19/03/2026
Thứ Năm tuần 4 Mùa Chay.
THÁNH GIUSE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA.
Lễ trọng. Lễ HỌ. Cầu cho giáo dân
* Thánh Giuse, bạn trăm năm của Đức Maria, có sứ mạng “chăm sóc
Đức Giêsu như một người cha”. Nhưng Chúa đã muốn người chủ Thánh Gia ở Nagiarét
tiếp tục sứ mạng ấy trong Hội Thánh, thân thể của Chúa Kitô.
Đức Maria là Mẹ của Hội Thánh thì thánh Giuse là Đấng che chở Hội
Thánh.
Bài
Ðọc I: 2 Sm 7, 4-5a. 12-14a. 16
“Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu của Ðavít, tổ phụ Người”.
Trích
sách Sa-mu-en quyển thứ hai.
Trong
những ngày ấy, Chúa phán cùng Na-than rằng: “Hãy đi nói với Ða-vít tôi tớ Ta rằng:
Khi ngày của ngươi đã viên mãn, ngươi sẽ yên nghỉ với các tổ phụ ngươi; sau đó,
Ta sẽ cho miêu duệ ngươi lên kế vị và Ta sẽ làm cho triều đại người được vững bền.
Chính người sẽ xây cất một ngôi nhà để kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngôi báu
triều đại người được củng cố đến muôn đời. Ta sẽ là Cha của người, và người sẽ
là con Ta. Nhà của ngươi và triều đại của ngươi sẽ vững chắc đến muôn đời trước
mặt Ta, ngôi báu ngươi sẽ vững bền mãi mãi”.
Ðó
là lời Chúa.
Ðáp
Ca: Tv 88, 2-3. 4-5. 27 và 29
Ðáp:
Miêu duệ người tồn tại đến muôn đời
Xướng:
Tôi sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời; qua mọi thế hệ, miệng tôi
loan truyền lòng trung thành Chúa. Vì Ngài đã phán: “Tình thương của Ta đứng vững
muôn đời”; trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín.
Xướng:
Ta đã ký minh ước cùng người ta tuyển lựa, Ta đã thề cùng Ða-vít là tôi tớ của
Ta rằng: “Cho tới muôn đời Ta bảo tồn miêu duệ của ngươi, và Ta thiết lập ngai
báu ngươi qua muôn thế hệ”.
Xướng:
Chính người sẽ thưa cùng Ta: “Chúa là Cha con, và Thiên Chúa là Ðá Tảng cứu độ
của con”. Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái, và lời ước Ta ký với người
sẽ được mãi mãi duy trì.
Bài
Ðọc II: Rm 4, 13. 16-18. 22
“Mặc
dầu tuyệt vọng, ông vẫn tin”.
Trích
thư Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
Anh
em thân mến, không phải nhờ lề luật mới có lời hứa ban cho Áp-ra-ham hay dòng
dõi của ông trở nên kẻ thừa kế thế gian, nhưng là nhờ sự công chính của đức
tin. Vì thế, do đức tin, được coi như là theo ân sủng, lời hứa cho mọi dòng dõi
được vững bền, không phải chỉ cho kẻ sinh bởi lề luật, mà còn cho kẻ sinh bởi đức
tin của Áp-ra-ham, tổ phụ của mọi người chúng ta, (như có lời chép rằng: Ta đã
đặt ngươi làm cha nhiều dân tộc) trước mặt Thiên Chúa, Ðấng ông đã tin, Ðấng
cho kẻ chết sống lại, và kêu gọi cái không có như có. Mặc dầu tuyệt vọng, ông vẫn
tin rằng mình sẽ trở thành cha nhiều dân tộc, như có lời đã phán với ông rằng:
“Dòng dõi ngươi sẽ như thế”. Vì vậy, ông đã được kể như sự công chính.
Ðó
là lời Chúa.
Câu
Xướng Trước Phúc Âm
Alleluia.
Alleluia. Lạy Chúa, phúc cho những ai ngụ nơi nhà Chúa, họ sẽ khen ngợi Chúa đến
muôn đời. – Alleluia.
PHÚC
ÂM: Mt 1, 16. 18-21. 24a
“Giu-se đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền”.
Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mát-thêu.
Gia-cóp
sinh Giu-se là bạn của Ma-ri-a, mẹ của Chúa Giê-su gọi là Ðức Ki-tô. Chúa Kitô
giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Ma-ri-a đính hôn với Giu-se,
trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giu-se
bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, nên định tâm lìa bỏ bà
cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy, thì Thiên thần hiện đến cùng ông
trong giấc mơ và bảo: “Hỡi Giu-se con vua Ða-vít, đừng ngại nhận Ma-ri-a về nhà
làm bạn mình, vì Ma-ri-a mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần; bà sẽ sinh hạ một
con trai mà ông đặt tên là Giê-su: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội”.
Khi tỉnh dậy, Giu-se đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền.
Ðó
là lời Chúa.
–
– – – – – – – – – – – – –
Hoặc:
Lc 2, 41-51a
“Kìa cha Con và mẹ đây đã đau khổ tìm Con”.
Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Lu-ca.
Hằng
năm cha mẹ Chúa Giê-su có thói quen lên Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt Qua. Lúc
bấy giờ Chúa Giê-su lên mười hai tuổi, cha mẹ Người đã lên Giê-ru-sa-lem, theo
tục lệ mừng ngày lễ Vượt Qua. Và khi những ngày lễ đã hoàn tất, hai ông bà ra về,
trẻ Giê-su đã ở lại Giê-ru-sa-lem mà cha mẹ Người không hay biết. Tưởng rằng
Người ở trong nhóm các khách đồng hành, hai ông bà đi được một ngày đàng, mới
tìm kiếm Người trong nhóm bà con và những kẻ quen biết. Nhưng không gặp thấy
Người, nên hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem để tìm Người.
Sau
ba ngày, hai ông bà gặp thấy Người trong đền thờ đang ngồi giữa các thầy tiến
sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả những ai nghe Người nói, đều ngạc nhiên trước sự
hiểu biết và những câu Người đáp lại. Nhìn thấy Người, hai ông bà ngạc nhiên,
và mẹ Người bảo Người rằng: “Con ơi, sao Con làm cho chúng ta như thế? Kìa cha
Con và mẹ đây đã đau khổ tìm Con”. Người thưa với hai ông bà rằng: “Mà tại sao
cha mẹ tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải lo công việc của Cha con ư?”
Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói. Bấy giờ Người theo hai ông bà trở về
Na-da-rét, và Người vâng phục hai ông bà.
Ðó
là lời Chúa.
Chú giải về 2 Sa-mu-ên 7,4-5. 12-14, 16; Rô-ma 4,13. 16-18. 22; Mát-thêu 1,16. 18-21. 24 (hoặc
Lu-ca 2,41-51)
Bài ca nhập lễ hôm nay tóm tắt kết quả cuộc gặp gỡ của Thánh
Giuse với thiên thần Ga-bri-ên:
Chúa đã giao cho tôi tớ
trung tín của Ngài trông coi gia đình Ngài.
Khi đọc Phúc Âm Mát-thêu
hôm nay, chúng ta thấy Giuse đang ở trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan khủng
khiếp. Người phụ nữ mà ông đã đính hôn mang thai trước khi họ chung sống với
nhau như vợ chồng. Ông không biết rằng sự thụ thai là do Thánh Linh và chắc chắn
không biết rằng Cha của con Maria chính là Thiên Chúa.
Việc đính hôn của người Do Thái là một mối quan hệ ràng buộc
hơn nhiều so với việc đính hôn hiện đại của chúng ta. Cặp đôi đã có thể được gọi
là 'chồng' và 'vợ', như Mát-thêu
đã làm trong Phúc Âm của mình. Trên thực tế, cuộc hôn nhân đã bắt đầu. Hôn ước
chỉ có thể bị hủy bỏ bằng một sự từ bỏ chính thức hoặc một hình thức ly hôn.
Đồng thời, giữa hai người không có quan hệ thân mật nào
trong thời gian này. Vì vậy, người ta có thể thấy tình thế tiến thoái lưỡng nan
khủng khiếp mà Giuse phải đối mặt. Ông đã hứa hôn với Maria, nhưng dường như—và
đây là kết luận tự nhiên duy nhất mà ông có thể đi đến—rằng bà đã không chung
thủy. Trong thời gian này, tình trạng của một người phụ nữ ngoại tình là một vấn
đề rất nghiêm trọng. Chúng ta biết câu chuyện trong Phúc Âm Gioan, nơi một người
phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình sẽ bị ném đá đến chết theo Luật. Nhiều người
đàn ông—có lẽ chúng ta có thể nói hầu hết mọi người đàn ông—sẽ cảm thấy buồn
bã, tức giận và hoàn toàn bị sỉ nhục.
Giuse chỉ thấy một khả năng duy nhất, đó là chấm dứt mối
quan hệ. Điều này có thể được thực hiện theo một cách rất tàn nhẫn. Đó là loại
điều chúng ta thường thấy trên các phương tiện truyền thông. Nhưng Giuse, chúng
ta được cho biết, là một người “công chính” (hay “chính trực”). Trên thực tế,
điều này có nghĩa là ông rất nhiệt thành trong việc tuân giữ Luật. Nhưng trong
bối cảnh này, dường như nó mang một ý nghĩa sâu sắc hơn, đó là ông ấy là một
người đàn ông rất tốt, chu đáo và nhạy cảm. Đồng thời, ông ấy không muốn trải
qua sự giả dối khi bị coi là cha của một đứa con mà ông ấy không sinh ra. Ông
quyết định chấm dứt mối quan hệ một cách lặng lẽ nhất có thể, không để Maria phải
chịu phiên tòa công khai và bị ném đá:
Chồng bà là Giuse, một
người công chính và không muốn để vợ mình phải chịu nhục nhã trước công chúng,
đã lên kế hoạch ly dị bà một cách lặng lẽ.
Một lời giải thích khác được đưa ra là ông không muốn tiến
hành cuộc hôn nhân vì tôn kính mầu nhiệm làm mẹ của Maria, điều mà ông không
hoàn toàn hiểu rõ.
Trong cả hai trường hợp, ông cần được thuyết phục bởi một
thông điệp từ Chúa rằng, bất chấp vẻ bề ngoài, ông phải lấy Maria làm vợ, nghĩa
là phải tiến hành một nghi lễ kết hôn trọn vẹn với bà. Ông còn được cho biết rằng
Cha của đứa trẻ chính là Đức Chúa Trời, và ông được hướng dẫn đặt tên cho đứa
trẻ là Giê-su:
…vì Ngài [Giê-su] sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ.
Thực tế, tên gọi ‘Giê-su’ có nghĩa là ‘Đức Chúa cứu rỗi’.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Giô-sép hoàn toàn xứng đáng với
danh hiệu ‘người công chính’. Có người có thể thấy ông khá thụ động và ngây thơ
trong hoàn cảnh đó, nhưng các sự kiện sau này đã chứng minh sự kiềm chế của ông
là hoàn toàn chính đáng. Chúng ta có thể xem ông như một tấm gương khi bị cám dỗ
lao vào buộc tội người khác ngay cả khi bằng chứng có vẻ rất mạnh mẽ. Nhưng
kinh nghiệm cho thấy chúng ta thường xuyên sai lầm. Và khi sai lầm, chúng ta
thường bất công, tàn nhẫn và thù hận. Và ngay cả khi chúng ta đúng, việc trả
thù bằng bạo lực hoặc sử dụng toàn bộ sức mạnh của pháp luật khó có thể là cách
tốt nhất để giải quyết một mối quan hệ đổ vỡ hoặc thậm chí là một sự phản bội.
Khi chúng ta trả thù, ‘kẻ thù’ của chúng ta có thể phải chịu đau khổ, nhưng rất
thường thì chính chúng ta cũng vậy.
Các bài đọc khác trong Thánh lễ hôm nay cũng liên quan đến
Thánh Giuse. Bài đọc thứ nhất được trích từ lời tiên tri của tiên tri Nathan
dành cho vua Đa-vít. Chúa hứa rằng dòng dõi của Đa-vít sẽ thành công, khác với
dòng dõi của người tiền nhiệm Sa-un:
Ta sẽ dấy lên dòng dõi
ngươi sau ngươi, là người sẽ xuất thân từ ngươi, và Ta sẽ lập vương quốc của
người.
Những lời này được nói trực tiếp về con trai của Đa-vít,
Sa-lô-môn.
Na-than tiếp tục, nói nhân danh Chúa:
Ta sẽ làm cha của người,
và người sẽ làm con của Ta.
Trong khi lời tiên tri của Nathan nói về Sa-lô-môn, nó cũng
được xem là Chúa nói về Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là hậu duệ của Đa-vít qua Thánh
Giuse, người thuộc dòng dõi của Đa-vít. Vì vậy, câu nói này có hai nghĩa: Chúa
và Thánh Giuse sẽ là cha của đứa trẻ mới sinh. Và, dĩ nhiên, qua Chúa Giêsu,
lời hứa về một dòng dõi trường tồn mãi mãi được ứng nghiệm. Lời hứa về một dòng
dõi vĩnh cửu là chủ đề của nhiều lời tiên tri sau này, và lời hứa này đã tạo ra
niềm hy vọng về một Đấng Mê-si-a
sẽ giải cứu Ít-ra-en. Bài đọc
thứ hai từ Thư Rôma là từ một chương nói về Áp-ra-ham. Sự tương đồng với Giuse lại rất mạnh mẽ. Trong trường
hợp này, Phao-lô nhấn mạnh vào đức tin của Áp-ra-ham. Áp-ra-ham và vợ ông,
Sa-ra, dù đã già, vẫn chưa có con trai hợp pháp. Ông có một con trai với người
nữ tỳ Ha-ga, tên là Ít-ma-ên. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã phán với Áp-ra-ham rằng
dòng dõi ông sẽ đông đúc như cát trên bờ biển hoặc như sao trên trời. Xét đến
tuổi tác của họ, hai vợ chồng có thể đã cười nhạo lời hứa này. Nhưng Áp-ra-ham
vẫn tiếp tục tin tưởng và hy vọng:
Với hy vọng mong manh,
ông tin rằng mình sẽ trở thành “cha của nhiều dân tộc”, theo như lời đã phán,
“Dòng dõi ngươi sẽ như vậy”.
Phao-lô nhấn mạnh rằng Áp-ra-ham được ban thưởng, không phải
vì sự tuân giữ trung thành một luật lệ bên ngoài, mà vì lòng tin tuyệt đối vào
lời và lời hứa của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, không phải bằng hành động của
mình mà ông đặt Đức Chúa Trời vào thế phải đáp lại. Đức Chúa Trời không bao giờ
ở trong tình thế phải đáp lại. Bất cứ điều gì chúng ta làm cho Chúa đều là điều
chúng ta nợ Ngài, và được thực hiện bằng sức mạnh mà chỉ mình Ngài ban cho.
Điều Chúa ban cho chúng ta khi chúng ta hoàn toàn tin tưởng
là một món quà miễn phí—ân điển (tiếng Hy Lạp, charis). Và món quà đó dành cho tất cả những ai tin vào Ngài và:
…không chỉ cho những
người tuân giữ luật pháp mà còn cho những người cùng chia sẻ đức tin của
Áp-ra-ham…
Áp-ra-ham được xem là “cha của nhiều dân tộc”, cả người Do
Thái và người ngoại bang. Tình yêu và ân điển của Chúa không bị giới hạn ở một
nhóm người hay tầng lớp nào.
Giống như Áp-ra-ham, chúng ta phải đặt đức tin và sự tin tưởng
của mình vào cùng một Đức Chúa Trời:
…Đấng ban sự sống cho
người chết và gọi những điều không hiện hữu vào sự tồn tại.
Áp-ra-ham và Sa-ra, trên thực tế, đã “chết” về mặt sinh con.
Tuy nhiên, Chúa đã mang lại sự sống mới cho họ bằng cách ban cho họ một người
con trai mà, trong mắt nhiều người, không thể tồn tại. Tuy vậy, Áp-ra-ham vẫn
còn đó:
Với hy vọng mong manh…
tin rằng ông sẽ trở thành “cha của nhiều dân tộc”…
Những điểm tương đồng với Giuse thật đáng chú ý. Giuse cũng
là một “người công chính”, một người ngay thẳng. Ông là một người có đức tin lớn
lao. Cần có đức tin lớn lao để tin rằng đứa con mà Maria sinh ra đến từ Thiên Chúa chứ không phải
là kết quả của một mối quan hệ tự nhiên. Ông là một người chính trực, đã đối mặt
với tình huống với sự tự chủ và nhạy cảm tuyệt vời đối với Maria. Ông là một người khiêm nhường, lặng lẽ
đứng sau hậu trường khi câu chuyện diễn ra. Tuy nhiên, ông đã đóng một vai trò
quan trọng như người cha thay thế, bảo vệ vợ và con của bà. Ông đã có mặt tại
Bê-lem khi đứa trẻ được sinh ra. Ông đã đưa mẹ con họ đến Ai Cập để trốn thoát
khỏi những lời đe dọa giết người của Hê-rô-đê. Ông chăm sóc họ trong nhà ở Na-da-rét
và cùng họ trên những chuyến hành trình đến Giê-ru-sa-lem dự các lễ hội lớn.
Ông hẳn đã rất lo lắng cho Maria
khi cậu bé biến mất trong thành phố lớn Giê-ru-sa-lem, nơi đông đúc người lạ mặt
dự lễ Vượt Qua (xem Phúc Âm Lu-ca hôm nay).
Trong Kinh Thánh Do Thái, có một người tên là Giuse nổi tiếng
khác, con trai út thứ hai của Gia-cốp. Ông bị các anh trai ghen tị bán làm nô lệ
và cuối cùng trở thành người đứng thứ hai trong đế chế của các Pha-ra-ô. Và ông
cũng là người được mọi người tìm đến, bởi vì khi:
…cả xứ Ai Cập bị đói
khát, dân chúng kêu cầu Pha-ra-ô xin bánh. Pha-ra-ô nói với tất cả người Ai Cập:
“Hãy đến với Giuse; điều gì ông ấy bảo các ngươi, hãy làm theo.” (Sáng thế 41,55)
Chúng ta hãy đến với Thánh Giuse để ngài cầu bầu cho chúng
ta trong những nhu cầu của mình. Ngài đã được chọn làm bổn mạng nhiều lần, bao
gồm cả việc là bổn mạng của Giáo hội và Thánh bổn mạng của Dòng Tên.
Thật tuyệt vời nếu chúng ta nghĩ rằng một số phẩm chất của
Chúa Giêsu đến từ Giuse cũng như từ Đức Mẹ Maria. Vì vậy, trong ngày lễ kính
ngài, chúng ta hãy cầu xin ngài cho chúng ta được chia sẻ một số đức tính nổi bật
của ngài: trong đức tin, sự từ chối đưa ra phán xét vội vàng trong những tình
huống khó khăn, sự chính trực và lòng tốt, sự khiêm nhường và nhã nhặn, và
trong việc chấp nhận một cách ân cần vai trò hỗ trợ của ngài trong Thánh Gia và
sự chăm sóc của ngài đối với Giáo hội.
Chúng ta cùng kết thúc bằng Lời cầu nguyện mở đầu Thánh lễ
hôm nay:
Lạy Cha,
Cha đã giao phó Chúa Cứu
Thế của chúng con cho sự chăm sóc của Thánh Giuse.
Nhờ ơn cầu nguyện của
ngài,
xin cho Giáo Hội của
Cha tiếp tục phụng sự Chúa Giêsu Kitô,
Đấng hằng sống và trị
vì đời đời. Amen
https://livingspace.sacredspace.ie/f0319r/
.Suy Niệm về Thánh Giuse
Tháng
3 về, chúng ta cùng tạ ơn Thánh Giuse là Đấng bảo trợ mỗi gia trưởng chúng ta
trong thời gian qua, và còn sẽ bảo trợ chúng ta trong suốt cuộc đời làm chồng,
làm cha, làm ông nội, ông ngoại.
Tỏ
lòng tri ân ấy, Chúa không muốn chúng ta chỉ nói lên bằng lời, mà còn phải nói
lên bằng cuộc sống gia trưởng theo mẫu gương gia trưởng nhân đức của Ngài. Vì
thế, suy niệm về những ngày đời thánh thiện của Thánh Giuse, làm bài học quí
giá cho mỗi gia trưởng là thật cần thiết.
Đón nhận nhau trong đức tin
Thiên
Chúa đã chọn Thánh Giuse cộng tác vào chương trình cứu chuộc, chương trình mạc
khải tình yêu Thiên Chúa cho nhân loại, nên có thể nói, người được Thiên Chúa
chọn hẳn phải là một người đủ phẩm cách đẹp lòng Thiên Chúa. Và điều đẹp lòng
Chúa nhất là Tin vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa.
Quả
thật, nếu đức tin của Mẹ Maria được thể hiện bằng sự khiêm tốn và vâng phục để
Thiên Chúa thực hiện mầu nhiệm nhập thể: “Nầy tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng
như Lời sứ thần truyền. Xin hãy thành sự trong tôi, như Lời Ngài đã phán”, thì
Thánh Giuse âm thầm không nói gì, không trả lời gì, mà Ngài chỉ làm như sứ thần
Chúa dạy và đón vợ về nhà: ‘Đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà
cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần’. Điều Thánh Giuse đã làm là một câu
trả lời “vâng phục” bằng “đức tin” hùng hồn nhất (x. Rm 1,5; 16,26; 2Cr
10,5-6).
Thế
thì, Lời chúc của Elizabet dành cho Mẹ Maria “Em thật có phúc, vì đã tin rằng
Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45) cũng chính là lời mà
mọi miệng lưỡi phải chúc tụng Thánh Giuse như vậy.
Thánh
Giuse và Mẹ Maria đã đón nhận và thực hiện thánh ý của Thiên Chúa là đón nhận
nhau, và cả hai cùng đón nhận Phôi Thai Đấng Cứu Thế bằng một đức tin. Từ đó,
làm thành một cộng đoàn mới của Thiên Chúa, trong kế hoạch của Thiên Chúa.
Việc
thánh Giuse đón Đức Maria về làm vợ trong lúc Maria đang cưu mang Đấng Cứu Thế,
quả là một gương đức tin hùng hồn vào Thiên Chúa quyền năng: Thiên Chúa chọn
cho Giuse một người vợ. Thiên Chúa chọn cho Maria một người chồng. Thiên Chúa
chọn cho Đấng Cứu Thế những người làm Cha Mẹ. Vì quả thực, nếu để tự Giuse chọn,
có lẽ Giuse không chọn Maria, vì ngại những tiếng đời dị nghị. Nhưng việc ấy
không xảy ra theo ý của Giuse, mà đã xảy ra ngược lại theo ý của Thiên Chúa.
Còn
chúng ta, có tin rằng Thiên Chúa đã tham gia vào việc chọn lựa của mình không?
Có nhiều người đã sống với nhau bao nhiêu năm rồi, mới ngộ ra là có bàn tay
Thiên Chúa định liệu cho việc của Chúa nơi gia đình mình. Có nhiều người cho là
chuyện ông trời xe định, nồi nào vung nấy. Nhưng thiết tưởng đức tin công giáo
đòi hỏi chúng ta phải xác tín ngay từ buổi đầu của cuộc hôn nhân rằng Thiên
Chúa tham dự vào việc tuyển chọn cho mình một người bạn đời theo ý Chúa. Và từ ấy,
cuộc sống của vợ chồng trải ra trong sự quan phòng của Thiên Chúa, để tiếp tục
công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa và tiếp tục thực hiện chương trình cứu rỗi của
Ngài. Chỉ trong đức tin, cuộc sống của hôn nhân mới có đủ nghị lực để vượt qua
những thử thách và bền vững cho đến cùng.
Như
vậy, việc đón nhận nhau trong đức tin là bài học trước tiên của đời sống gia
đình công giáo. Đón nhận một người bạn đời về chung sống với nhau nên nghĩa vợ
chồng, đón nhận con cái Chúa ban trong ánh sáng đức tin, có thể nói là đón nhận
tình yêu Thiên Chúa, hồng ân của Thiên Chúa nhằm đến việc thực hiện chương
trình mạc khải của Thiên Chúa nơi gia đình là: Tình yêu và cứu độ.
Nhìn
lại đời sống gia đình chúng ta, mỗi người có thể suy xét lại và trả lời trước mặt
Chúa, rằng ngày ấy con yêu nàng, con cưới nàng làm vợ, có phải vì Đức Tin là để
có một gia đình nhằm thực hiện chương trình của Chúa, hay có một gia đình thực
hiện chương trình của chúng ta. Chúng ta đã đón nhận nhau vì Chúa hay vì ta? để
sống cho Thiên Chúa hay cho chúng ta?
Thánh thiện trong đức cậy
Mẹ
Maria đã tin tưởng và ký thác toàn thân mình cho Thiên Chúa để Ngài thực hiện
ơn cứu độ, thì thánh Giuse cũng cậy trông hoàn toàn vào sức mạnh của Thiên Chúa
để vượt thắng những nguy cơ làm mất đi vẻ đẹp tinh tuyền thánh thiện của gia
đình Con Thiên Chúa. Việc giữ đức khiết tịnh cho mình và cho người bạn đời, thiết
tưởng phải việc ưu tiên hơn cả. Bởi vì thánh ý của Thiên Chúa đã khởi đầu bằng
việc Con Thiên Chúa làm người trong lòng một trinh nữ. Và trinh nữ ấy đã khấn
nguyện giữ mình đồng trinh đến trọn đời. Như thế, đời sống gia đình của Thánh
Giuse, Mẹ Maria và Con Thiên Chúa phải là một đời sống tinh tuyền tuyệt đối nơi
cả ba con người.
Với
loài người, thì không thể, nhưng với Thiên Chúa thì việc gì cũng có thể. Và
chúng ta tin rằng, đức cậy trông nơi Thánh Giuse phải là tuyệt hảo. Chính vì đức
trông cậy và nhờ vào sức mạnh của Thiên Chúa, mà Thánh Giuse vượt thắng những yếu
hèn của đời người, gìn giữ được đức công chính, vẻ đẹp nguyên tuyền của mình
trong trắng thanh cao như nhành huệ, đồng thời bảo bọc được sự đồng trinh trọn
đời của người bạn đời chí thiết.
Hình
ảnh người con mà đức tin cho biết là “Con Thiên Chúa” trong gia đình, có thể
nói là yếu tố quan trọng vào bậc nhất trong việc hình thành đức cậy trông nơi
Thánh Giuse. Người “con làm việc của Cha trên trời” và “càng thêm tuổi càng
thêm khôn ngoan” là hoa trái của đức cậy trông mà Thánh Giuse đã miệt mài ký
thác.
Gia
đình chúng ta hôm nay quên nhắm đến hạnh phúc do sự công chính, thánh thiện
mang lại, mà chỉ nhắm đến hạnh phúc do những giá trị trần thế ban phát cho. Thật
đáng trách cho mỗi gia trưởng chúng ta, khi không hướng gia đình đến đời sống
thánh thiện thuần khiết, lại còn vướng vào những trào lưu tục hóa làm mất đi vẻ
thánh thiện nguyên tuyền của hôn nhân công giáo. Thêm vào đó, lại không hướng
niềm cậy trông vào Chúa mà lại đặt hy vọng nơi những thực tại hão huyền.
Chu toàn trách nhiệm trong đức mến
Hoa
trái của Đức tin là đức mến. Đức Mến thôi thúc thánh Giuse chu toàn vai trò làm
chồng làm cha trong gia đình. Từ việc đưa vợ về làm sổ bộ, lo cho vợ sinh nở,
đưa vợ con trốn sang Ai cập, hồi cư, cắt bì và đặt tên cho con, dâng con vào đền
thờ, tìm con khi lạc mất, cùng vợ con kiếm có cái ăn cái mặc… tất cả đều được
thể hiện với tình yêu mến.
Chúa
Giêsu lớn lên và trưởng thành mặt nhân tính trong cung lòng Mẹ Maria, thực ra
trong trái tim yêu thương của Mẹ Maria và trong tấm lòng từ ái của Cha Thánh
Giuse. Cả hai đầy tình yêu thương và tính trách nhiệm.
Tình
thương đích thực bắt nguồn từ Thiên Chúa, và cụ thể nơi vợ chồng Maria, Giuse:
Tình thương đó là hy sinh cho người mình yêu được hạnh phúc. Sự hy sinh ấy bao
gồm cả tự do, ý chí, sự sống, thời gian và tất cả những gì tưởng như mình phải
được, cũng bằng lòng mất đi. Sự hy sinh ấy được thể hiện với lòng khiêm cung, lịch
sự, khoan dung, nhẫn nại. Và sự hy sinh ấy chính là nét họa bản tính của Thiên
Chúa trong tâm hồn mỗi con người có lòng yêu mến Ngài.
Cả
Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria đều đã thắm đẫm tình yêu của Thiên Chúa. Vì yêu
nhau bằng tình yêu của Thiên Chúa, nên việc chu toàn trách nhiệm với đứa con được
sinh ra cũng chính là chu toàn trách nhiệm mà Thiên Chúa giao phó trong nhiệm
cuộc của Ngài.
Tình
mến không vị kỷ. Tình mến không huênh hoang. Tình mến không nóng nảy…. là tình
mến của Thánh Giuse. Tình mến chứa chan sự công chính thánh thiện, tràn đầy niềm
hân hoan, vẻ dịu dàng, nét khiêm tốn là tình mến của Thánh Giuse. Tình mến ấy
phải là tình mến chuẩn mực cho các gia trưởng hôm nay.
Nghĩ
về mình, có thể có đôi người trong chúng ta đang được niềm vui mừng vì đã theo
gương nhân đức của Thánh Giuse trong đời sống gia đình, nhưng thiết tưởng, đa số
trong chúng ta chưa chọn lấy tình mến chuẩn mực của Ngài làm tiêu chí sống đời
vợ chồng gia đình. Thật đáng tiếc.
Tháng
3 lại về, tháng kính Thánh Giuse, cho chúng ta một cơ hội nhìn vào gương sống của
thánh quan thầy các gia trưởng mà suy nghĩ về:
*
Mầu nhiệm gia đình, trước tiên, phải xác tín gia đình là một mầu nhiệm trong
nhiệm cuộc sáng tạo và cứu rỗi nhân loại.
*
Đức tin của chúng ta, Đức tin vào Thiên Chúa yêu thương và quan phòng, đã chọn
lựa và chỉ định cho chúng ta người bạn đời, để sống với nhau mà thực hiện thánh
ý Chúa.
*
Đức trông cậy của chúng ta, đức trông cậy duy nhất nơi sức mạnh của Thiên Chúa
mới giúp chúng ta sống công chính thánh thiện và bình an hạnh phúc.
*
Đức mến của chúng ta, đức mến phải được mặc lấy lòng khoan dung từ bi nhân hậu
của Thiên Chúa mà chu toàn bổn phận Chúa giao phó trong sứ mệnh sáng tạo và cứu
rỗi ngay trong chính gia đình mình.
Nguyện
xin Thánh Giuse cầu thay nguyện giúp cho mỗi gia trưởng chúng con biết noi
gương nhân đức Ngài, mà thăng hoa cuộc lữ hành trần thế của chúng con trên đường
công chính.
PM Cao
Huy Hoàng
Tìm hiểu về lễ Thánh Giuse 19/3 “Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức
Trinh Nữ Maria”
Lm. Phan
Tấn Thành, O.P
Lần
đầu tiên tên Thánh Giuse được nhắc đến vào ngày 19/3 là một cuốn “Tử đạo thư”
(martyrologium: nêu danh tánh của các thánh nhân dịp kỷ niệm ngày qua đời của
các đấng) thế kỷ VIII của một đan viện Biển-đức ở Rheinau (thuộc tổng Zurigô,
Thụy sĩ). Vào thế kỷ IX, một đan viện khác cũng thuộc dòng Biển-đức ở Reichenau
(miền nam nước Đức) tưởng nhớ người vào ngày 19/3, và cũng có thể là nơi xuất
phát phong trào phổ biến lòng tôn kính thánh nhân. “Tử đạo thư” thế kỷ X của
Fulda đã đặt tiêu đề ngày 19/3 là: “Tại Bêlem, Thánh Giuse, Đấng dưỡng nuôi
Chúa” (In Bethleem, sancti Joseph, nutritoris Domini).
Thánh Giuse
Giáo
Hội nhìn nhận tầm quan trọng của Thánh Giuse không chỉ qua những tuyên ngôn, những
văn kiện, nhưng nhất là qua những việc tôn kính đạo đức. Trong chương hai,
chúng tôi đã nói qua sự phát triển của lòng sùng kính Thánh Giuse trải qua các
thế kỷ. Trong mục này, chúng ta hãy tìm hiểu lịch sử và ý nghĩa của vài hình thức
cụ thể, được xếp vào hai loại chính:
Những
hình thức phụng vụ, theo lịch phổ quát và địa phương: lễ kính Thánh Giuse ngày
19/3 (bài lễ; kinh tiền tụng và phụng vụ giờ kinh); lễ ngoại lịch kính Thánh
Giuse; lễ Thánh gia; lễ Thánh Giuse lao động; lễ kính cuộc kết hôn; lễ kính
Thánh Giuse bảo trợ Hội Thánh; tưởng nhớ việc trốn sang Ai-cập.
Những
việc đạo đức dân gian:
a)
các kinh nguyện: kinh cầu Thánh Giuse; bảy sự vui buồn;
b)
các thời điểm: thứ Tư hàng tuần, tháng 3 dương lịch.
Ngày lễ chính: 19
tháng Ba
Như
đã nói trong chương 2, bên Đông phương, nghi điển Byzantin kính nhớ Thánh Giuse
chung với các thánh tổ phụ vào mùa Giáng Sinh; riêng nghi điển Coptô (bên Ai cập)
mừng vào ngày 26 tháng Abib. Bên Tây phương ngày lễ chính được cử hành vào ngày
19 tháng ba, với một tiến trình lịch sử kéo dài nhiều thế kỷ.
Lần
đầu tiên tên Thánh Giuse được nhắc đến vào ngày 19/3 là một cuốn “Tử đạo thư”
(martyrologium: nêu danh tánh của các thánh nhân dịp kỷ niệm ngày qua đời của
các đấng) thế kỷ VIII của một đan viện Biển-đức ở Rheinau (thuộc tổng Zurigô,
Thụy sĩ). Vào thế kỷ IX, một đan viện khác cũng thuộc dòng Biển-đức ở Reichenau
(miền nam nước Đức) tưởng nhớ người vào ngày 19/3, và cũng có thể là nơi xuất
phát phong trào phổ biến lòng tôn kính thánh nhân. “Tử đạo thư” thế kỷ X của
Fulda đã đặt tiêu đề ngày 19/3 là: “Tại Bêlem, Thánh Giuse, Đấng dưỡng nuôi
Chúa” (In Bethleem, sancti Joseph, nutritoris Domini).
Người
ta không rõ nguồn gốc mối liên hệ giữa ngày 19/3 với Thánh Giuse. Một giả thuyết
cho rằng trước kia đã có lễ Thánh Giuse Antiokia vào ngày 20/3 trong nhiều “tử
đạo thư”. Có thể do sự trùng tên cho nên lịch đã ghi Thánh Giuse hôn phu của Đức
Maria vào cùng ngày hoặc vào ngày hôm trước. Một giả thuyết nữa cho rằng thời
xưa tại Rôma, ngày 19/3 là lễ của các người thợ tôn kính nữ thần Minerva; vì thế
nó được thay thế bằng lễ kính Thánh Giuse là một người thợ xem ra dễ hiểu. Tiếc
rằng chưa có đủ bằng chứng lịch sử về lễ kính Thánh Giuse thợ vào các thế kỷ đầu
tiên của Kitô giáo. Dù nguồn gốc như thế nào đi nữa, việc mừng lễ Thánh Giuse
vào ngày 19/3 đã được thành hình từ đầu thiên niên kỷ thứ hai.
Vào
khoảng năm 1030, một đan viện dòng Biển-đức tại Winchester đã cử hành lễ Thánh
Giuse. Cũng trong thế kỷ này, dòng Cát-minh từ thánh địa trở về châu Âu đã góp
phần vào việc quảng bá lòng sùng kính.
Vào
năm 1129 các đan sĩ Biển-đức thuộc đan viện Thánh Hêlena đã cất một nhà thờ
dâng kính Thánh Giuse ở Borgo Galliera (thành phố Bologna, Italia). Có thể nói
được đây là trung tâm phổ biến lòng sùng kính thánh nhân sang các nơi khác.
Cũng tại nơi đây, tên Thánh Giuse, vốn đã trở thành quen thuộc bên Đông phương,
bắt đầu được đặt cho các trẻ em khi lãnh nhận bí tích thánh tẩy. Có lẽ lòng đạo
đức sơ khởi kính Thánh Giuse trong dòng Phan-sinh bắt nguồn do ảnh hưởng của cuộc
tiếp xúc với Bologna.
Sang
thế kỷ XIII, chúng ta tìm thấy những bản văn được soạn để mừng lễ. Tại Liège có
môït lời nguyện riêng cho Thánh Giuse. Đan viện Biển-đức Thánh Lorensô tại
thành phố đó đã có toàn bộ kinh nguyện, với cung hát, để tôn kính người. Đan viện
Thánh Florianô ở nước Áo có một quyển sách lễ với một bài lễ kính Thánh Giuse,
và một bài lễ khác kêu cầu những công nghiệp của người “chống lại sự phỉ báng của
phường tội lỗi”.
Trong
thế kỷ XIII, các tu sĩ dòng Phan-sinh đã tự động mừng lễ Thánh Giuse, và một “tử
đạo thư” đã xếp ngày 19/3 như là ngày lễ duplex maior trong khi một quyển trước
đó chỉ mừng với cấp duplex minor. Tại Pháp, nhà thờ Phan-sinh ở Toulouse có một
nhà nguyện tôn kính Thánh Giuse từ năm 1222, và vào ngày 7/7/1275 một nhà thờ kế
cận tu viện Phan-sinh ở Bourbonnais miền Champagne đã được cung hiến long trọng
với thánh hiệu này.
Những
cuộc thập tự chinh cũng là cơ hội để mang những di tích thánh từ thánh địa về
châu Âu, ví dụ như cây gậy của Thánh Giuse, và chiếc nhẫn đính hôn người trao tặng
Đức Maria.Vào năm 1254, một nhà nguyện được xây cất trong nhà thờ Thánh Lôrensô
ở Joinville-sur-Marne (Pháp) để tôn kính dây thắt lưng và nơi đây đã trở thành
trung tâm hành hương. Có lẽ tại những nhà nguyện được cất lên để tôn kính Thánh
Giuse, lễ mừng kính người được cử hành vào tháng ba.
Vào
ngày 1/5/1324, dòng Tôi Tớ Đức Mẹ trở thành dòng tiên khởi tuyên bố tại tổng hội
rằng các thành viên của dòng phải cử hành trong tất cả nhà thờ của họ lễ Thánh
Giuse được ấn định mừng vào ngày 15/3. Các tu sĩ dòng Tôi Tớ Đức Mẹ đã làm chủ
nhà thờ Thánh Giuse ở Bologna kể từ năm 1301, và họ đã phổ biến việc cử hành lễ
này. Tổng hội dòng Phan sinh vào năm 1399 cũng đã thiết lập lễ Thánh Giuse với
chín bài đọc trong giờ kinh phụng vụ và một Thánh lễ sử dụng phần chung của các
thánh “hiển tu” (Commune confessorum), đồng thời quyết định rằng lễ này phải được
cử hành vĩnh viễn trong toàn Dòng. Tuy nhiên, không rõ các quyết nghị này có ảnh
hưởng đến đâu.
Tại
Agrigento (nam Italia), nơi có các tu viện của dòng Phan-sinh, Đa-minh,
Cát-minh, vào thế kỷ XIV đã lưu hành “Kinh nguyện kính thánh cả Giuse, cha nuôi
của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Officium Santissimi Joseph nutricii et
patris adoptivi Domini nostri Jesu Christi). Trong phần điệp ca của kinh
Magnificat, người được gọi là “dòng dõi ưu tuyển của Bêlem, được giải thoát khỏi
mọi vết nhơ tội lỗi” (O proles almifica de Bethleem electa, gemma nimis ardua,
ab omni labe erepta).
Những
chi tiết vừa rồi nhằm trình bày nguồn gốc của việc mừng kính lễ trong tháng Ba
cùng với việc phát triển ở phương Tây. Sang thế kỷ XV, ngày lễ mới bắt đầu được
phổ biến hơn. Tại công đồng Constance (1414-1418) các nghị phụ đã nghe Cha Jean
Gerson thuyết minh về lời bầu cử đầy quyền năng của Thánh Giuse, Đấng đã sai
khiến hài nhi Giêsu và Đấng có thể được kêu cầu cách hiệu nghiệm để chấm dứt nạn
ly giáo đang gây đau khổ cho Hội Thánh. Cha Gerson đã xin công đồng xem xét và
phong ban cho Thánh Giuse một danh dự lớn lao hơn. Tuy nhiên, xem ra ảnh hưởng
của dòng Phan-sinh trong thế kỷ này mới thực là nhân tố chính cho việc bành trướng
ngày lễ.
Các
tu sĩ dòng Phan-sinh như Thánh Bernardinô Siena (+1414) không chỉ giảng về
Thánh Giuse mà còn phân phát lược đồ các bài giảng nữa. Tu sĩ Bernardinô Feltre
đã thiết lập ở khắp nước Ý những quỹ tín dụng (cho vay không lãi) mang tên là
“những ngọn núi đạo đức” (Monte di pietà) đặt dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse.
Năm 1461 ở Salamanca, tổng hội dòng Phan-sinh (nhánh nhiệm nhặt) đã ấn định
ngày lễ vào 19/3. Năm 1471, một người bạn của Cha Bernardinô Feltre và là
nguyên Bề trên tồng quyền của dòng Phan sinh đắc cử giáo hoàng, đó là đức Sixtô
IV. Vào tháng mười một năm 1480, người cho phép dòng Phan-sinh được cử hành mừng
lễ bậc duplex maior ngang hàng với các lễ Hiển Linh, Truyền Tin, và Phục Sinh.
Mặc dầu là đặc ân được ban cấp cho một dòng tu, nhưng sự phê chuẩn công khai của
đức thánh cha đã mở đường cho việc bành trướng lễ rộng rãi hơn. Nhiều ấn bản của
Sách lễ Roma và Sách nguyện, chẳng hạn như những quyển do tu sĩ Philipphê
Rotingo ở Venise xuất bản năm 1481, đã sắp xếp ngày lễ với bậc duplex maior với
bài đọc riêng. Người ta cho rằng đức Sixtô IV đã mở rộng lễ này ra khắp Hội
Thánh với cấp simplex, mặc dầu chưa có tính cách bó buộc. Một ấn bản Sách lễ
Roma tại Venise do Giovanni Sessa in vào năm 1497 đăng lịch của dòng Phan-sinh
với ngày lễ này và những bản văn riêng mà Sách Lễ của đức Piô V sẽ sử dụng.
Qua
thế kỷ XVI, người ta thấy sự bành trướng của việc cử hành lễ 19/3 trong các
giáo phận và các dòng tu, với việc ghi tên trong các lịch phụng vụ cùng với việc
xuất bản những bản văn dùng trong các Sách lễ và Sách nguyện. Việc cải tổ Phụng
vụ sau công đồng Trentô đã thiết lập sự thống nhất các sách phụng vụ trong toàn
thể nghi lễ Latinh. Khi đức Piô V cho xuất bản Sách nguyện (năm 1568) và Sách lễ
Roma (năm 1570), ngày 19/3 được dành kính “Thánh Giuse hiển tu” ở bậc duplex.
Nói chung, những lời nguyện được trích từ bài lễ của các vị thánh khác (Thánh
Matthêu và Thánh Tôma). Tuy nhiên, trong thế kỷ này, nhiều thánh thi và lời
nguyện được sáng tác và sử dụng trong các lịch riêng, kể cả sau cuộc canh tân của
đức Piô V.
Theo
lời yêu cầu của nhiều quốc gia và đoàn thể , đức Grêgôriô XV tuyên bố lễ Thánh
Giuse là ngày lễ buộc trong toàn thể Giáo Hội (ngày 8/5/1621). Ngày 6/12/1670,
đức Clêmentê X nâng lên bậc duplex secundae classis, và soạn ba bài thánh thi
cho giờ kinh phụng vụ (kinh Chiều: Te Ioseph celebrent; kinh Sách: Caelitum,
Ioseph, decus; kinh Sáng: Iste, quem laeti).
Ngày
4/2/1714, đức Clêmentê XI phê chuẩn những bản văn riêng cho ngày lễ 19/3, bao gồm
những thánh thi đã được đức Clêmentê X chứng nhận. Ngày 8/12/1870 đức Piô IX
công bố Thánh Giuse là bảo trợ của Hội Thánh và nâng lễ Thánh Giuse lên bậc
duplex primae classsis.
Trong
thông điệp Quamquam Pluries năm 1889, đức Lêô XIII ước muốn rằng tại những nơi
nào mà ngày 19/3 không phải là lễ buộc thì cũng nên được tuân giữ với lòng đạo
đức và lòng nhiệt thành như ngày lễ buộc.
Năm
1911 đức Piô X dời ngày lễ vào Chúa nhật sau ngày 18/3 như để giảm bớt số lượng
ngày lễ buộc trong tuần. Tuy nhiên, chỉ sau ba tuần lễ, do những cuộc tranh luận
về phụng vụ mùa Chay, lễ Thánh Giuse được mừng trở lại vào ngày 19/3 ở bậc
duplex primae classsis, nhưng không phải là lễ buộc, với tiêu đề mới “Lễ Trọng
Kính Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria, Hiển Tu” (Commemoratio
Sollemnis S.Ioseph, Sponsi B.M.V. Confessoris). Với việc cải tổ phụng vụ năm
1913, ngày lễ được giảm xuống bậc duplex secundae classis.
Khi
đức Bênêđitô XV ban hành bộ Giáo luật năm 1917, điều khoản 1247 một lần nữa ấn
định lễ Thánh Giuse là ngày lễ buộc trong toàn thể Hội Thánh. Hậu quả là vài
tháng sau, lễ phụng vụ được nâng lên bậc duplex primae classsis. Trong bộ Giáo
luật 1983, lễ Thánh Giuse là một trong mười ngày lễ buộc của Hội Thánh hoàn vũ,
tuy hội đồng giám mục địa phương có thể xin loại bỏ các ngày đó.
Năm
1956 một quyết định quan trọng theo sau việc thiết lập lễ Thánh Giuse Lao Động
là huỷ bỏ lễ Thánh Giuse Bảo Trợ được cử hành vào ngày thứ Tư trong tuần thứ ba
sau lễ Phục Sinh. Sắc lệnh này đã nối kết tiêu đề của lễ trọng này: “Bảo trợ Hội
Thánh hoàn vũ” vào ngày lễ chính của Thánh Giuse 19/3.
Năm
1969 trong lịch phụng vụ canh tân do đức Phaolô VI ban hành, ngày 19/3 được xếp
vào hàng lễ trọng và mang tiêu đề “Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ
Maria” (S.Ioseph, Sponsi B.M.V.). Với sự thay đổi này, không chỉ ngày lễ mà cả
tiêu đề “bảo trợ Hội Thánh hoàn vũ” cũng bị loại bỏ.
Bản văn Thánh lễ ngày
19/3
Sách
Bài đọc ban hành năm 1969 ấn định ba bài đọc như sau: 2 Sm 7,4.12-14a.16 (đức
Mêsia dòng dõi vua Đavit); Rm 4,13.16-18.22 (gương mẫu đức tin); Mt
1,16,18-21.24 hay Lc 2,41-51a.
Sách
lễ Roma ban hành năm 1970 có những lời nguyện mới về Thánh Giuse trong thánh lễ,
đề cao vai trò của người trong nhiệm cục cứu độ và về niềm vui của Hội Thánh có
Thánh Giuse là mẫu gương và đấng bầu cử. Những bản văn hiện tại chú trọng đến
Thánh Giuse trong tương quan với Đức Kitô và với Hội Thánh:
đối
với Đức Kitô, Thánh Giuse “đã hết lòng phục vụ Đức Kitô, Con Một Chúa”. “Chúa
đã giao phó Con Một Chúa chăm sóc giữ gìn như người cha lo cho con cái”.
đối
với Hội Thánh, Thánh Giuse là vị bảo trợ “được thánh nhân phù trợ ở dưới thế
gian này thì cũng được cầu thay nguyện giúp trước toà Chúa”; đồng thời người
cũng là mẫu gương cho Hội Thánh trong việc “cộng tác với Đức Giêsu để hoàn tất
công trình Người đã khởi đầu”, biết “phục vụ hy sinh suốt đời như người tôi
trung”.
Kinh
Tiền Tụng duy trì bản văn được đức Bênêđitô XV châu phê ngày 9/4/1919, tóm tắt
những điều chính yếu của Tin Mừng về vai trò thánh Giuse “người công chính, kết
bạn với Đức trinh nữ Mẹ Chúa Trời ... tôi tớ trung tín và khôn ngoan được trao
phó coi sóc Thánh gia”, để thay quyền Chúa Cha “gìn giữ Đức Giêsu Kitô, Con Một
Chúa Nhập Thể bởi quyền năng Thánh Thần”.
Phụng vụ các giờ kinh
Khi
bàn về lịch sử lễ kính Thánh Giuse, chúng ta đã đề cập đến sự phát triển của
Sách nguyện về lễ này. Vào thế kỷ XIII, một đan viện dòng Biển-đức ở Liège đã
có một bài nguyện riêng, và vào năm 1399, các tu sĩ dòng Phan-sinh đã đọc các
giờ kinh với chín bài đọc. Đức Sixtô IV (1471-1484) thuộc dòng Phan-sinh đã đưa
các bản văn này vào Sách nguyện Roma. Nhiều sách nguyện khác có kinh phụng vụ
kính Thánh Giuse vào thế kỷ XVI. Sau công đồng Trentô, những bản văn được thống
nhất dưới thời đức Piô V (1566-1572) nhưng bản văn đầy đủ hơn được đức Clêmentê
XI công bố ngày 4/2/1714 mà người ta nói do chính người soạn ra. Những bản văn
này không thay đổi trong hai thế kỷ rưỡi, cho đến khi duyệt lại sách phụng vụ
giờ kinh năm 1971 bao gồm những bản văn mới cho ngày lễ 19/3, lễ Thánh Gia, lễ
Thánh Giuse Lao Động.
Lễ ngoại lịch kính
Thánh Giuse
Lễ
ngoại lịch kính Thánh Giuse bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XIII, và được đưa vào
nhiều Sách lễ xuất bản vào thế kỷ XVI như ở Orleans, Paris, Strasbourg, Salzburg,
Chalon va Reims.
Sắc
lệnh năm 1883 cho phép các công nghị giáo phận và các cộng đoàn tu trì sáng tác
các kinh nguyện ngoại lịch và ấn định những lễ ngoại lịch vào các ngày khác
nhau trong tuần, riêng ngày thứ Tư là: “Thánh Giuse, bạn của đức Trinh Nữ Maria,
bảo trợ của Hội Thánh Công giáo”. Tiêu đề này xuất hiện ở phần “Lễ nhớ ngoại lịch
quanh năm” trong Sách lễ Roma được xuất bản dưới thời đức Lêô XIII, nhưng trong
ấn bản của đức Bênêđitô XV, tiêu đề chỉ còn giữ lại “Lễ Thánh Giuse” mặc dầu
các bản văn không thay đổi. Thỉnh thoảng giáo quyền ban phép cho một vài hội
dòng được cử hành lễ nhớ ngoại lịch vào những dịp không bị ngăn trở bởi lịch phụng
vụ.
Trong
Sách lễ Roma năm 1970, các thánh lễ ngoại lịch không còn gắn với ngày nào đặc
biệt trong tuần nữa, nhưng được xếp theo thứ tự hệ thống cấp bậc: bắt đầu với lễ
Chúa Ba Ngôi, Đức Maria ở vị trí thứ tám, các thiên thần ở vị thế thứ chín,
Thánh Giuse được xếp vào hàng thứ mười, trước các tông đồ.
Ca
nhập lễ trích từ Lc 12,42 và ca hiệp lễ lấy từ Mt 25,21 nhằm trình bày Thánh
Giuse như mẫu người đầy tớ trung tín mà Đức Kitô nói đến. Lời tổng nguyện của bản
văn cũ vẫn duy trì, trong khi lời nguyện trên lễ vật và lời nguyện hiệp lễ là
những bản văn mới, xin vì mẫu gương và lời chuyển cầu của Thánh Giuse, người
công chính và vâng phục cùng là thừa tác của các mầu nhiệm cứu độ giúp chúng ta
sống thánh thiện và công chính trong tác vụ của mình.
(Trích:
Sứ Mạng Thánh Giuse Trong Cuộc Đời Chúa Kitô & Hội Thánh)