Trang

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2021

03-01-2021 : CHÚA NHẬT CHÚA HIỂN LINH Năm B

 

03/01/2021

 Chúa Nhật CHÚA HIỂN LINH.

Lễ trọng. Lễ HỌ. Cầu cho giáo dân.

 


BÀI ĐỌC I: Is 60, 1-6

“Vinh quang Chúa xuất hiện trên ngươi”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi.

Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi.

Hãy ngước mắt lên chung quanh, và hãy nhìn coi: tất cả những người đó đang tập họp, đang tìm đến với ngươi; các con trai của ngươi tự đàng xa đi tới, và các con gái ngươi đứng dậy từ khắp bên hông.

Bấy giờ ngươi sẽ nhìn coi, và ngươi trở nên rực rỡ, tim ngươi sẽ rạo rực và sẽ phồng lên. Bởi vì những kho tàng bể khơi tuôn đến với ngươi, nguồn phú túc của chư dân sẽ tới tay ngươi. Những con lạc đà tràn ngập vây phủ lấy ngươi, những lạc đà một bướu tự xứ Mađian và Epha; tất cả những ai từ Saba đi tới, đem theo vàng và nhũ hương, và họ sẽ tuyên rao lời ca ngợi Chúa. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 71, 2. 7-8. 10-11a. 12-13

Đáp: Lạy Chúa, mọi dân tộc trên địa cầu đều thờ lạy Chúa (x. c. 11b).

Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người đoán xét dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực. – Đáp.

Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người, cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng. Và người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái đến tận cùng trái đất. – Đáp.

Vì người sẽ giải thoát kẻ nghèo khó khỏi tay kẻ quyền thế, và sẽ cứu người bất hạnh không ai giúp đỡ. Người sẽ thương xót kẻ yếu đuối và người thiếu thốn, và cứu thoát mạng sống kẻ cùng khổ. – Đáp.

Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca ngợi người. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Ep 3, 2-3a. 5-6

“Bây giờ được tỏ ra rằng các dân ngoại được đồng thừa tự lời hứa”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, (chắc) anh em đã nghe biết rằng: Thiên Chúa đã ban cho tôi việc phân phát ân sủng cho anh em, là theo ơn mạc khải cho tôi biết, tôi đã được thấu hiểu mầu nhiệm mà con cái loài người các thế hệ khác không được biết, nhưng nay đã mạc khải cho các thánh Tông đồ của Người, và cho các vị Tiên tri, nhờ Thánh Thần. Và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Người trong Chúa Giêsu Kitô. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Mt 2, 2

Alleluia, alleluia! – Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đã đến để triều bái Người. – Alleluia. 

PHÚC ÂM: Mt 2, 1-12

“Chúng tôi từ phương Đông đến thờ lạy Đức Vua”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Đông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: “Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người”. Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Đức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: “Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Đấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta”.

Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: “Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người”. Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình. Đó là lời Chúa.

 


Suy Niệm: Tin Mừng cho lương dân

Lễ Hiển linh ngày nay không còn long trọng như ngày trước. Nó không còn là cao điểm có nhiều Chúa Nhật theo sau làm thành một mùa phụng vụ Hiển linh nữa. Nay, Hiển linh chỉ còn là lễ sau hết của mùa Giáng sinh. Và như thế cũng dễ hiểu. Vì Hiển linh là gì, nếu chẳng phải là việc Ðấng Linh thiêng tỏ hiện ra? Thế mà còn việc tỏ hiện nào rõ rệt hơn chính Ðấng Linh thiêng mặc lấy xác thịt sinh ra làm người? Giáng sinh là Hiển linh vậy.

Tuy nhiên, lễ Hiển linh hôm nay cũng có một đối tượng rõ rệt. Nó nói đến việc Thiên Chúa Giáng sinh làm người tỏ mình ra cho dân ngoại, cũng như Người đã tỏ mình ra cho dân Dothái khi gọi mục đồng đến thờ lạy và khi để cho ông Simêon và bà Anna nhìn thấy Người nơi Ðền thờ. Lễ Hiển linh nằm trong mầu nhiệm Thiên Chúa tỏ bản tính thần linh của Người ra cho mắt phàm của loài người chúng ta được nhìn thấy Người. Nhưng những kẻ được nhìn thấy Người hôm nay không phải là dân Dothái nữa, mà là các dân ngoại. Và điều này được cả ba bài đọc Kinh Thánh của Phụng vụ Thánh lễ hôm nay đồng thanh nói lên.

 

1. Isaia Ðã Tiên Báo Mầu Nhiệm Này

Bài sách của ông ngày nay được thẩm định như một bản văn khởi hứng vào mùa thu năm 520. Dân Dothái mới được phép hồi hương. Ðoàn người đạo đức về trước đã lập lại được bàn thờ ở Yêrusalem và đang xây dựng lại cả ngôi thánh đường ngày trước. Ai ai cũng phấn khởi. Dịp lễ Trại càng nô nức hơn nữa. Có lẽ chính bối cảnh đó đã khởi hứng cho tác giả của đoạn tiên tri hôm nay.

Ông nhìn vào các tường thành đang mọc lên và ông thốt ra lời phấn khởi: hãy vùng đứng, hỡi Yêrusalem; vì ánh sáng của Thiên Chúa cứu độ đã tỏa xuống trên ngươi. Hết rồi các thời ngươi bị nhục nhã tiêu điều trong cảnh lưu đày.

Ngược lại, kìa xem các dân tộc đang tối tăm trong gió bụi. Bàn tay Thiên Chúa đang đè nặng trên họ. Còn ngươi, bây giờ bình an đang xây lại giao ước với Thiên Chúa tín thành... Người mà vùng lên trong chiều hướng này thì rõ ràng các Lời Thiên Chúa cùng tổ phụ chúng ta sẽ thực hiện. Mọi dân đang đi trong tối tăm lầm lạc sẽ nhìn thấy ánh sáng chiếu trên ngươi mà tuôn đến. Họ đem theo cả con cháu ngươi đã phân tán trong thời lưu lạc trở về. Họ mang nhiều thổ sản đến dâng lễ cho Thiên Chúa.

Như vậy tác giả đã căn cứ vào thực tại để nói lên niềm tin vào tương lai theo như lời Chúa hứa. Lời của ông đúng thật là lời tiên tri, theo nghĩa tiên báo về thời sau hết, khi mọi Lời Hứa được thực hiện. Do đó nó vượt xa hơn cả thời thiên sai nữa, nếu ta hiểu thời này là lúc Chúa Cứu thế sinh ra trong xác thịt. Nó nói về thời cánh chung, khi mọi sự được hoàn tất. Và như thế, tác giả sách Khải huyền thật có lý khi mượn lại những lời tiên tri hôm nay để nói về Yêrusalem trên trời (21,9-27).

Nhưng không thể có Yêrusalem trên trời trước khi có Yêrusalem dưới đất. Không phải Yêrusalem "hình bóng" nơi dân Dothái mà là Yêrusalem "chân thật" là Hội Thánh chúng ta.

Do đó, lời tiên tri hôm nay cũng đưa về Hội Thánh đang trên đường lữ thứ trần gian, Hội Thánh mà Công đồng Vatican 2 đã tuyên xưng là "ánh sáng muôn dân". Và trong thực tế, Hội Thánh này đang quy tụ muôn dân muôn nước, mà trước đây là dân ngoại. Hội Thánh đã được ánh sáng của Thiên Chúa chiếu soi ngay từ hôm Thánh Thần hiện xuống. Các dân tộc bắt đầu đến với Hội Thánh ngay từ hôm đó. Sự hiện diện của Hội Thánh ở giữa thế giới nói lên rằng lời tiên tri Isaia đang được thực hiện.

Và như thế là nhờ ở ánh sáng của Thiên Chúa cứu độ đang tỏa trên Hội Thánh như mây sáng phủ trên Lều Giao ước trên đường đi giữa sa mạc. Vì nếu không có "Chúa ở với Hội Thánh hằng ngày cho đến tận thế", Hội Thánh không thể quy tụ được muôn dân nước như vậy. Chính Ðức Yêsu, Con Thiên Chúa giáng trần làm người đã đem ánh sáng mới vào thế gian và đặt nơi Hội Thánh. Chính Người sau khi tử nạn và phục sinh đã tuôn đổ Thánh Thần xuống dưới hình lưỡi lửa để Hội Thánh trở thành ánh sáng muôn dân.

Và như thế lời Isaia nói về Yêrusalem ở thời cánh chung cũng như trong giai đoạn lữ thứ trần gian, cuối cùng phải căn cứ vào việc Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh trong xác thịt để tỏ vinh quang Thần tính cho thiên hạ được thấy. Phụng vụ có lý để đọc bài tiên tri này trong ngày lễ hôm nay. Và chúng ta được khuyến khích nhìn vào con trẻ thành Bêlem như là cứu tinh các dân tộc, vì Người thật là ánh sáng chiếu trong Hội Thánh.

 

2. Thánh Mátthêu Nhìn Thấy Mầu Nhiệm

Người diễn tả mầu nhiệm trong bài Tin Mừng hôm nay. Bề ngoài người như muốn thuật truyện, nhưng thật ra người đã mượn truyện để nói lên niềm tin Ðức Yêsu là ánh sáng muôn dân và là nhà của Người là Hội Thánh sẽ tập họp muôn nước. Chính vì vậy mà câu truyện người kể có nhiều thiếu sót về văn chương khiến hậu thế đã tìm cách bổ sung bằng nhiều ý kiến khác thường.

Người ta muốn xác định có những vị vua từ Batư tới mang theo các lễ vật để dâng Chúa. Vìcó vàng, hương và mộc dược nên hãy quy định họ là phái đoàn 3 người cho tiện. Ðàng khác, con số 3 này lại nhắc nhở tới 3 người con Noe là tổ phụ của tất cả loài người sau nạn lụt. Họ có thể đã từ Batư tới bởi vì năm 614 khi quân đội nước này đến tàn phá thánh địa họ đã kính trọng đền thờ ở Bêlem vì trong đó có họa những người mặc y phục Batư đến thờ lạy Hài nhi. Nhưng nếu như vậy thì không nên coi họ là vua cho dù danh từ hợp với những câu thánh vịnh (72,10) nói rằng: "Vua Chúa Tarsis và các đảo sẽ kiệu đến lễ vật; Vua Chúa Sêba và Saba sẽ đem triều cống lại chầu". Ở Batư không có nhiều vua cùng một lúc, nhưng lại có nhiều đạo sĩ, cũng là những nhà hiền triết thông thạo Kinh Thánh Batư và thường được các hoàng đế Batư thỉnh vấn. Nabuchodonosor khi đến Yêrusalem (Yr 39,3-13) cũng đem theo một vị đạo sĩ như thế để bàn hỏi.

Nhưng tất cả những yếu tố đó không quan trọng đối với thánh Matthêu. Người chú trọng giới thiệu Ðức Yêsu là Cứu thế, Ðấng mà ở thời thánh Matthêu, người Dothái không chịu công nhận đang khi các dân ngoại gia nhập Hội Thánh. Thế nên vai trò chính trong câu truyện là những con người đến từ phương Ðông và các tư tế ở Yêrusalem. Dân ngoại nhờ đường lối tự nhiên đã khởi sự tìm ra Chúa; trong khi dân Dothái có sách Thánh mà không biết đến Người. Nói đúng hơn, dân ngoại cũng phải nhờ người Dothái công bố sách Thánh thì mới thành công trong việc đi theo đường lối tự nhiên, bởi vì ơn cứu độ bởi dân Dothái mà đến. Nhưng dân này đọc sách Thánh mà không hiểu, đang khi chỉ một vài chỉ dẫn của Thánh Kinh đã giúp được dân ngoại lên đường gặp Chúa.

Ở đây nói cho đúng không phải là lời sách Isaia mà là lời tiên tri Mikê, cũng đồng thời với Isaia. Mikê thấy dân Chúa đang hoảng hốt trước sức mạnh xâm chiếm của ngoại bang (Assyria), ông được lệnh an ủi và củng cố dân... Không có gì phải sợ tên "Gôliát" ấy, vì Chúa sẽ cho xuất hiện một Ðavít mới từ Bêlem, làng nhỏ xíu của đất Yuđa. Như vậy thì Bêlem đâu có nhỏ nữa; nên thánh Matthêu mới đổi lại câu và viết: Bêlem hẳn không phải là nhỏ nhất trong hàng bộ lạc Yuđa. Thánh Matthêu nghĩ đến Chúa Yêsu sinh ra ở Bêlem, Người sẽ làm lớn vì sẽ chăn dắt Israel Dân Chúa.

Các đạo sĩ sẽ nhận ra Người khi nghe lời Kinh Thánh mà tiếp tục cuộc hành trình đã khởi sự từ phương Ðông. Ngôi sao lạ lại xuất hiện dẫn đường. Chính nó đã khiến họ biết có một vị cứu tinh hay cứu thế đã ra đời, vì người xưa vẫn quan niệm đời những nhân vật xuất chúng thường gắn liền với một vì sao. Chúa cho họ thấy một sao lạ hiện ra ở trên trời. Họ đinh ninh ngay rằng đó là ngôi sao của một vị cứu tinh mới. Chúa dùng đường lối tự nhiên, phù hợp với họ, để đưa họ lên đường cứu rỗi. Họ đến Yêrusalem. Ðiều này làm chứng nỗi chờ mong vị cứu thế ở trong dân Chúa đã được những dân tộc chung quanh nghe biết. Họ hỏi vua Hêrôđê. Nhưng nơi dân Chúa, muốn biết chân lý phải đọc Thánh Kinh Lời Chúa sẵn đó, nhưng phải thi hành, có đi đến Bêlem mới gặp; chứ không cố gắng như các luật sĩ ở lại Yêrusalem thì chẳng bao giờ nhìn thấy ánh sáng cứu độ đã tỏa xuống trên Yêrusalem mới là Hài nhi thành Bêlem và Hội Thánh mới mẻ của Người.

Như vậy, thánh Matthêu đã có nhiều ẩn ý khi viết bài Tin Mừng hôm nay. Ðó là Tin Mừng cho lương dân và đúng hơn cho Hội Thánh của Chúa Yêsu. Ngược lại nó gây lo lắng buồn phiền cho Yêrusalem cũ, là những người Dothái không đón nhận Chúa Yêsu. Ðúng như Yoan viết trong chương mở đầu sách Tin Mừng thứ tư: "Người đã đến trong nhà Người mà gia nhân của Người đã không tiếp nhận. Còn ai tiếp nhận thì Người đã ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa... Và chúng tôi đã được ngắm vinh quang của Người".

Ðiều này cũng là ý của bài thơ Phaolô hôm nay. Theo người: mầu nhiệm trong các thế hệ trước chưa hề thông tri cho con cái loài người, thì nay đã được mạc khải ra: ấy là dân ngoại cũng là kẻ thừa tự, là thân mình, và đồng hưởng lời hứa trong Ðức Yêsu Kitô nhờ Tin Mừng.

Nhưng không thể Phụng vụ hôm nay chỉ nói lên mầu nhiệm đó để Hội Thánh tạ ơn và để chúng ta biết mình đã được Chúa thương kêu gọi từ dân ngoại vào hưởng gia nghiệp Dân Chúa. Bài sách Isaia đã căn cứ vào thực tại nhưng muốn người ta nhìn xa hơn cho đến tận cùng lịch sử. Phụng vụ hôm nay cũng khuyên chúng ta hướng mắt về thời cánh chung mà vùng lên, bừng sáng lên để lôi cuốn, chỉ đường cho các dân tộc xây dựng ngày mai tươi sáng. Ý tưởng của bài thư Phaolô cũng vậy. Thánh Tông đồ viết ra để thúc đẩy chúng ta nhiệt tình với công cuộc truyền giáo. Và bài Tin Mừng rõ ràng khuyến khích mọi người lên đường tìm Chúa theo gương các đạo sĩ.

Chúng ta sẽ thành thật tham dự mầu nhiệm Hiển linh này, nếu sau khi thờ lạy Chúa trong Phụng vụ chúng ta cũng vươn lên, bừng sáng, tức là có nếp sống tốt đẹp hơn, để soi sáng cho người khác biết Chúa; chúng ta cũng phải lên đường với tha nhân, nêu lên với họ những câu nói về Chúa. Có khi chính chúng ta sẽ thấy phải rở lại sách Thánh; và lần này đọc lên chúng ta sẽ hiểu rõ thời điềm, tức là đọc thấy ý Chúa nơi mọi sự việc xảy đến hằng ngày. Có thể có nhiều ánh sao đang chờ đợi dẫn đưa chúng ta đến gặp Chúa và đưa người ta đến với Người. Và như vậy, năm nay cũng có một lễ Hiển linh cho chúng ta.

 

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa

của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

 


Lectio Divina: Chúa Hiển Linh (B)

Chủ Nhật 3 Tháng Một, 2021

Lectio Divina | Lectio Divina Năm B

 

Hành trình đức tin của ba vị Đạo Sĩ

Việc bái thờ Chúa Giêsu Hài Đồng là Vua và là Chúa

Mt 2:1-12 

1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Cha nhân từ, Chúa đã gọi con để gặp gỡ Chúa trong lời này của Tin Mừng, bởi vì Chúa muốn con được có sự sống, Chúa muốn ban cho con chính bản thân Chúa.  Con cầu xin Chúa, xin Chúa hãy sai Thánh Thần Chúa xuống trên con để con được dẫn dắt trên con đường thiên liêng của đoạn Kinh Thánh này.  Hôm nay, nguyện xin cho con có thể bước ra khỏi nhà tù của chính mình để bắt đầu cuộc hành trình đi tìm kiếm Chúa.  Xin cho con có thể nhận ra ánh sao mà Chúa đã thắp sáng như là dấu hiệu tình yêu của Chúa trên cuộc hành trình của con để bước theo nó không hề mệt mỏi, một cách mạnh dạn, dấn thân cả cuộc đời con.  Cuối cùng, xin cho con được bước vào nhà Chúa và ở đó được trông thấy tôn nhan Chúa, xin cho con biết cúi lạy cách khiêm tốn để bái thờ trước nhan Chúa và dâng lên Chúa cuộc sống của con, cả con người con và tất cả những gì con có.  Lạy Chúa, nhờ vào ân sủng Chúa, xin cho con có thể trở về bằng một con đường mới, mà không bao giờ đi qua những con đường cũ của tội lỗi.

2.  Bài đọc

a) Bối cảnh của đoạn Tin Mừng

Đoạn Tin Mừng này thuộc về hai chương đầu tiên của sách Tin Mừng Mátthêu, tạo thành lời mở đầu cho toàn bộ tác phẩm.  Ở đây chúng ta được giới thiệu về nguồn gốc lịch sử của Đấng Cứu Thế là con cháu của vua Đavít, cũng như nguồn gốc thiên tính của Đức Giêsu Kitô, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.  Ngay lập tức, thánh Mátthêu dẫn chúng ta vào trong một sự suy niệm sâu lắng và lôi cuốn, đặt trước chúng ta một sự chọn lựa chính xác qua con người mà ông giới thiệu trong câu chuyện:  chúng ta hoặc nhận ra và chào đón Chúa là Đấng vừa được sinh ra, hay là chúng ta vẫn lãnh đạm thờ ơ, thậm chí còn muốn loại trừ và giết bỏ Người.  Đoạn Tin Mừng này cống hiến cho chúng ta một câu chuyện đẹp về cuộc hành trình của ba nhà Đạo Sĩ, những người đến từ phương xa bởi vì họ muốn tìm kiếm và chào đón, yêu thương và tôn thờ Chúa Giêsu.  Nhưng cuộc hành trình dài và miệt mài tìm kiếm của họ, việc hoán cải tâm hồn của họ là sự kiện đang nói về chúng ta, sự kiện đã được ghi lại trong cuốn sách câu chuyện thiêng liêng của chính chúng ta.

b) Phần phụ chú để giúp cho việc đọc bài Tin Mừng:

Đoạn Tin Mừng này có thể được chia ra làm hai phần chính, được xác định theo nơi câu chuyện xảy ra:  phần thứ nhất (đoạn 2:1-9a) xảy ra tại Giêrusalem, trong khi phần thứ hai lại tập trung xung quanh thành Bêlem (đoạn 2:9b-12).

Mt 2:1-2:  Đoạn Tin Mừng bắt đầu với những dấu hiệu chính xác như nơi chốn và thời gian chào đời của Chúa Giêsu: tại Bêlem, thuộc xứ Giuđêa, trong đời vua Hêrôđê.  Trong lời mô tả khá rõ ràng này, các nhà Đạo Sĩ đột nhiên xuất hiện, những người đến từ phương xa, tìm đến Giêrusalem dưới sự hướng dẫn của một ánh sao.  Chính họ là những người loan báo sự ra đời của vị Vua Thiên Chúa.  Họ hỏi thăm xem Người hiện đang ở đâu bởi vì họ muốn đến để triều bái Người.

Mt 2:3-6:  Khi nghe những lời của các vị Đạo Sĩ nói, vua Hêrôđê, và tất cả thành Giêrusalem cùng với nhà vua, bối rối và sợ hãi.  Thay vì chào đón Chúa và chọn Người, họ tìm cách trừ khử Người.  Vua Hêrôđê triệu tập tất cả các thượng tế Do Thái và Kinh Sư trong dân.  Chính các nhà Đạo Sĩ, nhờ sự giúp đỡ của các ngôn sứ thuở xưa, là những người nói và mặc khải Bêlem là nơi để tìm thấy Đấng Mêssia.

Mt 2:7-8:  Vua Hêrôđê ngầm cho vời các nhà Đạo Sĩ bởi vì nhà vua muốn dùng họ cho mục đích xấu xa của mình.  Việc hỏi han cặn kẽ của nhà vua hoàn toàn nhắm vào việc loại trừ Đức Kitô.

Mt 2:9a:  Các nhà Đạo Sĩ, được thúc đẩy bởi sức mạnh đức tin và được hướng dẫn bởi ánh sao, lại lên đường và hướng về thành Bêlem.

Mt 2:9b-11:  Ngôi sao lại xuất hiện, đi với các vị Đạo Sĩ và dẫn họ đến đúng nơi chỗ Chúa Hài Đồng Giêsu ở.  Tràn đầy niềm vui mừng, họ tiến vào nhà và phủ phục sụp lạy Người; họ dâng tiến Người lễ vật quý giá vì họ nhận biết Người là vua và là Chúa.

Mt 2:12:  Khi đã chiêm ngắm và thờ lạy Chúa, các vị Đạo Sĩ nhận được sự mặc khải từ Thiên Chúa; chính Chúa nói với họ.  Các ông là những con người mới; họ có trong mình một trời mới đất mới.  Các vị Đạo Sĩ đã thoát khỏi sự lừa dối của vua Hêrôđê, và do đó, họ quay trở lại với đời sống mình bằng một nẻo đường hoàn toàn mới.

c) Phúc Âm:

Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem, thuộc xứ Giuđêa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Đông Phương tìm đến Giêrusalem. 2 Các ông nói:  “Vua người Do-Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu?  Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông Phương, và chúng tôi đến để triều bái Người.”

3 Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. 4 Vua đã triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Đức Kitô sinh hạ.  5 Họ tâu nhà vua rằng:  “Tại Bêlem thuộc xứ Giuđêa, vì đó là lời do đấng tiên tri đã chép: 6 “Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta.”

7 Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu mấy nhà Đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. 8 Rồi vua phái họ đi Bêlem và dặn rằng:  “Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho trẫm, để cả trẫm cũng đến triều bái Người.” 9 Nghe nhà vua nói, họ lên đường.  Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông Phương, lại đi trước họ, mãi cho tới khi tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. 10 Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. 11 Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy con trẻ và Đức Maria, mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống, sụp lạy Người.  Rồi, mở bảo tráp ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật:  vàng, nhũ hương, và mộc dược.

12 Và khi nhận được lời mộng báo “Đừng trở lại với Hêrôđê”, họ đã qua đường khác, trở về xứ sở mình.

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện

Tôi lắng nghe thật sâu tiếng nói thì thầm của Chúa và để cho hơi thở của Chúa Thánh Thần đến với tôi và truyền cho tôi.  Trong sự thinh lặng này, tôi đi tìm kiếm Chúa và lặp lại trong lòng tôi:  “Lạy Thiên Chúa của con, Chúa đang ở đâu?”

4.  Một vài câu hỏi gợi ý

a) Tôi dùng những lời đầu tiên phát ra từ miệng các nhà Đạo Sĩ và làm cho chúng trở thành của riêng tôi: “Vua dân Do-Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu?”  Tôi có thực sự cảm thấy bị lôi cuốn đến nơi Chúa ở bởi vì tôi mong ước được ở bên cạnh Người không?  Tôi có sẵn sàng lìa bỏ nơi tối tăm và cũ kỹ của thói quen của tôi, của sự thoải mái của tôi, để thực hiện một cuộc hành trình đức tin trong việc tìm kiếm Đức Giêsu không?

b) “Chúng tôi đến để triều bái Người.” Ở đây Lời Chúa kiểm định tôi, đặt tôi qua một thử thách:  tôi có thực sự sống trong một mối quan hệ yêu thương với Thiên Chúa không?  Tôi có thể nào rộng mở cuộc sống tôi trong sự hiện diện của Người và để cho Người ngự vào trong mỗi nhịp đập của tim tôi không?

c) “Vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta.” Tôi có khả năng đặt và dâng trọn xác hồn tôi cho sự hướng dẫn của Chúa, tin cậy nơi Ngài, tin vào tình yêu của Ngài, trong sự hiện diện rất thật của Ngài dù rằng Ngài vẫn vô hình không?

d) “Khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy con trẻ.” Đó chính là bởi vì họ chấp nhận bước vào trong nhà, bước vào sự hiệp thông, dâng trọn vẹn và thật sự con người họ để mắt họ có thể trống thấy, chiêm ngưỡng và nhận ra.  Tại sao tôi không nhận thức được thực tế là khi tôi càng ở bên ngoài, thì tôi càng xa cách với cuộc sống anh chị em tôi và tôi càng trở nên u buồn và trống trải?

5.  Chìa khóa dẫn đến bài đọc

Tôi tìm một số chữ chính, một số chủ đề căn bản, để có thể hướng dẫn và giúp tôi hiểu thấm hơn ý nghĩa của đoạn Tin Mừng này, để cho đời tôi có thể được soi sáng và thay đổi bởi Lời của Chúa.

*  Hành trình:  Đoạn Tin Mừng này dường như trải qua với chủ đề lớn của một cuộc hành trình, một cuộc xuất cư, một chuyến đi.  Các vị Đạo Sĩ, những nhân vật bí ẩn, ra đi, đi xa khỏi miền đất của họ và đi tìm kiếm vị vua, Chúa.  Thánh Mátthêu trình bày dữ kiện này bằng một số các động từ song song với sự phát triển của sự kiện:  tìm đến, chúng tôi đến, phái đi, đi, lên đường, đi trước họ, tiến vào, đừng trở lại, trở về.  Cuộc hành trình thể lý của các vị Đạo Sĩ ẩn dấu một cuộc hành trình rất quan trọng và có ý nghĩa hơn, cuộc hành trình đức tin.  Đây là sự chuyển động của tâm hồn được nảy sinh từ lòng ước ao gặp gỡ và biết Chúa.  Đồng thời, đó là lời mời gọi của Thiên Chúa, Đấng kêu gọi và lôi cuốn chúng ta với quyền năng của Người; chính Người là Đấng nâng chúng ta dậy và chuẩn bị cho chúng ta lên đường, Đấng ban cho chúng ta các dấu chỉ và không ngừng đồng hành với chúng ta.  Kinh Thánh cho chúng ta nhiều ví dụ quan trọng và những điều đó giúp cho chúng ta bước vào con đường của ân sủng và phúc lành này.  Thiên Chúa đã phán bảo ông Abraham rằng:  “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12:1).  Ông Giacóp cũng là một người hành hương của đức tin và sự hoán cải; trên thực tế, Thánh Kinh đã viết về ông:  “Giacóp ra khỏi Bơ-e-Seba và đi về Kharan” (St 28:10) và “Giacóp cất bước đi về đất con cái Phương Đông” (St 29:1).  Nhiều năm sau đó, Đức Chúa đã phán với ông rằng:  “Hãy trở về quê cha đất tổ, về với họ hàng ngươi; Ta sẽ ở với ngươi” (St 31:3).  Ông Môisen cũng là người đi trên một cuộc hành trình; chính Thiên Chúa đã chỉ cho ông đường đi, cuộc Xuất Hành, trong tâm hồn ông, trong cõi lòng ông, và được làm bằng cả cuộc đời ông cho cuộc hành trình dài của ơn cứu độ cho ông và cho dân tộc ông:  “Bây giờ, ngươi hãy đi!  Ta sai ngươi đến với Pharaô để đưa dân Ta là con cái Israel ra khỏi Ai-Cập!” (Xh 3:10).  Dân riêng mới của Chúa cũng thế, chúng ta là con cái của lời hứa và giao ước mới, hằng được gọi để lên đường và ra đi trên cuộc hành trình theo chân của Chúa Giêsu.  Cuộc xuất hành không bao giờ ngừng; cuộc giải phóng xuất phát từ đức tin thì vẫn luôn năng động.  Chúng ta hãy nhìn vào Chúa Giêsu, vào các vị tông đồ của Người, vào thánh Phaolô:  không ai đứng yên tại chỗ, không ai lẩn tránh.  Tất cả các nhân chứng này nói với chúng ta ngày nay bằng những hành động của họ và họ lặp lại:  “Phúc thay kẻ lấy Ngài làm sức mạnh, ấp ủ trong lòng giấc mộng hành hương” (Tv 84:6).

*  Ngôi sao:  Đây là một yếu tố trọng tâm và rất quan trọng trong đoạn Tin Mừng này bởi vì ngôi sao có vai trò hướng dẫn các vị Đạo Sĩ đi đến nơi họ định đến, nó là sự soi sáng cho họ trong những đêm trên cuộc hành trình, nó chỉ đúng nơi có sự hiện diện của Chúa, nó cho một niềm vui tuyệt vời trong tim họ.  Khắp suốt bộ Kinh Thánh, ngôi sao xuất hiện như là dấu chỉ của sự chúc phúc và vinh quang, gần như là một hiện thân của Thiên Chúa, Đấng không bỏ rơi dân Ngài, và đồng thời, sự nhân cách hóa của dân tộc đã không quên Thiên Chúa của họ và chúc tụng Ngài (xem Tv 148:3; Br 3:34).  Từ ngữ ngôi sao xuất hiện lần đầu tiên trong Kinh Thánh trong sách Sáng Thế Ký 1:16, khi mà vào ngày thứ tư, câu chuyện về Thiên Chúa sáng tạo trời đất cho chúng ta biết về sự xuất hiện trên vòm trời: mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, như là các dấu hiệu và ánh sáng, để thiết lập trật tự và cho ánh sáng.  Thuật ngữ của người Do Thái về chữ “ngôi sao” (kokhab) rất tuyệt đẹp và đầy ý nghĩa.  Thật ra, những mẫu tự tạo nên chữ mặc khải sự bao la của sự hiện diện mà các yếu tố thiên thể đi kèm với chúng.  Chúng ta thấy hai chữ caf, có nghĩa là “bàn tay” và kèm theo chữ waw, có nghĩa là con người, được hiểu trong cấu trúc sự sống của người ấy, trong xương sống người ấy, giúp cho anh ta đứng vững, giúp anh ta hướng lên trời, tiếp xúc với Thiên Chúa và là Đấng Tạo Dựng của anh ta.  Do đó, bên trong các ngôi sao có hai bàn tay, mẫu tự caf và caf, được giữ cách yêu thương trong mẫu tự “waw”, con người:  đó là đôi bàn tay của Thiên Chúa không bao giờ ngừng nắm lấy chúng ta, nếu chúng ta chỉ cần phó thác cho đôi bàn tay ấy.  Sau đó xuất hiện mẫu tự bet, có nghĩa là nhà.  Do đó, các ngôi sao nói với chúng ta về cuộc hành trình hướng về nhà chúng ta, về cuộc di cư liên tục từ đó và trở về, một khi chúng ta đã đến, từ ngày tạo thiên lập địa và thậm chí từ đời đời.  Thiên Chúa thường so sánh con cháu của Abraham với sao trên trời, như thể mỗi người là một vì sao, được sinh ra để cho ánh sáng vào ban đêm:  “Hãy ngước mắt lên trời, và thử đếm các vì sao, xem có đếm nổi không” Và rồi Người lại thêm rằng:  “dòng dõi ngươi sẽ như thế đó!” (St 15:5).  Đức Giêsu là một vì sao, một vì sao xuất hiện từ nhà Giacóp (Ds 24:17), rằng bắt nguồn từ trên cao, là Sao Mai sáng ngời, như sách Khải Huyền đã viết (22:16).  Thật ra, trong Người tình yêu vô hạn của Thiên Chúa đã mặc lấy xác thịt, mà chiếu hướng về phía chúng ta, con cái của Người, và mở rộng vòng tay để tụ tập và chào đón chúng ta.  Chỉ có tình yêu như vậy mới có thể ban cho sự yếu đuối vô hạn của chúng ta khả năng và lòng dũng cảm, sự kiên trì và niềm hân hoan của việc chấp nhận ra đi, đi trên cuộc hành trình dài và gian khổ của đức tin, dẫn chúng ta đến làng Bêlem, đến nơi Thiên Chúa xuất hiện với chúng ta.

*  Tôn thờ triều bái:  Hành động tôn thờ triều bái thì xưa như chuyện nhân loại, bởi vì ngay từ đầu, mối quan hệ với Thiên Chúa đã được đi kèm theo với nhu cầu của sự yêu thương, của sự khiêm nhường, của sự tận hiến.  Trước sự cao cả của Thiên Chúa, chúng ta, những con người bé nhỏ, cảm nhận và khám phá ra rằng chúng ta không là gì, một hạt bụi, một giọt nước trong biển khơi.  Trong Cựu Ước, cử chỉ tôn thờ xuất hiện như một hành động của tình yêu sâu sắc đối với Chúa, một cử chỉ đòi hỏi sự tham dự của cả bản thân: tâm trí, ý muốn chọn lựa, tình yêu tràn đầy ước vọng và một bản thân cúi lạy và thậm chí còn phủ phục dưới đất.  Người ta nói rằng ở một vài nơi cử chỉ tôn thờ triều bái được kèm theo cả việc phủ phục dưới đất; khuôn mặt của một người, ánh mắt, hơi thở của người ấy sẽ trở về bụi đất một khi người đó có nguồn gốc của mình và tại đó người ấy nhìn nhận mình là tạo vật của Thiên Chúa, như hơi thở đến từ Thiên Chúa.  “Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục, quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên ta” (Tv 95:6):  đây là lời mời của Kinh Thánh cho chúng ta mỗi ngày, chỉ cho chúng ta thấy đường đi để chúng ta có thể nhiều lần trở lại với sự thật và để sống trọn vẹn.

Tân Ước còn đi sâu hơn trong sự suy niệm tinh thần về sự kiện này và dường như còn muốn cùng đồng hành với chúng ta trên cuộc hành trình sư phạm của sự hoán cải và trưởng thành trong đời sống nội tâm của chúng ta.  Trong các sách Tin Mừng, chúng ta thấy các môn đệ, nam và nữ, thờ lạy Chúa Giêsu sau khi Người sống lại (Mt 28:9; Lc 24:52), bởi vì họ nhận ra Người chính là Thiên Chúa.  Lời của Chúa Giêsu trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samaritanô cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc vào sự thật của cử chỉ này, mà sau cùng, liên quan đến cả cuộc đời và là thái độ của con tim:  việc thờ lạy là dành cho Chúa Cha và không xảy ra đây đó mà là trong Chúa Thánh Thần và trong chân lý, đó là trong Chúa Thánh Thần và trong Chúa Con, Đức Giêsu.  Chúng ta không được phép tự lừa dối mình; đó không phải là việc đi hết nơi này sang nơi nọ, cũng chẳng phải vì tìm kiếm một nhân vật thần thánh này hay nhân vật khác để chúng ta có thể tôn thờ Thiên Chúa.  Việc di chuyển, cuộc hành trình là một chuyến đi nội tâm và xảy ra trong nơi tận cùng sâu thẳm nhất của chúng ta và là sự hàng phục hoàn toàn của chính mình, của đời sống chúng ta, cả con người chúng ta, vào đôi cánh của Chúa Thánh Thần và trong vòng tay của Chúa Giêsu, đang mở rộng trên thập giá và luôn sẵn sàng đón nhận tất cả mọi thứ đến với Người.  Thánh Phêrô đã nói rõ ràng:  “Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em” (1Pr 3:15).  Cử chỉ cúi mình trên đất, phủ phục trước mặt Chúa đến từ trái tim.  Nếu chúng ta để cho Chúa đụng chạm vào tâm hồn chúng ta, nếu chúng ta cho phép Chúa đi vào lòng mình, không gian thiêng liêng, thì Người sẽ thay đổi chúng ta hoàn toàn, biến đổi toàn bộ con người chúng ta và biến đổi chúng ta trở nên những con người mới.

6.  Cầu nguyện: Thánh Vịnh 84

Một bài Thánh Vịnh về lòng tin tưởng của con người trên cuộc hành trình tiến về nhà Chúa    

Đáp ca:  Lạy Chúa, con đã thấy ngôi sao của Chúa,

Và con đã đến để thờ lạy Chúa!

Lạy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái. Mảnh hồn này khát khao mòn mỏi mong tới được khuôn viên đền vàng. Cả tấm thân con cùng là tấc dạ những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà hớn hở reo mừng. Lạy Chúa Tể càn khôn là Đức Vua, là Thiên Chúa con thờ, ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm, cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con bên bàn thờ của Chúa! Phúc thay người ở trong thánh điện họ luôn luôn được hát mừng Ngài. Phúc thay kẻ lấy Ngài làm sức mạnh, ấp ủ trong lòng giấc mộng hành hương. Lúc trẩy qua thung lũng Khô Cằn, họ biến nó thành nguồn suối nước, mưa đầu mùa đổ phúc lộc chứa chan. Càng tiến lên, họ càng mạnh bước đến chiêm ngưỡng Chúa Trời ngự trên núi Xi-on. Lạy CHÚA là Chúa Tể càn khôn, xin đoái nghe lời con cầu nguyện. Xin lắng tai, lạy Chúa nhà Giacóp. Lạy Chúa là khiên mộc chở che, xin thương xem nhìn đến gương mặt đấng Ngài đã xức dầu. Một ngày tại khuôn viên thánh điện quý hơn cả ngàn ngày. Thà con ở cổng đền Thiên Chúa vẫn còn hơn sống trong trại ác nhân! Thiên Chúa là vầng thái dương, là thuẫn đỡ, CHÚA tặng ban ân huệ với vinh quang. Ai sống đời trọn hảo, Người chẳng nỡ từ chối ơn lành. Lạy Chúa Tể càn khôn, phúc thay người tin tưởng vào Chúa!

7.  Lời nguyện kết

Lạy Chúa, là Cha của chúng con, con đã thực sự nhìn thấy ngôi sao của Chúa, con đã mở mắt ra với sự hiện diện tình yêu và ơn cứu rỗi của Chúa và con đã lãnh nhận ánh sáng của sự sống.  Con đã lặng ngắm bóng đêm biến đổi thành ánh sáng, nỗi đau khổ trở nên niềm hân hoan, nỗi cô đơn thành sự hiệp thông; vâng, tất cả những điều này đã xảy ra trước nhan thánh Chúa, trong Lời Chúa.  Chúa đã dẫn con qua sa mạc; Chúa đã đưa con đến nhà Chúa và mở cửa cho con bước vào.   Ở đó con trông thấy Chúa, , Đức Giêsu Con Một Chúa, Đấng Cứu Độ của đời con; con đã cầu nguyện và thờ lạy, con đã khóc và tìm thấy nụ cười của Chúa, con giữ im lặng và học nói.  Trong nhà Chúa, là Cha nhân từ, con đã tìm được sự sống một lần nữa!

Và giờ đây con sắp trở lại, con tiếp tục cuộc hành trình của mình, nhưng đường đi không phải là con đường mà con đã đi trước đây và cuộc sống con không phải là cuộc sống như trước đó nữa.  Lời Chúa đã để lại trong con một quả tim mới, có khả năng mở ra để yêu thương, để lắng nghe, để chào đón và trở thành mái ấm cho nhiều anh chị em mà Chúa đã đặt để họ trên đường con đi.  Lạy Chúa, con đã không biết, nhưng Chúa đã làm cho con trở nên trẻ thơ một lần nữa, Chúa đã sinh ra con với Chúa Giêsu.  Lạy Cha, xin cảm tạ Cha, ôi Cha của con!

https://dongcatminh.org/event/lectio-divina-chua-hien-linh-b/

 

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

27-12-2020 : CHÚA NHẬT - LỄ THÁNH GIA THẤT năm B

 

27/12/2020

Chúa Nhật Mùa Giáng Sinh Năm B

Lễ Thánh Gia Thất

 


BÀI ĐỌC I: St 15:1-6;21:1-3

Lời Chúa trong sách Sáng Thế.

Hồi đó, có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram trong một thị kiến rằng: "Hỡi Áp-ram, đừng sợ, Ta là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn." Ông Áp-ram thưa: "Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con cái, và người thừa tự gia đình con là Ê-li-e-de, một người Đa-mát." Ông Áp-ram thưa: "Chúa coi, Chúa không ban cho con một dòng dõi, và một gia nhân của con sẽ thừa kế con." Và đây có lời ĐỨC CHÚA phán với ông rằng: "Kẻ đó sẽ không thừa kế ngươi, nhưng một kẻ do chính ngươi sinh ra mới thừa kế ngươi." Rồi Người đưa ông ra ngoài và phán: "Hãy ngước mắt lên trời, và thử đếm các vì sao, xem có đếm nổi không." Người lại phán: "Dòng dõi ngươi sẽ như thế đó!" Ông tin ĐỨC CHÚA, và vì thế, ĐỨC CHÚA kể ông là người công chính.

ĐỨC CHÚA viếng thăm bà Xa-ra như Người đã phán, và Người đã làm cho bà như Người đã hứa. Bà Xa-ra có thai và sinh cho ông Áp-ra-ham một con trai khi ông đã già, vào thời kỳ Thiên Chúa đã hứa. Ông Áp-ra-ham đã đặt tên cho đứa con mà bà Xa-ra sinh ra cho ông là I-xa-ác. Lời của Chúa.

 

ĐÁP CA: Tv 127, 1-2. 3. 4-5

Đáp: Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người (x. c. 1).

 

1) Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người! Công quả tay bạn làm ra bạn an hưởng, bạn được hạnh phúc và sẽ gặp may. - Đáp.

2) Hiền thê bạn như cây nho đầy hoa trái, trong gia thất nội cung nhà bạn. Con cái bạn như những chồi non của khóm ô-liu ở chung quanh bàn ăn của bạn. Đó là phúc lộc dành để cho người biết tôn sợ Đức Thiên Chúa. - Đáp.

3) Nguyện xin Thiên Chúa từ Sion chúc phúc cho bạn, để bạn nhìn thấy cảnh thịnh đạt của Giêrusalem hết mọi ngày trong đời sống của bạn, và để bạn nhìn thấy lũ cháu đoàn con! - Đáp.

 

BÀI ĐỌC II:  Dt 11:8,11-12,17-19

Lời Chúa trong thư gửi tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, cả bà Xa-ra vốn hiếm muộn, cũng đã có thể thụ thai và sinh con nối dòng vào lúc tuổi đã cao, vì bà tin rằng Đấng đã hứa là Đấng trung tín. Vì thế, do một người duy nhất, một người kể như chết rồi mà đã sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được. Nhờ đức tin, khi bị thử thách, ông Áp-ra-ham đã hiến tế I-xa-ác; dù đã nhận được lời hứa, ông vẫn hiến tế người con một. Về người con này, Thiên Chúa đã phán bảo: Chính do I-xa-ác mà sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi. Quả thật, ông Áp-ra-ham nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy. Rốt cuộc, ông đã nhận lại người con ấy như là một biểu tượng. Lời của Chúa.

 

ALLELUIA: Cl 3, 15a. 16a

Alleluia, alleluia! - Nguyện cho bình an của Chúa Kitô làm chủ trong lòng anh em. Nguyện cho lời Chúa Kitô cư ngụ dồi dào trong anh em. - Alleluia.

 

PHÚC ÂM: Lc 2, 22-40 (bài dài)

"Con trẻ lớn lên, đầy khôn ngoan".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Lề luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là người thánh thuộc về Chúa". Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, như có nói trong Luật Chúa, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu con.

Và đây ở Giêrusalem có một người tên là Simêon, là người công chính, kính sợ Thiên Chúa, và đang đợi chờ niềm ủi an của Israel. Thánh Thần cũng ở trong ông. Ông đã được Thánh Thần trả lời rằng: Ông sẽ không chết trước khi thấy Đấng Kitô của Chúa. Được Thánh Thần thúc giục, ông vào đền thờ ngay lúc cha mẹ trẻ Giêsu đưa Người đến để thi hành cho Người những tục lệ của Lề luật. Ông bồng Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:

"Lạy Chúa, bây giờ, Chúa để cho tôi tớ Chúa đi bình an theo như lời Chúa, vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là ánh sáng chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa".

Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Maria mẹ Người rằng: "Đây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ!"

Lúc ấy, cũng có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm. Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi bốn tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.

Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người. Đó là lời Chúa.

_____________________________
 

Hoặc đọc bài vắn này: Lc 2, 22. 39-40

Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa. Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và Con Trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người. Đó là lời Chúa.

 


Suy Niệm: Vâng Phục Thiên Chúa

Lễ Thánh Gia thất tương đối mới. Nó được thiết lập vào cuối thế kỷ 19. Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII bấy giờ rất quan tâm đến các vấn đề xã hội. Người thấy nhân loại đang đi vào một nền văn minh mới. Lý trí và khoa học đòi quyền tự lập và tự chủ. Ảnh hưởng đạo đức bớt dần. Và trong phạm vi gia đình, người ta đã nói nhiều đến tự do, ly dị, cởi mở... Những phong trào "gia đình công giáo" có từ thế kỷ 16 ráo riết cổ động người ta noi gương Thánh Gia thất. Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII cũng nhưn các vị kế tiếp muốn chúc phúc cho những phong trào này. Và lễ Thánh Gia Thất được thiết lập trong bối cảnh ấy.

Dĩ nhiên đời sống gia đình hiện nay có nhiều vấn đề khác với hồi cuối thế kỷ 19. Và ngày lễ Thánh Gia Thất hôm nay là dịp để chúng ta suy nghĩ về đời sống cụ thể của các gia đình chúng ta. Những vấn đề kế hoạch hóa gia đình và giáo dục gia đình mới là những đề tài chắc chắn rất hợp thời, nếu chưa muốn nói là khẩn trương. Nhưng trong Thánh lễ chúng ta không thể suy nghĩ rộng rãi. Chúng ta chỉ có thể lắng nghe Lời Chúa theo Phụng vụ để được tâm hồn đạo đức, giúp chúng ta sau đó suy nghĩ cụ thể hơn.

 

1. Vâng Phục Thiên Chúa

Tư cách đạo đức, mà các gia đình phải có, được ba bài đọc Kinh Thánh hôm nay nhấn mạnh. Bài sách Huấn ca có vẻ không sâu sắc và giống như nhiều bài "gia huấn ca", khuyên con cái phải thờ kính cha mẹ. Tuy nhiên nền tảng của những lời khuyên ở đây lại rất sâu. Con cái phải kính yêu cha mẹ vì Chúa; phải coi các người như Chúa, đến nỗi bỏ bê cha là lộng ngôn phạm thượng và khinh dể mẹ là chọc giận Thượng đế. Thứ đạo đức này có lỗi thời không? Rõ ràng thư Phaolô cũng có một lập trường như vậy. Thánh Tông đồ viết: con cái hãy vâng phục cha mẹ trong mọi sự vì là điều đẹp lòng Chúa. Dĩ nhiên Người cũng đã nói luôn: cha mẹ đừng để con cái trở thành khiếp đảm! Nhưng theo người, thái độ của con cái vẫn là phải vâng phục. Và ở điểm này, người đã theo sát đường lối của Phúc Âm.

Quả vậy, một trong những câu điệp khúc của các bài tường thuật cuộc đời niên thiếu của Chúa Yêsu là Người đã trở về Nadarét nơi cha mẹ Người cư trú; và Người đã lớn lên đầy khôn ngoan và ân sủng; Người đã phục tùng cha mẹ Người. Khi viết đi viết lại điệp khúc đó, Luca làm vọng lại nhiều lời Cựu Ước, đặc biệt những câu về Samson và Samuel (Tp 13,24-25; 1S 2,19.21.26). Người cũng viết về Yoan Tẩy giả một cách tương tự (1,80). Tất cả khiến chúng ta nghĩ rằng: trong khi đề cao thần tính của trẻ Yêsu, tác giả các sách Phúc Âm vẫn nhấn mạnh việc Người vâng phục cha mẹ, để nêu gương sáng cho hàng con cái trong các gia đình.

Những người này cũng hãy yên tâm. Sách Huấn ca đòi con cái đối với cha mẹ phải như nô đối với chủ (3,7); nhưng bài Tin Mừng dường như đòi bậc cha mẹ nhiều hơn. Các người phải vâng lời luật Chúa như cha mẹ Yêsu... Ðến ngày phải làm lễ thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Người đã đem trẻ Yêsu lên dâng trong Ðền thờ. Chúng ta không hiểu việc thi hành luật pháp đã đòi các người phải hy sinh thế nào. Nhưng chúng ta có thể đoán được những đau đớn tinh thần Maria phải chịu theo lời Simêon hôm nay tiên báo.

Ông và bà tiên tri Anna thuộc loại người đạo đức trong dân Israel, sống chờ đợi ngày Chúa an ủi dân Người, tức là trông mong thời đại Thiên Sai Cứu Thế. Khi được Thánh Thần cho biết trẻ Yêsu đây chính là Ðấng muôn dân trông đợi, cả hai đều sung sướng cảm tạ Thiên Chúa đã cho mình được phúc nhìn thấy ánh sáng muôn dân. Nhưng nghĩ đến trách nhiệm của những người sống trong thời đại ấy, Simêon đã lặp đi lặp lại tư tưởng của Kinh thánh, đặc biệt nhiều đoạn Isaia, trong đó Ðấng Thiên Sai không những được ca tụng như ánh sáng của muôn dân (60,1-3; 52,7-10), nhưng đồng thời cũng là tảng đá vấp ngã cho nhà Israel (8,12-15). Tâm tư mọi người sẽ phải lộ ra (Lc 2,35). Ðấu tranh, dằn vặt sẽ xảy ra nơi lòng mọi người, bó buộc người ta phải lựa chọn hoặc chấp nhận hay phủ nhận đường lối của Người.

Maria cũng không thoát được luật chung đó. Những lời của Chúa luôn luôn làm Người phải đem lòng mà suy nghĩ. Chính lúc ấy một mũi gươm đâm thâu lòng Người. Mũi gươm này không phải chỉ là lưỡi đòng khi đâm vào cạnh sườn Chúa chịu treo trên Thập giá thì cũng như chọc vào trái tim Người. Mũi gươm mà Simêon gợi lên hôm nay là mũi gươm "Lời Chúa" sống động và linh hoạt, sắc bén hơn mọi thứ gươm hai lưỡi, và đâm phập vào tận ranh giới hồn phách, gân cốt và tủy não cùng biện phân ra được tình và ý tưởng của lòng dạ (Hr 4,12).

Vậy, nếu Lời Chúa đối với Ðức Maria còn sắc bén như vậy và còn đòi hỏi Người phải hy sinh đau đớn để luôn luôn đi sâu hơn vào mầu nhiệm đức tin, thì huống nữa là đối với chúng ta hết thảy! Con cái phải vâng lời cha mẹ. Nhưng cha mẹ cũng phải vâng lời Thiên Chúa. Thi hành chỉ thị này của cha mẹ đòi hy sinh. Nhưng những hy sinh của bậc cha mẹ để giữ Lời Chúa còn to lớn hơn nhiều. Và có hy sinh như thế mới là đạo đức.

Thật ra đạo đức gia đình không phải chỉ đơn sơ như vậy. Nó không phải chỉ đòi con cái vâng lời cha mẹ và cha mẹ tuân giữ Lời Chúa. Ngay bài sách Huấn ca đã giục con cái tìm cách làm đẹp lòng Chúa khi vâng lời cha mẹ; và bài Tin Mừng cho thấy Ðức Maria phải khổ vì thánh ý Chúa nơi chính trẻ Yêsu. Ðạo đức gia đình không nguyên chỉ lên thẳng từ con cái đến cha mẹ rồi tới Thiên Chúa. Nền đạo đức thật đã tỏ hiện khi chính Thiên Chúa xuống với con người như chúng ta đã suy niệm nhiều trong mùa Giáng sinh này (1Tm 3,16). Và như vậy lý do cuối cùng của nền đạo đức gia đình cũng phải sát nhập vào chiều hướng đi xuống. Nói cách khác đạo đức gia đình đòi con cái phải vâng lời cha mẹ và cha mẹ tuân giữ Lời Chúa; nhưng nó chỉ thực hiện được nếu mọi người trong gia đình biết nhận lấy lòng đạo đức mà Chúa đã ban xuống cho trần gian trong mầu nhiệm Giáng sinh, để tựa vào đó mà đi lên.

Ðó là điều mà bài thư Phaolô hôm nay muốn nói với chúng ta.

 

2. Hãy Mặc Lấy Ðức Mến

Thánh Tông đồ không hài lòng khi nhìn thấy nhiều người không hiểu rõ lòng đạo đức Kitô giáo. Họ tưởng đây cũng là một trong nhiều lý tưởng đạo đức. Các lời khuyên Phúc Âm về đời sống gia đình chẳng hạn bị coi như là một thứ gia huấn ca. Ðạo nào cũng dạy thờ cha kính mẹ và cha mẹ thì phải vâng mệnh trời mà sửa dạy con cái. Người ta không thấy rõ nét độc đáo và mới lạ của nền đạo đức Phúc Âm. Thế nên thánh Phaolô phải mạnh mẽ lên tiếng. Người gọi tín hữu bằng những từ ngữ chọn lọc nhất của Kinh Thánh. Họ là các thánh, là những người được tuyển chọn và là những người được Thiên Chúa yêu mến. Các danh xưng này nằm trong sách Thứ luật (7,6). Chúng là tên riêng của dân Chúa. Họ thánh không phải vì họ tốt lành, nhưng chỉ vì Ðấng thánh đã tuyển chọn và đang thánh hóa họ. Và Người làm như vậy chỉ vì yêu mến.

Họ là những người được yêu. Nhưng họ lại không sống trong tình yêu. Kinh nghiệm lưu đày đã mở mắt cho họ thấy cuộc đời bất trung bất nghĩa của họ như thế nào, đến nỗi từ ngữ dân thánh của Chúa từ nay sẽ dành để nói về dân ở thời đại thiên sai (Is 4,3). Và như vậy các tín hữu tiên khởi của Hội Thánh Chúa Kitô tự xưng là "thánh hữu" thì thật hợp lý. Nhưng khi xử dụng từ ngữ này, họ vẫn biết mình chưa thánh. Sự thánh thiện mới tỏ hiện nơi họ thôi vì Ðức Kitô đã đem sự sống sung mãn của Thiên Chúa vào thế gian. Và bổn phận của họ bây giờ là phải đón nhận lấy sự thánh thiện ấy.

Việc đón nhận này được thánh Phaolô mô tả như là một việc "mặc lấy". Người nói: anh em hãy mặc lấy lòng lân mẫn biết chạnh thương, đức nhân hậu khiêm nhu, hiền từ và đại lượng. Nghe đọc thì tưởng đó là một mới những nhân đức, ít nhiều liên hệ với nhau. Nhưng dò lại thì sẽ thấy chúng gợi lên những lời sách Xuất hành (34,6) nói đến Thiên Chúa là Ðấng "chạnh thương, huệ ái, bao dung, và đầy nhân nghĩa, tín thành". Và như vậy, thánh Phaolô muốn nói chúng ta phải mặc lấy chính những tâm tình của Chúa. Lòng đạo đức của chúng ta phải là lòng đạo đức của Người. Nếu không, nói chỉ là lòng đạo đức của loài người chứ không phải của Kitô giáo. Người tín hữu của Chúa Kitô trước khi sống, tức là hành động, đã phải cởi bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới là chính sự thánh thiện của Thiên Chúa, để từ đó cư xử như Thiên Chúa.

Người đã bày tỏ lòng "đạo đức" của Người khi đặt ra và thi hành kế hoạch cứu thế, ban Con Một Người cho nhân loại để làm giá tha thứ và hòa giải loài người tội lỗi trở về với mình... Ðó chính là lòng "bác ái" của Thiên Chúa, mà thánh Phaolô bảo chúng ta phải mặc lấy. Nếu không, chúng ta không được tha thứ, không được thánh thiện, không được đạo đức. Nhưng nếu chúng ta mặc lấy lòng bác ái tha thứ, thì có lẽ nào chúng ta lại không biết tha thứ và chịu đựng lẫn nhau, để sống hòa hợp như trong một thân thể?

Thế là thánh Phaolô đã chỉ cho chúng ta thấy đâu là cơ sở và nền tảng của nền đạo đức Kitô giáo. Thiên Chúa đã đổ nó từ trời xuống trên chúng ta khi ban Con Một Người làm hy tế tha thứ, giao hòa và bình an. Chúng ta đón nhận lòng đạo đức ấy thì cũng phải sống tha thứ hòa hợp và hợp nhất như trong một cơ thể.

Những điều này thật hợp để nói về đời sống gia đình. Và bây giờ chúng ta thấy rõ đạo đức gia đình đối với chúng ta phải được xây dựng trên nền tảng đức mến trọn lành của Thiên Chúa. Những gia đình nào sống như vậy mới thật là những gia đình Kitô hữu và mới giống như Thánh Gia Thất Chúa Yêsu, Ðức Maria và Thánh Yuse. Nếp sống của họ bây giờ sẽ được như lời thư Phaolô viết tiếp: tất cả những gì họ nói và làm đều vì Danh Chúa Yêsu và vợ chồng, cha mẹ, con cái đều giúp đỡ nhau nên thánh thiện. Họ có nếp sống gia đình tuyệt hảo, vì lời Ðức Kitô, tức là ân sủng của Người đã ngự nơi họ dồi dào phong phú.

Thế thì hôm nay muốn thánh hóa gia đình theo gương Thánh Gia Thất, chúng ta hãy nghe lời thánh Phaolô sốt sắng cử hành Thánh lễ này. Ở đây Thiên Chúa bày tỏ lòng bác ái từ tâm đối với hết thảy chúng ta khi ban thịt máu Con của Người làm giá cứu chuộc và cứu độ chúng ta. Chúng ta hãy nhận lấy như tinh thần và sự sống mới mà chúng ta phải mặc lấy, để như Chúa đã yêu thương chúng ta thì vợ chồng, cha mẹ, con cái, được tình bác ái của Người thúc đẩy sẽ xây dựng, phát triển đời sống gia đình như Thánh Gia Thất.

 

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa

của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 


Lectio Divina: Lễ Thánh Gia (B)

Chủ Nhật 27 Tháng Mười Hai, 2020

Lectio Divina | Lectio Divina Năm B

Đấng được mọi người trông ngóng

Tiến dâng Chúa Hài Đồng trong Đền Thờ

Lc 2:22-40 

1.  Lời nguyện mở đầu:

Lạy Thiên Chúa, Người là Đấng Tạo Hóa và là Cha của chúng con, Chúa đã muốn Con Một Chúa, Đấng đã hiện hữu trước khi thế gian được tạo dựng, phải trở thành một thành viên của gia đình nhân loại.

Xin Chúa hãy nhen nhúm lại trong chúng con lòng biết ơn về món quà của sự sống, để cho các bậc cha mẹ có thể tham dự vào sự sinh sản của tình yêu Chúa, để người già có thể truyền lại cho thế hệ con cháu sự khôn ngoan trưởng thành của họ, và con cháu có thể lớn lên trong sự khôn ngoan, lòng đạo đức và ân sủng, mọi người ca tụng tôn vinh danh thánh Chúa.  Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

2.  Bài đọc:  Luca 2:22-40

22 Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môisen, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, 23 như đã chép trong Luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa”,24 và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là “một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non.”

25 Hồi ấy ở Giêrusalem, có một người tên là Simêôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Israel, và Thánh Thần hằng ngự trên ông.26 Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Kitô của Đức Chúa. 27 Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, 28 thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng: 

29 “Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
30 Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
31 Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
32 Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Israel Dân Ngài.” 

33 Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Simêôn vừa nói về Người. 34Ông Simêôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Maria, mẹ của Hài Nhi: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; 35 và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” 

36 Lại cũng có một nữ ngôn sứ tên là Anna, con ông Phanuel, thuộc chi tộc Asê. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, 37 rồi ở góa, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. 38 Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem. 

39 Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Nagiarét, miền Galilê. 40 Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện

 Để Lời Chúa có thể ngự vào lòng chúng ta và để cho lời ấy soi sáng đời sống chúng ta;

  Để trước khi chúng ta đưa bất kỳ ý kiến nào, xin cho ánh sáng Lời Chúa có thể tỏa sáng và bao phủ với mầu nhiệm về sự hiện diện sống động của Chúa.

4.  Một vài câu hỏi gợi ý

Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.

a)  Tại sao Đức Giêsu, Con Một của Đấng Tối Cao, và Đức Maria mẹ Người, đã được thụ thai không vướng tội lỗi, mà lại phải tuân theo các lề luật của Môisen?  Có phải bởi vì Đức Maria chưa nhận thức được sự vô nhiễm và thánh thiện của bà không?   

b)  Lời nói và thái độ của ông Simêon và bà tiên tri Anna có ý nghĩa đặc biệt nào không?  Cử chỉ và sự vui mừng của họ có làm gợi nhớ lại phong thái của các tiên tri cổ xưa không?

c)  Làm thế nào chúng ta có thể giải thích được câu “một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn”:  đó có phải là việc xé nát lương tâm trước những thách thức và sự phong phú của Chúa Giêsu không?  Hay đó chỉ là nỗi đau lòng của Đức Mẹ?

d)  Cảnh này có thể nào có một ý nghĩa gì đó cho các bậc phụ huynh ngày nay không:  về ý thức tôn giáo của con cái họ; về kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mỗi con cái của Người; về những nỗi sợ hãi và đau khổ mà bậc cha mẹ mang trong tâm tư những khi họ nghĩ đến lúc con cái họ lớn khôn? 

5.  Chìa khóa dẫn đến bài đọc

Dành cho những ai muốn đào sâu hơn vào trong bài Tin Mừng.

a)  Như đã chép trong Luật Môisen/Lề Luật Chúa.  Đây là một loại điệp khúc được lặp đi lặp lại nhiều lần.  Thánh sử Luca hòa lẫn hai hệ thống lề luật mà không có bất kỳ một sự phân biệt nào.  Luật thanh tẩy người mẹ đã được dự kiến trong Sách Lêvi (12:2-8) và đã được định là bốn mươi ngày sau khi lâm bồn.  Cho đến lúc ấy, người phụ nữ không được phép đến gần những nơi thiêng liêng, và nghi thức được đi kèm với lễ vật là một con vật nhỏ.  Nhưng lễ thánh hiến con đầu lòng đã được quy định trong sách Xuất Hành chương 13:11-16, và được xem như là một loại “tiền chuộc” để tưởng nhớ cử chỉ cứu rỗi của Thiên Chúa khi Người giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập.  Vì việc này cũng dâng lên lễ vật là một sinh vật nhỏ.  Trong cả hai trường hợp này, các bậc cha mẹ dường như là trong tiến trình dâng/thánh hiến con trai của họ như đã làm với vật hiến tế và chi tộc Lêvi, trong khi nhờ vào con người của ông Simêon và bà Anna, có vẻ như chính Thiên Chúa là Đấng dâng/hiến tế Con Người để cứu độ nhân loại.   

b)  Ông Simêon và bà Anna:  Đây là những nhân vật đầy đủ giá trị tiêu biểu.  Vai trò của họ là sự công nhận, xuất phát từ việc soi sáng lẫn việc làm của Chúa Thánh Thần và một cuộc sống đã sống trong sự mong đợi và đức tin.  Cách đặc biệt, ông Simêon được mô tả như là một người hoàn toàn đắm chìm trong sự chờ đợi (prodekòmenos), và là kẻ bước tới để chào đón.  Ông cũng xuất hiện để tuân giữ lề luật, lề luật của Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn ông về phía hài nhi trong đền thờ.  Bài ca vịnh ông công bố biểu lộ khuynh hướng sống cho người khác (pro-existentia) của ông, ông đã sống để chờ đến thời khắc này và giờ đây ông rút lui để cho những người khác có thể nhìn thấy ánh sáng và ơn cứu độ đến cho dân tộc Israel cũng như dân ngoại.  Bà Anna hoàn thành bức tranh, bằng vào số tuổi của bà (con số tượng trưng:  84 = 7 x 12; mười hai chi tộc Israel; hoặc 84 – 7 = 77, con số toàn thiện kép), nhưng hơn hết cả là bằng lối sống của bà (ăn chay và cầu nguyện) và bằng lời công bố của bà cho tất cả những ai “nhìn về tương lai”.  Bà được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần về việc nói tiên tri, phụng thờ Chúa và sự trinh khiết trong lòng của bà.  Ngoài ra, bà thuộc về một chi tộc nhỏ bé nhất, chi tộc Asê, một dấu chỉ cho thấy rằng những người nhỏ bé và mong manh là những người có khuynh hướng nhận ra Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế, hơn.  Cả hai ông bà lão này – trông giống như là một cặp đôi thuở tạo dựng trời đất – là những biểu tượng đẹp nhất của Do Thái giáo, của thành Giêrusalem trung thành và hiền lành, đang chờ đợi và vui mừng và từ bây giờ sẽ để cho nguồn ánh sáng mới lan tỏa.

c)  Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu:thông thường những chữ này được hiểu như có nghĩa là Đức Maria sẽ chịu đau khổ, một cảnh được thấy rõ ràng là hình ảnh Đức Mẹ Sầu Bi.  Thay vào đó, chúng ta cần xem Đức Mẹ như là một biểu tượng của dân tộc Israel.  Ông Simêon linh cảm được cảnh tượng dân tộc của ông sẽ bị chia rẽ sâu xa bởi lời sắc bén và hằng sống của Đấng Cứu Thế (xem Lc 12:51-53).  Đức Maria đại diện cho đường đi:  bà phải tín thác, nhưng sẽ phải trải qua những thời gian đau thương và đen tối, sự im lặng đớn đau và cố gắng.  Câu chuyện của Đấng Mêssia đau khổ sẽ làm cho mọi người đau đớn, ngay cả đối với Đức Mẹ.  Người ta không thể đi theo ánh sáng mới của toàn thế giới mà không phải trả giá, mà không phải bị khích động để chọn các quyết định đầy rủi ro, mà không phải được tái sinh từ trời và trong sự mới mẻ.  Nhưng hình ảnh của “lưỡi gươm đâm thấu” này, về một hài nhi sẽ “làm vấp ngã” và giao động những trái tim khỏi sự thờ ơ của họ, thì không thể bị tách rời khỏi hành động đầy ý nghĩa của hai cụ già:  một người là ông Simêon, kẻ đã bế Chúa Hài Đồng trên tay mình để cho thấy rằng đức tin là một sự gặp gỡ và vòng tay ôm, chứ không phải là một lý thuyết suông; còn người kia, cụ bà Anna, đảm nhận vai trò công bố và nhen nhóm lại ánh sáng rực rỡ trong lòng tất cả những ai “đã nhìn về phía” Người.

d)  Đời sống hằng ngày, sự hiển linh của Thiên Chúa:  Cuối cùng, thật là thú vị khi nhận thấy rằng toàn bộ câu chuyện nhấn mạnh đến hoàn cảnh đơn sơ và chất phác nhất:  một cặp vợ chồng trẻ với một đứa con trong tay, một ông già vui mừng và ôm ấp đứa bé, một bà lão cầu nguyện và nói tiên tri, những kẻ lắng nghe dường như là những người đang gián tiếp tham gia.  Ở phần cuối của đoạn Tin Mừng, chúng ta cũng có một cái nhìn thoáng qua về làng Nagiarét, về sự phát triển của đứa trẻ trong một bối cảnh thông thường, ấn tượng về một đứa trẻ có năng khiếu khác thường cùng với sự khôn ngoan và tốt lành.  Chủ đề của sự khôn ngoan được đan dệt vào trong tấm vải của đời sống bình thường và lớn lên trong một bối cảnh của ngôi làng, để cho câu chuyện dường như treo lơ lửng, và nó sẽ được nhắc lại lần nữa đúng với chủ đề sự khôn ngoan của cậu bé ở giữa các luật sĩ trong đền thờ.  Thật vậy, đây là cảnh kế tiếp ngay sau đây (Lc 2:41-52).

6.  Thánh Vịnh 122  

Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi:
“Ta cùng trẩy lên đền thánh CHÚA! “
Và giờ đây, Giêrusalem hỡi,
cửa nội thành, ta đã dừng chân.

Giêrusalem khác nào đô thị
được xây nên một khối vẹn toàn.
Từng chi tộc, chi tộc của CHÚA,
trẩy hội lên đền ở nơi đây,
để danh CHÚA, họ cùng xưng tụng,
như lệnh đã truyền cho Israel.

Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử,
ngai vàng của vương triều Đavít.
Hãy nguyện chúc Giêrusalem được thái bình,
rằng: “Chúc thân hữu của thành luôn thịnh đạt,
tường trong lũy ngoài hằng yên ổn,
lâu đài dinh thự mãi an ninh.”

Nghĩ tới anh em cùng là bạn hữu,
tôi nói rằng: “Chúc thành đô an lạc.”
Nghĩ tới đền thánh CHÚA, Thiên Chúa chúng ta thờ,
tôi ước mong thành được hạnh phúc, hỡi thành đô.
 
7.  Lời nguyện kết

Lạy Cha, chúng con ngợi khen và chúc tụng Cha bởi vì nhờ Con Cha, được sinh ra bởi một người phụ nữ do việc làm của Chúa Thánh Thần, được sinh ra theo lề luật, đã cứu chuộc chúng con khỏi lề luật và Cha đã làm đầy cuộc sống chúng con với ánh sáng và niềm hy vọng mới mẻ.  Nguyện xin cho gia đình chúng con hân hoan chào đón và trung thành với chương trình của Cha, nguyện xin cho những người trong gia đình chúng con giúp đỡ và duy trì trong con cái họ những giấc mơ và sự nhiệt tình mới, xin Cha ấp ủ chúng trong sự dịu dàng khi chúng yếu ớt mong manh, xin Cha dạy dỗ chúng trong tình yêu dành cho Cha và cho tất cả tha nhân.  Lạy Cha, tất cả mọi danh dự và vinh quang đều quy về Cha.

https://dongcatminh.org/event/lectio-divina-le-thanh-gia-b/

 

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2020

25-12-2020 : LỄ CHÚA GIÁNG SINH

 

Ngày 25 tháng 12

Lễ Chúa Giáng Sinh



Lễ Ban Ngày

 

Bài Ðọc I: Is 52, 7-10

"Khắp cùng bờ cõi trái đất sẽ nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðẹp thay chân người rao tin trên núi, người rao tin thái bình, người rao tin mừng, người rao tin cứu độ, nói với Sion rằng: Thiên Chúa ngươi sẽ thống trị!

Tiếng của người canh gác của ngươi đã cất lên. Họ sẽ cùng nhau ca ngợi rằng: Chính mắt họ sẽ nhìn xem, khi Chúa đem Sion trở về. Hỡi Giêrusalem hoang tàn, hãy vui mừng, hãy cùng nhau ca ngợi! Vì Chúa đã an ủi dân Người, đã cứu chuộc Giêru-salem. Chúa đã chuẩn bị ra tay thánh thiện Người trước mặt chư dân; và khắp cùng bờ cõi trái đất sẽ nhìn xem ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 97, 1. 2-3ab. 3cd-4. 5-6

Ðáp: Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta (c. 3c).

Xướng: 1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người. - Ðáp.

2) Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người; trước mặt chư dân, Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel. - Ðáp.

3) Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca! - Ðáp.

4) Hãy ca mừng Chúa với cây đàn cầm, với cây đàn cầm với điệu nhạc du dương, cùng với tiếng kèn râm ran, tiếng tù và rúc, hãy hoan hô trước thiên nhan Chúa là Vua. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Dt 1, 1-6

"Chúa đã phán dạy chúng ta qua người Con".

Trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Thuở xưa, nhiều lần và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các tiên tri. Trong những ngày sau hết đây, Ngài đã phán dạy chúng ta qua Người Con mà Ngài đã đặt làm vị thừa kế vạn vật, và cũng do bởi Người Con mà Ngài đã tác thành vũ trụ. Nguyên vốn là phản ảnh sự vinh quang và là hình tượng bản thể Ngài, Người Con đó nâng giữ vạn vật bằng lời quyền năng của mình, quét sạch tội lỗi chúng ta, và ngự bên hữu Ðấng Oai Nghiêm trên cõi trời cao thẳm. Tên Người cao trọng hơn các thiên thần bao nhiêu, thì Người cũng vượt trên các thiên thần bấy nhiêu.

Phải, vì có bao giờ Thiên Chúa đã phán bảo với một vị nào trong các thiên thần rằng: "Con là thái tử của Cha, hôm nay Cha đã hạ sinh Con"? Rồi Chúa lại phán: "Ta sẽ là Cha Người, và Người sẽ là Con Ta". Và khi ban Con Một mình cho thế gian, Chúa lại phán rằng: "Tất cả các thiên thần Chúa hãy thờ lạy Người!"

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia:

Alleluia, alleluia! - Ngày thánh đã dọi ánh sáng trên chúng ta. Hỡi các dân, hãy tới thờ lạy Chúa, vì hôm nay ánh sáng chan hoà đã toả xuống trên địa cầu. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 1, 1-18 {hoặc 1-5. 9-14}

"Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng ta".

Bắt đầu Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thủy.

Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.

Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đã đến nhằm việc chứng minh, để ông chứng minh về sự sáng, hầu cho mọi người nhờ ông mà tin. Chính ông không phải là sự sáng, nhưng đến để chứng minh về sự sáng.

Vẫn có sự sáng thực, sự sáng soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo, và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra.

Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý.

Gioan làm chứng về Người khi tuyên xưng rằng: "Ðây là Ðấng tôi tiên báo. Người đến sau tôi, nhưng xuất hiện trước tôi, vì Người có trước tôi".

Chính do sự sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác. Bởi vì Chúa ban Lề luật qua Môsê, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Ðức Giêsu Kitô. Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Ðấng ngự trong Chúa Cha, sẽ mạc khải cho chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

 

Hoặc đọc bài vắn này: Ga 1, 1-5. 9-14

"Ngôi Lời đã làm Người và ở cùng chúng ta"

Bắt đầu Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thủy.

Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.

Vẫn có sự sáng thực, sự sáng soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo, và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra.

Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý.

Ðó là lời Chúa.

 


Suy niệm 

Trong ngày đại lễ mừng Chúa Giáng Sinh,
Giáo Hội cho chúng ta nghe Lời mở đầu Tin Mừng theo thánh Gioan.
Lời mở đầu này là một bài ca về sự cao trọng vô song của Ngôi Lời.
Ngôi Lời là Đấng vĩnh hằng, đã hiện hữu từ nguyên thủy.
Ngài là Thiên Chúa, là Con Một luôn hướng về Thiên Chúa Cha (c. 1).
Tương quan giữa Thiên Chúa và Ngôi Lời là tương quan giữa Cha với Con.
Thiên Chúa Cha đã muốn Ngôi Lời cộng tác trong việc tạo dựng vũ trụ.
Nhờ Ngôi Lời mà vạn vật được tạo thành (cc. 3, 10).
Chẳng có thụ tạo nào hiện hữu mà lại không được dựng nên bởi Ngôi Lời.
Dù khác nhau về màu da, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo…
mỗi con người đều mang trong mình Sự Sống của Ngôi Lời.
Sự Sống ấy là Ánh Sáng vẫn chiếu soi cả nhân loại (c. 4),
và soi chiếu lương tâm từng con người, chẳng trừ ai (c. 9),
bất chấp sức mạnh gớm ghê của bóng tối (c. 5).

Rồi khi đến thời viên mãn, vì quá yêu thương con người trầm luân
Thiên Chúa đã sai Ngôi Lời, Con Một của Ngài vào trần gian để cứu độ.
Ngôi Lời vĩnh cửu đã trở nên người phàm, mang tên Giêsu,
mang thân xác giới hạn như chúng ta, sống trong dòng lịch sử,
và ở giữa chúng ta trên cùng một trái đất (v. 14).
Đấng Tạo thành vạn vật bây giờ trở nên một thụ tạo bé nhỏ,
được sinh ra, được bú mớm, từ từ lớn lên và trưởng thành.
Đấng Tạo thành vạn vật nay sẽ là Đấng Cứu độ loài người,
để ai tin vào Ngài thì Ngài cho họ quyền làm con cái Thiên Chúa (c. 12).

Khi vâng ý Cha chấp nhận nhập thể và nhập thế,
Ngôi Lời đã cúi xuống bắc cầu nối kết Thiên Chúa với con người,
để đưa con người vào sống tình thân với Thiên Chúa.
Chưa bao giờ và mãi mãi về sau,
chẳng bao giờ có một Vị Trung Gian cứu độ nào tuyệt vời đến thế.
Vì chỉ mình Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa thật, vừa là một con người thật.
Mừng lễ Giáng Sinh là mừng đại lễ Thiên Chúa đến cứu con người.
Thiên Chúa Cha không muốn cứu độ nhân loại bằng cách chỉ phán một lời.
Ngài muốn tặng cho ta món quà cao quý là chính Người Con duy nhất.
Chẳng ai thấy tận mắt hay biết rõ Thiên Chúa bao giờ.
Nhưng nơi Đức Giêsu, chúng ta được quen biết và gặp gỡ Thiên Chúa.
Vì duy chỉ mình Ngài là Con hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha (c. 18).

Lễ Giáng Sinh đem lại niềm vui cho toàn thể thế giới con người.
Vì Con Thiên Chúa đã mang phận người vất vả, long đong,
nên đời người, dù đổ vỡ khổ đau, cũng có ý nghĩa, và đáng sống.
Vì Con Thiên Chúa đã mang khuôn mặt, và thân xác con người,
nên bất cứ ai là người, đều mang hình ảnh của Con Thiên Chúa.
Vì Con Thiên Chúa đã cư ngụ trên trái đất nhỏ xíu này của chúng ta,
đã sống nhờ không khí, nước và thức ăn của trái đất này,
nên trái đất này thật là thế giới linh thánh, cần trân trọng.
Lễ Giáng Sinh bao giờ cũng mời ta nhìn lại đời mình,
nhìn lại khuôn mặt những người chung quanh, nhìn lại trái đất mình sống,
với lòng kính trọng, vui sướng, và biết ơn.
Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, là quà tặng của Thiên Chúa cho nhân loại.
Ước gì tôi biết đưa hai tay ra để đón lấy quà tặng cao quý ấy.

Lời nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
Khi làm người, Chúa đã nhận trái đất này làm quê hương,
và đã ban cho chúng con như một quà tặng tuyệt vời.
Nếu rừng không còn xanh, suối không còn sạch,
và bầu trời vắng tiếng chim.
thì đó là lỗi của chúng con.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã đến làm người để tôn vinh phận người,
vậy mà thế giới vẫn có một tỷ người đói,
bao trẻ sơ sinh bị giết khi chưa mở mắt chào đời,
bao kẻ sống không ra người, nhân phẩm bị chà đạp.
Đó là lỗi của chúng con.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đến đem bình an cho người Chúa thương,
vậy mà trái đất của chúng con chưa một ngày an bình.
Chiến tranh, khủng bố, hận thù ở khắp nơi.
Người ta cứ giết nhau bằng thứ vũ khí tối tân hơn mãi.
Đó là lỗi của chúng con.

Lạy Chúa Giêsu ở Belem,
Chúa đã cứu độ thế giới bằng tình yêu khiêm hạ,
nhưng bất công, ích kỷ và dối trá vẫn có mặt trên địa cầu.
Chúa đến đem ánh sáng, nhưng bóng tối vẫn tràn lan.
Chúa đến đem tự do, nhưng con người vẫn bị trói buộc.
Đó là lỗi của chúng con.

Vì lỗi của chúng con, chương trình cứu độ của Chúa bị chậm lại,
và giấc mơ của Chúa sau hai ngàn năm vẫn chưa thành tựu.
Mỗi lần đến gần máng cỏ Belem,
xin cho chúng con nghe được lời thì thầm gọi mời của Chúa
để yêu trái đất lạnh giá này hơn,
và xây dựng nó thành mái ấm cho mọi người.

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.

 


Lectio Divina: Chúa Giáng Sinh (B)

Thứ Sáu, 25 Tháng 12, 2020

Chúa Giêsu Ra Đời

Lc 2:1-20

 

1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Chúa Thánh Thần của chân lý, được Chúa Giêsu sai đến để hướng dẫn chúng con tìm đến sự toàn chân, xin Chúa hãy soi sáng tâm trí chúng con để chúng con có thể hiểu được lời Kinh Thánh.  Ngài là Đấng đã rợp bóng trên Đức Maria và khiến bà thành mảnh đất màu mỡ nơi Lời của Chúa có thể nẩy mầm, xin hãy thanh tẩy tâm hồn chúng con khỏi mọi trở ngại hướng đến Lời Chúa.  Xin giúp chúng con tìm hiểu giống như Đức Maria xưa kia với trái tim trinh khiết và tốt lành để lắng nghe Lời Chúa nói với chúng con trong cuộc sống và trong Kinh Thánh, để chúng con có thể tuân giữ Lời Chúa và sinh sản được hoa trái tốt tươi qua sự kiên trì của chúng con.

 

 2.  Bài Đọc

 

a)  Bối cảnh:

Bài Tin Mừng của chúng ta ngày hôm nay là một phần của đoạn Phúc Âm theo thánh Luca nói về thời thơ ấu của Chúa và bao gồm hai chương đầu của sách Phúc Âm thứ ba.  Đó là Phúc Âm của tuổi thơ.  Vì thế, trọng tâm chính của tác giả không phải về một dữ liệu, hay cho chúng ta biết các chi tiết lịch sử về việc ra đời của Đức Giêsu, mà là loan báo Tin Mừng về sự giáng sinh của Đấng Cứu Thế được mong chờ.  Hài nhi Giêsu đã được xem như là Chúa như đã được công bố trong lời tông truyền.

Tương tự như hai chương đầu của sách Tông Đồ Công Vụ về sự chuyển tiếp từ thời đại của Chúa Giêsu sang thời đại Giáo Hội, do đó hai chương đầu của Phúc Âm Luca là về sự chuyển đổi từ Cựu Ước sang Tân Ước.  Thường xuyên có những lời trích dẫn và hàm ý đến Cựu Ước.  Các nhân vật, ví dụ như ông Giacaria và bà Êlisabéth, ông Simêon và bà Anna, thánh Giuse và đặc biệt là Đức Maria, đại diện cho tinh thần người nghèo của Chúa được mô tả trong giai đoạn cuối của Cựu Ước.  Tất cả mọi người, và đặc biệt là Đức Maria, vui mừng vì sự cứu rỗi mà họ mong mỏi đã đến.

Thánh Luca phân chia Tin Mừng thời thơ ấu của Đức Giêsu ra làm bảy cảnh:  lời công bố việc ra đời của Gioan Tẩy Giả (1:5-25), lời công bố việc giáng sinh của Đức Giêsu (1:26-38), chuyến thăm viếng bà Êlisabéth của Đức Maria (1:39-56), Gioan Tẩy Giả ra đời (1:57-80), Đức Giêsu được sinh ra (2:1-21), Chúa Giêsu được dâng trong Đền thờ (2:41-52).  Nhiều học giả tin rằng thánh Luca có ý muốn tạo nên sự tương ứng giữa Chúa Giêsu và Gioan Tẩy Giả để cho thấy tính ưu việt của Chúa Giêsu so với Gioan, vị ngôn sứ cuối cùng.  Với sự ra đời của Đức Giêsu đã bắt đầu cho kỷ nguyên mới hướng về điều mà Cựu Ước mong mỏi.   

b)  Phúc Âm:  

Ngày ấy, có lệnh của hoàng đế Cêsarê Augustinô ban ra, truyền cho khắp nơi phải làm sổ kiểm tra.  Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, thực hiện thời Quirinô làm thủ hiến xứ Syria.  Mọi người đều lên đường trở về quê quán mình.  Giuse cũng rời thị trấn Nagiarét trong xứ Galilêa trở về quê quán của Đavít, gọi là Bêlem, vì Giuse thuộc hoàng gia và là tôn thất dòng Đavít, để kiểm tra cùng với Maria, bạn người, đang có thai.  Sự việc xảy ra, trong lúc ông bà đang ở đó, là Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh con trai đầu lòng.  Bà bọc con trẻ trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong hàng quán.

Bấy giờ trong miền đó có những người mục tử đang ở ngoài đồng và thức đêm để canh giữ đoàn vật mình.  Bỗng có thiên thần Chúa hiện ra đứng gần bên họ, và ánh sáng của Thiên Chúa bao tỏa chung quanh họ, khiến họ hết sức kinh sợ.  Nhưng thiên thần Chúa đã bảo họ rằng:  “Cá ngươi đừng sợ, đây ta mang đến cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho cả toàn dân:  Hôm nay Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế, đã giáng sinh cho các ngươi trong thành của Đavít.  Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người:  Các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ.”  Và bỗng chốc, cùng với các thiên thần, có một số đông thuộc đạo binh thiên quốc đồng thanh hát khen Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Khi các thiên thần biến đi, thì các mục tử nói với nhau rằng:  “Chúng ta đi đến Bêlem và coi xem sự việc đã xảy ra mà Chúa đã cho chúng ta được biết.”  Rồi họ hối hả tới nơi và gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ.  Khi thấy thế, họ đã hiểu ngay lời đã báo về hài nhi này.  Và tất cả những người nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ.  Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những sự việc đó, và suy niệm trong lòng.  Những mục tử trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ.  

 

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện

 

Để Lời Chúa được thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta.

 

4.  Một vài câu hỏi gợi ý

 

Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.

 

a)  Tôi có dành chỗ nào trong cuộc sống của tôi cho Chúa Giêsu không?    

b)  Các dấu hiệu của sự hiện diện Thiên Chúa trao ban cho tôi là gì? 

c)  Tôi đáp ứng với các dấu hiệu này như thế nào? 

d)  Chúa Giêsu đã được sinh ra để mang niềm vui và an bình.  Những món quà này mô tả đặc điểm cuộc đời tôi đến đâu rồi?

e)  Tôi có phải là người mang niềm vui và an bình đến cho những người khác không?  

 

5.  Chìa khóa của bài đọc

 

Dành cho những ai muốn đào sâu vào trong bài Tin Mừng.

 

·         “Không còn chỗ cho họ”

Chúa Giêsu được sinh ra trong sự nghèo khổ cùng cực.  Đó không chỉ là chuyện thiếu thốn vật chất của gia đình Chúa.  Nó còn hơn thế nữa.  Chúa được sinh ra tại nơi xa khỏi ngôi làng cha mẹ Người sinh sống, xa khỏi tình yêu thương của bạn bè và thân thích, xa khỏi sự ấm cúng của gia tộc, dù rằng là người nghèo.  Chúa được sinh ra ở giữa những người xa lạ không màng chi đến Người và chỉ có một máng cỏ cho việc giáng sinh của Người.

Chúng ta thấy ở đây mầu nhiệm nhập thể tuyệt vời.  Thánh Phaolô sẽ nói:  “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2Cr 8:9).  Lời mở đầu của Tin Mừng theo Gioan khẳng định rằng mặc dầu qua Người mà thế gian được tạo thành, Đức Giêsu, Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1:11).  Đó là tấn bi kịch đánh dấu toàn bộ cuộc đời của Đức Giêsu, tiến đến tột đỉnh của nó trong sự chối bỏ tuyệt đối tại cuộc tra án xét xử trước quan tổng trấn Philatô (xem Ga 18:28-19:16).  Trong phần phân tích cuối cùng, tấn bi kịch về Thiên Chúa, Đấng mặc khải chính mình và liên tục hiến tặng chính thân mình cho nhân loại và bị thường xuyên khước từ. 

 

·         Một dấu chỉ sắp được giải mã

Tuy nhiên, phải nói rằng không dễ dàng gì cho người thời bấy giờ nhận ra được Chúa Giêsu.  Điều ấy không bao giờ là việc dễ dàng cho bất cứ ai, ngay cả ngày nay, để nhận ra thực sự Người là ai.  Chỉ có sự mặc khải của Thiên Chúa mới có thể mặc khải mầu nhiệm của Người (xem ví dụ Ga 5:37; 6:45).  Trong câu chuyện giáng sinh của Người, mục đích lời loan báo của thiên thần chính là để mặc khải mầu nhiệm của Người.

Thật ra, đoạn Tin Mừng của chúng ta gồm có ba phần.  Trong các câu 1-7, chúng ta có sự kiện về sự ra đời của Đức Giêsu trong một bối cảnh rõ ràng.  Đó là sự ra đời của một hài nhi trai giống như những em bé trai khác.  Các câu 8-14 cho chúng ta biết về lời loan báo của thiên thần và thị kiến các thiên thần đồng thanh hát khen. Đó là sự mặc khải của Thiên Chúa (câu 15) giúp chúng ta khám phá ra trong “dấu hiệu” của “một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (câu 12) “Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế” (câu 11).  Trong phần cuối (các câu 15-20), chúng ta bắt gặp các phản ứng khác nhau về sự mặc khải của mầu nhiệm.  Khi dấu chỉ mà Thiên Chúa ban cho được nhận với lòng khiêm nhu, nó đánh dấu sự khởi đầu của cuộc hành trình đức tin hướng về Người, Đấng đã tự mặc khải chính mình.     

 

·         Làm cách nào để giải mã dấu chỉ và chào đón Đức Giêsu

Văn bản của chúng ta đưa ra ba phản ứng về mầu nhiệm Đức Giêsu.

Đầu tiên là các mục đồng.  Họ được biểu thị bởi một số động từ của mong đợi/tìm kiếm và khám phá:  “(họ) thức đêm … canh giữ” (câu 8); “chúng ta hãy đến và coi xem…” (câu 15); “họ hối hả tới nơi và gặp thấy…” (câu 16).  Các mục đồng đã sẵn sàng cho sự mặc khải của mầu nhiệm.  Họ đón nhận nó trong sự hồn nhiên và tin vào nó  (xem các câu 15 và 20) và họ đã trở nên các chứng nhân cho những gì đã được mặc khải cho họ (xem câu 17).  Sau đó, có “những người nghe” những gì các mục đồng nói với họ về Hài Nhi Giêsu (câu 16).  Họ ngạc nhiên, không thể nhìn thấy được ý nghĩa thực sự của sự kiện đã xảy ra trong bọn họ.  Sau cùng là phản ứng của Đức Maria.  Tác giả Phúc Âm đưa ra sự tương phản về phản ứng của bà với phản ứng của “những người nghe”.  Thật ra, Luca giới thiệu bà với những chữ “về phần Maria” (câu 19).  Giống như họ, Đức Maria đã không nghe thấy lời loan báo của thiên thần và đã không trông thấy các thiên thần hát mừng, mà chỉ được nghe từ lời chứng của các mục đồng.  Nhưng bà đã chấp nhận điều ấy.  Một cách chắc chắn, bà đã có lời truyền tin của thiên thần nói riêng cho mình bà tại lúc khởi đầu của cả toàn bộ câu chuyện này (1:26-38).  Thiên thần đã nói về người con mà bà sinh ra là Con Đấng Tối Cao sẽ trị vì cho đến muôn đời (xem câu 1:32 và 35). Nhưng những điều vừa mới xảy ra, sự ra đời trong những hoàn cảnh như thế, có thể gây ra nghi ngờ về những lời này.  Bây giờ các mục đồng xuất hiện và lại nói những điều tốt đẹp về con trai của bà.  Đức Maria ghi nhớ tất cả mọi việc trong lòng, những lời của thiên thần, những lời của các mục đồng, các sự kiện diễn ra và cố gom góp lại để hiểu về bé trai này, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho bà là ai, sứ vụ của người con này là gì và nhiệm vụ của bà trong tất cả những việc này là gì. Đức Maria là một người phụ nữ chiêm niệm, giữ cho mắt và tai của bà luôn rộng mở để khỏi bỏ lỡ bất cứ điều gì.  Khi ấy, bà giữ lại và suy niệm tất cả trong sự thinh lặng của tâm hồn chiêm niệm của mình.  Đức Maria là một Trinh Nữ chu đáo, có khả năng nhận lãnh lời Thiên Chúa nói với bà trong các sự kiện hằng ngày của đời sống.  Chỉ có những người muốn tìm kiếm như các mục đồng và có tâm hồn chiêm niệm của Đức Maria mới có thể giải mã được các dấu hiệu của sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong đời sống của họ và để đón nhận Đức Giêsu vào trong lòng họ.   

 

6.  Thánh Vịnh 98                                                                                                     

Hãy ca tụng Chúa một bài ca mới,

Vì Người đã thực hiện những việc lạ lùng.

Tay mặt Người đã đem lại toàn thắng,

Cùng với cánh tay thánh thiện của Người.

Chúa đã công bố ơn cứu độ,

Đã tỏ sự công chính Người trước mặt chư dân.

Người đã nhớ lại lòng nhân hậu,

Và lòng trung thành đối với nhà Israel.
Mọi dân trên khắp cùng bờ cõi trái đất,

Đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.

Toàn thể địa cầu hãy hân hoan mừng Chúa,

Hãy vui mừng hoan lạc và đàn ca.

Hãy ca mừng Chúa với đàn cầm thụ!

Với đàn cầm thụ, với nhạc rân ran!

Hãy thổi sáo và thúc tù và,

Hân hoan trước thành nhan Chúa là Vua!

Gầm vang lên, hỡi biển cả cùng muôn hải vật,

Địa cầu với toàn thể dân cư!

Sông lạch ơi, vỗ tay đi nào,

Đồi núi hỡi, reo mừng trước tôn nhan Chúa.

Vì Người ngự đến xét xử trần gian,

Người xét xử địa cầu theo đường công chính,

Xét xử muôn dân theo lẽ công bình.

7.  Lời Nguyện Kết

 

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng!  Chúa là kho báu duy nhất của con, con xin dâng hoàn toàn hồn xác con đây cho trí tưởng tượng thiêng liêng của Chúa.  Con không có niềm vui nào khác hơn là thấy Chúa mỉm cười.  Xin hãy khắc dấu ấn trên con với ân sủng Chúa và với các đức tính trẻ thơ của Người, để mà vào ngày sinh nhật của con trên thiên đàng, các thiên thần và các thánh có thể nhận ra những dấu này trong người phối ngẫu bé nhỏ của Chúa.

 

(Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan Chúa, lời nguyện thứ 14)

www.dongcatminh.org