giải, sống tình huynh đệ và hiệp nhất, mà việc loan báo Tin Mừng đạt được sức mạnh truyền thông trọn vẹn.

Trong bối cảnh này, thật hữu ích khi nhắc lại khẩu hiệu của Chân phước Paolo Manna: Toàn thể Giáo hội vì sự hoán cải của toàn thế giới, khẩu hiệu đã truyền cảm hứng cho việc thành lập Liên hiệp Truyền giáo Giáo hoàng vào năm 1916. Nhân dịp kỷ niệm 110 năm thành lập, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và chúc lành cho sự dấn thân của Liên hiệp trong việc khơi dậy và đào luyện tinh thần truyền giáo nơi các linh mục, tu sĩ và giáo dân, cũng như trong việc cổ võ sự hiệp nhất của mọi nỗ lực loan báo Tin Mừng. Thật vậy, không một người nào đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy được miễn trừ hay thờ ơ trước sứ mạng: mỗi người, tùy theo ơn gọi và bậc sống của mình, đều tham dự vào công trình lớn lao mà Đức Kitô đã trao phó cho Giáo hội. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô thường nhắc nhở, việc loan báo Tin Mừng luôn là một hành động mang tính hài hòa, cộng đoàn và hiệp hành.

Chính vì thế, hiệp nhất trong sứ vụ có nghĩa là gìn giữ và nuôi dưỡng linh đạo hiệp thông và cộng tác truyền giáo. Khi càng ngày càng trưởng thành trong thái độ này, nhờ ân sủng Thiên Chúa, chúng ta càng học biết nhìn anh chị em mình bằng đôi mắt đức tin. Chúng ta cũng học cách vui mừng nhận ra những điều tốt đẹp mà Chúa Thánh Thần khơi dậy nơi mỗi người, đón nhận sự đa dạng như một kho tàng, cùng mang lấy gánh nặng của nhau và luôn tìm kiếm sự hiệp nhất đến từ trên cao. Thật vậy, tất cả chúng ta cùng tham dự vào một sứ mạng trong “một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha của mọi người, Đấng ở trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4,5-6). Linh đạo này là cách thế sống hằng ngày của người môn đệ truyền giáo; nó giúp chúng ta tái khám phá tầm nhìn phổ quát của sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo hội, đồng thời vượt qua sự thiếu phối hợp và nguy cơ chia rẽ phe phái - “Tôi thuộc về Phaolô”, “còn tôi thuộc về Apôllô” (x. 1 Cr 1,10-12) - giữa những người theo cùng một Chúa duy nhất.

Dĩ nhiên, sự hiệp nhất trong sứ vụ truyền giáo không nên được hiểu là sự đồng nhất, mà đúng hơn là sự hội tụ của những đặc sủng khác nhau vì cùng một mục đích, đó là làm cho tình yêu của Đức Kitô trở nên hữu hình và mời gọi mọi người gặp gỡ Người. Việc loan báo Tin Mừng đạt được hiệu quả khi các cộng đoàn địa phương biết cộng tác với nhau, và khi những khác biệt về văn hóa, linh đạo và phụng vụ được thể hiện cách trọn vẹn và hài hòa trong cùng một đức tin. Vì thế, tôi khuyến khích tất cả các tổ chức trong Giáo hội củng cố ý thức hiệp thông truyền giáo mang tính Giáo hội của mình, đồng thời phát triển những cách thức cộng tác sáng tạo và cụ thể với nhau, vì sứ vụ và trong sứ vụ.

Trong bối cảnh đó, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các Hội Giáo hoàng Truyền giáo vì sự phục vụ của họ đối với sự hợp tác truyền giáo, điều mà tôi đã cảm nghiệm với lòng tri ân trong thời gian thi hành thừa tác vụ tại Peru. Các Hội này - Hội Truyền bá Đức Tin, Hội Thánh Nhi, Hội Thánh Phêrô Tông Đồ và Liên hiệp Giáo hoàng Truyền giáo - tiếp tục nuôi dưỡng và đào tạo ý thức truyền giáo cho các tín hữu ở mọi lứa tuổi, đồng thời cổ võ một mạng lưới cầu nguyện và bác ái nối kết các cộng đoàn trên khắp thế giới. Điều đáng lưu ý rằng người sáng lập Hội Truyền bá Đức Tin, Chân phước Pauline Marie Jaricot, đã thiết lập Kinh Mân Côi Sống cách đây hai trăm năm. Cho đến hôm nay, sáng kiến này vẫn tiếp tục quy tụ nhiều tín hữu trên toàn thế giới để cầu nguyện cho mọi nhu cầu thiêng liêng và truyền giáo. Cũng cần nhắc lại rằng, theo đề nghị của Hội Truyền bá Đức Tin, Đức Giáo hoàng Piô XI đã thiết lập Ngày Thế giới Truyền giáo vào năm 1926. Các khoản đóng góp được quyên góp hằng năm trong ngày này được Hội phân phối, nhân danh Đức Giáo hoàng, để hỗ trợ những nhu cầu khác nhau trong sứ vụ của Giáo hội. Vì thế, bốn Hội này, xét như một tổng thể, cũng như mỗi Hội theo đặc sủng riêng của mình, vẫn đang đảm nhận một vai trò quý giá đối với toàn thể Giáo hội. Các Hội là dấu chỉ sống động của sự hiệp nhất và hiệp thông truyền giáo trong Giáo hội. Tôi mời gọi mọi người cộng tác với các Hội trong tinh thần biết ơn.

3. Sứ mạng yêu thương – Loan báo, sống và chia sẻ tình yêu trung tín của Thiên Chúa

Nếu hiệp nhất là điều kiện của sứ vụ, thì tình yêu chính là bản chất của nó. Tin Mừng mà chúng ta được sai đi loan báo cho thế giới không phải là một lý tưởng trừu tượng, nhưng là Tin Mừng về tình yêu trung tín của Thiên Chúa, được thể hiện qua dung mạo và cuộc sống của Đức Giêsu Kitô.

Sứ vụ của các môn đệ và của toàn thể Giáo hội là tiếp nối sứ vụ của Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần: một sứ vụ phát sinh từ tình yêu, được sống trong tình yêu và dẫn đưa đến tình yêu. Thật vậy, trong lời cầu nguyện trọng đại dâng lên Chúa Cha trước cuộc Thương Khó của Người, sau khi khẩn xin cho các môn đệ được hiệp nhất, Người kết luận: “để tình yêu mà Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ” (Ga 17,26). Được thúc đẩy bởi tình yêu của Đức Kitô, các Tông đồ đã ra đi loan báo Tin Mừng cho Đức Kitô (x. 2 Cr 5,14). Cũng vậy, suốt dòng lịch sử, vô số Kitô hữu - các vị tử đạo, các chứng nhân và các nhà truyền giáo - đã hiến dâng mạng sống mình để làm cho thế giới nhận biết tình yêu thần linh này. Vì thế, được Chúa Thánh Thần, Thần Khí của tình yêu, hướng dẫn, sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo hội sẽ tiếp tục cho đến tận cùng thời gian.

Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đối với các nhà truyền giáo ad gentes ngày nay. Như thánh Phanxicô Xaviê, họ đã rời bỏ quê hương, gia đình và mọi bảo đảm an toàn để loan báo Tin Mừng, mang Đức Kitô và tình yêu của Người đến những nơi thường đầy thách đố, nghèo khó, xung đột hoặc xa lạ về văn hóa. Dù phải đối diện với nghịch cảnh và những giới hạn của con người, họ vẫn tiếp tục dấn thân cách vui tươi, bởi họ biết rằng chính Đức Kitô và Tin Mừng của Người là kho tàng lớn nhất mà chúng ta có thể trao ban. Qua sự kiên trì của mình, họ chứng tỏ rằng tình yêu của Thiên Chúa vượt lên trên mọi rào cản. Thế giới hôm nay vẫn cần đến những chứng nhân can đảm của Đức Kitô, và các cộng đoàn Giáo hội vẫn cần những ơn gọi truyền giáo mới. Chúng ta phải luôn trân trọng họ và không ngừng cầu nguyện cùng Chúa Cha cho họ. Xin Người ban cho chúng ta hồng ân có được những người trẻ và người trưởng thành sẵn sàng từ bỏ mọi sự để theo Đức Kitô trên con đường loan báo Tin Mừng, cho đến tận cùng trái đất!

Với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với các nhà truyền giáo nam nữ, tôi xin tha thiết kêu gọi toàn thể Giáo hội cùng đồng hành với họ trong sứ mạng loan báo Tin Mừng, qua chứng tá đời sống của chúng ta trong Đức Kitô, qua lời cầu nguyện và qua những đóng góp cho công cuộc truyền giáo. Thường thì, như chúng ta biết, “Đấng là Tình yêu không được yêu mến”, như thánh Phanxicô Assisi, vị thánh mà chúng ta kỷ niệm tám trăm năm ngày ngài về trời, đã nói. Chúng ta hãy để mình được thấm nhuần khát vọng của ngài là sống trong tình yêu của Chúa và chuyển trao tình yêu ấy cho những người ở gần cũng như ở xa, bởi như ngài đã nói: “chúng ta phải hết lòng yêu mến Tình yêu, Đấng đã hết lòng yêu thương chúng ta ” (thánh Bônaventura thành Bagnoregio, Cuộc đời thánh Phanxicô, chương IX, 1; Fonti Francescane, 1161). Chúng ta cũng hãy kín múc nguồn cảm hứng từ lòng nhiệt thành của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, người đã tuyên bố rằng mình sẽ tiếp tục sứ vụ ngay cả sau khi qua đời: “Trên Thiên Đàng, con sẽ vẫn ước muốn điều con đang ước muốn dưới đất này: yêu mến Chúa Giêsu và làm cho Người được yêu mến” (Thư số 220 gửi cha Bellière, ngày 24 tháng 2 năm 1897).

Được truyền cảm hứng bởi những chứng tá ấy, tất cả chúng ta, tùy theo ơn gọi riêng và những ân huệ chúng ta đã lãnh nhận, hãy dấn thân đóng góp vào sứ mạng cao cả của việc loan báo Tin Mừng - vốn luôn là hoạt động của tình yêu. Lời cầu nguyện và sự nâng đỡ cụ thể của anh chị em, đặc biệt trong Ngày Thế giới Truyền giáo, sẽ là sự trợ giúp lớn lao để mang Tin Mừng của tình yêu Thiên Chúa đến với mọi người, nhất là những người nghèo nhất và những ai túng thiếu nhất. Mỗi món quà, dù nhỏ bé, đều trở thành một hành vi đầy ý nghĩa của sự hiệp thông truyền giáo. Tôi xin lặp lại lòng biết ơn chân thành của tôi “vì tất cả những gì anh chị em sẽ làm để giúp tôi hỗ trợ các nhà truyền giáo trên khắp thế giới” (Sứ điệp Video cho Ngày Thế giới Truyền giáo 2025, ngày 19 tháng 10 năm 2025). Để vun đắp sự hiệp thông thiêng liêng, tôi ban phép lành cho anh chị em, cùng với lời cầu nguyện đơn sơ này:

Lạy Chúa là Cha Chí Thánh, xin làm cho chúng con nên một trong Đức Kitô,
được đâm rễ trong tình yêu của Người, tình yêu hiệp nhất và đổi mới.
Xin cho mọi thành phần trong Giáo hội được hiệp nhất trong sứ vụ,
ngoan ngoãn vâng theo Chúa Thánh Thần, can đảm làm chứng cho Tin Mừng,
mỗi ngày loan báo và thể hiện tình yêu trung tín của Cha đối với mọi thụ tạo.
Xin chúc lành cho tất cả các nhà truyền giáo nam nữ,
nâng đỡ những nỗ lực của họ và gìn giữ họ trong niềm hy vọng!
Lạy Đức Maria, Nữ Vương các xứ truyền giáo,
xin đồng hành với công cuộc loan báo Tin Mừng của chúng con ở mọi nơi trên trái đất:
xin làm cho chúng con trở thành khí cụ bình an,
và ban cho toàn thế giới nhận ra nơi Đức Kitô ánh sáng cứu độ. Amen.

Vatican, ngày 25 tháng 1 năm 2026,
Chúa nhật III Thường niên, Lễ kính Thánh Phaolô trở lại

LÊÔ XIV

 

https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2026-01/su-diep-dtc-leo-xiv-ngay-the-gioi-truyen-giao-lan-thu-100.html

JANUARY 29, 2026: THURSDAY OF THE THIRD WEEK IN ORDINARY TIME

 January 29, 2026

Thursday of the Third Week in Ordinary Time

Lectionary: 320

 


Reading I

2 Samuel 7:18-19, 24-29

After Nathan had spoken to King David, 
the king went in and sat before the LORD and said, 
“Who am I, Lord GOD, and who are the members of my house, 
that you have brought me to this point?
Yet even this you see as too little, Lord GOD; 
you have also spoken of the house of your servant 
for a long time to come: 
this too you have shown to man, Lord GOD!

“You have established for yourself your people Israel as yours forever, 
and you, LORD, have become their God.
And now, LORD God, confirm for all time the prophecy you have made 
concerning your servant and his house, 
and do as you have promised.
Your name will be forever great, when men say, 
‘The LORD of hosts is God of Israel,’
and the house of your servant David stands firm before you.
It is you, LORD of hosts, God of Israel, 
who said in a revelation to your servant, 
‘I will build a house for you.’
Therefore your servant now finds the courage to make this prayer to you.
And now, Lord GOD, you are God and your words are truth; 
you have made this generous promise to your servant.
Do, then, bless the house of your servant 
that it may be before you forever; 
for you, Lord GOD, have promised, 
and by your blessing the house of your servant 
shall be blessed forever.”

 

Responsorial Psalm

Psalm 132:1-2, 3-5, 11, 12, 13-14

R.        (Lk 1:32b)  The Lord God will give him the throne of David, his father.
LORD, remember David
            and all his anxious care;
How he swore an oath to the LORD,
            vowed to the Mighty One of Jacob.
R.        The Lord God will give him the throne of David, his father.
“I will not enter the house where I live,
            nor lie on the couch where I sleep;
I will give my eyes no sleep,
            my eyelids no rest,
Till I find a home for the LORD,
            a dwelling for the Mighty One of Jacob.”
R.        The Lord God will give him the throne of David, his father.
The LORD swore an oath to David
            a firm promise from which he will not withdraw:
“Your own offspring 
            I will set upon your throne.”
R.        The Lord God will give him the throne of David, his father.
“If your sons keep my covenant,
            and the decrees which I shall teach them,
Their sons, too, forever
            shall sit upon your throne.”
R.        The Lord God will give him the throne of David, his father.
For the LORD has chosen Zion,
            he prefers her for his dwelling:
“Zion is my resting place forever;
            in her I will dwell, for I prefer her.”
R.        The Lord God will give him the throne of David, his father.
 

Alleluia

Psalm 119:105

R. Alleluia, alleluia.
A lamp to my feet is your word,
a light to my path.
R. Alleluia, alleluia.

 

Gospel

Mark 4:21-25

Jesus said to his disciples,
“Is a lamp brought in to be placed under a bushel basket
or under a bed,
and not to be placed on a lampstand?
For there is nothing hidden except to be made visible; 
nothing is secret except to come to light.
Anyone who has ears to hear ought to hear.”
He also told them, “Take care what you hear.
The measure with which you measure will be measured out to you, 
and still more will be given to you.
To the one who has, more will be given; 
from the one who has not, even what he has will be taken away.”

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/012926.cfm

 

 


Commentary on 2 Samuel 7:18-19,24-29

Today’s reading contains a prayer of David. David immediately responds to the word of God which has come to him through the prophet Nathan and which was the reading for yesterday.

The reading does not contain the whole prayer (see vv 18-29). It is a prayer of praise and thanksgiving made for the promises to establish an everlasting dynasty through David. It expresses wonder that God could make such commitments to him and his descendants. But he also acknowledges that what God had pledged to him was for Israel’s sake; its purpose is the fulfilment of God’s covenanted promise to his people—and that its ultimate effect will be the honour and praise of God throughout the world now and for always.

David “went in and sat before the Lord”. This presumably means that he went into the tent where the Ark was kept. And the ark was the symbol of God’s presence among his people. This is very similar to our praying before the Blessed Sacrament, the real and sacramental presence of Jesus among us.

In a way David is alarmed by his new calling:

Who am I, O Lord God, and what is my house, that you have brought me thus far?

David, deeply aware of his own inadequacies (soon to be made very evident), begs God to make sure that what he has foretold will be realised, praying:

O Lord God, as for the word that you have spoken concerning your servant and concerning his house, confirm it forever; do as you have promised.

David is fully aware that the fulfilment of God’s promise will depend entirely on God and that he, David, is a very fragile instrument in the process.

Again and again, we will see this beautiful characteristic of David—his humility and acknowledgment of his weakness. But as Paul will point out later, it is precisely in and through our weaknesses that God’s work is carried out. And David is confident because the Lord has made the solemn promise:

I will build you a House.

So he prays:

…may it please you to bless the house of your servant so that it may continue forever before you, for you, O Lord God, have spoken, and with your blessing shall the house [i.e. the dynasty] of your servant be blessed forever.

God continues to build his Kingdom through the cooperation of our feeble efforts. Let us realise that it is precisely in our weakest moments that he can achieve the most in us and through us. As Paul will say:

I can do all things through him who strengthens me.
(Phil 4/13)

Comments Off

 


Commentary on Mark 4:21-25

We are still with Mark’s Gospel in a section of parables and images.  Today we see a number of disparate sayings.

No one lights a lamp and then covers it up.  Our Christian faith is a light for the world and not to be kept hidden. Our message is not meant to be kept secret, but to be broadcast and shared.  How many know that we are Christians?  How many see us practise our faith openly?  How many are influenced by our living according to the Christian vision?  Our faith, our knowledge of Jesus and his gospel, is not something private to be kept to ourselves.

A ‘good’ Catholic is not just one who keeps all the Commandments, goes often to Mass and stays in the ‘state of grace’, but rather ‘good’ Catholics are those who radiate their faith, share it generously with others and very much want others to have the same experience of loving and being loved by God as they have. If we are not seen to be Christians we have somehow failed, no matter how good our inner lives may be. To be a Christian is not just to be a good person, but an apostle, an evangeliser, a sharer of faith by word and action.

What we give out to others is what we ourselves will receive—and even more:

For to those who have, more will be given, and from those who have nothing, even what they have will be taken away.

That is what happened to the man who buried his master’s money in the ground so as not to lose it.  Those who invested it got even more in return.  In the Christian life, we gain by giving, not by getting.  It is only when we give that we can get, and when everyone gives, everyone gets.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2035g/

 


Thursday, January 29, 2026

Ordinary Time

Opening Prayer

All-powerful and ever-living God, direct your love that is within us, that our efforts in the name of your Son may bring mankind to unity and peace. We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen.

Gospel Reading - Mark 4: 21-25

He also said to them, 'Is a lamp brought in to be put under a tub or under the bed? Surely to be put on the lampstand? For there is nothing hidden, but it must be disclosed, nothing kept secret except to be brought to light. Anyone who has ears for listening should listen!'

He also said to them, 'Take notice of what you are hearing. The standard you use will be used for you -- and you will receive more; besides, anyone who has, will be given more; anyone who has not, will be deprived even of what he has.'

Reflection

           The lamp which gives light. At that time, there was no electric light. Imagine all that follows. The family is at home. It begins to get dark. The father lifts up the small lamp, he lights it and places under the tub or under the bed. What will the others say? They will begin to scream: “Father, place it on the table!” This is the story that Jesus tells. He does not explain. He only says: Anyone who has ears to listen, should listen! The Word of God is the lamp which should be lit in the darkness of the night. If it remains closed in the closed Book of the Bible, it is like a small lamp under the tub. When it is united to the life in community, there it is placed on the table, and it gives light!

           Be attentive to preconceptions. Jesus asks the disciples to become aware of the preconceptions with which they listen to the teaching which he offers. We should be attentive to the ideas which we have when we look at Jesus! If the color of the eyes is green, everything seems to be green. If they are blue, everything will be blue! If the idea with which we look at Jesus were mistaken, everything which I think about Jesus will be threatened of being an error. If I think that the Messiah has to be a glorious King, I will understand nothing of what the Lord teaches, and I will see that everything is mistaken.

           Parable: a new way of teaching and of speaking of Jesus. Jesus used parables, above all, to teach: this was his way. He had an enormous capacity to find very simple images to compare the things of God with the things of the life which people knew and experienced in the daily struggle to survive. This presupposes two things: to be inside, involved in the things of life, and to be inside, involved in the things of the Kingdom of God.

           The teaching of Jesus was diverse from the teaching of the Scribes. It was Good News for the poor, because Jesus revealed a new face of God, in which people could recognize themselves and rejoice. “I bless you, Father, Lord of Heaven and of earth, for hiding these things from the learned and the clever and revealing them to little children. Yes, Father, for that is what it pleased you to do!” (Mt 11: 25-28).

Personal Questions

           The Word of God, a lamp which gives light. What place does the Bible have in my life? What light do I receive?

           Which is the image of Jesus that I have within me? Who is Jesus for me and who am I for Jesus?

Concluding Prayer

Taste and see that Yahweh is good.

How blessed are those who take refuge in him. (Ps 34: 8)

www.ocarm.org