Trang

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

POPE AT AUDIENCE: 'EVERY BAPTIZED PERSON IS TO BEAR CONSISTENT WITNESS TO CHRIST'



 Pope Leo XIV at General Audience 

 

Pope at Audience: 'Every baptized person is to bear consistent witness to Christ'

During his weekly General Audience, Pope Leo XIV continues reflecting on the Second Vatican Council's 'Lumen gentium' and insists that "every baptized person is an active agent of evangelization, called to bear consistent witness to Christ."

By Deborah Castellano Lubov

"Every baptized person is an active agent of evangelization, called to bear consistent witness to Christ in accordance with the prophetic gift which the Lord bestows upon His whole Church."

Pope Leo XIV expressed this during his weekly General Audience on Wednesday morning.

READ THE POPE'S FULL ADDRESS

Continuing his catechesis series on the Second Vatican Council and a reading of its documents, the Pope this week revisited the second chapter of the Conciliar Constitution Lumen gentium, dedicated to the Church as the People of God, recalling that the messianic people receive from Christ the participation "in the priestly, prophetic and kingly work office through which His salvific mission is carried out."

Common mission that unites the ordained ministries and lay faithful.

The Pope remembered that the Council Fathers teach that the Lord Jesus, through the new and eternal Covenant, have established a kingdom of priests, constituting his disciples as a ‘royal priesthood.' He highlighted that this common priesthood of the faithful is given with Baptism, which enables us to worship God in spirit and truth, and to “confess before men the faith which they have received from God through the Church.”

Furthermore, through the sacrament of Confirmation, he notes all the baptized “are more perfectly bound to the Church … and the Holy Spirit endows them with special strength so that they are more strictly obliged to spread and defend the faith, both by word and by deed, as true witnesses of Christ.”

This consecration, the Pope said is at the root of the common mission that unites the ordained ministries and the lay faithful.

In this regard, Pope Leo remembered when Pope Francis had observed that, “looking at the People of God is remembering that we all enter the Church as lay people. The first sacrament, which seals our identity forever, and of which we should always be proud, is Baptism." Pope Leo reiterated that through Baptism and by the anointing of the Holy Spirit, the faithful "‘are consecrated as a spiritual house and a holy priesthood’ so that everyone forms the faithful Holy People of God.”

Aimed at our sanctification

The Pope recalled that the exercise of the royal priesthood takes place in many ways, all aimed at our sanctification, first and foremost through participation in the offering of the Eucharist.

"Through prayer, asceticism and active charity, we thus bear witness to a life renewed by God’s grace," the Pope said. As the Council summarizes, “it is through the sacraments and the exercise of the virtues that the sacred nature and organic structure of the priestly community is brought into operation."

The Pope also recalled that the Council Fathers teach that the holy People of God also participate in the prophetic mission of Christ.

"Sense of the faith" and the "consensus of the faithful"

The Holy Father reminded that in this context the important theme of the sense of the faith and the consensus of the faithful is introduced. He recalled that the Doctrinal Commission of the Council specified that this sensus fidei “is like a faculty of the whole Church, by which she, in her faith, recognises the revelation handed down, distinguishing between true and false in matters of faith, and at the same time penetrates it more deeply and applies it more fully in life.”

The sense of faith, Pope Leo emphasized, therefore belongs to individual believers not in their own right, but as members of the People of God as a whole.

Lumen gentium, the Pope explained, focuses on this latter aspect, and places it in relation to the infallibility of the Church, to which that of the Roman Pontiff is inherent and by which it is served.

The Holy Father quoted the passage in Lumen gentium that states: “The entire body of the faithful, anointed as they are by the Holy One, cannot err in matters of belief. They manifest this special property by means of the whole peoples’ supernatural discernment in matters of faith when from the Bishops down to the last of the lay faithful they show universal agreement in matters of faith and morals.” 

With this in mind, Pope Leo XIV observed, "the Church, therefore, as the communion of the faithful – which naturally includes the pastors, cannot err in matters of faith: the organ through which this truth is preserved, founded on the anointing of the Holy Spirit, is the supernatural sense of faith of the entire People of God, which is manifested in the consensus of the faithful."

Our responsibility as the People of God

From this unity, which the Magisterium of the Church safeguards, the Pope continued, "it follows that every baptized person is an active agent of evangelization, called to bear consistent witness to Christ in accordance with the prophetic gift which the Lord bestows upon His whole Church."

Reminding that the Holy Spirit, “distributes special graces among the faithful of every rank," Pope Leo said that it is through these gifts that the Holy Spirit "makes them fit and ready to undertake the various tasks and offices which contribute toward the renewal and building up of the Church.”

The Pope noted that a particular demonstration of this charismatic vitality is offered by consecrated life, which continually germinates and flourishes through the work of grace. "Ecclesial associations, too," he said, "are a shining example of the variety and fruitfulness of spiritual fruits for the edification of the People of God."

With this sentiment, Pope Leo XIV concluded with an invitation: "Let us rekindle in ourselves the awareness of and gratitude for having received the gift of being part of God’s People, and also the responsibility that this entails."

https://www.vaticannews.va/en/pope/news/2026-03/pope-leo-xiv-at-audience-second-vatican-council-18-march-2026.html

TIẾP KIẾN CHUNG 18/03/2026 - ĐTC LÊ-Ô XIV: KI-TÔ HỮU TÍCH CỰC LOAN BÁO TIN MỪNG BẰNG CHỨNG TÁ ĐỜI SỐNG

 


Tiếp kiến chung 18/03/2026 - ĐTC Lêô XIV: Kitô hữu tích cực loan báo Tin Mừng bằng chứng tá đời sống

Trong buổi tiếp kiến ​​chung sáng ngày 18/4/2026, tiếp tục loạt bài giáo lý về văn kiện "Lumen Gentium" của Công đồng Vatican II, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã suy tư về cộng đồng Giáo hội như một "dân tộc tư tế và ngôn sứ": một hồng ân chúng ta được nhận lãnh, nhưng cũng là một trách nhiệm. Ngài khẳng định rằng mỗi người đã được rửa tội đều là "chủ thể tích cực của việc loan báo Tin Mừng" thông qua các đặc sủng mà Chúa ban cho.

Vatican News

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô (2,9-10):

Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. Xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa ; xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót, nay anh em đã được xót thương.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Sứ mạng chung liên kết các thừa tác viên có chức thánh và giáo dân

Anh chị em thân mến, chào anh chị em và chào mừng tất cả anh chị em!

Hôm nay, tôi muốn tiếp tục dừng lại ở chương thứ hai của Hiến chế Công đồng Lumen gentium (LG), nói về Giáo Hội như Dân Thiên Chúa.

Dân thiên sai (LG, 9) nhận được từ Đức Kitô sự tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế, qua đó hiện thực hoá sứ mạng cứu độ của Người. Các Nghị phụ Công đồng dạy rằng Chúa Giêsu đã thiết lập, qua Giao Ước mới và vĩnh cửu, một vương quốc tư tế, làm cho các môn đệ của Người trở thành những “tư tế vương giả” (x. 1 Pr 2,9; 1 Pr 2,5; Kh 1,6). Chức tư tế chung của các tín hữu được ban qua Bí tích Rửa tội, giúp chúng ta thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật, và “tuyên xưng công khai đức tin đã lãnh nhận từ Thiên Chúa qua Giáo Hội” (LG, 11). Ngoài ra, nhờ Bí tích Thêm sức, mọi người đã được rửa tội “được gắn bó chặt chẽ hơn với Giáo Hội, được ban một sức mạnh đặc biệt của Chúa Thánh Thần, và nhờ đó có nghĩa vụ mạnh mẽ hơn trong việc loan truyền và bảo vệ đức tin bằng lời nói và hành động, như những chứng nhân đích thực của Đức Kitô” (ibid.). Sự thánh hiến này là nền tảng cho sứ mạng chung liên kết các thừa tác viên có chức thánh và giáo dân.

Bí tích Rửa tội là điều chúng ta phải luôn tự hào

Về điều này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhận xét thế này: “Nhìn vào Dân Thiên Chúa là nhớ rằng tất cả chúng ta bước vào Giáo Hội với tư cách là giáo dân. Bí tích đầu tiên, bí tích ghi dấu ấn mãi mãi căn tính của chúng ta và là điều chúng ta phải luôn tự hào, chính là Bí tích Rửa tội. Nhờ đó và nhờ việc xức dầu của Chúa Thánh Thần, [các tín hữu] ‘được thánh hiến để trở thành một đền thờ thiêng liêng và một chức tư tế thánh’ (LG, 10), nhờ đó tất cả chúng ta trở thành Dân thánh trung tín của Thiên Chúa” (Thư gửi Chủ tịch Ủy ban Giáo hoàng về Châu Mỹ Latinh, 29/3/2016).

Thi hành chức tư tế vương giả: Thánh Thể, cầu nguyện, khổ chế và bác ái

Việc thi hành chức tư tế vương giả được thực hiện bằng nhiều cách, tất cả đều hướng tới việc thánh hóa chúng ta, trước hết là qua việc tham dự vào hy tế Thánh Thể. Qua cầu nguyện, khổ chế và bác ái tích cực, chúng ta làm chứng cho một đời sống được đổi mới bởi ân sủng của Thiên Chúa (x. LG, 10). Như Công đồng tóm kết: “tính chất thánh thiêng và cơ cấu hữu cơ của cộng đoàn tư tế được thực hiện qua các bí tích và các nhân đức” (LG, 11).

Cảm thức đức tin

Các Nghị phụ Công đồng cũng dạy rằng Dân thánh của Thiên Chúa còn tham dự vào sứ mạng ngôn sứ của Đức Kitô (x. LG, 12). Trong bối cảnh này, xuất hiện chủ đề quan trọng về cảm thức đức tin (sensus fidei) và sự đồng thuận của các tín hữu. Ủy ban Tín lý của Công đồng giải thích rằng cảm thức đức tin này “như là một khả năng của toàn thể Giáo Hội, nhờ đó Giáo Hội nhận ra mặc khải được truyền lại, phân biệt đúng sai trong các vấn đề đức tin, và đồng thời đào sâu hơn và áp dụng đầy đủ hơn trong đời sống” (x. Acta Synodalia, III/1, 199). Vì thế, cảm thức đức tin thuộc về từng tín hữu, không phải cách riêng lẻ, nhưng như là những chi thể của toàn thể Dân Thiên Chúa.

Giáo Hội, trong sự hiệp thông của các tín hữu (bao gồm cả các mục tử), không thể sai lầm trong đức tin

Hiến chế Lumen gentium nhấn mạnh khía cạnh này và liên kết với tính vô ngộ của Giáo Hội, trong đó có vai trò phục vụ của Đức Giáo Hoàng. “Toàn thể các tín hữu, những người đã nhận được sự xức dầu từ Đấng Thánh (x. 1 Ga 2,20.27), không thể sai lầm trong đức tin, và biểu lộ đặc tính này qua cảm thức siêu nhiên của đức tin nơi toàn dân, khi từ các Giám mục đến người giáo dân thấp nhất cùng bày tỏ sự đồng thuận phổ quát về các vấn đề đức tin và luân lý” (LG, 12). Do đó, Giáo Hội, trong sự hiệp thông của các tín hữu (bao gồm cả các mục tử), không thể sai lầm trong đức tin. Cơ chế của đặc tính này, dựa trên sự xức dầu của Chúa Thánh Thần, chính là cảm thức đức tin siêu nhiên của toàn thể Dân Thiên Chúa, được biểu lộ qua sự đồng thuận của các tín hữu. Từ sự hiệp nhất này, được Huấn quyền Giáo Hội gìn giữ, chúng ta có thể suy ra rằng mỗi người đã chịu phép Rửa là một chủ thể tích cực trong việc loan báo Tin Mừng, được mời gọi làm chứng cho Đức Kitô một cách nhất quán theo hồng ân ngôn sứ mà Chúa ban cho toàn thể Giáo Hội.

Những ân sủng đặc biệt được ban phát cho các tín hữu

Thật vậy, Chúa Thánh Thần, Đấng đến từ Đức Kitô Phục Sinh, “ban phát cho các tín hữu thuộc mọi bậc sống những ân sủng đặc biệt, nhờ đó làm cho họ trở nên thích hợp và sẵn sàng đảm nhận các nhiệm vụ và chức vụ khác nhau, hữu ích cho việc canh tân và phát triển Giáo Hội” (LG, 12). Một minh chứng đặc biệt cho sức sống đặc sủng này là đời sống thánh hiến, luôn không ngừng nảy sinh và phát triển nhờ ân sủng. Các hình thức hiệp hội trong Giáo Hội cũng là dấu chỉ sáng ngời của sự phong phú và đa dạng của các hoa trái thiêng liêng nhằm xây dựng Dân Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy khơi dậy trong mình ý thức và lòng biết ơn vì đã nhận được hồng ân được thuộc về Dân Thiên Chúa; đồng thời cũng nhận lấy trách nhiệm mà điều đó đòi hỏi.

https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2026-03/tiep-kien-chung-18-03-2026.html

POPE LEO XIV: HEALTH CANNOT BE A LUXURY FOR FEW

 


File photo of a poor and marginalised person in Italy 

 

Pope Leo XIV: Health cannot be a luxury for few

Pope Leo XIV reflects on situations of poverty, loneliness and isolation experienced by many people in Europe today and decries increasing inequalities and injustice in the field of healthcare which he warns, can also lead to conflict.

Vatican News

Pope Leo XIV on Wednesday expressed his belief that “Universal health coverage is not merely a technical goal to be achieved; it is primarily a moral imperative for societies that wish to call themselves just,” but also to prevent injustice from becoming a cause of conflict.

The Pope was addressing participants in the Conference “Today who is my neighbour?” organised by the Council of the Bishops’ Conferences of Europe, the World Health Organization (European Region), and the Italian Episcopal Conference during a private audience in the Vatican.

Speaking on the day in which the second “WHO European Health Equity Status Report” is released, the Pope noted that the document “draws attention to the situations faced by many poor and isolated people in Europe.

Noting that inequalities in the field of healthcare are growing in many European nations, he also called for urgent attention to people’s mental health, particularly that of young people.

Healthcare and social peace

“Health cannot be a luxury for the few,” the Pope said, highlighting also that it is “an essential condition for social peace.”

“Healthcare must be accessible to the most vulnerable, not only because their dignity requires it but also to prevent injustice from becoming a cause of conflict,” he said.

After having reflected on passages from the Gospel, from the Book of Genesis, from Saint Augustine’s writings and from Pope Francis’ Encyclical Fratelli tutti, Pope Leo said “Distance, distraction and desensitisation to the sight of violence and the suffering of others lead us toward indifference.  Yet all men and women, especially Christians, are called to fix their gaze on those who suffer: on the pain of the lonely, on those who, for various reasons, are marginalised and considered “outcasts.”  For without them, we cannot build just societies founded on the human person.”

Only together, he continued, “can we build communities of solidarity capable of caring for everyone, in which wellbeing and peace can flourish for the benefit of all.”

“Caring for the humanity of others helps us to live our own lives to the full.”

May the Christian lifestyle reflect the Samaritan spirit

The Pope concluded, reaffirming the Church’s role that is always at the “service of the advancement of humanity and of universal fraternity.”

He said that the Churches in Europe and throughout the world, in cooperation with international organisations, can “play a decisive role today in combating inequalities in healthcare, particularly in support of the most vulnerable populations”.

And finally, he appealed to Christians to ensure “our Christian lifestyle will always reflect this fraternal, ‘Samaritan’ spirit – one that is welcoming, courageous, committed and supportive, rooted in our union with God and our faith in Jesus Christ.”

https://www.vaticannews.va/en/pope/news/2026-03/pope-leo-xiv-healthcare-for-all-injustice-church-samaritan.html

ĐỨC THÁNH CHA: CHĂM SÓC SỨC KHỎE KHÔNG PHẢI LÀ ĐẶC QUYỀN CỦA MỘT SỐ ÍT NGƯỜI

 


Đức Thánh Cha Lêô XIV gặp gỡ các tham dự viên hội thảo quốc tế chủ đề “Hôm nay ai là người lân cận của tôi?”  (@Vatican Media)

 

Đức Thánh Cha: Chăm sóc sức khỏe không phải là đặc quyền của một số ít người

Gặp gỡ các tham dự viên hội thảo quốc tế với chủ đề “Hôm nay ai là người lân cận của tôi?” vào sáng ngày 18/3/2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV khẳng định rằng sức khỏe không phải là đặc quyền mà là nền tảng hòa bình xã hội. Bảo hiểm y tế toàn dân là mệnh lệnh đạo đức; cần bảo đảm cho những người dễ bị tổn thương được chăm sóc sức khỏe để bảo vệ phẩm giá của họ và ngăn bất công gây xung đột.

Vatican News

Hội thảo quốc tế với chủ đề “Hôm nay ai là người lân cận của tôi?” do Hội đồng các Hội đồng Giám mục châu Âu, Tổ chức Y tế Thế giới khu vực châu Âu (WHO Europe) và Hội đồng Giám mục Ý tổ chức.

Thực trạng đáng lo ngại về bất bình đẳng y tế tại châu Âu

Trong bài phát biểu, Đức Thánh Cha nhấn mạnh thực trạng đáng lo ngại về bất bình đẳng y tế tại châu Âu, được nêu bật trong “Báo cáo châu Âu về công bằng y tế” của Tổ chức Y tế Thế giới. Nhiều người dân, đặc biệt là những người nghèo, đang phải đối diện với cô đơn, bị gạt ra bên lề và không thể tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Ngài lưu ý rằng sức khỏe tâm thần, nhất là nơi giới trẻ, đang trở thành một thách đố cấp bách, bởi “những vết thương vô hình của tâm hồn không hề nhẹ hơn những tổn thương thể lý”.

Chăm sóc sức khỏe là điều kiện thiết yếu cho hòa bình xã hội

Đức Thánh Cha khẳng định: chăm sóc sức khỏe không thể là “đặc quyền của một số ít”, nhưng là điều kiện thiết yếu cho hòa bình xã hội. Việc bảo đảm chăm sóc y tế toàn diện không chỉ là mục tiêu kỹ thuật, mà còn là một đòi hỏi luân lý đối với những xã hội muốn trở nên công bằng. Ngài cảnh báo rằng bất công trong lĩnh vực này có thể trở thành mầm mống của xung đột.

Dám tiến đến với tha nhân, nhất là những người đang đau khổ

Từ câu hỏi trong Tin Mừng theo thánh Luca: “Ai là người lân cận của tôi?”, ngài mời gọi mỗi người tự vấn lương tâm và đưa ra câu trả lời cụ thể trong đời sống hằng ngày. Ngài nhấn mạnh rằng câu trả lời không nằm ở lý thuyết, nhưng ở hành động: dám tiến đến với tha nhân, nhất là những người đang đau khổ. Ngài nhận định: “Trong những hoàn cảnh khác nhau mà chúng ta đang sống, câu trả lời sẽ khác nhau; điều không thay đổi là lời mời gọi hãy đến với tha nhân, đặc biệt là những người đang đau khổ”.

Không “đi ngang qua” trước nỗi đau của người khác

Liên hệ với câu chuyện Cain và Abel trong sách Sáng Thế, Đức Thánh Cha khẳng định: mỗi người đều được mời gọi trở thành “người bảo vệ anh em mình”. Qua dụ ngôn người Samari nhân hậu, Kitô hữu được kêu gọi vượt qua sự thờ ơ, không “bỏ đi ngang qua” trước nỗi đau của người khác.

Kết thúc bài diễn văn, Đức Thánh Cha nhấn mạnh vai trò của Giáo hội và các tổ chức quốc tế trong việc cùng nhau xây dựng một xã hội liên đới, nơi mọi người được chăm sóc và tôn trọng phẩm giá. Ngài kêu gọi sống tinh thần “Samari nhân hậu” – dấn thân, can đảm và đầy lòng trắc ẩn – như nền tảng để kiến tạo hòa bình và hạnh phúc chung.

https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2026-03/dtc-leo-xiv-suc-khoe-bat-cong-hoa-binh.html

TÒA THÁNH VÀ IRAN TRONG TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI: PHÂN TÍCH CỦA CHA ANTONIO SPADARO

 


Đức Giáo hoàng Phanxicô gặp gỡ Đại giáo chủ Ali al-Sistani tại Najaf (Iraq)  (Vatican Media)

 

Tòa Thánh và Iran trong trật tự thế giới mới: phân tích của Cha Antonio Spadaro

Trước bối cảnh chiến tranh leo thang tại Trung Đông, cha Antonio Spadaro, dòng Tên, giám đốc tạp chí “Văn minh Công giáo”, và cũng là Phó Tổng Thư ký Bộ Văn hóa và Giáo dục của Tòa Thánh, đã có bài phân tích nói về mối quan hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh và Iran trong bối cảnh xung đột hiện nay ở Trung Đông. Phân tích của Cha Spadaro cho thấy vai trò của đối thoại tôn giáo và ngoại giao Tòa Thánh trong việc tìm kiếm hòa bình cho khu vực.

Vatican News

Cuộc xung đột bùng nổ tại Trung Đông từ ngày 28/2/2026, sau các cuộc không kích của Mỹ và Israel nhằm vào Iran cùng với những đòn đáp trả bằng tên lửa của Tehran, đã đẩy khu vực vào một tình trạng căng thẳng chưa từng có. Những cuộc tấn công này không chỉ gây ra thiệt hại lớn về nhân mạng và cơ sở hạ tầng mà còn có nguy cơ vẽ lại bản đồ chính trị của Trung Đông. Trong bối cảnh ấy, tiếng nói của Tòa Thánh vang lên với lời kêu gọi hòa bình, đối thoại và trách nhiệm đạo đức của các bên liên quan. Theo cha Spadaro, để hiểu được tầm quan trọng và ảnh hưởng của tiếng nói đó, cần nhìn lại con đường lâu dài và kiên nhẫn mà các vị Giáo hoàng đã xây dựng trong quan hệ với Iran và thế giới Hồi giáo Shia — một con đường được dệt nên từ các cuộc gặp gỡ, những lời nói thận trọng và những cử chỉ mang tính ngôn sứ, một hành trình càng có ý nghĩa sâu sắc hơn trong bối cảnh bi kịch chiến tranh hiện nay.

Ngoại giao Vatican và Iran dưới triều Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI

Quan hệ giữa Tòa Thánh và Cộng hòa Hồi giáo Iran trải qua giai đoạn phức tạp dưới triều đại Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, vừa được thúc đẩy bởi mong muốn đối thoại chân thành, vừa bị chi phối bởi những căng thẳng khó tránh khỏi. Bài diễn văn của ngài tại Regensburg (Đức) vào tháng 9 năm 2006, trong đó ngài trích dẫn một nhận định lịch sử về “thánh chiến” Hồi giáo, đã gây phản ứng mạnh mẽ trong thế giới Hồi giáo. Nhiều lãnh đạo tôn giáo và chính trị tại Iran chỉ trích bài diễn văn này, thậm chí xem đó như một phần của âm mưu nhằm kích động xung đột giữa các tôn giáo.

Tuy nhiên, với sự kiên nhẫn đặc trưng của nền ngoại giao Vatican, Đức Bênêđictô XVI đã nỗ lực hàn gắn các mối quan hệ. Trong bài nói chuyện với Đại sứ Iran cạnh Tòa Thánh ngày 29/10/2009, ngài khẳng định rằng “việc thiết lập các mối quan hệ thân thiện giữa các tín hữu của những tôn giáo khác nhau là một nhu cầu cấp bách của thời đại chúng ta”. Ngài cũng bày tỏ niềm vui trước các cuộc gặp gỡ thường xuyên giữa Hội đồng Tòa Thánh về Đối thoại Liên tôn và Tổ chức Văn hóa và Quan hệ Hồi giáo của Iran về những chủ đề cùng quan tâm.

Một điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của Đức Bênêđictô XVI là sự quan tâm đến cộng đồng Kitô hữu tại Iran. Ngài nhắc rằng Kitô giáo đã hiện diện tại quốc gia này từ những thế kỷ đầu tiên, và cộng đồng Kitô hữu tại đây là một phần của xã hội Iran, với truyền thống chung sống hòa bình lâu dài với người Hồi giáo. Vì vậy, ngài kêu gọi chính quyền Iran bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho các Kitô hữu.

Các cuộc đối thoại liên tôn đã được củng cố bằng những bước đi cụ thể. Năm 2010, Đức Hồng y Jean-Louis Tauran, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Đối thoại Liên tôn, đã đến Tehran để tham dự vòng đối thoại thứ bảy giữa Tòa Thánh và Iran. Nhân dịp này, ngài trao một bức thư cá nhân của Đức Bênêđictô XVI cho Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad, trong đó bày tỏ sự tôn trọng đối với Iran và mong muốn hợp tác trong các vấn đề đạo đức toàn cầu và hòa bình thế giới.

Phía Iran cũng thể hiện sự cởi mở. Đại sứ Ali Akbar Naseri cho biết Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad đã chính thức mời Đức Thánh Cha đến thăm Iran, nhấn mạnh rằng quan hệ giữa hai bên “rất chân thành và thân thiện”. Lời mời này được lặp lại vào tháng 2/2012 sau chuyến thăm Tehran của Đức Hồng y Tauran, cho thấy vào thời điểm đó chính quyền Iran sẵn sàng sử dụng kênh ngoại giao Vatican như một cách để giảm bớt sự cô lập trên trường quốc tế.

Ngoại giao thời Đức Thánh Cha Phanxicô: “văn hóa gặp gỡ”

Khi Đức Thánh Cha Phanxicô được bầu vào tháng 3/2013, chính sách ngoại giao của Tòa Thánh đối với Trung Đông bước sang một giai đoạn mới, được định hình bởi “văn hóa gặp gỡ” mà vị giáo hoàng người Argentina đặt ở trung tâm giáo huấn của mình. Theo cách nhìn này, sự dấn thân của Tòa Thánh với thế giới trong triều đại Đức Phanxicô được đặc trưng bởi một cuộc đối thoại toàn diện; đối thoại với mọi bên — dù có bất đồng sâu sắc — vẫn là con đường cần thiết để xây dựng hòa bình. Ngoại giao Vatican trong thời Đức Phanxicô được đặc trưng bởi việc duy trì đối thoại với nhiều lãnh đạo trên thế giới.

Trong bối cảnh đó, cần hiểu cam kết của Tòa Thánh trong việc coi Iran như một đối tác đối thoại toàn cầu. Trước xung đột nội bộ trong thế giới Hồi giáo giữa người Sunni và người Shia, Tòa Thánh phải tránh nguy cơ bị cuốn vào sự đối đầu giữa Riyadh và Tehran nếu đứng về một phía.

Một cột mốc quan trọng trong quan hệ giữa Tòa Thánh và Iran là chuyến thăm Vatican của Tổng thống Hassan Rouhani vào ngày 26/1/2016. Trong cuộc gặp này, hai bên đã thảo luận về nhiều chủ đề, từ các giá trị tinh thần chung, đời sống của Giáo hội tại Iran, đến việc thúc đẩy phẩm giá con người và tự do tôn giáo. Ngoài ra, các cuộc trao đổi cũng đề cập đến thỏa thuận hạt nhân Iran và vai trò của Tehran trong việc tìm kiếm giải pháp chính trị cho các cuộc xung đột tại Trung Đông.

Hai bên cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của đối thoại liên tôn trong việc thúc đẩy hòa giải và hòa bình. Đây không chỉ là một cử chỉ ngoại giao thông thường mà còn là sự công nhận lẫn nhau trên bình diện quốc tế. Thực tế, Tòa Thánh duy trì quan hệ ngoại giao với Iran, trong khi không có quan hệ ngoại giao chính thức với một số quốc gia khác trong khu vực, ví dụ như Ả Rập Saudi. Mối quan hệ này tiếp tục được củng cố với chuyến thăm của Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif ngày 17/5/2021.

Những căng thẳng và giới hạn của đối thoại

Dù vậy, quan hệ giữa Tòa Thánh và Iran không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Các vấn đề về nhân quyền và tự do chính trị tại Iran vẫn thường xuyên gây tranh cãi. Sau cái chết của Mahsa Amini năm 2022, các cuộc biểu tình mang khẩu hiệu “Phụ nữ, Sự sống, Tự do” bùng nổ trên khắp đất nước và bị chính quyền đàn áp mạnh mẽ.

Trước tình hình này, Đức Phanxicô đã chọn bài diễn văn đầu năm trước các đại sứ cạnh Tòa Thánh như cơ hội để bày tỏ lo ngại về sự bế tắc trong các cuộc đàm phán hạt nhân, đồng thời lên án tình trạng tại một quốc gia “nơi quyền sống bị đe dọa bởi án tử hình, được sử dụng dưới danh nghĩa công lý của nhà nước”. Ngài cũng thừa nhận rằng các cuộc biểu tình “đòi hỏi sự tôn trọng hơn đối với phẩm giá của phụ nữ”. Tuy nhiên, ngài vẫn tiếp tục duy trì con đường đối thoại với Iran, bởi theo quan điểm của Vatican, việc nói lên sự thật và duy trì đối thoại không loại trừ lẫn nhau.

Cuộc gặp lịch sử tại Najaf

Một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ giữa Tòa Thánh và thế giới Hồi giáo Shia là chuyến tông du Iraq của Đức Phanxicô vào năm 2021. Tại thành phố Najaf, ngài đã gặp Đại giáo chủ Ali al-Sistani, một trong những lãnh đạo tôn giáo có ảnh hưởng lớn nhất trong Hồi giáo Shia.

Cuộc gặp này mang ý nghĩa lịch sử. Lần đầu tiên Đại giáo chủ tiếp một nguyên thủ quốc gia, và ông cũng đã đứng dậy chào Đức Thánh Cha — điều chưa từng xảy ra trước đây. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các tôn giáo và của việc thúc đẩy hòa bình, khoan dung và tình liên đới nhân loại. Đức Thánh Cha Phanxicô gọi cuộc gặp này là “không thể quên”. Mohammad Ali Abtahi, Phó Tổng thống dưới thời Tổng thống Khatami, mô tả đây là “một trong những bước ngoặt lịch sử của các tôn giáo độc thần”.

Thông điệp của cuộc gặp gỡ này có ý nghĩa địa chính trị sâu sắc. Nó cho thấy rằng Hồi giáo Shia không phải là một khối đồng nhất và rằng các truyền thống tôn giáo khác nhau có thể đối thoại với nhau mà không bị chi phối bởi các lợi ích chính trị.

Tiếng nói của Đức Thánh Cha Lêô XIV trước bi kịch chiến tranh

Ngày nay, khi chiến tranh lại bùng nổ tại Trung Đông, Đức Thánh Cha Lêô XIV tiếp tục truyền thống kêu gọi hòa bình của các vị Giáo hoàng. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin ngày 1/3, Chúa Nhật II Mùa Chay, ngài bày tỏ sự lo lắng sâu sắc trước những diễn biến tại Iran và Trung Đông. Ngài nhấn mạnh rằng hòa bình không thể được xây dựng bằng vũ khí hay những lời đe dọa lẫn nhau, mà chỉ có thể đạt được thông qua đối thoại chân thành và có trách nhiệm. Ngài kêu gọi các bên liên quan chấm dứt vòng xoáy bạo lực trước khi nó dẫn đến một thảm họa không thể cứu vãn.

Vài giờ sau, khi thăm giáo xứ Chúa Thăng Thiên tại khu Quarticciolo ở Roma, Đức Lêô XIV lại nhắc đến bi kịch đang diễn ra: “Tôi rất lo lắng về những gì đang xảy ra trên thế giới, đặc biệt ở Trung Đông, hôm qua, hôm nay, và tôi không biết sẽ kéo dài bao nhiêu ngày nữa.  Chiến tranh lại xảy ra một lần nữa!”.

Ngài cũng nói với các trẻ em quy tụ ở đó về thảm kịch Gaza, nơi “rất nhiều trẻ em đã chết, rất nhiều em mất cha mẹ, mất trường học và mất mái nhà”. Những lời này tiếp nối truyền thống lên tiếng mạnh mẽ của Đức Phanxicô về Trung Đông, đồng thời mang tính cấp bách hơn trong bối cảnh hiện nay.

Chiến tranh và những câu hỏi lớn

Theo nhiều nhà quan sát, cuộc chiến hiện nay không thể được nhìn đơn giản như cuộc đối đầu giữa thiện và ác. Đằng sau nó là những tính toán địa chính trị phức tạp và lợi ích quyền lực của các quốc gia. Trong khi đó, những người phải chịu hậu quả nặng nề nhất lại là dân thường — đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người già.

Cái chết của các lãnh đạo chính trị không nhất thiết mang lại hòa bình. Thậm chí, nó có thể làm gia tăng nguy cơ bất ổn và xung đột nội bộ trong một quốc gia vốn đã chịu nhiều áp lực.

Trong bối cảnh đó, các lãnh đạo tôn giáo nhấn mạnh rằng tôn giáo không nên bị lợi dụng cho các mục tiêu chính trị. Điều cần thiết là phải đặt lợi ích của con người và các dân tộc lên trên mọi toan tính quyền lực.

Con đường duy nhất: đối thoại và ngoại giao

Theo quan điểm của Tòa Thánh, giải pháp bền vững duy nhất cho Trung Đông vẫn là đối thoại ngoại giao. Những nỗ lực trong nhiều năm qua — từ các cuộc gặp gỡ với lãnh đạo Iran, chuyến thăm Najaf, đến các sáng kiến đối thoại liên tôn — đã tạo nên một nền tảng quan trọng cho việc xây dựng hòa bình trong tương lai.

Đức Phanxicô từng viết trong thông điệp Fratelli tutti rằng mỗi cuộc chiến đều khiến thế giới trở nên tồi tệ hơn so với trước khi nó bắt đầu. Vì thế, lựa chọn hòa bình không phải là sự ngây thơ, nhưng là một hành động khôn ngoan và có trách nhiệm.

Trong bối cảnh hiện nay, lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng Lêô XIV không chỉ là một lời cầu nguyện, mà còn là một định hướng cho cộng đồng quốc tế: chỉ có “đối thoại hợp lý, chân thành và có trách nhiệm” mới mở ra lối thoát chấm dứt bạo lực. Nhưng để ngoại giao lấy lại vai trò của mình, các cường quốc trên thế giới phải từ bỏ điều mà Đức Phanxicô từng gọi là cám dỗ “đùa với lửa, với tên lửa và bom, với những vũ khí gieo rắc nước mắt và cái chết, phủ lên ngôi nhà chung của chúng ta tro bụi và hận thù”.

Tương lai của Trung Đông — và có thể cả hòa bình thế giới — sẽ phụ thuộc vào việc các quốc gia có sẵn sàng chọn con đường đối thoại thay vì bạo lực hay không. Lời cầu nguyện mà Đức Lêô XIV dâng lên từ cửa sổ Dinh Tông Tòa cũng là một chương trình chính trị, theo nghĩa cao nhất của từ này: chấm dứt bạo lực, khôi phục vị thế hàng đầu của ngoại giao và hướng đến lợi ích của các dân tộc.  Và đó cũng chính là thông điệp cốt lõi mà Tòa Thánh đã kiên trì nhắc nhở trong nhiều thập niên qua.

https://www.vaticannews.va/vi/vatican-city/news/2026-03/toa-thanh-iran-trong-trat-tu-the-gioi-moi-cha-antonio-spadaro.html

MARCH 19, 2026: SOLEMNITY OF SAINT JOSEPH, SPOUSE OF THE BLESSED VIRGIN MARY

 March 19, 2026

Solemnity of Saint Joseph, Spouse of the Blessed Virgin Mary

Lectionary: 543

 


Reading 1

2 Samuel 7:4-5a, 12-14a, 16

The LORD spoke to Nathan and said:
"Go, tell my servant David,
'When your time comes and you rest with your ancestors,
I will raise up your heir after you, sprung from your loins,
and I will make his kingdom firm.
It is he who shall build a house for my name.
And I will make his royal throne firm forever.
I will be a father to him,
and he shall be a son to me.
Your house and your kingdom shall endure forever before me;
your throne shall stand firm forever.'"

 

Responsorial Psalm

Psalm 89:2-3, 4-5, 27 and 29

R. (37)  The son of David will live for ever.
The promises of the LORD I will sing forever;
through all generations my mouth shall proclaim your faithfulness,
For you have said, "My kindness is established forever";
in heaven you have confirmed your faithfulness.
R. The son of David will live for ever.
"I have made a covenant with my chosen one,
I have sworn to David my servant:
Forever will I confirm your posterity
and establish your throne for all generations."
R. The son of David will live for ever.
"He shall say of me, 'You are my father,
my God, the Rock, my savior.'
Forever I will maintain my kindness toward him,
and my covenant with him stands firm."
R. The son of David will live for ever.

 

Reading 2

Romans 4:13, 16-18, 22

Brothers and sisters:
It was not through the law
that the promise was made to Abraham and his descendants
that he would inherit the world,
but through the righteousness that comes from faith.
For this reason, it depends on faith,
so that it may be a gift,
and the promise may be guaranteed to all his descendants,
not to those who only adhere to the law
but to those who follow the faith of Abraham,
who is the father of all of us, as it is written,
I have made you father of many nations.
He is our father in the sight of God,
in whom he believed, who gives life to the dead
and calls into being what does not exist.
He believed, hoping against hope,
that he would become the father of many nations,
according to what was said, Thus shall your descendants be.
That is why it was credited to him as righteousness.

 

Verse Before the Gospel

Psalm 84:5

Blessed are those who dwell in your house, O Lord;
they never cease to praise you.

 

Gospel

Matthew 1:16, 18-21, 24a

Jacob was the father of Joseph, the husband of Mary.
Of her was born Jesus who is called the Christ.

Now this is how the birth of Jesus Christ came about.
When his mother Mary was betrothed to Joseph,
but before they lived together,
she was found with child through the Holy Spirit.
Joseph her husband, since he was a righteous man,
yet unwilling to expose her to shame,
decided to divorce her quietly.
Such was his intention when, behold,
the angel of the Lord appeared to him in a dream and said,
“Joseph, son of David,
do not be afraid to take Mary your wife into your home.
For it is through the Holy Spirit
that this child has been conceived in her.
She will bear a son and you are to name him Jesus,
because he will save his people from their sins.”
When Joseph awoke,
he did as the angel of the Lord had commanded him
and took his wife into his home.

 

or

Luke 2:41-51a

Each year Jesus’ parents went to Jerusalem for the feast of Passover,
and when he was twelve years old,
they went up according to festival custom.
After they had completed its days, as they were returning,
the boy Jesus remained behind in Jerusalem,
but his parents did not know it.
Thinking that he was in the caravan,
they journeyed for a day
and looked for him among their relatives and acquaintances,
but not finding him,
they returned to Jerusalem to look for him.
After three days they found him in the temple,
sitting in the midst of the teachers,
listening to them and asking them questions,
and all who heard him were astounded
at his understanding and his answers.
When his parents saw him,
they were astonished,
and his mother said to him,
“Son, why have you done this to us?
Your father and I have been looking for you with great anxiety.”
And he said to them,
“Why were you looking for me?
Did you not know that I must be in my Father’s house?”
But they did not understand what he said to them.
He went down with them and came to Nazareth,
and was obedient to them.

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/031926.cfm

 

 


Commentary on 2 Samuel 7:4-5,12-14,16; Romans 4:13,16-18,22; Matthew 1:16,18-21,24 (or Luke 2:41-51)

The Entrance Antiphon for today’s feast summarises the result of St Joseph’s encounter with the angel Gabriel:

The Lord has put his faithful servant in charge of his household.

When we read the Gospel from Matthew today, we find that Joseph is in a most awful dilemma. The woman to whom he is betrothed is pregnant before they have come together to live as man and wife. He does not know that the conception has been the work of the Holy Spirit and certainly doesn’t know that the Father of Mary’s child is God himself.

A Jewish betrothal was a much more binding relationship than our modern engagement. The couple could already be referred to as ‘husband’ and ‘wife’, as Matthew does in his Gospel. In effect, the marriage had already begun. The betrothal could only be broken by a formal repudiation or a type of divorce.

At the same time, there were no intimate relations between the couple during this period. So one can see the terrible dilemma that Joseph was in. He was pledged to marry Mary, but it appeared—and this was the only natural conclusion he could come to—she had been unfaithful. During this time, the situation of a woman involved in adultery was a very serious matter. We know the story in John’s Gospel where a woman caught in an adulterous relationship is to be stoned to death according to the Law. Many men—perhaps we could say most any man—would have been upset, angry and totally humiliated.

Joseph sees only one possibility, to terminate the relationship. This could have been done in a very nasty way. It is the kind of thing we see regularly in our media. But Joseph, we are told, was a “righteous” (or ‘just’) man. In effect, this meant that he was zealous in observing the Law. But in this context it seems to have a deeper meaning, namely, that he was a very good man, a caring and sensitive man. At the same time, he does not want to go through the fiction of being regarded as the father of a child he did not conceive. He decides to go through with the termination of the relationship in as quiet a manner as possible, not exposing Mary to a public trial and stoning:

Her husband Joseph, being a righteous man and unwilling to expose her to public disgrace, planned to divorce her quietly.

Another explanation that has been given is that he was not willing to go through with the marriage out of reverence for the mystery of Mary’s motherhood, which he does not fully understand.

In either case, he needs to be persuaded by a message from God that, in spite of appearances, he is to take Mary as his wife, that is, to go through a full marriage ceremony with her. He is further told that the Father of the child is God himself, and he is instructed to name the child Jesus:

…for he [Jesus] will save his people from their sins.

The name ‘Jesus’, in fact, means ‘Yahweh saves’.

There is no doubt that Joseph fully deserves the title ‘righteous’. Someone might find him to be rather passive and naïve in such a situation, but events were to prove his restraint fully justified. We might look to him as an example when we are tempted to jump in with both feet in accusing people when the evidence seems very strong. But we know from experience that quite often we are wrong. And in being wrong we have often been unjust, cruel and vindictive. And, even when we are right, vindictive revenge or using the full weight of the law is hardly the best way to solve a failed relationship or even a betrayal. When we take revenge, our ‘enemy’ may suffer, but very often so do we.

The other readings in today’s Mass are also linked with Joseph. The First Reading is taken from a prophetic statement made by the prophet Nathan to King David. God promises that David’s dynasty will succeed unlike that of his predecessor Saul:

I will raise up your offspring after you, who shall come forth from your body, and I will establish his kingdom.

These words are spoken directly about David’s son, Solomon.

Nathan continues, speaking in God’s name:

I will be a father to him, and he shall be a son to me.

While Nathan’s prophecy speaks of Solomon, it is seen also as God speaking of Jesus. Jesus is a descendant of David through Joseph, who belonged to David’s line. The sentence, then, has a double meaning: God and Joseph will be father to the newborn child. And, of course, through Jesus, the promise that David’s dynasty will last forever finds fulfilment. The promise of an everlasting dynasty is a theme of many later prophecies, and this promise generated the hope of a Messiah who would deliver Israel.

The Second Reading from the Letter to the Romans is from a chapter which speaks of Abraham. The parallels with Joseph are again very strong. In this case, Paul’s emphasis is on Abraham’s faith. Abraham and his wife, Sarah, already in old age, still had no legitimate son. There was a son by a slave girl, Hagar, and he was called Ishmael. Yet God had told Abraham that his descendants would be as numerous as the sands on the seashore or as the stars in the sky. Given their age, the couple could have laughed at this promise. But Abraham continued to believe and to hope:

Hoping against hope, he believed that he would become “the father of many nations,” according to what was said, “So shall your descendants be.”

Paul emphasises that Abraham was rewarded, not because of his faithful observance of an external law, but because of his absolute trust in the word and the promise of God. In other words, it was not by his actions that he put God under an obligation to respond. God is never under such an obligation. Whatever we do for God is something that is owed to him anyway, and is done by the strength which he alone gives.

What God gives us when we are in a position of total trust is a free gift—grace (Greek, charis). And that gift is open to all who believe in him and:

…not only to the adherents of the law but also to those who share the faith of Abraham…

Abraham is seen as the “father of many nations”, Jews and Gentiles alike. God’s love and grace are not confined to a certain group or class of people.

Like Abraham, we are to put our faith and trust in the same God:

…who gives life to the dead and calls into existence the things that do not exist.

Abraham and Sarah were, for all intents and purposes, ‘dead’ as far as child-bearing was concerned. Yet God brought new life to them by bringing into existence a son who, in the eyes of many, could not exist. Yet, still, Abraham:

Hoping against hope…believed that he would become “the father of many nations”…

These similarities with Joseph are striking. Joseph, too, was a “righteous man”, a ‘just’ man. He was a man of great faith. It required great faith to believe that the child Mary bore came from God and was not the result of a natural relationship. He was a man of great integrity, who faced the situation with a great deal of self-restraint and sensitivity to Mary. He was a man of great humility, keeping quietly to the background as the drama unfolds. Yet he played an important role as surrogate father, protecting his wife and her child. He was there at Bethlehem when the child was born. He brought mother and child into Egypt to escape the murderous threats of Herod. He looked after them in their home at Nazareth and accompanied them on their journeys to Jerusalem for the great feasts. How anxious he must have been with Mary when the boy disappeared in the big city of Jerusalem, packed with strangers for the Passover (see Luke’s Gospel for today).

In the Hebrew Testament there was another famous Joseph, the second youngest son of Jacob. He was sold into slavery by his jealous brothers and eventually became second in rank in the empire of the Pharaohs. And he, too, was the ‘go to’ guy, because when:

…all the land of Egypt was famished, the people cried to Pharaoh for bread. Pharaoh said to all the Egyptians, “Go to Joseph; what he says to you, do.” (Gen 41:55)

Let us go to St Joseph to intercede for us in our needs. He has been chosen as patron many times, including being patron of the Church and Patron Saint of the Society of Jesus.

It would be nice, too, to think that some of Jesus’ qualities came from Joseph as much as from Mary. So, on this his feast day, let us ask him to let us share in some of his outstanding virtues: in his faith, his refusal to make hasty judgements in a difficult situation, his integrity and goodness, his humility and modesty and in accepting with grace his supporting role in the Holy Family and his care for the Church.

Let us conclude with the Opening Prayer from today’s Mass:

Father,
You entrusted our Saviour to the care of Saint Joseph.
By the help of his prayers,
may your Church continue to serve its Lord, Jesus Christ,
who lives and reigns for ever and ever. Amen

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0319r/

 

 


Thursday, March 19, 2026

St. Joseph the Spouse of the Blessed Virgin Mary – Solemnity.

LECTIO

Opening Prayer:

Spirit who moves over the water, calm in us all discordance, the agitated waves, the noise of the words, the whirlwind of vanity, and make the Word which recreates, arise in silence.

Spirit who in a sigh you whisper to our spirit the Name of the Father, come and gather together all our desires, make them grow in a beam of light which will be a response to Your light, the Word of the new Day.

Spirit of God, the sap of love of the immense tree on which you graft us, so that all our brothers and sisters will seem to us as a gift in the great Body in which the Word of communion matures. (Frère Pierre-Yves of Taizé) Reading of the Gospel: Matthew 1: 16, 18-21, 24a

Jacob was the father of Joseph, the husband of Mary. Of her was born Jesus who is called the Christ. Now this is how the birth of Jesus Christ came about. When his mother Mary was betrothed to Joseph, but before they lived together, she was found with child through the Holy Spirit. Joseph her husband, since he was a righteous man, yet unwilling to expose her to shame, decided to divorce her quietly. Such was his intention when, behold, the angel of the Lord appeared to him in a dream and said, "Joseph, son of David, do not be afraid to take Mary your wife into your home. For it is through the Holy Spirit that this child has been conceived in her. She will bear a son and you are to name him Jesus, because he will save his people from their sins." When Joseph awoke, he did as the angel of the Lord had commanded him and took his wife into his home. A Moment of Silence:

so that the Word of God may enter into our hearts and enlighten our lives.

MEDITATIO

A Key to the Reading:

The passage of today’s Gospel is taken from the first chapter of the Gospel of Matthew which forms part of the section concerning the conception, birth, and infancy of Jesus. The center of all this account is the person of Jesus around which are all the events and the persons mentioned. One must keep in mind that the Gospel reveals a theology of the history of Jesus, and so getting close to the Word of God we should get the message which is hidden under the veils of the account without losing ourselves, as Paul so wisely advises us “in foolish speculations,” avoiding “those genealogies and the quibbles and disputes about the Law, they are useless and futile” (Tt 3: 9).

In fact, this text is connected to the genealogy of Jesus, which Matthew arranges with the intention of stressing the dynastic succession of Jesus, the Savior of his people (Mt 1: 21). To Jesus are conferred all the rights inherited from the lineage of David, of “Joseph, son of David” (Mt 1: 20; Lk 2: 4-5) His legal father. For the Biblical and Hebrew world legal paternity was sufficient to confer all the rights of the lineage in question (cf.: the law of the levirate and of adoption (Dt 25: 5ff). That is why from the beginning of the genealogy, Jesus is designed as

“Christ the Son of David” (Mt 1: 1) that is, the anointed one of the Lord Son of

David, with whom all the promises of God to David His servant, are fulfilled (2 Sam 7: 1-16; 2 Cr 7: 18; 2 Cr 21: 7; Ps 89: 30). This is why Matthew adds to the account of the genealogy and of the conception of Jesus the prophecy of Isaiah: “All this took place to fulfill what the Lord had spoken through the prophet.: The young woman is with child and will give birth to a son whom she will call Immanuel, which means God with us” (Mt 1: 21-23 and Is 7: 14).

Let us stop to say something, on the spiritual reality of adoption, we can refer to the fact that the elected people possess “the glory, the covenants, the legislation, the cult, the promises,” because “they are Israelites and possess the adoption of sons” (Rm 9: 4). But we also, the new people of God in Christ receive the adoption of children because “when the completion of the time came God sent His Son, born of a woman, born a subject of the Law, to redeem the subjects of the Law, so that we could receive adoption as children” (Gal 4: 4-5). This is the salvation which Jesus has brought to us. Christ “will save His people from their sins” (Mt 1: 21) because He is the “God with us!” (Mt 1: 23) who makes us adopted children of God.

Jesus is born from “Mary who was betrothed to Joseph” (Mt 1: 18a)) who “was found to be with child through the Holy Spirit” (Mt 1: 18b). Matthew does not give the account of the annunciation as Luke does (Lk 1: 26-38) but structures the account from the point of view of the experience of Joseph the just man. The Bible reveals to us that God loves the just and many times chooses them for an important mission, protects them and does not join them to the impious (Gen 18: 23ff). In the Old Testament we find many persons who are considered just. We think of Noah “a good man, an upright man among his contemporaries” (Gen 6: 9). Or also Johoash who “did what Yahweh regards as right” (2 Kg 12: 3). A constant idea in the Bible is the “dream” as a privileged place where God makes His plans and designs known, and sometimes reveals the future. The dreams of Jacob at Bethel are well known (Gen 28: 10ff) and Joseph his son, as also those of the cup-bearer and the chief baker imprisoned in Egypt with him (Gen 37: 5ff; Gen 40: 5ff) and the dreams of Pharaoh which revealed the future years of plenty and of famine and want (Gen 41: 1ff).

“An Angel of the Lord“ appeared to Joseph (Mt 1: 20) to reveal to him God’s design. In the Gospels of the infancy frequently the Angel of the Lord is mentioned as the heavenly messenger (Mt 1: 20, 24; 2: 13, 19; Lk 1: 11; 2: 9) and also on other occasions the angel appears to calm, to reveal the plans of God, to heal and to liberate from slavery (cf. Mt 28: 2; Jn 5: 4; Acts 5: 19; 8: 26; 12: 7, 23). Many are the references to the Angel of the Lord in the Old Testament where originally the angel represented the Lord himself who guided and protected His people being close to them (cf. Gen 16: 7-16; 22: 12; 24: 7; Ex 3: 3; 23: 20; Tb 5: 4). Questions to orient the meditation and make it relevant:

           What is the most important thing to you in this passage? Why?

           In the key to the reading, consideration is given to some terms (adoption, angel, dream, just). What thoughts did these raise in your heart? What relevance can they have for your journey of spiritual maturation?

ORATIO

Psalm 92

It is good to give thanks to Yahweh,

to make music for Your name, Most High, to proclaim Your faithful love at daybreak, and Your constancy all through the night, on the lyre, the tenstringed lyre, to the murmur of the harp.

You have brought me joy, Yahweh, by Your deeds, at the work of Your hands I cry out, 'How great are Your works, Yahweh, immensely deep Your thoughts!' Stupid people cannot realize this, fools do not grasp it.

The wicked may sprout like weeds, and every evil-doer flourish, but only to be eternally destroyed; whereas You are supreme for ever, Yahweh.

Look how Your enemies perish, how all evil-doers are scattered!

You give me the strength of the wild ox, You anoint me with fresh oil; I caught sight of the ambush against me, overheard the plans of the wicked. The upright will flourish like the palm tree, will grow like a cedar of Lebanon. Planted in the house of Yahweh, they will flourish in the courts of our God. In old age they will still bear fruit, will remain fresh and green, to proclaim Yahweh's integrity; my rock, in whom no fault can be found. Moments for a Prayerful Silence

CONTEMPLATIO

The Christian contemplation of God’s dream, of the plan which God cherishes for the history of humanity does not produce alienation but keeps the consciences vigilant and active and stimulates us to face with courage and altruism the responsibilities which life gives us.

 

www.ocarm.org

 

19.03.2026: THỨ NĂM TUẦN IV MÙA CHAY - THÁNH GIUSE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA - LỄ TRỌNG

 19/03/2026

 Thứ Năm tuần 4 Mùa Chay.

 THÁNH GIUSE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA.

 Lễ trọng. Lễ HỌ. Cầu cho giáo dân

 

 


* Thánh Giuse, bạn trăm năm của Đức Maria, có sứ mạng “chăm sóc Đức Giêsu như một người cha”. Nhưng Chúa đã muốn người chủ Thánh Gia ở Nagiarét tiếp tục sứ mạng ấy trong Hội Thánh, thân thể của Chúa Kitô.

Đức Maria là Mẹ của Hội Thánh thì thánh Giuse là Đấng che chở Hội Thánh.

 

Bài Ðọc I: 2 Sm 7, 4-5a. 12-14a. 16

“Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu của Ðavít, tổ phụ Người”.

Trích sách Sa-mu-en quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Na-than rằng: “Hãy đi nói với Ða-vít tôi tớ Ta rằng: Khi ngày của ngươi đã viên mãn, ngươi sẽ yên nghỉ với các tổ phụ ngươi; sau đó, Ta sẽ cho miêu duệ ngươi lên kế vị và Ta sẽ làm cho triều đại người được vững bền. Chính người sẽ xây cất một ngôi nhà để kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngôi báu triều đại người được củng cố đến muôn đời. Ta sẽ là Cha của người, và người sẽ là con Ta. Nhà của ngươi và triều đại của ngươi sẽ vững chắc đến muôn đời trước mặt Ta, ngôi báu ngươi sẽ vững bền mãi mãi”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 88, 2-3. 4-5. 27 và 29

Ðáp: Miêu duệ người tồn tại đến muôn đời

Xướng: Tôi sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời; qua mọi thế hệ, miệng tôi loan truyền lòng trung thành Chúa. Vì Ngài đã phán: “Tình thương của Ta đứng vững muôn đời”; trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín.

Xướng: Ta đã ký minh ước cùng người ta tuyển lựa, Ta đã thề cùng Ða-vít là tôi tớ của Ta rằng: “Cho tới muôn đời Ta bảo tồn miêu duệ của ngươi, và Ta thiết lập ngai báu ngươi qua muôn thế hệ”.

Xướng: Chính người sẽ thưa cùng Ta: “Chúa là Cha con, và Thiên Chúa là Ðá Tảng cứu độ của con”. Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái, và lời ước Ta ký với người sẽ được mãi mãi duy trì.

Bài Ðọc II: Rm 4, 13. 16-18. 22

Mặc dầu tuyệt vọng, ông vẫn tin”.

Trích thư Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

Anh em thân mến, không phải nhờ lề luật mới có lời hứa ban cho Áp-ra-ham hay dòng dõi của ông trở nên kẻ thừa kế thế gian, nhưng là nhờ sự công chính của đức tin. Vì thế, do đức tin, được coi như là theo ân sủng, lời hứa cho mọi dòng dõi được vững bền, không phải chỉ cho kẻ sinh bởi lề luật, mà còn cho kẻ sinh bởi đức tin của Áp-ra-ham, tổ phụ của mọi người chúng ta, (như có lời chép rằng: Ta đã đặt ngươi làm cha nhiều dân tộc) trước mặt Thiên Chúa, Ðấng ông đã tin, Ðấng cho kẻ chết sống lại, và kêu gọi cái không có như có. Mặc dầu tuyệt vọng, ông vẫn tin rằng mình sẽ trở thành cha nhiều dân tộc, như có lời đã phán với ông rằng: “Dòng dõi ngươi sẽ như thế”. Vì vậy, ông đã được kể như sự công chính.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm

Alleluia. Alleluia. Lạy Chúa, phúc cho những ai ngụ nơi nhà Chúa, họ sẽ khen ngợi Chúa đến muôn đời. – Alleluia.

PHÚC ÂM: Mt 1, 16. 18-21. 24a

“Giu-se đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền”.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mát-thêu.

Gia-cóp sinh Giu-se là bạn của Ma-ri-a, mẹ của Chúa Giê-su gọi là Ðức Ki-tô. Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Ma-ri-a đính hôn với Giu-se, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giu-se bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, nên định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy, thì Thiên thần hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: “Hỡi Giu-se con vua Ða-vít, đừng ngại nhận Ma-ri-a về nhà làm bạn mình, vì Ma-ri-a mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần; bà sẽ sinh hạ một con trai mà ông đặt tên là Giê-su: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội”. Khi tỉnh dậy, Giu-se đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền.

Ðó là lời Chúa.

– – – – – – – – – – – – – –

Hoặc: Lc 2, 41-51a

“Kìa cha Con và mẹ đây đã đau khổ tìm Con”.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Lu-ca.

Hằng năm cha mẹ Chúa Giê-su có thói quen lên Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt Qua. Lúc bấy giờ Chúa Giê-su lên mười hai tuổi, cha mẹ Người đã lên Giê-ru-sa-lem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt Qua. Và khi những ngày lễ đã hoàn tất, hai ông bà ra về, trẻ Giê-su đã ở lại Giê-ru-sa-lem mà cha mẹ Người không hay biết. Tưởng rằng Người ở trong nhóm các khách đồng hành, hai ông bà đi được một ngày đàng, mới tìm kiếm Người trong nhóm bà con và những kẻ quen biết. Nhưng không gặp thấy Người, nên hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem để tìm Người.

Sau ba ngày, hai ông bà gặp thấy Người trong đền thờ đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả những ai nghe Người nói, đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết và những câu Người đáp lại. Nhìn thấy Người, hai ông bà ngạc nhiên, và mẹ Người bảo Người rằng: “Con ơi, sao Con làm cho chúng ta như thế? Kìa cha Con và mẹ đây đã đau khổ tìm Con”. Người thưa với hai ông bà rằng: “Mà tại sao cha mẹ tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải lo công việc của Cha con ư?” Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói. Bấy giờ Người theo hai ông bà trở về Na-da-rét, và Người vâng phục hai ông bà.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về 2 Sa-mu-ên 7,4-5. 12-14, 16; Rô-ma 4,13. 16-18. 22; Mát-thêu 1,16. 18-21. 24 (hoặc Lu-ca 2,41-51)

Bài ca nhập lễ hôm nay tóm tắt kết quả cuộc gặp gỡ của Thánh Giuse với thiên thần Ga-bri-ên:

Chúa đã giao cho tôi tớ trung tín của Ngài trông coi gia đình Ngài.

Khi đọc Phúc Âm Mát-thêu hôm nay, chúng ta thấy Giuse đang ở trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan khủng khiếp. Người phụ nữ mà ông đã đính hôn mang thai trước khi họ chung sống với nhau như vợ chồng. Ông không biết rằng sự thụ thai là do Thánh Linh và chắc chắn không biết rằng Cha của con Maria chính là Thiên Chúa.

Việc đính hôn của người Do Thái là một mối quan hệ ràng buộc hơn nhiều so với việc đính hôn hiện đại của chúng ta. Cặp đôi đã có thể được gọi là 'chồng' và 'vợ', như Mát-thêu đã làm trong Phúc Âm của mình. Trên thực tế, cuộc hôn nhân đã bắt đầu. Hôn ước chỉ có thể bị hủy bỏ bằng một sự từ bỏ chính thức hoặc một hình thức ly hôn.

Đồng thời, giữa hai người không có quan hệ thân mật nào trong thời gian này. Vì vậy, người ta có thể thấy tình thế tiến thoái lưỡng nan khủng khiếp mà Giuse phải đối mặt. Ông đã hứa hôn với Maria, nhưng dường như—và đây là kết luận tự nhiên duy nhất mà ông có thể đi đến—rằng bà đã không chung thủy. Trong thời gian này, tình trạng của một người phụ nữ ngoại tình là một vấn đề rất nghiêm trọng. Chúng ta biết câu chuyện trong Phúc Âm Gioan, nơi một người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình sẽ bị ném đá đến chết theo Luật. Nhiều người đàn ông—có lẽ chúng ta có thể nói hầu hết mọi người đàn ông—sẽ cảm thấy buồn bã, tức giận và hoàn toàn bị sỉ nhục.

Giuse chỉ thấy một khả năng duy nhất, đó là chấm dứt mối quan hệ. Điều này có thể được thực hiện theo một cách rất tàn nhẫn. Đó là loại điều chúng ta thường thấy trên các phương tiện truyền thông. Nhưng Giuse, chúng ta được cho biết, là một người “công chính” (hay “chính trực”). Trên thực tế, điều này có nghĩa là ông rất nhiệt thành trong việc tuân giữ Luật. Nhưng trong bối cảnh này, dường như nó mang một ý nghĩa sâu sắc hơn, đó là ông ấy là một người đàn ông rất tốt, chu đáo và nhạy cảm. Đồng thời, ông ấy không muốn trải qua sự giả dối khi bị coi là cha của một đứa con mà ông ấy không sinh ra. Ông quyết định chấm dứt mối quan hệ một cách lặng lẽ nhất có thể, không để Maria phải chịu phiên tòa công khai và bị ném đá:

Chồng bà là Giuse, một người công chính và không muốn để vợ mình phải chịu nhục nhã trước công chúng, đã lên kế hoạch ly dị bà một cách lặng lẽ.

Một lời giải thích khác được đưa ra là ông không muốn tiến hành cuộc hôn nhân vì tôn kính mầu nhiệm làm mẹ của Maria, điều mà ông không hoàn toàn hiểu rõ.

Trong cả hai trường hợp, ông cần được thuyết phục bởi một thông điệp từ Chúa rằng, bất chấp vẻ bề ngoài, ông phải lấy Maria làm vợ, nghĩa là phải tiến hành một nghi lễ kết hôn trọn vẹn với bà. Ông còn được cho biết rằng Cha của đứa trẻ chính là Đức Chúa Trời, và ông được hướng dẫn đặt tên cho đứa trẻ là Giê-su:

…vì Ngài [Giê-su] sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ.

Thực tế, tên gọi ‘Giê-su’ có nghĩa là ‘Đức Chúa cứu rỗi’.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Giô-sép hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu ‘người công chính’. Có người có thể thấy ông khá thụ động và ngây thơ trong hoàn cảnh đó, nhưng các sự kiện sau này đã chứng minh sự kiềm chế của ông là hoàn toàn chính đáng. Chúng ta có thể xem ông như một tấm gương khi bị cám dỗ lao vào buộc tội người khác ngay cả khi bằng chứng có vẻ rất mạnh mẽ. Nhưng kinh nghiệm cho thấy chúng ta thường xuyên sai lầm. Và khi sai lầm, chúng ta thường bất công, tàn nhẫn và thù hận. Và ngay cả khi chúng ta đúng, việc trả thù bằng bạo lực hoặc sử dụng toàn bộ sức mạnh của pháp luật khó có thể là cách tốt nhất để giải quyết một mối quan hệ đổ vỡ hoặc thậm chí là một sự phản bội. Khi chúng ta trả thù, ‘kẻ thù’ của chúng ta có thể phải chịu đau khổ, nhưng rất thường thì chính chúng ta cũng vậy.

Các bài đọc khác trong Thánh lễ hôm nay cũng liên quan đến Thánh Giuse. Bài đọc thứ nhất được trích từ lời tiên tri của tiên tri Nathan dành cho vua Đa-vít. Chúa hứa rằng dòng dõi của Đa-vít sẽ thành công, khác với dòng dõi của người tiền nhiệm Sa-un:

Ta sẽ dấy lên dòng dõi ngươi sau ngươi, là người sẽ xuất thân từ ngươi, và Ta sẽ lập vương quốc của người.

Những lời này được nói trực tiếp về con trai của Đa-vít, Sa-lô-môn.

Na-than tiếp tục, nói nhân danh Chúa:

Ta sẽ làm cha của người, và người sẽ làm con của Ta.

Trong khi lời tiên tri của Nathan nói về Sa-lô-môn, nó cũng được xem là Chúa nói về Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là hậu duệ của Đa-vít qua Thánh Giuse, người thuộc dòng dõi của Đa-vít. Vì vậy, câu nói này có hai nghĩa: Chúa và Thánh Giuse sẽ là cha của đứa trẻ mới sinh. Và, dĩ ​​nhiên, qua Chúa Giêsu, lời hứa về một dòng dõi trường tồn mãi mãi được ứng nghiệm. Lời hứa về một dòng dõi vĩnh cửu là chủ đề của nhiều lời tiên tri sau này, và lời hứa này đã tạo ra niềm hy vọng về một Đấng Mê-si-a sẽ giải cứu Ít-ra-en. Bài đọc thứ hai từ Thư Rôma là từ một chương nói về Áp-ra-ham. Sự tương đồng với Giuse lại rất mạnh mẽ. Trong trường hợp này, Phao-lô nhấn mạnh vào đức tin của Áp-ra-ham. Áp-ra-ham và vợ ông, Sa-ra, dù đã già, vẫn chưa có con trai hợp pháp. Ông có một con trai với người nữ tỳ Ha-ga, tên là Ít-ma-ên. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã phán với Áp-ra-ham rằng dòng dõi ông sẽ đông đúc như cát trên bờ biển hoặc như sao trên trời. Xét đến tuổi tác của họ, hai vợ chồng có thể đã cười nhạo lời hứa này. Nhưng Áp-ra-ham vẫn tiếp tục tin tưởng và hy vọng:

Với hy vọng mong manh, ông tin rằng mình sẽ trở thành “cha của nhiều dân tộc”, theo như lời đã phán, “Dòng dõi ngươi sẽ như vậy”.

Phao-lô nhấn mạnh rằng Áp-ra-ham được ban thưởng, không phải vì sự tuân giữ trung thành một luật lệ bên ngoài, mà vì lòng tin tuyệt đối vào lời và lời hứa của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, không phải bằng hành động của mình mà ông đặt Đức Chúa Trời vào thế phải đáp lại. Đức Chúa Trời không bao giờ ở trong tình thế phải đáp lại. Bất cứ điều gì chúng ta làm cho Chúa đều là điều chúng ta nợ Ngài, và được thực hiện bằng sức mạnh mà chỉ mình Ngài ban cho.

Điều Chúa ban cho chúng ta khi chúng ta hoàn toàn tin tưởng là một món quà miễn phí—ân ​​điển (tiếng Hy Lạp, charis). Và món quà đó dành cho tất cả những ai tin vào Ngài và:

…không chỉ cho những người tuân giữ luật pháp mà còn cho những người cùng chia sẻ đức tin của Áp-ra-ham…

Áp-ra-ham được xem là “cha của nhiều dân tộc”, cả người Do Thái và người ngoại bang. Tình yêu và ân điển của Chúa không bị giới hạn ở một nhóm người hay tầng lớp nào.

 

Giống như Áp-ra-ham, chúng ta phải đặt đức tin và sự tin tưởng của mình vào cùng một Đức Chúa Trời:

…Đấng ban sự sống cho người chết và gọi những điều không hiện hữu vào sự tồn tại.

Áp-ra-ham và Sa-ra, trên thực tế, đã “chết” về mặt sinh con. Tuy nhiên, Chúa đã mang lại sự sống mới cho họ bằng cách ban cho họ một người con trai mà, trong mắt nhiều người, không thể tồn tại. Tuy vậy, Áp-ra-ham vẫn còn đó:

Với hy vọng mong manh… tin rằng ông sẽ trở thành “cha của nhiều dân tộc”…

Những điểm tương đồng với Giuse thật đáng chú ý. Giuse cũng là một “người công chính”, một người ngay thẳng. Ông là một người có đức tin lớn lao. Cần có đức tin lớn lao để tin rằng đứa con mà Maria sinh ra đến từ Thiên Chúa chứ không phải là kết quả của một mối quan hệ tự nhiên. Ông là một người chính trực, đã đối mặt với tình huống với sự tự chủ và nhạy cảm tuyệt vời đối với Maria. Ông là một người khiêm nhường, lặng lẽ đứng sau hậu trường khi câu chuyện diễn ra. Tuy nhiên, ông đã đóng một vai trò quan trọng như người cha thay thế, bảo vệ vợ và con của bà. Ông đã có mặt tại Bê-lem khi đứa trẻ được sinh ra. Ông đã đưa mẹ con họ đến Ai Cập để trốn thoát khỏi những lời đe dọa giết người của Hê-rô-đê. Ông chăm sóc họ trong nhà ở Na-da-rét và cùng họ trên những chuyến hành trình đến Giê-ru-sa-lem dự các lễ hội lớn. Ông hẳn đã rất lo lắng cho Maria khi cậu bé biến mất trong thành phố lớn Giê-ru-sa-lem, nơi đông đúc người lạ mặt dự lễ Vượt Qua (xem Phúc Âm Lu-ca hôm nay).

Trong Kinh Thánh Do Thái, có một người tên là Giuse nổi tiếng khác, con trai út thứ hai của Gia-cốp. Ông bị các anh trai ghen tị bán làm nô lệ và cuối cùng trở thành người đứng thứ hai trong đế chế của các Pha-ra-ô. Và ông cũng là người được mọi người tìm đến, bởi vì khi:

…cả xứ Ai Cập bị đói khát, dân chúng kêu cầu Pha-ra-ô xin bánh. Pha-ra-ô nói với tất cả người Ai Cập: “Hãy đến với Giuse; điều gì ông ấy bảo các ngươi, hãy làm theo.” (Sáng thế  41,55)

Chúng ta hãy đến với Thánh Giuse để ngài cầu bầu cho chúng ta trong những nhu cầu của mình. Ngài đã được chọn làm bổn mạng nhiều lần, bao gồm cả việc là bổn mạng của Giáo hội và Thánh bổn mạng của Dòng Tên.

Thật tuyệt vời nếu chúng ta nghĩ rằng một số phẩm chất của Chúa Giêsu đến từ Giuse cũng như từ Đức Mẹ Maria. Vì vậy, trong ngày lễ kính ngài, chúng ta hãy cầu xin ngài cho chúng ta được chia sẻ một số đức tính nổi bật của ngài: trong đức tin, sự từ chối đưa ra phán xét vội vàng trong những tình huống khó khăn, sự chính trực và lòng tốt, sự khiêm nhường và nhã nhặn, và trong việc chấp nhận một cách ân cần vai trò hỗ trợ của ngài trong Thánh Gia và sự chăm sóc của ngài đối với Giáo hội.

Chúng ta cùng kết thúc bằng Lời cầu nguyện mở đầu Thánh lễ hôm nay:

Lạy Cha,

Cha đã giao phó Chúa Cứu Thế của chúng con cho sự chăm sóc của Thánh Giuse.

Nhờ ơn cầu nguyện của ngài,

xin cho Giáo Hội của Cha tiếp tục phụng sự Chúa Giêsu Kitô,

Đấng hằng sống và trị vì đời đời. Amen

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0319r/

 

 


.Suy Niệm về Thánh Giuse   

Tháng 3 về, chúng ta cùng tạ ơn Thánh Giuse là Đấng bảo trợ mỗi gia trưởng chúng ta trong thời gian qua, và còn sẽ bảo trợ chúng ta trong suốt cuộc đời làm chồng, làm cha, làm ông nội, ông ngoại.

Tỏ lòng tri ân ấy, Chúa không muốn chúng ta chỉ nói lên bằng lời, mà còn phải nói lên bằng cuộc sống gia trưởng theo mẫu gương gia trưởng nhân đức của Ngài. Vì thế, suy niệm về những ngày đời thánh thiện của Thánh Giuse, làm bài học quí giá cho mỗi gia trưởng là thật cần thiết.

Đón nhận nhau trong đức tin

Thiên Chúa đã chọn Thánh Giuse cộng tác vào chương trình cứu chuộc, chương trình mạc khải tình yêu Thiên Chúa cho nhân loại, nên có thể nói, người được Thiên Chúa chọn hẳn phải là một người đủ phẩm cách đẹp lòng Thiên Chúa. Và điều đẹp lòng Chúa nhất là Tin vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa.

Quả thật, nếu đức tin của Mẹ Maria được thể hiện bằng sự khiêm tốn và vâng phục để Thiên Chúa thực hiện mầu nhiệm nhập thể: “Nầy tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như Lời sứ thần truyền. Xin hãy thành sự trong tôi, như Lời Ngài đã phán”, thì Thánh Giuse âm thầm không nói gì, không trả lời gì, mà Ngài chỉ làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà: ‘Đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần’. Điều Thánh Giuse đã làm là một câu trả lời “vâng phục” bằng “đức tin” hùng hồn nhất (x. Rm 1,5; 16,26; 2Cr 10,5-6).

Thế thì, Lời chúc của Elizabet dành cho Mẹ Maria “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45) cũng chính là lời mà mọi miệng lưỡi phải chúc tụng Thánh Giuse như vậy.

Thánh Giuse và Mẹ Maria đã đón nhận và thực hiện thánh ý của Thiên Chúa là đón nhận nhau, và cả hai cùng đón nhận Phôi Thai Đấng Cứu Thế bằng một đức tin. Từ đó, làm thành một cộng đoàn mới của Thiên Chúa, trong kế hoạch của Thiên Chúa.

Việc thánh Giuse đón Đức Maria về làm vợ trong lúc Maria đang cưu mang Đấng Cứu Thế, quả là một gương đức tin hùng hồn vào Thiên Chúa quyền năng: Thiên Chúa chọn cho Giuse một người vợ. Thiên Chúa chọn cho Maria một người chồng. Thiên Chúa chọn cho Đấng Cứu Thế những người làm Cha Mẹ. Vì quả thực, nếu để tự Giuse chọn, có lẽ Giuse không chọn Maria, vì ngại những tiếng đời dị nghị. Nhưng việc ấy không xảy ra theo ý của Giuse, mà đã xảy ra ngược lại theo ý của Thiên Chúa.

Còn chúng ta, có tin rằng Thiên Chúa đã tham gia vào việc chọn lựa của mình không? Có nhiều người đã sống với nhau bao nhiêu năm rồi, mới ngộ ra là có bàn tay Thiên Chúa định liệu cho việc của Chúa nơi gia đình mình. Có nhiều người cho là chuyện ông trời xe định, nồi nào vung nấy. Nhưng thiết tưởng đức tin công giáo đòi hỏi chúng ta phải xác tín ngay từ buổi đầu của cuộc hôn nhân rằng Thiên Chúa tham dự vào việc tuyển chọn cho mình một người bạn đời theo ý Chúa. Và từ ấy, cuộc sống của vợ chồng trải ra trong sự quan phòng của Thiên Chúa, để tiếp tục công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa và tiếp tục thực hiện chương trình cứu rỗi của Ngài. Chỉ trong đức tin, cuộc sống của hôn nhân mới có đủ nghị lực để vượt qua những thử thách và bền vững cho đến cùng.

Như vậy, việc đón nhận nhau trong đức tin là bài học trước tiên của đời sống gia đình công giáo. Đón nhận một người bạn đời về chung sống với nhau nên nghĩa vợ chồng, đón nhận con cái Chúa ban trong ánh sáng đức tin, có thể nói là đón nhận tình yêu Thiên Chúa, hồng ân của Thiên Chúa nhằm đến việc thực hiện chương trình mạc khải của Thiên Chúa nơi gia đình là: Tình yêu và cứu độ.

Nhìn lại đời sống gia đình chúng ta, mỗi người có thể suy xét lại và trả lời trước mặt Chúa, rằng ngày ấy con yêu nàng, con cưới nàng làm vợ, có phải vì Đức Tin là để có một gia đình nhằm thực hiện chương trình của Chúa, hay có một gia đình thực hiện chương trình của chúng ta. Chúng ta đã đón nhận nhau vì Chúa hay vì ta? để sống cho Thiên Chúa hay cho chúng ta?

Thánh thiện trong đức cậy

Mẹ Maria đã tin tưởng và ký thác toàn thân mình cho Thiên Chúa để Ngài thực hiện ơn cứu độ, thì thánh Giuse cũng cậy trông hoàn toàn vào sức mạnh của Thiên Chúa để vượt thắng những nguy cơ làm mất đi vẻ đẹp tinh tuyền thánh thiện của gia đình Con Thiên Chúa. Việc giữ đức khiết tịnh cho mình và cho người bạn đời, thiết tưởng phải việc ưu tiên hơn cả. Bởi vì thánh ý của Thiên Chúa đã khởi đầu bằng việc Con Thiên Chúa làm người trong lòng một trinh nữ. Và trinh nữ ấy đã khấn nguyện giữ mình đồng trinh đến trọn đời. Như thế, đời sống gia đình của Thánh Giuse, Mẹ Maria và Con Thiên Chúa phải là một đời sống tinh tuyền tuyệt đối nơi cả ba con người.

Với loài người, thì không thể, nhưng với Thiên Chúa thì việc gì cũng có thể. Và chúng ta tin rằng, đức cậy trông nơi Thánh Giuse phải là tuyệt hảo. Chính vì đức trông cậy và nhờ vào sức mạnh của Thiên Chúa, mà Thánh Giuse vượt thắng những yếu hèn của đời người, gìn giữ được đức công chính, vẻ đẹp nguyên tuyền của mình trong trắng thanh cao như nhành huệ, đồng thời bảo bọc được sự đồng trinh trọn đời của người bạn đời chí thiết.

Hình ảnh người con mà đức tin cho biết là “Con Thiên Chúa” trong gia đình, có thể nói là yếu tố quan trọng vào bậc nhất trong việc hình thành đức cậy trông nơi Thánh Giuse. Người “con làm việc của Cha trên trời” và “càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan” là hoa trái của đức cậy trông mà Thánh Giuse đã miệt mài ký thác.

Gia đình chúng ta hôm nay quên nhắm đến hạnh phúc do sự công chính, thánh thiện mang lại, mà chỉ nhắm đến hạnh phúc do những giá trị trần thế ban phát cho. Thật đáng trách cho mỗi gia trưởng chúng ta, khi không hướng gia đình đến đời sống thánh thiện thuần khiết, lại còn vướng vào những trào lưu tục hóa làm mất đi vẻ thánh thiện nguyên tuyền của hôn nhân công giáo. Thêm vào đó, lại không hướng niềm cậy trông vào Chúa mà lại đặt hy vọng nơi những thực tại hão huyền.

Chu toàn trách nhiệm trong đức mến

Hoa trái của Đức tin là đức mến. Đức Mến thôi thúc thánh Giuse chu toàn vai trò làm chồng làm cha trong gia đình. Từ việc đưa vợ về làm sổ bộ, lo cho vợ sinh nở, đưa vợ con trốn sang Ai cập, hồi cư, cắt bì và đặt tên cho con, dâng con vào đền thờ, tìm con khi lạc mất, cùng vợ con kiếm có cái ăn cái mặc… tất cả đều được thể hiện với tình yêu mến.

Chúa Giêsu lớn lên và trưởng thành mặt nhân tính trong cung lòng Mẹ Maria, thực ra trong trái tim yêu thương của Mẹ Maria và trong tấm lòng từ ái của Cha Thánh Giuse. Cả hai đầy tình yêu thương và tính trách nhiệm.

Tình thương đích thực bắt nguồn từ Thiên Chúa, và cụ thể nơi vợ chồng Maria, Giuse: Tình thương đó là hy sinh cho người mình yêu được hạnh phúc. Sự hy sinh ấy bao gồm cả tự do, ý chí, sự sống, thời gian và tất cả những gì tưởng như mình phải được, cũng bằng lòng mất đi. Sự hy sinh ấy được thể hiện với lòng khiêm cung, lịch sự, khoan dung, nhẫn nại. Và sự hy sinh ấy chính là nét họa bản tính của Thiên Chúa trong tâm hồn mỗi con người có lòng yêu mến Ngài.

Cả Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria đều đã thắm đẫm tình yêu của Thiên Chúa. Vì yêu nhau bằng tình yêu của Thiên Chúa, nên việc chu toàn trách nhiệm với đứa con được sinh ra cũng chính là chu toàn trách nhiệm mà Thiên Chúa giao phó trong nhiệm cuộc của Ngài.

Tình mến không vị kỷ. Tình mến không huênh hoang. Tình mến không nóng nảy…. là tình mến của Thánh Giuse. Tình mến chứa chan sự công chính thánh thiện, tràn đầy niềm hân hoan, vẻ dịu dàng, nét khiêm tốn là tình mến của Thánh Giuse. Tình mến ấy phải là tình mến chuẩn mực cho các gia trưởng hôm nay.

Nghĩ về mình, có thể có đôi người trong chúng ta đang được niềm vui mừng vì đã theo gương nhân đức của Thánh Giuse trong đời sống gia đình, nhưng thiết tưởng, đa số trong chúng ta chưa chọn lấy tình mến chuẩn mực của Ngài làm tiêu chí sống đời vợ chồng gia đình. Thật đáng tiếc.

Tháng 3 lại về, tháng kính Thánh Giuse, cho chúng ta một cơ hội nhìn vào gương sống của thánh quan thầy các gia trưởng mà suy nghĩ về:

* Mầu nhiệm gia đình, trước tiên, phải xác tín gia đình là một mầu nhiệm trong nhiệm cuộc sáng tạo và cứu rỗi nhân loại.

* Đức tin của chúng ta, Đức tin vào Thiên Chúa yêu thương và quan phòng, đã chọn lựa và chỉ định cho chúng ta người bạn đời, để sống với nhau mà thực hiện thánh ý Chúa.

* Đức trông cậy của chúng ta, đức trông cậy duy nhất nơi sức mạnh của Thiên Chúa mới giúp chúng ta sống công chính thánh thiện và bình an hạnh phúc.

* Đức mến của chúng ta, đức mến phải được mặc lấy lòng khoan dung từ bi nhân hậu của Thiên Chúa mà chu toàn bổn phận Chúa giao phó trong sứ mệnh sáng tạo và cứu rỗi ngay trong chính gia đình mình.

Nguyện xin Thánh Giuse cầu thay nguyện giúp cho mỗi gia trưởng chúng con biết noi gương nhân đức Ngài, mà thăng hoa cuộc lữ hành trần thế của chúng con trên đường công chính.

PM Cao Huy Hoàng

 

 


Tìm hiểu về lễ Thánh Giuse 19/3 “Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria”

 Lm. Phan Tấn Thành, O.P

Lần đầu tiên tên Thánh Giuse được nhắc đến vào ngày 19/3 là một cuốn “Tử đạo thư” (martyrologium: nêu danh tánh của các thánh nhân dịp kỷ niệm ngày qua đời của các đấng) thế kỷ VIII của một đan viện Biển-đức ở Rheinau (thuộc tổng Zurigô, Thụy sĩ). Vào thế kỷ IX, một đan viện khác cũng thuộc dòng Biển-đức ở Reichenau (miền nam nước Đức) tưởng nhớ người vào ngày 19/3, và cũng có thể là nơi xuất phát phong trào phổ biến lòng tôn kính thánh nhân. “Tử đạo thư” thế kỷ X của Fulda đã đặt tiêu đề ngày 19/3 là: “Tại Bêlem, Thánh Giuse, Đấng dưỡng nuôi Chúa” (In Bethleem, sancti Joseph, nutritoris Domini).

Thánh Giuse

Giáo Hội nhìn nhận tầm quan trọng của Thánh Giuse không chỉ qua những tuyên ngôn, những văn kiện, nhưng nhất là qua những việc tôn kính đạo đức. Trong chương hai, chúng tôi đã nói qua sự phát triển của lòng sùng kính Thánh Giuse trải qua các thế kỷ. Trong mục này, chúng ta hãy tìm hiểu lịch sử và ý nghĩa của vài hình thức cụ thể, được xếp vào hai loại chính:

Những hình thức phụng vụ, theo lịch phổ quát và địa phương: lễ kính Thánh Giuse ngày 19/3 (bài lễ; kinh tiền tụng và phụng vụ giờ kinh); lễ ngoại lịch kính Thánh Giuse; lễ Thánh gia; lễ Thánh Giuse lao động; lễ kính cuộc kết hôn; lễ kính Thánh Giuse bảo trợ Hội Thánh; tưởng nhớ việc trốn sang Ai-cập.

​Những việc đạo đức dân gian:

a) các kinh nguyện: kinh cầu Thánh Giuse; bảy sự vui buồn;

b) các thời điểm: thứ Tư hàng tuần, tháng 3 dương lịch.

Ngày lễ chính: 19 tháng Ba

Như đã nói trong chương 2, bên Đông phương, nghi điển Byzantin kính nhớ Thánh Giuse chung với các thánh tổ phụ vào mùa Giáng Sinh; riêng nghi điển Coptô (bên Ai cập) mừng vào ngày 26 tháng Abib. Bên Tây phương ngày lễ chính được cử hành vào ngày 19 tháng ba, với một tiến trình lịch sử kéo dài nhiều thế kỷ.

Lần đầu tiên tên Thánh Giuse được nhắc đến vào ngày 19/3 là một cuốn “Tử đạo thư” (martyrologium: nêu danh tánh của các thánh nhân dịp kỷ niệm ngày qua đời của các đấng) thế kỷ VIII của một đan viện Biển-đức ở Rheinau (thuộc tổng Zurigô, Thụy sĩ). Vào thế kỷ IX, một đan viện khác cũng thuộc dòng Biển-đức ở Reichenau (miền nam nước Đức) tưởng nhớ người vào ngày 19/3, và cũng có thể là nơi xuất phát phong trào phổ biến lòng tôn kính thánh nhân. “Tử đạo thư” thế kỷ X của Fulda đã đặt tiêu đề ngày 19/3 là: “Tại Bêlem, Thánh Giuse, Đấng dưỡng nuôi Chúa” (In Bethleem, sancti Joseph, nutritoris Domini).

Người ta không rõ nguồn gốc mối liên hệ giữa ngày 19/3 với Thánh Giuse. Một giả thuyết cho rằng trước kia đã có lễ Thánh Giuse Antiokia vào ngày 20/3 trong nhiều “tử đạo thư”. Có thể do sự trùng tên cho nên lịch đã ghi Thánh Giuse hôn phu của Đức Maria vào cùng ngày hoặc vào ngày hôm trước. Một giả thuyết nữa cho rằng thời xưa tại Rôma, ngày 19/3 là lễ của các người thợ tôn kính nữ thần Minerva; vì thế nó được thay thế bằng lễ kính Thánh Giuse là một người thợ xem ra dễ hiểu. Tiếc rằng chưa có đủ bằng chứng lịch sử về lễ kính Thánh Giuse thợ vào các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo. Dù nguồn gốc như thế nào đi nữa, việc mừng lễ Thánh Giuse vào ngày 19/3 đã được thành hình từ đầu thiên niên kỷ thứ hai.

Vào khoảng năm 1030, một đan viện dòng Biển-đức tại Winchester đã cử hành lễ Thánh Giuse. Cũng trong thế kỷ này, dòng Cát-minh từ thánh địa trở về châu Âu đã góp phần vào việc quảng bá lòng sùng kính.

Vào năm 1129 các đan sĩ Biển-đức thuộc đan viện Thánh Hêlena đã cất một nhà thờ dâng kính Thánh Giuse ở Borgo Galliera (thành phố Bologna, Italia). Có thể nói được đây là trung tâm phổ biến lòng sùng kính thánh nhân sang các nơi khác. Cũng tại nơi đây, tên Thánh Giuse, vốn đã trở thành quen thuộc bên Đông phương, bắt đầu được đặt cho các trẻ em khi lãnh nhận bí tích thánh tẩy. Có lẽ lòng đạo đức sơ khởi kính Thánh Giuse trong dòng Phan-sinh bắt nguồn do ảnh hưởng của cuộc tiếp xúc với Bologna.

Sang thế kỷ XIII, chúng ta tìm thấy những bản văn được soạn để mừng lễ. Tại Liège có môït lời nguyện riêng cho Thánh Giuse. Đan viện Biển-đức Thánh Lorensô tại thành phố đó đã có toàn bộ kinh nguyện, với cung hát, để tôn kính người. Đan viện Thánh Florianô ở nước Áo có một quyển sách lễ với một bài lễ kính Thánh Giuse, và một bài lễ khác kêu cầu những công nghiệp của người “chống lại sự phỉ báng của phường tội lỗi”.

Trong thế kỷ XIII, các tu sĩ dòng Phan-sinh đã tự động mừng lễ Thánh Giuse, và một “tử đạo thư” đã xếp ngày 19/3 như là ngày lễ duplex maior trong khi một quyển trước đó chỉ mừng với cấp duplex minor. Tại Pháp, nhà thờ Phan-sinh ở Toulouse có một nhà nguyện tôn kính Thánh Giuse từ năm 1222, và vào ngày 7/7/1275 một nhà thờ kế cận tu viện Phan-sinh ở Bourbonnais miền Champagne đã được cung hiến long trọng với thánh hiệu này.

Những cuộc thập tự chinh cũng là cơ hội để mang những di tích thánh từ thánh địa về châu Âu, ví dụ như cây gậy của Thánh Giuse, và chiếc nhẫn đính hôn người trao tặng Đức Maria.Vào năm 1254, một nhà nguyện được xây cất trong nhà thờ Thánh Lôrensô ở Joinville-sur-Marne (Pháp) để tôn kính dây thắt lưng và nơi đây đã trở thành trung tâm hành hương. Có lẽ tại những nhà nguyện được cất lên để tôn kính Thánh Giuse, lễ mừng kính người được cử hành vào tháng ba.

Vào ngày 1/5/1324, dòng Tôi Tớ Đức Mẹ trở thành dòng tiên khởi tuyên bố tại tổng hội rằng các thành viên của dòng phải cử hành trong tất cả nhà thờ của họ lễ Thánh Giuse được ấn định mừng vào ngày 15/3. Các tu sĩ dòng Tôi Tớ Đức Mẹ đã làm chủ nhà thờ Thánh Giuse ở Bologna kể từ năm 1301, và họ đã phổ biến việc cử hành lễ này. Tổng hội dòng Phan sinh vào năm 1399 cũng đã thiết lập lễ Thánh Giuse với chín bài đọc trong giờ kinh phụng vụ và một Thánh lễ sử dụng phần chung của các thánh “hiển tu” (Commune confessorum), đồng thời quyết định rằng lễ này phải được cử hành vĩnh viễn trong toàn Dòng. Tuy nhiên, không rõ các quyết nghị này có ảnh hưởng đến đâu.

Tại Agrigento (nam Italia), nơi có các tu viện của dòng Phan-sinh, Đa-minh, Cát-minh, vào thế kỷ XIV đã lưu hành “Kinh nguyện kính thánh cả Giuse, cha nuôi của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Officium Santissimi Joseph nutricii et patris adoptivi Domini nostri Jesu Christi). Trong phần điệp ca của kinh Magnificat, người được gọi là “dòng dõi ưu tuyển của Bêlem, được giải thoát khỏi mọi vết nhơ tội lỗi” (O proles almifica de Bethleem electa, gemma nimis ardua, ab omni labe erepta).

Những chi tiết vừa rồi nhằm trình bày nguồn gốc của việc mừng kính lễ trong tháng Ba cùng với việc phát triển ở phương Tây. Sang thế kỷ XV, ngày lễ mới bắt đầu được phổ biến hơn. Tại công đồng Constance (1414-1418) các nghị phụ đã nghe Cha Jean Gerson thuyết minh về lời bầu cử đầy quyền năng của Thánh Giuse, Đấng đã sai khiến hài nhi Giêsu và Đấng có thể được kêu cầu cách hiệu nghiệm để chấm dứt nạn ly giáo đang gây đau khổ cho Hội Thánh. Cha Gerson đã xin công đồng xem xét và phong ban cho Thánh Giuse một danh dự lớn lao hơn. Tuy nhiên, xem ra ảnh hưởng của dòng Phan-sinh trong thế kỷ này mới thực là nhân tố chính cho việc bành trướng ngày lễ.

Các tu sĩ dòng Phan-sinh như Thánh Bernardinô Siena (+1414) không chỉ giảng về Thánh Giuse mà còn phân phát lược đồ các bài giảng nữa. Tu sĩ Bernardinô Feltre đã thiết lập ở khắp nước Ý những quỹ tín dụng (cho vay không lãi) mang tên là “những ngọn núi đạo đức” (Monte di pietà) đặt dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse. Năm 1461 ở Salamanca, tổng hội dòng Phan-sinh (nhánh nhiệm nhặt) đã ấn định ngày lễ vào 19/3. Năm 1471, một người bạn của Cha Bernardinô Feltre và là nguyên Bề trên tồng quyền của dòng Phan sinh đắc cử giáo hoàng, đó là đức Sixtô IV. Vào tháng mười một năm 1480, người cho phép dòng Phan-sinh được cử hành mừng lễ bậc duplex maior ngang hàng với các lễ Hiển Linh, Truyền Tin, và Phục Sinh. Mặc dầu là đặc ân được ban cấp cho một dòng tu, nhưng sự phê chuẩn công khai của đức thánh cha đã mở đường cho việc bành trướng lễ rộng rãi hơn. Nhiều ấn bản của Sách lễ Roma và Sách nguyện, chẳng hạn như những quyển do tu sĩ Philipphê Rotingo ở Venise xuất bản năm 1481, đã sắp xếp ngày lễ với bậc duplex maior với bài đọc riêng. Người ta cho rằng đức Sixtô IV đã mở rộng lễ này ra khắp Hội Thánh với cấp simplex, mặc dầu chưa có tính cách bó buộc. Một ấn bản Sách lễ Roma tại Venise do Giovanni Sessa in vào năm 1497 đăng lịch của dòng Phan-sinh với ngày lễ này và những bản văn riêng mà Sách Lễ của đức Piô V sẽ sử dụng.

Qua thế kỷ XVI, người ta thấy sự bành trướng của việc cử hành lễ 19/3 trong các giáo phận và các dòng tu, với việc ghi tên trong các lịch phụng vụ cùng với việc xuất bản những bản văn dùng trong các Sách lễ và Sách nguyện. Việc cải tổ Phụng vụ sau công đồng Trentô đã thiết lập sự thống nhất các sách phụng vụ trong toàn thể nghi lễ Latinh. Khi đức Piô V cho xuất bản Sách nguyện (năm 1568) và Sách lễ Roma (năm 1570), ngày 19/3 được dành kính “Thánh Giuse hiển tu” ở bậc duplex. Nói chung, những lời nguyện được trích từ bài lễ của các vị thánh khác (Thánh Matthêu và Thánh Tôma). Tuy nhiên, trong thế kỷ này, nhiều thánh thi và lời nguyện được sáng tác và sử dụng trong các lịch riêng, kể cả sau cuộc canh tân của đức Piô V.

Theo lời yêu cầu của nhiều quốc gia và đoàn thể , đức Grêgôriô XV tuyên bố lễ Thánh Giuse là ngày lễ buộc trong toàn thể Giáo Hội (ngày 8/5/1621). Ngày 6/12/1670, đức Clêmentê X nâng lên bậc duplex secundae classis, và soạn ba bài thánh thi cho giờ kinh phụng vụ (kinh Chiều: Te Ioseph celebrent; kinh Sách: Caelitum, Ioseph, decus; kinh Sáng: Iste, quem laeti).

Ngày 4/2/1714, đức Clêmentê XI phê chuẩn những bản văn riêng cho ngày lễ 19/3, bao gồm những thánh thi đã được đức Clêmentê X chứng nhận. Ngày 8/12/1870 đức Piô IX công bố Thánh Giuse là bảo trợ của Hội Thánh và nâng lễ Thánh Giuse lên bậc duplex primae classsis.

Trong thông điệp Quamquam Pluries năm 1889, đức Lêô XIII ước muốn rằng tại những nơi nào mà ngày 19/3 không phải là lễ buộc thì cũng nên được tuân giữ với lòng đạo đức và lòng nhiệt thành như ngày lễ buộc.

Năm 1911 đức Piô X dời ngày lễ vào Chúa nhật sau ngày 18/3 như để giảm bớt số lượng ngày lễ buộc trong tuần. Tuy nhiên, chỉ sau ba tuần lễ, do những cuộc tranh luận về phụng vụ mùa Chay, lễ Thánh Giuse được mừng trở lại vào ngày 19/3 ở bậc duplex primae classsis, nhưng không phải là lễ buộc, với tiêu đề mới “Lễ Trọng Kính Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria, Hiển Tu” (Commemoratio Sollemnis S.Ioseph, Sponsi B.M.V. Confessoris). Với việc cải tổ phụng vụ năm 1913, ngày lễ được giảm xuống bậc duplex secundae classis.

Khi đức Bênêđitô XV ban hành bộ Giáo luật năm 1917, điều khoản 1247 một lần nữa ấn định lễ Thánh Giuse là ngày lễ buộc trong toàn thể Hội Thánh. Hậu quả là vài tháng sau, lễ phụng vụ được nâng lên bậc duplex primae classsis. Trong bộ Giáo luật 1983, lễ Thánh Giuse là một trong mười ngày lễ buộc của Hội Thánh hoàn vũ, tuy hội đồng giám mục địa phương có thể xin loại bỏ các ngày đó.

Năm 1956 một quyết định quan trọng theo sau việc thiết lập lễ Thánh Giuse Lao Động là huỷ bỏ lễ Thánh Giuse Bảo Trợ được cử hành vào ngày thứ Tư trong tuần thứ ba sau lễ Phục Sinh. Sắc lệnh này đã nối kết tiêu đề của lễ trọng này: “Bảo trợ Hội Thánh hoàn vũ” vào ngày lễ chính của Thánh Giuse 19/3.

Năm 1969 trong lịch phụng vụ canh tân do đức Phaolô VI ban hành, ngày 19/3 được xếp vào hàng lễ trọng và mang tiêu đề “Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria” (S.Ioseph, Sponsi B.M.V.). Với sự thay đổi này, không chỉ ngày lễ mà cả tiêu đề “bảo trợ Hội Thánh hoàn vũ” cũng bị loại bỏ.

Bản văn Thánh lễ ngày 19/3

Sách Bài đọc ban hành năm 1969 ấn định ba bài đọc như sau: 2 Sm 7,4.12-14a.16 (đức Mêsia dòng dõi vua Đavit); Rm 4,13.16-18.22 (gương mẫu đức tin); Mt 1,16,18-21.24 hay Lc 2,41-51a.

Sách lễ Roma ban hành năm 1970 có những lời nguyện mới về Thánh Giuse trong thánh lễ, đề cao vai trò của người trong nhiệm cục cứu độ và về niềm vui của Hội Thánh có Thánh Giuse là mẫu gương và đấng bầu cử. Những bản văn hiện tại chú trọng đến Thánh Giuse trong tương quan với Đức Kitô và với Hội Thánh:

đối với Đức Kitô, Thánh Giuse “đã hết lòng phục vụ Đức Kitô, Con Một Chúa”. “Chúa đã giao phó Con Một Chúa chăm sóc giữ gìn như người cha lo cho con cái”.

đối với Hội Thánh, Thánh Giuse là vị bảo trợ “được thánh nhân phù trợ ở dưới thế gian này thì cũng được cầu thay nguyện giúp trước toà Chúa”; đồng thời người cũng là mẫu gương cho Hội Thánh trong việc “cộng tác với Đức Giêsu để hoàn tất công trình Người đã khởi đầu”, biết “phục vụ hy sinh suốt đời như người tôi trung”.

Kinh Tiền Tụng duy trì bản văn được đức Bênêđitô XV châu phê ngày 9/4/1919, tóm tắt những điều chính yếu của Tin Mừng về vai trò thánh Giuse “người công chính, kết bạn với Đức trinh nữ Mẹ Chúa Trời ... tôi tớ trung tín và khôn ngoan được trao phó coi sóc Thánh gia”, để thay quyền Chúa Cha “gìn giữ Đức Giêsu Kitô, Con Một Chúa Nhập Thể bởi quyền năng Thánh Thần”.

Phụng vụ các giờ kinh

Khi bàn về lịch sử lễ kính Thánh Giuse, chúng ta đã đề cập đến sự phát triển của Sách nguyện về lễ này. Vào thế kỷ XIII, một đan viện dòng Biển-đức ở Liège đã có một bài nguyện riêng, và vào năm 1399, các tu sĩ dòng Phan-sinh đã đọc các giờ kinh với chín bài đọc. Đức Sixtô IV (1471-1484) thuộc dòng Phan-sinh đã đưa các bản văn này vào Sách nguyện Roma. Nhiều sách nguyện khác có kinh phụng vụ kính Thánh Giuse vào thế kỷ XVI. Sau công đồng Trentô, những bản văn được thống nhất dưới thời đức Piô V (1566-1572) nhưng bản văn đầy đủ hơn được đức Clêmentê XI công bố ngày 4/2/1714 mà người ta nói do chính người soạn ra. Những bản văn này không thay đổi trong hai thế kỷ rưỡi, cho đến khi duyệt lại sách phụng vụ giờ kinh năm 1971 bao gồm những bản văn mới cho ngày lễ 19/3, lễ Thánh Gia, lễ Thánh Giuse Lao Động.

Lễ ngoại lịch kính Thánh Giuse

Lễ ngoại lịch kính Thánh Giuse bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XIII, và được đưa vào nhiều Sách lễ xuất bản vào thế kỷ XVI như ở Orleans, Paris, Strasbourg, Salzburg, Chalon va Reims.

Sắc lệnh năm 1883 cho phép các công nghị giáo phận và các cộng đoàn tu trì sáng tác các kinh nguyện ngoại lịch và ấn định những lễ ngoại lịch vào các ngày khác nhau trong tuần, riêng ngày thứ Tư là: “Thánh Giuse, bạn của đức Trinh Nữ Maria, bảo trợ của Hội Thánh Công giáo”. Tiêu đề này xuất hiện ở phần “Lễ nhớ ngoại lịch quanh năm” trong Sách lễ Roma được xuất bản dưới thời đức Lêô XIII, nhưng trong ấn bản của đức Bênêđitô XV, tiêu đề chỉ còn giữ lại “Lễ Thánh Giuse” mặc dầu các bản văn không thay đổi. Thỉnh thoảng giáo quyền ban phép cho một vài hội dòng được cử hành lễ nhớ ngoại lịch vào những dịp không bị ngăn trở bởi lịch phụng vụ.

Trong Sách lễ Roma năm 1970, các thánh lễ ngoại lịch không còn gắn với ngày nào đặc biệt trong tuần nữa, nhưng được xếp theo thứ tự hệ thống cấp bậc: bắt đầu với lễ Chúa Ba Ngôi, Đức Maria ở vị trí thứ tám, các thiên thần ở vị thế thứ chín, Thánh Giuse được xếp vào hàng thứ mười, trước các tông đồ.

Ca nhập lễ trích từ Lc 12,42 và ca hiệp lễ lấy từ Mt 25,21 nhằm trình bày Thánh Giuse như mẫu người đầy tớ trung tín mà Đức Kitô nói đến. Lời tổng nguyện của bản văn cũ vẫn duy trì, trong khi lời nguyện trên lễ vật và lời nguyện hiệp lễ là những bản văn mới, xin vì mẫu gương và lời chuyển cầu của Thánh Giuse, người công chính và vâng phục cùng là thừa tác của các mầu nhiệm cứu độ giúp chúng ta sống thánh thiện và công chính trong tác vụ của mình.

(Trích: Sứ Mạng Thánh Giuse Trong Cuộc Đời Chúa Kitô & Hội Thánh)