Trang

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

25.01.2026: CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN năm A

 25/01/2026

 CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN năm A

 


Bài Ðọc I: Is 9, 1- 4 (Hr 8, 23b – 9, 3)

“Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Lúc đầu, đất Giabulon và Nephthali rất hèn hạ, trong tương lai dần dần trở thành đường biển, bên kia sông Giođan trở thành Galilêa các dân tộc. Dân chúng đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng vĩ đại, và một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết. Người đã gia tăng dân số, đã ban một nguồn vui lớn; thiên hạ hân hoan trước mặt Người, như hân hoan khi được mùa, nhảy mừng như khi phân chia chiến lợi phẩm. Vì ách đã đè trên họ, đòn ngang nằm trên vai họ, và gậy của kẻ lạm thu họ, Người đã bẻ gẫy tất cả như trong ngày Mađian.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 13-14

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi (c. 1a).

Xướng: Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ; tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? 

Xướng: Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người. 

Xướng: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa. 

 

Bài Ðọc II: 1 Cr 1, 10-13. 17

“Tất cả anh em hãy đồng tâm hợp ý với nhau, và giữa anh em, đừng có chia rẽ”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi xin anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình. Anh em thân mến, tôi đã được các người nhà Khloê cho hay rằng: giữa anh em đang có những sự bất đồng. Tôi có ý nói điều này, là mỗi người trong anh em nói: “Tôi, tôi thuộc về Phaolô; – “Tôi về phe Apollô”; – “Còn tôi, tôi về phe Kêpha”; – “Và tôi thuộc về phe Chúa Kitô”. Chúa Kitô bị phân chia rồi sao? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vì anh em đâu? Hay là nhân danh Phaolô mà anh em chịu phép rửa? Ðức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Ðức Kitô ra hư không.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Mt 4, 23

Alleluia, alleluia! – Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 4, 12-23 (bài dài)

“Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết”.

Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!”

Nhân lúc Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy hai anh em là Simon, cũng gọi là Phêrô, và Anrê, em ông, cả hai đang thả lưới dưới biển, vì hai ông là ngư phủ. Người bảo hai ông rằng: “Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta”. Lập tức hai ông bỏ lưới đó mà theo Người. Ði xa hơn một đỗi, Người lại thấy hai anh em khác là Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan em ông đang vá lưới trong thuyền với cha là Giêbêđê. Người cũng gọi hai ông. Lập tức hai ông bỏ lưới và cha mình mà đi theo Người.

Và Chúa Giêsu đi rảo quanh khắp xứ Galilêa, dạy dỗ trong các hội đường của họ, rao giảng tin mừng nước trời, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân.

Ðó là lời Chúa.

 

Hoặc đọc bài vắn này: Mt 4, 12-17

“Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm, đã thấy ánh sáng huy hoàng, ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết”. Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến”.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về I-sai-a 8,23 – 9,3; 1 Cô-rinh-tô 1,10-13.17; Mát-thêu 4,12-23

Bài Tin Mừng hôm nay có ba phần riêng biệt:

1. Chúa Giê-su, ánh sáng của các dân tộc và sự ứng nghiệm các lời tiên tri trong Kinh Thánh Híp-ri;

2. Lời kêu gọi hoán cải hoàn toàn, sống trong ánh sáng đó;

3. Những đáp lại ban đầu đối với lời kêu gọi.

Sau khi Gioan Tẩy Giả bị bắt, Chúa Giê-su đi lên phía bắc đến Ga-li-lê. Đó là tỉnh quê hương của Ngài. Đó là nơi Ngài bắt đầu cuộc đời công khai của mình.

Việc bắt giữ Gioan

Một lưu ý về việc bắt giữ Gioan—động từ trong tiếng Hy Lạp gốc là paradidomi, nghĩa đen là “giao nộp”. Đây là một từ chủ đề, một điệp khúc, xuyên suốt toàn bộ Tin Mừng:

Gioan Tẩy Giả bị giao nộp—và bị hành quyết (bởi vua Hê-rô-đê);

• Chúa Giê-su bị giao nộp—và bị hành quyết (bởi cả người Do Thái và người ngoại—Ngài chết vì tất cả);

• Nhiều môn đệ của Chúa Giê-su đã bị nộp – và một số bị hành quyết (chủ yếu bởi người ngoại đạo).

Và việc ‘nộp’ này đã xảy ra với các môn đệ kể từ đó, cho đến tận ngày nay. Nghịch lý thay, sự bách hại luôn có thể là kết quả tất yếu của việc sống theo Tin Mừng về chân lý và tình yêu thương.

Trong phần thánh hiến của mỗi Thánh Thể, vị chủ tế nói:

Hãy cầm lấy, tất cả các con, và ăn đi: đây là Mình Ta, Mình Ta sẽ bị phó nộp cho các con.

Từ “phó” có lẽ là một bản dịch không lý tưởng của từ Latinh tradetur, có nghĩa là “sẽ bị phó”, và là từ tương đương trong tiếng Latinh với động từ Hy Lạp paradidomi. Vì vậy, trong Thánh Thể, Mình Thánh Chúa cũng được ‘phó’ cho chúng ta. Và đến lượt chúng ta, cùng nhau là Mình Thánh Chúa trong cộng đồng Kitô giáo, được kỳ vọng sẽ tiếp tục phó thác chính mình để phục vụ Tin Mừng và thúc đẩy Nước Trời.

Ga-li-lê

Mát-thêu nói rằng Chúa Giê-su rời quê hương Na-da-rét và đến sống ở Ca-phác-na-um, một thành phố ở Ga-li-lê, nằm bên bờ Biển Ga-li-lê, “trong lãnh thổ của Dê-bu-lôn và Náp-ta-li”. Điều này nhắc nhở nhà truyền giáo về một lời tiên tri của I-sai-a, mà Mát-thêu giờ đây thấy đang được ứng nghiệm.

Vào thời điểm đó, Ga-li-lê dường như không phải là một lựa chọn hiển nhiên cho sứ mệnh của Đấng Mê-si-a. Nó được coi là một tỉnh “xa xôi” (“Có điều gì tốt lành có thể đến từ Na-da-rét chăng?”, Na-tha-na-en hỏi với vẻ ngạc nhiên và hoài nghi trong Gioan 1,46). Đó là một vùng đất nổi loạn, nơi ngay cả người Do Thái cũng không nổi tiếng về việc tuân giữ Luật pháp.

Tuy nhiên, lời tiên tri cho thấy rằng Ánh sáng của Thế gian sẽ được tìm thấy ở Ga-li-lê. Ga-li-lê, trong tất cả mọi nơi, lại là ánh sáng của các dân tộc? Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta nói về một “Đức Chúa Trời đầy bất ngờ”!

Nhưng chính tại thành phố Ca-phác-na-um thuộc Ga-li-lê này, Chúa Giê-su, Đấng Mê-si-a, đã bắt đầu sứ mệnh của Ngài. “Bài giảng” của Ngài được tóm gọn trong một câu tưởng chừng đơn giản:

Hãy ăn năn, vì Nước Trời đã đến gần.

“Giảng dạy” nên được dịch chính xác hơn là “rao truyền”, loan báo Tin Mừng.

Tin Mừng

Tin mừng này là gì? Từ tiếng Hy Lạp, eu-angelion, từ đó xuất phát từ tiếng Latinh evangelium, được dịch sang tiếng Anh hiện đại là “gospel” (phúc âm). Đây là một biến thể của cụm từ trước đó là “God-Spel” (Phúc âm của Chúa) hay “good news” (tin mừng).

Và tin mừng này là gì? Tin mừng là “nước Thiên đàng” đang đến gần. “Nước Thiên đàng” có thể là một thuật ngữ rất dễ gây hiểu lầm. Đối với nhiều người, nó có thể được đồng nhất với “thiên đường”, “nơi ở trên cao” mà chúng ta hy vọng sẽ đến sau khi chết… nếu chúng ta sống tốt.

Thực tế, điều quan trọng là phải nhận thức được rằng thuật ngữ này trong ngữ cảnh này ít liên quan đến cuộc sống tương lai hơn là cuộc sống của chúng ta ở thế giới này. Các sách Phúc Âm khác nói trực tiếp hơn về “nước Thiên Chúa”, mà thực tế, đó cũng là điều mà Mátthêu muốn nói. Tuy nhiên, Phúc Âm của Mátthêu được viết cho một cộng đồng Kitô giáo chủ yếu gồm những người Do Thái cải đạo. Theo truyền thống của họ, họ rất miễn cưỡng khi sử dụng trực tiếp danh xưng của Chúa, vì vậy Mátthêu trong suốt Phúc Âm của mình nói về Chúa một cách gián tiếp. Một cách là sử dụng thuật ngữ “thiên đàng”, hoặc sử dụng thể bị động của động từ. Ví dụ, Mát-thêu viết:

…điều gì các ngươi buộc dưới đất thì sẽ bị buộc trên trời, và điều gì các ngươi cởi dưới đất thì sẽ được cởi trên trời.  (Mát-thêu 16,19)

Ông không nói rõ ai sẽ buộc hay cởi họ, nhưng rõ ràng là bởi Đức Chúa Trời.

Một lần nữa, “vương quốc” đối với chúng ta gợi ý lãnh thổ do một vị vua cai trị. Từ Hy Lạp mà các tác giả Phúc Âm sử dụng là basileia từ từ basileus, có nghĩa là “vua”. Nhưng basileia được dịch chính xác hơn là “cai trị”, “trị vì” hoặc “vương quyền”. Nó chỉ ra quyền lực của một vị vua hơn là nơi mà người đó làm vua. Vì vậy, “ở trong Vương quốc” không phải là ở một nơi cụ thể nào, trong đời này hay đời sau. Mà đúng hơn là sống cuộc đời của mình—bất kể chúng ta ở đâu—dưới quyền năng yêu thương của Đức Chúa Trời. Đó là việc sống trong mối quan hệ yêu thương và phục tùng Đức Chúa Trời, và sống trong môi trường nơi các giá trị như chân lý, tình yêu thương, lòng trắc ẩn, công lý, tự do, cộng đồng và hòa bình đều được tôn trọng.

Hãy ăn năn!

Cách để bước vào mối quan hệ đó, theo lời Chúa Giê-su, là “ăn năn”. Đây là sự đáp lại lời kêu gọi của Chúa Giê-su. “Ăn năn” thường có nghĩa là hối tiếc, tiếc nuối về những hành động sai trái mà chúng ta đã làm trong quá khứ. Tuy nhiên, Chúa Giê-su đang yêu cầu nhiều hơn thế. Đó là lời kêu gọi, không phải để xóa bỏ quá khứ, điều thực sự không thể, mà là để chúng ta thay đổi hướng đi từ bây giờ và hướng tới tương lai. Từ Hy Lạp được nhiều bản dịch dịch là “ăn năn” là metanoia. Từ này hàm ý một sự thay đổi triệt để trong tư duy của một người; nó có nghĩa là nhìn cuộc sống theo một cách hoàn toàn mới, tạo ra điều mà ngày nay đôi khi được gọi là “sự thay đổi mô hình”. Cách nhìn cuộc sống mới này được trình bày rõ ràng xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh Tân Ước.

Chỉ khi chúng ta bắt đầu thực hiện sự thay đổi triệt để này, chúng ta mới bắt đầu trở thành một phần của Vương quốc đó, mới bắt đầu thực sự chịu ảnh hưởng của quyền năng Chúa trong cuộc sống của mình. Chúng ta bắt đầu nhìn mọi việc theo cách Chúa nhìn nhận, và hành vi của chúng ta thay đổi theo đó.

Lời kêu gọi không chỉ là hối hận về những tội lỗi trong quá khứ và không phạm tội nữa. Phải có một sự thay đổi hoàn toàn về hướng đi, một sự tham gia sâu sắc vào công việc của Chúa. Công việc đó bao gồm làm việc với những người khác để chấm dứt nghèo đói và thiếu thốn, nạn đói và thất nghiệp, hận thù cộng đồng và tôn giáo, lòng tham lam, tham vọng và chủ nghĩa tiêu dùng vô độ, và để tạo ra một thế giới của tình yêu thương và sự quan tâm—những thuộc tính đặc biệt của Chúa. Vương quốc vẫn chưa đến. Vẫn còn rất nhiều việc phải làm—ngay tại nơi chúng ta đang sống.

Đây không chỉ là thông điệp dành cho người Công giáo hay Kitô hữu, mà còn cho mọi người ở khắp mọi nơi. Nước Trời vượt xa ranh giới của Giáo hội, và Nước Trời đang được hiện thực hóa theo nhiều cách ở những nơi mà Kitô giáo chưa thâm nhập. Phần lớn dân số thế giới không biết đến Tin Mừng của Chúa Giê-su, nhưng điều đó không có nghĩa là các giá trị của Nước Trời không hiện hữu. Chúng ta phải học cách không nhìn nhận Kitô giáo hay Công giáo theo quan điểm bè phái – “họ” và “chúng ta”. Thông điệp của Chúa Giê-su là một tầm nhìn về cuộc sống cho toàn nhân loại và cần được truyền đạt như vậy.

Những người cộng sự đầu tiên

Sau khi rao giảng, Chúa Giê-su tìm thấy những người cộng sự đầu tiên cho công việc của Ngài. Họ không phải là người Pha-ri-sêu hay thầy dạy luật, không phải học giả hay những thành viên có ảnh hưởng trong cộng đồng, mà là những ngư dân, những người có thể khá mù chữ theo nghĩa là họ không biết đọc hay viết. Tuy nhiên, họ có thể đã thấm nhuần truyền thống truyền miệng của đức tin Do Thái, biết Kinh Thánh Do Thái của họ rõ hơn hầu hết chúng ta biết Kinh Thánh Tân Ước!

Điều đáng chú ý là lời kêu gọi diễn ra ngay tại nơi làm việc của họ. Sáng kiến ​​cho lời kêu gọi đến từ Chúa Giê-su. Như Thánh Gioan viết trong Phúc Âm của mình:

Các ngươi không chọn Ta, nhưng Ta đã chọn các ngươi. (Gioan 15,16)

Đối với họ, điều đó có nghĩa là một sự thay đổi hoàn toàn, một sự đoạn tuyệt hoàn toàn với lối sống của họ. Đó là sự buông bỏ hoàn toàn.

Và sau lời kêu gọi này:

Họ lập tức bỏ lưới và đi theo Ngài.

Họ đặt trọn niềm tin vào Chúa Giêsu, bỏ lại phương tiện sinh kế duy nhất của mình, không biết điều đó sẽ dẫn đến đâu. Chính Chúa Giêsu đã thực hiện bước này khi rời bỏ Na-da-rét, gia đình và kế sinh nhai của Ngài với nghề thợ mộc. Từ nay trở đi, cuộc sống của họ sẽ không còn là lo lắng về những gì họ có thể có được và giữ được, mà là phục vụ anh chị em mình, đặc biệt là những người đang cần giúp đỡ nhất.

Đồng thời, không có bằng chứng nào cho thấy họ sống trong cảnh nghèo khó hay thiếu thốn. Việc bỏ lại những công cụ của lối sống duy nhất mà họ từng biết là để chọn một lối sống giản dị, tức là chỉ có những thứ cần thiết cho sự sống còn và công việc của họ, công việc mới mà Chúa Giêsu đang kêu gọi họ làm. Sự an toàn của họ giờ đây đến từ lối sống mới mà họ đang thiết lập, cuộc sống trong một cộng đồng tương trợ lẫn nhau, nơi nhu cầu của mỗi người đều được chăm lo. Điều này, trên thực tế, mang lại một cuộc sống an toàn hơn về vật chất, tình cảm và xã hội so với lối sống cá nhân chủ nghĩa, cạnh tranh, chạy đua như chuột để sinh tồn của chúng ta.

Một gia đình lớn

Họ tách khỏi gia đình, không phải vì họ không yêu thương gia đình, mà vì, với tư cách là môn đệ của Chúa Giê-su, họ nhận ra rằng họ thuộc về một gia đình lớn hơn nhiều. Họ đang học cách không chỉ yêu thương người thân của mình, mà còn đặc biệt yêu thương tất cả những người cần tình yêu thương, sự chăm sóc và lòng thương xót.

Ban đầu, mối quan tâm hàng đầu của họ có thể là các thành viên trong gia đình (ngay từ đầu, Chúa Giê-su đã chữa lành mẹ vợ của Phê-rô), nhưng sau đó họ sẽ ưu tiên những người cần giúp đỡ hơn, những người không phải là thành viên gia đình, người nước ngoài, người hoàn toàn xa lạ, thậm chí cả kẻ thù. Theo Chúa Giê-su là thuộc về một gia đình lớn hơn nhiều.

Trong Bài đọc thứ hai, Phao-lô cũng cảnh báo chống lại sự chia rẽ trong gia đình Kitô giáo. Có vẻ như các Kitô hữu ở Cô-rin-tô đang chia thành các phe phái và tự đồng nhất mình với các nhà lãnh đạo cộng đồng khác nhau. Phaolô viết:

Ý tôi là, mỗi người trong anh em đều nói: “Tôi thuộc về Phaolô,” hoặc “Tôi thuộc về A-pô-lô,” hoặc “Tôi thuộc về Kê-pha”…

Rõ ràng là những sự chia rẽ như vậy rất có hại. Tất cả các môn đệ chỉ có thể thuộc về một người duy nhất, Đấng đã chịu khổ, chết và sống lại vì họ, Đấng mà nhân danh Ngài tất cả họ đều được Rửa tội – Chúa Giê-su, Chúa của họ.

Thật không may, ngày nay chúng ta có rất nhiều sự chia rẽ như vậy giữa các tín hữu – “Tôi là người Công giáo”, “Tôi là người Anh giáo… người Luther… người Giám lý… người Trưởng lão…” Than ôi, danh sách này dường như vô tận. Đây không phải là kiểu gia đình mà Chúa Giê-su mong muốn. Một gia đình không hòa thuận như vậy không thể làm chứng hiệu quả cho Tin Mừng về chân lý, tình yêu thương và sự hiệp thông mà Chúa Giê-su đã cầu nguyện trong Bữa Tiệc Ly (Gioan 17).

Lời kêu gọi ngày nay không chỉ yêu cầu chúng ta đưa Chúa Giê-su vào lối sống mà chúng ta đã chọn, mà còn yêu cầu chúng ta hòa nhập vào tầm nhìn về cuộc sống của Ngài. Khi làm như vậy, chúng ta không phải hy sinh điều gì cả. Thay vào đó, chúng ta đang nắm chắc phần thắng và chỉ có thể thu được lợi nhuận.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/oa031/

 

 


Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng  

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Bài Tin Mừng hôm nay giới thiệu hai việc làm quan trọng của Ðức Giêsu, đó là: rao giảng về Nước Thiên Chúa (cc.12-17) và kết nạp những môn đệ đầu tiên (cc.18-22)

Rao giảng về Nước Thiên Chúa. - Tin Mừng Matthêu cho thấy Ðức Giêsu được công khai giới thiệu là Con Thiên Chúa về cuối trình thuật Người chịu phép rửa (3,13-17). Kế đến, Người đã tỏ ra hoàn toàn gắn bó với ý của Thiên Chúa qua các cơn cám dỗ nơi sa mạc (4,1-11). Chính qua thử thách Ðức Giêsu tỏ rõ Người mật thiết với Thiên Chúa như thế nào trong tư cách là Con Thiên Chúa.

Từ Giuđê, Ðức Giêsu xuống Galilê để thi hành thừa tác vụ của mình cách công khai (4,12-17). Sự kiện ông Gioan Tẩy Giả bị tiểu vương Hêrôđê bắt bỏ tù chưa phải là lý do chính yếu để Ðức Giêsu thi hành sứ vụ tại Galilê thay vì tại Giuđê. Lý do chính yếu là ý của Thiên Chúa, như được loan báo trong sách ngôn sứ Isaia 9,1-2.

Cốt lõi của lời Ðức Giêsu rao giảng về Nước Thiên Chúa được tóm gọn trong câu 17: "Anh em hãy sám hối vì Nước Thiên Chúa đã đến gần." Gioan Tẩy giả đã từng rao giảng nguyên văn cũng lời đó (3,2).

Sám hối (metanoia trong Hy ngữ) là thay đổi não trạng. Không chỉ dứt bỏ hành động tội lỗi nhưng dứt bỏ tâm trạng hướng ta tới hành động đó. Cần thống hối để trở về đường thiện, tức là trở lại (epistrephein trong Hy ngữ).

Nhưng tại sao cần phải sám hối? Lý do vì Nước Thiên Chúa đã đến gần. Nước Thiên Chúa chỉ về quyền lực và cuộc phán xét do Ngài, cũng như chỉ về quyền thống trị của Ngài trên mọi thọ tạo. Ta sẽ thấy cuộc chiến thắng tối hậu của Thiên Chúa được khai trương nơi tác vụ của Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa.

Chính Thầy đã chọn anh em để anh em đi và mang lại nhiều hoa trái

Kết nạp những môn đệ đầu tiên. - Trình thuật của Matthêu về cuộc kết nạp này cũng giống như trong Mc 1,16-20. Theo kế hoach tổng quát, Matthêu giới thiệu ba môn đệ trở thành bộ ba thân cận nhất trong nhóm Mười Hai, đó là Phêrô, Giacôbê và Gioan. Bộ ba này sẽ có mặt khi Ðức Giêsu cho một người đã chết sống lại (Mc 5,37), khi Người biến hình trên núi (Mt 17,1) và khi Người cầu nguyện tại vườn Ghết-sê-ma-ni (Mt 26,37).

Các môn đệ sẽ là những người đến gần Ðức Giêsu khi Người giảng bài giảng trên núi, bài giảng này được kể như hiến chương về Nước Thiên Chúa (Mt 5,1). Chính từ những người được gọi là môn đệ, Ðức Giêsu sẽ thiết lập nhóm Mười Hai (Mt 10,1-4). Và nhóm Mười Hai này sẽ là nhóm được giao sứ mạng đi đến với muôn dân và làm cho muôn dân trở nên môn đệ của Ðức Giêsu (Mt 28,19).

Giữa nhóm Mười Hai, nổi bật nhất là ông Simon, được Ðức Giêsu gọi bằng danh xưng mới là Phêrô. Khi ông Simon tuyên xưng Ðức Giêsu là "Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." Ðức Giêsu liền nói với Simon: "Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Ðá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi." (Mt 16,16-18).

Vậy mọi Kitô hữu đều phải trở nên môn đệ của Ðức Giêsu, môn đệ theo nghĩa họ phải tuân giữ mọi điều Ðức Giêsu đã dạy. Những điều ấy nhóm Mười Hai có nhiệm vụ truyền lại cho muôn dân (Mt 28,20). Chính nhờ gương sáng của các tông đồ, là các môn đệ đầu tiên, người Kitô hữu nhận ra mình được mời gọi để tiến triển như thế nào trong ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu.

Cựu Ước hầu như không có ý niệm về người môn đệ theo cái nhìn của Chúa Giêsu. Trước thời lưu đày Babylon (597-538 B.C), dân Ít-ra-en còn có một số ngôn sứ với đồ đệ tháp tùng, như ngôn sứ Êlia có Êlisêu là môn đệ. Sau thời lưu đày, tại Ít-ra-en, người ta thấy xuất hiện các thầy Rápbi thay thế các ngôn sứ. Các thầy này dạy người ta các luật phải giữ trong Do thái giáo dựa theo các truyền thống khác nhau. Các thầy rápbi không chọn học trò để truyền kiến thức; chính các học trò chọn đến với thầy rápbi nào họ muốn.

Chính Thầy đã chọn anh em (Ga 15,16). - Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy chính Ðức Giêsu đã chọn các moan đệ đầu tiên (cc.19.21). Sau này, Người còn gọi ông Lêvi (Mt 9,9). Người cũng gọi ông Philipphê (Ga 1,43). Tóm lại, "Người gọi đến với Người những kẻ Người muốn" (Mc 3,13). Trong Tin Mừng Gioan, điều đó được Ðức Giêsu khẳng định rất rõ: "Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái và hoa trái anh em tồn tại" (Ga 15,16).

Với xã hội Do thái, chọn học với một thầy rápbi là xây dựng cho mình một nghề, nghề đó bảo đảm cho học viên chỗ đứng đáng ước ao trong xã hội. Với Ðức Giêsu, điều hứa hẹn khác hẳn. Trở nên môn đệ của Ðức Giêsu là để ở lại với Người để chia sẻ cuộc sống và sứ mạng của Người. Cốt lõi của ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu là cuộc dấn thân vào sự sống và vào sứ mạng của Người.

Bước theo Ðức Giêsu là bước trên đường Thập Giá đưa tới vinh quang

Ðó chính là điều Chúa Giêsu phục sinh nói với hai môn đệ đi Emmau: "Nào Ðấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? (Lc 24,26). Ai đến học với một thày rápbi đạo Do thái, không bao giờ chấp nhận điều kiện như vậy. Người đó không buộc phải từ bỏ điều gì thuộc về nghề nghiệp và chỗ đứng của mình trong xã hội.

Ngược lại, người môn đệ Ðức Giêsu phải nhận lấy cái nhìn của Ðức Giêsu làm cái nhìn của mình về mọi sự. Lý do vì Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa đến thiết lập Nước của Ngài trên mọi thọ tạo. Toàn thể tạo thành phải được điều khiển theo ý Ngài và ý đó chính Ðức Kitô là Con Thiên Chúa, biết rất rõ: "Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ Người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho." (Mt 11,27).

Ðức Kitô mạc khải cho các môn đệ ý của Thiên Chúa không qua một bài báo hoặc một cuốn sách. Tất cả các sách Tân Ước sau này mới được viết ra. Ðó là khi trọn ý của Thiên Chúa đã được chu toàn qua lời nói và việc làm của Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Nhờ Chúa Thánh Linh soi sáng, các môn đệ là những người được gọi để ở lại với Ðức Giêsu từ khi Người công khai rao giảng về Nước Thiên Chúa cho tới khi Người tắt thở và được phục sinh, khi ấy mới rõ ý Thiên Chúa đã trở nên sống động nơi cuộc đời của Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa.

Nền giáo dục mà các môn đệ của Ðức Giêsu được hấp thụ là một nền giáo dục thiết thân với sự sống, nỗi chết và sự sống lại của Ðức Giêsu. Các ông được khuyến cáo đảm nhận lấy nền giáo dục đó: "Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng nhân hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách của tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng" (Mt 11,28-29).

Luật Cựu Ước xưa trở nên ách nặng nề cho dân Thiên Chúa. Nay Ðức Giêsu là hiện thân của Tình Yêu Thiên Chúa, đến làm cho mọi sự trở nên nhẹ nhàng nhờ sức mạnh của yêu thương. Chính Ngài hy sinh để muôn dân được hạnh phúc. Ngài mời gọi họ trở nên môn đệ Ngài và đi trên cũng một con đường yêu thương chính Ngài lãnh đạo.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Bạn hiểu thế nào về sám hối khi nói: Sám hối đòi ta không chỉ dứt bỏ hành động tội lỗi mà còn phải dứt bỏ não trạng hướng ta tới những hành động đó?

2. Bạn hiểu thế nào khi nói: Bước theo Ðức Giêsu là bước trên đường thập giá đưa tới vinh quang--Radio Veritas Asia

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét