Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Bài 8 : TINH THẦN CỦA ĐỨC MARIA (Phong cách 4)

LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN

Bài 8 : TINH THẦN CỦA ĐỨC MARIA (phong cách 4)


I. TINH THẦN CỦA ĐỨC MARIA LÀ GÌ ?
                Muốn biết tinh thần của Đức Maria, ta chỉ cần theo dõi cuộc đời của Mẹ đã được các sách Tin Mừng thuật lại : Từ khi Đức Maria được sứ thần loan báo cho biết Thiên Chúa muốn chọn người làm Mẹ Đức Giê-su, cho đến khi người sống những ngày cuối đời với các tông đồ trong cộng đồng Hội Thánh đầu tiên. Ta có thể nhận ra tinh thần của Đức Maria là tinh thần cộng tác chặt chẽ với Đức Ki-tô trong công cuộc cứu chuộc và tinh thần gắn bó mật thiết với Hội Thánh của Đức Ki-tto.

                1. Cộng tác chặt chẽ với Đức Ki-tô trong công cuộc cứu chuộc :
                Đức Maria khi hiểu được ý Thiên Chúa đoái thương chọn mình làm Mẹ Đấng Cứu Thế, người đã mau mắn thưa “xin vâng”(fiat) và cộng tác với Chúa Thánh Thần để thụ thai Đức Giê-su. Mẹ đã sinh ra, nuôi dưỡng và dạy Đức Giê-su, chứng kiến Đức Giê-su “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm an nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.” (Lc 2,52).
                Khi Đức Giê-su đã được Đức Maria dạy dỗ để hiểu biết về phương diện loài người, Thánh Kinh và lịch sử, ý định của Thiên Chúa đối với dâncủa Người trong tôn thờ Chúa Cha.
                Khi Đức Giê-su đi loan báo Tin Mừng cho mọi người, Đức Maria luôn chăm chú theo dõi và khi Đức Giê-su chịu chết để cứu chuộc loài người, Đức Maria đã có mặt dưới chân thập giá để hiệp thông sâu sắc với con mình, trở nên như bà Eva mới, mẹ của một nhân loại mới, mẹ của Hội Thánh.

                2. Gắn bó mật thiết với Hội Thánh Chúa Ki-tô.
                Đức Maria là thầy, là mẹ dạy dỗ Chúa Giê-su, nhưng người cũng là “môn đệ thứ nhất trong các môn đệ của Chúa Ki-tô” (còn gọi là môn đệ trọn lành của Đức Ki-tô).
-          Là môn đệ thứ nhất trong thời gian, vì ngay khi tìm được Đức Giê-su trong Đền thờ, Đức Maria nhận được từ cậu thiếu niên Giê-su, con của mình, bài học mà người giữ kín trong lòng (x.Lc 2,51) ; và thứ nhất một cách đặc biệt nữa, vì không ai đã được Thiên Chúa dạy dỗ cách cao siêu đến thế. Đức Maria đã trở nên “môn đệ gương mẫu” cho mọi môn đệ Đức Ki-tô trong Hội Thánh. Thánh Augustino còn mạnh dạn nói rằng :”Đối với Đức Maria, tư cách là môn đệ còn quan trọng hơn tư cách làm mẹ.”
-          Là Mẹ và là Thầy, Thượng Hội Đồng Giám Mục đã quả quyết : Đức Maria là “một giáo lý sống động”, là Mẹ và là mẫu gương của giáo lý viên. Người là Mẹ Đức Ki-tô, Mẹ của Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô và cùng với Hội Thánh, Người làm Mẹ, làm cho nhiều người sinh lại để trở nên con cái Hội Thánh.

II.TINH THẦN ĐỨC MARIA NƠI GIÁO LÝ VIÊN :


                Đức Maria là “môn đệ gương mẫu” và là “giáo lý viên gương mẫu” ở chính tinh thần cộng tác chặt chẽ với Đức Ki-tô trong sứ mệnh cứu chuộc và gắn bó mật thiết với Hội Thánh để sinh lại cho Chúa thật nhiều con cái. Vì thế, giáo lý viên cần phải có :
                1. Tinh thần cộng tác chặt chẽ với công cuộc cứu chuộc của Đức Ki-tô :
                Giáo lý viên được mời gọi để làm người  dạy dỗ, giáo dục đức tin cho các học viên, đó là công việc mà Đức Maria đã làm. Người vừa sinh ra vừa dạy dỗ trẻ Giê-su cho khôn lớn. Giáo lý viên học hỏi nơi Đức Maria cách dạy dỗ thế nào để các học viên của mình cũng giống như trẻ Giê-su, càng khôn lớn càng đẹp lòng Thiên Chúa và đẹp lòng mọi người.
                Và khi học viên lớn lên, giáo lý viên giúp họ trở thành môn đệ đích thực của Đức Ki-tô, sống đúng căn tính Ki-tô hữu bằng cách đi theo linh đạo phù hợp với căn tính của họ, như chính giáo lý viên đi theo linh đạo của mình vậy.

                2. Tinh thần gắn bó mật thiết với Hội Thánh Đức Ki-tô :
                Giáo lý viên đã được Hội Thánh tuyển chọn và ủy thác để tham gia vào sứ mệnh Phúc Âm hóa của Hội Thánh. Giáo lý viên cũng được Hội Thánh huấn luyện để trở thành môn đệ Đức Ki-tô và trở thành giáo lý viên, cộng tác trong sứ mệnh tông đồ để xây dựng Hội Thánh của Đức Ki-tô.
                Giáo lý viên gắn bó mật thiết với Hội Thánh bằng cởi mở với Hội Thánh, để cũng mang trong lòng mình mối ưu tư của Hội Thánh ở địa phương hôm nay, đó là ưu tư để Phúc Âm hóa cho số rất đông người chưa thấm nhuần hoặc chưa biết đến Tin Mừng, hạnh phúc  của Đức Ki-tô
                Đồng thời giáo lý viên luôn vâng theo hướng dẫn của Đức Giám Mục và các Linh Mục coi sóc mình, sẵn sàng hy sinh thời giờ và công sức để học tập và thi hành nhiệm vụ giáo lý viên của mình cách tích cực và hăng say trong tình hiệp thông với các giáo lý viên khác chung quanh.

III. LIÊN QUAN GIỮA TINH THẦN ĐỨC MARIA VÀ LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN :
                Linh đạo giáo lý viên được biểu hiện trong bốn phương cách : cởi mở với Lời Chúa, đời sống thống  nhất và chân thực, nhiệt tâm truyền giáo và ting thần Đức Maria. Sau khi đã học hỏi và hiểu biết, giáo lý viên có thể nhận ra mối liên quan giữa tinh thần Đức Maria tức là phong cách bốn với ba phong cách trên và với linh đạo giáo lý viên.

                1. Tinh thần Đức Maria là phong cách tóm lược và kết hợp ba phong cách trên :
                Ta biết mỗi Ki-tô hữu có một căn tính : linh mục, tu sĩ, giáo dân, giáo lý viên ... Ai có căn tính nào phải sống theo linh đạo phù hợp với căn tính ấy. Đức Maria làm mẹ Đức Ki-tô, làm Mẹ Hội Thánh, nhưng là một Ki-tô hữu giáo dân gương mẫu, một giáo lý viên gương mẫu. Vì Mẹ đã nuôi dưỡng, dạy dỗ Chúa Giê-su thời niên thiếu, để trẻ Giê-su càng lớn lên càng làm đẹp lòng Thiên Chúa và mọi người. Giáo lý viên sống tinh thần Đức Maria, sống đúng linh đạo giáo lý viên, mới có thể giáo dục các học viên của mình, càng lớn lên, càng đẹp lòng Thiên Chúa và mọi người giống như Đức Giê-su thời niên thiếu.
                 Thật vậy, Đức Maria là giáo lý viên gương mẫu sống đúng linh đạo giáo lý viên. Người có đủ ba phong cách kể trên :
-          Đức Maria cởi mở với Lời Chúa bằng xin vâng ý Đức Chúa Cha, hiệp thông với Chúa Ki-tô, Con của Người và sẵn sàng để Chúa Thánh Thần tác động và hướng dẫn.
-          Đức Maria cởi mở với Hội Thánh mới bằng cách “chuyên cần cầu nguyện”, vởi mở với mọi người bằng cách mau mắn giúp bà Elizabeth, giúp tiệc cưới Cana.
-          Đức Maria luôn thống nhất đời sống và sống chân thực theo thánh ý Thiên Chúa nhờ cầu nguyện và cảm nghiệm về Thiên Chúa (thể hiện trong lời kinh Ngợi khen của Đức Maria – Lc 1,56).
-          Đức Maria có nhiệt tâm truyền giáo ở mức độ cao nhất nhờ đồng công cứu chuộc trong cuộc tử nạn của Đức Ki-tô, mang lại ơn cứu chuộc cho mọi người.
Giáo lý viên có được tinh thần của Đức Maria là có đủ phong cách để sống đúng linh đạo của giáo lý viên.

2. Càng có tinh thần của Đức Maria sâu sắc, càng sống linh đạo giáo lý viên trọn hảo và hữu hiệu :
Công Đồng Vatican II đã xác nhận như sau : “Quả thật đời sống Đức Trinh Nữ đã làm mẫu gương cho tình mẫu tử, tình mẫu tử ấy phải là động lực cho tất cả những ai cộng tác vào sứ mệnh tông đồ của Hội Thánh đang hoạt động nhằm tái sinh nhân loại.” Đức Maria làm mẹ đã sinh dưỡng giáo dục Đức Giê-su, làm Mẹ của Hội Thánh như Eva mới, Mẹ của nhân loại mới, hằng quan tâm cứu giúp mọi người với tình mẫu tử để họ trở về làm con Thiên Chúa.
Giáo lý viên có lòng thành thật tôn sùng Đức Maria, là gương mẫu của tình mẫu tử,là gương mẫu của giáo lý viên. Lòng thành thật sùng kính Đức Maria phải được biểu hiện trong việc noi gương của Đức Maria.
Giáo Lý viên cùng với cộng đoàn của mình sống tinh thần Đức Maria, sẽ làm cho cộng đoàn mình sống như ban đầu, một cộng đoàn được toàn dân thương mến.
               


                

Bài 7 : NHIỆT TÂM TRUYỀN GIÁO (Phong cách 3)

LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN

Bài 7 : NHIỆT TÂM TRUYỀN GIÁO (Phong cách 3)



I. TRUYỀN GIÁO : TIẾNG GỌI KHẨN CẤP
                Giáo lý viên là Ki-tô hữu và còn là Ki-tô hữu có ơn gọi làm giáo lý viên không thể làm ngơ trước tiếng gọi khẩn cấp : truyền giáo hay loan báo Tin Mừng.

                1. Phát xuất từ cởi mở với Lời Chúa :
                Khi giáo lý viên cởi mở để đón nhận Lời Chúa, hiểu biết và sống thân tình với Chúa luôn thì không thể nào lại không tìm cách làm cho người khác hiểu biết và sống thân tình với Người. Cởi mở với Lời Chúa đòi hỏi vừa đón nhận, vừa đem Lời Chúa cho người khác để họ cũng cởi mở với Lời Chúa như mình để cùng được Lời Chúa cứu độ.

                2. Phát xuất từ chính Chúa Ki-tô :
                Giáo lý viên không thể bỏ ngoài tai, tiếng gọi khẩn cấp của Chúa Ki-tô :”Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về.” (Ga 10,16). Cũng không thể quên lệnh truyền giáo của Chúa Giê-su đã được ban bố trước khi Ngài về trời :”Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15).

                3. Phát xuất từ hoàn cảnh cụ thể hôm nay :
                Giáo lý viên đang sống trong xứ truyền giáo ; cứ 100 người thì chỉ có 3 người là Công giáo, còn 97 người chưa thuộc về đàn chiên của Chúa. Ấy là chưa nói đến toàn thể Châu Á ngày nay với gần 4 tỷ người mà chỉ có 100 triệu người Ki-tô giáo, mà riêng Philippin đã có 50 triệu. Giáo lý viên là một Ki-tô hữu đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, lại được mời gọi làm giáo lý viên, nên không thể không quan tâm đến tỷ lệ quá cách biệt giữa người đã chịu phép Rửa tội và người lương dân.

II. GIÁO LÝ VIÊN PHẢI CÓ THÁI ĐỘ NÀO TRƯỚC TIẾNG NÓI KHẨN CẤP ẤY :
                Dạy giáo lý cho các em là một cách đáp lại tiếng gọi của Chúa. Tuy nhiên, giáo lý viên luôn ý thức mình đang ở xứ truyền giáo và luôn sẵn sàng :

                1. Để cho tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách :
                Giáo lý viên đã biết tiếng gọi và lệnh truyền của Chúa Ki-tô nên phải khắc ghi trong lòng để suy niệm. Suy nghĩ để có thể nhận ra và cảm nhận rằng Chúa Ki-tô đã yêu thương ngỏ lời với mình thì mình không thể hưởng thụ tình yêu ấy cho riêng mình, mà phải để cho “tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách” (2Cr 5,14), khiến cho mình “không thể không nói ra những gì mình đã nghe  và đã thấy.” (Cv 4,20). Dẫu có bị cấm cách, ngăn cản hay bách hại, giáo lý viên không bao giờ hổ thẹn vì Tin Mừng của Chúa (x. Rm 1,16).

                2. Tích cực dấn thân làm cho nhiều người khác nữa biết đến Chúa Ki-tô :
                Được tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách, giáo lý viên đã dứt khoát không chạy theo xu hướng của người đời chỉ lo kiếm tiền bạc danh vọng để hưởng thụ. Nhưng chọn lựa tìm kiếm vinh dự nơi Chúa Ki-tô và không muốn loan báo điều gì khác ngoài Chúa Ki-tô là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
                Quyết tâm chọn lựa để tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách và tìm kiếm vinh dự trong việc loan báo Chúa Ki-tô để cho mọi người biết và tin theo Người, đó là điều kiện để cho nhiệt tâm truyền giáo phát triển.

III. GIÁO LÝ VIÊN PHÁT TRIỂN NHIỆT TÂM TRUYỀN GIÁO :
                Giáo lý viên có thể làm cho nhiệt tâm truyền giáo phát triển bằng cách :

                1. Quyết tâm chú ý kiếm tìm chiên lạc cho kỳ được :
                Giáo lý viên đã yêu mến Chúa Ki-tô và khao khát làm cho nhiều người nữa biết Người, thì phải bắt chước tấm lòng của Người đến với chiên lạc. Đó là những người đáng được chú ý hơn đến nỗi Chúa Ki-tô ví họ như con chiên lạc mà người mục tử “để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất.” (Lc 15,4). Chúa Ki-tô còn so sánh nhiệt tâm ấy như tấm lòng của người phụ nữ nghèo “đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được ?” (Lc 15,8).
               
                2. Quyết tâm làm bất cứ việc gì có thể để cứu được một số người :
                Đã cảm nhận tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách mình và hiểu được tình trạng mất mát của các chiên lạc đang cần dẫn đưa về đàn ; giáo lý viên noi gương vị tông đồ Phaolô có nhiệt tâm rất cao, đã sẵn sàng trở nên tất cả cho mọi người “để bằng mọi cách cứu được một số người.” (1Cr 9,22).
                Nhiệt tâm truyền giáo thôi thúc thánh Phaolô đến nỗi ngài thú nhận rằng: “Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.” (1Cr 9,16)


IV. DẤU CHỈ CỦA NHIỆT TÂM CHÂN THỰC :
                Giáo lý viên đã đem hết nhiệt tâm để đáp lại tiếng gọi khẩn cấp của Chúa Ki-tô và của chính các chiên lạc chưa thuộc về đàn, giáo lý viên biểu hiện nhiệt tâm ấy trong những lời nói tha thiết với việc truyền giáo ; hoặc dành nhiều thời gian để lo hoạt động truyền giáo. Tuy nhiên, nhiệt tâm chân thực truyền giáo của giáo viên được biểu hiện như sau :

1. Giáo lý viên khắc họa được nơi sâu thẳm nhất của mình : dấu Thánh Giá vinh quang của Chúa Ki-tô.
Thật vậy, Đức Ki-tô mà giáo lý viên học hỏi là “Đức Ki-tô chịu đóng đinh.” (1Cr 2,2), Đấng mà giáo lý viên loan báo cũng chính là “Đức Ki-tô chịu đóng đinh”. Nhưng Đấng ấy cũng là Đức Ki-tô đã phục sinh từ cõi chết. Dấu chỉ nhiệt tâm chân thực là giáo lý viên luôn xác tín rằng : mình không thể được vinh quang với Chúa Ki-tô nếu không đi qua đường thập giá (x.Lc 24,26).

2. Giáo lý viên sẵn sàng chấp nhận mọi gian nan, thử thách,đau khổ trong đời truyền giáo :
Một khi khắc họa nơi sâu thẳm của lòng mình dấu Thánh Giá  vinh quang của Chúa Ki-tô thì giáo lý viên sẵn sàng sống mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Ki-tô với niềm hy vọng phấn khởi. Sống mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Ki-tô tức là trong mỗi hoàn cảnh sống của mình, dù có gặp những hạn chế, bất lực hay những đau khổ nơi bản thân mình, những nghịch cảnh trong gia đình mình, những khó khăn trở ngại trong công tác tông đồ, giáo lý viên luôn quyết tâm đi cho trọn con đường Chúa đã đi, với ý hướng là :”Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh.” (Cl 1,24).

KÉT LUẬN : Nhiệt tâm truyền giáo là phong cách thứ 3 giúp giáo lý viên biểu hiện cách rõ ràng cho học viên cũng như cho mọi người nhận ra giáo lý viên thực sự sống linh đạo giáo lý viên. Nhiệt tâm truyền giáo là kết quả cụ thể của việc cởi mở với Lời Chúa, vừa đón nhận vừa ra đi loan báo Lời Chúa và cũng là dấu hiệu của một đời sống thống nhất và chân thực. Vì giáo lý viên chỉ lo thi hành Lời Chúa, thực hiện đúng thánh ý Chúa, theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Như vậy, cả ba phong cách gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau để giáo lý viên sống đúng linh đạo, đúng căn tính của giáo lý viên.

               



 

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Bài 6 : ĐỜI SỐNG THỐNG NHẤT VÀ CHÂN THỰC (Phong cách 2)

LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN

Bài 6 : ĐỜI SỐNG THỐNG NHẤT VÀ CHÂN THẬT (PHONG CÁCH 2)



I. ĐỜI SỐNG THỐNG NHẤT LÀ GÌ ?
                 Thống nhất là hợp thành một cho phù hợp với nhau, không mâu thuẫn trái ngịch với nhau. Ví dụ : đất nước thống nhất là đất nước có cùng chung một tổ chức, một lãnh đạo duy nhất.
                Như vậy, đời sống thống nhất là đời sống có một đường lối duy nhất, một chương trình được sắp đặt, mọi lời nói, việc làm, được gắn bó chặt chẽ với nhau, không “tiền hậu bất nhất” và không có hai đời sống tách biệt và đối nghịch nhau.

II.  ĐỜI SỐNG CHÂN THỰC .
                Chân thực là trong lòng thế nào thì  bày tỏ ra ngoài như vậy, nghĩa là lời nói và việc làm phát xuất từ đáy lòng, nghĩ sao nói vậy, trong lòng muốn gì thì bày tỏ như vậy, không giả dối, việc giả hình hay lừa gạt.
                Đời sống chân thực là đời sống đích thực chứ không giả hiệu giả hình, nghĩa là lời nói, cử chỉ, việc làm đều đúng với thâm tâm hay lương tâm, không phải chỉ có tính cách xã giao, chiến thuật hay thủ đoạn.
                Đời sống thống nhất và chân thực luôn phải đi đôi với nhau. Đời sống thống nhất thì cần phải luôn chân thực vì có thể thống nhất để xã giao theo thủ đoạn xảo quyệt, thống nhất một cách giả hiệu để lừa gạt và đời sống chân thực thì cũng cần thống nhất theo một chương trình kỷ luật trước sau như một, chứ không “tiền hậu bất nhất”.

III. ĐỜI SỐNG THỐNG NHẤT VÀ CHÂN THỰC RẤT CẦN THIẾT :

                1. Vì nhiệm vụ của giáo lý viên.
                Giáo lý viên phải vận dụng tất cả đời sống và con người mình vào nhiệm vụ loan báo Lời Chúa. Trước khi loan báo Lời Chúa, thì giáo lý viên phải cởi mở và sống Lời Chúa. Dạy giáo lý không phải là dạy một môn học về văn hóa, cũng không phải dạy ý kiến của giáo lý viên, mà là dạy Lời Chúa, dạy những điều mà Hội Thánh tin, nên giáo lý viên phải tin và sống những điều mình tin trước, cảm nghiệm về niềm tin ấy để có thể làm chứng cho mọi người.
                Vì thế, trước khi dạy giáo lý, giáo lý viên đã phải cố gắng sống theo những giáo lý mình dạy cách chân thực. Làm như vậy, giáo lý viên chứng minh cho mọi người rằng mình là một con người, là một giáo lý viên có phẩm chất, có ý thức trách nhiệm và sống đúng trách nhiệm của giáo lý viên.

                2. Vì thế giới hôm nay.
                Thế giới hôm nay đã phải nghe nhiều lời tuyên truyền rất hùng hồn và hấp dẫn cho những hạng người (nói vậy mà không phải vậy). Vì vậy, người ta đòi hỏi những người đi Phúc Âm hóa người khác phải nói cho họ về một Thiên Chúa mà chính người đó đã hiểu biết quen thân, cảm nghiệm được, như thể người ấy đã thấy được “Đấng vô hình”. Vậy, giáo lý viên là người đi Phúc Âm hóa người khác mà mình đã học trong sách vở chứ chẳng quen thân hay cảm nghiệm gì, thì đời sống giáo lý viên đã không thống nhất, không gắn bó chặt chẽ giữa biết và sống, giữa dạy và làm, đời sống như thế làm sao cảm hóa và thuyết phục người khác được.
                Giáo lý viên cần nhớ lời thánh Mác-cô nói về ơn gọi làm tông đồ để áp dụng cho chính mình như sau :” Chúa Ki-tô đã lập Nhóm Mười Hai tông đồ để họ ở với Người và sai họ đi rao giảng”.(Mc 3,14-15), nghĩa là giáo lý viên cũng phải ở với Chúa Ki-tô, sống thân quen và cảm nhận được tình thương của Chúa Ki-tô, rồi mới có thể rao giảng về Người cách xác tín được. Đây là một nét riêng biệt mà thánh Mác-cô lưu ý chúng ta.


IV. ĐỜI SỐNG CHÂN THỰC ĐƯỢC BIỂU HIỆN NHƯ THẾ NÀO ?
                Đời sống chân thực là phong cách thứ hai của linh đạo giáo lý viên, nó được biểu hiện qua ba hành động chính là : cầu nguyện, cảm nghiệm về Thiên Chúa và sẵn sàng buông theo Chúa Thánh Thần.

                1. Cầu nguyện :
                Cầu nguyện là gặp gỡ để nghe Chúa nói và để nói với Chúa, để có cùng ý nghĩ và ước muốn như Chúa. Cầu nguyện là “ở với Chúa” (như cây nho, cành nho). Chúa Ki-tô có đời sống chân thực nhờ cầu nguyện, nhờ thái độ “ở với Chúa Cha”. Người tìm nơi thanh vắng, dành thời gian ban đêm để gặp gỡ, tâm tình với Chúa Cha, nhờ đó đời sống của Người luôn chân thực vì Người chỉ lo thực thi đúng ý Chúa Cha mọi nơi mọi lúc.
                Giáo lý viên cầu nguyện thực thi đời sống chắc chắn phải chân thực, vì cầu nguyện  thực sự là hiệp thông, là hiệp nhất với Chúa, nhờ đó giáo lý viên không thể nào sống giả hiệu, giả hình, dối trá.
               
                2. Cảm nghiệm về Thiên Chúa.
                Đây là một dấu chỉ sâu sắc hơn về đời sống chân thực, nó phát xuất từ việc gặp gỡ, hiểu biết, cảm phục, tạ ơn, chúc tụng và xin ơn cần thiết cho hồn xác, đó là những tâm tình của việc cầu nguyện. Nó nằm ở bề sâu tấm lòng của con người. Chính trong bề sâu của lòng ta, mà ta có kinh nghiệm rằng : Thiên Chúa rất gần gũi, đáng kính, đáng yêu. “Cảm nghiệm” khác với suy nghĩ hay suy luận, cảm nghiệm như một trực giác nghĩa là một cảm nhận trực tiếp không do suy luận nhưng do Chúa Thánh Thần gợi lên trong đáy lòng.
                Cảm nghiệm về Thiên Chúa làm cho ta đạt tới mức thân mật với Thiên Chúa cách đơn sơ chân thành, nghĩ sao nói vậy. Cảm nghiệm sao bày tỏ vậy. Đây chính là đời sống chân thực ở mức độ cao. Chẳng hạn, cảm nghiệm của hai môn đệ làng Emmau :”Lòng chúng ta chẳng bừng cháy lên sao ...” (Lc 24,30-34).
               
                3. Sẵn sàng buông theo Chúa Thánh Thần.
                Giáo lý viên cần ý thức vai trò quan trọng của Chúa Thánh Thần mà Chúa Giê-su đã gởi đến để thường xuyên hướng dẫn uốn nắn mỗi Ki-tô hữu. Người gợi hứng cho ta biết cầu nguyện đơn sơ và chân thành với Chúa Cha. Người dạy ta cầu nguyện sao cho phải (xem thư gởi Rô-ma 8,26). Do đó, ta cứ  buông theo Chúa Thánh Thần hướng dẫn, uốn nắn, thì đời sống ta sẽ chân thực, không thể giả hiệu, giả hình. Buông theo Chúa Thánh Thần không phải là ta thả mình như “bèo lục bình trôi” nhưng là phải cố gắng dẹp bỏ mọi bám víu vấn vương bụi trần để Chúa Thánh Thần dẫn ta theo ý Chúa Cha trên trời.

V. ĐỜI SỐNG THỐNG NHẤT VÀ CHÂN THỰC CÓ LIÊN QUAN GÌ TỚI LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN.
                Nhiệm vụ giáo lý viên đòi hỏi giáo lý viên hiểu biết Chúa Ki-tô mỗi ngày mỗi hơn và sống theo Người để đời sống luôn thống nhất và chân thực. Đây là việc không dễ, cần có nghị lực và quyết tâm, cần theo một kỷ luật bản thân bề trong (như ý nghĩ, tình cảm ...) lẫn bề ngoài (như lời nói, hành động ....) và cần lo liệu cho đời sống kỷ luật ấy phù hợp với hoàn cảnh của một giáo dân sống giữa đời. Vì thế, giáo lý viên cần xác tín về tầm quan trọng của mối liên quan giữa đời sống và linh đạo.


                1. Càng sống thống nhất và chân thực, giáo lý viên càng làm chứng và dạy dỗ hữu hiệu hơn :
                Muốn xác tín như vậy, giáo lý viên cần phải dẹp bỏ ý nghĩ sai lầm là mình chỉ là giáo dân sống giữa hoàn cảnh trần thế, làm sao tổ chức được đời sống kỷ luật và có điều kiện thuận lợi như các linh muc và tu sĩ.
                Thực ra, giáo dân không thể tổ chức đời sống và có điều kiện thuận lợi như linh mục và tu sĩ, nhưng bất cứ Ki-tô hữu nào, bất cứ ai sống theo linh đạo nào cũng phải lo sắp xếp để có những lúc cầu nguyện với Chúa, gặp gỡ Chúa trong yên tĩnh và thinh lặng để lòng mình có điều kiện lắng xuống và cảm nghiệm về Thiên Chúa và sẵn sàng đón nhận sự hướng dẫn và uốn nắn của Chúa Thánh Thần. Sống như vậy, giáo lý viên trở thành bằng chứng rõ ràng hơn cho học viên vì mình đã sống với Chúa thực sự, và mọi hoạt động của giáo lý viên sẽ có sức cảm hóa và thuyết phục mạnh mẽ hơn, đúng với đòi hỏi của linh đạo.

                2. Càng sống thống nhất và chân thực, giáo lý viên càng đầy niềm vui và hy vọng để chia sẻ cho học viên và mọi người.
               
                Cố gắng sống thống nhất và chân thực sẽ mang lại cho giáo lý viên niềm vui và tự hào, vì mình không hổ thẹn nói một đàng làm một nẻo, chỉ nói mà không làm. Nhưng mình cảm thấy an nhiên tự tại  nghĩa là an bình và hồn nhiên, vì đời sống chân thực và trong sáng ; tự tại là bản thân được thư thái vì mình sống trong trung thực, nói và làm đi đôi với nhau.

KẾT LUẬN : Đời sống thống nhất và chân thực là phong cách quan trọng và cần thiết của giáo lý viên, vì nó là dấu chỉ giáo lý viên sống đích thực linh đạo giáo lý viên của mình trước mặt học viên cũng như mọi người. Giáo lý viên dạy sao sống vậy, dạy các em cầu nguyện thì mình cũng thực hành cầu nguyện như vậy. Phong cách này làm cho giáo lý viên dễ cảm hóa các học viên. Nhiệm vụ của giáo lý viên sẽ dễ dàng và chắc chắn hữu hiệu hơn. Đời sống thống nhất và chân thực theo linh đạo giáo lý viên sẽ làm cho giáo lý viên hưởng được hoa quả của Chúa Thánh Thần là : bác ái, hoan lạc, bình an, trung tín, hiền hòa (x.Gl 5,22-23).
                Giáo lý viên sẽ được hưởng hoa quả của Chúa Thánh Thần thì nhân danh Hội Thánh, giáo lý viên phải là người gieo rắc niềm vui và hy vọng mà Chúa Ki-tô Phục Sinh đã đem lại cho mình.


Bài 5 : CỞI MỞ VỚI LỜI CHÚA (Phong cách 1)

LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN

Bài 5 : CỞI MỞ VỚI LỜI CHÚA (Phong cách 1)



I. CỞI MỞ LÀ GÌ ?
                Ta thường nghe nói thời bây giờ là thời mở cửa. Mở cửa là để ở trong đó có thể đi ra ngoài và ở bên ngoài có thể vào trong, có hai chiều. Nếu đóng cửa thì ở trong không ra được bên ngoài và ở ngoài không vào được bên trong. Cởi mở cũng vậy,  nhưng khác một chút, vì nó là một thái độ, một phong cách xử sự, vừa dễ dàng vừa tự nhiên, để mở cửa đón nhận người khác vào, và để ra khỏi mình đi đến với người khác. Cởi mở tạo điềukiện cho sự giao lưu, có đi có lại rất cần thiết và ích lợi cho xã hội hôm nay.

II. CỞI MỞ VỚI LỜI CHÚA .
                Giáo lý viên có nhiệm vụ chính là truyền giảng Lời Chúa nên phong cách trước hết trong linh đạo giáo lý viên là cởi mở với Lời Chúa. Lời Chúa được chứa đựng trong Thánh Kinh, được Hội Thánh công bố, được cử hành trong Phụng Vụ, được các thánh thực thi trong đời sống. Cởi mở với Lời Chúa qua những điểm trên là để gặp gỡ Đức Ki-tô, vì Đức Ki-tô ẩn dấu trong Lời Người, trong các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể. Đức Ki-tô trong anh chị em đang sống bên ta. Vì thế, cởi mở với Lời Chúa có nghĩa là cởi mở với Thiên Chúa, với Hội Thánh, với thế giới. Cởi mở vừa đón nhận vừa đi đến với nhau. Sau đây ta sẽ tìm hiểu rõ hơn từng điểm sau :

III. CỞI MỞ VỚI THIÊN CHÚA DUY NHẤT VÀ BA NGÔI .
                1. Tầm quan trọng của Chúa Ba Ngôi :
                Cởi mở để đón nhận gặp gỡ Thiên Chúa Ba Ngôi trong nơi sâu thẳm của lòng người. Việc cởi mở rất quan trọng vì làm cho đời người có một ý nghĩa, một hướng đi, nghĩa là làm cho ta :
                + Có những xác tín, những tin tưởng chắc chắn, đúng với sự thật về Thiên Chúa và loài người.
                + Có những tiêu chuẩn, những quy luật để giữ vào đó mà lượng giá tốt xấu cho đúng.
                + Có những thang giá trị để mà biết các giá trị nào cao thấp con người hơn con vật.

                2. Cởi mở cách nào :
                Cởi mở bằng cách để cho mình không bị lôi kéo và lệ thuộc vào cái gì khác (đó là mặt tiêu cực), nhưng tích cực là sẵn sàng đón nhận ảnh hưởng :
                + Của Chúa Cha, Đấng đã trao ban cho ta Lời Chúa.
                + Của Chúa Con, là Đức Ki-tô, là Ngôi Lời, Đấng đã làm người để chỉ nói lên những gì đã nghe từ Chúa Cha.
                + Của Chúa Thánh Thần, Đấng soi sáng trí tuệ và hâm nóng tâm hồn để hiểu Lời Chúa và yêu mến thực thi Lời Chúa.

                3. Liên quan giữa cởi mở với Chúa Ba Ngôi :
                Cởi mở với Lời Chúa là một phong cách, một lối sống linh đạo giáo lý viên, phong  cách này bén rễ nơi Lời Hằng Sống, phát xuất từ Thiên Chúa Ba Ngôi. Phong cách này bao gồm một thái độ nội tâm, muốn gắn bó chặt chẽ :
                Để dự phần vào tình yêu của Chúa Cha là tình yêu muốn cho mọi người được biết sự thật và được cứu độ.
                Để hiệp thông với Chúa Ki-tô, dự phần vào những tâm tình của Người (xem thư Pl 2,5) và sống trong cảm nghiệm rằng Người luôn luôn có mặt để an ủi như Thánh Phao-lô đã cảm nhận :”Đừng sợ. cứ nói đi, đừng làm thinh, đừng câm điếc, vì Thầy ở với con.” (xem Công Vụ Tông Đò 18,9-10).
                Để buông mình cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn và biến đổi mình thành nhân chứng can đảm  Chúa Ki-tô và thành người sáng suốt loan báo Lời của Người.


IV. CỞI MỞ VỚI HỘI THÁNH :
                1. Tầm quan trọng của Hội Thánh :
                Hội Thánh được Chúa Ki-tô trao phó để giữ gìn Lời Chúa cách trung tín và được Chúa Thánh Thần giúp đỡ để hiểu sâu và công bố Lời Chúa cho mọi người. Hội Thánh là người sai giáo lý viên đi như một thành phần của mình để giáo lý viên góp phần xây dựng Hội Thánh. Vì thế, giáo lý viên phải ý thức sâu sắc rằng : mình tùy thuộc và có trách nhiệm với Hội Thánh , mình là thành phần chủ động của Hội Thánh, Hội Thánh là dấu chỉ ơn cứu độ cho tất cả mọi người, Hội Thánh đòi hỏi giáo lý viên phải quyết tâm làm cho mình được giàu có thêm nhờ những ân huệ đa dạng của Hột Thánh, để cũng trở thành dấu chỉ hữu hình của ơn cứu độ trong cộng đồng anh em mình.
                Công việc của giáo lý viên không phải là công việc có tính cách cá nhân, riêng rẽ, nhưng luôn luôn là một việc có tính cách Giáo Hội . Thật sâu sắc, nghĩa là mang tính cộng đồng và hiệp thông giữa các thành phần trong Giáo Hội.

                2. Cởi mở cách nào ?
                Cởi mở với Hội Thánh bằng cách luôn luôn tỏ lòng hiếu thảo với Hội Thánh, tận tâm phục vụ Hội Thánh, sẵn sàng chịu khổ với Hội Thánh , đặc biệt cởi mở với Hội Thánh được thực hiện trong công việc :
-          Gắn  bó và vâng phục Đức Giáo Hoàng là trung tâm hiệp nhất và là mối giây thông hiệp tất cả thành phần Giáo Hội.
-          Gắn bó và vâng phục Đức Giám Mục của mình là người cha và là người  lãnh đạo địa phương, và với những vị đại diện cũng như những người cộng tác với các ngài.
-          Tham gia với tinh thần trách nhiệm vào công việc mà Hội Thánh đang hành trình trên trần gian phải làm, đó là việc Phúc Âm hóa, việc truyền giáo ; đồng thời cùng chia sẻ với Hội Thánh khát vọng được gặp gỡ trong vinh quang với Chúa Ki-tô mai sau.

3. Liên quan giữa cởi mở với Hội Thánh và linh đạo giáo lý viên.
Tinh thần Giáo Hội phải là đặc điểm trong linh đạo giáo lý viên và phải được biểu hiện trong lòng yêu mến chân thành đối với Hội Thánh, theo gương Chúa Ki-tô “Đấng đã yêu mến và đã tự hiến cho Hội Thánh” (Ep 5,25). Giáo lý viên phải có một lòng yêu mến chủ động, không loại trừ mà cũng không thiên vị ai. Yêu mến để dự phần vào sứ mạng cứu độ của Hội Thánh đến mức sẵn sàng hy sinh mạng sống nếu cần.

V. CỞI MỞ VỚI THẾ GIỚI :
                1. Tầm quan trọng của Hội Thánh :
                Giáo lý viên không được coi thế giới như thế gian với nghĩa xấu chứa đầy gian ác ( theo Tin Mừng Gioan). Cần ý thức đúng tầm quan trọng của thế giới trong chương trình cứu độ của Chúa.
Thế giới được tạo dựng do đức ái vĩnh hằng của Chúa Cha và là nơi cũng do đức ái vĩnh hằng ấy, Thiên Chúa Ba Ngôi thực hiện cứu độ có kế hoạch.
                Thế giới là nơi Chúa Con, là nơi Ngôi Lời Thiên Chúa đến trong lịch sử để cắm lều và ở giữa loài người, hầu cứu độ tất cả loài người và vạn vật.
                Thế giới là nơi mà Chú Thánh Thần được gởi đến để thánh hóa mọi người và lập Hội Thánh, để tất cả được “đến với Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong một Thánh Thần duy nhất”. (Ep 2,18)

                2. Cởi mở bằng cách nào ?
                Cởi mở bằng cách quan tâm đến mọi nhu cầu của thế giới, là nơi mình biết mình được sai đến để hoạt động trong đó, nhưng là không được hoàn toàn lệ thuộc vào nó. Cởi mở theo cách đó thì giáo lý viên phải làm :
                a. Luôn hội nhập vào hoàn cảnh sống của mọi người, của anh chị em mình, không tức tách mình ra hoặc để mình tụt hậu vì sợ khó hoặc muốn an toàn.
                b. Luôn có một cái nhìn siêu nhiên về cuộc sống chứ không chỉ nhằm tới vật chất và luôn tin rằng : Lời từ miệng Chúa phán ra thế nào cũng có hiệu quả. Lời ấy sẽ chẳng trở về Chúa mà lại không hoàn thành sứ mệnh cứu độ của Lời Chúa.

                3. Liên quan giữa cởi mở với thế giới và linh đạo giáo lý viên.
                Linh đạo giáo lý viên đòi hỏi phải cởi mở với thế giới là vì “Đức Ái Tông Đồ”, đức ái mà chính Chúa Giê-su mục tử tốt lành “Đấng đã đến để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác”. (Ga 1,52). Đức ái tông đồ của giáo lý viên thúc đẩy giáo lý viên cởi mở để đến với thế giới và đón nhận thế giưới vào lòng mình. Giáo lý viên phải là người của đức ái, nghĩa là muố đến gần mỗi anh chị em để loan báo cho họ rằng : họ được Thiên Chúa yêu mến và cứu đọ cùng với tất cả gia đình nhan loại.

KẾT LUẬN VỀ VIỆC CỞI MỞ VỚI LỜI CHÚA PHẢI NHƯ THẾ NÀO

                Cởi mở với Lời Chúa là phong cách làm nền tảng trong linh đạo giáo lý viên. Giáo lý viên phải mở trí, mở lòng lòng để đón nhận Lời Chúa, để tìm hiểu, suy gẫm thấm nhuần Lời Chúa, để nhờ đó tấm lòng mình được thôi thúc bởi đức ái tông đồ, nghĩa là bởi lòng yêu mến muốn đem mọi người vào gia đình Thiên Chúa, được làm con cái Thiên Chúa và làm anh em với nhau. Thấm nhuần  tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, thấm nhuần đức ái mục tử của Chúa Ki-tô, giáo lý viên cùng với mọi thành phần trong Hội Thánh vâng theo Chúa Thánh Thần, cởi mở để đi đến với thế giới loan báo Tin Mừng cứu độ, đón nhận thế giới vào Hội Thánh để góp phần hoàn thành kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi.





Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

Bài 4 : LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN

LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN

Bài 4 : LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN



I. LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN LÀ GÌ ?
                1. Ý nghĩa chung
                Linh đạo giáo lý viên là một vấn đề mới được bàn tới gần đây. Giáo lý viên muốn hiểu thì cần nắm vững  về ơn gọi, căn tính cũng như vai trò, nhiệm vụ của giáo lý viên đã được trình bày trong các bài 1, 2, 3 trên (đã đăng). Linh đạo là đường lối thể hiện và biểu hiện căn tính và vai trò của giáo lý viên trong đời sống của mình.
                Linh đạo là danh từ Ki-tô giáo dùng trong các sách tu đức, có thể nhiều hay ít giáo lý viên chưa có dịp nghe đến. Ngày nay, từ “linh đạo” được nói đến nhiều hơn trong các tài liệu của Tòa Thánh về linh mục, tu sĩ, giáo dan, giáo lý viên.  “Linh” có ý chỉ về thiêng liêng ; “Đạo” là đường lối trong Ki-tô giáo những người có một ơn gọi để sống trong bậc sống thích hợp ơn gọi ấy. Ơn gọi của mỗi người cũng có liên hệ chặt chẽ với năng khiếu và căn tính của họ. Vì thế, ai có căn tính nào thì phải theo đường lối sống đúng với căn tính ấy. Đường lối sống đúng với căn tính thì được gọi là linh đạo. Vậy theo nghĩa chung thì linh đạo là đường lối thiêng liêng để sống đúng với căn tính của mình.
                2. Nghĩa chuyên môn
                Đường lối thiêng liêng này không phải do mỗi người tự nghĩ ra cho mình để sống theo, nhưng là đường lối do Chúa Thánh Thần chỉ dẫn. Vì Chúa Thánh Thần là Đấng kêu mời mỗi người sống phù hợp với ơn gọi ấy.  Vì Chúa Thánh Thần là Đấng kêu gọi mỗi người sống theo ơn gọi, nên Người cũng là Đấng dẫn đường chỉ lối để mỗi người sống phù hợp với ơn gọi ấy. Như thế : linh đạo là đường lối sống, là nếp sống hoàn toàn vâng theo Chúa Thánh Thần, Đấng giúp mỗi người thường xuyên đổi mới chính mình cho đúng với căn tính của mỗi người .

II. SỰ CẦN THIẾT CỦA LINH ĐẠO
                1. Để sống đúng căn tính
                Tìm hiểu về linh đạo cho ta thấy mối liên hệ chặt chẽ không thể tách rời giữa căn tính mỗi người với linh đạo. Mỗi người có ơn gọi căn tính, với vai trò và nhiệm vụ riêng, muốn sống đúng với ơn gọi và căn tính ấy thì phải theo một dường lối, một nếp sống thích hợp, không theo một linh đạo thích hợp thì không thể thực hiện đúng ơn gọi của mình.
                Thực ra sống theo một linh đạo chẳng qua là một cách hội nhập, một cách thích nghi hay nhập thể ơn gọi vào đời sống đời thường của mình : giáo dân sống đời hôn nhân ở giữa trần thế không thể theo linh đạo của tu sĩ được. Do dố, muốn sống đúng căn tính của mình ta cần phải theo một linh đạo thích hợp.
                2. Để dễ dàng thành công hơn
                Ơn gọi của mỗi người đều do Chúa Thánh Thần kêu mời, vừa do chính Người soi sáng dẫn đường để sống theo linh đạo thích hợp. Việc của ta là vâng theo và để cho Chúa Thánh Thần uốn nắn.
                Trong lịch sử Hội Thánh cũng có nhiều người vâng theo Chúa Thánh Thần uốn nắn và họ đã thành công trong việc sống đúng căn tính của mình và trở thành những vĩ nhân trong Hội Thánh gọi là các thánh.
                3. Các thứ linh đạo
                Hội Thánh dựa vào kinh nghiệm đã sống theo linh đạo của các thánh để trình bày về linh đạo : linh đạo linh mục, linh đạo tu sĩ, linh đạo giáo dân, linh đạo giáo lý viên.

III. BẢN CHẤT CỦA TẤT CẢ CÁC LINH ĐẠO
                Chúng ta đã biết ơn gọi của tất cả những Ki-tô hữu, dù là giáo sĩ, giáo dân, tu sĩ  chính là nên thánh, là sống thánh thiện, nghĩa là yêu mến Thiên Chúa và làm cho mọi người yêu mến Thiên Chúa, mà linh đạo là đường lối thể hiện ơn gọi đó; vì thế : bản chất của tất cả các linh đạo là sống đời sống thánh thiện đi đôi với làm, làm cho người khác yêu mến Thiên Chúa, nghĩa là Phúc Âm hóa.
                1. Sống Thánh thiện
                Bất cứ linh đạo nào cũng phải là một đường lối giúp người Ki-tô hữu nên thánh hay sống thánh thiện.
                                 a. Lý do : Chính Chúa Giê-su đã dạy :”Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành.” (Mt 5,48). Thánh Phao-lô cũng khuyên các giáo hữu : sống xứng đáng như các vị thánh ( Ep 5,3). Thật vậy, khi chịu Phép Thanh Tẩy, Ki-tô hữu đã nên con cái Thiên Chúa  được thông phần vào bản tính của Ngài và trở nên Thánh. Vì thế, mọi Ki-tô hữu đều được kêu mời và có bổn phận nên thánh và nên trọn lành theo bậc sống của mình (Hiến Chế về Hội Thánh)
                                b. Ý nghĩa :  Nên thánh hay nên trọn lành có ý nghĩa là : Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức và yêu mến Thiên Chúa thật thì phải khao khát làm cho Thiên Chúa được mọi người mến yêu.
                2. Đi đôi với việc Phúc Âm hóa hay truyền giáo
                Phúc Âm hóa là làm cho người khác hiểu và yêu mến Thiên Chúa.
                                a. Bổn phận : Ki-tô hữu đã được Phúc Âm hóa rồi thì có bổn phận Phúc Âm hóa cho người khác. Đức Gioan-Phaolô II đã nói trong Tông Huấn “Người Ki-tô hữu giáo dân” : “Trong vườn nho Chúa, không một người Ki-tô hữu được phép ăn không ngồi rồi” . Dù là giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân ai cũng phải truyền giáo, vì tự bản tính Hội Thánh là truyền giáo.
                                b. Khẩn cấp : Việc truyền giáo còn là việc khẩn cấp, vì đây là việc phục vụ hàng đầu mà Hội Thánh có thể dành cho mỗi người và cho toàn thể nhân loại trong thế giới hôm nay.


IV. BẢN CHẤT CỦA LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN
                Cần phải có một linh đạo riêng cho giáo lý viên, phải phát xuất từ ơn gọi và sứ mệnh của họ, ý nghĩa là giáo lý viên phải vâng theo Chúa Thánh Thần để sống thánh thiện và truyền giáo theo cách của một giáo lý viên giáo dân.
                1. Sống thánh thiện theo cách của giáo lý viên trần thế
                Linh đạo giáo dân liên hệ chặt chẽ với ơn gọi của Ki-tô hữu giáo dân. Ki-tô hữu giáo dân được tham gia vào chức vụ Ngôn sứ (Tiên tri); Tư tế; và Vương giả của Đức Ki-tô, theo tính cách riêng của mình. Tính cách riêng đây chính là “tính cách trần thế”.
                                a. Ý nghĩa : Giáo lý viên giáo dân ở giữa trần thế là có bổn phận làm cho các “thực tại trần thế” (như đời hôn nhân, gia đình, nghề nghiệp...) thấm nhuần tinh thần Phúc Âm và trở nên hoàn hảo và như thế họ làm chứng cho Đức Ki-tô cách đặc biệt trong việc điều hành những thực tại trên và trong việc thi hành những nghĩa vụ trần thế.
                                b. Thực hành : Giáo lý viên dùng mọi hoạt động giáo lý của mình, soạn bài và giảng dạy giáo lý thật chu đáo, để tỏ lòng yêu mến và giúp học viên yêu mến Chúa.
                Khi giáo lý viên kết hôn thì đời sống hôn nhân cũng dự phần linh đạo giáo lý viên, nghĩa là khi giáo lý viên chu toàn những đòi hỏi hôn nhân của Ki-tô giáo để vợ chồng yêu thương chung thủy với nhau và cùng giáo dục con cái theo luật Chúa. Và như thế thì giáo lý viên làm chứng cho giá trị hôn nhân Ki-tô giáo và cũng làm cho vợ chồng con cái góp phần vào hoạt động giáo lý của mình, để gia đình thật sự là một “tụ điểm” trong hoạt động tông đò.
                2. Phúc Âm hóa theo cách của giáo lý viên giáo dân
                Ở trên đây đã cho biết giáo lý viên giáo dân có vai trò và nhiệm vụ phong phú đa dạng. Đó là những phương thế khác nhau để Phúc Âm hóa hay truyền giáo. Giáo lý viên không được lầm tưởng rằng mình cứ lo giảng dạy giáo lý cho học viên đúng tiêu chuẩn là đủ rồi. Nhưng là giáo lý viên giáo dân nên :
                                a. Trước hết, chính bản thân :  Giáo lý viên phải quan tâm việc Phúc Âm hóa cho mọi người khác hơn giáo dân vì mình có điều kiện hơn, quan tâm bằng lời cầu nguyện và sẵn sàng trao đổi, đối thoại với  những ai muốn hiểu biết về Ki-tô giáo.
                                b. Khi giảng dạy giáo lý cho học viên : Giáo lý viên phải tập cho học viên quen cầu nguyện cho việc truyền giáo, và cũng tập cho học viên, nhất là học sinh biết truyền giáo cho bạn bè mình bằng đời sống chăm ngoan, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè vượt khó.
                Tóm lại, bản chất linh đạo của giáo lý viên là : sống thánh thiện đi đôi với việc Phúc Âm hóa người khác hay truyền giáo, ngay trong lúc chu toàn vai trò và nhiệm vụ của giáo lý viên giáo dân hằng ngày. Giáo lý viên sống thánh thiện để hoạt động giáo lý của mình được sinh hoa kết quả và giáo lý viên dùng mọi hoạt động giáo lý của mình để nên Thánh. ĐGH Gioan-Phaolô II đã nói : “Người truyền giáo đích thực đó là một vị thánh.”
                                c. Linh đạo giáo lý viên được biểu hiện như thế nào :  Để giúp giáo lý viên dễ sống linh đạo giáo lý viên đúng hơn. Giáo Hội đã tóm tắt trong 4 phong cách tức là cung cách, hay là cách thức sinh hoạt, làm việc và xử sự, tạo nên dáng vẻ riêng của một người. Linh đạo giáo lý viên có thể được biểu hiện trong 4 phong cách sau đây :
                1. Cởi mở với Lời Chúa, bao gồm ý nghĩa cởi mở với Thiên Chúa Ba Ngôi, với Hội Thánh và với thế giới.
                2. Đời sống thống nhất và chân thật.
                3. Nhiệt tâm truyền giáo.
                4. Tinh thần của Đức Maria.
KẾT LUẬN : Trong thời đại khoa học kỹ thuật này, muốn thành công trong lĩnh vực vật chất cũng như tinh thần, đều cần phải có đường lối, vừa dựa theo kinh nghiệm, vừa thích hợp với hòan cảnh. Giáo lý viên muốn trở thành một giáo lý viên đúng nghĩa một tông đồ của thời đại hôm nay cần tập sống theo 4 phong cách sẽ trình bày tiếp theo.





               


Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Bài 3 : ĐỔI MỚI HÌNH ẢNH NGƯỜI GIÁO LÝ VIÊN

LINH ĐẠO GIÁO LÝ VIÊN

Bài 3 : ĐỔI MỚI HÌNH ẢNH NGƯỜI GIÁO LÝ VIÊN



I. Tại sao phải đổi mới
                Ở Việt Nam ngày nay, vì hoàn cảnh, hình ảnh người giáo lý viên ở nhiều nơi không được tốt đẹp cho lắm, vì họ ít được huấn luyện chu đáo, lại chỉ giữ vai trò, nhiệm vụ phụ thuộc : người giáo sĩ hay tu sĩ thường giữ vai trò chính và người giáo dân cũng tín nhiệm giáo sĩ hay tu sĩ hơn. Vì thế, không thể không nghĩ tới việc đổi mới và tăng cường hình ảnh người giáo lý viên cho đúng căn tính họ.

                1. Trong qua khứ
                Mọi người đều nhận thấy hoạt động của giáo lý viên nhiều khi khiêm tốn và kín đáo, nhưng nhiệt thành, hăng hái và quảng đại. Đó là hình thức tuyệt vời của việc tông đồ giáo dân. Họ rất xứng đáng nhận danh hiệu là giáo lý viên hơn hết, đặc biệt là các xứ truyền giáo. Riêng ở Việt Nam trước đây, qua nhiều hình thức khác nhau như : thầy giảng, quý chức, ông quản, bà quản, ông trương, bà trương ...
                Trong xứ đạo, họ đã góp phần tích cực để thiết lập và phát triển những giáo xứ mới, họ đạo mới. nhiều người đã hiến cả mạng sống vì nhiệm vụ của giáo lý viên như thầy giảng Chân Phước An-rê Phú Yên chẳng hạn. Họ là niềm tự hào của Hội Thánh truyền giáo, mà nếu không có họ thì nhiều người, giáo đoàn thịnh đạt ngày nay có lẽ sẽ không được thành lập.

                2. Ngày nay
                Hội Thánh đang muốn dốc toàn lực về việc truyền giáo, mà việc truyền giáo cho thế giới hôm nay cần được đổi mới khác xưa rất nhiều. Riêng ở Việt Nam, Ki-tô hữu chỉ là thiểu số giữa đa số rất lớn dân chúng (93%). Có những người theo những tôn giáo lâu đời như Phật giáo, khổng giáo đã có những ảnh hưởng sâu rộng trong dân tộc. Hơn nữa, có những người chịu ảnh hưởng của xã hội ngày nay rất nhiều. Xã hội ngày nay rất dững dưng với tôn giáo, có khi coi tôn giáo là một cản trở tiến bộ con người, như thế, việc truyền giáo cho xã hội chắc chắn đòi hỏi giáo lý viên phải được chuẩn bị và nâng cấp cho thích đáng : không những thấm nhuần đạo lý của Tin Mừng mà còn phải hiểu dúng về các tôn giáo ở địa phương mình. Việc truyền giáo cho xã hội ấy, chắc chắn đòi hỏi giáo lý viên phải sống thánh thiện, có lòng can đảm và nhiệt tâm truyền giáo.

II Dành ưu tiên tuyệt đói để nâng cao phẩm chất
                Muốn củng cố và nâng cao phẩm giá người giáo lý viên hôm nay, việc đầu tiên là phải dành ưu tiên tuyệt đối để nâng cao phẩm chất của họ. Vì việc dạy giáo lý chưa được đạt hiệu quả tốt là do thiếu giáo lý viên được chuẩn bị thích đáng.
                Muốn chuẩn bị cho thích đáng thì phải tuyển chọn, huấn luyện và thực tập, rồi bồi dưỡng thường xuyên.
                Nhưng ĐGH Gioan-Phaolô II đã nhấn mạnh rằng : “Dạy giáo lý là việc dạy Phúc Âm căn bản, cần có nhiều thợ về số lượng và nhất là phẩm chất.”

III. Chú trọng hơn đến việc nhiệt tâm truyền giáo
                Việc thứ hai phải suy nghĩ và củng cố người giáo lý viên là chú trọng đến nhiệt tâm truyền giáo là lòng sốt sắng hăng say muốn đem Tin Mừng đến cho tất cả mọi người để họ nhận biết Thiên Chúa và tình yêu mến Ngài, lòng hăng say truyền giáo phải phát xuất từ lòng yêu mến Chúa.

                1. Lý do

                Ngày nay Hội Thánh đặc biệt hướng đến muôn dân, nhất là ở các xứ truyền giáo thì nhiệt tâm truyền giáo càng cần thiết hơn. Giáo lý viên Việt Nam ở các xứ truyền giáo sống giữa 93% người chưa biết Ki-tô giáo, riêng ở Giáo phận Ban Mê Thuột là 97%, thế mà thiếu nhiệt tâm truyền giáo là chuyện bất thường. Giáo lý viên phải ý thức mình đang mang trách nhiệm của người tông đò giáo dân tiền tuyến.
                Do đó, giáo lý viên Việt Nam phải được huấn luyện để làm nổi bật nhiệt tâm truyền giáo như đã có trong thời trước đây.

                2. Để thực hiện nhiệt tâm truyền giáo
                Giáo lý viên đã tình nguyện dạy giáo lý là muốn cho Chúa được yêu mến và hiểu biết hơn. Nhưng nếu có nhiệt tâm truyền giáo thì giáo lý viên không thể bằng lòng chỉ giới hạn trong việc dạy giáo lý cho trẻ em có đạo, nhưng phải luôn sẵn sàng dùng mọi cơ hội có thể.
                                a. Để đích thân mình làm việc truyền giáo như: cầu nguyện, gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi với người chưa biết Ki-tô giáo.
                                b. Ngay khi dạy giáo lý cho học viên, cũng hướng dẫn học viên cầu nguyện cho việc truyền giáo và tập cho các em truyền giáo cho các bạn bên lương, bằng cách yêu thương chăm học, kính trọng thầy cô, yêu thương bạn bè, sẵn sàng giúp bạn vượt khó ...

IV. Chọn lựa những phương thế thích đáng
                Để đạt được hai mục tiêu trên, tức là nâng cao phẩm chất và củng cố nhiệt tâm truyền giáo cho giáo lý viên, ta cần chọn những phương thế thích đáng như :
                1. Soạn thảo chương trình huấn luyện cụ thể để chuẩn bị cách tốt nhất.
                2. Tổ chức cơ cấu cho thích hợp, tìm kiếm kinh phí.
                3. Tìm những huấn luyện viên chuyên mon.
                Mỗi địa phương phải tùy theo hoàn cảnh và khả năng đạt tới những mục tiêu trên. Nhưng tất cả đều phải cố gắng đạt được ít là tối thiểu bất chấp mọi khó khăn.

V. Củng cố các nhân sự nòng cốt (nhân sự khung)
                1. Ý nghĩa
                Nòng cốt là bộ phận chủ yếu, làm chỗ dựa vững chắc cho những bộ phận khác xung quanh như : cái khung  nhà, khung cửa, khung xe ... Nhân viên nòng cốt là người có vai trò thực hiện công tác chủ yếu để xây dựng và làm chỗ dựa cho những người khác.

                2. Hoạt động
                Nhân sự nòng cốt trong giáo lý phải hoạt động như : giáo lý viên chuyên nghiệp được huấn luyện trong những trung tâm thích đáng : “Dưới sự sự chỉ đạo của các mục tử hầu đạt được ở những vị trí then chốt trong tổ chức dạy giáo lý. Giáo lý viên nòng cốt phải lo đào tạo những thế hệ mới, phải khai thông cho họ và phải hướng dẫn để họ hoàn thành nhiệm vụ. Nhân viên nòng cốt phải có mặt ở các cấp bậc: giáo xứ, giáo phận, quốc gia.”
                Đây là một điểm thật mới mẻ đối với giáo lý viên Việt  Nam hôm nay, vì Hội Thánh Việt Nam chưa trường đào tạo hay huấn luyện giáo lý viên, dù giáo lý viên thường hay nòng cốt.


VI. Phát triển một vài loại giáo lý viên mới
                Chúng ta hãy nhận dạng và xác định căn tính của họ để mọi người quan tâm và chuản bị
                1. Các giáo lý viên có tinh thần truyền giáo nổi bật
                Cần động viên các giáo lý viên này để họ trở thành những linh hoạt viên về truyền giáo cho các cộng đoàn Giáo Hội. Nếu được Chúa Thánh Thần mời gọi và các mục tử sai đi, họ sẵn sàng rời khỏi địa sở của mình ra đi loan báo Tin Mừng. Chuẩn bị cho các dự tòng lãnh hận phép Thánh Tẩy và góp phần vào xây dựng các giáo đoàn mới.

                2. Các giáo lý viên dấn thân tích cực vào việc dạy giáo lý
                Cần tăng số các giáo lý viên này vì có nhiều giáo đòn trẻ đang trên đà phát triển và đang đòi hỏi nhiều việc tông đồ giáo dân khác với việc của giáo lý viên. Vì thế, cũng cần có giáo lý viên đặc biệt (hay là biệt động) chẳng hạn như :
-          Các giáo lý viên dấn thân để làm hồi sinh các cộng đoàn mà đa số đã được rửa tội nhưng vì giáo lý và đời sống đức tin yếu kém.
-          Các giáo lý viên sẵn sàng đáp ứng những thách thức mới ngày nay như :
a Việc đô thị hóa, tức là việc tập trung dân ngày càng đông ở các đô thị làm cho vai trò của đô thị ngày càng tăng cao, có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội.
b. Việc mở các trường học gia tăng, sinh viên, học sinh ngày càng đông.
c. Vấn đề giới trẻ, vấn đề di dân.
d. Vấn đề thế tục hóa làm cho mọi người rời bỏ tôn giáo, rời bỏ tu trì không muốn bị Hội Thánh chi phối.
e. Vấn đề văn nghệ quần chúng được các phương tiện thông tin đại chúng cổ vũ.

f. Vấn đề thể dục, thể thao.