Trang

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

THÁNH TÂM CHÚA GIÊ-SU: NGUỒN MẠCH TÌNH YÊU CỨU ĐỘ VÀ SỨC MẠNH BIẾN ĐỔI THẾ GIỚI



 Thánh Tâm Chúa Giêsu: Nguồn mạch tình yêu cứu độ và Sức mạnh biến đổi thế giới

Tháng Sáu được Giáo hội dành riêng để tôn kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Lòng sùng kính này bắt nguồn từ các mạc khải tư Đức Kitô trao cho Thánh nữ Margarita Maria Alacoque vào thế kỷ XVII, và được Đức Lêô XIII cổ võ trong toàn thể Giáo hội qua Thông điệp Annum Sacrum năm 1899. Trước làn sóng tục hóa, khủng hoảng luân lý và thách đố của thời đại trí tuệ nhân tạo, việc chiêm ngắm Thánh Tâm Chúa Giêsu mời gọi tín hữu hoán cải, đền tạ, kiến tạo hòa bình, dấn thân xoa dịu đau khổ và thánh hoá thế giới.

Vatican News

Hành trình lịch sử: Từ Paray-le-Monial đến việc thiết lập Tháng Thánh Tâm

Mối liên hệ giữa tháng Sáu và lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu khởi đi từ các thị kiến tại Paray-le-Monial, nước Pháp, vào thế kỷ XVII. Tháng 6 năm 1674, Đức Kitô hiện ra với Thánh nữ Margarita Maria Alacoque, một nữ tu dòng Thăm Viếng, tỏ bày Trái Tim Người và mời gọi thiết lập việc sùng kính đền tạ qua việc siêng năng rước lễ, đặc biệt vào các ngày Thứ Sáu đầu tháng.

Trong “Thị kiến vĩ đại” diễn ra một năm sau đó, Đức Kitô yêu cầu thiết lập một ngày lễ riêng để đền tạ vào ngày thứ Sáu sau tuần bát nhật lễ Mình và Máu Thánh Chúa, đồng thời truyền cho thánh nữ trình bày điều đó với cha giải tội là Thánh Claude de la Colombière, lúc bấy giờ là bề trên nhà Dòng Tên tại Paray-le-Monial.

Việc dành trọn một tháng để tôn kính Thánh Tâm được định hình rõ nét hơn trong thời kỳ Cách mạng Pháp. Tháng 6 năm 1790, linh mục Dòng Tên Alexandre Lanfant đã cổ võ việc phổ biến một tập sách kêu gọi các tín hữu thực hiện 40 ngày cầu nguyện và sám hối, kết thúc bằng lời nguyện tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Suốt thế kỷ XIX, lòng sùng kính này lan rộng nhờ nỗ lực của các tu sĩ Dòng Tên như Jean-Joseph Huguet, François-Xavier Gautrelet, Henry Ramière và Đức ông Louis-Gaston de Ségur, qua việc xuất bản các sách nguyện giúp giáo dân cầu nguyện hằng ngày trong tháng Sáu. Cao điểm của phong trào diễn ra ngày 16 tháng 6 năm 1875, khi Đức Hồng y Guibert, Tổng Giám mục Paris, đặt viên đá đầu tiên xây dựng Vương cung thánh đường Thánh Tâm Montmartre. Công trình này được xem như sự đáp lại một trong những lời mời gọi mà Chúa Giêsu đã ngỏ với Thánh nữ Margarita Maria Alacoque hai thế kỷ trước.

Phát triển phụng vụ và Huấn quyền qua các triều đại Giáo hoàng

Huấn quyền Giáo hội đã từng bước phê chuẩn và định hình lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu qua các sắc lệnh phụng vụ theo dòng lịch sử.

Tiến trình này chính thức bắt đầu năm 1765, khi Đức Giáo hoàng Clêmentê XIII chấp thuận việc cử hành Thánh lễ kính Thánh Tâm tại một số địa phương.

Đến năm 1856, Đức Piô IX quyết định mở rộng ngày lễ này cho toàn thể Giáo hội hoàn vũ, ấn định ngày thứ Sáu sau tuần bát nhật lễ Mình và Máu Thánh Chúa làm ngày đại lễ kính Thánh Tâm.

Bước ngoặt lớn diễn ra ngày 25 tháng 5 năm 1899. Sau khi xem xét các mạc khải tư của Chân phước Maria Thánh Tâm, nữ tu dòng Đức Mẹ Nhân Lành tại Bồ Đào Nha, Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã ban hành Thông điệp Annum Sacrum, chính thức thiết lập tháng Sáu là Tháng Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trên toàn thế giới, thúc đẩy việc sùng kính Chín Thứ Sáu đầu tháng và ban hành Kinh Tận Hiến toàn thể nhân loại cho Thánh Tâm.

Trong nỗ lực canh tân phụng vụ, ngày 6 tháng 2 năm 1965, Đức Giáo hoàng Phaolô VI ban hành Tông thư Investigabiles Divitias, kêu gọi các tín hữu đổi mới và đi vào chiều sâu của lòng sùng kính Thánh Tâm. Từ năm 1969, ngày lễ này được nâng lên bậc Lễ Trọng trong Niên lịch Phụng vụ.

Đến năm 1995, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II quyết định chọn ngày Lễ Trọng kính Thánh Tâm hằng năm làm Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Thánh hóa các Linh mục, với tâm nguyện: “Để chức linh mục được bảo vệ trong đôi tay của Chúa Giêsu, hay đúng hơn là trong Trái Tim Người, ngõ hầu Trái Tim ấy luôn rộng mở đón nhận tất cả mọi người”.

Bản chất của lòng sùng kính: Trái tim dịu hiền và 12 Lời hứa của Đức Kitô

Mầu nhiệm Thánh Tâm diễn tả sự dịu hiền của Chúa Kitô, Đấng đã tỏ bày Trái Tim Người để kêu gọi tình yêu đáp đền từ nhân loại.

Đây cũng là một phương thế sùng kính thích hợp để các tín hữu cầu nguyện cho những người thân đang sống xa lìa đức tin. Như Thánh Ambrôsiô từng khuyên nhủ Thánh Monica về người con trai hoang đàng Augustinô: “Hãy bớt nói với Augustinô về Chúa, nhưng hãy nói với Chúa nhiều hơn về Augustinô”. Khi lời cầu nguyện được kết hợp với sự chuyển cầu của Đức Mẹ, Thánh Tâm Chúa Giêsu tiếp tục âm thầm tác động đến các tâm hồn.

Để khích lệ các tín hữu, Chúa Giêsu đã ban qua Thánh nữ Margarita Maria Alacoque 12 Lời hứa:

1. Ta sẽ ban cho các con mọi ân sủng cần thiết dành cho bậc sống của các con.

2. Ta sẽ ban bình an cho gia đình các con.

3. Ta sẽ an ủi các con trong mọi khó khăn.

4. Ta sẽ là nơi nương tựa của các con trong cuộc sống và đặc biệt là trong lúc lâm chung.

5. Ta sẽ ban phước dồi dào cho mọi công việc các con làm.

6. Những kẻ tội lỗi sẽ tìm thấy trong Thánh Tâm Ta nguồn mạch và lòng thương xót bao la vô tận.

7. Những tâm hồn nguội lạnh sẽ trở nên nhiệt thành.

8. Những tâm hồn nhiệt thành sẽ nhanh chóng đạt được sự thánh thiện.

9. Ta sẽ chúc lành cho những nơi nào treo ảnh và tôn kính Thánh Tâm Ta.

10. Ta sẽ ban cho các linh mục khả năng chạm đến những trái tim chai đá nhất.

11. Những người truyền bá lòng sùng kính này sẽ mãi mãi được in dấu trong Thánh Tâm Ta.

12. Với lòng thương xót vô hạn, Ta hứa tình yêu toàn năng sẽ được trao cho tất cả những ai rước lễ vào các ngày Thứ Sáu đầu tháng, trong 9 tháng liên tiếp, ơn ăn năn lần cuối: họ sẽ không chết trong ngày phán xét của Ta, cũng như không mất ơn ích của các Bí tích; và Thánh Tâm Ta sẽ là nơi trú ẩn an toàn của các con trong giờ phút cuối cùng đó.

Lời hứa thứ 12 là nguồn gốc của thực hành đạo đức giữ Chín Thứ Sáu đầu tháng trong Giáo hội, hướng đến ơn bền đỗ đến cùng.

Tầm nhìn thần học và xã hội từ Thông điệp Annum Sacrum của Đức Lêô XIII

Nền tảng thần học và xã hội của lòng sùng kính Thánh Tâm được xác lập rõ ràng trong Thông điệp Annum Sacrum do Đức Giáo hoàng Lêô XIII ban hành ngày 25 tháng 5 năm 1899.

Đức Lêô XIII khẳng định vương quyền của Đức Kitô bao trùm toàn thể nhân loại, dựa trên quyền tự bản tính của Con Thiên Chúa và giá máu cứu chuộc trên Thập giá. Vương quyền ấy không được thực thi bằng cưỡng bách, nhưng bằng sự thật, công lý và bác ái. Đức Lêô XIII viết: “Vì trong Thánh Tâm có một biểu tượng và một hình ảnh sống động về tình yêu vô biên của Chúa Giêsu Kitô, điều thúc bách chúng ta phải yêu thương nhau, cho nên việc chúng ta tận hiến cho Thánh Tâm Cực Thánh của Ngài là điều hoàn toàn thích đáng và phải lẽ – một hành vi không gì khác ngoài việc dâng hiến và ràng buộc chính mình với Chúa Giêsu Kitô, bởi vì bất kỳ sự tôn kính, kính mến và tình yêu nào dành cho Thánh Tâm này thì đều thực sự và chân thành dành cho chính Đức Kitô” (Annum Sacrum, số 8).

Đức Lêô XIII nhìn nhận lòng sùng kính Thánh Tâm như một lời đáp cho các cuộc khủng hoảng phát sinh khi xã hội muốn loại trừ Thiên Chúa khỏi đời sống công cộng. Bởi lẽ, khi tôn giáo bị gạt bỏ, “hệ quả tất yếu là những nền tảng chắc chắn nhất của phúc lợi công cộng phải sụp đổ” (Annum Sacrum, số 10).

Ngài kêu gọi thế giới quay trở về với Đức Kitô để được chữa lành các vết thương xã hội và tìm kiếm hòa bình: “Chúng ta phải chạy đến với Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta đã lầm đường lạc lối và chúng ta phải trở lại con đường ngay thẳng: bóng tối đã che phủ tâm trí chúng ta, và sự u ám phải được xua tan bởi ánh sáng của sự thật... Nhiều vết thương của chúng ta sẽ được chữa lành và mọi công lý sẽ trỗi dậy trở lại với niềm hy vọng về một quyền bính được phục hồi; rằng những rực rỡ của hòa bình sẽ được đổi mới, và gươm giáo vũ khí rơi khỏi tay khi tất cả mọi người sẽ nhìn nhận vương quyền của Đức Kitô và sẵn lòng vâng nghe lời Người” (Annum Sacrum, số 11).

Các thực hành đạo đức truyền thống

Trong đời sống phụng vụ và đạo đức bình dân, các tín hữu có thể thực hiện nhiều việc đạo đức cụ thể để bày tỏ lòng sùng kính đối với Trái Tim Chúa.

Trước hết là việc Tận hiến, một hành vi ý thức nhằm dâng hiến bản thân, gia đình hoặc giáo xứ cho Đức Kitô. Lời nguyện tận hiến cổ xưa viết: “Lạy Trái Tim hết mực xót thương, xin hãy là sự công chính của con trước tòa Thiên Chúa là Cha, và xin che chở con khỏi cơn thịnh nộ của Người mà con đã đáng chịu vì tội lỗi của con”.

Gắn liền với đời sống gia đình, nghi thức Suy tôn Thánh Tâm là việc đặt linh ảnh Thánh Tâm ở vị trí trang trọng trong nhà, thường do linh mục chủ sự, để xin Chúa thánh hóa tổ ấm. Lời nguyện thánh hóa của nghi thức này có đoạn: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu... xin đoái thương chúc lành và thánh hóa bức linh ảnh này... và xin ban cho tất cả những ai ở trước linh ảnh này, biết sấp mình thờ lạy và tôn vinh Thánh Tâm cực thánh của Con Một Cha... có thể đạt được ơn sủng trong đời này và vinh quang vĩnh cửu đời sau”.

Bên cạnh đó, Kinh Đền Tạ là lời cầu nguyện nhằm xoa dịu những xúc phạm mà Thánh Tâm phải gánh chịu từ nhân loại, với lời khẩn nguyện thiết tha: “Lạy Chúa Giêsu dịu hiền, qua lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, mẫu gương đền tạ của chúng con, xin vui lòng nhận lễ tế tự nguyện này của chúng con như một hành vi đền tội!”

Đồng thời, các tín hữu cũng siêng năng suy niệm Kinh Cầu Thánh Tâm, kính nhớ các phẩm tính thần linh của Trái Tim Chúa. Về thực hành đạo đức này, ngày 20 tháng 6 năm 1979, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đưa ra lời huấn dụ: “Ai cũng biết rằng tháng Sáu được cung hiến cách riêng cho Thánh Tâm Chúa Giêsu. Chúng ta bày tỏ tình yêu và sự thờ lạy của mình đối với Ngài bằng Kinh Cầu, mà trong từng lời cầu riêng biệt, đã nói lên chiều sâu đặc biệt của nội dung thần học chứa đựng trong đó".

Sống Tháng Thánh Tâm trong thế giới hôm nay

Những định hướng mang tính xã hội và thần học của Đức Lêô XIII vẫn giữ nguyên giá trị trong thế kỷ XXI, khi Tháng Thánh Tâm Chúa Giêsu được sống giữa trào lưu tục hóa và sự thay đổi sâu sắc của các giá trị luân lý truyền thống.

Thách đố này thể hiện rõ tại nhiều quốc gia phương Tây, nơi tháng Sáu thường bị các phương tiện truyền thông và định chế thế tục biến thành “Tháng Kiêu hãnh” (Pride Month), nhằm cổ võ những quan điểm đi ngược với định chế hôn nhân và gia đình Kitô giáo. Trước thực tế ấy, nhiều tín hữu và cộng đoàn Công giáo đã chọn một hình thức chứng tá ôn hòa bằng cách chia sẻ linh ảnh Thánh Tâm trên các nền tảng mạng xã hội. Đây là hành động nhằm khẳng định niềm tin vào tình yêu cứu độ và tinh thần khiêm nhường, đối lập với sự kiêu hãnh của tội lỗi, đồng thời nhắc lại ý nghĩa thiêng liêng vốn có của tháng Sáu.

Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghệ với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo đang đặt con người trước nguy cơ cô lập, máy móc hóa cảm xúc và làm xói mòn đời sống tâm linh. Cùng với các vấn đề nhức nhối khác như sự vô cảm xã hội, nghèo đói, xung đột chính trị và những luật lệ phi đạo đức như an tử hay phá thai, thực trạng này đòi hỏi người Kitô hữu phải can đảm làm chứng cho Tin Mừng.

Trong bối cảnh ấy, Tháng Thánh Tâm mời gọi các tín hữu dấn thân vào đời sống thực tại cũng như không gian số bằng tình yêu và sự dịu hiền của Đức Kitô. Qua các việc đạo đức cụ thể như tận hiến, thiết lập giờ cầu nguyện, tôn kính linh ảnh Chúa trong gia đình, siêng năng rước lễ đền tạ và đọc Kinh Cầu, người Kitô hữu được mời gọi hoán cải đời sống và trở nên khí cụ của Lòng Thương Xót Chúa để sưởi ấm thế giới hôm nay.

 

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2026-06/thanh-tam-chua-gie-su-nguon-mach-tinh-yeu-cuu-do-bien-doi-the-gi.html

FROM INSTITUTIONS TO THE PERIPHERIES: POPE LEO'S PILGRIMAGE TO SPAIN

 


Preparations ahead of the visit of Pope Leo XIV in Madrid 

 

From institutions to the peripheries: Pope Leo's pilgrimage to Spain

The Director of the Holy See Press Office outlines for journalists the Pope's fourth international Apostolic Journey to Madrid, Barcelona, and the Canary Islands, addressing the themes of peace, disarmament, unity, youth, culture, new technologies, and migration, while encouraging a Church that "still has much to say on many levels."

By Salvatore Cernuzio

Pope Leo XIV's upcoming Apostolic Journey to Spain, scheduled for June 6–12, is significant in every respect. So too is the anticipation surrounding this fourth international trip, which will see Leo XIV travel 2,500 kilometers, stopping in Madrid, Barcelona, and the Canary Islands (Gran Canaria and Tenerife).

Many speeches, many meetings, many journeys through plazas and stadiums, many people—an estimated half a million faithful are expected to attend the various events—and many themes: from disarmament to peace, from the role of the Church to the challenges facing Spain and Europe, from the defense of life to migration.

"Needless to say, expectations are high," began Matteo Bruni, Director of the Holy See Press Office, as he presented the program and details of the Pope's pilgrimage to "a land of ancient Christian tradition."

"A land," the Vatican spokesman said, "that served as a laboratory of dialogue between different worlds in the heart of the Middle Ages. A land of great thinkers and Christian culture: the School of Salamanca, where in the sixteenth century scholastic theology and international law met, helping to shape reflection on the rights and dignity of every human person."

It is also the land of "great saints" such as St. John of the Cross and St. Teresa of Ávila, whose thought resonates prophetically with the challenges of our own time.

Themes of the journey

In Spain, the Pope will encounter this rich historical and cultural heritage while meeting representatives of the Church and public institutions, as well as thousands of young people, families, and figures from the worlds of sport, culture, and entertainment—some of whom will participate in the public events.

The dialogue between Church, politics, and culture as tools for overcoming polarization, along with reflection on technological and human progress—also in light of the encyclical Magnifica Humanitas—will be among the central themes of the Pope's 23 speeches, greetings, and homilies.

Naturally, peace will also be a major focus in an age marked by wars. Closely connected is the theme of disarmament, "at a time when the use of weapons is increasingly being justified," Bruni noted.

"In this sense," he added, "one may also reflect on the role of the Church in Spain, and more broadly in Europe, in light of its history—all of its history—as a precious treasure in moments of greatness as well as in times of crisis."

The voice of the Church

Pope Leo's visit is intended as both a sign and an encouragement for a Church that "still has much to say on many levels, in Spain and in Europe, where it can fully contribute as a constructive participant in public debate," Bruni said.

He also referred to the issue of "the defense of life"—every life, especially the most vulnerable. This concern extends to the topic of migration, which will come into sharp focus during the Pope's visit to the ports of the Canary Islands, a setting that in recent years has witnessed countless human and family tragedies linked to arrivals along the notorious Atlantic migration route.

At these locations, the Pope will hear migrants' stories, witness efforts to welcome them, and encounter "a land of missionary saints who departed from here to bring the Gospel to the world."

Encountering a people and their faith

Before that, however, are stops in Madrid and Barcelona—cities with their own traditions of openness and hospitality. Among the highlights will be the Basilica of Sagrada Família, with its profound symbolism of faith, during the centenary year of the death of its architect Antoni Gaudí, commemorated on June 10.

Pope Leo XIV, Bruni explained, "is addressing a people living in a highly secularized society, yet one in which Christian roots remain deeply embedded in cultural references and beyond."

This journey is therefore "an encounter with the faith of a people" still attached to popular religious traditions like processions. The Pope himself will participate in the Corpus Christi procession on Sunday, June 7. It is a faith that "does not remain confined within church walls but walks through the streets."

Borrowing a well-known expression of Pope Francis, Bruni described it not as "a museum faith" but as "a faith that bears fruit for the future."

Young people—from Spain and beyond—will be another particular focus of the papal visit. According to Bruni, the Pope intends to offer them "a message rich in substance, capable of imagining the future together with them, and of inspiring the Church, in an age of strong men, to raise up holy men and women."

Places of solidarity and symbols of the Atlantic border

Beyond the words, it will be a trip of powerful images: the Pope at the Royal Palace and the Congress of Deputies; at Madrid's Movistar Arena and Santiago Bernabéu Stadium; at the Abbey of Montserrat and the Sagrada Família, where he will inaugurate the Tower of Jesus Christ—the crowning feature of Gaudí's masterpiece—with a blessing for the people followed by a light and fireworks display.

Another symbolic stop will be the port of Arguineguín in Gran Canaria, long known as the "pier of shame" because of the overcrowded and precarious conditions faced by thousands of migrants, primarily from West Africa.

The Pope's itinerary thus weaves together political and institutional centers, spiritual and charitable sites, and emblematic locations along Europe's Atlantic border, reflecting a constant interplay between the ecclesial and public dimensions of his mission.

A particularly significant moment will come immediately after his first address to representatives of institutions, civil society, and the diplomatic corps, when Pope Leo XIV visits the social project “Cedia 24 Horas”, a center in Madrid's Lucero district dedicated to welcoming and accompanying vulnerable people and the homeless.

As Cardinal José Cobo Cano, Archbishop of Madrid, observed, the Pope will enter the country through the world of vulnerability and human peripheries.

The papal entourage

Traveling with the Pope will be Cardinal Ángel Fernández Artime, Pro-Prefect of the Dicastery for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life; Archbishop Filippo Iannone, Prefect of the Dicastery for Bishops; and Archbishop Luis Marín de San Martín, the Papal Almoner.

All the Pope’s speeches will be in Spanish, with the exception of one address in French at the Las Raíces reception center, which hosts migrants from French-speaking African countries.

Bruni also indicated that the Pope may speak a few words in Catalan, responding to questions from journalists about an issue that has generated considerable discussion in the Spanish media.

Another topic that has drawn attention is the issue of abuse. The Church has been involved in various initiatives aimed at prevention and reparative justice, including a protocol agreed upon last March by the Bishops’ Conference, the Conference of Religious, the Spanish Ombudsman's Office, and the Ministry of the Presidency to address this painful reality with truth and justice.

At present, Bruni explained, no private meeting between the Pope and abuse victims is scheduled.

 

https://www.vaticannews.va/en/pope/news/2026-06/from-institutions-to-peripheries-pope-leos-pilgrimage-to-spain.html

NHỮNG ĐIỂM NHẤN TRONG CHUYẾN VIẾNG THĂM CỦA ĐTC LÊ-Ô XIV TẠI TÂY BAN NHA

 


Hình ảnh Đức Thánh Cha XIV bên ngoài sân vận động Santiago Bernabeu ở thủ đô Madrid

 

Những điểm nhấn trong chuyến viếng thăm của ĐTC Lêô XIV tại Tây Ban Nha

Đức Thánh Cha Lêô XIV sẽ thực hiện chuyến tông du thứ tư của ngài tại nước ngoài khi viếng thăm Tây Ban Nha từ ngày 6-12/6/2026. Đây sẽ là chuyến viếng thăm trở lại của một vị Giáo hoàng đến Tây Ban Nha kể từ chuyến viếng thăm của Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XVI năm 2011. Chuyến đi mang đặc điểm kết hợp giữa ngoại giao cấp cao của nhà nước và những ưu tiên mục vụ của Đức Thánh Cha Lêô XIV, đặc biệt là sự quan tâm của ngài đối với người di dân.

Vatican News

 

Chương trình chuyến tông du Tây Ban Nha của Đức Thánh Cha Lêô XIV

Đức Thánh Cha sẽ bắt đầu chuyến viếng thăm tại Madrid ngày 6/6. Sau nghi lễ đón tiếp tại sân bay Adolfo Suárez Madrid-Barajas, ngài sẽ tham dự nghi thức đón tiếp chính thức tại Hoàng cung và thăm hữu nghị Quốc vương và Hoàng hậu Tây Ban Nha. Cùng ngày, ngài thăm dự án xã hội “CEDIA 24 Horas” của Caritas và chủ sự buổi canh thức cầu nguyện với giới trẻ tại Plaza de Lima.

Ngày 7/6, Đức Thánh Cha sẽ cử hành lễ Mình Máu Thánh Chúa tại Plaza de Cibeles. Sau đó, ngài gặp các tu sĩ Dòng Augustinô, cũng như các đại diện trong lãnh vực văn hóa và thể thao tại Cung Thể thao Madrid.

Ngày 8/6 là ngày dành cho các cuộc gặp chính thức. Đức Thánh Cha sẽ gặp Thủ tướng Pedro Sánchez, các thành viên Quốc hội và các Giám mục thuộc Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha. Buổi chiều, ngài cầu nguyện kính Đức Mẹ Almudena tại nhà thờ chính tòa Almudena và gặp cộng đoàn giáo phận tại sân vận động Santiago Bernabéu.

Ngày 9/6, sau cuộc gặp với các tình nguyện viên tại Trung tâm Triển lãm IFEMA, Đức Thánh Cha sẽ rời Madrid để đến Barcelona. Tại đây, ngài cầu nguyện tại nhà thờ chính tòa Thánh Giá và Thánh Eulalia, rồi chủ sự buổi canh thức tại sân vận động Olympic Lluís Companys.

Ngày 10/6, Đức Thánh Cha thăm Trung tâm giam giữ Brians 1, gặp các tù nhân, lần chuỗi Mân Côi tại đan viện Santa Maria de Montserrat và dùng bữa với các tu sĩ Biển Đức. Buổi chiều, ngài gặp cộng đoàn giáo phận và các tổ chức bác ái địa phương. Điểm nhấn trong ngày là việc khánh thành và làm phép Tháp Chúa Giêsu Kitô của Vương cung thánh đường Sagrada Familia, đồng thời cử hành Thánh lễ trọng thể nhân kỷ niệm 100 năm ngày qua đời của kiến trúc sư Antoni Gaudí.

Ngày 11/6, Đức Thánh Cha đến quần đảo Canary, gặp các tổ chức phục vụ người di dân tại cảng Arguineguín, gặp linh mục, phó tế và nhân viên mục vụ tại nhà thờ chính tòa Santa Anna ở Las Palmas, rồi cử hành Thánh lễ tại sân vận động Gran Canaria.

Ngày 12/6, ngài đến Tenerife, gặp những người di dân vượt Đại Tây Dương tại trung tâm Las Raíces, gặp các tổ chức địa phương hỗ trợ người di dân, cử hành Thánh lễ tại cảng Santa Cruz de Tenerife, sau đó tham dự nghi lễ tiễn biệt tại sân bay Tenerife Norte và trở về Roma vào buổi tối.

 


Logo và khẩu hiệu chuyến viếng thăm của ĐTC Lêô XIV tại Tây Ban Nha

 

Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha, “một quốc gia truyền giáo”

Chuyến tông du của Đức Thánh Cha đến Tây Ban Nha được nhìn nhận không chỉ như một sự kiện ngoại giao và mục vụ quan trọng, nhưng còn như cuộc gặp gỡ của một vị Giáo hoàng truyền giáo với một đất nước mang truyền thống truyền giáo sâu đậm. Trước chuyến đi, Đức Thánh Cha đã nói với cha José María Calderón, Giám đốc toàn quốc các Hội Giáo hoàng Truyền giáo tại Tây Ban Nha: “Tây Ban Nha đã là, và hy vọng sẽ tiếp tục là, một quốc gia rất có tinh thần truyền giáo”. Theo cha Calderón, những lời này chạm đến con tim ngài và củng cố nơi ngài ước muốn tiếp tục cổ võ ý thức truyền giáo.

Đức Thánh Cha đến Tây Ban Nha với một sự quen thuộc đặc biệt. Ngài từng sống phần lớn đời linh mục trong sứ vụ truyền giáo, nhất là tại Peru, và sau đó trong vai trò Bề trên Tổng quyền Dòng Augustinô. Nhờ đó, ngài đã gặp gỡ nhiều nhà truyền giáo Tây Ban Nha và hiểu từ bên trong di sản của một Giáo hội từng sai nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân ra đi loan báo Tin Mừng tại châu Mỹ Latinh, châu Phi, châu Á và nhiều vùng khác.

Bên dưới lịch trình chính thức là một mối dây sâu xa. Theo nhà báo Juan Vicente Boo, Đức Thánh Cha biết Tây Ban Nha hơn nhiều người tưởng. Lần đầu ngài đến nước này là năm 1982, trong một chuyến hành hương của các tu sĩ Augustinô đến Santiago de Compostela. Sau đó, khi làm Bề trên Tổng quyền, ngài đã thăm hơn 30 thành phố Tây Ban Nha trong khoảng 50 chuyến đi. Cha Alejandro Moral Antón, người kế nhiệm ngài trong Dòng Augustinô, cho biết Đức Thánh Cha rất hiểu các nhà truyền giáo Tây Ban Nha, cũng như tâm thức và cách suy nghĩ của họ.

Trong bối cảnh Tây Ban Nha đang đối diện với tục hóa và những thay đổi văn hóa sâu rộng, thời kỳ Tây Ban Nha là thành trì của Công giáo đã qua từ lâu, chuyến viếng thăm này được xem như lời mời gọi người Công giáo không rút lui hay buông xuôi, nhưng hiện diện cách trung tín và quảng đại. Theo cha Calderón, Đức Thánh Cha muốn người Công giáo Tây Ban Nha tìm lại nhiệt huyết truyền giáo, để truyền thống truyền giáo của đất nước không chỉ là ký ức quá khứ, nhưng trở thành động lực loan báo Tin Mừng hôm nay.

 


Đức Thánh Cha Lêô XIV và các chủng sinh Tây Ban Nha   (ANSA)

 

Ngoài ra, 3 chặng của chuyến viếng thăm - Madrid, Barcelona và Canary - sẽ có 3 điểm nhấn khác nhau: củng cố quan hệ với chính phủ Tây Ban Nha cũng như với người dân nước này; khánh thành Tháp Chúa Giêsu Kitô của Vương cung thánh đường Sagrada Familia (Thánh Gia); và đề cập đến cuộc khủng hoảng di dân.

Quan hệ Tòa Thánh và Tây Ban Nha: từ truyền thống Công giáo đến đối thoại trong xã hội thế tục

Quan hệ giữa Tòa Thánh và Tây Ban Nha thuộc hàng lâu đời nhất trong lịch sử ngoại giao châu Âu. Từ cuối thế kỷ XV, khi Tây Ban Nha bước vào thời kỳ thống nhất dưới các vị quân vương Công giáo, mối liên hệ với Roma đã trở thành một yếu tố quan trọng trong căn tính chính trị, văn hóa và tôn giáo của đất nước. Trong nhiều thế kỷ, Tây Ban Nha được xem là một trong những quốc gia Công giáo tiêu biểu của châu Âu, gắn liền với công cuộc truyền giáo tại châu Mỹ, đời sống tu trì phong phú, cũng như các truyền thống đạo đức bình dân sâu đậm.

Tuy nhiên, lịch sử quan hệ giữa Giáo hội và Nhà nước Tây Ban Nha cũng trải qua nhiều giai đoạn phức tạp. Thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX chứng kiến những căng thẳng giữa các lực lượng thế tục, tự do và Giáo hội. Trong thời nội chiến Tây Ban Nha và sau đó dưới chế độ Franco, Công giáo được đặt vào vị trí đặc biệt trong đời sống quốc gia. Thỏa ước năm 1953 giữa Tòa Thánh và Tây Ban Nha phản ánh bối cảnh ấy, khi Giáo hội được trao nhiều quyền và đặc ân trong một nhà nước mang tính Công giáo rõ rệt.

Sau khi Tây Ban Nha chuyển sang dân chủ, quan hệ với Tòa Thánh cũng được tái định hình. Hiến pháp năm 1978 khẳng định rằng “không tôn giáo nào có tính chất quốc giáo”, đồng thời yêu cầu các cơ quan công quyền quan tâm đến niềm tin tôn giáo của xã hội Tây Ban Nha và duy trì sự hợp tác thích hợp với Giáo hội Công giáo cũng như các tôn giáo khác. Trên nền tảng đó, các thỏa thuận năm 1979 giữa Tòa Thánh và Nhà nước Tây Ban Nha đã thay thế phần lớn mô hình cũ, điều chỉnh các lĩnh vực như pháp lý, giáo dục, văn hóa, kinh tế và chăm sóc mục vụ trong quân đội. Danh sách chính thức của Tòa Thánh ghi nhận cả Thỏa ước năm 1953 và các Thỏa thuận giữa Tòa Thánh và Nhà nước Tây Ban Nha ngày 3/1/1979.

Hiện nay, quan hệ giữa Tòa Thánh và Tây Ban Nha mang tính hợp tác nhưng không thiếu những vấn đề cần đối thoại. Giáo hội vẫn có vai trò xã hội rộng lớn qua giáo dục, bác ái, y tế, bảo vệ người nghèo, người di dân và các gia đình. Cơ chế phân bổ thuế cho Giáo hội cho phép người nộp thuế dành 0,7% phần thuế thu nhập của mình cho Giáo hội Công giáo.

Dù vậy, trong một xã hội ngày càng thế tục và đa nguyên, các vấn đề như giáo dục tôn giáo, tài sản Giáo hội, ký ức lịch sử, luân lý gia đình, di dân và vị trí công khai của tôn giáo vẫn là những điểm nhạy cảm. Vì thế, tương quan Tòa Thánh và Tây Ban Nha hôm nay không còn là mô hình “quốc gia Công giáo” như trước, nhưng là quan hệ đối thoại trong một nhà nước dân chủ, không quốc giáo, nơi Giáo hội tiếp tục đóng góp cho công ích bằng chứng tá Tin Mừng, phục vụ người nghèo và bảo vệ phẩm giá con người.

Ngày 8/6, khi Đức Thánh Cha Lêô XIV phát biểu trước Quốc hội Tây Ban Nha, đây sẽ là một dấu mốc chưa từng có trong lịch sử dân chủ của nước này. Đức Tổng Giám mục Luis Argüello của Valladolid, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, nhấn mạnh bài phát biểu dự kiến ​​của Đức Thánh Cha trước quốc hội Tây Ban Nha là đặc biệt quan trọng. Chỉ trong những dịp hiếm hoi, các giáo hoàng mới phát biểu trước các cơ quan lập pháp nước ngoài, và những bài phát biểu đó thường nằm trong số những bài phát biểu đáng chú ý nhất của một triều đại giáo hoàng.

Dù Tây Ban Nha từng nhiều lần đón các vị Giáo hoàng, chưa từng có vị nào phát biểu tại trụ sở Quốc hội. Sự kiện này mang ý nghĩa biểu tượng đặc biệt: một vị Giáo hoàng, với tư cách nguyên thủ quốc gia Tòa Thánh, lên tiếng trước cơ quan lập pháp của một quốc gia dân chủ, thế tục nhưng vẫn duy trì hợp tác với các cộng đồng tôn giáo.

Chuyến viếng thăm vì thế có hai chiều kích: Một mặt, đó là một chuyến thăm mục vụ nhằm củng cố đức tin, hy vọng và sự hiệp thông với Tòa Thánh Phêrô. Mặt khác, đây là một chuyến thăm chính thức của một nguyên thủ, với đầy đủ nghi thức, các cuộc gặp gỡ cấp thể chế và những tác động ở cấp nhà nước. Sự song hành đó giải thích tại sao sự can thiệp của Giáo hoàng vào Quốc hội không chỉ được xem như một cuộc gặp xã giao. Theo lời của García Magán, khía cạnh chính thức của chuyến thăm được kỳ vọng sẽ “tăng cường” mối quan hệ giữa Tòa Thánh và nhà nước Tây Ban Nha và, rộng hơn, sẽ tác động đến lợi ích chung của toàn xã hội.

 


ĐTC Lêô XIV tiếp kiến Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha   (ANSA)

 

Nhà thờ Sagrada Familia: đền thờ của đức tin và vẻ đẹp

Chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha cũng trùng với kỷ niệm 100 năm ngày qua đời của Antoni Gaudí, ngày 10/6, kiến trúc sư thiết kế Vương cung thánh đường Sagrada Familia. Đức Thánh Cha sẽ khánh thành Tháp Chúa Giêsu Kitô mới, đưa Sagrada Familia trở thành nhà thờ cao nhất thế giới.

Vương cung thánh đường là một trong những công trình tôn giáo nổi tiếng nhất thế giới, đồng thời là biểu tượng độc đáo của đức tin Công giáo, nghệ thuật và căn tính Catalonia. Công trình được khởi công năm 1882. Một năm sau, kiến trúc sư Antoni Gaudí tiếp nhận dự án và biến ngôi thánh đường này thành công trình lớn nhất đời mình, cũng là một lời tuyên xưng đức tin bằng đá, ánh sáng, hình khối và biểu tượng Kinh Thánh.

Sagrada Familia không chỉ là một nhà thờ, nhưng còn là một cuốn “Tin Mừng bằng kiến trúc”. Các mặt tiền diễn tả những mầu nhiệm chính trong cuộc đời Chúa Giêsu: Giáng Sinh, Khổ Nạn và Vinh Quang. Các tháp được thiết kế với ý nghĩa thần học rõ ràng, hướng cái nhìn con người lên Thiên Chúa. Trong tư tưởng của Gaudí, thiên nhiên là một cuốn sách do Thiên Chúa viết ra, vì thế các cột, vòm, ánh sáng và đường nét trong thánh đường đều gợi nhắc đến cây cối, hang động, núi đá và sự sống.

Antoni Gaudí sinh năm 1852 tại Catalonia. Ông là một trong những khuôn mặt tiêu biểu nhất của phong trào hiện đại Catalonia, nhưng vượt trên danh hiệu một thiên tài kiến trúc, ông còn được biết đến như một con người có đời sống đức tin sâu sắc. Những năm cuối đời, ông sống rất đơn sơ, gần như chỉ dành trọn sức lực cho nhà thờ Sagrada Familia. Ông thường nói rằng “khách hàng của tôi không vội”, ám chỉ Thiên Chúa, Đấng mà ông muốn phục vụ qua công trình này.

Gaudí qua đời năm 1926, sau khi bị xe điện đâm tại Barcelona. Khi ấy, Sagrada Familia vẫn còn dang dở. Tuy nhiên, công trình không dừng lại với cái chết của ông. Qua nhiều thế hệ kiến trúc sư, nghệ nhân và tín hữu, ngôi thánh đường tiếp tục được xây dựng, vượt qua cả những gián đoạn do Nội chiến Tây Ban Nha và những khó khăn kinh tế. Việc hoàn tất Tháp Chúa Giêsu Kitô, cao 172,5 mét, đánh dấu một cột mốc lịch sử, đưa Sagrada Familia trở thành nhà thờ cao nhất thế giới.

Tiến trình tuyên phong chân phước cho Gaudí cũng cho thấy Giáo hội không chỉ nhìn ông như một nghệ sĩ, nhưng như một chứng nhân đức tin. Ngày 14/4/2025, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhìn nhận các nhân đức anh hùng của ông và tuyên bố ông là Đấng Đáng kính. Đây là một bước quan trọng trên con đường nên thánh.

Sagrada Familia vì thế không chỉ là di sản kiến trúc của Barcelona, nhưng còn là dấu chỉ của một đời sống được dâng hiến cho Thiên Chúa. Nơi Gaudí, nghệ thuật trở thành lời cầu nguyện, và vẻ đẹp trở thành con đường dẫn con người đến với Đấng Tạo Hóa.

 


Vương cung thánh đường Sagrada Familia   (AFP or licensors)

 

Đức Thánh Cha Lêô XIV thăm Quần đảo Canary: Giáo hội bên cạnh người di dân

Việc Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Quần đảo Canary mang một ý nghĩa mục vụ đặc biệt. Đây là một trong những cửa ngõ quan trọng của người di dân từ châu Phi tìm đường đến châu Âu, sau những hành trình dài trên biển, đầy nguy hiểm và bấp bênh. Sự hiện diện của Đức Thánh Cha tại nơi này không chỉ là một cử chỉ nhân đạo, nhưng còn là lời nhắc nhớ mạnh mẽ về lập trường của Giáo hội Công giáo đối với người di dân và người tị nạn.

Trong giáo huấn xã hội của Giáo hội, người di dân trước hết không phải là một “vấn đề” hay một con số thống kê, nhưng là những con người mang phẩm giá bất khả xâm phạm. Họ có khuôn mặt, lịch sử, đau khổ, hy vọng và quyền được sống xứng đáng. Vì thế, Giáo hội luôn mời gọi các quốc gia biết phân định cách khôn ngoan giữa bổn phận bảo vệ công ích và trách nhiệm luân lý đối với những người đang chạy trốn chiến tranh, nghèo đói, bách hại, biến đổi khí hậu hay thiếu tương lai.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã xem việc gần gũi người di dân và tị nạn là một dấu ấn quan trọng trong triều đại giáo hoàng của ngài. Giáo huấn của ngài thường được tóm kết qua bốn động từ: đón tiếp, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập. Đón tiếp không có nghĩa là thiếu trách nhiệm, nhưng là mở ra những con đường hợp pháp và nhân đạo. Bảo vệ là bảo đảm quyền lợi căn bản, tránh để người di dân rơi vào tay các mạng lưới bóc lột. Thăng tiến là giúp họ phát triển khả năng, lao động và đóng góp cho xã hội. Hội nhập là xây dựng sự gặp gỡ giữa người đến và cộng đồng đón nhận, trong tôn trọng căn tính văn hóa và tôn giáo của nhau. Đức Thánh Cha Lêô XIV tiếp nối đường hướng này khi nhiều lần kêu gọi bảo đảm cách đối xử xứng với phẩm giá con người dành cho người di dân, đặc biệt tại Hoa Kỳ, quê hương của ngài.

Đức Phanxicô cũng từng dự định thăm quần đảo Canary, dù trong suốt 12 năm triều đại, ngài không đến Tây Ban Nha đại lục, vì ưu tiên những điểm đến nhỏ hơn và xa các trung tâm Công giáo truyền thống. Đối với Đức Thánh Cha Lêô XIV, việc ngài gặp người di dân tại Canary cho thấy di dân không chỉ là hồ sơ chính trị hay an ninh biên giới, nhưng là một thách đố Tin Mừng. Một Giáo hội trung thành với Chúa Kitô không thể dửng dưng trước những người liều mạng vượt biển để tìm sự sống.

Tại Tây Ban Nha, Giáo hội đã hiện diện lâu dài trong việc hỗ trợ di dân qua Caritas, các giáo phận, dòng tu và nhiều tổ chức bác ái. Tại các điểm nóng như Canary, các cộng đoàn Công giáo cộng tác trong việc tiếp đón khẩn cấp, cung cấp lương thực, quần áo, hỗ trợ pháp lý, chăm sóc tâm lý, đồng hành mục vụ và giúp hội nhập xã hội. Công việc này thường âm thầm, nhưng rất cụ thể: đứng bên cạnh những người vừa cập bến, lắng nghe các câu chuyện đau thương, giúp họ liên lạc với gia đình, bảo vệ trẻ vị thành niên và nâng đỡ những người dễ bị tổn thương.

Vì thế, chuyến thăm của Đức Thánh Cha đến Quần đảo Canary là một dấu chỉ có sức đánh động lương tâm châu Âu. Nó mời gọi nhìn người di dân không bằng sợ hãi hay định kiến, nhưng bằng trách nhiệm, công lý và lòng thương xót. Trong ánh sáng Tin Mừng, đón tiếp người di dân không chỉ là hành động xã hội, nhưng còn là gặp gỡ chính Chúa Kitô nơi những người bé nhỏ nhất.


 

Nhà thờ chính tòa Thánh Anna ở Las Palmas trên quần đảo Canary   (ANSA)

 

https://www.vaticannews.va/vi/vatican-city/news/2026-06/nhung-diem-nhan-dtc-leo-xiv-vieng-tham-tay-ban-nha.html

 

JUNE 5, 2026: MEMORIAL OF SAINT BONIFACE, BISHOP AND MARTYR

 June 5, 2026

Memorial of Saint Boniface, Bishop and Martyr

Lectionary: 357

 


Reading 1 

2 Timothy 3:10-17

You have followed my teaching, way of life,
purpose, faith, patience, love, endurance, persecutions,
and sufferings, such as happened to me
in Antioch, Iconium, and Lystra,
persecutions that I endured.
Yet from all these things the Lord delivered me.
In fact, all who want to live religiously in Christ Jesus
will be persecuted.
But wicked people and charlatans will go from bad to worse,
deceivers and deceived.
But you, remain faithful to what you have learned and believed,
because you know from whom you learned it,
and that from infancy you have known the sacred Scriptures,
which are capable of giving you wisdom for salvation
through faith in Christ Jesus.
All Scripture is inspired by God and is useful for teaching,
for refutation, for correction,
and for training in righteousness,
so that one who belongs to God may be competent,
equipped for every good work.

 

Responsorial Psalm 

Psalm 119:157, 160, 161, 165, 166, 168

R. (165a)  O Lord, great peace have they who love your law.
Though my persecutors and my foes are many,
I turn not away from your decrees.
R. O Lord, great peace have they who love your law.
Permanence is your word’s chief trait;
each of your just ordinances is everlasting.
R. O Lord, great peace have they who love your law.
Princes persecute me without cause
but my heart stands in awe of your word. 
R. O Lord, great peace have they who love your law.
Those who love your law have great peace,
and for them there is no stumbling block.
R. O Lord, great peace have they who love your law.
I wait for your salvation, O Lord,
and your commands I fulfill.
R. O Lord, great peace have they who love your law.
I keep your precepts and your decrees,
for all my ways are before you.
R. O Lord, great peace have they who love your law.
 

Alleluia 

John 14:23

R. Alleluia, alleluia.
Whoever loves me will keep my word,
and my Father will love him
and we will come to him.
R. Alleluia, alleluia.

 

Gospel 

Mark 12:35-37

As Jesus was teaching in the temple area he said,
“How do the scribes claim that the Christ is the son of David?
David himself, inspired by the Holy Spirit, said:
The Lord said to my lord,
‘Sit at my right hand
until I place your enemies under your feet.’
David himself calls him ‘lord’;
so how is he his son?”
The great crowd heard this with delight.

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/060526.cfm

 


Commentary on 2 Timothy 3:10-17

In today’s First Reading, Paul continues to urge Timothy to make Paul’s teaching and behaviour the model of Timothy’s own life.

Paul had very clear shortcomings, of which he was well aware, but he knew also that in his devotion to the following of Jesus, he was second to none.  In fact, it is because of his weaknesses that the power of Jesus shines so strongly through him:

…for whenever I am weak, then I am strong. (2 Cor 12:10)

And he was passionately bound by his love for Jesus, saying:

…it is no longer I who live, but it is Christ who lives in me.
(Gal 2:20)

So now Timothy is invited to remember Paul’s fidelity, patience and spirit of endurance as he passed through so many persecutions and sufferings. Paul mentions the three Galatian towns of Antioch, Iconium and Lystra.  Paul had visited them on his first and second missionary journeys, and as Timothy was from Lystra, he would have first-hand knowledge of Paul’s sufferings in that region.  Yet God had delivered Paul from all the threats and hardships he had encountered there.

Paul then enunciates a principle which occurs regularly in the New Testament and which has been a fact of life in the Church at all times:

…all who want to live a godly life in Christ Jesus will be persecuted.

We find similar warnings in the Gospel:

…you will be hated by all because of my name. But the one who endures to the end will be saved. (Matt 10:22)

It was precisely in the places mentioned above that Paul had encouraged the Christians there:

It is through many persecutions that we must enter the kingdom of God. (Acts 14:22)

St Ignatius of Loyola, founder of the Society of Jesus (Jesuits), put it slightly differently when he said he hoped that his men would always experience some persecution.  It was a sure sign they were doing their job.  We should not be surprised, then, at attacks on or ridicule of our Christian churches.

In fact, there will always be, as Paul says, “wicked people and impostors” for whom the message of the gospel is anathema and a threat. They will do what they can to destroy it and its messengers.  But as long as the gospel of Truth and Love is proclaimed it cannot fail, no matter what is thrown against it.

Timothy is urged to remain faithful to all that he learned and believed from his teachers, who include Paul as well as Timothy’s mother, Eunice, and grandmother, Lois (whose names are given at the beginning of the letter).  They had taught him the word of God from his earliest years.  A Jewish boy formally began to study the Scriptures when he was five years old.  (Timothy, we know, was born of a gentile father and a Jewish mother and would have been seen by Jews as one of them.  Because of that, Paul had had him circumcised to make him more acceptable to fellow-Jews.)

Paul says that the Scriptures, the word of God, are:

…sacred writings that are able to instruct you for salvation through faith in Christ Jesus.

Wisdom is not knowledge or information; it is a deep insight into the realities of our world and an ability to see how all things relate to each other.  The particular wisdom here is that which comes through our commitment to the vision of life that Jesus and the gospel give.

Paul continues:

All scripture is inspired by God…

Paul affirms God’s active involvement in the writing of Scripture, an involvement so powerful and pervasive that what is written is the infallible and authoritative word of God.  At this time, the primary reference here must be to what we call the Old Testament as some of the New Testament books had not yet even been written.  However, by the time of the later books, e.g. 1 Timothy and 2 Peter, some of the New Testament books and other written material (which later would become part of the canon) were being considered as being on the same level as the Old Testament books.  (At the same time, one feels that Paul would be very surprised to know that some of the letters he wrote, apparently in some haste at times, would be seen as God’s revealed word to us!)

An understanding of the Scriptures then is an essential source for:

…teaching, for reproof, for correction, and for training in righteousness…

Armed with this understanding, all those who are “person[s] of God” will be competent and ready and able for every good work.  For it is through the word of God in Scripture that we:

…may be proficient, equipped for every good work.

The Scripture contains a wisdom which should guide all our Christian lives, and it is regrettable that so many Catholics (as opposed to many Protestants) are far less familiar than they should be with God’s Word in both the Old and New Testaments.  It was St Jerome who said that “ignorance of the Scriptures is ignorance of Christ.”

It is amazing at times to hear people, who hardly ever open a Bible, pontificate about Jesus and the nature of Christianity. If we are among those who have to admit that much of the Bible is a closed book to us, let us resolve today to make ourselves more familiar with it. We will find there an inexhaustible source of inspiration for our lives. 

Those with experience will tell you that, no matter how many times they read Bible passages, there is still more insight to be gained.  It is not like a mystery novel that can be tossed aside once it is finished. It is more like a great piece of classical music that can be listened to again and again and which is ever open to new interpretations while remaining faithful to the original.

Comments Off

 


Commentary on Mark 12:35-37

In the face of the confrontations he has been experiencing Jesus now lays claim to his true identity. It had long been the belief among the Jews that the Messiah would be a descendant of the family of David. (On the other hand, the Samaritans saw the Messiah coming through the prophetic line; see John 4.)

Jesus, we know from the genealogies the Gospel gives us, was of the family of David. But today he affirms he is more than just a descendant of David. He is in fact David’s Lord. In the Gospel, Jesus quotes from Psalm 110, and we need to remember that David was believed to be the author of all the Psalms, themselves words inspired by the Holy Spirit.

In the Psalms, David says:

The Lord [God] says to my lord [the Messiah],
“Sit at my right hand
until I make your enemies your footstool.”
(Ps 110:1)

Jesus, then, is saying two things to his opponents:

  1. Jesus, the descendant, is the Lord of his ancestor, King David, and he is the Messiah-King who will sit at the right hand of God. He is, then, also the Lord of those who are challenging him.
  2. God promises that he will crush all the enemies of the Messiah-King.

The argument used in this reading could hardly be used today, as we have a better understanding of the authorship of the Psalms than people had in Jesus’ time.

Nevertheless, there are many other elements in the Christian Testament which lead us to the same conclusion: Jesus is Lord of all. We should ask ourselves: Does my life give testimony to that belief?

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2096g/

 

 


Friday, June 5, 2026

9th Week in Ordinary Time

Opening Prayer

Father, your love never fails. Hear our call.

Keep us from danger and provide for all our needs. We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen.

Gospel Reading - Mark 12: 35-37

While teaching in the Temple, Jesus said, 'How can the scribes maintain that the

Christ is the son of David? David himself, moved by the Holy Spirit, said: The Lord declared to my Lord, take your seat at my right hand till I have made your enemies your footstool. David himself calls him Lord; in what way then can he be his son?' And the great crowd listened to him with delight.

Reflection

In the Gospel of day before yesterday, Jesus criticizes the doctrine of the Sadducees (Mk 12: 24-27). In today’s Gospel, he criticizes the teaching of the doctors of the Law. And this time his criticism is not directed to the incoherence of their life, but to the teaching which they transmit to the people. On another occasion, Jesus had criticized their incoherence and had said to the people: “The Scribes and the Pharisees occupy the chair of Moses: You must, therefore, do and observe what they tell you, but do not be guided by what they do, since they do not observe what they preach” (Mt 23: 2-3). Now, he shows himself reserved regarding those who taught the Messianic hope, and he bases his criticism on arguments taken from the Bible.

           Mark 12: 35-36: The teaching of the Doctors of the Law on the Messiah. The official propaganda both of the government as that of the Doctors of the Law said that the Messiah would have come as the Son of David. This was the way to teach that the Messiah would be a glorious king, strong and dominator. This is how the people shouted on Palm Sunday: “Blessed the Kingdom that is coming from our Father David!” (Mk 11: 10). The blind man of Jericho also cried out in this same way: “Jesus, son of David, have pity on me!” (Mk 10: 47).

           Mark 12: 37: Jesus questions the teaching of the doctors about the Messiah. Jesus questions this teaching of the Scribes. He quotes a Psalm of David: “The Lord declared to my Lord, take your seat at my right hand, till I have made your enemies your footstool!” (Ps 110: 1). And Jesus adds: “If David calls him Lord, how then can he be his son?” This signifies that Jesus was not completely in agreement with the idea of a Messiah, Glorious Lord, who would have come like a powerful king to dominate and to impose himself on all his enemies. Mark adds that people were pleased with the criticism of Jesus. In fact, history informs that the “poor of Yahweh” (anawim) were expecting a Messiah who was not a dominator, but the servant of God for humanity.

           The diverse forms of Messianic hope. Throughout the centuries, the Messianic hope grew, assuming diverse forms. Almost all the groups and movements of the time of Jesus were waiting for the coming of the Kingdom, but each one in his own way, the Pharisees, the Scribes, the Essenes, the Zealots, the Herodians, the Sadducees, the popular prophets, the disciples of John the Baptist, the poor of Yahweh. In the time of Jesus, three tendencies in the Messianic hope could be distinguished.

           The Messiah personally sent by God: For some, the future Kingdom should arrive through one sent by God, called Messiah, or Christ. He would have been anointed so as to be able to carry out his mission (Is 61: 1). Some expected that he would be a prophet; others, a king, a disciple or a priest. Malachi, for example, expects the prophet Elijah (Ml 3: 23-24). Psalm 72 expects an ideal king, a new David. Isaiah expects now a disciple (Is 50: 4), now a prophet (Is 61: 1). The unclean spirit shouted: "I know who you are: the Holy One of God!” (Mc 1: 24). This was a sign that there were people who expected a Messiah who would be a priest (Holy or Sanctifier). The poor of Yahweh (anawim) expected the Messiah “Servant of God”, announced by Isaiah.

           Messianism without the Messiah. For others, the future would have arrived suddenly, unexpected, without mediations, without help from anyone. God himself would have come in person to carry out the prophecies. There would not have been a Messiah, properly so called. There would be a messianism without a Messiah. Of this we are aware in the Book of Isaiah where God himself arrives with the victory in hand (Is 40: 9-10; 52: 7-8).

           The Messiah has already come. There were also some groups which did not expect the Messiah. According to them the present situation should continue as it was because they thought that the future had already arrived. These groups were not popular. For example, the Sadducees did not expect the Messiah. The Herodians thought that Herod was a messianic king.

           The light of the Resurrection. The Resurrection of Jesus is the light which enlightens unexpectedly all the past. In the light of the Resurrection Christians would begin to read the Old Testament and would discover in it new meaning which before could not be discovered, because the light was missing (cf. 2 Co 3: 15-16). They sought in the Old Testament the words to express the new life which they were living in Christ. There they found the majority of the titles of Jesus: Messiah (Ps 2: 2) Son of man (Dn 7: 13; Ez 2: 1), Son of God (Sl 2: 7; 2 S 7: 13), Servant of Yahweh (Is 42: 1; 41: 8), Redeemer (Is 41: 14; Ps 19: 15; Rt 4: 15), Lord (LXX) (almost 6000 times!). All the great themes of the Old Testament spring up in Jesus and find in him their full realization. In the Resurrection of Jesus springs up the seed and according to everything that has been said by the Fathers of the Church, the whole Old Testament becomes New Testament.

Personal questions

           Which is the hope for the future of today’s world in which we live?

           Does Faith in the Resurrection influence the way of living your life?

Concluding Prayer

I am waiting for your salvation, Yahweh, I fulfil your commandments.

I observe your precepts, your judgements,

for all my ways are before you. (Ps 119: 166, 168)

 

www.ocarm.org

 

 


Saint Boniface, Bishop and Martyr

 

Boniface was born at Crediton in Devon, England, in 675 AD and baptised with the name Wynfrith (Winfred). The name means “Friend of Peace”, possibly because his father was a Saxon and his mother a Briton, to show that the two peoples had come together.

He entered a monastery at Nursling near Southampton and became a monk and a priest. He had a strong desire to become a missionary abroad. Finally his abbot let him go, and in 716, he set out for the land of the Frisians (in the Netherlands). Another English missionary, Willibrord, from Northumbria, had already preached the gospel there for several years. But wars and the hostility of non-Christians were big obstacles for the young Wynfrith. Some months later, having failed in his mission, he returned to his monastery in England, to devote two more years preparing for his apostolic work.

In 718, Wynfrith once again left his monastery, this time for good. He would never return to England. He set off for Rome to ask the pope for his commissioning and blessing. On 14 May, 719, he threw himself at the feet of Pope Gregory II who gave him the new name “Boniface” (one who does good). He then went north across the Alps and embarked on 35 years of missionary work in various parts of Germany, which included a return visit to Frisia.

In 722, he was consecrated by the pope as bishop of the whole of Germany east of the Rhine. On his return to Germany as bishop, Boniface decided to tackle heathen superstitions head-on. At a place called Geismar in front of hostile tribesmen he chopped down a sacred oak tree, where they worshipped Thor, the god of thunder (after whom Thursday is named), and laid the foundations of a flourishing new church there.

According to tradition, when he chopped down the pagan Thor’s Oak, Boniface claimed a tiny fir tree growing in its roots as the new Christian symbol. He told the heathen tribes:

This humble tree’s wood is used to build your homes: let Christ be at the centre of your households; its leaves remain evergreen in the darkest days: let Christ be your constant light; its branches reach out to embrace and its top points to heaven: let Christ be your comfort and your guide.

So the fir tree became a sign of Christ among the German peoples and eventually a world-wide symbol of Christmas.

Boniface went on to establish many new churches and monasteries and to reorganise the existing ones so that they were more effective Christian communities, and properly ‘equipped for mission’. After another six years, the pope made him archbishop of all Germany, based at Mainz.

As well as expanding the churches in Germany, Boniface was equally concerned to ensure that the political authorities and rulers became firmly committed to Christianity. He crowned Pepin as King of all the “Franks” (the people of France and Germany), whose son Charlemagne was to become the first “Holy Roman Emperor”—a title which continued for the next 1,000 years.

Boniface was constantly travelling, encouraging churches, appointing good leaders, and negotiating with political leaders. His journeys and letters indicate his energy and spirituality. Many of his fellow-workers came from his native England. Whenever he felt tired, he withdrew to the new abbey he had founded at Fulda, in central Germany, for rest and refreshment. But even in his late 70s he was not prepared to remain idle for long.

At the age of nearly 80, when most archbishops would have retired, he had other ideas. He still wanted to take the gospel to Frisia, where his first efforts had failed nearly 40 years earlier. He set off with 52 companions on an evangelising mission. At Pentecost, on 5 June, 755, near the modern town of Dokkum in The Netherlands, the whole party was massacred by heathen brigands. Boniface was himself struck down by a sword which pierced the bible he had raised to shield his head. As requested in his will, his body was taken back to his monastery at Fulda, where a magnificent cathedral now encloses his tomb and where the Catholic bishops of Germany hold their meetings every year.

Boniface was the Patron of England for 300 years and is still Patron of Germany and The Netherlands. A historian has written of him:

“Everything which has developed afterwards (in Germany) in the realm of politics, the church and spirituality, is established on the foundation laid by Boniface, whose tomb should be more sacred for us than the tombs of the patriarchs were for the Jews, because he is truly the spiritual father of our people. Boniface has given us, as well as our successors, more than any of our great emperors and kings has been able to contribute.”

Comments Off

https://livingspace.sacredspace.ie/f0605s/

 

05.06.2026: THỨ SÁU TUẦN IX THƯỜNG NIÊN - THÁNH BÔ-NI-PHÁT, GIÁM MỤC, TỬ ĐẠO - Lễ Nhớ

 05/06/2026

 Thứ Sáu đầu tháng, tuần 9 thường niên.

 Thánh Bôniphát, giám mục, tử đạo.

Lễ nhớ

 


* Thánh nhân sinh tại Anh quốc quãng năm 673. Người nhập đan viện I-xơ-te và được Đức Giáo Hoàng Ghê-gô-ri-ô II đổi tên Uyn-phơ-rít thành Bô-ni-pha-xi-ô.

Người là tông đồ của nước Đức và là người tổ chức lại Hội Thánh nhiều miền. Sau khi được Đức Giáo Hoàng tấn phong giám mục (năm 722), người rảo khắp nước Đức, thành lập các giáo phận và các đan viện trong đó có đan viện Phun-đa. Người bị sát hại ở Đốc-cum (Hà Lan) cùng với năm mươi hai đồng bạn năm 754.

 

Bài Ðọc I: (Năm II) 2 Tm 3, 10-17

“Kẻ sống đạo đức trong Ðức Giêsu Kitô, đều chịu bắt bớ”.

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gởi cho Timô-thêu.

Con thân mến, con đã noi theo cha về giáo lý, đức hạnh, dự định, lòng tin, khoan dung, yêu thương, kiên nhẫn, bắt bớ, đau khổ, như đã xảy đến cho cha ở Antiokia, Icôni và Lystra. Biết bao cuộc bắt bớ cha đã phải chịu, và Chúa đã cứu cha thoát khỏi tất cả. Vả lại, mọi kẻ muốn sống đạo đức trong Ðức Giêsu Kitô đều chịu bắt bớ. Còn những kẻ tội lỗi và gian trá, thì sẽ đi sâu vào tình trạng tệ hại hơn, vì họ lầm lạc và làm cho kẻ khác lầm lạc. Phần con, con hãy bền vững trong các điều con đã học hỏi và xác tín, vì con biết con đã học cùng ai, vì từ bé, con đã học biết Sách Thánh, và chính Sách Thánh đã dạy con sự khôn ngoan để con được cứu rỗi nhờ tin vào Ðức Giêsu Kitô. Tất cả Kinh Thánh đã được Chúa linh hứng, đều hữu ích để giảng dạy, biện bác, sửa dạy và giáo dục trong đàng công chính, ngõ hầu người của Thiên Chúa được hoàn hảo để sẵn sàng thực hiện mọi việc lành.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 118, 157. 160. 161. 165. 166. 168

Ðáp: Ðại bình an cho những ai yêu luật pháp Chúa (c. 165).

Xướng: Nhiều người bắt bớ và nhiễu hại con, nhưng con chẳng sai trật lời nghiêm huấn của Chúa. – Ðáp.

Xướng: Căn bản lời Chúa là sự thật, mọi chỉ dụ công minh của Chúa tồn tại muôn đời. – Ðáp.

Xướng: Các vua chúa bách hại con vô lý, nhưng lòng con vẫn kính sợ lời Ngài. – Ðáp.

Xướng: Ðại bình an cho những ai yêu luật pháp Chúa, không có gì làm cớ cho họ sẩy chân. – Ðáp.

Xướng: Lạy Chúa, con mong ơn Ngài phù trợ, để thực thi những chỉ thị của Ngài. – Ðáp.

Xướng: Con tuân giữ huấn lệnh và những lời truyền của Chúa, vì bao đường lối của con hiện ở trước nhan Ngài. – Ðáp.

 

Alleluia: Ga 14, 5

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! Chúa nói: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy. Alleluia.)

 

Phúc Âm: Mc 12, 35-37

“Sao họ có thể bảo Ðức Kitô là Con vua Ðavít?”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu cất tiếng giảng dạy trong đền thờ rằng: “Sao các luật sĩ lại nói Ðấng Cứu Thế là con vua Ðavít? Vì chính Ðavít được Chúa Thánh Thần soi sáng đã nói: Thiên Chúa đã phán cùng Chúa tôi rằng: “Con hãy ngồi bên hữu Cha, cho đến khi Cha đặt các kẻ thù con làm bệ dưới chân con”. Chính Ðavít gọi Người là Chúa, thì sao Người lại có thể là Con Ðavít được?” Và đám dân chúng thích thú nghe Người nói.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về 2 Ti-mô-thê 3,10-17

Trong Bài đọc thứ nhất hôm nay, Phao-lô tiếp tục khuyên Ti-mô-thê hãy lấy lời dạy và cách sống của Phao-lô làm mẫu mực cho đời sống của mình.

Phao-lô có những thiếu sót rất rõ ràng, mà ông nhận thức rất rõ, nhưng ông cũng biết rằng trong lòng tận hiến cho việc theo Chúa Giê-su, ông không thua kém ai. Thật vậy, chính vì những yếu đuối của ông mà quyền năng của Chúa Giê-su tỏa sáng mạnh mẽ qua ông:

…vì khi nào tôi yếu đuối, thì tôi lại mạnh mẽ. (2 Cô-rin-tô 12,10)

Và ông hết lòng yêu mến Chúa Giê-su, mà rằng:

…không còn phải là tôi sống nữa, mà là Đấng Ki tô sống trong tôi. (Ga-lát 2,20)

Vậy nên giờ đây Ti-mô-thê được mời gọi hãy nhớ đến lòng trung thành, sự kiên nhẫn và tinh thần chịu đựng của Phao-lô khi ông trải qua rất nhiều sự bắt bớ và đau khổ. Phao-lô nhắc đến ba thành phố Ga-lát là An-ti-ốt, I-cô-ni-ô và Ly-stra. Phaolo đã đến thăm họ trong hai chuyến truyền giáo đầu tiên của mình, và vì Ti-mô-thê đến từ Lystra, nên ông hẳn đã có hiểu biết trực tiếp về những đau khổ của Phaolo ở vùng đó. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã giải cứu Phaolô khỏi mọi mối đe dọa và khó khăn mà ông gặp phải ở đó.

Sau đó, Phaolô nêu lên một nguyên tắc thường xuyên xuất hiện trong Tân Ước và là một thực tế trong Giáo hội mọi thời đại:

…tất cả những ai muốn sống một đời sống thánh thiện trong Chúa Giê-su Ki tô đều sẽ bị bắt bớ.

Chúng ta tìm thấy những lời cảnh báo tương tự trong Phúc Âm:

…các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta. Nhưng ai kiên trì đến cuối cùng sẽ được cứu rỗi. (Mát-thêu 10,22)

Chính tại những nơi được đề cập ở trên, Phaolô đã khích lệ các tín hữu ở đó:

Chúng ta phải trải qua nhiều cuộc bắt bớ để vào được vương quốc của Đức Chúa Trời. (Công vụ Tông đồ 14,22)

Thánh Ignatius Loyola, người sáng lập Dòng Tên, đã diễn đạt điều đó hơi khác một chút khi ông nói rằng ông hy vọng rằng những người của ông sẽ luôn trải qua một số cuộc bắt bớ. Đó là dấu hiệu chắc chắn cho thấy họ đang làm tốt công việc của mình. Vì vậy, chúng ta không nên ngạc nhiên trước những cuộc tấn công hay chế giễu các giáo hội Ki tô của chúng ta.

Thực tế, sẽ luôn có, như Phao-lô nói, “những kẻ gian ác và những kẻ giả mạo” coi sứ điệp phúc âm là điều đáng nguyền rủa và là mối đe dọa. Họ sẽ làm mọi cách để phá hủy nó và những người truyền bá nó. Nhưng chừng nào phúc âm về Chân lý và Tình yêu còn được rao giảng thì nó không thể thất bại, bất kể điều gì chống lại nó.

Ti-mô-thê được khuyên hãy trung thành với tất cả những gì mình đã học và tin từ các thầy dạy của mình, bao gồm Phao-lô cũng như mẹ của Ti-mô-thê, bà Ê-nê-cô, và bà ngoại, bà Ê-li-át (tên của họ được nêu ở đầu thư). Họ đã dạy ông lời Chúa từ những năm tháng đầu đời. Một cậu bé Do Thái chính thức bắt đầu học Kinh Thánh khi mới năm tuổi. (Chúng ta biết rằng Ti-mô-thê sinh ra từ một người cha ngoại bang và một người mẹ Do Thái, và người Do Thái sẽ coi ông như một trong số họ. Vì lý do đó, Phao-lô đã cho cắt bì cho ông để ông được chấp nhận hơn trong cộng đồng người Do Thái.)

Phao-lô nói rằng Kinh Thánh, lời của Đức Chúa Trời, là:

…những văn bản thiêng liêng có thể hướng dẫn anh em để được cứu rỗi nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su Ki tô

Sự khôn ngoan không phải là kiến ​​thức hay thông tin; đó là sự hiểu biết sâu sắc về thực tại của thế giới chúng ta và khả năng nhìn thấy mọi sự liên quan đến nhau như thế nào. Sự khôn ngoan đặc biệt ở đây là sự khôn ngoan đến từ sự cam kết của chúng ta với tầm nhìn về cuộc sống mà Chúa Giê-su và phúc âm ban cho.

Phaolô tiếp tục:

Tất cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời soi dẫn…

Phaolo khẳng định sự tham gia tích cực của Đức Chúa Trời trong việc viết Kinh Thánh, một sự tham gia mạnh mẽ và sâu rộng đến nỗi những gì được viết ra là lời bất khả sai phạm và có thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Vào thời điểm này, sự tham chiếu chính ở đây phải là đến những gì chúng ta gọi là Cựu Ước vì một số sách trong Tân Ước thậm chí còn chưa được viết. Tuy nhiên, đến thời điểm của các sách sau này, ví dụ như 1 Ti-mô-thê và 2 Phê-rô, một số sách trong Tân Ước và các tài liệu viết khác (sau này sẽ trở thành một phần của kinh điển) đã được coi là ngang hàng với các sách trong Cựu Ước. (Đồng thời, người ta cảm thấy rằng Phaolô sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng một số bức thư ông viết, dường như đôi khi vội vàng, lại được coi là lời mặc khải của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta!)

Do đó, hiểu biết về Kinh Thánh là một nguồn thiết yếu cho:

việc giảng dạy, khiển trách, sửa chữa và huấn luyện trong sự công chính…

Được trang bị sự hiểu biết này, tất cả những người là “người của Đức Chúa Trời” sẽ có đủ năng lực, sẵn sàng và có khả năng làm mọi việc lành. Vì chính nhờ Lời Chúa trong Kinh Thánh mà chúng ta:

có thể trở nên thành thạo, được trang bị cho mọi việc lành.

Kinh Thánh chứa đựng sự khôn ngoan cần hướng dẫn toàn bộ đời sống Kitô hữu của chúng ta, và thật đáng tiếc khi nhiều người Công giáo (trái ngược với nhiều người Tin Lành) lại ít quen thuộc với Lời Chúa trong cả Cựu Ước và Tân Ước hơn mức cần thiết. Thánh Giêrôm đã nói rằng “không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô”.

Thật đáng ngạc nhiên khi đôi lúc nghe những người hầu như không bao giờ mở Kinh Thánh ra lại rao giảng về Chúa Giêsu và bản chất của Kitô giáo. Nếu chúng ta nằm trong số những người phải thừa nhận rằng phần lớn Kinh Thánh là một cuốn sách khó hiểu đối với chúng ta, thì hôm nay chúng ta hãy quyết tâm làm quen thuộc hơn với nó. Chúng ta sẽ tìm thấy ở đó một nguồn cảm hứng vô tận cho cuộc sống của mình.

Những người có kinh nghiệm sẽ nói với bạn rằng, cho dù họ đọc các đoạn Kinh Thánh bao nhiêu lần đi nữa, vẫn còn nhiều điều sâu sắc hơn để có thể hiểu được. Nó không giống như một cuốn tiểu thuyết trinh thám mà có thể vứt bỏ sau khi đọc xong. Nó giống như một tác phẩm nhạc cổ điển tuyệt vời có thể nghe đi nghe lại nhiều lần và luôn mở ra những cách diễn giải mới trong khi vẫn giữ được lòng trung thành với bản gốc.

 

 


Chú giải về Mác-cô 12,35-37

Trước những cuộc đối đầu mà Ngài đã trải qua, Chúa Giê-su giờ đây khẳng định danh tính thật của mình. Từ lâu, người Do Thái đã tin rằng Đấng Mê-si-a sẽ là hậu duệ của dòng dõi Đa-vít. (Mặt khác, người Sa-ma-ri lại thấy Đấng Mê-si-a đến qua dòng dõi tiên tri; xem Gioan 4.)

Chúng ta biết từ gia phả mà Phúc Âm cung cấp rằng Chúa Giê-su thuộc dòng dõi Đa-vít. Nhưng hôm nay, Ngài khẳng định mình không chỉ là hậu duệ của Đa-vít. Trên thực tế, Ngài là Chúa của Đa-vít. Trong Phúc Âm, Chúa Giê-su trích dẫn Thánh Vịnh 110, và chúng ta cần nhớ rằng Đa-vít được cho là tác giả của tất cả các Thánh Vịnh, chính những lời này được Đức Thánh Linh soi dẫn.

Trong Thánh Vịnh, Đa-vít nói:

Chúa [Đức Chúa Trời] phán cùng Chúa tôi [Đấng Mê-si-a] rằng:

“Hãy ngồi bên hữu ta

cho đến khi ta đặt kẻ thù ngươi làm bệ chân ngươi.” (Thánh Vịnh 110,1)

Vậy, Chúa Giê-su đang nói hai điều với những người chống đối Ngài:

1. Chúa Giê-su, hậu duệ, là Chúa của tổ phụ Ngài, Vua Đa-vít, và Ngài là Đấng Mê-si-a - Vua sẽ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Vì vậy, Ngài cũng là Chúa của những người đang thách thức Ngài.

2. Đức Chúa Trời hứa rằng Ngài sẽ nghiền nát tất cả kẻ thù của Đấng Mê-si-a - Vua.

Lập luận được sử dụng trong đoạn Kinh Thánh này khó có thể được sử dụng ngày nay, vì chúng ta hiểu rõ hơn về tác giả của các Thánh Vịnh so với người ta vào thời Chúa Giê-su.

 

Tuy nhiên, có nhiều yếu tố khác trong Kinh Thánh dẫn chúng ta đến cùng một kết luận: Chúa Giê-su là Chúa của muôn loài. Chúng ta nên tự hỏi: Cuộc sống của tôi có làm chứng cho niềm tin đó không?

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2096g/

 

 


Suy Niệm: Ðấng Kitô là Chúa

Cuộc đối đầu trực diện giữa Chúa Giêsu và các đối thủ qua đi với việc họ không còn chất vấn Ngài nữa. Lúc này, tác giả Marcô lại nhớ thêm một cảnh, trong đó chính Chúa Giêsu là người chất vấn. Marcô không xác định rõ kẻ bị hỏi, chỉ ở cuối đoạn ông mới cho biết đông đảo dân chúng lắng nghe Ngài cách thích thú.

Trong lần chất vấn này, Chúa Giêsu đề cập đến tước hiệu mà các luật sĩ gán cho Ngài: con vua Ðavít. Một truyền thống Do thái xa xưa vẫn cho rằng Ðấng Kitô phải thuộc dòng dõi vua Ðavít (2V 7,14-17). Người ta cũng thường gọi Chúa Giêsu là "con vua Ðavít" (x. 10,48; 11,10). Nhưng chắc chắn Chúa Giêsu không tự xưng mình bằng tước hiệu này, vì nó quá hàm hồ, Ngài muốn tránh xa quan niệm về Ðấng Kitô theo kiểu chính trị. Ngài trưng dẫn Thánh vịnh 110, theo đó Ðấng Kitô vừa là con vua Ðavít, vừa được Ðavít gọi bằng "Chúa tôi". Chính Kinh Thánh đã gán cho Ðấng Kitô một phẩm tính cao cả hơn con vua Ðavít và gọi bằng tước hiệu "Chúa". Sau biến cố Phục Sinh, các Kitô hữu đã sử dụng Thánh vịnh 110 để tìm ra các tước hiệu bao hàm trọn vẹn tính cách của Chúa Giêsu: họ tuyên xưng Ngài thực sự thuộc đẳng cấp thần thánh: Ngài đã sống lại và được Thiên Chúa phong làm "Chúa". Ngài lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa (Cv 2,34-36).

Ðức Kitô là Thiên Chúa thật và cũng là người thật. Ðó là lòng tin kiên vững của Kitô giáo. Quá nhấn mạnh tới thiên tính mà bỏ quên nhân tính, hoặc ngược lại, đều là những sai lầm tai hại. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật, như lời thánh Gioan: "Từ khởi thủy đã có Lời, và Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa". Nhưng Lời đã thành xác phàm và sống giữa nhân loại để cứu độ con người và nâng con người lên địa vị con cái Thiên Chúa. Nói theo thánh Irênê: Thiên Chúa đã làm người để con người được trở thành Thiên Chúa.

Ước gì đó là niềm xác tín mà chúng ta mang trong lòng, diễn tả ra cuộc sống và sẵn sàng bảo vệ đến cùng.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 


Ngày 5/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo (khoảng 673-754)

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Cuộc tử đạo của thánh giám mục thành Mayence và 52 người bạn đã diễn ra ngày 5 tháng 6 năm 754. Trong khi dâng Thánh lễ ở Dokkum, thuộc Frise miền Bắc (Hà Lan ngày nay), các Ngài đã bị dân Frisons sát hại, dẫu rằng họ đã được các ngài loan báo Tin Mừng của Chúa. Lễ nhớ thánh Boniface ca ngợi ngài là vị Tông Đồ vĩ đại của nươc Đức. Ngài hoạt động truyền giáo đến tận vương quốc dân Francs.

Mãi đến năm 1874, theo lời yêu cầu của các Nghị phụ Công đồng Vaticanô I, người ta mới đưa lễ nhớ thánh Boniface vào lịch Giáo triều Rôma. Tuy nhiên thánh nhân đã được tôn kính không những tại Đức, mà còn ở Anh là quê quán của ngài. Nơi đây, một Công đồng đã ban tặng người tước hiệu Đấng Thánh Bảo Trợ, bên cạnh thánh Grégoire Cả và thánh Augustin de Cantorbéry.

Winfrid sinh khoảng năm 673 tại vương quốc Anglo-saxon Wessex, nước Anh. Ngài được giáo dục trong các Đan viện Biển Đức miền Exeter và Nutshulling và khấn dòng năm 715.

Vì mong ước ra đi loan báo chân lý đức tin cho dân ngoại, lần đầu tiên ngài đến Frise năm 716. Nhưng nỗ lực này kết thúc trong thất bại. Năm 719, Đức Giáo Hoàng Grégoire II trao ngài sứ vụ loan báo Tin Mừng cho những kẻ thờ tà thần ở Đức, và cho gọi ngài bằng tên của một vị thánh tử đạo người Rôma: Bonifacius. Năm 722, ngài được phong giám mục, trực thuộc Tòa thánh nên không có giáo phận riêng.

Sau khi loan báo Tin Mừng cho miền Hesse – nơi đây ngài đã hạ ngã Cây sồi thiêng Donar, gần Geismar vào năm 725 – ngài sang Thuringe, lưu lại nơi này bảy năm và lập nhiều Đan viện. Sau đó, Đức Giáo Hoàng Grégoire III trao cho ngài một cánh đồng truyền giáo mới ở Bavière và phong ngài làm Tổng giám mục năm 732. Boniface ở lại đó 9 năm, cho đến năm 741, vào thời điểm này ngài lập các giáo phận quan trọng thuộc giáo tỉnh như Salzbourg, Freising, Ratisbonne, Passau.

Để hoàn thành tốt hơn sứ vụ loan báo Tin Mừng, thánh giám mục xin Đức Giáo Hoàng Zacharie quyền đặc miễn của Giáo Hoàng cho Đan viện Fulda mà ngài vừa thành lập năm 744: đây là quyền đặc miễn đầu tiên trong lịch sử.

Năm 747, dưới áp lực của các môi trường người Francs, xem Boniface như một người Anglo-saxon nguy hiểm, nên Pépin le Bref đã tách Boniface ra khỏi các nơi ấy. Sau cùng, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần năm 754, ngài bị một nhóm người ngoại đạo sát hại cùng với 52 bạn, trong khi ngài đang rao giảng Tin Mừng cho miền Frise miền Bắc. Các thánh tích của ngài luôn được sùng kính tại Đan viện Fulda. Chính vì luôn trung thành tưởng nhớ đến ngài mà các giám mục Đức thường qui tụ về thành phố này.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện mới trong Thánh lễ được trích từ sách lễ Ambroise và Paris. Lời nguyện xin thánh giám mục Boniface chuyển cầu “cho chúng ta giữ vững lòng tin và lấy cả cuộc đời can đảm tuyên xưng lòng tin mà thánh tử đạo đã dùng lời nói rao giảng và lấy máu đào để chứng minh”. Nhờ tích cực hoạt động Tông Đồ trong nhiều vùng đất châu Âu, và cũng nhờ tiếp xúc dễ dàng với các Giáo Hoàng và các vị vua chúa, ngài đã hỗ trợ việc chuyển giao quyền Giáo Hoàng từ thời Byzantin sang thời Francs.

Phương pháp truyền giáo của Boniface dựa trên hai điểm chính: trước hết tìm kiếm sự hậu thuẫn của vua chúa và quan quyền mà không bao giờ phương hại sự tự do của Hội thánh; sau đó, kêu gọi sự hỗ trợ của các Đan viện, là những trung tâm đích thực của đời sống Kitô giáo và rao giảng Tin Mừng.

Khi phân chia vương quốc của Charles Martel năm 741; Carloman được hưởng vùng Austrasie, đã nhờ Boniface giúp loại bỏ những sự lạm dụng trong việc chuyển nhượng bổng lộc danh tước, và buông lỏng kỷ cương trong giới giáo sĩ và ngay cả các đan sĩ Celte phiêu bạt. Để đạt mục đích này, Boniface đã triệu tập một Công đồng chung các giám mục Francs tại Soisson năm 742. Công đồng này kéo dài trong ba năm và đã đưa ra sắc lệnh cải tổ quan trọng trong Giáo hội Francs.

Các Đan viện là những trung tâm sinh hoạt Phụng Vụ và cũng là trung tâm văn hóa xã hội. Việc phát triển xây dựng các Đan viện là một trong những đặc điểm quan trọng trong việc thánh nhân xây dựng và tái tổ chức các Giáo hội, như ở Bavière, Thuringe hay tại các quốc gia nói tiếng Pháp. Thánh Boniface cũng là tác giả sách ngữ pháp, hệ thống đo lường và sáng tác nhiều thơ văn.

Bài đọc – Kinh sách đề xuất một lá thư của thánh giám mục Boniface qua đó chúng ta thấy được các đặc tính của vị mục tử như ngài: “… Chúng ta chớ như những con chó câm, những lính canh thinh lặng, những kẻ chăn thuê chạy trốn sói dữ; nhưng chúng ta hãy là những mục tử chuyên chăm, biết lo lắng cho đoàn chiên Chúa Kitô, biết rao giảng mọi ý định của Thiên Chúa cho hết mọi người, thuộc mọi tầng lớp cũng như tuổi tác, cho kẻ lớn cũng như người bé, cho người giàu cũng như kẻ nghèo, trong mức độ Thiên Chúa giúp sức cho, lúc thuận tiện cũng như lúc gặp phải nghịch cảnh, theo cách thức như thánh Grégoire đã chép trong sách mục vụ” (Thư 78).

Enzo Lodi