Tại sao kính Thánh Giu-se vào tháng ba?
Tháng ba được dành kính Thánh Giu-se, có
lý do gì gắn liền tháng ba với Thánh Giu-se?
Trong một năm, lòng đạo đức
bình dân thường dành ra vài tháng để kính nhớ một nhân vật nào đó, cụ thể là:
tháng 5 kính Đức Mẹ, tháng 6 kính Thánh Tâm Chúa, tháng 10 kính Đức Mẹ Mân côi,
tháng 11 nhớ các linh hồn đã qua đời. Nói chung, nguồn gốc của các tháng dâng
kính như vậy không có gì khó hiểu. Lúc đầu, người ta mừng lễ kính một vị thánh,
nhằm để chuẩn bị mừng lễ, người ta tổ chức ba ngày hay chín ngày dọn mình; và rồi
tính cách long trọng của lễ còn kéo dài ra suốt tuần bát nhật. Vị chi là non 20
ngày rồi, cho nên kéo dài ra thêm một tháng cũng chẳng vất vả gì. Điều này rõ rệt
với phụng vụ Đông phương: ngày 15 tháng 8 là lễ Đức Mẹ lên trời; các đan sĩ
dành 15 ngày trước đó để chuẩn bị và kéo dài thêm 15 ngày sau đó. Trong bối cảnh
đó, chúng ta có thể hiểu được vì sao tháng 3 được dành cho Thánh Giu-se, bởi vì
lễ Thánh Giu-se được mừng trong tháng 3, ngày 19. Việc dâng kính tháng 3 cho
Thánh Giuse được Đức Giáo Hoàng Pi-ô IX chuẩn nhận ngày 27/4/1865.
Tại sao lễ
Thánh Giuse được mừng vào ngày 19 tháng 3?
Thường lễ các thánh được mừng
vào ngày qua đời, được coi như ngày sinh (diesnatalis) vào cõi sống trường
cửu. Thế nhưng, đối với Thánh Giu-se cũng như nhiều thánh thời cổ, thì chúng ta
không biết ngày qua đời của họ. Vì thế các ngày lễ thường được ấn định dựa theo
một truyền thống địa phương nào đó, chẳng hạn như lễ cung hiến một thánh đường
nào đó. Riêng đối với Thánh Giu-se, chúng ta nên ghi nhận một điểm quan trọng.
Trong khi mà lễ kính các thánh tử đạo đã xuất hiện từ những thế kỷ đầu tiên, tiếp
đến là các lễ kính Đức Mẹ từ thế kỷ IV và các thánh tu hành, nhưng nói được là
trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất, không nơi nào mừng lễ kính Thánh Giu-se hết.
Quả thật, Thánh Giu-se là một con người thầm lặng, lúc còn sống cũng như sau
khi đã qua đời. Đừng kể vài chứng tích lẻ tẻ, phải chờ đến thế kỷ XIV, mới thấy
lễ kính Thánh Giu-se được cử hành trong các dòng hành khất, chẳng hạn Dòng Tôi
tớ Đức Mẹ (năm 1324), Dòng Phan sinh (năm 1339). Sang thế kỷ XV, lễ mới được
bành trướng. Năm 1467, giáo phận Milano (Italia) ấn định lễ thánh Giuse vào
ngày 20 tháng 3, và chuyển sang ngày 19 tháng 3 từ năm 1509. Phải chờ tới cuộc
cải tổ phụng vụ sau công đồng Trentô, do đức Piô V thì lễ Thánh Giu-se mới được
ghi vào lịch phổ quát của Giáo hội (1568-1570). Lễ được mừng vào ngày 19 tháng
3, và trở thành lễ buộc từ năm 1621, dưới thời Đức Grêgôriô XV.
Xin trở lại với câu hỏi, có gì liên hệ
giữa ngày 19 tháng 3 với thánh Giuse?
Các sử gia vẫn chưa tìm ra
mối liên hệ. Tại vài Giáo hội Hy-lạp, Thánh Giu-se được mừng sau lễ Giáng sinh
(ngày 26 tháng chạp), nhưng ngài cùng đứng chung với các tổ phụ từ ông Abraham
cho đến Thánh Giu-se. Bên Ai cập, người ta mừng ngày qua đời của Thánh Giu-se
vào ngày 20 tháng 7, không hiểu dựa trên cơ sở nào. Bên Tây phương, lần đầu
tiên tên Thánh Giu-se được xướng ngày 19 tháng 3 là một cuốn Tử đạo thư của một
đan viện Biển đức ở Reichenau (trước đây thuộc tổng Zurigô Thụy sĩ) vào thế kỷ
IX, có lẽ dựa theo một Phúc âm ngụy thư thế kỷ IV.
Bên cạnh lễ mừng vào ngày
19 tháng 3, phụng vụ còn dành một lễ nhớ nữa, đó là lễ Thánh Giu-se lao động,
được Đức Pi-ô XII thiết lập ngày 1/5/1955, nghĩa là vào lễ lao động. Điều này
không có gì khó hiểu. Trước đó, phụng vụ còn mừng lễ Thánh Giu-se, quan thầy Hội
thánh, được Đức Pi-ô IX ấn định (10/9/1847), vào Chúa nhật thứ ba sau lễ Phục
sinh, nhưng sau đó được Đức Pi-ô X (24/7/1913) dời vào ngày thứ tư trong tuần
thứ hai sau lễ Phục sinh. Lễ này bị bãi bỏ năm 1956, khi được thay thế bằng lễ
Thánh Giu-se lao động.
Cũng nên biết là vài nơi,
người ta còn mừng lễ đính hôn của Đức Mẹ và Thánh Giu-se, vào ngày 23 tháng
giêng. Nguồn gốc lễ này bắt nguồn từ linh mục Jean Gerson vào thế kỷ XV. Còn lễ
Thánh gia (Chúa Giê-su, Mẹ Ma-ri-a, Thánh Giu-se) thì mang tính cách phổ quát,
được mừng vào Chúa nhật sau lễ Giáng sinh, cũng có thể kể như một lễ kính Thánh
Giu-se, mặc dù không phải 100%. Lễ này được Đức Lê-ô XIII du nhập vào lịch
chung của Giáo hội năm 1893 (hồi đó, mừng vào Chúa nhật thứ ba sau lễ Hiển
linh).
Tháng Ba được dành để kính Thánh Giu-se, nhưng có những việc gì
làm để tôn kính Người?
Có lẽ việc tôn kính mà
Thánh Giu-se thích hơn cả là sống theo Phúc âm, cũng như Người đã cố gắng thi
hành, đặc biệt trong việc tuân hành ý Chúa, và trung thành với việc bổn phận.
Điều này được nhắc tới nhiều lần trong các văn kiện Toà thánh, gần hơn cả là
tông huấn “Redemptoris Custos” (người gìn giữ Chúa Cứu thế) ban hành ngày 15
tháng 8 năm 1989. Khi bàn về các việc đạo đức, thì có nhiều hình thức, chẳng hạn
như: Kinh cầu Thánh Giu-se, ngắm 7 sự vui buồn Thánh Giu-se, kinh cầu cho Hội thánh.
Có lẽ trong số này, kinh cầu Thánh Giu-se được nhiều người biết đến hơn cả.
Kinh cầu này dựa theo sườn của kinh cầu Đức Bà, và được sử dụng trong vài hiệp
hội tại Rô-ma từ thế kỷ XVI (khoảng năm 1597). Bố cục như sau: Mở đầu là những
lời khẩn cầu dâng lên Ba Ngôi Thiên Chúa, và Đức Mẹ Ma-ri-a; tiếp theo là những
lời cầu cùng Thánh Giuse dưới 25 tước hiệu. Các tước hiệu này có thể phân thành
5 nhóm. Nhóm đầu tiên nói sự thánh thiện cũng như nguồn gốc của thánh Giuse
(dòng dõi vua Đa-vít, thuộc hàng các tổ phụ). Nhóm thứ hai nói đến các chức vụ
được ủy thác (bạn Đức Ma-ri-a, dưỡng phụ Đức Giê-su, Đấng che chở cho Đức Ki-tô
và thánh gia). Nhóm thứ ba ca ngợi 6 nhân đức của Thánh nhân (công chính, khiết
tịnh, khôn ngoan, mạnh bạo, vâng lời, trung thành). Nhóm thứ tư đề cao Thánh
Giu-se như khuôn mẫu cho các nhân đức xã hội (nhẫn nại, thanh bần, cần cù lao động,
mẫu gương cho các gia trưởng, các người khiết tịnh cũng như người có đôi bạn,
an ủi kẻ âu sầu). Nhóm cuối cùng nhắc đến những tước hiệu bổn mạng (của những
người lâm tử và của toàn thể Hội thánh).
Còn suy gẫm 7 sự vui
buồn Thánh Giu-se là suy gẫm cái gì?
Kinh này dựa theo việc suy
gẫm bảy sự đau đớn Đức Mẹ do các tu sĩ dòng Tôi tớ Đức Mẹ phổ biến. Việc suy gẫm
bảy sự vui buồn Thánh Giu-se được in thành sách từ thế kỷ XVI, suy gẫm các biến
cố vui buồn của Thánh Giu-se, dựa theo những trình thuật Tin Mừng thơ ấu của
thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca. Nên lưu ý là đối với Đức Mẹ thì chỉ nói tới bảy
sự đau đớn, còn đối với Thánh Giu-se, chúng ta vừa suy gẫm bảy sự buồn cùng với
bảy sự vui. Nói cách khác, mỗi biến cố đều có mặt buồn của nó và liền đó là mặt
vui. Bảy biến cố là: thứ nhất, việc Đức Mẹ mang thai Chúa Giê-su, gây ra nhiều
băn khoăn cho Thánh Giu-se, nhưng sau đó được thiên thần giải thích. Thứ hai,
khi chứng kiến cảnh khó nghèo của Chúa Giê-su khi sinh ra tại Be-lem. Thứ ba,
khi làm phép cắt bì cho Chúa Giê-su. Thứ tư, khi cụ Si-mê-on tiên báo những đau
khổ của Chúa Giê-su. Thứ năm, khi trốn qua Ai cập. Thứ sáu, khi trở về
Na-da-rét. Thứ bảy khi lạc mất và tìm lại Đức Giê-su trong đền thờ. Sau mỗi cảnh
suy niệm, đọc một kinh Lạy Cha và Kính mừng, có thể thêm kinh Sáng danh.
Giáo hội chỉ mừng Thánh Giu-se vào ngày lễ ở tháng ba thôi hay
sao?
Như đã nói ở đầu, trong năm
phụng vụ có hai ngày kính Thánh Giu-se: ngày 19 tháng 3 và ngày 1 tháng 5. Còn
những cơ hội khác thì để tùy theo lòng đạo đức và tập tục địa phương. Chẳng hạn
như nhiều nơi mỗi tuần dành một ngày kính Thánh Giu-se (ngày thứ tư) cũng như
ngày thứ sáu dành kính Thánh tâm Chúa (hoặc cuộc tử nạn), thứ bảy kính Đức Mẹ.
Có nơi chuẩn bị lễ thánh Giu-se không phải với tuần bảy ngày mà là 7 Chúa nhật,
nhớ đến 7 sự vui buồn của thánh Giuse. Thế rồi trong tháng 10, tháng Mân côi, Đức
Lê-ô XIII đã muốn thêm vào kinh Thánh Giu-se (Lạy ơn ông Thánh Giu-se, chúng
tôi chạy đến cùng người), kinh do người soạn ra và đăng ở cuối thông điệp Quamquam
pluries (15/8/1889).
Tại sao ngày thứ
tư mỗi tuần được dành để kính Thánh Giu-se?
Dưới khía cạnh lịch sử, các
học giả không thấy có một mối liên hệ nào hết. Vào những thế kỷ đầu tiên của
Kitô giáo, các tín hữu ăn chay mỗi tuần hai ngày, (thứ tư và thứ sáu), khác với
người Do thái cũng ăn chay mỗi tuần hai ngày, nhưng là vào thứ hai và thứ năm.
Theo sự giải thích của vài giáo phụ, ngày thứ sáu tưởng niệm Chúa Giê-su chịu
chết trên thập giá, còn ngày thứ tư tưởng nhớ ngày Chúa bị Giu-đa phản bội.
Không rõ từ hồi nào người ta dành thứ tư để kính Thánh Giu-se, và vì lý do gì.
Tuy vậy, cũng có người bóp trán để giải thích thế này. Ngày thứ tư là ngày ở giữa
tuần lễ, với nhịp độ làm việc cao, khác với nhịp độ uể oải hay cầm chừng của đầu
tuần hay cuối tuần. Như vậy đáng để dành cho thánh Giuse, gương mẫu của sự cần
cù làm việc.
Dù sao, cũng nên biết là đối
với người kính mến Thánh Giu-se, thì họ vẫn nhớ đến tên của ngài mỗi ngày, cùng
với việc kêu cầu Chúa Giê-su, Đức Mẹ Ma-ri-a. Ngoài ra, tại vài nơi, người ta
còn đọc một kinh riêng kính Thánh Giu-se dưới hình thức bổn mạng của người chết
lành. Truyền thống cho rằng Thánh Giu-se là người có phúc nhất trên đời, bởi vì
lúc lâm chung, người có Chúa Giê-su và Đức Mẹ đứng bên cạnh. Từ đó một hiệp hội
được thành lập với trụ sử đặt tại Rô-ma, cầu xin Thánh Giu-se giúp cho mọi người
được chết lành. Tại Việt Nam, ở nhiều nhà thờ và gia đình, người ta đọc mỗi
ngày hai lần kinh nguyện vắn tắt như sau: “Lạy ông Thánh Giu-se, là cha nuôi Đức
Chúa Giê-su cùng là bạn thanh sạch rất thánh đồng trinh Đức Bà Ma-ri-a, xin Người
cầu nguyện cho chúng tôi và cho các kẻ mong sinh thì trong ngày (đêm) hôm nay”.
Lm. Giu-se Phan Tấn Thành,
OP
theo daminhvn.net

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét