30/03/2025
CHÚA
NHẬT 4 MÙA CHAY Năm C
Bài Ðọc I: Gs 5, 9a. 10-12
“Dân Chúa tiến vào đất Chúa hứa và mừng Lễ Vượt Qua”.
Trích sách Giosuê.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Giosuê rằng: “Hôm nay,
Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!” Con cái Israel tạm trú tại
Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cánh
đồng Giêricô. Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh
không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì
không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản
năm đó của xứ Canaan.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7
Ðáp: Các bạn hãy
nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao (c. 9a).
Xướng: Tôi chúc tụng
Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn
tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui.
Xướng: Các bạn
hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn
Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ.
Xướng: Hãy
nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người
đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn.
Bài Ðọc II: 2 Cr 5, 17-21
“Thiên Chúa đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình”.
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu
Côrintô.
Anh em thân mến, nếu ai ở trong Ðức Kitô, thì người đó sẽ là
một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới.
Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và
trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế
gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài
người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả
thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô,
chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội,
thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự
công chính của Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Lc 15, 18
Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: Thưa
cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha.
Phúc Âm: Lc 15, 1-3. 11-32
“Em con đã chết nay sống lại”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, những người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến gần
Chúa Giêsu để nghe Người giảng; thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm
bẩm rằng: “Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng”. Bấy
giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: “Người kia có hai con trai. Ðứa em thưa với
cha rằng: “Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con”. Người cha liền
chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả của mình, trẩy
đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của
thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó, và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó
vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó
muốn ăn những đồ cặn bã heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ
nó hồi tâm lại và tự nhủ: “Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống
dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói. Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và
thưa người rằng: “Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng
được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của
cha”. Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt
trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi
lâu… Người con trai lúc đó thưa rằng: “Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến
cha, con không đáng được gọi là con cha nữa”. Nhưng người cha bảo đầy tớ: “Mau
mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy
vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng: vì con ta đây đã
chết, nay sống lại, đã mất, nay lại tìm thấy”. Và người ta bắt đầu ăn uống linh
đình.
“Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng
đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ
nói: “Ðó là em cậu đã trở về, và cha cậu đã giết bê béo, vì thấy cậu ấy về mạnh
khoẻ”. Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào.
Nhưng anh trả lời: “Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha
một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với
chúng bạn. Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với
bọn đàng điếm, nay trở về thì cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó”. Nhưng
người cha bảo: “Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con.
Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại
tìm thấy”.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về Giô-suê 5,9.10-12; 2 Cô-rinh-tô 5,17-21; Lu-ca 15,1-3.11-32
Mùa Chay là thời gian để đổi mới. Một phần của sự đổi mới đó
đòi hỏi chúng ta phải nhận thức được sự hỗn loạn, sự bất hòa và sự méo mó trong
cuộc sống của mình, nói cách khác là nhận thức được những lĩnh vực tội lỗi và sự
xấu xa trong hành vi của mình. Chúng ta không thể thay đổi trừ khi trước tiên
chúng ta nhận thức được những gì cần phải thay đổi. Nhiều người trong chúng ta
trải qua cuộc sống mà không chuẩn bị để có cái nhìn thực sự khách quan về con
người của mình, mặc dù chúng ta có thể dành nhiều thời gian để nhận thức rõ
ràng về những điều sai trái ở người khác.
Khi nhận thức được những lĩnh vực trong cuộc sống của mình bị
chi phối bởi những thế lực tiêu cực như lòng căm thù, tức giận, oán giận, tham
lam, thù hằn, bất công hoặc bạo lực, chúng ta cần phải ăn năn. 'Ăn năn' trong
Phúc âm không chỉ đòi hỏi phải bày tỏ sự hối tiếc và đau buồn; mà còn đòi hỏi
phải thay đổi triệt để hành vi trong tương lai của tôi và thay đổi sâu sắc cách
tôi nhìn nhận Thiên Chúa, con
người và những thứ khác. Nó đòi hỏi phải sắp xếp lại các mối quan hệ của tôi với
Thiên Chúa, với Chúa Giêsu, với những người khác và với
chính tôi. Nó có nghĩa là một sự thay đổi thực sự trong cuộc sống của tôi, một
sự hoán cải thực sự.
Nhìn về tương lai
Nhiều người có thói quen tốt là xưng tội nghiêm túc trong
Mùa Chay hoặc trước Lễ Phục sinh. Tuy nhiên, chúng ta phải nhận thức rằng một lời
xưng tội như vậy không chỉ bao gồm việc xóa bỏ những hành vi sai trái trong quá
khứ; mà còn bao gồm mong muốn chân thành về một cuộc cải cách cuộc sống và một
sự thay đổi thực sự trong hành vi của chúng ta. Nếu những lời xưng tội của tôi
trong những năm qua dường như không thay đổi nhiều, thì rất có thể là khi xưng
tội, tôi đã không chú ý nhiều đến hiện tại và tương lai. Như chúng ta sẽ thấy, Thiên Chúa không thực sự quan tâm đến
quá khứ của chúng ta.
Một phần của trải nghiệm đổi mới trong Mùa Chay là cố gắng
trở thành môn đồ thực sự của Chúa Giêsu
và chia sẻ sâu sắc hơn các giá trị, quan điểm và thái độ của Người. Như Thánh
Phaolô đã nói với người Phi-líp-phê,
chúng ta phải có cùng một tâm trí và cùng một cách suy nghĩ như Chúa Giêsu đã có.
Cách suy nghĩ của Chúa
Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta có một trong những mô tả
sinh động nhất về cách suy nghĩ của Chúa Giêsu—và do đó là của Thiên Chúa. Chúng ta phải đối mặt với thái
độ của Chúa đối với kẻ làm điều sai trái, tức là mong muốn sâu sắc của Người là
tha thứ và hoàn toàn hòa giải với người đã cắt đứt quan hệ với Người.
Bối cảnh của đoạn văn hôm nay rất quan trọng. Luca cho chúng
ta biết:
…tất cả những người
thu thuế và tội nhân đều đến gần để lắng nghe Người.
Những người Pharisêu và Kinh sư, những người ‘tốt và đạo đức’,
đã bị sốc và bối rối:
Người này chào đón những
kẻ tội lỗi và ăn uống với họ.
Theo tiêu chuẩn của họ, một người ‘tốt’ tránh ‘bạn xấu’.
Thành thật mà nói, chúng ta không nghĩ giống nhau sao? Nếu vậy, thì chúng ta
không suy nghĩ giống như Thiên Chúa
hoặc giống như Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu trả lời những người Pharisêu bằng cách kể ba dụ
ngôn, trong đó chỉ có một dụ ngôn được nêu trong Phúc âm hôm nay. Dụ ngôn đầu
tiên là về một người chăn chiên bị mất một con chiên. Ông đã đi đến những chặng
đường phi thường, thậm chí bỏ lại tất cả những con cừu khác, để tìm ra một con
cừu duy nhất đã đi lạc. Đó là hình ảnh của Chúa và tội nhân. Khi ông tìm thấy
con cừu, ông phải chia sẻ niềm vui của mình với tất cả những người bạn đồng
hành. Câu chuyện ngụ ngôn thứ hai kể về một người phụ nữ nghèo bị mất một đồng
xu. Có thể chỉ là một đồng xu, nhưng nó có ý nghĩa rất lớn đối với bà. Bà lật
ngược ngôi nhà của mình cho đến khi tìm thấy nó và khi tìm thấy, bà vui mừng kể
cho tất cả những người hàng xóm của mình.
Người cha của đứa con hoang đàng
Nhưng câu chuyện gây ấn tượng nhất là câu chuyện ngụ ngôn thứ
ba. Mặc dù thường được gọi là câu chuyện ngụ ngôn về “Người con hoang đàng”,
nhưng thực tế, câu chuyện không nhấn mạnh vào người con mà nhấn mạnh vào người
cha, người rõ ràng đại diện cho Thiên
Chúa và Chúa Giêsu.
Không ai có thể phủ nhận hành vi kinh khủng của người con
trai út. Anh ta lấy tất cả những gì cha mình hào phóng ban tặng cho mình làm
tài sản thừa kế và sử dụng chúng để sống một cuộc sống trụy lạc hoàn toàn và chỉ
biết hưởng thụ. Cuối cùng, anh ta chẳng có gì cả. Anh ta phải sống với lũ lợn
và thậm chí chia sẻ thức ăn thừa của chúng—một điều hoàn toàn ghê tởm đối với
tâm trí người Do Thái và thậm chí là điều mà chúng ta cũng thấy kinh khủng. Phản
ứng của nhiều người, đặc biệt là những người ‘tốt bụng và có đạo đức’, có thể
là, “Anh ta đáng bị như vậy”.
Tuy nhiên, đây không phải là phản ứng của người cha, người
chỉ có một suy nghĩ trong đầu—làm thế nào để đưa con trai mình trở về nơi anh
ta thuộc về. Người cha không nói: “Đứa con trai này đã xúc phạm nghiêm trọng đến
ta và làm ô nhục gia đình ta. Cầu mong nó thối rữa trong địa ngục”. Thay vào
đó, chúng ta gần như có thể thấy ông đứng ở cửa nhà mình, dõi theo và chờ đợi
con trai mình trở về. Và chúng ta gần như có thể nghe thấy ông nói, "Con
trai tôi đã đi xa và bị lạc, và tôi rất muốn đưa nó trở về." Tình yêu của
ông dành cho đứa con trai hư hỏng của mình không hề thay đổi một chút nào.
Không có vũ lực
Không có vũ lực nào liên quan. Cảnh sát không được cử đi.
Người hầu không được chỉ thị kéo anh ta trở về. Không, người cha chờ đợi. Chính
người con trai phải tự đưa ra quyết định quan trọng - anh ta có muốn ở bên cha
mình hay không?
Cuối cùng, người con trai "đã tỉnh ngộ", nghĩa là
anh ta nhận ra sự sai trái của những gì mình đã làm. Anh ta nhận ra cha mình đã
tốt như thế nào. Quá trình ăn năn đã bắt đầu. Anh ta cảm thấy vô cùng xấu hổ về
hành vi của mình và sau đó, quan trọng nhất, anh ta quay lại để quay về với cha
mình.
Về phần mình, người cha tràn đầy lòng trắc ẩn với những trải
nghiệm của con trai mình, chạy ra đón anh ta, ôm anh ta và gạt sang một bên bài
phát biểu được chuẩn bị kỹ lưỡng mà người con trai đã chuẩn bị sẵn. Nếu người
con hiểu cha mình hơn, anh ta sẽ nhận ra rằng một bài phát biểu như vậy là
không cần thiết. Ngay lập tức, lệnh được đưa ra là mang những thứ tốt nhất vào
nhà và một bữa tiệc được tổ chức.
Đây là sự tha thứ, đây là sự hòa giải và, về phía người con
trai, đây là sự cải đạo và ăn năn, một sự thay đổi thực sự trong cuộc sống của
anh ta và trở về nơi anh ta nên đến.
Tất cả những điều này, điều quan trọng cần nhớ, là để đáp lại
những bình luận của những người Pharisiêu và Luật sĩ về
việc Chúa Giêsu hòa nhập với
những người tội lỗi. Câu chuyện này tiết lộ một bức tranh về Thiên Chúa mà một mặt, nhiều người trong
chúng ta vẫn chưa chấp nhận hoàn toàn và mặt khác, minh họa cho một cách cư xử
không dễ dàng đến với chúng ta trong các mối quan hệ của chính chúng ta với người
khác.
Không hiểu gì cả
Và đây là lúc người con cả xuất hiện. Anh ta không thể hiểu
chuyện gì đang xảy ra. Anh ta chưa bao giờ bị đối xử như vậy và anh ta luôn là
một 'cậu bé ngoan'. Đây là loại công lý gì vậy? Một người anh ở nhà tuân thủ mọi
quy tắc (tức là Điều răn) và dường như chẳng được gì. Người em trai của anh ta
sống hỗn loạn với gái mại dâm ở một vùng đất ngoại giáo, và khi anh ta trở về,
anh ta được đối xử như hoàng gia. Người con cả không thể hiểu được tâm trí của
cha mình, và một số người trong chúng ta cũng có thể gặp khó khăn như vậy.
Theo một số cách, Thiên Chúa rất bất công—ít nhất là theo tiêu chuẩn của chúng ta.
Ngài bị tình yêu làm cho tha hóa! Nhưng may mắn thay cho chúng ta, Ngài như vậy.
Giả sử một ngày nọ chúng ta đi xưng tội và linh mục nói, "Xin lỗi, thế là
hết. Không thể tha thứ nữa, không thể hòa giải nữa. Con đã dùng hết hạn ngạch của
mình rồi. Thật tệ." Tất nhiên, không phải như vậy. Sự tha thứ của Thiên Chúa là vô hạn.
Như đã nói ở trên, Thiên Chúa không quan tâm đến quá khứ, mà chỉ quan tâm đến hiện tại.
Tôi không bị phán xét bởi những gì tôi đã làm hay không làm trước đó. Tôi cũng
không cần phải lo lắng về cách tôi sẽ cư xử trong tương lai. Tôi bị phán xét bởi
mối quan hệ của tôi với Thiên Chúa
ở đây và bây giờ. Trên cơ sở đó, kẻ giết người bị đóng đinh với Chúa Giêsu đã được phán:
Quả thật, ta bảo
ngươi, hôm nay ngươi sẽ ở với ta trên thiên đàng.
(Luca 23,43)
Mặc dù đã làm mọi điều, hắn vẫn được hứa ban cho sự sống
vĩnh cửu ngay trong ngày hôm đó. Trên cơ sở đó, 'người đàn bà tội lỗi', có lẽ
là một gái mại dâm, đã hoàn toàn hòa giải với Chúa Giêsu, và ngay lúc đó, mọi hành vi trong
quá khứ của cô ta đều bị lãng quên:
Vì vậy, ta nói cho
ngươi biết, nhiều tội lỗi của cô ta đã được tha thứ; do đó, cô ta đã thể hiện
tình yêu thương lớn lao. (Luca 7,47)
Tất cả những gì tôi phải lo lắng là liệu ngay bây giờ, tôi
có mối quan hệ yêu thương với Thiên Chúa
và với tất cả những người xung quanh mà qua đó tôi tiếp xúc với Ngài hay không.
Chúng ta đặt ra những giới hạn nào?
Rõ ràng là có nhiều điều cần suy ngẫm trong các bài đọc hôm
nay về cách chúng ta đối xử với những người mà chúng ta cảm thấy đã 'xúc phạm'
chúng ta. Khi muốn trải nghiệm sự tha thứ của Thiên Chúa, chúng ta cũng cần học cách tha thứ cho người khác. Chúng
ta có đặt ra giới hạn cho sự tha thứ của mình không? Để được hòa giải với Thiên Chúa, chúng ta cần học cách
hòa giải với tất cả những người là nguồn gốc của xung đột hoặc đau khổ trong cuộc
sống của chúng ta.
Chúng ta cảm ơn Thiên
Chúa vì chúng ta có một Thiên
Chúa luôn sẵn sàng tha thứ và chào đón chúng ta trở lại hết lần này đến
lần khác, nhưng chúng ta không thể dừng lại ở đó. Chúng ta phải học cách đối xử
với người khác theo cùng một cách:
… xin tha thứ tội lỗi
chúng con như chúng con tha thứ cho những kẻ có tội với chúng con…
Chúng ta cũng cần nhìn thấy một người ở đây và bây giờ và
không tiếp tục khơi dậy những tổn thương và oán giận trong quá khứ, tức giận và
hận thù.
Bằng cách noi gương Chúa Giêsu nhiều hơn, chúng ta thấy rằng các mối quan hệ của mình được cải
thiện. Khi làm như vậy, chúng ta đang tiến gần hơn đến việc có được tâm trí của
Chúa Giêsu, nhưng chúng ta
cũng đang làm một điều gì đó khác. Chúng ta sẽ thấy rằng cuộc sống sẽ trở thành
một trải nghiệm tràn đầy hòa bình và hài hòa hơn nhiều. Đây là một tình huống
đôi bên cùng có lợi hoàn hảo.
https://livingspace.sacredspace.ie/lc041/
Ta thường gọi dụ ngôn này là dụ ngôn Người Con Hoang Đàng.
Cách gọi này không được chính xác. Trước hết, vì sự trở về của đứa con không
đáng làm khuôn mẫu cho ta, hơn nữa, xét theo bối cảnh và nội dung, Chúa Giêsu
khi kể dụ ngôn này có ý đề cao tình yêu thương, lòng khoan dung nhân hậu của
người cha, đối lại với cảnh nhóm pharisiêu và các kinh sư chê trách Chúa Giêsu
vì đã ngồi ăn với những kẻ tội lỗi. Để trả lời cho họ, Chúa Giêsu kể một chuỗi
ba dụ ngôn: Con chiên bị mất; Đồng bạc bị mất; và Người cha nhân hậu. Nội dung
của dụ ngôn này có thể được chia ra làm hai màn.
Màn thứ nhất: Người cha và đứa con út. Màn thứ nhất này cho
thấy sự tương phản sâu xa giữa lối suy nghĩ và hành động của đứa con với suy
nghĩ và hành động của người cha. Đứa con ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân. Sự ích kỷ
được biểu lộ trước hết trong việc xin chia gia tài. Ở nhà chung mà chỉ nghĩ đến
việc vun quén riêng, không đóng góp mà chỉ muốn rút tỉa, không làm việc mà chỉ
muốn hưởng thụ. Sự ích kỷ đạt đến mức tồi tệ đáng kinh tởm, khi nó dám mở miệng
xin chia gia tài. Theo truyền thống phương đông, gia tài chỉ được chia sau khi
cha mẹ đã qua đời. Xin chia gia tài lúc cha mẹ còn sống có khác nào cầu mong
cho cha mẹ mau chết đi. Có tiền bạc trong tay, nó bắt đầu ăn tiêu phung phí.
Cách ăn tiêu nói lên tính ích kỷ của đứa con, nó tiêu tiền mà không nghĩ đến mồ
hôi nước mắt của cha mẹ, nó tiêu tiền chỉ để thỏa mãn dục vọng, nó dùng tiền bạc
để cung phụng bản thân, khi có tiền nó chẳng nghĩ gỉ đến ai nên khi hết tiền chẳng
còn ai gắn bó, sẵn sàng giúp qua cơn túng thiếu. Túng cùng quá mới phải trở về.
Sự ích kỷ vẫn còn đó trong toan tính trở về. Nó không hề nghĩ đến cha mẹ, không
hề nghĩ đến tình thương, nó chỉ nghĩ đến cái bụng, về nhà để ăn cho no, chỉ có
thế. Nó còn một chút lương tri để hiểu rằng nó không xứng đáng làm con nữa. Tuy
nhiên, nó không tha thiết đến quyền làm con, chỉ mong sao có ăn no bụng là được,
thật là ích kỷ đến tận xương tủy.
Nếu đứa con út ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân, thì trái lại
người cha hoàn toàn quên mình vì con. Khi đứa con xin chia gia tài, ông đã chia
ngay, không so đo tính toán, không hạch sách khó khăn. Ông không nghĩ đến bản
thân, không tự ái, chỉ mong sao con cái được vui lòng. Khi con đã ra đi, ông
ngày đêm thương nhớ, ngày nào cũng ra ngõ đứng chờ. Thật tội nghiệp. Nhưng con
ra đi chẳng hề nhớ nhung gì đến cha mà cha thì chẳng phút giây nào ngừng thương
nhớ con. Con chỉ biết tìm vui cho bản thân trong khi Cha mỏi mòn trông đợi. Con
chỉ biết đến tiền bạc còn cha chẳng quan tâm gì đến tiền của mà chỉ cần có con.
Cảm động nhất và cũng là chan chứa tình thương nhất là phút giây gặp gỡ, một
phút giây vắn vỏi mà nói lên bao nhiêu điều về tình thương của cha, "anh
ta còn ở đàng xa thì người cha đã trông thấy", khi con chưa nhìn thấy cha
thì cha đã nhìn thấy con. Mắt chàng trai trẻ hẳn phải tinh anh hơn mắt ông cụ
già nhòa dòng lệ vì thương nhớ, thế mà cha đã nhìn thấy con trước. Vì cha không
nhìn bằng mắt mà nhìn bằng trái tim, trái tim yêu thương có đôi mắt tinh tường
giúp nhận ra ngay bóng người yêu dấu. Trái tim con chẳng còn yêu thương nên
nhìn mà chẳng thấy cha, trái tim con khô cằn nên mắt vẫn sáng mà chẳng khác mù
lòa, trái tim cha đầy ắp yêu thương nên đã lòa rồi mà vẫn thấy rõ con ngay từ
đàng xa. Ông chạnh lòng thương, trái tim dạt dào yêu thương quên hết tất cả lầm
lỗi của đứa con. Tình cảm đầu tiên dâng lên trong tim ông không phải là tiếc
xót nửa gia tài đã mất, cũng không phải là tức giận thằng con phá gia chi tử,
nhưng lại là chạnh lòng thương. Yêu quá nên người cha chẳng còn nhìn thấy gì
khác hơn là đứa con tiều tụy rách rưới, yêu quá nên người cha chẳng nhìn thấy lầm
lỗi mà chỉ nhìn thấy nỗi khổ của con. Trong trái tim ông, chỉ có tình thương
dành cho con, nên vừa gặp con là tim đã rộn ràng xúc động. Chạy lại ôm cổ con,
lại một cử chỉ lạ lùng, cha không chờ con tới cho đúng lễ phép mà đã vội vàng
chạy lại ôm con. Tình yêu thương thúc đẩy, niềm vui dâng dạt dào khiến người
cha không chần chờ được nữa. Bất chấp thân phận cao quí của mình, ông chạy đi
như một đứa trẻ được quà. Bất chấp tuổi tác của mình, ông chạy đi như một thanh
niên sung sức. Đứa con tuổi còn trẻ mà sao chẳng nhanh nhẹn bằng ông già, vì
trong tim nó thiếu tình yêu. Trái tim không tình yêu cũng giống như cơ thể
không sức sống. Ông già mà nhanh nhẹn vì ông không chạy bằng sức lực của đôi
chân nhưng lại bằng trái tim, ông bay bằng tình yêu, tình yêu chấp cánh cho
ông. Hôn lấy hôn để, chẳng còn bút nào tả xiết niềm vui của người cha khi gặp lại
đứa con. Những nụ hôn không ngớt đủ nói lên tình cảm dạt dào của ông dành cho
nó, ông ôm chặt như để giữ cho nó không ra đi nữa. Trong một thoáng, khi đứa
con chưa có một động tác nào thì cha đã có bốn động tác: nhìn thấy, chạnh lòng
thương, chạy đến, ôm hôn. Trong một thoáng ngắn ngủi, khi chàng trai tuổi trẻ
còn bất động thì ông lão già nua đã thực hiện bốn động tác rất nhanh nhẹn. Ông
thật là người cha phung phí, ông đã phung phí sức lực trong cuộc gặp gỡ với đứa
con trở về, ông đã phung phí tiền bạc khi chia gia tài một cách dễ dàng, ông đã
phung phí khi đem áo mới, giày mới, nhẫn vàng, lại còn tổ chức một bữa tiệc có
cả đàn hát múa may nhảy nhót để đón đứa con trở về. Làm thế, chẳng sợ hàng xóm
cười cho. Nói tóm lại, ông đã phung phí tình yêu thương, yêu thương quá độ, yêu
thương đến vô lý. Có lẽ nào giải nghĩa được yêu thương, chỉ có tình yêu thương
mới giải nghĩa được những điều vô lý đó.
Đó là người cha nhân hậu.
--‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’--Radio Veritas Asia
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét