Trang

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

ĐỨC THÁNH CHA LÊ-Ô XIV VÀ NHỮNG THÔNG ĐIỆP HÒA BÌNH GIỮA CƠN BÃO XUNG ĐỘT TOÀN CẦU



 Đức Thánh Cha Lêô XIV và Những thông điệp Hoà bình giữa cơn bão xung đột toàn cầu

Trong lịch sử Giáo hội, mỗi triều đại Giáo hoàng thường được định hình và nhận diện bởi một “từ khóa” nổi bật. Với Đức Thánh Cha Lêô XIV, chỉ trong mười tháng ngắn ngủi kể từ khi nhận sứ vụ Phêrô, từ khóa ‘hoà bình’ đã hiện lên khẩn thiết và xuyên suốt mọi hoạt động và thông điệp của ngài.

Vatican News

“Hòa bình” trong nhãn quan của Đức Thánh Cha Lêô XIV không phải là một danh từ tĩnh tại, cũng không phải là một trạng thái vắng bóng xung đột thuần túy trên các văn bản ký kết. Đọc lại những lời kêu gọi của ngài trong thời gian qua, chúng ta nhận thấy “hòa bình”, đối với ngài, là một động từ sống động, một thực thể đa diện bao hàm: khát vọng, lời cầu nguyện, sự kiên nhẫn, dấn thân, bền bỉ, gặp gỡ, chọn lựa, ngoại giao và cứu trợ.

Thế giới trong năm qua vốn đã trở thành một “thùng thuốc súng” thực sự với những ngòi nổ chực chờ bùng phát ở khắp các châu lục. Từ các sứ điệp, bài giáo lý đến những cuộc điện đàm cá nhân với các nguyên thủ quốc gia, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dệt nên một mạng lưới cầu nguyện cho hoà bình không ngừng nghỉ. Đó là một lời cầu xin liên lỉ với Thiên Chúa và cả với con người, mời gọi nhân loại đừng đuổi theo sự mê hoặc của kẻ gây chia rẽ, đừng đào sâu hố ngăn cách của sự phân cực, nhưng hãy nỗ lực xây dựng sự hòa hợp – vốn vừa là quà tặng của trời cao, vừa là hoa trái của nỗ lực con người.

Trách nhiệm đạo đức của đối thoại trước vực thẳm của chiến tranh

Bước vào những tháng đầu năm mới 2026, thế giới vẫn không ngừng rúng động bởi những tiếng nổ của đạn pháo và những toan tính quân sự tàn khốc. Tại một giáo xứ ngoại ô Roma vào Chủ Nhật tuần trước, trong một cuộc viếng thăm mục vụ, Đức Thánh Cha đã thốt lên trong đau xót: “Lại chiến tranh nữa!”.

Trước tình trạng bạo lực đang bủa vây nhân loại, Đức Thánh Cha khẳng định một chân lý mà ngài luôn lặp lại như một điệp khúc: “Bạo lực không bao giờ là sự lựa chọn đúng đắn”. Ngài bác bỏ quan điểm sai lầm cho rằng sức mạnh quân sự hay sự răn đe vũ khí có thể mang lại sự ổn định lâu dài.

Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa 1/3, ngài đã gửi đi một thông điệp mạnh mẽ: “Sự ổn định và hòa bình không được xây dựng bằng những đe dọa lẫn nhau, cũng không bằng vũ khí vốn gieo rắc sự hủy diệt, đau thương và chết chóc, nhưng chỉ thông qua một cuộc đối thoại hợp lý, chân thực và có trách nhiệm”. Đối thoại, trong cái nhìn của ngài, không phải là sự yếu thế, mà là biểu hiện cao nhất của lòng can đảm và phẩm giá con người.

Trước bóng ma của một “bi kịch với quy mô khổng lồ” đang đe dọa xóa sổ nhiều cộng đồng, Đức Thánh Cha đã đưa ra một tối hậu thư đạo đức cho các bên tham chiến: “Hãy đảm nhận trách nhiệm đạo đức để ngăn chặn vòng xoáy bạo lực trước khi nó trở thành một vực thẳm không thể cứu vãn!”. Ngoại giao, theo ngài, cần phải được tìm lại và thúc đẩy vì “lợi ích của các dân tộc đang khao khát một sự chung sống hòa bình, dựa trên công lý”.

“Cảm thấy mình là một dân tộc”: Liều thuốc chống lại chủ nghĩa dân tộc cực đoan

Vào Thứ Tư Lễ Tro vừa qua, khi bắt đầu hành trình sám hối của Mùa Chay, Đức Thánh Cha đã trình bày một khái niệm sâu sắc về căn tính cộng đồng: “Cảm thấy mình là một dân tộc”. Trong một thế giới đang bị xâu xé bởi các ý thức hệ hẹp hòi, đây chính là liều thuốc giải cho căn bệnh của chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn thường là ngòi nổ cho các cuộc chiến tranh đẫm máu.

Theo Đức Thánh Cha, cảm thức “mình là một dân tộc” này thể hiện “không theo cách dân tộc cực đoan và hung hăng, nhưng trong sự hiệp thông mà mọi người đều tìm thấy vị trí của mình”. Ngài cảnh báo rằng các chiến lược sức mạnh quân sự không thể tạo ra tương lai; tương lai đích thực chỉ nằm ở sự tôn trọng và tình huynh đệ giữa các dân tộc. Hòa bình, vì vậy, bắt đầu từ việc nhận ra khuôn mặt của một người anh em nơi người “khác biệt” với mình.

Lời kêu gọi này đặc biệt hướng về vùng Trung Đông, nơi đang bị rung chuyển bởi “những căng thẳng dai dẳng” giữa Iran, Israel, Syria và các quốc gia lân cận. Mong ước của ngài vào ngày 11 tháng 1 là một lời hiệu triệu cho lòng kiên nhẫn: hãy vun trồng “đối thoại và hòa bình với lòng kiên nhẫn, theo đuổi lợi ích chung của toàn xã hội”. Hòa bình không phải là kết quả của một sắc lệnh tức thời, mà là kết quả của việc kiên trì vun trồng như một người làm vườn tận tụy, không nản lòng trước sự khô cằn của hận thù.

Thế giới không được cứu bằng gươm giáo nhưng bằng giải giới diễn ngôn

Tại Thánh Lễ đầu năm mới 2026, Đức Thánh Cha đã đưa ra một thông điệp mang tính đảo ngược các giá trị quyền lực trần thế: “Thế giới không được cứu bằng cách mài sắc những lưỡi gươm”, bằng cách phán xét, áp bức hay loại bỏ anh em mình. Ngược lại, thế giới được cứu bằng nỗ lực không mệt mỏi để “thấu hiểu, tha thứ, giải phóng và đón nhận tất cả mọi người, không tính toán và không sợ hãi”.

Đức Thánh Cha đã bóc trần sự đạo đức giả của nền chính trị cường quyền – những kẻ luôn nhân danh hòa bình để gây hấn. Ngài lên án những “chiến lược vũ trang được bao bọc bởi những diễn ngôn đạo đức giả, những tuyên ngôn ý thức hệ, những lý do tôn giáo giả tạo”. Tại sự kiện Năm Thánh Ngoại giao vào giữa tháng 12 năm 2025, ngài đã mời gọi một cách mạnh mẽ: “Hãy giải giới những tuyên ngôn”.

Sự thanh tẩy ngôn từ chính là bước đầu tiên của giải trừ quân bị nội tâm. Ngài lưu ý rằng giá trị của một bài diễn văn không nằm ở sự bóng bẩy, chính xác về kỹ thuật, mà nằm ở sự trung thực và khôn ngoan làm cốt lõi. Ngài định nghĩa một cách quyết liệt: “Ngược lại với trung gian hòa giải không phải là sự im lặng mà là sự xúc phạm, vốn được vũ trang bằng những dối trá, tuyên truyền và đạo đức giả.” Giải giới ngôn từ chính là giải giới lòng thù hận trước khi nó biến thành hành động giết người trên thực địa.

Hòa bình là một “Công trường luôn mở”

Dấu chân và sứ điệp hoà bình của Đức Thánh Cha Lêô XIV đã trải dài qua nhiều vùng đất đau thương của nhân loại: từ Libăng đến Thổ Nhĩ Kỳ, từ những xích mích giữa Thái Lan và Campuchia đến những vết thương nhức nhối tại Ucraina, Sudan, Nigeria, Congo và Cabo Delgado. Tại mỗi nơi, sứ điệp của ngài luôn nhất quán: hãy để vũ khí thinh lặng để bắt đầu con đường đối thoại nghiêm túc.

Trong chuyến tông du đến Libăng, ngài khẳng định: “Vũ khí giết chóc, nhưng thương lượng, trung gian và đối thoại mới xây dựng”. Đức Thánh Cha kêu gọi giáo dục trái tim biết yêu chuộng hòa bình vì con đường thù địch đã hằn dấu quá lâu trong lịch sử. Đặc biệt, ngài định nghĩa hòa bình như một “công trường luôn mở”, không chỉ là một sự cân bằng mong manh về quân sự, mà phải được gắn kết không ngừng với những yêu cầu về sự thật và hòa giải.

Hòa bình không phải là một trạng thái tĩnh, nó là một nỗ lực kiến tạo hằng ngày, tỉ mỉ và kiên trì. Nếu không có sự thật, hòa bình chỉ là sự tạm hoãn xung đột. Nếu không có hòa giải, hòa bình chỉ là một lớp sơn che phủ vết thương đang rỉ máu.

“Khốn cho ai tìm cách lôi kéo Thiên Chúa vào chiến tranh”

Chủ sự buổi cầu nguyện liên tôn “Hãy dám sống hòa bình” tại đấu trường Colosseo vào chiều 28/10/2025, trước các lãnh đạo tôn giáo thế giới, Đức Thánh Cha Lêô XIV tuyên bố một cách mạnh mẽ: “Chỉ có hòa bình là thánh. Hãy chấm dứt chiến tranh với những đống xác người, hãy dừng lại!”. Ngài mạnh mẽ lên án việc “vũ khí hóa” đức tin để phục vụ tham vọng quyền lực: “Khốn cho ai tìm cách lôi kéo Thiên Chúa tham gia vào các cuộc chiến tranh. Thiên Chúa sẽ đòi nợ những kẻ không tìm kiếm hòa bình hoặc đã kích động xung đột”. Đây là một lời nhắc nhở nghiêm khắc rằng Thiên Chúa không bao giờ thuộc về bất kỳ phe phái nào trong các cuộc chém giết; Ngài luôn đứng về phía các nạn nhân. Tại lễ tuyên thánh cho Carlo Acutis và Pier Giorgio Frassati, ngài đã diễn tả ý muốn của Thiên Chúa trong câu ngắn nhưng đầy sức nặng: “Thiên Chúa muốn hòa bình”.

Vũ khí hóa nạn đói và tội ác chống lại nhân loại

Đức Thánh Cha mở rộng tầm nhìn về hòa bình ra cả lĩnh vực nhân đạo và kinh tế. Trong chuyến thăm Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), ngài đã tố cáo một hình thức chiến tranh hèn hạ nhưng tàn khốc: “Ngay cả cơn đói cũng có thể biến thành vũ khí chiến tranh”. Ngài gọi đây là một “tội ác” thực sự và là một sự thất bại tập thể của nhân loại.

Vào ngày 21/9, tại giáo xứ Thánh Anna, ngài đã thẳng thắn chỉ trích việc đổ tiền vào vũ khí thay vì cứu người. Ngài lo ngại về một sự biến tướng của các mục đích, tạo ra sự “thờ ơ không biết xấu hổ” trước nỗi đau của các dân tộc. Trong bối cảnh đó, ngài đặc biệt bảo vệ các nhà báo – những người đang nỗ lực chiếu sáng vào những góc tối của các cuộc xung đột quên lãng. Ngài khẳng định: “Làm nhà báo không bao giờ là một tội ác, hãy trả tự do cho các phóng viên bị cầm tù”. Bởi vì khi sự thật bị giam cầm, chiến tranh sẽ có thêm đất để nuôi dưỡng những dối trá và tuyên truyền đạo đức giả.

Tòa Thánh sẵn sàng là cầu nối để các kẻ thù gặp nhau

Tám mươi năm sau thảm họa Hiroshima và Nagasaki, Đức Thánh cha Lêô XIV một lần nữa cảnh báo về “sự tàn phá” hạt nhân, một mối đe dọa không thể bị phớt lờ. Ngài nhắc lại nguyên tắc cốt lõi của chủ nghĩa đa phương: “Không ai được đe dọa sự tồn vong của người khác”.

Ngài đưa ra một lời đề nghị hòa giải mở cho toàn thế giới: “Để hòa bình này được lan tỏa, tôi sẽ dành mọi nỗ lực... Tòa Thánh luôn sẵn sàng để các kẻ thù gặp nhau và nhìn thẳng vào mắt nhau. Với trái tim đặt trên bàn tay, tôi nói với những người chịu trách nhiệm về các dân tộc: chúng ta hãy gặp nhau, đối thoại và đàm phán!”

Hiệp thông với Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Thánh Cha, chúng ta hãy cầu nguyện “để các quốc gia hướng tới việc giải trừ vũ khí một cách hiệu quả, đặc biệt là giải trừ vũ khí hạt nhân, và để các nhà lãnh đạo thế giới chọn con đường đối thoại và ngoại giao thay vì bạo lực”.

 

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2026-03/dtc-leo-xiv-va-nhung-thong-diep-hoa-binh-giua-con-bao-xung-dot.html

MARCH 8, 2026: THIRD SUNDAY OF LENT year A

 March 8, 2026

Third Sunday of Lent

Lectionary: 28

 


Reading I

Exodus 17:3-7

In those days, in their thirst for water,
the people grumbled against Moses,
saying, “Why did you ever make us leave Egypt?
Was it just to have us die here of thirst 
with our children and our livestock?”
So Moses cried out to the LORD, 
“What shall I do with this people?
a little more and they will stone me!”
The LORD answered Moses,
“Go over there in front of the people, 
along with some of the elders of Israel, 
holding in your hand, as you go, 
the staff with which you struck the river.
I will be standing there in front of you on the rock in Horeb.
Strike the rock, and the water will flow from it 
for the people to drink.”
This Moses did, in the presence of the elders of Israel.
The place was called Massah and Meribah, 
because the Israelites quarreled there
and tested the LORD, saying,
“Is the LORD in our midst or not?”

 

Responsorial Psalm

Psalm 95:1-2, 6-7, 8-9

R. (8)  If today you hear his voice, harden not your hearts.
Come, let us sing joyfully to the LORD;
    let us acclaim the Rock of our salvation.
Let us come into his presence with thanksgiving;
    let us joyfully sing psalms to him.
R. If today you hear his voice, harden not your hearts.
Come, let us bow down in worship;
    let us kneel before the LORD who made us.
For he is our God,
    and we are the people he shepherds, the flock he guides.
R. If today you hear his voice, harden not your hearts.
Oh, that today you would hear his voice:
    “Harden not your hearts as at Meribah,
    as in the day of Massah in the desert,
Where your fathers tempted me;
    they tested me though they had seen my works.”
R. If today you hear his voice, harden not your hearts.

 

Reading II

Romans 5:1-2, 5-8

Brothers and sisters:
Since we have been justified by faith, 
we have peace with God through our Lord Jesus Christ, 
through whom we have gained access by faith 
to this grace in which we stand, 
and we boast in hope of the glory of God.

And hope does not disappoint, 
because the love of God has been poured out into our hearts 
through the Holy Spirit who has been given to us.
For Christ, while we were still helpless, 
died at the appointed time for the ungodly.
Indeed, only with difficulty does one die for a just person, 
though perhaps for a good person one might even find courage to die.
But God proves his love for us
in that while we were still sinners Christ died for us.

 

Verse Before the Gospel

John 4:42, 15

Lord, you are truly the Savior of the world;
give me living water, that I may never thirst again.

 

Gospel

John 4:5-42

Jesus came to a town of Samaria called Sychar, 
near the plot of land that Jacob had given to his son Joseph.
Jacob’s well was there.
Jesus, tired from his journey, sat down there at the well.
It was about noon.

A woman of Samaria came to draw water.
Jesus said to her,
“Give me a drink.”
His disciples had gone into the town to buy food.
The Samaritan woman said to him,
“How can you, a Jew, ask me, a Samaritan woman, for a drink?”
—For Jews use nothing in common with Samaritans.—
Jesus answered and said to her,
“If you knew the gift of God
and who is saying to you, ‘Give me a drink, ‘
you would have asked him 
and he would have given you living water.”
The woman said to him, 
“Sir, you do not even have a bucket and the cistern is deep; 
where then can you get this living water?
Are you greater than our father Jacob, 
who gave us this cistern and drank from it himself 
with his children and his flocks?”
Jesus answered and said to her, 
“Everyone who drinks this water will be thirsty again; 
but whoever drinks the water I shall give will never thirst; 
the water I shall give will become in him
a spring of water welling up to eternal life.”
The woman said to him,
“Sir, give me this water, so that I may not be thirsty 
or have to keep coming here to draw water.”

Jesus said to her,
“Go call your husband and come back.”
The woman answered and said to him,
“I do not have a husband.”
Jesus answered her,
“You are right in saying, ‘I do not have a husband.’
For you have had five husbands, 
and the one you have now is not your husband.
What you have said is true.”
The woman said to him,
“Sir, I can see that you are a prophet.
Our ancestors worshiped on this mountain; 
but you people say that the place to worship is in Jerusalem.”
Jesus said to her,
“Believe me, woman, the hour is coming
when you will worship the Father
neither on this mountain nor in Jerusalem.
You people worship what you do not understand; 
we worship what we understand, 
because salvation is from the Jews.
But the hour is coming, and is now here, 
when true worshipers will worship the Father in Spirit and truth; 
and indeed the Father seeks such people to worship him.
God is Spirit, and those who worship him
must worship in Spirit and truth.”
The woman said to him,
“I know that the Messiah is coming, the one called the Christ; 
when he comes, he will tell us everything.”
Jesus said to her,
“I am he, the one speaking with you.”

At that moment his disciples returned, 
and were amazed that he was talking with a woman, 
but still no one said, “What are you looking for?” 
or “Why are you talking with her?”
The woman left her water jar 
and went into the town and said to the people, 
“Come see a man who told me everything I have done.
Could he possibly be the Christ?”
They went out of the town and came to him.
Meanwhile, the disciples urged him, “Rabbi, eat.”
But he said to them,
“I have food to eat of which you do not know.”
So the disciples said to one another, 
“Could someone have brought him something to eat?”
Jesus said to them,
“My food is to do the will of the one who sent me
and to finish his work.
Do you not say, ‘In four months the harvest will be here’?
I tell you, look up and see the fields ripe for the harvest.
The reaper is already receiving payment 
and gathering crops for eternal life, 
so that the sower and reaper can rejoice together.
For here the saying is verified that ‘One sows and another reaps.’
I sent you to reap what you have not worked for; 
others have done the work, 
and you are sharing the fruits of their work.” 

Many of the Samaritans of that town began to believe in him
because of the word of the woman who testified, 
“He told me everything I have done.”
When the Samaritans came to him,

they invited him to stay with them; 
and he stayed there two days.
Many more began to believe in him because of his word, 
and they said to the woman, 
“We no longer believe because of your word; 
for we have heard for ourselves, 
and we know that this is truly the savior of the world.”

 


OR:

John 4:5-15, 19b-26, 39a, 40-42

Jesus came to a town of Samaria called Sychar, 
near the plot of land that Jacob had given to his son Joseph.
Jacob’s well was there.
Jesus, tired from his journey, sat down there at the well.
It was about noon.

A woman of Samaria came to draw water.
Jesus said to her,
“Give me a drink.”
His disciples had gone into the town to buy food.
The Samaritan woman said to him, 
“How can you, a Jew, ask me, a Samaritan woman, for a drink?”
—For Jews use nothing in common with Samaritans.—
Jesus answered and said to her,
“If you knew the gift of God
and who is saying to you, ‘Give me a drink, ‘
you would have asked him 
and he would have given you living water.”
The woman said to him, 
“Sir, you do not even have a bucket and the cistern is deep; 
where then can you get this living water?
Are you greater than our father Jacob, 
who gave us this cistern and drank from it himself 
with his children and his flocks?”
Jesus answered and said to her, 
“Everyone who drinks this water will be thirsty again; 
but whoever drinks the water I shall give will never thirst; 
the water I shall give will become in him
a spring of water welling up to eternal life.”
The woman said to him,
“Sir, give me this water, so that I may not be thirsty 

or have to keep coming here to draw water.

“I can see that you are a prophet.
Our ancestors worshiped on this mountain; 
but you people say that the place to worship is in Jerusalem.”
Jesus said to her,
“Believe me, woman, the hour is coming
when you will worship the Father 
neither on this mountain nor in Jerusalem.
You people worship what you do not understand; 
we worship what we understand, 
because salvation is from the Jews.
But the hour is coming, and is now here, 
when true worshipers will worship the Father in Spirit and truth; 
and indeed the Father seeks such people to worship him.
God is Spirit, and those who worship him 
must worship in Spirit and truth.”
The woman said to him,
“I know that the Messiah is coming, the one called the Christ; 
when he comes, he will tell us everything.”
Jesus said to her,
“I am he, the one who is speaking with you.”

Many of the Samaritans of that town began to believe in him.
When the Samaritans came to him,
they invited him to stay with them; 
and he stayed there two days.
Many more began to believe in him because of his word, 
and they said to the woman, 
“We no longer believe because of your word;
for we have heard for ourselves, 
and we know that this is truly the savior of the world.”

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/030826.cfm

 

 


Sunday of Week 3 of Lent (Year A, B or C)

 

Note: On this, the Third Sunday in Lent, we celebrate the Mass for the first of the three ‘Scrutinies’. The Scrutinies are special rites that help prepare the Elect (those participating in the Order of Christian Initiation of Adults) to enter the Catholic Church. The readings discussed in this commentary, while ‘proper’ for Year A, may also be used in Years B and C when there are catechumens present who will be baptised at Easter. Click on the links below for the commentaries on readings proper for Years B and C:

Year B Commentary

Year C Commentary

______________________________________________________

Commentary on Exodus 17:3-7; Romans 5:1-2,5-8; John 4:5-42

The theme of today’s readings centres around  water, and the links to Baptism are clear.  Water is the source of life, but also of destruction. We have the story of the Flood, which brought salvation to Noah and his family, but death to a sinful world; the crossing of the Red Sea, which meant life and liberty to the Israelites, but death to the army of the Pharaoh; and the water from the rock for the Israelites in the dryness of the desert.  We will hear more about these at the Easter Vigil during the blessing of the baptismal water.

The Gospel is about the Samaritan woman at the well, and it also centres around the theme of water and life.

Marginalised groups
Generally speaking, the Samaritan woman can be said to represent three oppressed groups of people:

  • women in general,
  • prostitutes and sexually immoral people and,
  • all kinds of outsiders, including people who are unclean, infidels or foreigners.

The story begins with Jesus showing himself as a person in need: tired, hungry and thirsty.  We constantly have to remind ourselves how genuinely human Jesus was. As stated in the Fourth Eucharistic Prayer, he was:

…like us in all things but sin.

He asks help from a person he was supposed to avoid (a strange woman on her own), and also to hate—a Samaritan. She is very surprised at his approach, but her surprise allows Jesus to turn the tables and offer her “living water”.  She, understanding him literally, asks how he can give it as he has no bucket.  But the water that Jesus will give is different. He says:

Everyone who drinks of this water [i.e. from the well] will be thirsty again, but those who drink of the water that I will give them will never be thirsty.

Again and literally, the woman wants this water that lasts forever, thinking that she will then never have to trudge to the well again.

What is this water that Jesus speaks about?  It is God’s Spirit which comes to us in baptism. The sacrament of baptism is not just a ritual producing magic effects.  It is the outward, symbolic sign of a deep reality, the coming of God as a force penetrating every aspect of a person’s life.

And this happens through our exposure to Jesus and the gospel vision of life, and through our becoming totally converted to that vision.  This can only happen through the agency of a Christian community into which we are called to enter.  As the Second Reading says today:

…God’s love has been poured into our hearts through the Holy Spirit that has been given to us.

It is not just a question of a ritual washing or immersing and saying magic words, but of a real drinking in of that Spirit.  The Spirit quenches our thirst, not by removing our desire for God’s presence, but by continually satisfying it.

Five husbands plus
Jesus invites the woman to come back to the well once more with her husband.  Jesus’ mission begins with reaching out to a family.  But she says she has no husband.  Indeed, as Jesus reveals her true situation: she has had five husbands and the man she is with now is not her husband.  She is considered a ‘loose’ woman who must have been deeply despised by people around her.  It is no wonder she came to the well alone!

The water that Jesus promises is closely linked to conversion and forgiveness of sin.  Jesus is the Lamb of God who takes away the sin of the world.  But the sin must first be exposed and acknowledged.  And the focus of Jesus’ attention is not just the woman’s sin, but that of everyone in the whole town from which she comes.  Sinner that she is, she will become the agent of her neighbors’ salvation and conversion.

Changing the subject
The woman is staggered at Jesus’ insight into her life.  She is embarrassed, and so there is a sudden change of topic to something theoretical and ‘safe’. How often do we do that? 

The question the woman asks is about Jewish and Samaritan places of worship: Jerusalem, holy to the Jews, or Mount Gerizim, holy to the Samaritans, or the well of Jacob where they are.  But it gives Jesus the opportunity to make another important point.  The ‘holy’ well where they are will become irrelevant—so will the Temple of Jerusalem and the mountain of the Samaritans.  True worship will be done “in Spirit and in truth”.  There will be no more temples.  It is not places which are holy, but the people who use them.  It is we who are the Temple of God and the dwelling place of Christ.

The woman goes on to say that she knows when the Messiah comes, he will tell all about this.  At that point, Jesus tells her that he is the Messiah.  How extraordinary!  It is a religious outsider, and a multiple adulterer, who is the first person in John’s Gospel to hear this revelation!  And, this is precisely because it is sinners (like each one of us!) who need to hear this.  People who are healthy do not need the doctor, only the sick.

Amazement
Just then the disciples return.  As men of their time and culture, they are amazed to see Jesus talking alone to this woman, this despised outsider.  They don’t know what to say.  They offer Jesus food, but he tells them he has food they know nothing about:

One does not live by bread alone,
but by every word that comes from the mouth of God.

(Matt 4:4)

Jesus’ food is his total identification with the will of his Father and doing his work:

Blessed rather are those who hear the word of God and obey it. (Luke 11:28)

Linked with the idea of bread and feeding, Jesus tells them that the harvest is great and it is ripe. And the harvest now includes Samaritans (including this woman) and all outsiders, aliens, unbelievers, and all sinners.  It is a harvest that has been prepared by others.

“Stay with us”
Many Samaritans came to believe in Jesus because of the woman’s witnessing.  They asked him to stay with them, because otherwise he would have continued on his journey.  Jesus often needs to be invited to stay.  Remember the two men walking to Emmaus?  He would not have stopped if they had not invited him to stay the night.  He stands at the door and knocks, but he will not come in unless invited.

As a result, many in that Samaritan village came to believe in Jesus.  And they said:

It is no longer because of what you [the woman] said that we believe, for we have heard for ourselves, and we know that this is truly the Savior of the world.

For catechumens, and for all of us, the faith that has been handed on must become our own faith.  So that, even if everyone around us were to abandon Jesus, I would not.  Ultimately faith is totally personal: 

…it is no longer I who live, but it is Christ who lives in me.
(Gal 2:20)

Let us pray today that all those preparing to be baptised at Easter may find that life-enriching faith for their lives.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/labc031/

 

 


Sunday, March 8, 2026

Third Sunday of Lent

Opening Prayer

Lord Jesus, send your Spirit to help us read the Scriptures in the same way that you read them to the disciples on the road to Emmaus. With the light of the Word in the Bible, you helped them to discover the presence of God in the distressing events surrounding your condemnation to death. The cross, which seemed to put an end to all hope, was revealed to them as the source of life and resurrection.

Create in us the silence necessary to hear your voice in creation and in the Scriptures, in the events of daily life and in people, above all in the poor and the suffering. May your word give us direction, just as it did to the two disciples on the road to Emmaus, so that we too will experience the power of your resurrection and bear witness to others that you are alive in our midst as the source of community, of justice and of peace. We ask this of you, Jesus, son of Mary, you who revealed the Father to us and sent us your Spirit. Amen.

Gospel Reading - John 4, 5-42

A Key for Unlocking the Text:

The text describes the dialogue between Jesus and the Samaritan woman. It is a very human conversation, which shows how Jesus related to people and how he himself learned and became enriched in talking with others. While reading the text, try to be aware of what surprises you most about the attitude both of Jesus and the woman.

A Division of the Text to Assist a Careful Reading:

           Jn 4,5-6: Sets the scene in which the dialogue takes place

           Jn 4,7-26: Describes the dialogue between Jesus and the woman 

           7-15: about water and thirst

           16-18: about the husband and family

           19-25: about religion and the place for adoration

           Jn 4,27-30: Describes the effect of the conversation on the woman 

           Jn 4,31-38: Describes the effect of the conversation on Jesus Jn 4,39-42: Describes the effect on the mission of Jesus in Samaria The Text:

           5-6: So he came to a city of Samaria, called Sychar, near the field that Jacob gave to his son Joseph. Jacob's well was there, and so Jesus, wearied as he was with his journey, sat down beside the well. It was about the sixth hour.

           7-15: There came a woman of Samaria to draw water. Jesus said to her, "Give me a drink." For his disciples had gone away into the city to buy food. The Samaritan woman said to him, "How is it that you, a Jew, ask a drink of me, a woman of Samaria?" For Jews have no dealings with Samaritans. Jesus answered her, "If you knew the gift of God, and who it is that is saying to you, 'Give me a drink,' you would have asked him, and he would have given you living water." The woman said to him, "Sir, you have nothing to draw with, and the well is deep; where do you get that living water? Are you greater than our father Jacob, who gave us the well, and drank from it himself, and his sons, and his cattle?" Jesus said to her, "Everyone who drinks of this water will thirst again, but whoever drinks of the water that I shall give him will never thirst; the water that I shall give him will become in him a spring of water welling up to eternal life." The woman said to him, "Sir, give me this water, that I may not thirst, nor come here to draw."

           16-18: Jesus said to her, "Go, call your husband, and come here." The woman answered him, "I have no husband." Jesus said to her, "You are right in saying, 'I have no husband'; for you have had five husbands, and he whom you now have is not your husband; this you said truly."

           19-26: The woman said to him, "Sir, I perceive that you are a prophet. Our fathers worshiped on this mountain; and you say that in Jerusalem is the place where men ought to worship." Jesus said to her, "Woman, believe me, the hour is coming when neither on this mountain nor in Jerusalem will you worship the Father. You worship what you do not know; we worship what we know, for salvation is from the Jews. But the hour is coming, and now is, when the true worshipers will worship the Father in spirit and truth, for such the Father seeks to worship him. God is spirit, and those who worship him must worship in spirit and truth." The woman said to him, "I know that Messiah is coming (he who is called Christ); when he comes, he will show us all things." Jesus said to her, "I who speak to you am he."

           27-30: Just then his disciples came. They marvelled that he was talking with a woman, but none said, "What do you wish?" or, "Why are you talking with her?" So the woman left her water jar, and went away into the city, and said to the people, "Come, see a man who told me all that I ever did. Can this be the Christ?" They went out of the city and were coming to him.

           31-38: Meanwhile the disciples besought him, saying, "Rabbi, eat." But he said to them, "I have food to eat of which you do not know." So the disciples said to one another, "Has any one brought him food?" Jesus said to them, "My food is to do the will of him who sent me, and to accomplish his work. Do you not say, 'There are yet four months, then comes the harvest? I tell you, lift up your eyes, and see how the fields are already white for harvest. He who reaps receives wages, and gathers fruit for eternal life, so that sower and reaper may rejoice together. For here the saying holds true, 'One sows and another reaps.' I sent you to reap that for which you did not labour; others have laboured, and you have entered into their labor."

           39-42: Many Samaritans from that city believed in him because of the woman's testimony, "He told me all that I ever did." So, when the Samaritans came to him, they asked him to stay with them; and he stayed there two days. And many more believed because of his word. They said to the woman,

"It is no longer because of your words that we believe, for we have heard for ourselves, and we know that this is indeed the Savior of the world."

A Moment of Silent Prayer

so that the Word of God can enter into us and light up our lives.

Some Questions

to help us in our meditation and prayer.

           What most attracted your attention in Jesus’ attitude to the woman during the dialogue? What method did Jesus use to help the woman become aware of a deeper dimension to life?

     

           What most attracted your attention about the attitude of the Samaritan woman during her conversation with Jesus? How did she influence Jesus?

     

           Where in the Old Testament, is water associated with the gift of life and the gift of the Holy Spirit?

           How does Jesus’ attitude during the conversation question me or touch something within me or correct me?

           The Samaritan woman led the discussion towards religion. If you could come across Jesus and talk to him, what would you like to talk about? Why?

           Do I adore God in spirit and in truth or do I find my security in rituals and regulations?

A Key to the Reading

for those who wish to go deeper.

The Symbolism of Water:

           Jesus uses the word water in two senses. The first sense is the material, normal sense of water that one drinks; the second is the symbolic sense as the source of life and the gift of the Spirit. Jesus uses a language that people can understand and, at the same time, awakes in them, the desire to go deeper and to discover a more profound meaning to life.

           The symbolic sense of water has its roots in the Old Testament, where it is frequently a symbol for the action of the Spirit of God in people. For example, Jeremiah compares running water to water in a cistern (Jer. 2,13). The more water is taken from a cistern, the less it has; the more water is taken from a stream of living water, the more it has. Other texts from the Old Testament: Is.12,3; 49,10; 55,1; Ez. 47, 1-3. Jesus knew the traditions of his people and he uses these in his conversation with the Samaritan woman. Suggesting the symbolic meaning of water, he suggests to her (and to the readers) various episodes and phrases from the Old Testament. The Dialogue between Jesus and the Woman:

           Jesus meets the woman at the well, a traditional place for meetings and conversations (Gen 24,10-27;29,1-14). He starts off from his own very real need because he is thirsty. He does this in such a way that the woman feels needed and she serves him. Jesus makes himself needy in her regard. From his question, he makes it possible for the woman to become aware that he depends on her to give him something to drink. Jesus awakens in her the desire to help and to serve.

           The conversation between Jesus and the woman has two levels.

           The superficial level, in the material sense of water that quenches someone’s thirst, and in the normal sense of husband as the father of a family. At this level the conversation is tense and difficult and does not flow. The Samaritan woman has the upper hand. At the beginning, Jesus tries to meet her by talking about daily chores (fetching water), but he does not succeed. Then he tries by talking about family (call your husband), and still there is no breakthrough. Finally the woman speaks about religion (the place of adoration). Jesus then gets through to her by the door she herself has opened.

           The deeper level, in the symbolic sense of water as the image of the new life brought by Jesus, and of the husband as the symbol of the union of God with the people. At this level, the conversation flows perfectly. After revealing that he himself is offering the water of new life, Jesus says, "Go and get your husband and then return." In the past, the Samaritans had five husbands, or five idols, attached to the five groups of people who were taken off by the King of Assyria (2 Kings 17, 30-31). The sixth husband, the one the woman had at present, was not truly her husband: "the one you have now is not your husband" (Jn. 4,18). What the people had did not respond to their deepest desire: union with God, as a husband who unites himself to his spouse (Is. 62,5; 54,5). The true husband, the seventh, is Jesus, as promised by Hosea: "I will espouse you to me forever; I will espouse you in right and in justice, in love and in mercy. I will espouse you in fidelity, and you shall know the Lord." (Hos. 2, 21-22). Jesus is the bridegroom who has arrived (Mk. 2, 19) to bring new life to the woman who has been searching for it her whole life long, and until now, has never found it. If the people accept Jesus as "husband", they will have access to God wherever they are, both in spirit and in truth (vv. 23- 24).

* Jesus declares his thirst to the Samaritan woman but he does not drink. This is a sign that we are talking about a symbolic thirst, which had to do with his mission: the thirst to accomplish the will of his Father (Jn. 4, 34). This thirst is ever present in Jesus and will be until his death. At the moment of his death, he says, "I am thirsty" (Jn. 19, 28). He declares his thirst for the last time and so he can say, "It is accomplished." Then he bowed his head and gave up his spirit. (Jn. 19,30). His mission had been accomplished.

The Importance of Women in the Gospel of John:

In John’s Gospel, women feature prominently seven times, which are decisive for the spreading of the Good News. To women are given functions and missions, some of which, in the other Gospels, are attributed to men:

           At the wedding feast in Cana, the mother of Jesus recognizes the limits of the Old Testament and affirms the law of the Gospel, "Do whatever he tells you." (Jn. 2, 1-11).

           The Samaritan woman is the first person to have revealed to her by Jesus the great secret, that he is the Messiah. "It is I who speak to you." (Jn. 4,26). She then becomes the evangelizer of Samaria (Jn. 4, 28-30. 39-42).

           The woman, who is called an adulteress, at the moment of receiving the forgiveness of Jesus, becomes the judge of the patriarchal society (or of male power) that seeks to condemn her. (Jn. 8, 1-11).

           In the other Gospels it is Peter who makes the solemn profession of faith in Jesus (Mt. 16, 16; Mk. 8,29; Lk. 9,20). In the Gospel of John, it is Martha, sister of Mary and Lazarus, who makes the solemn profession of faith (Jn. 11,27).

           Mary, the sister of Martha, anoints the feet of Jesus for the day of his burial (Jn. 12,7). At the time of Jesus, the one who died on a cross was not buried nor embalmed. Mary anticipated the anointing of Jesus’ body. This means that she accepted Jesus as the Messiah-Suffering Servant, who must die on the cross. Peter did not accept this (Jn.13,8) and sought to dissuade Jesus from this path (Mt. 16,22). In this way, Mary is presented as a model for the other disciples.

           At the foot of the cross, Jesus says, "Woman, behold your son; son, behold your mother" (Jn. 19,25-27). The Church is born at the foot of the cross. Mary is the model for the Christian community.

           Mary Magdalene must announce the Good News to the brothers (Jn. 20,1118). She receives an order, without which all the other orders given to the apostles would have no effect or value.

           The Mother of Jesus appears twice in John’s Gospel: at the beginning, at the wedding feast in Cana (Jn. 2, 1-5), and at the end, at the foot of the cross (Jn. 19, 25-27). In both cases, she represents the Old Testament that waits for the arrival of the New, and, in both cases, assists its arrival. Mary unites what has gone before with what would come later. At Cana, it is she, the Mother of Jesus, symbol of the Old Testament, who perceives its limits and takes steps so that the New will arrive. At the hour of Jesus’ death, it is the Mother of Jesus, who welcomes the "Beloved Disciple." In this case the Beloved Disciple is the new community, which has grown around Jesus. It is the child that has been born from the Old Testament. In response to Jesus’ request, the son, the New Testament, welcomes the Mother, the Old Testament, into his home. The two must journey together. The New Testament cannot be understood without the Old. It would be a building without a foundation.

The Old without the New would be incomplete. It would be a tree without fruit.

Psalm 19 (18)

God speaks to us through nature and through the Bible The heavens are telling the glory of God; and the firmament proclaims his handiwork. Day to day pours forth speech, and night to night declares knowledge. There is no speech, nor are there words; their voice is not heard; yet their voice goes out through all the earth, and their words to the end of the world.

In them he has set a tent for the sun, which comes forth like a bridegroom leaving his chamber, and like a strong man runs its course with joy.

Its rising is from the end of the heavens, and its circuit to the end of them; and there is nothing hid from its heat.

The law of the Lord is perfect, reviving the soul; the testimony of the Lord is sure, making wise the simple; the precepts of the Lord are right, rejoicing the heart; the commandment of the Lord is pure, enlightening the eyes. The fear of the Lord is clean, enduring forever; the ordinances of the Lord are true, and righteous altogether. More to be desired are they than gold, even much fine gold; sweeter also than honey and drippings of the honeycomb.

Moreover, by them is thy servant warned; in keeping them there is great reward.

But who can discern his errors? Clear thou me from hidden faults. Keep back thy servant also from presumptuous sins; let them not have dominion over me!

Then I shall be blameless, and innocent of great transgression.

Let the words of my mouth and the meditation of my heart be acceptable in thy sight, O Lord, my rock and my redeemer.

Final Prayer

Lord Jesus, we thank you for your word, which has helped us see better the will of the Father. Let your Spirit illumine all that we do and give us the strength to carry out that which your Word has made us see. Let us, like Mary, your Mother, not only listen to the Word but also put it into practice. You who live and reign with the Father in the unity of the Holy Spirit forever and ever. Amen.

www.ocarm.org

 

08.03.2026: CHÚA NHẬT III MÙA CHAY năm A

 08/03/2026

 CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY năm A

 




Bài Ðọc I: Xh 17, 3-7

“Xin cho chúng tôi nước để chúng tôi uống”.

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môsê rằng: “Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy”. Môsê kêu lên cùng Chúa rằng: “Con sẽ phải làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi”. Chúa liền phán bảo Môsê: “Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống”. Môsê làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là “Thử Thách”, vì con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa mà rằng: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?”

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9

Ðáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Các ngươi đừng cứng lòng!”

Xướng: Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Ðá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người!

Xướng: Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Ðấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người.

Xướng:Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Ðừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta”.

 

Bài Ðọc II: Rm 5, 1-2. 5-8

“Lòng mến Chúa đổ xuống lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Ðấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm

Lạy Chúa, Chúa thật là Ðấng cứu chuộc thế gian; xin ban cho con nước hằng sống, để con không còn khát nữa.

 

PHÚC ÂM: Ga 4,5-42 (Bài dài)

“Mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria).

Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”

Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”. Chúa Giêsu bảo: “Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói “tôi không có chồng” là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”.

Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.

Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.

Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: “Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?” Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Ðấng Kitô?” Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: “Xin mời Thầy ăn”. Nhưng Ngài đáp: “Thầy có của ăn mà các con không biết”. Môn đệ hỏi nhau: “Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?” Chúa Giêsu nói: “Của Thầy ăn là làm theo ý Ðấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Ðúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ”.

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: “Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm”. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.

Ðó là lời Chúa.

 

Hoặc đọc bài ngắn này: Ga 4, 5-15. 19b-26. 39a. 40-42

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Samaria).

Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này, và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”

Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát, và khỏi phải đến đây xách nước nữa”.

Và người đàn bà nói với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”. Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.

Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chúa nhật tuần thứ 3 Mùa Chay (Năm A, B hoặc C)

 

Lưu ý: Vào Chúa nhật thứ ba Mùa Chay này, chúng ta cử hành Thánh lễ cho nghi thức “Kiểm tra” đầu tiên trong ba nghi thức. Các nghi thức Kiểm tra là những nghi lễ đặc biệt giúp chuẩn bị cho những người được chọn (những người tham gia Nghi thức Gia nhập Kitô giáo dành cho người lớn) gia nhập Giáo hội Công giáo. Các bài đọc được thảo luận trong phần bình luận này, mặc dù “phù hợp” với Năm A, cũng có thể được sử dụng trong Năm B và C khi có các dự tòng sẽ được rửa tội vào Lễ Phục Sinh. Nhấp vào các liên kết bên dưới để xem bình luận về các bài đọc phù hợp với Năm B và C:

Bình luận Năm B

Bình luận Năm C

______________________________________________________

Bình luận về Xuất Hành 17,3-7; Rô-ma 5,1-2,5-8; Gioan 4,5-42

Chủ đề của các bài đọc hôm nay xoay quanh nước, và mối liên hệ với Bí tích Rửa tội rất rõ ràng. Nước là nguồn gốc của sự sống, nhưng cũng là nguồn gốc của sự hủy diệt. Chúng ta có câu chuyện về trận Đại Hồng Thủy, mang lại sự cứu rỗi cho Nô-ê và gia đình ông, nhưng lại mang đến cái chết cho một thế giới tội lỗi; việc vượt Biển Đỏ, mang lại sự sống và tự do cho dân Ít-ra-en, nhưng lại mang đến cái chết cho quân đội của Pha-ra-ôn; và nước từ tảng đá cho dân Ít-ra-en trong sự khô hạn của sa mạc. Chúng ta sẽ nghe thêm về những điều này trong Đêm Canh Thức Phục Sinh trong nghi thức chúc phúc nước phép rửa tội.

Bài Phúc Âm nói về người phụ nữ Sa-ma-ri bên giếng, và cũng tập trung vào chủ đề nước và sự sống.

 

Các nhóm bị gạt ra ngoài lề xã hội

Nói chung, người phụ nữ Sa-ma-ri có thể được coi là đại diện cho ba nhóm người bị áp bức:

• phụ nữ nói chung,

• gái mại dâm và những người vô đạo đức về tình dục, và

• tất cả các loại người ngoài lề xã hội, bao gồm những người ô uế, vô thần hoặc người nước ngoài.

Câu chuyện bắt đầu với việc Chúa Giê-su thể hiện mình là một người cần giúp đỡ: mệt mỏi, đói khát. Chúng ta phải luôn nhắc nhở bản thân mình rằng Chúa Giê-su thực sự là một con người. Như đã nêu trong Kinh nguyện Thánh Thể thứ tư, Ngài:

…giống chúng ta trong mọi sự trừ tội lỗi.

Ngài cầu xin sự giúp đỡ từ một người mà lẽ ra Ngài phải tránh (một người phụ nữ lạ mặt sống một mình), và cũng là người mà Ngài phải ghét – một người Samari. Bà ta rất ngạc nhiên trước sự tiếp cận của Ngài, nhưng sự ngạc nhiên đó đã cho phép Chúa Giê-su đảo ngược tình thế và ban cho bà “nước hằng sống”. Bà ta hiểu theo nghĩa đen, hỏi làm sao Ngài có thể ban cho nước đó khi Ngài không có xô. Nhưng nước mà Chúa Giê-su sẽ ban cho thì khác. Ngài phán:

Ai uống nước này [tức là nước giếng] sẽ khát lại, còn ai uống nước mà Ta ban cho thì sẽ không bao giờ khát nữa.

Một lần nữa và theo nghĩa đen, người phụ nữ muốn thứ nước hằng sống này, nghĩ rằng khi đó bà sẽ không bao giờ phải vất vả đến giếng nữa.

 

Nước mà Chúa Giê-su nói đến là gì? Đó là Thánh Linh của Đức Chúa Trời đến với chúng ta trong phép Rửa Tội. Bí tích Rửa Tội không chỉ là một nghi thức tạo ra những hiệu ứng kỳ diệu. Đó là dấu hiệu bên ngoài, mang tính biểu tượng của một thực tại sâu sắc, sự hiện diện của Đức Chúa Trời như một sức mạnh thâm nhập vào mọi khía cạnh trong cuộc sống của một người. Điều này xảy ra thông qua việc chúng ta được tiếp xúc với Chúa Giê-su và tầm nhìn Tin Mừng về cuộc sống, và thông qua việc chúng ta hoàn toàn được hoán cải theo tầm nhìn đó. Điều này chỉ có thể xảy ra thông qua tác nhân của một cộng đồng Kitô giáo mà chúng ta được mời gọi gia nhập. Như Bài đọc thứ hai hôm nay nói:

…Tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ đầy vào lòng chúng ta qua Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta.

Đây không chỉ là vấn đề về nghi thức rửa tội hay nhúng mình và nói những lời thần chú, mà là việc thực sự đón nhận Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần làm dịu cơn khát của chúng ta, không phải bằng cách xóa bỏ khát vọng về sự hiện diện của Thiên Chúa, mà bằng cách liên tục thỏa mãn nó.

 

Năm người chồng cộng thêm

Chúa Giê-su mời người phụ nữ trở lại giếng một lần nữa cùng với chồng mình. Sứ mệnh của Chúa Giê-su bắt đầu bằng việc tiếp cận một gia đình. Nhưng bà nói rằng bà không có chồng. Thật vậy, như Chúa Giê-su đã tiết lộ tình trạng thực sự của bà: bà đã có năm người chồng và người đàn ông bà đang ở cùng hiện tại không phải là chồng bà. Bà bị coi là một người phụ nữ “lẳng lơ”, chắc hẳn đã bị những người xung quanh khinh miệt sâu sắc. Không có gì lạ khi bà đến giếng một mình!

Nước mà Chúa Giê-su hứa có liên quan mật thiết đến sự hoán cải và tha thứ tội lỗi. Chúa Giê-su là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất đi tội lỗi của thế gian. Nhưng trước hết, tội lỗi phải được phơi bày và thừa nhận. Và trọng tâm chú ý của Chúa Giê-su không chỉ là tội lỗi của người phụ nữ, mà còn là tội lỗi của tất cả mọi người trong toàn thị trấn nơi bà đến. Là một người tội lỗi, bà sẽ trở thành người mang lại sự cứu rỗi và hoán cải cho những người lân cận.

 

Thay đổi chủ đề

Người phụ nữ sững sờ trước sự thấu hiểu của Chúa Giê-su về cuộc đời bà. Bà xấu hổ, và vì vậy, chủ đề đột ngột chuyển sang một điều gì đó mang tính lý thuyết và “an toàn”. Chúng ta thường làm điều đó như thế nào?

Câu hỏi mà người phụ nữ đặt ra là về những nơi thờ phượng của người Do Thái và người Samaria: Giê-ru-sa-lem, thánh của người Do Thái, hay núi Ghê-ri-xim, thánh của người Samaria, hay giếng Gia-cóp nơi họ đang ở. Nhưng điều đó cho Chúa Giê-su cơ hội để nêu lên một điểm quan trọng khác. Giếng “thánh” nơi họ đang ở sẽ trở nên không còn ý nghĩa gì nữa—cũng như Đền thờ Giê-ru-sa-lem và núi của người Samaria. Sự thờ phượng chân chính sẽ được thực hiện “trong Thánh Linh và trong lẽ thật”. Sẽ không còn đền thờ nào nữa. Không phải nơi chốn là thánh, mà là những người sử dụng chúng. Chính chúng ta là Đền thờ của Đức Chúa Trời và là nơi ở của Đấng Ki-tô.

Người phụ nữ tiếp tục nói rằng bà biết khi Đấng Mê-si-a đến, Ngài sẽ kể cho bà nghe tất cả về điều này. Lúc đó, Chúa Giê-su nói với bà rằng Ngài chính là Đấng Mê-si-a. Thật phi thường! Một người ngoại đạo, và là một kẻ ngoại tình nhiều lần, lại là người đầu tiên trong Phúc Âm Gioan nghe được sự mặc khải này! Và, chính xác là vì những người tội lỗi (giống như mỗi người trong chúng ta!) cần phải nghe điều này. Người khỏe mạnh không cần bác sĩ, chỉ người bệnh mới cần.

 

Sự kinh ngạc

Ngay lúc đó, các môn đồ trở về. Là những người sống trong thời đại và nền văn hóa của họ, họ kinh ngạc khi thấy Chúa Giê-su nói chuyện riêng với người phụ nữ này, một người bị khinh miệt và là người ngoài cuộc. Họ không biết phải nói gì. Họ dâng thức ăn cho Chúa Giê-su, nhưng Ngài nói với họ rằng Ngài có thức ăn mà họ không hề biết đến:

Người ta không chỉ sống nhờ bánh mà thôi,

nhưng nhờ mọi lời từ miệng Đức Chúa Trời phán ra.

(Mát-thêu 4,4)

Thức ăn của Chúa Giê-su là sự đồng nhất hoàn toàn của Ngài với ý muốn của Cha và làm công việc của Ngài:

Phước cho những người nghe lời Đức Chúa Trời và vâng giữ lời ấy. (Lu-ca 11,28)

Liên quan đến ý tưởng về bánh và việc nuôi dưỡng, Chúa Giê-su nói với họ rằng mùa gặt rất lớn và đã chín muồi. Và mùa gặt bây giờ bao gồm người Sa-ma-ri (bao gồm cả người phụ nữ này) và tất cả những người ngoại bang, người lạ, người không tin và tất cả những người tội lỗi. Đó là một mùa gặt đã được người khác chuẩn bị.

 

“Hãy ở lại với chúng tôi”

Nhiều người Samari đã tin vào Chúa Giê-su nhờ lời chứng của người phụ nữ. Họ xin Ngài ở lại với họ, vì nếu không, Ngài đã tiếp tục cuộc hành trình của mình. Chúa Giê-su thường cần được mời ở lại. Hãy nhớ đến hai người đàn ông đang đi đến Emmaus? Ngài sẽ không dừng lại nếu họ không mời Ngài ở lại qua đêm. Ngài đứng ở cửa và gõ, nhưng Ngài sẽ không vào nếu không được mời.

Kết quả là, nhiều người trong làng Samari đó đã tin vào Chúa Giê-su. Và họ nói:

Chúng tôi không còn tin vì lời bà [người phụ nữ] nói nữa, vì chúng tôi đã tự mình nghe thấy, và chúng tôi biết rằng đây thật sự là Đấng Cứu Thế của thế giới.

Đối với những người dự tòng, và đối với tất cả chúng ta, đức tin được truyền lại phải trở thành đức tin của chính chúng ta. Để rồi, ngay cả khi mọi người xung quanh chúng ta từ bỏ Chúa Giê-su, tôi cũng sẽ không. Cuối cùng, đức tin hoàn toàn mang tính cá nhân:

…không còn phải là tôi sống nữa, mà là Chúa Kitô sống trong tôi.

(Gl 2,20)

Hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện để tất cả những ai đang chuẩn bị chịu phép Rửa tội vào dịp Phục Sinh đều tìm thấy đức tin làm phong phú thêm cuộc sống của mình.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/labc031/

 

 


.Xin mở mắt tâm hồn con   

Quí ông bà, cô bác và anh chị em thân mến!

Có lẽ chúng ta không còn cần câu chuyện nào khác để dẫn chứng cho chúng ta đối với đoạn Phúc Âm hôm nay. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người đàn bà xứ Samaria được mô tả một cách thật là hay, với nhiều chi tiết gợi ý và có thể thu hút sức chú ý của chúng ta. Tác giả Phúc Âm không nhắc đến tên của người đàn bà này, mà chúng ta có thể giả thuyết là Chúa và các tông đồ, dĩ nhiên trong số các tông đồ có cả tác giả Phúc Âm tức thánh Gioan, biết tên người đàn bà này, vì Chúa đã lưu lại nơi cộng đồng trong vùng hai ngày sau đó để giảng dạy. Người đàn bà không được nhắc đến tên, có lẽ vì hai lý do sau đây:

Trước hết là sự tế nhị không muốn nêu danh tánh của một người đàn bà đã có năm đời chồng và hiện đang sống với người không phải là chồng của mình.

Lý do thứ hai quan trọng hơn, là vì tác giả Phúc Âm thánh Gioan muốn trình bày nơi đây không phải lịch sử cuộc đời của một người đàn bà tội lỗi, nhưng trình bày cho chúng ta có thể nói là con đường đức tin của mỗi người chúng ta.

Nói cách khác, chúng ta không cần biết danh tánh người đàn bà đó là ai. Vì có thể nói, người đàn bà đó là mỗi người chúng ta đây trước mặt Thiên Chúa. Con đường đức tin của chúng ta, chúng ta hãy quan sát xem người đàn bà này đã gặp Chúa Giêsu như thế nào. Hay nói cách khác, Chúa Giêsu đã gặp bà và hướng dẫn bà từ một thái độ đối nghịch sang thái độ kính trọng, cuối cùng tin nhận và làm chứng cho Chúa như thế nào.

Trước hết, dung mạo tinh thần của người đàn bà đó là ai? Mặc dù chúng ta không biết tên và không cần biết tên, đây là người xứ Samaria, con cháu của những người Do Thái mang dòng máu Adam. Chúng ta biết vào năm 700 trước Chúa Giêsu sinh ra thì những người Do Thái bị bắt đi lưu đày sang Babilon và vùng đất Samari này được người khác đến cư ngụ. Năm 500 trước Chúa Giêsu sinh ra thì những người Do Thái được trở về lập quốc và vùng đất Samari này là vùng đất mà những người Do Thái sống với những người ngoại quốc, họ lập gia đình với nhau, cưới hỏi nhau. Từ đó những người Samari này có thể nói là những người Do Thái mang dòng máu lai người ngoại quốc, không còn là Do Thái chính tông trong sạch như những người Do Thái ở vùng Giuđêa, quanh thành Giêrusalem và đền thờ Giêrusalem.

Đây là những người bị người Do Thái coi như là kẻ thù theo cả hai nghĩa, kẻ thù của dân tộc Do Thái đã kết thân lập gia đình với những người ngoại quốc, và cũng là kẻ thù coi thường Luật Chúa, Luật Môsê, không xứng đáng lãnh nhận hồng ân cứu rỗi của Thiên Chúa nữa. Hơn thế nữa, người đàn bà đã có năm đời chồng và đang sống với một người không phải là chồng của mình. Một người tội lỗi công khai, bị kẻ khác xét xử như là kẻ ngoan cố trong tội lỗi, vui lòng với tội lỗi của mình, mà theo quan điểm con người của chúng ta thì có lẽ đây là trường hợp hết thuốc chữa.

Người đàn bà Samari mà Chúa Giêsu gặp không còn xứng đáng với ơn cứu rỗi của Chúa, đó là nhìn theo quan điểm con người chúng ta, nhưng không hẳn như vậy, vì trong thâm tâm của bà vẫn còn có một thắc mắc, một khát khao vượt ra khỏi tình trạng hiện tại của mình. Chúng ta có thể ghi nhận bà còn một chút hiểu biết giáo lý, còn đang mong chờ Đấng Thiên Sai đến để ban ơn cứu rỗi. Do đó bà đã hỏi Chúa Giêsu: "Chúng tôi phải thờ Thiên Chúa ở đâu? Tại Giêrusalem hay trên núi này? Tôi biết rằng Đấng Thiên Sai sẽ đến để dạy cho chúng tôi mọi sự". Đó là khao khát từ trong thâm tâm của bà hướng về Đấng Cứu Rỗi, và hơn nữa nơi con người bà còn có một điều tốt là can đảm nói sự về cuộc đời mình ra trước mặt Chúa. Bà đã dám nhìn nhận tôi không có chồng, bà ý thức về tội lỗi của mình, và có chút khao khát hướng về sự giải thoát, về ơn cứu rỗi.

Chúa Giêsu đã hành động như thế nào đối với bà? Chúa đến với bà trước hết trong dung mạo của người Do Thái, tức là kẻ thù của người Samari. Chúa vượt qua hai định kiến xấu đối với bà, người Samari và người đàn bà. Người vùng Samari như đã nói là những người Do Thái mang dòng máu lai ngoại quốc, không còn trung thành, không còn là Do Thái chính cống trong sạch với Luật Môsê nữa.

Một vị thầy của người Do Thái không bao giờ nói chuyện với người đàn bà nơi công cộng, nhưng Chúa Giêsu vượt qua hai định kiến xấu này và khơi dậy thiện cảm của người đàn bà khi mở miệng xin nước uống: "Xin bà cho tôi nước uống". Chúa tạo dịp cho người đàn bà làm một việc thiện, làm một điều tốt cho một người mà mình không thích để từ đó nâng dậy người đàn bà sa ngã.

Hành động và lời nói của Chúa Giêsu đã phá tan thành kiến nơi người đàn bà: "Sao ông là người Do Thái mà lại xin nước uống với tôi là người Samari?" Hành động và những lời nói của Chúa làm cho người đàn bà có một thái độ kính trọng hơn, bà đã đổi cách xưng hô từ việc ngay từ đầu gọi Chúa là ông một cách xa lạ, thì giờ đây biến thành: "Thưa Ngài, xin hãy cho tôi nước uống". Một lời thưa nói lên thái độ kính trọng, bà đã sẵn sàng lắng nghe Chúa nói với bà.

Chúa dùng hình ảnh nước uống để mạc khải về mầu nhiệm ân sủng Thần Linh từ Thiên Chúa muốn ban cho con người. Chúa không có thái độ khinh thị, Chúa sử dụng ngôn ngữ người đàn bà dễ hiểu và cuối cùng dẫn bà đến thực tại sâu xa nhất trong tâm hồn của bà. Đó là Chúa cho bà biết là bà đang khao khát một cái gì cao siêu hơn, không phải nước uống vật chất, không phải tình thương nhục dục, nhưng khao khát ơn cứu rỗi, khao khát gặp được Đấng Thiên Sai, trong lúc đó Chúa Giêsu đã mạc khải rõ ràng hơn cho bà Đấng Thiên Sai đó chính là Thiên Chúa, là người đang nói với bà đây. Con đường đức tin của bà đã bắt đầu, bà đón nhận và trở thành người chứng đầu tiên cho Chúa, bà chạy về làng kêu mời những người khác đến gặp Chúa Giêsu. Tin và làm chứng cho Chúa luôn đi đôi với nhau.

Tác giả Phúc Âm thánh Gioan không kể thêm chi tiết khác nữa, vì đó có thể là những chi tiết để thỏa mãn tính tò mò của mỗi người chúng ta hôm nay khi đọc đoạn Phúc Âm này, nhưng ngài muốn nói đầy đủ trong đoạn Phúc Âm này những chi tiết khác thuộc phạm vi riêng tư giữa Chúa và người đàn bà, giữa Chúa và mỗi người chúng ta, giữa Chúa và mỗi người mà chúng ta không cần biết đến.

Những gì đã được kể ra trong đoạn Phúc Âm hôm nay là để giúp cho mỗi người chúng ta nhìn lại con đường đức tin của mình: tôi đã gặp được Chúa như thế nào? Tôi đã gặp Chúa hay chưa? Để mỗi người chúng ta biết trở về nhìn nhận giây phút ân sủng mà Chúa đến thăm mỗi người, Chúa thực hiện một dấu lạ, một điều gì đó kể cả Chúa dùng tội lỗi của chúng ta như Chúa dùng trường hợp tội lỗi của người đàn bà để mạc khải một thực tại cao siêu hơn, để kêu gọi người đàn bà trở về, bà đã có năm đời chồng, bà nói đúng sự thật về người mà bà đang sống, bà biết người đang sống với bà không phải là chồng của mình. Chúa có thể dùng những tật xấu, những tội lỗi của chúng ta để thức tỉnh chúng ta và mời gọi chúng ta trở về với Chúa.

Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được thức tỉnh để nhìn nhận tình trạng tội lỗi của mình, nhất là nhìn nhận nơi chính thâm tâm của mỗi người chúng ta có một khao khát hướng về Chúa, có một khao khát được ơn Chúa cứu rỗi. Xin Chúa đến và củng cố đức tin của chúng ta.

 

‘Sống Tin Mừng’--R. Veritas