Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Các quan điểm Do Thái và Kitô Giáo về tính bổ túc nam nữ (kỳ cuối)

Các quan điểm Do Thái và Kitô Giáo về tính bổ túc nam nữ (kỳ cuối)
Vũ Văn An4/22/2017



III. Quan điểm Công Giáo về tính bổ túc nam nữ (kỳ cuối)

Tóm lại, với Đức Gioan Phaolô II, quan điểm Công Giáo tiến đến chỗ coi tính bổ túc nam nữ có tính hữu thể học toàn diện, nghĩa là giữa hai ngôi vị trọn vẹn về cả thể lý, tâm lý và tâm linh, trong một hiệp thông các ngôi vị bằng nhau nhưng khác nhau, mà nếu nói tới tùng phục, thì chỉ có thể là tùng phục lẫn nhau vì lòng tôn kính Chúa Kitô, như thư Êphêsô 5:21 quả quyết.

2. Quan điểm Công Giáo hiện nay về tính bổ túc

Người kế vị ngài, lúc còn là một Hồng Y đứng đầu Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, tức Đức Bênêđíctô XVI sau này, nhấn mạnh nhiều hơn tới sự “hợp tác” giữa nam và nữ trong lá “Thư Gửi Các Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo về Sự Cộng Tác của Đàn Ông và Đàn Bà trong Giáo Hội và ngoài Xã Hội” công bố ngày 31 tháng Năm, năm 2004.

Đức Bênêđíctô XVI và sự hợp tác nam nữ

Nữ tu Sara Butler, người, năm 2004, được Đức Gioan Phaolô II cử nhiệm vào Ủy Ban Thần Học Quốc Tế và năm 2012, được Đức Bênêđíctô XVI cử nhiệm làm chuyên viên cho Thượng Hội Đồng Giám Mục, trên tờ Voices, Ấn Bản Trực Tuyến, số 1 bộ XXIX, Lễ Hiện Xuống 2014, có viết một bài nhận định về tài liệu trên, nhân dịp Đức Phanxicô nói tới một nền thần học nữ giới.

Theo Nữ Tu Butler, giá trị của sự hợp tác trên bắt nguồn từ xác tín cho rằng sự bổ túc giới tính không chỉ có tính sinh thể lý (bio-physical) mà còn có tính tâm lý, tâm linh và hữu thể học nữa. Căn bản của nó chính là sự dị biệt giới tính. Bất kể các yếu tố khác có thể dự phần vào, người ta vẫn mong rằng đàn ông trong tư cách đàn ông, và đàn bàn trong tư cách đàn bà sẽ mang một điều gì khác nhau vào công trình chung khiến nó phong phú hơn và trở thành trọn vẹn hơn là được thực hiện bởi một mình đàn bà và bởi một mình đàn ông mà thôi. Điều này, dĩ nhiên, giả thiết có những thiên bẩm nam và nữ khác nhau.

Đó chính là điều bị tranh luận. Phong trào duy nữ bác bỏ chủ trương cho rằng “giới tính” thể lý (physical sex) nhất thiết phát sinh ra “phái tính” nam hoặc nữ (masculine or feminine gender) hay các khía cạnh tâm lý và xã hội của bản sắc giới tính. Vì cho rằng nhấn mạnh tới các dị biệt giới tính sẽ dẫn tới kỳ thị bất công đối với nữ giới, loại họ ra khỏi nhiều vai trò trong xã hội, nên phong trào này kết luận: tính bổ túc giới tính không thể đi đôi với tính bình đẳng chân chính. Đối với họ, nữ tính và nam tính không nhất thiết liên quan tới giới tính sinh học mà là sản phẩm do xã hội tạo nên, không phải do Thiên Chúa tạo dựng và do đó, không bắt nguồn một cách khách quan từ bản tính nhân loại.

Thư của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin cho rằng các nhận định của phái duy nữ về tính bổ túc đã được xây dựng dựa vào tình huống tội lỗi, chứ không căn cứ vào kế hoạch của Thiên Chúa, muốn có một nhân tính dị biệt hóa về tính dục. Họ lấy tình huống kỳ thị phụ nữ hiện nay làm khởi điểm và áp dụng một nền giải thích hoài nghi, tìm cách bật mí các tiền giả thuyết hay truyền thống chưa ai lưu ý, từng hợp pháp hóa các bất công. Thành thử, việc làm của họ diễn ra trước một viễn tượng khá hạn chế. Quá chú tâm tới các bất công và bị lạm dụng của đàn bà trong tay đàn ông, họ quên hẳn rất nhiều khía cạnh tích cực khác trong tương quan nam nữ như tình yêu, gia đình, con cái.

Chống lại quan điểm trên, Thư của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin lấy tín lý tạo dựng làm khởi điểm: từ nguyên thủy, được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, nhân loại đã được dị biệt hóa về tính dục. Trong kế hoạch tạo dựng này, đàn ông và đàn bà được tạo nên cho nhau, nhằm không những sống cạnh nhau mà còn trở nên một thân xác trong sự “hiệp thông các ngôi vị”, một thứ “đơn nhất của hai người” (unity-of-the-two) phản ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi.



Theo viễn kiến này, tính dục là thành phần nền tảng của nhân cách con người và nó biểu lộ khả năng tương quan liên ngã, khả năng yêu thương. Khả năng này, đến lượt nó, nói lên ý muốn của Thiên Chúa dành cho nhân loại, cho hôn nhân, và cho gia đình. Nói cách khác, việc tạo nên hai giới tính thuộc mạc khải Thiên Chúa; nó là thành phần của tín lý Công Giáo, không đơn giản chỉ là một trong nhiều lý thuyết. Nhưng, sự hòa hợp giữa đàn ông và đàn bà trong trạng thái trong trắng nguyên thủy, đã bị tội lỗi phá hủy; sự ra xa lạ với Thiên Chúa do tội lỗi gây ra đã ảnh hưởng tới mối tương quan giữa họ với nhau. Sự căng thẳng và tranh chấp giữa các giới tính và sự thống trị đầy tội lỗi của đàn ông đối với đàn bà không được gắn vào bản tính con người nhưng chỉ là hậu quả của tội lỗi. Thành thử việc thắng vượt chủ nghĩa kỳ thị giới tính không đòi phải triệt hạ sự khác nhau giữa các giới tính, mà chỉ đòi việc kết liễu sự đối nghịch giữa chúng do tội lỗi gây ra mà thôi. Tương quan giữa các giới tính bị thương tổn nhưng ơn thánh của Chúa Kitô mời gọi họ hồi tâm và chấp nhận việc hàn gắn để trở thành lành lặn trong mối tương quan cứu chuộc.

Tóm lại, bản sắc giới tính ở với chúng ta vĩnh viễn và dưới ánh sáng cứu chuộc, đàn ông và đàn bà “không coi sự khác nhau này như nguồn gốc bất hòa cần phải thắng vượt bằng cách bác bỏ hay triệt hạ, mà đúng hơn như khả thể hợp tác cần được vun sới bằng việc hỗ tương tôn trọng nó”.

Ngày 9 tháng Hai năm 2008, khi đã là Đức Bênêđíctô XVI, trong bài diễn văn với các tham dự viên Hội Nghị Quốc Tế về Chủ Đề “Đàn Bà và Đàn Ông, Tính Nhân Bản trong sự Trọn Vẹn của nó”, ngài nhắc đến các công trình của vị tiền nhiệm trong việc nhấn mạnh tới “sự bình đẳng về phẩm giá [của đàn ông đàn bà] và tính đơn nhất [unity] của họ, sự khác nhau từ nguồn gốc và có tính sâu xa giữa nam và nữ và ơn gọi của họ bước vào sự hỗ tương và bổ túc cho nhau, sự hợp tác và sự hiệp thông”. Ngài gọi đây là “lưỡng tính thống nhất” (uni-duality/dual unity) của đàn ông đàn bà, nghĩa là tính đơn nhất với những dị biệt nguyên thủy có tính bổ túc cho nhau. Nhân dịp này, ngài kêu gọi nhà nước phải giúp người đàn bà hợp tác trong việc xây dựng xã hội, biết đánh giá đúng mức “thiên tài nữ tính” hết sức đặc trưng của họ.

Và ngày 21 tháng Mười Hai, năm 2012, nhân gặp giáo triều dịp Lễ Giáng Sinh, Đức Bênêđictô XVI, một lần nữa, nói tới tính bổ túc nam nữ, trong một cuộc tấn công trực tiếp luận điểm của Simone de Beauvoir, khi bà này cho rằng “Người ta không sinh ra là đàn bà, họ trở nên như thế” (on ne naît pas femme, on le devient).

Ngài cho rằng những lời trên đặt nền cho một triết lý mới về tính dục, dưới danh nghĩa thuyết phái tính (gender theory). Theo triết lý này, tính dục không phải là một yếu tố có sẵn trong bản chất con người, mà là một vai trò xã hội mà nay ta tự chọn cho mình còn trước đây thì xã hội chọn cho ta.

Triết lý trên bác bỏ viễn kiến của Thánh Kinh vốn coi nam nữ thuộc yếu tính của con người, do Thiên Chúa tạo dựng. Làm người là có nam có nữ. Từ nay, chỉ còn hữu thể nhân bản trừu tượng, tự chọn cho mình cái gì là bản nhiên của mình. Gia đình và con cái cũng không còn là các thực tại do sáng thế thiết lập, tức các ơn phúc, mà hoàn toàn là công trình của con người, con người có quyền muốn chúng ra sao thì ra. Với não trạng này, Thiên Chúa bị bác bỏ và cả phẩm giá làm hình ảnh Người cũng bị bác bỏ. Đức Bênêđíctô XVI cho rằng với thứ triết lý ấy, thời đại ta đang rơi vào một đêm đen trong khi tưởng mình đầy ánh sáng.

Sự hợp nhất của eros và agape 

Theo Caritas Deus est, số 5, trong đêm đen ấy, eros bị rút lại chỉ còn là “chuyện làm tình” (sex), một thứ hàng hóa để mua bán và chính con người cũng trở thành một món hàng. Họ tự coi thân xác họ và cả tính dục của họ như thành phần hoàn toàn có tính vật chất, để sử dụng và khai thác theo ý muốn.

Nói cho ngay, eros, theo Đức Bênêđíctô XVI, vốn bị nhiều người trong Giáo Hội hiểu lầm, như một thứ tình yêu ham muốn thân xác có tính chiếm đoạt, ngược với agape, hiểu như đức ái đúng nghĩa (caritas), hoàn toàn nghĩ tới phúc lợi của người yêu. Trong Deus Caritas est, ngài muốn chứng minh ngay cả Thiên Chúa cũng có eros, hiểu như một ham muốn người khác (desire for someone) nhưng eros nơi Thiên Chúa hoàn toàn là một với agape, hiểu như ham muốn phúc lợi của người khác, trong khi nơi con người, sự thống nhất này mong manh. Tuy nhiên, ngài nhấn mạnh: trong tình yêu chân chính giữa người đàn ông và đàn bà luôn có sự hợp nhất của eros và agape.

Hiểu như thế, eros quả là nguyên lý của bản nhiên con người, thúc đẩy họ đi tìm sự bổ túc nơi một con người khác để cùng bước vàoagape. Ở số 7 của thông điệp, Đức Bênêđíctô XVI cho rằng “dù thoạt đầu, eros chủ yếu có tính ham muốn … [nhưng] khi tiến lại gần người khác, nó càng ngày càng ít quan tâm tới chính mình, và càng ngày càng tìm kiếm hạnh phúc của người khác, càng ngày càng quan tâm tới người được yêu, càng hiến mình hơn và mong muốn ‘được ở đó cho’ người kia”.

Bình luận về trình thuật tạo dựng của Sách Sáng Thế, ngài viết: “Theo tầm nhìn sáng thế, eros hướng con người về hôn nhân, về dây nối kết độc đáo và dứt khoát; nhờ thế, và chỉ nhờ thế, họ mới hoàn thành mục tiêu thâm hậu nhất của họ. Tương hợp với hình ảnh một Thiên Chúa độc thần là hôn nhân đơn hôn. Hôn nhân dựa trên tình yêu độc chiếm và dứt khoát trở thành hình ảnh mối tương quan giữa Thiên Chúa và dân Người và ngược lại. Cách Thiên Chúa yêu thương, tức như người yêu say mê và phu quân của Israel, bằng một tình yêu có cả eros lẫn agape, trở thành thước đo tình yêu của con người (số 11).

Tại Quốc Hội Đức ngày 22 tháng Chín năm 2011, Đức Bênêđíctô XVI nói tới “sinh thái con người”. Ngài bảo: “Con người cũng có một bản nhiên mà họ phải tôn trọng và không thể mặc tình thao túng. Con người không phải là tự do tự tạo. Họ không tự tạo chính họ. Họ là trí khôn và ý chí, nhưng cũng là bản nhiên nữa, và ý chí của họ chỉ có trật tự đúng đắn nếu họ biết tôn trọng bản nhiên của mình, lắng nghe nó và chấp nhận mình là ai, như một con người không tạo ra chính mình. Nhờ cách này, chứ không nhờ bất cứ cách nào khác, tự do nhân bản đích thực mới hoàn thành được”.

Khi gặp một số giám mục Hoa Kỳ tới viếng Mộ Hai Thnáh Tông Đồ Phêrô và Phaolô năm 2012, Đức Bênêđíctô XVI nói với các vị rằng “[Giáo Hội coi ] Hôn nhân như một định chế tự nhiên gồm một hiệp thông đặc biệt giữa các ngôi vị, chủ yếu bắt nguồn từ tính bổ túc nam nữ và quy hướng về việc sinh sản. Các dị biệt giới tính không thể bị bác bỏ như là không liên hệ gì tới việc định nghĩa hôn nhân”.

Và sau cùng, trong diễn văn với Hội Đồng Giáo Hoàng Cor Unum ngày 19 tháng Giêng, năm 2013, chỉ trước khi tuyên bố từ nhiệm không lâu, Đức Bênêđíctô XVI không bỏ lỡ cơ hội nói tới tính bổ túc nam nữ, tuy không dùng chữ bổ túc mà dùng chữ hỗ tương (reciprocity). Ngài nói: “Viễn kiến Kitô Giáo về con người quả là một lời thưa ‘có’ vĩ đại đối với phẩm giá các ngôi vị được mời gọi tiến vào sự hiệp thông thân mật của khiêm nhường và trung tín. Hữu thể nhân bản không phải là một cá nhân tự lấy mình làm đủ cũng không phải là một phần tử vô danh trong một nhóm. Đúng hơn, họ là một ngôi vị độc đáo và không thể nào lặp lại được, từ trong nội tại vốn được sắp xếp bước vào các mối tương quan và tính xã hội hóa. Như thế, Giáo Hội tái khẳng định chữ ‘có’ đối với phẩm giá và vẻ đẹp của hôn nhân, coi nó như biểu thức của sợi dây nối kết trung tín và đại lượng giữa người đàn ông và người đàn bà, và chữ ‘không’ đối với các nền triết học ‘phái tính’, vì tính hỗ tương giữa nam và nữ là một biểu thức của vẻ đẹp bản nhiên vốn được Thiên Chúa mong muốn”.

Đức Phanxicô và Hội Thoại Humanum về tính bổ túc nam nữ

Còn Đức Đương Kim Giáo Hoàng? Ngài nghĩ gì về tính bổ túc nam nữ? Ai cũng biết, Đức Phanxicô không mấy thích thú nói tới các nội dung của cuộc chiến tranh văn hóa. Tuy nhiên, ngài có tới khai mạc Hội Thoại Humanum bàn về tính bổ túc nam nữ.

Trong bài diễn văn khai mạc Hội Thoại, Đức Phanxicô nói rằng:

“[Tính bổ túc] có ý nói tới các hoàn cảnh trong đó, một trong hai sự vật cộng lại với nhau, bổ túc hay làm đầy một cái thiếu nơi sự vật kia. Tuy nhiên, tính bổ túc không phải chỉ có thế. Các Kitô hữu tìm thấy ý nghĩa sâu xa nhất của nó trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô trong đó, Thánh Phaolô nói với ta rằng Thần Khí ban cho mỗi người chúng ta các ơn phúc khác nhau để, như các chi thể của thân xác làm việc vì ích lợi của toàn thể thân xác thế nào, thì các ơn phúc của người ta cũng làm việc với nhau vì ích lợi của mỗi người như vậy (xem 1Cr 12). Suy niệm về ‘tính bổ túc’ không là gì ngoài việc xem xét các hoà hợp năng động ngay giữa lòng sáng thế. Hòa hợp là một hạn từ lớn lao. Mọi tính bổ túc đều do Đấng Tạo Dựng làm ra, nên chính Tác Giả của Hòa Hợp đã thực hiện sự hòa hợp này…

“Tính bổ túc này là gốc rễ của hôn nhân và gia đình. Vì gia đình đặt cơ sở trên hôn nhân là trường học đầu tiên nơi ta học cách trân qúy các ơn phúc của ta và các ơn phúc của người khác, và là nơi ta bắt đầu sở nhận được các nghệ thuật sống chung hợp tác. Đối với phần lớn chúng ta, gia đình cung cấp nơi chốn chính để ta có thể vươn tới sự cao cả khi cố gắng thể hiện khả năng nhân đức và bác ái trọn vẹn của mình. Đồng thời, như ta biết, gia đình tạo nên nhiều căng thẳng: giữa vị kỷ và vị tha, giữa lý lẽ và đam mê, giữa các thèm muốn tức khắc và các mục đích lâu dài. Nhưng gia đình cũng cung cấp các khuôn khổ để giải quyết các căng thẳng này. Điều này rất quan trọng. Khi nói tới tính bổ túc giữa đàn ông và đàn bà trong bối cảnh này, ta đừng lẫn lộn chữ này với ý niệm duy giản cho rằng mọi vai trò và mối tương quan của hai giới tính đã được định sẵn trong một khuôn mẫu duy nhất, tĩnh tụ. Tính bổ túc có nhiều hình thức khác nhau vì mỗi người đàn ông và đàn bà đều đem phần đóng góp khác biệt của họ vào cuộc hôn nhân của họ và vào việc đào luyện con cái họ - sự phong phú bản thân, các đặc sủng bản thân. Tính bổ túc trở thành sự giầu có lớn lao. Nó không chỉ là một điều tốt mà nó còn đẹp đẽ nữa”.

Sau đó, ngài đề cập tới cuộc khủng hoảng hôn nhân và gia đình, do sự hiểu lầm về tự do và rất nhiều tật bệnh xã hội khác gây ra. Để đương đầu với cuộc khủng hoảng này, ngài cho rằng ta phải cổ vũ một nền sinh thái nhân bản mới chủ yếu nhằm thăng tiến các thiện ích không phải là vật chất. Trong đó có gia đình, con cái…

Nhân dịp này, ngài nhấn mạnh rằng “gia đình là một sự kiện nhân học, một sự kiện có liên hệ tới xã hội và văn hóa. Ta không thể định phẩm cho nó dựa vào các ý niệm hay quan niệm có tính ý thức hệ chỉ quan trọng vào một thời điểm nào đó trong lịch sử. Ta không thể nghĩ tới các ý niệm bảo thủ hay cấp tiến. Gia Đình là gia đình”.

Thay đổi hay không thay đổi

Nhận định về bài phát biểu trên, Michael G. Lawler và Todd A. Salzman cho rằng Đức Phanxicô đã mang lại cho quan niệm bổ túc giới tính một số sắc thái mới.

Theo hai ông, thoạt đầu, trong Familiaris Consortio năm 1981, Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh tới tính bổ túc tự nhiên đem lại sự kết hợp giữa đàn ông đàn bà về mọi bình diện thân xác, tính tình và linh hồn. Tính bổ túc này được ngài chia thành hai: bổ túc sinh dục dị tính (heterogenital) và bổ túc sinh sản (reproductive). Vợ chồng nhất thiết bổ túc cho nhau về sinh dục dị tính nhưng không nhất thiết bổ túc cho nhau về sinh sản khi có lý do chính đáng. Không có sự bổ túc này, không thành hôn nhân, như người đồng tính chẳng hạn.

Còn trong Thư Gửi Phụ Nữ năm 1995, ngài nói đến tính bổ túc hữu thể học (ontological complementarity). Đây là tính bổ túc làm nền cho thần học thân xác của ngài, vì nó nối kết từ trong nội tại tính bổ túc sinh học và bản vị giữa người đàn ông và người đàn bà. Thiên Chúa tạo dựng người đàn bà và người đàn ông đầy đủ trong chính họ, nhưng để thành lập một cặp, họ không đầy đủ. Sự không đầy đủ của họ trở thành đầy đủ trong kết hợp hôn nhân, trong đó, vợ và chồng bổ túc lẫn nhau trong “sự hợp nhất của hai người” về cả thể lý, tâm lý lẫn hữu thể học, không phải chỉ trong các hành vi tính dục mà còn trong cả đời sống hàng ngày của vợ chồng.

Đó là cái hiểu nền tảng của Công Giáo. Theo hai tác giả, Đức Phanxicô, trong bài phát biều tại Hội Thoại Humanum năm 2014, đã đem lại ít nhất bốn sắc thái sau đây:

a) Tính ơn phúc của Thần Khí

Sắc thái đầu tiên là sắc thái Thánh Kinh: nhắc tới Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô; thư này quả quyết rằng “Thần Khí ban cho mỗi người chúng ta các ơn phúc khác nhau để, cũng như các chi thể trong thân xác con người làm việc với nhau vì ích lợi của toàn thân xác như thế nào, thì các ơn phúc của mọi người cũng có thể làm việc với nhau như thế vì ích lợi của mỗi người”.

Theo Đức Phanxicô, đối với các môn đệ của Chúa Kitô, tính ơn phúc của Thần Khí này là “ý nghĩa sâu sắc nhất” của sự bổ túc và là nguồn gốc chủ yếu của điều ngài gọi là “sự hoà hợp sinh thái” trong các mối tương quan nhân bản.

Mọi tính bổ túc đều phát xuất từ tính ơn phúc của Thần Khí này, vốn là tính thúc đẩy con người nhân bản tạo nên sự hòa hợp và thống nhất, thắng vượt chia rẽ và loại trừ, nhìn nhận và khẳng nhận tính đa dạng do Thần Khí tạo ra trong các mối tương quan của con người với Thiên Chúa, với người lân cận và với chính họ.

Đức Phanxicô rất đúng khi nhấn mạnh rằng sự bổ túc giữa đàn ông và đàn bà là “gốc rễ của hôn nhân và gia đình” và “sự đóng góp của hôn nhân cho xã hội là điều ‘không thể miễn chước’”.

Vì các cuộc khủng hoảng trong cả các cuộc hôn nhân lẫn gia đình hiện nay, sự khẳng nhận hôn nhân có tính tích cực trên, coi nó như một biểu thức nhân học và thần học nói lên sự hòa hợp của công trình sáng thế của Thiên Chúa, là một tuyên bố tiên tri cần thiết và đáng hoan nghinh.

b) Tính năng động của bổ túc

Sắc thái thứ hai của Đức Phanxicô là đã nhấn mạnh tới tính bổ túc như một ý niệm năng động và đang diễn biến, hơn là “một ý niệm đơn giản hóa cho rằng mọi vai trò và mối tương quan của hai giới tính đã được cố định hóa trong một mẫu mực đơn nhất, tĩnh tụ”. Việc nhấn mạnh này được coi là chủ yếu. Nó phản ảnh một thay đổi từ thế giới quan duy cổ điển sang thế giới quan ý thức lịch sử.

Thế giới quan duy cổ điển quả quyết rằng thực tại vốn tĩnh tụ, cố định và phổ quát. Phương pháp được sử dụng, nhân học được phát biểu, và các quy luật được giảng dậy trong thế giới quan này là vượt thời gian, phổ quát và không thể thay đổi, và các hành vi bị các quy luật này kết án luôn bị kết án như thế.

Thế giới quan ý thức lịch sử thách thức quan điểm trên từ nền tảng bằng cách chủ trương rằng thực tại là năng động, biến hóa, thay đổi và đặc thù. Phương pháp sử dụng, nhân học được phát biểu, và các quy luật được giảng dậy trong thế giới quan này có tính tạm thời, đặc thù và có thể thay đổi, và các hành vi bị các quy luật này phê phán đã được đánh giá về luân lý dựa vào kiến thức và cái hiểu còn đang diễn biến của con người.

Theo hai tác giả này, Đức Gioan Phaolô II và huấn quyền sử dụng hạn từ bổ túc theo nghĩa duy cổ điển, định nghĩa nó để phản ảnh các vai trò phái tính do truyền thống và văn hóa xác định trong sự phân biệt tâm lý giữa nam và nữ.

Bài diễn văn của Đức Phanxicô, theo họ, phản ảnh quan điểm có tính ý thức lịch sử và năng động về tính bổ túc. Ngài nói: “Tính bổ túc có nhiều hình thức khác nhau vì mỗi người đàn ông và đàn bà đều đem phần đóng góp khác biệt của họ vào cuộc hôn nhân và vào việc đào luyện con cái- sự phong phú bản thân, các đặc sủng bản thân”.

Nhận định của hai tác giả trên có thể đúng, miễn là phải nhớ rằng, cũng như trong Niềm Vui Yêu Thương, Đức Phanxicô không đề cập tới các nền tảng lý thuyết, cho bằng các thực hành và thái độ thực tiễn thuộc lãnh vực mục vụ đối với tính bổ túc.

c) Khủng hoảng sinh thái

Sắc thái thứ ba của Đức Phanxicô là đề cập tới cuộc “khủng hoảng sinh thái” (ecological crisis) trong hôn nhân và gia đình. Sinh thái, khởi đầu, chỉ có nghĩa sinh học, có ý nói tới các mối tương quan giữa các sinh vật và môi trường sống của chúng. Nhưng hiện nay đã được mở rộng để chỉ các mối tương quan giữa các nhóm nhân bản với nhau, các mẫu mực xã hội do các mối tương quan này tạo nên, và các nguồn tài nguyên vật chất có sẵn đối với họ.

Đức Phanxiô rõ ràng nghĩ tới ý nghĩa hiện nay của chử sinh thái nói trên, và lồng ý niệm bổ túc vào trong nền sinh thái nhân bản ấy, và vai trò của tính bổ túc trong cuộc khủng hoảng hiện nay của nền sinh thái này.

Ngài mời gọi chúng ta suy nghĩ về tính bổ túc dựa vào điều tội lỗi đã giới hạn ra sao sự thể hiện và tác động trọn vẹn của nó để “cổ vũ một nền sinh thái nhân bản mới”. Các tội lỗi có tính xã hội từng tạo ra một nền sinh thái xã hội nhằm giới hạn tác động trọn vẹn của tính bổ túc đối với mọi người bao gồm cảnh nghèo, kỳ thị sắc tộc, kỳ thị giới tính, kỳ thị đồng tính, kỳ thị nói chung, chủ nghĩa tộc trưởng và mọi thực tại xã hội khác; các điều này làm vô hiệu quả, chứ không làm dễ, phẩm giá và mối tương quan của con người. Lời mời của Đức Phanxicô khiến ta tìm ra một định nghĩa trọn vẹn hơn và năng động hơn cho tính bổ túc; một định nghĩa có thể cùng một lúc vạch trần các đe dọa vừa kể đối với sự hoà hợp xã hội, hôn nhân và gia đình đồng thời giải đáp chúng.

d) Gia đình, sự kiện nhân học

Sắc thái thứ tư của Đức Phanxicô về tính bổ túc nam nữ là tập chú vào gia đình như một “sự kiện nhân học” không thể xác định bằng cách “dựa vào các ý niệm hay quan niệm có tính ý thức hệ chỉ quan trọng trong một thời điểm nào đó của lịch sử”.

Kinh nghiệm khắp thế giới hiện nay cho thấy gia đình được định nghĩa và chịu ảnh hưởng của văn hóa, lịch sử, xã hội, và luật lệ. Dù chắc chắn ta có thể quan niệm và trình bầy một ý niệm “lý tưởng” về gia đình như bao gồm một người đàn ông, một người đàn bà và các đứa con của họ, nhưng lịch sử và thực tại gia đình phức tạp hơn thế. Hiện nay có những gia đình chỉ có cha hoặc mẹ, các gia đình có cha mẹ ghẻ, các gia đình nhận con nuôi (adoptive families), các gia đình nhận trông coi con người khác (foster families), các gia đình có các cha mẹ đa hôn hay đơn hôn, và có các gia đình cha mẹ đồng tính (!).

Theo hai tác giả này, trong mỗi gia đình nói trên, “gia đình là gia đình” và chúng ta phải chấp nhận thực tại tìm thấy, chứ không phải thực tại ta muốn nó phải là như một lý tưởng.Ta cũng phải đánh giá bản chất mối tương quan giữa cha mẹ và con cái dựa vào chứng cớ khoa học vững chắc, chứ không dựa vào các phán đoán suy lý không biện minh được.

Nhất quán về tính bổ túc nam nữ

Một lần nữa, các nhận định trên của hai tác giả có thể hữu lý với điều kiện coi đây là các nhận định có tính thực tiễn mục vụ, chứ không có tính chất tín lý. Tín lý dĩ nhiên dựa vào mạc khải, vào ý định của Thiên Chúa, và do đó, hẳn nghiêng về “lý tưởng”, một điều mà Giáo Hội không thể không nêu ra, khi nhớ rằng: con người phải cố gắng hoàn hảo như Cha trên Trời, dù chẳng bao giờ hoàn hảo được như thế.

Lý tưởng ở đây là sự thống nhất của eros và agape trong hôn nhân. Mà muốn có sự thống nhất này, con người phải dựa vào bản nhiên đã được Thiên Chúa dị biệt hóa thành nam nữ từ nguyên thủy. Các hình thức méo mó do tội lỗi gây ra chỉ có thể được hàn gắn và trở thành lành lặn với sự hồi tâm trong ơn thánh cứu chuộc của Đức Kitô. Theo cái nhìn từ trên xuống dưới này, tính bổ túc không thể hiểu cách khác được. Còn đối với cái nhìn ngang hàng, giữa những người tội lỗi như chúng ta, “thực tại” gia đình quả có nhiều hình thức và đối với hình thức nào, ta cũng nên có thái độ kính trọng, không kỳ thị.

Thực ra, khi nói tới khía cạnh tín lý của tính bổ túc nam nữ, Đức Phanxicô không hẳn xa cách các vị tiền nhiệm của mình. Thực vậy, trong thông điệp Laudato Si’ năm 2015, số 155, khi nói tới “sinh thái nhân bản”, ngài viết như sau:

“Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI nói tới một ‘nền sinh thái con người’, dựa vào sự kiện: ‘con người cũng có một bản nhiên mà họ phải tôn trọng và họ không thề thao túng tùy ý’. Điều đủ là biết nhìn nhận rằng chính thân xác ta thiết lập ta trong mối tương quan trực tiếp với môi trường và các sinh vật khác. Chấp nhận thân xác ta như một hồng phúc của Thiên Chúa là điều tối cần để chào đón và chấp nhận toàn bộ thế giới như một hồng phúc của Chúa Cha và như căn nhà chung của ta, trong khi nghĩ rằng ta có quyền tuyệt đối đối với chính thân xác mình thường, một cách tinh tế hơn, trở thành nghĩ rằng ta có quyền tuyệt đối đới với sáng thế. Học cách chấp nhận thân xác ta, săn sóc nó và tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn nhất của nó, là yếu tố chủ yếu của bất cứ nền sinh thái nhân bản chân chính nào. Cũng thế, trân qúy thân xác ta trong nam tính và nữ tính của nó là điều cần thiết nếu tôi muốn có khả năng nhận ra chính tôi trong một cuộc gặp gỡ một ai đó khác với tôi. Nhờ cách này, ta có thể hân hoan chấp nhận các ơn phúc chuyên biệt của một người đàn ông và một người đàn bà khác, vốn là công trình của Thiên Chúa Tạo Dựng, và tìm được sự phong phú hóa hỗ tương. Không phải là một thái độ lành mạnh khi tìm cách xóa bỏ dị biệt giới tính vì như thế ta đâu còn biết cách phải đương đầu với nó”.

Còn ở số 56, tông huấn Niềm Vui Yêu Thương, tông huấn mà người ta chờ mong Đức Phanxicô sẽ thay đổi quan điểm chính thống của Giáo Hội về người đồng tính, ngài viết: “Thế nhưng, một thách đố khác đã được nhiều hình thức khác nhau của ý thức hệ phái tính đặt ra để ‘bác bỏ sự khác nhau và tính hỗ tương trong bản tính đàn ông và đàn bà và dự kiến một xã hội không có các dị biệt tính dục, do đó, loại bỏ nền tảng nhân học của gia đình. Ý thức hệ này dẫn tới các chương trình giáo dục và các qui định pháp lý nhằm cổ vũ một thứ bản sắc bản thân và thân mật xúc cảm hoàn toàn tách biệt khỏi sự di biệt sinh học giữa nam và nữ. Thành thử, bản sắc con người trở thành việc chọn lựa của cá nhân, một chọn lựa cũng có thể thay đổi với thời gian’. Một trong những nguồn tạo lo âu là một số ý thức hệ thuộc loại này, tức các ý thức hệ tìm cách giải đáp những điều có lúc được coi là các khát vọng có thể hiểu được, mưu toan tự khẳng định mình như là tuyệt đối và không thể nghi vấn, thậm chí phán dậy cách phải dưỡng dục con cái ra sao. Cần phải nhấn mạnh rằng ‘ta có thể phân biệt nhưng không được tách biệt giới tính sinh học và vai trò xã hội văn hóa của giới tính (phái tính)’… Hiểu các yếu đuối của con người và các phức tạp của đời sống là một việc, mà việc khác hẳn là chấp nhận các ý thức hệ mưu toan tách biệt các khía cạnh vốn không thể tách biệt được của thực tại. Ta đừng rơi vào cái tội dám thay thế Đấng Tạo Dựng. Chúng ta là các tạo vật, chứ không phải toàn năng. Sáng thế có trước chúng ta và phải được tiếp nhận như một ơn phúc. Đồng thời, chúng ta được mời gọi bảo vệ nhân tính của chúng ta, và điều này, trước nhất, có nghĩa chấp nhận nó và tôn trọng nó như nó đã được tạo nên”.

Như chưa lấy làm đủ, ở số 285 của cùng Tông Huấn, ngài viết thêm:

“Ngoài các khó khăn dễ hiểu mà các cá nhân có thể gặp phải, giới trẻ cần được giúp đỡ để chấp nhận thân xác họ như đã được tạo nên, vì ‘nghĩ rằng ta có quyền tuyệt đối trên thân xác ta, kết cục, một cách tinh tế, sẽ khiến ta nghĩ rằng ta có quyền tuyệt đối trên sáng thế... Biết đánh giá thân xác ta như là nam hay nữ cũng là điều cần thiết để ta tự biết mình trong cuộc gặp gỡ những người khác với ta. Nhờ cách này, ta có thể hân hoan chấp nhận các ơn phúc chuyên biệt của một người đàn ông hay một người đàn bà khác, vốn là công trình của Thiên Chúa Hóa Công, và tìm được sự phong phú hỗ tương’. Chỉ khi nào hết sợ khác biệt, ta mới thoát khỏi não trạng lấy mình làm trung tâm, chỉ lưu tâm tới mình. Giáo dục tính dục nên giúp giới trẻ biết chấp nhận thân xác họ và tránh cái cao vọng muốn ‘triệt tiêu sự dị biệt giới tính vì không còn biết phải xử lý với nó ra sao’”.

Ở số 286, ngài nói tới thái độ mềm dẻo, có tính thực tiễn mục vụ, nhưng vẫn không mềm dẻo đến chối bỏ sự dị biệt nam nữ. Ngài viết: “Ta cũng không thể làm ngơ sự kiện này: việc tạo hình cho cung cách hiện hữu của ta, bất kể là nam hay nữ, không hề chỉ là kết quả của các nhân tố sinh học hay di truyền học mà thôi, mà của nhiều yếu tố liên quan đến tính khí, lịch sử gia đình, văn hóa, kinh nghiệm, giáo dục, ảnh hưởng của bạn bè, các thành viên trong gia đình và những người được tôn kính, cũng như các hoàn cảnh đào tạo. Đúng là ta không thể tách biệt yếu tố nam yếu tố nữ ra khỏi công trình sáng tạo của Thiên Chúa, một công trình có trước mọi quyết định và kinh nghiệm của ta, và là nơi hiện hữu các yếu tố sinh học mà ta không thể làm ngơ. Nhưng điều cũng đúng là nam tính và nữ tính không phải là những phạm trù cứng ngắc. Cách hiện hữu như người nam của người chồng, chẳng hạn, có thể được thích ứng một cách mềm dẻo với lịch trình làm việc của người vợ. Nhận làm việc nhà hay một vài khía cạnh nuôi dưỡng con cái không làm người chồng bớt là đàn ông chút nào hay hàm nghĩa thất bại, vô trách nhiệm hay gây xấu hổ chi. Con cái cần được giúp đỡ để chấp nhận ‘các trao đổi’ lành mạnh này như những chuyện bình thường, không hề làm giảm phẩm giá của người cha. Phương thức cứng ngắc sẽ biến thành việc quá nhấn mạnh tới yếu tố nam hay yếu tố nữ, và sẽ không giúp trẻ em và các thiếu niên biết đánh giá tính hỗ tương chân chính đã nhập thân trong các điều kiện đích thực của hôn nhân. Sự cứng ngắc này, ngược lại, sẽ gây trở ngại cho việc phát triển các khả năng của cá nhân, đến độ dẫn họ tới chỗ nghĩ, chẳng hạn, rằng tập tành nghệ thuật hay khiêu vũ là không nam tính chút nào, hay thi hành quyền lãnh đạo là không nữ tính chút nào. Cám ơn Chúa, suy nghĩ này nay đã thay đổi, nhưng ở một số nơi, các quan niệm thiếu sót vẫn còn đang giới hạn quyền tự do chính đáng và gây trở ngại cho việc phát triển căn tính và tiềm năng chuyên biệt của trẻ em một cách chân chính”.

Đức Phanxicô không hề rơi vào ý thức hệ phái tính, xóa nhòa sự khác biệt và tính bổ túc nam nữ. Trong cuộc tông du Georgia và Azerbaijan hồi tháng Mười năm 2016, nói chuyện với các linh mục, tu sĩ, chủng sinh và nhân viên mục vụ, ngài nói: “Này Irina, con nhắc đến một kẻ thù lớn của hôn nhân ngày nay, đó là lý thuyết phái tính. Hiện nay, đang có cuộc thế chiến nhằm hủy diệt gia đình. Hiện nay, đang có những cuộc thực dân hóa ý thức hệ nhằm hủy diệt, không phải bằng vũ khí, mà bằng các ý niệm. Do đó, ta cần tự bảo vệ mình chống lại các cuộc thực dân hóa ý thức hệ”.



Tới đâu, ngài cũng nhắc lại lời khuyên trên. Nhân Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Kracow, Ba Lan, ngài nói với các vị giám mục: “Ở Âu Châu, Mỹ Châu, Mỹ Châu La Tinh, Phi Châu, và ở một số quốc gia Á Châu, đang có những hình thức thực dân hóa ý thức hệ đúng nghĩa. Và một trong các ý thức hệ này, tôi xin gọi nó đích danh, là ý thức hệ ‘phái tính’. Ngày nay, trẻ em, vâng trẻ em, đang được giảng dậy ở trường rằng mọi người có quyền chọn giới tính riêng cho mình. Tại sao các em được giảng dậy như thế? Vì sách vở được cung cấp bởi những người và những định chế cho bạn tiền. Các hình thức thực dân hóa ý thức hệ này cũng được hỗ trợ bởi các nước có nhiều ảnh hưởng. Và điều này thật khủng khiếp”.



Trước đó, năm 2015, nói chuyện với các giám mục Puerto Rico, ngài nhấn mạnh: “Tính bổ túc đàn ông đàn bà, đỉnh cao của sáng tạo Thiên Chúa, đang bị chất vấn bởi điều có tên là ý thức hệ phái tính, nhân danh một xã hội tự do và công chính hơn. Các dị biệt giữa đàn ông và đàn bà không phải để chống chọi hay tùng phục, mà để hiệp thông và sinh sản, luôn luôn theo ‘hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa’”.

Tóm lại với Đức Phanxicô, quan điểm Công Giáo về tính bổ túc nam nữ, đạt tới trọn vẹn nơi Đức Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI vẫn đã được người kế vị các ngài là Đức Phanxicô duy trì nhằm bảo vệ định chế hôn nhân khỏi sức tấn công vũ bão của ý thức hệ phái tính, một ý thức hệ hiện mang tính thực dân hóa nhằm dùng đồng tiền phá hoại nền tảng tự nhiên của hôn nhân như một kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, dựa trên tính bổ túc của những ngôi vị trọn vẹn, bình đẳng, mà từ nguyên thủy, vốn được dị biệt hóa về tính dục. Sự bổ túc này nằm ngay trong yếu tính và do đó có cơ sở hữu thể học.

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong Lễ Tưởng Niệm các vị tử đạo thời hiện đại

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong Lễ Tưởng Niệm các vị tử đạo thời hiện đại
J.B. Đặng Minh An dịch4/23/2017

Chiều thứ Bẩy 22 tháng Tư, Đức Thánh Cha đã chủ sự buổi cử hành Phụng Vụ Lời Chúa tưởng niệm những vị tử đạo của thế kỷ 20 và 21.
Buổi lễ diễn ra tại nhà thờ Thánh Bácthôlômêô cùng với các thành viên của cộng đoàn Thánh Egidio, là những người chăm sóc ngôi đền thờ này để tưởng niệm những vị tử đạo hiện đại.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói:




Như những người hành hương, chúng ta đã đến đền thờ Thánh Bácthôlômê trên cù lao của đảo Tiber này, nơi lịch sử tử đạo cổ kính kết hiệp với ký ức về những vị tử đạo mới, là những Kitô hữu bị giết bởi những ý thức hệ điên rồ trong thế kỷ vừa qua, và họ bị giết chết chỉ vì họ là môn đệ của Chúa Giêsu.

Ký ức của các chứng nhân anh hùng, xưa và nay này củng cố chúng ta trong nhận thức rằng Giáo Hội là một Giáo Hội của các vị tử đạo. Và những vị tử vì đạo là những người, như Sách Khải Huyền nhắc nhở chúng ta, “Những người đã vượt lên trên những cơn hoạn nạn. Họ đã rửa sạch áo và làm cho áo họ trắng như tuyết trong máu của Chiên Con.” Họ được ân sủng để tuyên xưng Chúa Giêsu cho đến phút cuối cùng, cho đến chết. Họ đau khổ, họ đã hy sinh mạng sống của họ, và chúng ta nhận được ơn phúc của Thiên Chúa vì chứng tá của họ. Và cũng có nhiều vị tử đạo vô danh, là những người nam nữ trung thành với sức mạnh dịu dàng của tình yêu, với tiếng nói của Chúa Thánh Thần, những người trong cuộc sống hàng ngày tìm cách giúp anh chị em của mình và yêu mến Thiên Chúa không giữ lại điều gì cho riêng mình.

Quan sát kỹ, chúng ta có thể thấy rằng nguyên nhân của mọi cuộc bách hại là sự hận thù của ma quỷ thế gian đối với những người đã được cứu chuộc bởi Chúa Giêsu qua cái chết và sự phục sinh của Ngài. Trong Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe (xem Ga 15: 12-19), Chúa Giêsu sử dụng một từ mạnh mẽ và đáng sợ: là từ “oán ghét”. Chúa Giêsu, Đấng là bậc thầy của đức ái, Đấng rất hào hứng khi nói về tình yêu, đã phải nói về hận thù vì Ngài luôn nói thẳng bản chất vấn đề. Và Người nói với chúng ta, “Đừng sợ! Nếu thế gian oán ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã oán ghét Thầy trước.”

Chúa Giêsu đã chọn chúng ta và cứu chuộc chúng ta như một ân huệ tình yêu nhưng không của Ngài. Với cái chết và sự sống lại của Ngài, Chúa đã cứu chuộc chúng ta khỏi quyền lực của thế gian, khỏi sức mạnh của ma quỷ, khỏi quyền lực của hoàng tử thế gian này. Và nguồn gốc của hận thù là như thế này: vì chúng ta đã được cứu bởi Chúa Giêsu, và ma quỷ không muốn điều đó, nó oán ghét chúng ta và khuyến khích những cuộc bách hại, từ thời Chúa Giêsu và sự ra đời của Giáo Hội tiên khởi cho đến ngày nay. Có biết bao các cộng đồng Kitô hữu đang bị bức hại ngày hôm nay! Tại sao? Bởi vì sự hận thù của tinh thần thế gian này.

Quá thường khi, trong những khoảnh khắc khó khăn của lịch sử, chúng ta nghe người ta nói rằng: “Hôm nay đất nước chúng ta cần những anh hùng”. Tương tự như thế, chúng ta có thể hỏi, “Hôm nay Giáo Hội của chúng ta cần gì?” Các thánh tử đạo, các chứng nhân, nghĩa là, các thánh hàng ngày trong cuộc sống bình thường, dám sống một cuộc sống mạch lạc; và chúng ta cũng cần cả những người có can đảm để chấp nhận ân sủng được làm chứng nhân cho đến phút cuối cùng, cho đến chết. Tất cả những điều này là dòng máu nuôi sống Giáo Hội. Họ là những chứng nhân đưa Giáo Hội tiến về phía trước; là những chứng nhân cho sự kiện Chúa Giêsu đã sống lại, Ngài vẫn sống. Các vị làm chứng cho Ngài với cuộc sống mạch lạc và với sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà họ đã lãnh nhận như một ân sủng.

Nhớ lại những chứng nhân đức tin này và cầu nguyện ở nơi này là một ân sủng lớn lao. Đây là một ân sủng cho cộng đồng Thánh Egidio, cho Giáo Hội ở Rôma, cho tất cả các cộng đồng Kitô hữu của thành phố này, và cho rất nhiều người hành hương. Di sản sống động của các vị tử đạo hôm nay mang lại cho chúng ta sự bình an và hiệp nhất. Các vị dạy chúng ta rằng với sức mạnh của tình yêu, và với sự dịu dàng, chúng ta có thể chống lại thói kiêu ngạo, bạo lực và chiến tranh - và sự bình an có thể đạt được với lòng kiên nhẫn.

Và vì thế chúng ta có thể cầu nguyện: Lạy Chúa, xin làm cho chúng con trở nên những chứng nhân xứng đáng cho Tin Mừng và cho tình yêu của Chúa; xin đổ tràn lòng thương xót của Chúa trên nhân loại; xin canh tân Giáo Hội Chúa, xin bảo vệ các Kitô hữu bị khủng bố, và xin sớm ban hòa bình cho toàn thế giới.




Pope's condolences on death of Cardinal Nicora

Pope's condolences on death of Cardinal Nicora

(Vatican Radio) Pope Francis has sent a telegramme of condolence following the death of Italian Cardinal Attilio Nicora on Saturday evening.
In the telegramme the Pope expressed his gratitude for the Cardinal’s precious service to the Church and to civil society in Italy, especially in the legal field, noting his contribution to the revision of the Lateran Pacts and later his work as President of APSA and AIF.
The Holy Father prayed for the intersession of the Blessed Virgin Mary and St John Paul II who created him Cardinal and nominated him to guide the Diocese of Verona.
Having reached the age of 80 Cardinal Nicora was a non- elector. The College of Cardinals now has 222 members of which 117 are electors.


Regina Caeli: With Mercy violence and rancor have no sense

Regina Caeli: With Mercy violence and rancor have no sense

(Vatican Radio) In his Angelus address in a sunny St Peter’s Square, Pope France recalled the Church tradition of calling the first Sunday after Easter “in albis”, an expression he said, meant to recall the rite of those who had received baptism in white on the Easter Vigil. The Pope went on to say that  in the Jubilee of Year of 2000, St. John Paul II established that this particular Sunday was to be dedicated to Divine Mercy.
In the last months, the Holy Father said, “we have concluded the Extraordinary Jubilee of Mercy and this Sunday invites us to resume the grace that comes from the mercy of God.”
Drawing inspiration from the  Gospel reading of the day, the Holy Father  reminded those present of Jesus’ words, "receive the Holy Spirit. Those to whom you will forgive sins will be forgiven ".
Here is the sense of the mercy, the forgiving of sins, noted Pope Francis, “that occurs on the day of the resurrection of Jesus.”
The Risen Jesus, he continued  has sent to his Church, as a first task, his own mission to bring to everyone the concrete announcement of forgiveness.
This visible sign of his mercy brings with him the peace of heart and the joy of a renewed encounter with the Lord.
Mercy said the Pope, makes us realize that violence, rancor, and revenge have no sense.
Mercy also opens the door of the heart and allows us to express our closeness, above all to those who are alone and marginalized.
Mercy, in short, said Pope Francis is everyone committed to being instruments of justice, reconciliation and peace. Let us never forget that mercy, he concluded, is the keystone in the life of faith, and the concrete form in which we give visibility to the resurrection of Jesus.
Following the recitation of the Regina Caeli, the Holy Father remembered the Beatification in Oviedo, Spain on Saturday of Father Luis Antonio Rosa Ormières an educator who lived in the nineteenth century, and founded the Congregation of the Sisters of the Guardian Angel.
The Pope also greeted Polish pilgrims on the Feast of Divine Mercy and thanked Caritas Poland for their support of so many families in Syria.



Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng với Đức Thánh Cha: 23-4-2017

Kinh Ly N Vương Thiên Đàng vi Đc Thánh Cha: 23-4-2017

VATICAN. Trong buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng trưa chúa nhật 23-4-2017, cũng là ”Chúa nhật Áo Trắng, ĐTC Phanxicô diễn giải về Lòng Thương Xót của Chúa và lễ kính Lòng Chúa Xót Thương.
  Ngài nói với hơn 20 ngàn tín hữu hiện diện:  Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
 Mỗi chúa nhật chúng ta tưởng niệm cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, nhưng trong mùa này sau lễ Phục Sinh, chúa nhật có một ý nghĩa càng rạng ngời hơn. Trong truyền thống của Giáo Hội, chúa nhật này được gọi là ”in albis”, thành ngữ này muốn nhắc lại nghi thức mà những người đã chịu phép rửa tội trong đêm vọng Phục Sinh thi hành. Mỗi người nhận được một áo trắng, alba, để chỉ phẩm giá mới của con cái Thiên Chúa. Chúa nhật hôm nay cũng vậy, các tân tòng nhận được một chiếc áo trắng nhỏ tượng trưng, trong khi những người lớn thì mặc áo trắng lớn của mình. Áo này, xưa kia, được mặc trong một tuần lễ, cho đến chúa nhật in albis - tức là chúa nhật sau lễ Phục Sinh - khi họ cởi áo này và các tân tòng bắt đầu đời sống mới trong Chúa Kitô và trong Giáo Hội.
 Trong Năm Thánh 2000, thánh Gioan Phaolô 2 đã qui định rằng chúa nhật này được dâng kính Lòng Chúa thương xót. Thật là một trực giác rất đẹp! Năm Thánh đặc biệt Lòng Thương Xót cũng mới kết thúc cách đây vài tháng và chúa nhật này mời gọi chúng ta mạnh mẽ lấy lại ơn thánh xuất phát từ lòng thương xót của Thiên Chúa. Tin mừng hôm nay là một trình thuật cuộc hiện ra của Chúa Kitô Phục Sinh với các môn đệ họp nhau trong Nhà Tiệc Ly (Xc Ga 20,19-31). Thánh Gioan kể rằng Chúa Giêsu, sau khi chào các môn đệ, Ngài nói với họ: ”Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói rồi, Ngài thổi hơi vào họ và nói thêm: ”Các con hãy nhận lấy Thánh Linh. Các con tha tội cho ai ngừơi ấy được tha” (vv.21-23). Đó là ý nghĩa lòng thương xót được trình bày trong ngày Chúa Giêsu sống lại như ơn tha thứ tội lỗi. Chúa Giêsu đã thông truyền cho Giáo Hội của Ngài, như nghĩa vụ đầu tiên, chính sứ mạng của Ngài là mang đến cho tất cả mọi người sự loan báo cụ thể về ơn tha thứ. Dấu chỉ hữu hình này về lòng thương xót của Chúa mang theo an bình trong tâm hồn và niềm vui được tái gặp gỡ với Chúa”.
 Lòng thương xót dưới ánh sáng Phục Sinh tỏ cho thấy được nhận thức như một hình thức ý thức thực sự về mầu nhiệm chúng ta đang sống. Chúng ta biết rằng ta nhận biết qua nhiều hình thức: qua các giác qua, qua trực giác, lý trí, và những cách khác. Đúng thế, ta cũng có thể nhận biết qua kinh nghiệm về lòng thương xót nữa! Lòng thương xót mở cửa tâm trí để hiểu rõ hơn mầu nhiệm Thiên Chúa và cuộc sống bản thân chúng ta. Lòng thương xót giúp hiểu rằng bạo lực, oán hận, trả thù không có ý nghĩa gì, và nạn nhân đầu tiên chính là người sống những tâm tình ấy, vì họ bị mất phẩm giá của mình. Lòng thương xót cũng mở cửa tâm hồn và giúp biểu lộ sự gần gũi, nhất là với những người lẻ loi và bị gạt ra ngoài lề, vì làm cho họ cảm thấy là anh chị em của nhau và là con của một Cha duy nhất. Lòng thương xót giúp nhận ra những người cần an ủi và làm cho ta tìm được những lời nói thích hợp để ủi an họ. Lòng thương xót sửa ấm tâm hồn và làm cho nó nhạy cảm đối với những nhu cầu của anh chị em qua sự chia sẻ và tham gia. Tóm lại, lòng thương xót kêu gọi mọi người trở thành dụng cụ của công lý, hòa giải, và hòa bình. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng lòng thương xót chính là chìa khóa chủ yếu trong đời sống đức tin, và là hình thức cụ thể qua đó chúng ta mang lại sự cụ thể hữu hình cho sự sống lại của Chúa Giêsu.
 Và ĐTC kết luận với lời khẩn nguyện, xin Mẹ Maria, Mẹ Từ Bi Thương Xót, giúp chúng ta tin và vui sống tất cả những điều ấy.
 Chào thăm
 Sau khi ban phép lành cho mọi người, ĐTC nhắc nhở rằng: thứ bẩy 22-4-2017 tại thành Oviedo bên Tây Ban Nha có lễ phong chân phước cho Cha Louis-Antoine Ormières. Cha sống hồi thế kỷ 19, đã dùng tất cả khả năng nhân bản và tinh thần của mình để phục vụ giáo dục, và với mục đích ấy, cha đã thành lập dòng các nữ tu Thiên thần Bản mệnh. Ước gì tấm gương và lời chuyển cầu của cha đặc biệt giúp đỡ những người đang hoạt động tại các học đường và trong lãnh vực giáo dục.
 ĐTC chào thăm tất cả các tín hữu Roma, những tín hữu hành hương từ Italia và bao nhiêu nước khác, đặc biệt ngài nhắc đến các tín hữu hành hương người Ba Lan và ca ngợi sáng kiến của Caritas Ba Lan nâng đỡ bao nhiêu gia đình ở Siria. Ngài không quên chào thăm các tín hữu tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa họp nhau tại Nhà Thờ Chúa Thánh Thần in Sassia gần Vatican, nơi đặc biệt cử hành các buổi lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa.
 Sau cũng, ĐTC gửi lời cám ơn tất cả những người đã gửi lời chúc mừn gngài nhân dịp lễ Phục Sinh. Ngài cũng chân thành chúc mừng họ và cầu xin cho mỗi người, mỗi gia đình được ơn thánh của Chúa Phục Sinh.
 G. Trần Đức Anh OP


APRIL 24, 2017 : MONDAY OF THE SECOND WEEK OF EASTER

Monday of the Second Week of Easter
Lectionary: 267

Reading 1ACTS 4:23-31
After their release Peter and John went back to their own people
and reported what the chief priests and elders had told them.
And when they heard it,
they raised their voices to God with one accord
and said, "Sovereign Lord, maker of heaven and earth
and the sea and all that is in them,
you said by the Holy Spirit
through the mouth of our father David, your servant:

Why did the Gentiles rage
and the peoples entertain folly?
The kings of the earth took their stand
and the princes gathered together
against the Lord and against his anointed.

Indeed they gathered in this city
against your holy servant Jesus whom you anointed,
Herod and Pontius Pilate,
together with the Gentiles and the peoples of Israel,
to do what your hand and your will
had long ago planned to take place.
And now, Lord, take note of their threats,
and enable your servants to speak your word
with all boldness, as you stretch forth your hand to heal,
and signs and wonders are done
through the name of your holy servant Jesus."
As they prayed, the place where they were gathered shook,
and they were all filled with the Holy Spirit
and continued to speak the word of God with boldness.

Responsorial PsalmPS 2:1-3, 4-7A, 7B-9
R. (see 11d) Blessed are all who take refuge in the Lord.
or:
R. Alleluia.
Why do the nations rage
and the peoples utter folly?
The kings of the earth rise up,
and the princes conspire together
against the LORD and against his anointed:
"Let us break their fetters
and cast their bonds from us!"
R. Blessed are all who take refuge in the Lord.
or:
R. Alleluia.
He who is throned in heaven laughs;
the LORD derides them.
Then in anger he speaks to them;
he terrifies them in his wrath:
"I myself have set up my king
on Zion, my holy mountain."
I will proclaim the decree of the LORD.
R. Blessed are all who take refuge in the Lord.
or:
R. Alleluia.
The LORD said to me, "You are my Son;
this day I have begotten you.
Ask of me and I will give you
the nations for an inheritance
and the ends of the earth for your possession.
You shall rule them with an iron rod;
you shall shatter them like an earthen dish."
R. Blessed are all who take refuge in the Lord.
or:
R. Alleluia.

AlleluiaCOL 3:1
R. Alleluia, alleluia.
If then you were raised with Christ,
seek what is above,
where Christ is seated at the right hand of God.
R. Alleluia, alleluia.

GospelJN 3:1-8
There was a Pharisee named Nicodemus, a ruler of the Jews.
He came to Jesus at night and said to him,
"Rabbi, we know that you are a teacher who has come from God,
for no one can do these signs that you are doing
unless God is with him."
Jesus answered and said to him,
"Amen, amen, I say to you,
unless one is born from above, he cannot see the Kingdom of God." 
Nicodemus said to him,
"How can a man once grown old be born again?
Surely he cannot reenter his mother's womb and be born again, can he?"
Jesus answered,
"Amen, amen, I say to you,
unless one is born of water and Spirit
he cannot enter the Kingdom of God.
What is born of flesh is flesh
and what is born of spirit is spirit.
Do not be amazed that I told you,
'You must be born from above.'
The wind blows where it wills,
and you can hear the sound it makes,
but you do not know where it comes from or where it goes;
so it is with everyone who is born of the Spirit."


Meditation: "Unless one is born anew"
Do you nourish your faith with prayerful reflection of the word of God? When Nicodemus heard about Jesus' miracles and extraordinary teaching, he decided to meet with him privately, away from the crowds and the public spotlight. Nicodemus was no ordinary Jew. He was a religious ruler and member of the Sanhedrin, which was the supreme court of the Jews, and a teacher of Israel (John 3:10). He was a devout Pharisee who sought to perfectly follow the law of Moses, as prescribed in the Five Books of Moses (Genesis, Exodus, Deuteronomy, Leviticus, and Numbers) and further elaborated in the numerous scribal laws, recorded in the Mishnah and the Talmud.
Nicodemus decided to meet with Jesus at night, possibly for two reasons. He may have been cautious and  not ready to publicly associate himself with Jesus since many Pharisees opposed Jesus' teaching and called him a Sabbath breaker. It is also likely that Nicodemus chose the night as the best time for seeking a private and undisturbed conversation with Jesus. The rabbis declared that the best time to study the law was at night after the day's work was completed and the household was at rest. When Nicodemus saw Jesus he addressed him as rabbi (a teacher of God's word and law) and acknowledged that Jesus' teaching came from God.
How can one get right with God and enter his kingdom?
Jesus' conversation with Nicodemus went to the very heart of the Mosaic law - how can one get right with God and enter God's kingdom? Jesus' answer was brief and startling: "Unless one is born anew, he cannot see God." The new birth which Jesus spoke about was not a physical birth but the beginning of a spiritual birth which is something completely new and radical, and from above, namely from God himself. Jesus said that this rebirth was necessary if one was to enter God's kingdom. Nicodemus thought that to be born again, even spiritually, was impossible. He probably knew too well from experience that anyone who wants to be changed from within, can't accomplish this by oneself. Jesus explained that this change could only come about through the work and action of the Holy Spirit. This rebirth in the Spirit is very real and experiential, like the wind which can be felt and heard while it is visibly unseen to the naked eye.
Rebirth to new life in the power of the Holy Spirit
What does it mean to be reborn in the Spirit? The new birth which Jesus speaks of is a spiritual birth to a life which is transformed through the power of God. This new life brings us into an experiential relationship with God as his adopted sons and daughters (Romans 6:4; 8:10-11). This new birth is made possible when one is baptized into Christ and receives the gift of the Holy Spirit. God wants to renew all of his people in the gift of new life in his Holy Spirit. This new life in the Spirit brings us into God's kingdom of righteousness, peace, and joy (Romans 14:17).
What is the kingdom of God - which is also called the kingdom of heaven? God's kingdom - his reign and blessing as King over us - is the abundant everlasting life and power from heaven which God shares with those who accept him as the Eternal Father and Author of Life and Ruler of All he has created. Jesus explains in the prayer he gave to his disciples, what we call the Lord's Prayer or the Our Father, that God's kingdom is that society of men and women who acknowledge God as their Lord and Ruler and who obey his word and live according to his will on earth as it is in heaven (Matthew 6:10).
We are sons and daughters of God and citizens of his kingdom
To be reborn in the Spirit is to enter that society in which God is honored and obeyed. Those who willingly accept God's rule in their lives become citizens of God's heavenly kingdom and members of God's family - his adopted sons and daughters. And they enter into possession of the life which comes from God himself, an everlasting life of love, peace, joy, and freedom from sin, oppression, and corruption. Do you know the joy and freedom of the new birth and abundant life which Jesus Christ has won for you?
"Lord Jesus Christ, you offer us abundant new life and power to live as sons and daughters of our Father in heaven. Renew in me the gift of faith to accept and obey your life-giving word and to cooperate with the transforming power of your Holy Spirit who changes us into your likeness. May your kingdom come and your will be done in my life today, tomorrow, and always."
A Daily Quote from early church fathersReborn and Fed by the Spirit, by Augustine of Hippo, 354-430 A.D.
"And then that rebirth, which brings about the forgiveness of all past sins, takes place in the Holy Spirit, according to the Lord's own words, 'Unless one is born of water and the Spirit, one cannot enter the kingdom of God.' But it is one thing to be born of the Spirit, another to be fed by the Spirit; just as it is one thing to be born of the flesh, which happens when a mother gives birth, and another to be fed from the flesh, which appears when she nurses the baby. We see the child turn to drink with delight from the bosom of her who brought it forth to life. Its life continues to be nourished by the same source which brought it into being." (excerpt from Sermon 71.19)

MONDAY, APRIL 24, JOHN 3:1-8
Easter Weekday

(Acts 4:23-31; Psalm 2)

KEY VERSE: "No one can enter the kingdom of God without being born of water and Spirit" (v.5).
TO KNOW: Nicodemus was a Pharisee, a member of the Sanhedrin (the Jewish council), and one of the Jerusalem aristocracy. Nicodemus was curious about Jesus but he was afraid to come to him in broad daylight, so he came to him at night. Jesus told him that it was not enough to claim membership in the chosen people. To become a child of God, one must be "born from above" (v.3). Nicodemus misinterpreted this to mean human birth. Jesus helped him to understand that he could only enter God's kingdom through spiritual rebirth in Baptism, being born of "water and Spirit." Although the workings of the Spirit were invisible, like the wind, anyone could observe the results. Nicodemus' spiritual growth was seen later when he courageously defended Jesus before the Sanhedrin (Jn 7:50), and when he came to anoint Jesus' body for burial (Jn 19:39).
TO LOVE: Am I seeking to learn more about Jesus?
TO SERVE: Risen Lord, help me to trust in the mysterious workings of the Spirit.
Optional Memorial of Saint Fidelis of Sigmaringen, priest and martyr

Disgusted by the greed, corruption, and lack of interest in justice by his fellow lawyers, Mark Rey abandoned the law. He became a priest, a Franciscan friar with his brother George. Mark Rey changed his name to Fidelis and gave away his worldly wealth to poor people and to poor seminarians. Fidelis served his friary as guardian, and worked in epidemics, especially healing soldiers. He led a group of Capuchins to preach to Calvinists and followers of Zwingli a theologian whose sermons began the Reformation in Switzerland. The success of this work, and lack of violence suffered by his mission was attributed to Fidelis spending his nights in prayer. He was, however, eventually martyred for his preaching.


Monday 24 April 2017

St Fidelis of Sigmaringen
Acts 4:23-31. Psalms 2:1-9. John 3:1-8.
Happy are all who put their trust in the Lord — John 3:1-8.
Unless you be born from above you cannot enter the kingdom of God.
The statement made by Jesus to Nicodemus is blunt. The concept of life, as used by John, is identical with the kingdom of God. To enter the kingdom of God is to enter into the very life of God.
St Peter in one of his letters asks how beings created with the nature we have can also participate in the divine nature? This is not a moral problem, still less a legal problem. Of ourselves, we can do nothing to reach the divine level unless we are helped from outside ourselves. We are raised by God descending from heaven to our level and then bringing us up to his own level. O wonderful exchange! O the love of God for us!

ST. FIDELIS OF SIGMARINGEN

A former lawyer who left his profession to become a Capuchin Franciscan priest, Saint Fidelis of Sigmaringen has his liturgical memorial on April 24.

Fidelis' life bridged the sixteenth and seventeenth centuries, a time of religious conflict in Western Europe. He died at the hands of a mob while preaching in Switzerland, where he had gone to combat the Calvinist heresy.

The future “Fidelis” received the name of Mark Rey at the time of his birth, during 1577 in present-day Germany. Mark studied at the University of Freiburg, and worked for a time as a private tutor. Eventually he went back to the university and earned his law degree around 1611.

Though he had already shown signs of devotion to God and studied canon law alongside civil law, Mark opted for a secular career as an attorney. Within a year he was known as “the poor man’s lawyer” because of his concern for the needy. Just as quickly, he became disgusted with the corrupt ways of his chosen field .

Leaving his legal practice behind, Mark decided to give his life directly to the service of Christ and the Church. In short order he received ordination as a priest, and joined the Capuchin Franciscans in Freiburg.

With his entry into the order he received the name “Fidelis,” meaning “faithful” -- after the words of Jesus Christ in the Book of Revelation, “Remain faithful until death, and I will give you the crown of life.” As he embraced radical poverty and simplicity, the attorney-turned-Franciscan left his inheritance to a scholarship fund for poor seminarians, who also received his books.

Fidelis showed his love for God through prayer and fasting, while caring for his neighbors through preaching, writing, and the celebration of the sacraments. He showed particular care for the poor and sick, and was especially revered for his work among Austrian soldiers who were suffering from a plague epidemic.

During 1614 a Swiss Catholic bishop had sought help from the Capuchins, to restore the faith and counteract the spread of Calvinist Protestantism. In 1621, Fidelis was sent on the mission. He brought just four items: a Bible, a prayer book, a crucifix and a copy of the Capuchin rule.

The winter of 1621-22 was a busy period of preaching, instruction and theological disputation for the Franciscan priest. He preached not only in the pulpits of Catholic churches, but also in public places, and even in the meeting-places of the Calvinists themselves. Some Swiss Protestants responded with hostility, but many others were also brought back to the Church.

Like many cases of religious persecution during this time, Fidelis’ treatment at the hands of the Calvinists did not stem exclusively from doctrinal disagreement. National and cultural tensions also contributed, with many Swiss Protestants suspecting that the Catholic mission was part of an Austrian plot against their nation.

This volatile situation boiled over on April 24, 1622, when Fidelis’ preaching provoked a riot at a church in the village of Seewis. Some Austrian soldiers were killed in the uproar, and a would-be assassin shot at the priest.

After declining an offer of help from a Protestant, Fidelis was confronted outside the church by a mob, and told to choose between his Catholic beliefs and his life. Fidelis was defiant: “The Catholic religion is the faith of all ages. I fear not death.”

St. Fidelis was beaten and stabbed to death. The sight of his martyrdom, however, is said to have converted one of the Protestant preachers who led the mob. A succession of attested miracles led to his canonization in 1746.


LECTIO DIVINA: JOHN 3,1-8
Lectio Divina: 
 Monday, April 24, 2017
Easter Time


1) Opening prayer
Lord God, our Father,
you are not far away from any of us,
for in you we live and move and exist
and you live in us
through your Holy Spirit.Be indeed with us, Lord,
send us your Holy Spirit of truth
and through him deepen our understanding
of the life and message of your Son,
that we may accept the full truth
and live by it consistently.
We ask you this through Christ our Lord.

2) Gospel Reading - John 3,1-8
There was one of the Pharisees called Nicodemus, a leader of the Jews, who came to Jesus by night and said, 'Rabbi, we know that you have come from God as a teacher; for no one could perform the signs that you do unless God were with him.'
Jesus answered: In all truth I tell you, no one can see the kingdom of God without being born from above. Nicodemus said, 'How can anyone who is already old be born? Is it possible to go back into the womb again and be born?'
Jesus replied: In all truth I tell you, no one can enter the kingdom of God without being born through water and the Spirit; what is born of human nature is human; what is born of the Spirit is spirit. Do not be surprised when I say: You must be born from above. The wind blows where it pleases; you can hear its sound, but you cannot tell where it comes from or where it is going. So it is with everyone who is born of the Spirit.

3) Reflection
• The Gospel today presents part of the conversation of Jesus with Nicodemus. Nicodemus appears several times in the Gospel of:
John (Jn 3, 1-13; 7, 50-52; 19, 39). He was a person who held a certain social position. He was a leader among the Jews and formed part of the supreme tribunal, called the Synedrium. In the Gospel of John, he represents the group of Jews who were pious and sincere, but who did not succeed in understanding everything which Jesus said and did. Nicodemus had heard about the signs and the wonderful things that Jesus did, and he was struck, amazed. He wanted to speak with Jesus in order to understand better. He was a cultured person, who thought he believed the things of God. He expected the Messiah with the Book of the Law in his hand to verify if the novelty announced by Jesus would arrive. Jesus makes Nicodemus understand that the only way to understand the things of God is to be born again! Today this same thing happens. Some like Nicodemus: accept as new only what agrees with their ideas. What does not agree with their ideas is rejected and considered contrary to tradition. Others allow themselves to be surprised from facts and are not afraid to say: “I have been born anew!”
• John 3, 1: A man called Nicodemus. Shortly before the encounter of Jesus with Nicodemus, the Evangelist was speaking of the imperfect faith of certain persons who were interested only in the miracles of Jesus (Jn 2, 23-25). Nicodemus was one of these persons. He had good will, but his faith was still imperfect. The conversation with Jesus helped him to perceive that he has to advance in order to be able to deepen his faith in Jesus and in God.
• John 3, 2: 1st question of Nicodemus: the tension between what is old and what is new. Nicodemus was a Pharisee, a prominent person among the Jews and with a good common sense. He went to meet Jesus at night and said to him: “Rabbì, we know that you have come from God as a teacher; for no one could perform the signs that you do unless God were with him”. Nicodemus gives an opinion of Jesus according to arguments which he, Nicodemus himself, has within himself. This is already important, but it is not enough to know Jesus. The signs which Jesus works can arouse a person and awake in the person some interest. They can generate curiosity, but they do not generate greater faith. They do not make one see the Kingdom of God present in Jesus. For this reason it is necessary to advance, to take one more step. Which is this step?
• John 3, 3: The response of Jesus: "You must be born again!” In order that Nicodemus can perceive the Kingdom present in Jesus, he should be born again, from above. Anyone who tries to understand Jesus only from his arguments alone does not succeed to understand him. Jesus is much greater. If Nicodemus remains only with the catechism of the past in his hand, he will not succeed to understand Jesus. He should open his hand completely. He should set aside his own certainties and his security and abandon himself totally. He should make a choice between, on the one hand, the security which comes from the organized religion with its laws and traditions and, on the other hand, launch himself to the adventure of the Spirit which Jesus proposes to him.
• John 3, 4: 2nd question of Nicodemus: How can anyone who is already old be born again? Nicodemus does not give in and returns with the same question with a certain irony: “How can a man be born when he is old? Is it possible to go back into the womb again and be born again?” Nicodemus takes the words of Jesus literally and, because of this, he understands nothing. He should have perceived that the words of Jesus had a symbolic sense.
• John 3, 5-8: The answer of Jesus: To be born from above, to be born from the Spirit. Jesus explains what it means: to be born from above or to be born again. It is “To be born from water and the Spirit”. Here we have a very clear reference to Baptism. Through the conversation of Jesus with Nicodemus, the Evangelist invites us to review our Baptism. He gives the following words: “What is born of human nature is human, what is born of the Spirit is Spirit”. Flesh means that which is born only from our ideas. What is born from us is within our reach. To be born of the Spirit is another thing! The Spirit is like the wind. “The wind blows where it pleases; you can hear its sound, but you cannot tell where it comes from or where it is going; so it is with anyone who is born of the Spirit”. The wind has within itself, a direction, a route. We perceive the direction of the wind, for example, the North wind or the wind coming from the South, but we do not know, nor can we control the cause why the wind moves in this or that direction. This is the way the Spirit is. "No one is the master of the Spirit” (Ecl 8, 8). What characterizes the wind best, the Spirit, is liberty. The wind, the Spirit, is free, He cannot be controlled. He acts on others and nobody can act on him. His origin is a mystery. The boat must first find the route of the wind. Then it has to place the sails according to that route. That is what Nicodemus should do and what we should all do.
• A key to understand better the words of Jesus on the Holy Spirit. The Hebrew language uses the same word to say wind and spirit. As we have said the wind has within it a route, a direction: the North wind, the wind from the South. The Spirit of God has a route, a project, which already manifested itself in creation. The Spirit was present in creation under the form of a bird which flew over the waters of the chaos (Jn 1, 2). Year after year, he renews the face of the earth and sets nature through the sequence of the seasons (Ps 104, 30; 147, 18). The same is also present in history. He makes the Red Sea move back (Ex 14, 21) and he gives quails to the people to eat (Nb 11, 31). He accompanies Moses and, beginning with him, he distributes the leaders of the people (Nb 11, 24-25). He took the leaders and took them to carry out liberating actions: Othniel (Jg 3, 10), Gideon (Jg 6, 34), Jephthah (Jg 11, 29), Samson (Jg 13, 25; 14, 6.19; 15, 14), Saul (1S 11, 6), and Deborah, the prophetess (Jg 4, 4). He is present in the group of the prophets and acts in them with the force which is contagious (1S 10, 5-6. 10), his action in the prophets produces envy in the others. But Moses reacts: “If only all Yahweh’s people were prophets, and Yahweh had given them his spirit!” (Nb 11, 29).
• All along the centuries the hope grew that the Spirit of God would have oriented the Messiah in the realization of God’s project (Is 11, 1-9) and it would have descended upon all the people of God (Ez 36, 27; 39, 29; Is 32, 15; 44, 3). The great promise of the Spirit appears in various ways in the prophets of the exile: the vision of the dry bones, risen by the force of the Spirit of God (Ez 37, 1-14); the effusion of the Spirit of God on all the people (Jl 3, 1-5); the vision of the Messiah-Servant who will be anointed by the Spirit to establish the right on earth and announce the Good News to the poor (Is 42, 1; 44, 1-3; 61, 1-3). They perceive a future, in which people, always more and more, are reborn thanks to the effusion of the Spirit (Ez 36, 26-27; Ps 51, 12; cf. Is 32, 15-20).
• The Gospel of John uses many images and symbols to signify the action of the Spirit. Just like in creation (Gn 1, 1), in the same way the Spirit descended upon Jesus “like a dove, coming from heaven” (Jn 1, 32). It is the beginning of the new creation! Jesus pronounces the words of God and communicates to us His Spirit (Jn 3, 34). His words are spirit and life (Jn 6, 63). When Jesus announces that he is going to the Father, he says that he will send another Consoler, another defender, so that he can remain with us. He is the Holy Spirit (Jn 14, 16-17). Through his Passion, death and resurrection, Jesus obtains for us the gift of the Holy Spirit. Through Baptism all of us receive this same Spirit of Jesus (Jn 1, 33). When he appears to the Apostles, he breathes on them and says: "Receive the Holy Spirit!” (Jn 20, 22). The Spirit is like the water which springs up from persons who believe in Jesus (Jn 7, 37-39; 4, 14). The first effect of the action of the Spirit in us is reconciliation: "If you forgive anyone’s sins they are forgiven; if you retain anyone’s sins they are retained” (Jn 20, 23). The Spirit is given to us in order to be able to remember and understand the full meaning of the words of Jesus (Jn 14, 26; 16, 12-13). Animated by the Spirit of Jesus we can adore God any place (Jn 4, 23-24). Here is realized the liberty of the Spirit of whom Saint Paul speaks: “Where the Spirit is, there is liberty” (2 Co 3, 17).

4) Personal questions
• How do you react before the new things which present themselves; like Nicodemus or do you accept God’s surprises?
• Jesus compares the action of the Holy Spirit with the wind (Jn 3, 8). What does this comparison reveal to me about the action of the Spirit of God in my life? Have you already had some experience which has given you the impression of being born again?

5) Concluding prayer
I will bless Yahweh at all times,
his praise continually on my lips.
I will praise Yahweh from my heart;
let the humble hear and rejoice. (Ps 34,1-2)