Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017

19-11-2017 : (phần II) CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN năm A - KÍNH TRỌNG THỂ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

19/11/2017
Chúa Nhật 33 thường niên năm A
Kính trọng thể CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM.
(phần II)


Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật 33 thường niên, năm A
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

2 Mcb 7, 1.20-23.27b-29; Rm 8, 31b-39; Lc 9, 23-26

THIÊN CHÚA TRÊN HẾT

“Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất;
còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24)

Con người luôn lo âu khắc khoải trước đau khổ và cái chết, nhưng đau khổ và sự chết không thể làm gì được những người công chính vì linh hồn họ luôn ở trong tay Chúa. Đối với họ, đau khổ có khi là cơ hội thử thách giúp họ thanh luyện đức tin và biểu lộ lòng trung thành và tình yêu với Chúa.

I. CÁC BÀI ĐỌC

1. Bài đọc I:

Sách Máccabê đánh dấu một giai đoạn đầy khó khăn trong lịch sử của dân Chúa khi mà đền thờ và nền phụng tự bị ngoại bang xâm phạm cách nặng nề. Đoạn sách Máccabê hôm nay là một thiên hùng ca về những người Do Thái sẵn sàng chấp nhận đau khổ và cả cái chết để trung thành với lề luật và tôn giáo của cha ông.

Trước hết, đối với người Dothái, tuân giữ lề luật cách đầy đủ và nghiêm ngặt là một cách chứng tỏ lòng trung thành, và việc tôn thờ Thiên Chúa cách thiết thực. Một người Do thái được xem là đạo đức và công chính khi giữ trọn “mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa” (x. Lc 1,6). Câu chuyện về bà mẹ và bảy người con thà chấp nhận cái chết chứ không chịu vi phạm Lề luật là biểu hiện rõ nhất về lòng trung tín của một người dân có niềm tin vào Thiên Chúa.
Kế đến, qua câu chuyện bà mẹ khuyên nhủ những người con chấp nhận cái chết, chúng ta khám phá ra rằng sở dĩ bà mẹ và những người con sẵn sàng chấp nhận cái chết là vì họ xác tín rằng sự sống của họ không do họ tự tạo ra mà là do Thiên Chúa, Đấng ban cho họ “thần khí và sự sống”. Đồng thời, họ cũng tin rằng một khi họ “trọng luật lệ của Người hơn bản thân mình” đến nỗi dám hy sinh sự sống để bày tỏ lòng trung thành với Thiên Chúa họ thờ, thì chính Người sẽ trả lại cho họ thần khí và sự sống (x. 2Mcb 7,22-23).

Cuối cùng, qua câu chuyện bà mẹ và bảy người con, tác giả sách Máccabê thoáng cho thấy niềm hy vọng phục sinh. Thật vậy, bà mẹ tin rằng nếu các con bà “chấp nhận cái chết” vì trung thành với lề luật của Thiên Chúa, thì “đến ngày Chúa thương xót”, chính Người sẽ trả các con về lại cho bà (x. 2Mcb 7,29). Như thế, việc người công chính chịu đau khổ đã dẫn tác giả đến chỗ xác tín vào niềm tin phục sinh của kẻ chết. Phải nói rõ, lúc đầu người Do thái chưa được mạc khải về sự sống đời sau, nhưng kể từ thời Maccabê, một số người bắt đầu có niềm tin về sự sống đời sau; đây là điểm giáo lý mà những người theo phái Pharisêu sau này nhấn mạnh. Từ niềm tin đó, sách Maccabê  cho rằng việc thưởng phạt của Thiên Chúa không chỉ nằm ở đời này như truyền thống quan niệm, mà kéo dài sau cái chết. Do vậy, những người chịu chết vì trung thành với Lề Luật Chúa sẽ được Chúa cho sống lại cả hồn lẫn xác.

Bà mẹ và bảy anh em (2 Mcb 7,1-41) đã tự nguyện chấp nhận khổ đau và cái chết để thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Thiên Chúa mà họ tôn thờ. Họ cũng là hình ảnh báo trước của các vị tử đạo trong Kitô Giáo sau này.

2. Bài đọc II:

Đoạn thư thánh Phaolô gởi cho các tín hữu Rôma là một bài ca tuyệt vời về tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại qua việc trao hiến Đức Giêsu, Con Một của Người.  

Trước hết, việc Thiên Chúa trao ban Đức Giêsu, Con Một của Người cho nhân loại là bằng chứng rõ ràng nhất của tình yêu cao cả và vô điều kiện mà Người dành cho nhân loại. Khi trao hiến chính Con Một là kho tàng quý giá nhất của mình, Thiên Chúa muốn chứng tỏ cho nhân loại thấy rằng Người đã cho nhân loại tất cả mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện nào. Đồng thời, khi Thiên Chúa để cho Đức Giêsu chết cho tội lỗi nhân loại, Người đã thật sự tha thứ cho mọi lỗi lầm của nhân loại.

Hơn nữa, thánh Phaolô còn xác tín rằng một khi được Thiên Chúa yêu thương hết mực như thế, con người không còn gì phải lo lắng hay sợ hãi nữa. Ai hay điều gì có thể tách nhân loại ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa? Câu hỏi mang tính hùng biện của thánh Phaolô dẫn đến lời khẳng định rằng dù là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ hay gươm giáo (x. Rm 8,35); dù là sự sống hay sự chết, ma vương hay quỷ lực, hiện tại hay tương lai, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một sức mạnh nào, cũng không thể chia cắt con người khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện qua Đức Giêsu (x. Rm 8,38-39). Vậy những ai thật sự cảm nhận và xác tín sâu sắc về tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, thì dám chết để chứng tỏ sự trung thành và sức mạnh vô song của tình yêu ấy.
Cuối cùng, dù được Thiên Chúa yêu thương hết mực và vô điều kiện, con người vẫn không thể tránh khỏi những sự dữ trong thế giới này. Dầu vậy, những thử thách trong thế giới lại là cơ hội để con người chiến đấu mà chứng tỏ sự trung thành với niềm tin vào Thiên Chúa. Cũng cần lưu ý rằng ngay cả con người có thể chiến thắng trong những cơn thử thách, thì đó không phải do công sức riêng của con người, mà cũng là nhờ sức mạnh của Thiên Chúa: “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8,37).

Nhờ cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, Thiên Chúa cho thấy Người yêu thương nhân loại bằng một tình yêu vô điều kiện và vững chắc đến nỗi không có bất cứ ai hay sức mạnh nào có thể lay chuyển. Các thánh tử đạo đã cảm nhận cách sâu sắc tình yêu Thiên Chúa dành cho các vị đến nỗi cái chết cũng không thể chia cắt tình yêu đó.

3. Bài Tin Mừng:

Sau khi ông Phêrô, đại diện cho các môn đệ, tuyên tín cách hùng hồn (x. Lc 9,18-21), Đức Giêsu liền mạc khải cho các môn đệ biết con đường Người phải đi là con đường khổ giá (x. Lc 9,22). Người cũng muốn các môn đệ của mình đi trên con đường đó. Đó chính là con đường làm môn đệ Đức Giêsu. Con đường đó được thể hiện ra bằng những điều kiện.

Trước hết, điều kiện để theo Đức Giêsu là “từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Đức Giêsu không phác thảo ra một viễn cảnh huy hoàng cho cuộc sống của những người muốn theo Người theo nhãn quan của người Do thái thời đó. Trái lại, Người cho thấy con đường làm môn đệ đòi hỏi sự từ bỏ, đến mức từ bỏ cả ý riêng, để thực thi ý muốn của Thiên Chúa theo gương Đức Giêsu. Đó còn là con đường chấp nhận vác “thập giá hàng ngày”, đón nhận mọi sự xảy đến trong niềm tin tưởng và phó thác trọn vẹn trong tay Chúa.

Kế đến, người môn đệ Đức Giêsu cần ý thức rằng tất cả mọi sự đều là ân huệ Thiên Chúa tặng ban, ngay cả sự sống, cũng đều phát xuất từ Thiên Chúa. Cả cuộc sống của người môn đệ hoàn toàn thuộc về Chúa, như lời xác quyết của thánh Phaolô: “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (Rm 14,8). Vì thế, cuộc sống của người môn đệ không phải là đi tìm bản thân, hay tìm vinh quang cho mình, nhưng là đi tìm Chúa và làm vinh danh Người. Khi người môn đệ dám bỏ mình vì Chúa, thì họ lại tìm được chính bản thân, vì “ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24).

Sau cùng, người môn đệ Đức Giêsu có trách nhiệm làm chứng cho Chúa Giêsu và lời của Người. Việc các môn đệ làm chứng cho Chúa Giêsu trước mặt người khác là điều kiện để họ được Người chứng thực trước mặt Thiên Chúa trong ngày quang lâm. Trái lại, “ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình …” (Lc 9,26).

Các thánh tử đạo là những người đã trung tín đi trọn con đường mà Đức Giêsu mời gọi các môn đệ: đó là từ bỏ ý riêng và chấp nhận mọi sự xảy đến trong đời mình với tinh thần phó thác, đến nỗi sẵn sàng “liều mất mạng sống” để làm chứng cho Chúa Kitô, với niềm xác tín rằng “sẽ cứu được mạng sống ấy” trong ngày Đức Giêsu Kitô quang lâm.

II. GỢI Ý ÁP DỤNG:

1. Chính Ðấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con thần khí và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình. Bà mẹ và bảy anh em đã tự nguyện chấp nhận khổ đau và cái chết để thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Thiên Chúa mà họ tôn thờ. Họ xác tín rằng một khi họ hết mực trung thành với lề luật của Thiên Chúa, Đấng ban cho họ “thần khí và sự sống”, thì Người sẽ ban cho họ sự sống bất diệt. Niềm tin vào sự phục sinh là sức mạnh giúp họ vượt thắng cả cái chết. Đức Giêsu Kitô đã phục sinh để đem lại sự sống đời đời cho những ai tin vào Người. Đức Kitô Phục Sinh có là sức mạnh giúp tôi vượt thắng những cám dỗ, những khó khăn hiện tại để hướng tới sự sống vĩnh cửu đời sau?

2. Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Kitô? …Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Ðấng đã yêu mến chúng ta. Qua và nhờ cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, Thiên Chúa cho thấy Người yêu thương nhân loại bằng một tình yêu vô điều kiện và vững chắc đến nỗi không có bất cứ ai hay sức mạnh nào có thể lung lay nổi. Các thánh tử đạo đã cảm nhận cách sâu sắc tình yêu Thiên Chúa dành cho các ngài đến nỗi chấp nhận cái chết để minh chứng cho sức mạnh của tình yêu đó. Tôi có mạnh mẽ xác tín rằng Đức Kitô đã chết vì yêu thương tôi, đến nỗi không có gì có thể chia cắt tình yêu của Người dành cho tôi? Tình yêu vô vị lợi của Thiên Chúa thể hiện nơi cái chết và sự sống lại của Đức Kitô có là động lực thúc đẩy tôi yêu thương anh chị em mình hơn?

3. Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Điều kiện để trở thành môn đệ Đức Giêsu: đó là từ bỏ ý riêng và chấp nhận mọi sự xảy đến trong đời mình với tinh thần phó thác, đến nỗi sẵn sàng “liều mất mạng sống” để làm chứng cho Chúa Kitô, với niềm xác tín rằng “sẽ cứu được mạng sống ấy” trong ngày Đức Kitô quang lâm. Tôi có dám chấp nhận từ bỏ ý riêng để xứng với tư cách làm môn đệ Đức Giêsu? Tôi đang tìm cách làm vinh danh Người hay tìm vinh danh tôi? Tôi có sẵn lòng chấp nhận thiệt thòi, ngay cả những gì thiết thân nhất, để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô?

III. LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Các Thánh Tử đạo Việt Nam là những bậc tiền nhân đã hiến dâng mạng sống mình cho Thiên Chúa, và máu của các ngài trở nên hạt giống đức tin cho bao thế hệ con cháu. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa đã đoái thương nước Việt, và tin tưởng dâng lời cầu xin cho Giáo Hội và cho đồng bào của chúng ta:

1. Cầu cho các Đức Giám mục và hàng linh mục Việt Nam. Xin cho các ngài luôn nhiệt thành loan báo Tin Mừng trên mọi miền đất nước, can đảm làm chứng cho sự thật, tận tình chăm sóc hướng dẫn đoàn chiên, cùng nỗ lực xây dựng sự hiệp nhất của Dân Chúa.

2. Cầu cho những anh chị em đang đau khổ vì nghèo đói, bệnh tật, hoặc thiên tai. Xin cho họ luôn cảm nhận và xác tín rằng Thiên Chúa vẫn hiện diện, yêu thương và chăm sóc họ trong mọi hoàn cảnh, qua sự đồng cảm và tương trợ của rất nhiều người xa gần.

3. Cầu cho các Kitô hữu, cách riêng là các bạn trẻ giữa xã hội hôm nay. Xin cho họ luôn sống xứng danh là con cháu các vị tử đạo, biết tránh xa lối sống vô cảm, luôn dấn thân quên mình vì bổn phận và trách nhiệm, nêu cao tinh thần bác ái tốt đẹp của Kitô giáo.

4. Cầu cho các gia đình và mọi người trong cộng đoàn. Xin cho tất cả chúng ta luôn ý thức trân trọng di sản đức tin được thừa hưởng từ các bậc tiền nhân, không ngừng tái khám phá sứ điệp Tin Mừng, ra sức thực hành và hăng say loan báo sứ điệp đó cho mọi người.

Chủ tế: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con ca ngợi tình thương và sức mạnh của Chúa đã thể hiện nơi sự yếu đuối mỏng giòn của các Thánh Tử đạo Việt Nam. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện và giúp chúng con luôn sống trung thành với đức tin và gương sáng của các bậc tiền nhân. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
www.tgpsaigon.net


SCĐ CHÚA NHỰT XXXIII TN A
CHỦ ĐỀ :
CHU TOÀN TRÁCH NHIỆM

"Người kia sắp đi xa, gọi đầy tớ đến giao phó của cải mình cho họ : người này 5 nén, người kia hai nén, người khác nữa một nén" (Mt 25,14-15)
Sợi chỉ đỏ : Trong các Chúa nhựt cuối của năm Phụng vụ, Lời Chúa nhắc nhở chúng ta phải tỉnh thức. Tuần qua, Lời Chúa cho biết Tỉnh thức là luôn ở trong tư thế sẵn sàng. Hôm nay, Lời Chúa cho biết thêm, tỉnh thức là chu toàn trách nhiệm đời mình.
- Bài đọc I : Người vợ gương mẫu là người chu toàn mọi trách nhiệm lớn nhỏ trong gia đình đối với mọi người.
- Đáp ca : Tín hữu tốt là người luôn kính sợ Chúa và bước đi trong đường lối của Ngài.
- Tin Mừng : Người đầy tớ tốt là người làm cho những nén bạc chủ giao sinh lời thêm.
- Bài đọc II : Tín hữu là con cái của ánh sáng, cho nên đừng mê ngủ, mà phải luôn tỉnh thức.

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Bây giờ đã là cuối năm phụng vụ. Chúng ta nên nhìn lại một năm đã qua để xem chúng ta đã nhận lãnh những gì từ tay Chúa, và chúng ta đã làm cho những ơn lành ấy sinh hoa kết quả ra sao.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng con đã nhận lãnh rất nhiều ơn Chúa, nhưng không dâng lại cho Ngài bao nhiêu việc lành.
- Thời gian càng trôi thì lỗi lầm chúng con càng chồng chất thêm.
- Chúng con còn xử dụng những tài năng Chúa ban để mà phạm tội, nghịch lại ý Chúa.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Cn 31,10-13.19-20.30-31)
Bài ca tụng người vợ hiền đảm đang :
- Chăm sóc chồng một cách đầy đủ không thiếu thốn chi.
- Chu toàn mọi việc trong nhà.
- Quảng đại giúp đỡ những người túng thiếu.
Phần kết thúc bài ca cho biết nguyên nhân của việc đảm đang này là nhờ có lòng kính sợ Chúa.
2. Đáp ca (Tv 127)
Tv này lặp lại điều được nói ở phần kết bài ca tụng người vợ đảm đang : "Phúc cho ai biết kính sợ Chúa"
3. Tin Mừng (Mt 25,14-30)
Dụ ngôn những nén bạc :
- Ông chủ trao cho các đầy tớ số lượng nén bạc không đồng đều nhau, nhưng đúng với khả năng mỗi người.
- Sau khi trao các nén bạc, ông chủ ra đi : Ông tín nhiệm các đầy tớ, không cần kiểm soát họ.
- Những đầy tớ được khen không chỉ vì đã làm cho những nén bạc sinh lời, mà còn vì tấm lòng của họ đối với chủ : ông chủ tín nhiệm họ, họ đã đáp ứng xứng đáng với sự tín nhiệm ấy.
- Người đầy tớ bị trách không phải vì không làm cho nén bạc của chủ sinh lợi, mà cũng vì lòng hắn đối với chủ : không nghĩ tới sự tín nhiệm của chủ mà lại nghĩ chủ là người hà khắc, keo kiệt, do đó không hết lòng với chủ.
4. Bài đọc II (1 Tx 5,1-6)
Thánh Phaolô "định nghĩa" tín hữu là con cái của sự sáng. Bởi đó tín hữu đừng "mê ngủ" mà phải "tỉnh thức".
- Mê ngủ : sống bê tha, thoả hiệp với tội lỗi, không tính đến tương lai…
- Tỉnh thức : sẵn sàng chờ ngày Chúa đến, chu toàn bổn phận, điều độ…
IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Sao không đổi sang một cách nhìn lạc quan và tích cực hơn ?"
Khi lãnh nén bạc của ông chủ, người đầy tớ thứ ba đã nghĩ gì ? Hắn nghĩ chủ hắn "là người keo kiệt, gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát". Hắn cảm thấy thế nào ? Hắn "khiếp sợ". Và hắn làm gì ? Hắn "đi chôn giấu nén bạc dưới đất". à Suy nghĩ bi quan tiêu cực dẫn tới tình cảm bi quan tiêu cực, và làm phát sinh hành động bi quan tiêu cực.
Còn hai người đầy tớ đầu nghĩ gì ? Họ nghĩ tới tấm lòng của ông chủ đã yêu thương trao tài sản cho họ ; nghĩ tới sự tín nhiệm của ông chủ đối với họ nên giao tiền xong là ông ra đi. Nghĩ như thế rồi họ cảm thấy gì ? Thấy thương mến chủ. Và họ đã làm gì ? Họ tích cực làm cho những nén bạc của chủ sinh lời thêm. à Suy nghĩ lạc quan tích cực dẫn tới tình cảm lạc quan tích cực, và làm phát sinh hành động lạc quan tích cực.
Có nhiều người trong chúng ta cũng nuôi những ý nghĩ bi quan và tiêu cực như thế. Họ được Chúa ban cho một số khả năng. Nhưng họ không vừa lòng, họ nhìn sang những người khác và trách Chúa sao ban cho người khác nhiều khả năng hơn họ. Suy nghĩ đó dẫn họ tới tình cảm ganh ghét so bì. Tình cảm ganh ghét so bì ấy khiến họ không lo phát triển những khả năng.
Khi nhìn thấy tình trạng không tốt trong gia đình, xã hội và Giáo Hội, những người ấy thường trách móc : tại những người lãnh đạo không tốt, tại người này người nọ. Suy nghĩ đó đưa đến tình cảm bực bội bất mãn. Tình cảm bực bội bất mãn làm phát sinh thái độ chống đối, bất hợp tác.
Sao ta cứ bi quan tiêu cực như người đầy tớ thứ ba, mà không đổi sang cách nhìn vấn đề một cách lạc quan và tích cực hơn ? Không cần so sánh số nén bạc của ta nhiều hơn hay ít hơn những người khác, điều quan trọng là Chúa đã thương và tín nhiệm ban cho ta những nén bạc ấy, cho nên cố gắng phát huy tối đa chúng ; thấy một tình trạng tồi tệ, ta không cần đổ lỗi cho ai cả, nhưng hãy nghĩ xem Chúa muốn ta làm gì với khả năng của ta.
2. Hãy nhớ hai quy luật này
Sinh sản thêm, đó là quy luật của sự sống : cây cỏ, thú vật và con người đều phải tăng trưởng thêm thì mới sống còn. Quy luật này do chính Đấng tạo hóa đặt ra : sau khi tạo dựng, Thiên Chúa phán "Đất hãy xanh um thảo vật xanh tươi, rau cỏ hãy nảy hạt giống và cây có quả hãy sinh quả theo loại" (St 1,11) ; Thiên Chúa cũng phán với con người "Hãy sinh sôi nảy nở" (St 1,28). Bởi đó, không tăng trưởng nữa là dấu hiệu bắt đầu chết dần.
Người đầu tư có quyền hưởng hoa lợi, đó là quy luật của công bằng : "Có ai trồng nho mà lại không được ăn trái ? Hay có ai chăn súc vật mà không được uống sữa của súc vật ?" (1 Cr 9,7)
Hai quy luật trên nhắc ta phải làm cho những khả năng Chúa trao sinh kết quả tốt :
- Không sinh kết quả là lỗi công bình với Chúa.
- Không sinh kết quả gây hại cho chính bản thân chúng ta.
3. Nén bạc Tin Mừng
Trong số những nén bạc mà Chúa giao cho chúng ta, Tin Mừng là nén bạc quý báu nhất.
Hai người đầy tớ đầu là các thừa sai. Các ngài đã đem Tin Mừng đi gieo vãi khắp nơi. Hạt giống / nén bạc ấy đã sinh thêm gấp 30, 60, 100.
Người đầy tớ thứ ba cũng lãnh nhận Tin Mừng như hai người kia, nhưng đào lỗ chôn xuống đất. Đó là người không dùng sức mạnh Tin Mừng để nuôi lớn cuộc sống tinh thần của mình, không nói lại Tin Mừng cho người khác, không sống tỏa ánh sáng Tin Mừng trước mặt thiên hạ.
Bạn là người đầy tớ nào ?
4. Chuyện minh họa
Ngày xưa có một ông nhà giàu nhưng rất keo kiệt. Ông gom tất cả số vàng của ông lại nấu thành một khối và đem chôn ở mảnh vườn sau nhà. Rồi ngày ngày ông bắt ghế nhìn chăm chăm chỗ đó một cách thích thú.
Bởi vì ngày nào ông cũng làm như thế, nên một trong những đứa đầy tớ biết được bí mật. Ban đêm, nó đào lấy khối vàng đi mất. Ông nhà giàu buồn quá, chẳng thiết ăn ngủ gì nữa cả.
Một người bạn biết chuyện, khuyên ông hãy lấy một viên gạch để vào đúng chỗ ấy, rồi ngày ngày cũng ra nhìn vào chỗ ấy.
Ông nhà giàu cãi :
- Nhưng đó đâu phải là khối vàng, chỉ là một viên gạch thôi mà.
- Thì có khác gì đâu.
- Vậy chúng giống nhau chỗ nào ?
- Ở chỗ cả hai không khi nào ông xài tới.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
CT : Anh chị em thân mến
Chúa đã trao cho chúng ta những nén bạc như sự sống, sức khoẻ, của cải, tài năng… Với lòng biết ơn chân thành, chúng ta hãy dâng lên Chúa những lời nguyện sau đây.
1- Hội Thánh là người quản lý kho tàng ân sủng của Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị lãnh đạo trong Hội Thánh / có lòng nhiệt thành ban phát ơn Chúa cho đoàn chiên / qua các bí tích và những lời giảng dạy.
2- Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho loài người biết dùng khoa học để phục vụ chứ không phải để làm hại cho con người.
3- Mức sống của nhân loại ngày nay rất chênh lệch / có những người rất giàu / bên cạnh những người rất túng thiếu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những người giàu biết chia sẻ cho những người nghèo / để không ai còn bị túng thiếu về những nhu cầu cơ bản của con người.
4- Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi người trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết sử dụng những nén bạc Chúa trao / mà góp phần xây dựng cho giáo xứ ngày càng tốt đẹp hơn.
CT : Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa đã tín nhiệm trao những nén bạc cho chúng con, hầu chúng con làm cho những nén bạc ấy gia tăng, đem lại lợi ích cho mình và nhiều người khác. Chúng con hứa sẽ cố gắng đáp lại lòng yêu thương và sự tín nhiệm của Chúa. Nhưng xin Chúa luôn giúp sức chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Amen.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha : Trong kinh Lạy Cha sau đây, chúng ta hãy cầu xin cho mọi người biết dùng hết khả năng của mình để góp phần làm cho Nước Chúa mau trị đến.
- Sau kinh Lạy Cha : "... xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Xin giúp chúng con biết làm cho những nén bạc Cha giao được sinh lời. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp..."
VII. GIẢI TÁN
Thánh lễ đã xong, anh chị em hãy ra về, và cố gắng làm cho những nén bạc Chúa trao sinh lời gấp bội.
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI


Lectio Divina: Chúa Nhật XXXIII Thường Niên (A)

Chúa Nhật, 19 Tháng 11, 2017
Dụ ngôn về những nén bạc
Sống trong cách có trách nhiệm
Mt 25:14-30


1.  Lời nguyện mở đầu
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ban Thần Khí Chúa đến giúp chúng con đọc Kinh Thánh với cùng tâm tình mà Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường Emmau.  Trong ánh sáng của Lời Chúa, được viết trong Kinh Thánh, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi đau buồn về bản án và cái chết của Chúa.  Vì thế, cây thập giá tưởng như là sự kết thúc của mọi niềm hy vọng, đã trở nên nguồn mạch của sự sống và sự sống lại.
Xin hãy tạo trong chúng con sự thinh lặng để chúng con có thể lắng nghe tiếng Chúa trong sự Tạo Dựng và trong Kinh Thánh, trong các sự việc của đời sống hằng ngày và trong những người chung quanh, nhất là những người nghèo khó và đau khổ.  Nguyện xin Lời Chúa hướng dẫn chúng con, để giống như hai môn đệ từ Emmau, chúng con cũng sẽ được hưởng sức mạnh sự phục sinh của Chúa và làm chứng cho những người khác rằng Chúa đang sống hiện hữu giữa chúng con như nguồn mạch của tình anh em, công lý và hòa bình.  Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu, con của Đức Maria, Đấng đã mặc khải cho chúng con về Chúa Cha và đã sai Chúa Thánh Thần đến với chúng con.  Amen.

 2.  Bài Đọc

a)  Phân đoạn bài Tin Mừng để trợ giúp cho bài đọc:
Mt 25:14-15:  Ông chủ giao phó tài sản cho các đầy tớ
Mt 25:16-18:  Phương cách hành động của từng người đầy tớ
Mt 25:19-23:  Tính sổ với người đầy tớ thứ nhất và thứ hai
Mt 25:24-25:  Tính sổ với người đầy tớ thứ ba
Mt 25:26-27:  Câu trả lời của ông chủ với người đầy tớ thứ ba
Mt 25:28-30:  Phán quyết cuối cùng của ông chủ làm sáng tỏ dụ ngôn

b)  Chìa khóa để hướng dẫn bài đọc:
Trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật thứ ba mươi ba Thường Niên tuần này, chúng ta sẽ suy niệm về Dụ Ngôn những Nén Bạc có liên hệ đến hai chủ đề rất quan trọng và rất thực tiễn:  (i)  Những ân sủng mà mỗi người nhận được từ Thiên Chúa và cách thức mà người ấy tiếp nhận chúng.  Mỗi người có những phẩm chất, tài năng mà người ấy có thể và cần phải phục vụ người khác.  Không ai chỉ là học trò mãi, không ai mãi chỉ là thày dạy.  Chúng ta cùng học hỏi lẫn nhau.  (ii)  Thái độ mà người ta đặt mình trước Thiên Chúa, Đấng đã ban tặng cho chúng ta những ân sủng của Người.  Trong khi đọc, chúng ta sẽ cố gắng để ý tới hai điểm này:  đâu là thái độ của ba người đầy tớ liên quan đến những món quà nhận được và dụ ngôn này mạc khải cho chúng ta hình ảnh nào về Thiên Chúa?

c)  Phúc Âm: 
14 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng:  “Có một người kia sắp đi xa, liền gọi các đầy tớ đến mà giao phó tài sản của ông.  15 Ông trao cho người này năm nén bạc, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy theo khả năng mỗi người, đoạn ông ra đi.  16Người lãnh năm nén bạc, ra đi và dùng tiền ấy buôn bán làm lợi được năm nén khác.  17 Người lãnh hai nén cũng đi làm lợi được hai nén khác.  18 Còn người lãnh một nén, thì đi đào lỗ chôn dấu tiền của chủ mình.  19 Sau một thời gian lâu dài, ông chủ các đầy tớ trở về và đòi họ tính sổ.  20 Vậy người lãnh năm nén bạc đến, mang theo năm nén khác mà nói rằng:  ‘Thưa ông, ông đã trao cho tôi năm nén bạc, đây tôi làm lợi được năm nén khác.’  21 Ông chủ bảo người ấy rằng:  ‘Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn; ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi.’  22 Người đã lãnh hai nén bạc cũng đến và nói:  ‘Thưa ông, ông đã trao cho tôi hai nén bạc, đây tôi đã làm lợi được hai nén khác.’  23 Ông chủ bảo người ấy rằng:  ‘Hỡi người đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn; ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi.’  24 Còn người lãnh một nén bạc đến và nói:  ‘Thưa ông, tôi biết ông là người keo kiệt, gặt chỗ không gieo, và thu nơi ông không phát; 25 nên tôi khiếp sợ đi chôn giấu nén bạc của ông dưới đất.  Đây của ông, xin trả lại ông.’  26 Ông chủ trả lời người ấy rằng:  ‘Hỡi đầy tớ hư thân và biếng nhác!  Ngươi đã biết ta gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát:  27 Vậy lẽ ra ngươi phải giao bạc của ta cho người đổi tiền, và khi ta trở về, ta sẽ thu cả vốn lẫn lời.  28 Bởi thế, các ngươi hãy lấy nén bạc lại mà trao cho người có mười nén.  29 Vì người có sẽ cho thêm và sẽ dư dật; còn kẻ chẳng có, thì vật gì coi như của nó, cũng lấy đi.  30 Còn tên đầy tớ vô dụng, các ngươi hãy ném nó ra ngoài vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng.’”       

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện:

Để Lời Chúa được thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta.

4.  Một vài câu hỏi gợi ý:

Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.

a)  Phần nào của bài Tin Mừng này tôi thích nhất và phần nào đánh động tôi hơn?  Tại sao?
b)  Trong dụ ngôn, ba người đầy tớ lãnh nhận tài sản theo khả năng của họ.  Mỗi người có thái độ nào khi nhận lãnh được tài sản của chủ?           
c)  Ông chủ có phản ứng như thế nào?  Ông đòi hỏi những người đầy tớ của ông phải làm gì?
d)  Câu nói sau đây phải được hiểu như thế nào:  “Người có sẽ cho thêm và sẽ được dư dật; còn kẻ chẳng có, thì vật gì coi như của nó, cũng lấy đi”?
e)  Bài dụ ngôn đã mạc khải cho chúng ta hình ảnh gì về Thiên Chúa?

5.  Dành cho những ai muốn đào sâu hơn vào trong chủ đề

a)  Bối cảnh đoạn Phúc Âm này trong Tin Mừng Mátthêu:

“Dụ ngôn Nén Bạc” (Mt 25:14-30) là một phần của bài giảng thứ năm về Lề Luật Mới (Mt 24:1-25, 46).  Ba dụ ngôn này làm rõ bối cảnh đối với thời điểm sắp đến của Nước Trời.  Bài dụ ngôn mười cô trinh nữ khẳng định về sự cảnh giác:  Nước Thiên Chúa có thể đến bất cứ lúc nào.  Dụ ngôn những nén bạc quy hướng về sự phát triển Nước Trời:  Nước Trời phát triển khi chúng ta dùng các ân sủng nhận được để phục vụ.  Dụ ngôn Ngày Phán Xét dạy cho cách làm thế nào để có được Nước Trời:  Nước Trời có được khi chúng ta chấp nhận những kẻ bé mọn.

Một trong những điều có ảnh hưởng lớn hơn trong cuộc sống của chúng ta là ý tưởng chúng ta có về Thiên Chúa.  Trong số những người Do Thái của giai cấp Biệt Phái, có người đã tưởng tượng Thiên Chúa như là một vị quan tòa nghiêm khắc đối xử người ta theo giá trị đạt được qua việc tuân giữ lề luật.  Điều đó đã gây ra nỗi sợ hãi và ngăn trở người ta không phát triển.  Nó ngăn trở họ không dọn chỗ trong chính họ để chấp nhận kinh nghiệm mới về Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã rao giảng.  Để giúp những người này, Mátthêu kể lại dụ ngôn những nén bạc.    

b)  Lời bình giải về đoạn Tin Mừng:

Mt 25:14-15:  Cánh cửa dẫn vào câu chuyện dụ ngôn.
Dụ ngôn kể về câu chuyện một người kia, trước khi trẩy đi xa, phân phối tài sản của mình cho các đầy tớ, người năm nén bạc, người hai nén và người một nén, tùy theo khả năng của mỗi người.  Mỗi nén bạc tương đương với 34 kg vàng, đó không phải là một số lượng nhỏ!  Trong trường hợp cuối cùng, tất cả đều nhận cùng một thứ, bởi vì mỗi người nhận “theo khả năng của mình”.  Người có khả năng nhận lãnh nhiều, ông cho đầy đủ, người có khả năng nhận lãnh ít, ông cũng cho đầy đủ.  Sau đó, ông chủ trẩy đi phương xa và ở đó một thời gian lâu dài.  Câu chuyện tạo cho ta một chút bối rối!  Chúng ta không biết tại sao ông chủ này lại phân phó tài sản của ông cho các đầy tớ, chúng ta không biết câu chuyện sẽ kết thúc như thế nào.  Có lẽ, mục đích là để tất cả những ai nghe bài dụ ngôn phải bắt đầu đối diện cuộc đời họ với câu chuyện được kể trong dụ ngôn. 

Mt 25:16-18:  Phương thức hành động của mỗi người đầy tớ.
Hai người đầy tớ đầu đã làm việc và làm tăng số nén bạc lên gấp đôi.  Nhưng người đầy tớ nhận được một nén thì đi đào lỗ chôn, để bảo tồn nén bạc và khỏi mất nó.  Đó là vấn đề về của cải Nước Trời được ban phát cho người ta và các cộng đoàn theo khả năng của họ.  Tất cả mọi người đều nhận được của cải Nước Trời, nhưng không phải tất cả mọi người đều đáp trả giống nhau!

Mt 25:19-23:  Tính sổ với người đầy tớ thứ nhất và thứ hai
Sau một thời gian lâu dài, ông chủ trở về và cho gọi các đầy tớ đến tính sổ.  Hai người đầu cùng thưa một điều:  “Thưa ông, ông đã trao cho tôi năm/hai nén bạc.  Đây tôi đã làm lợi được năm/hai nén khác!”  Và ông chủ cùng bảo cả hai rằng:  “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi.”

Mt 25:24-25:  Tính sổ với người đầy tớ thứ ba
Người đầy tớ thứ ba đến và nói:  “Thưa ông, tôi biết ông là người keo kiệt, gặt chỗ không gieo và thu nơi ông không phát, nên tôi khiếp sợ đã đi chôn dấu nén bạc của ông dưới đất.  Đây của ông, xin trả lại ông!”  Trong câu nói này, có một ý tưởng sai lầm về Thiên Chúa và bị Chúa Giêsu chỉ trích.  Người đầy tớ nhìn thấy Thiên Chúa là một ông chủ khắc nghiệt.  Trước một Thiên Chúa như vậy, loài người sợ hãi và chạy trốn đàng sau việc tuân thủ lề luật chính xác và tỉ mỉ.  Người ta cho rằng hành động theo cách ấy họ sẽ tránh khỏi sự luận phạt và vị quan tòa nghiêm khắc sẽ không trừng phạt họ.  Đây là cách suy nghĩ của một số người Biệt Phái.  Trong thực tế, những kẻ như thế không có lòng tín thác vào Thiên Chúa, mà họ chỉ tin vào chính họ và trong việc tuân giữ các giới luật.  Đó là một người sống thu hẹp trong chính bản thân, xa rời Thiên Chúa và không quan tâm đến kẻ khác.  Người này trở nên kẻ không có khả năng phát triển như người sống tự do.  Hình ảnh sai lạc này về Thiên Chúa cô lập con người, giết chết cộng đoàn, không giúp ích gì cho một cuộc sống vui tươi và đơn sơ.  

Mt 25:26-27:  Câu trả lời của ông chủ với người đầy tớ thứ ba
Phản ứng của ông chủ thật là châm biếm.  Ông nói:  “Hỡi đầy tớ hư thân và biếng nhác!  Ngươi đã biết ta gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát.  Vậy lẽ ra ngươi phải giao bạc của ta cho người đổi tiền, và khi ta trở về, ta sẽ thu cả vốn lẫn lời!”  Người đầy tớ thứ ba đã không liên tưởng đến hình ảnh nghiêm khắc anh ta có về Thiên Chúa.  Nếu anh ta mường tượng được Thiên Chúa nghiêm khắc đến như thế, thì lẽ ra, ít nhất anh ta cũng đã giao bạc cho người đổi tiền.  Đây là lý do tại sao anh ta đã bị kết án bởi Thiên Chúa, ý tưởng sai lầm mà anh ta có về Thiên Chúa đã khiến anh ta trở nên sợ hãi và kém chín chắn hơn.  Đầu óc anh ta không thể minh mẫn đủ để có hình ảnh của Thiên Chúa mà anh ta đã có, bởi vì sự sợ hãi đã làm tê liệt sự sống.   

Mt 25:28-30:  Lời cuối cùng của ông chủ làm sáng tỏ dụ ngôn
Ông chủ ra lệnh lấy lại nén bạc mà trao cho người đã có mười nén:  “Vì người có sẽ cho thêm và sẽ được dư dật; còn kẻ chẳng có, thì vật gì coi như của nó, cũng lấy đi”.  Đây là chìa khóa làm sáng tỏ mọi việc.  Trong thực tế, những nén bạc, “gia tài của ông chủ”, kho tàng của Nước Trời, là tình yêu thương, sự phục vụ, chia sẻ và quà tặng cho không.  Nén bạc là tất cả mọi thứ khiến cho cộng đoàn phát triển và mặc khải sự hiện diện của Thiên Chúa.  Khi người ta tự thu mình bởi vì sợ bị mất đi chút ít của cải họ có, thì họ sẽ mất cả những của cải ít oi ấy, bởi vì tình yêu sẽ tàn lụi, công lý sẽ bị suy yếu, sự chia sẻ sẽ biến mất.  Thay vào đó, một người mà không nghĩ đến cho riêng mình và xả thân vì người khác, sẽ thăng hoa, và đáng ngạc nhiên là được nhận lãnh lại mọi thứ mà người ấy đã cho đi và còn nhiều hơn thế nữa.  “Vì ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10:39).  

c)  Đào sâu hơn:

Loại tiền tệ khác nhau của Nước Trời:

Không có sự khác biệt giữa những người nhận nhiều hơn và những người nhận ít hơn.  Tất cả nhận lãnh tùy theo khả năng của họ.  Điều quan trọng là món quà được đặt ở sự phục vụ Nước Trời và làm cho gia tài Nước Trời triển nở, đó là tình yêu thương, tình huynh đệ, sự chia sẻ.  Chìa khóa chính của dụ ngôn không bao gồm việc làm lợi các nén bạc, nhưng là chỉ ra cách thức trong đó mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa mới là điều quan trọng.  Hai người đầy tớ đầu tiên không đòi hỏi điều gì; họ không tìm kiếm sự an nhàn cho bản thân họ; họ không giữ các nén bạc cho riêng họ; họ không tính toán, so đo.  Rất tự nhiên, gần như là phản xạ tự nhiên và không mong mỏi bất kỳ công trạng nào cho họ, họ ra tay làm việc, để cho món quà nhận được mang đến kết quả cho Thiên Chúa và cho Nước Trời.  Người đầy tớ thứ ba thì sợ hãi, và bởi vì điều này, nên không làm gì cả.  Dựa theo các tiêu chuẩn của lề luật cổ xưa, anh ta đã làm đúng.  Anh ta vẫn ở trong tình trạng thấp thỏm có từ trước.  Anh ta không mất mát gì, mà cũng chẳng đạt được gì.  Cũng chính bởi vì điều này, anh ta đã mất ngay cả những cái anh ta có.  Nước Trời là một sự mạo hiểm.  Nếu người ta không muốn mạo hiểm, thì sẽ vuột mất cả Nước Trời!    
         
6.  Thánh Vịnh 62
                                                                                                                                                                               
Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi linh hồn tôi mới được nghỉ ngơi
Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.
Ơn cứu độ tôi bởi Người mà đến,
duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,
là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng.
Tới bao giờ các ngươi còn xúm lại
để xông vào quật ngã một người?
Hắn đã như bức tường xiêu đổ,
như hàng rào đến lúc ngả nghiêng.
Con người ấy, chúng chỉ mưu hạ bệ,
chúng thoả lòng vì đã nói dối nói gian.
Miệng thì chúc phúc cầu an,
mà lòng nguyền rủa chứa chan những lời.
Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
này hồn tôi hãy nghỉ ngơi yên hàn.
Vì hy vọng của tôi bởi Người mà đến,
duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,
là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng.
Nhờ Thiên Chúa, tôi được cứu độ và vinh quang,
Người là núi đá vững vàng,
ở bên Thiên Chúa tôi hằng ẩn thân.
Hỡi dân ta, hãy tin tưởng vào Người luôn mãi,
trước mặt Người, hãy thổ lộ tâm can:
Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu.
Kẻ thường dân âu chỉ là hơi thở,
người quyền quý đều ví tựa ảo huyền,
đứng cả lên cân cũng chẳng tày mây khói.

Đừng tin tưởng ở trò áp bức nữa,
chớ hoài công cậy ngón bóc lột người!
Tiền tài dẫu sinh sôi nảy nở,
lòng chẳng nên gắn bó làm chi.
Lạy Thiên Chúa, một lần Ngài phán dạy,
con nghe được hai điều,
rằng: Ngài nắm quyền uy
và giàu lòng nhân hậu;
rằng: Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người.
7.  Lời Nguyện Kết

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin cảm tạ Chúa về Lời Chúa đã giúp chúng con hiểu rõ hơn ý muốn của Chúa Cha.  Nguyện xin Thần Khí Chúa soi sáng các việc làm của chúng con và ban cho chúng con sức mạnh để thực hành Lời Chúa đã mặc khải cho chúng con.  Nguyện xin cho chúng con, trở nên giống như Đức Maria, thân mẫu Chúa, không những chỉ lắng nghe mà còn thực hành Lời Chúa.  Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Đức Chúa Cha trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  Amen.

www.dongcatminh.org

19/11/17 CHÚA NHẬT TUẦN 33 TN – A
Kính Trọng Thể Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
Mt 25,14-30

NIỀM VUI CỦA THIÊN CHÚA

“Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh.” (Mt 25,21)
Suy niệm: 1/ Ông chủ trong dụ ngôn là hình ảnh của Thiên Chúa. Ngài giao cho mỗi người một phận vụ và không đòi hỏi ai quá sức mình. Ngài không coi trọng người được giao năm yến hơn người được giao một yến. Tài sản Ngài có bao nhiêu, Ngài giao tất cả. Hết sức tin tưởng, Ngài lên đường đi xa. 2/ Có vẻ như cái lỗi lớn nhất của người đầy tớ thứ ba là không làm việc, không sinh lời. Xét kỹ hơn, nguyên nhân sâu xa chi phối những hành động này là anh ta đã có một hình ảnh méo mó về Thiên Chúa: đối với anh, ông chủ là một người hà khắc, đòi hỏi, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Anh sợ hãi chứ không yêu mến. 3/ Ngày tính sổ, Thiên Chúa – ông chủ – xuất hiện như một người Cha: vui mừng thấy vốn đã sinh lời. Nhưng… Ngài không giữ lại cho mình, mà giao hết cả vốn lẫn lãi cho người biết làm việc; ai sinh lời Ngài lại ban thêm. Niềm vui của Thiên Chúa, đó là thấy rằng chúng ta đã làm việc và sinh lời cho chính chúng ta.
Mời Bạn: Những gì bạn đang có chính là những yến bạc mà Thiên Chúa giao cho bạn để sinh lời. Đối với bạn Thiên Chúa là ai, là ông chủ hà khắc hay là Người Cha yêu thương?
Chia sẻ: Có phải rằng Thiên Chúa đã bất công khi lấy yến bạc của người đầy tớ thứ ba mà giao cho người có mười yến không? Nếu người này sinh lời, đâu là lời khen mà anh sẽ nhận được?
Sống Lời Chúa: Chu toàn bổn phận của ngày hôm nay.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban thêm cho con lòng tin tưởng và yêu mến, đừng để con nhìn xuôi ngó ngược, phân bì với người khác, nhưng hết lòng hết sức thi hành phận vụ Chúa đã giao.
(5 phút Lời Chúa)


VÀO MÀ HƯỞNG NIỀM VUI (19.11.2017 – Chúa nhật 33 Thường niên, Năm A)
Kitô hữu không phải là người thích an nhàn hay hưởng thụ. Họ nỗ lực phấn đấu từng ngày để đời mình sinh hoa trái cho Chúa. Ngày Phán xét, chúng ta sẽ bị xét xử dựa trên nỗ lực sinh lợi của mình.


Suy niệm:
Người ta vẫn hay có cái nhìn tĩnh và buồn về đời sống Kitô hữu.
Đó là một đời sống cam chịu, nhẫn nhục, cúi đầu vâng phục Ý Chúa,
một đời sống khổ đau vì phải bước theo Chúa Giêsu vác thánh giá.
Nhìn như thế đúng nhưng không đủ.
Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một cái nhìn khác,
tươi tắn hơn nhiều, chủ động và tích cực hơn nhiều.
Thiên Chúa được ví như một ông chủ sắp đi xa.
Vì tin tưởng các đầy tớ của mình, nên khi vắng nhà (c. 14),
ông không ngại giao phó cho họ những món tiền rất lớn, tùy khả năng.
Người được năm yến, kẻ được hai, người được một (c. 15).
Mỗi yến bạc tương đương với sáu ngàn ngày công.
Hẳn các đầy tớ hiểu ý chủ muốn mình đầu tư sinh lợi.
Anh nhận được năm yến đã đi ngay lập tức và làm ăn với số vốn ấy.
Chúng ta không rõ anh đã đầu tư thế nào và bao lâu,
chỉ biết anh đã sử dụng cách hiệu quả những gì anh nhận được.
Sau một thời gian, tiền lời bằng số vốn bỏ ra.
Anh nhận được hai yến cũng vậy, cũng sinh lợi được hai yến khác.
Anh được một yến cũng đi,
nhưng là đi đào lỗ dưới đất để chôn giấu yến bạc (c. 18).
Anh không dám đầu tư vì sợ làm ăn lỗ lã.
Anh sợ số bạc lớn bị mất, nên anh muốn chôn giấu nó cho an toàn.
Khi ông chủ trở về để nghe báo cáo sổ sách của các đầy tớ,
ông đã khen hai anh đầy tớ vất vả làm ăn bằng những lời giống nhau:
“Khá lắm! Anh đúng là tôi tớ tốt lành và trung tín!
Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh.
Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh” (c. 21. 23).
Còn anh đầy tớ chôn giấu yến bạc dưới đất vì sợ hãi ông chủ,
đã bị chủ chê là đầy tớ xấu xa và biếng nhác.
Yến bạc của chủ còn nguyên chẳng hề là điều đáng tự hào.
Ông chủ ngạc nhiên vì tại sao anh lại không gửi tiền vào ngân hàng
để đồng vốn có thể sinh lợi (c. 27).
Anh bị tước mất yến bạc anh đã giữ kỹ, và tống vào chỗ tối tăm.
Một đầy tớ không sinh lợi từ số vốn được trao là một đầy tớ vô dụng (c. 30).
Mỗi Kitô hữu cũng là một người đầy tớ, một quản lý của Chúa,
được tin cậy giao phó, được yêu cầu đầu tư, được mong mỏi sinh lợi.
Sống đời Kitô hữu là chấp nhận dùng tất cả khả năng của mình (c. 15)
để làm cho những gì Chúa ban sinh lợi nhiều nhất.
Điều đó cần đến công sức, tính toán, sáng tạo, và nhất là tình yêu.
Yến bạc là khả năng và hoàn cảnh thuận lợi để ta làm việc cho Chúa.
Kitô hữu không phải là người thích an nhàn hay hưởng thụ.
Họ nỗ lực phấn đấu từng ngày để đời mình sinh hoa trái cho Chúa.
Ngày Phán xét, chúng ta sẽ bị xét xử dựa trên nỗ lực sinh lợi của mình.
Mỗi người chúng ta không rõ mình đã nhận bao nhiêu yến bạc.
Điều quan trọng là không được giấu đi, và vui vẻ tận dụng điều mình có.
Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa quang lâm,
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.
Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang,
còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt,
Chúa đâu muốn mất một người nào...
Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa
xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng,
vui tươi và hạnh phúc,
để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn
cho mọi người và cho cả vũ trụ.
Xin nuôi dưỡng nơi chúng con
niềm tin vững vàng
và niềm hy vọng nồng cháy,
để tất cả những gì chúng con làm
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ


Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
19 THÁNG MƯỜI MỘT
Tiếng Gọi Chung Thủy
Được sinh ra từ tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa, hôn nhân tìm thấy luật nền tảng và giá trị luân lý của nó trong một tình yêu đích thực giữa hai người. Cả vợ và chồng đều hoàn toàn dấn thân để nâng đỡ nhau. Và xuất phát từ khát vọng chung của hai người muốn sống trung thành với tình yêu của Thiên Chúa – là Đấng Sáng Tạo và là Cha của mình – họ sinh ra sự sống mới. Sứ mạng mà họ lãnh nhận từ Thiên Chúa này đòi hỏi họ phải có một sự dấn thân triệt để hơn nữa và một ý thức cao vượt hơn nữa về những trách nhiệm của họ trong tư cách là con người và là Kitôhữu.
Họ phải không ngừng tìm cách tận dụng các ân sủng tuôn chảy từ Bí Tích Hôn Nhân. Ân sủng bí tích này thật cần thiết để giúp họ đương đầu với những thách đố của bao khó khăn trong cuộc sống hằng ngày. Các đôi vợ chồng Kitôhữu tìm thấy ánh sáng và sức mạnh để giải quyết những vấn đề riêng của họ nhờ ân sủng này. Họ có thể sống triệt để một tình yêu đích thực và phổ quát – trước hết đó là tình yêu hướng về Thiên Chúa, vì họ phải khao khát vinh quang của Ngài và nhiệt tình mở rộng Nước Ngài; thứ hai, đó là tình yêu hướng về con cái họ trong ánh sáng của nguyên tắc Thánh Phao-lô: “Tình yêu không tìm ích lợi cho riêng mình” (1Cr 13,5); và cuối cùng, đó là tình yêu hướng về nhau trong đó người này tìm cách phục vụ người kia và hiểu được những tâm tư nguyện vọng tốt lành của người kia. Ở đây không có sự độc đoán hay ích kỷ chen vào trong ý hướng. Không, ở đây chỉ có một tình yêu trọn vẹn và phổ quát.
Điều này giải thích tại sao linh đạo vợ chồng đòi hỏi một nỗ lực triệt để về luân lý và sự thánh thiện suốt đời. Nó phải được nuôi dưỡng bởi những niềm vui và những hy sinh trong đời sống hằng ngày.
Những người vợ và chồng, anh chị em đừng cảm thấy cô đơn trong sự dấn thân của anh chị em cho các mục đích nói trên. Thật vậy, Công Đồng nhắc anh chị em rằng “Hôn Phu của Giáo Hội đến gặp gỡ các đôi vợ chồng Kitôhữu qua Bí Tích Hôn Phối. Ngài vẫn ở với họ để – như Ngài đã yêu thương Giáo Hội và hiến mình cho Giáo Hội – họ cũng yêu thương nhau bằng một tình yêu chung thủy” (MV 48). Anh chị em hãy sống tình yêu chung thủy ấy, sự chung thủy được nâng đỡ bởi chính tình yêu của Chúa Kitô.


19 Tháng Mười Một
Một Lỗ Nhỏ Trên Vách Tường

Tại một trung tâm bài phung nọ, đa số các nạn nhân đều buồn chán vì cảm thấy bị bỏ rơi và bị mọi người xa lánh. Tuy nhiên, có một người vẫn còn biết cười và vẫn tiếp tục tạ ơn khi được giúp đỡ.
Vị nữ tu coi sóc trung tâm muốn tìm hiểu đâu là nguyên nhân của phép lạ này. Sau nhiều ngày theo dõi, vị nữ tu mới khám phá rằng, xuyên qua một lỗ nhỏ trên vách tường ngăn cách trung tâm với thế giới bên ngoài, ngày ngày có một người đàn bà đến nhìn vào và mỉm cười rất trìu mến. Ðó là tất cả sức mạnh và niềm hy vọng của người đàn ông xấu số. Mỗi ngày, ông chờ đợi nụ cười ấy. Khuôn mặt của người đàn bà chỉ chợt xuất hiện, mỉm cười và biến mất. Người đàn ông duy nhất còn biết cười trong trung tâm bài phung đó đã giải thích cho vị nữ tu như sau:
"Người đàn bà ấy chính là vợ tôi. Trước khi tôi đến đây, nàng đã tìm đủ mọi cách để chữa chạy tôi. Mỗi ngày, nàng lau sạch một khoảng nhỏ trên khuôn mặt tôi và đặt lên đó một cái hôn... Nhưng cuối cùng, nàng không thể giữ tôi lâu hơn. Người ta đã đến đưa tôi vào trung tâm này.
Nhưng vợ tôi đã không bỏ tôi. Mỗi ngày, nàng đến nhìn qua lỗ hỏng của vách tường và mỉm cười với tôi. Nhờ nàng, tôi biết rằng tôi vẫn còn sống. Nhờ nàng, tôi vẫn còn muốn sống...".
Tình yêu mạnh hơn sự chết. Tình yêu đã làm cho người vợ không nhìn người chồng xấu số như một con người đáng xa lánh. Tình yêu của người vợ đã đem lại sức mạnh và niềm vui sống cho người chồng... Nhu cầu căn bản nhất của con người là yêu và được yêu. Bất cứ ai cũng cần đến tình yêu và muốn thể hiện tình yêu... Bạn có biết rằng có bao người đang cần một nghĩa cử, một nụ cười, một ánh mắt cảm thông của bạn không?

Lẽ Sống