Trang

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

23.05.2026: LỄ VỌNG CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG năm A

 23/05/2026

 Thứ Bảy tuần 7 Phục Sinh

Lễ Vọng Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

 


Bài Ðọc I: Xh 19,3-8a. 16-20b

“Trước mắt toàn dân, Chúa sẽ ngự xuống trên núi Sinai”

Bài trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, Môisen lên cùng Thiên Chúa.

Từ trên núi, Chúa gọi ông và bảo: “Ngươi hãy nói với nhà Giacób, và thông báo cho con cái Israel thế này: “Chính các ngươi đã thấy những gì Ta làm cho người Ai cập. Ta đã mang các ngươi trên cánh phượng hoàng, và đem các ngươi đến với Ta. Từ nay, nếu các ngươi nghe lời Ta và giữ giao ước Ta, thì các ngươi sẽ là sở hữu của Ta được tách biệt khỏi mọi dân, vì cả trái đất là của Ta. Ðối với Ta, các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế, một dân tộc hiến thánh. Ðó là những lời ngươi sẽ nói lại với con cái Israel”.

Môisen trở xuống triệu tập các trưởng lão trong dân và trình bày cho họ mọi điều Chúa đã truyền cho ông.

Toàn dân đồng thanh đáp: “Mọi điều Thiên Chúa dạy, chúng tôi xin thi hành”.

Qua ngày thứ ba, trời vừa sáng, có sấm vang chớp loè và mây dày đặc che phủ ngọn núi và tiếng tù và rền vang.

Toàn dân trong trại kinh hãi.

Môisen đưa dân ra khỏi trại để gặp Chúa, họ đứng dưới chân núi.

Khắp núi Sinai bốc khói, vì Chúa ngự xuống đó trong ngọn lửa: khói bốc lên như bởi lò lửa và cả núi rung chuyển dữ dội.

Tiếng tù và càng rúc mạnh.

Môisen nói và Thiên Chúa đáp lại trong tiếng sấm.

Chúa ngự xuống trên đỉnh núi Sinai, Người gọi Môisen lên đỉnh núi.

Ðó là Lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 103, 1-2a và 25c, 27-28, 29bc-30

Ðáp: Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến, và xin canh tân bộ mặt trái đất.

Xướng: Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, lạy Chúa là Thượng Ðế của tôi, Ngài quá ư vĩ đại! Ngài mặc lấy oai nghiêm huy hoàng, ánh sáng choàng thân như mang áo khoác. – Ðáp.

Xướng: Lạy Chúa, thực nhiều thay công cuộc của Ngài! Ngài đã tạo thành vạn vật cách khôn ngoan, địa cầu đầy dẫy loài thụ tạo của Ngài, kìa biển khơi mênh mông bát ngát, những vật tý hon sống chung cùng loài to lớn. – Ðáp.

Xướng: Hết thảy mọi vật đều mong chờ ở Chúa, để Ngài ban lương thực cho chúng đúng thời giờ. Khi Ngài ban cho thì chúng lãnh, Ngài mở tay ra thì chúng no đầy thiện hảo. – Ðáp.

Xướng: Ngài rút hơi thở chúng đi, chúng chết ngay, và chúng trở về chỗ tro bụi của mình. Nếu Ngài gởi hơi tới, chúng được tạo thành, vì Ngài canh tân bộ mặt trái đất. – Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Rom. 8,22-27

“Thánh Thần cầu xin cho chúng ta bằng những tiếng than khôn tả”.

Bài trích thơ Thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, chúng ta biết rằng cho đến nay, mọi tạo vật đang rên siết trong cơn đau đớn như lúc sinh nở. Nhưng không phải chỉ tạo vật mà thôi đâu, mà cả chúng ta nữa, tức là những kẻ đã được hưởng của đầu mùa của Thánh Thần, chúng ta cũng rên rỉ trong mình chúng ta khi mong Thánh Thần nhận làm nghĩa tử, và cứu chuộc thân xác chúng ta. Vì chưng nhờ niềm cậy trông mà chúng ta được cứu độ.

Nhưng hễ nhìn thấy điều mình hy vọng thì không phải là hy vọng nữa.

Vì ai đã thấy điều gì rồi, đâu còn hy vọng nó nữa?

Nhưng nếu chúng ta hy vọng điều chúng ta không trông thấy, chúng ta sẽ kiên tâm trông đợi.

Ðàng khác, cũng có Thánh Thần nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta.

Vì chúng ta không biết cầu ngyện thế nào cho xứng hợp.

Nhưng chính Thánh Thần cầu xin cho chúng ta bằng những tiếng than khôn tả.

Mà Ðấng thấu suốt tâm hồn, thì biết điều Thánh Thần ước muốn.

Bởi vì Thánh Thần cầu xin cho các thánh theo ý Thiên Chúa.

Ðó là Lời Chúa.

 

Alleluia:

Alleluia, alleluia – Lạy Chúa Thánh Thần, xin xuống tràn ngập tâm hồn các tín hữu Chúa, và xin nhóm lửa tình yêu Chúa trong lòng họ. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 7,37-39

“Phát sinh nước hằng sống

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Gioan.

Vào ngày cuối cùng và trọng đại của dịp lễ, Chúa Giêsu đứng lên giảng lớn tiếng rằng: “Ai khát nước hãy đến cùng Ta và uống; ai tin nơi Ta, thì như lời Thánh Kinh dạy: từ lòng họ nước hằng sống sẽ chảy ra như giòng sông”.

Người nói điều ấy về Chúa Thánh Thần mà các kẻ tin nơi Người sẽ lãnh lấy, vì bởi Chúa Giêsu chưa được tôn vinh.

Ðó là Lời Chúa.

 

 


LẠY  CHÚA THÁNH THẦN, XIN NGÀI NGỰ ĐẾN

SUY NIỆM THÁNH LỄ VỌNG

(Ga 7,37-39)

Thánh lễ vọng chiều nay đưa chúng về với Chúa Giêsu và chiêm ngắm Người vào ngày cuối cùng và trọng đại của dịp lễ, nghe Chúa giảng: “Ai khát hãy đến cùng Ta và uống; ai tin nơi Ta, thì như lời Thánh Kinh dạy: từ lòng họ nước hằng sống sẽ chảy ra như dòng sông” (Ga 7, 37-38). Người muốn nói điều ấy về Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần là nguyên lý sự hiệp nhất

Nếu như tại Babel, sự ngạo mạn kiêu căng của con người nổi lên chống lại Thiên Chúa tự sức riêng của mình muốn “xây một thành với một cây tháp mà ngọn nó chạm tới trời” (x. St 11,4). Hậu quả của hành động đó là Thiên Chúa làm cho họ phân tán, bất đồng ngôn ngữ với nhau, khiến họ không thể hiểu nhau làm gì nữa. Thì Lễ Hiện Xuống, điều ngược lại đã xảy ra: nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ nói được ngôn ngữ mà tất cả mọi người thuộc các nền văn hóa nghe đều hiểu như tiếng thổ âm của mình (x. Cv 2,6). Mọi chia rẽ bất đồng được vượt thắng, không còn kiêu căng chống lại Thiên Chúa nữa, cũng không còn có sự khép kín đối với nhau, họ mở rộng lòng mình ra cho Thiên Chúa và tha nhân, giao thiệp với nhau bằng một ngôn ngữ mới, ngôn ngữ của tình yêu thương mà Thiên Chúa đã đổ vào lòng họ nhờ Chúa Thánh Thần (x. Rm 5,5). Chúa Thánh Thần thúc đẩy họ làm điều thiện, an ủi họ trong cảnh sầu khổ, hoán cải nội tâm và trao ban sức mạnh và khả năng mới, dẫn đưa họ tới chân lý vẹn toàn, yêu thương và hiệp nhất.

Chúa Thánh Thần là Đấng sáng tạo

Câu đầu tiên trong Thánh Thi Kinh Chiều của ngày lễ Ngũ Tuần có viết: “Xin hãy đến, Lạy Chúa Thánh Thần, Ðấng sáng tạo...” làm cho chúng ta nhớ lại công cuộc tạo dựng vũ trụ thủa ban đầu, Thánh Thần Chúa bay lượn trên mặt nước trong cảnh hỗn mang (x. St 1,2).

Phải khẳng định rằng, thế giới chúng ta đang sống là cộng cuộc của Chúa Thánh Thần, Ðấng sáng tạo, nên Lễ Ngũ Tuần không chỉ là nguồn gốc của Giáo hội, là lễ của Giáo hội, nhưng Lễ Ngũ Tuần còn là lễ của tạo vật. Thế giới không tự mình hiện hữu; nhưng đến từ Thánh Thần sáng tạo của Thiên Chúa, đến từ Lời có sức sáng tạo của Thiên Chúa. Vì vậy, thế giới phản chiếu sự khôn ngoan của Thiên Chúa: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Ngài làm” (Tv 19,2). Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô nói: “Sự khôn ngoan này hé mở cho chúng ta thấy được điều gì đó về Thánh Thần sáng tạo của Thiên Chúa. Chúng ta phải nhìn tạo vật như là hồng ân được trao ban cho chúng ta, không phải để bị hủy diệt, nhưng để trở thành ngôi vườn của Thiên Chúa” (Trích bài giáo lý về Chúa Thánh Thần).

Ðứng trước những hình thức khác nhau của việc lạm dụng trái đất, “mọi tạo vật đang rên siết trong cơn đau đớn như lúc sinh nở. Nhưng không phải chỉ tạo vật mà thôi đâu, mà cả chúng ta nữa, tức là những kẻ đã được hưởng của đầu mùa của Thánh Thần, chúng ta cũng rên rỉ trong mình chúng ta khi mong Thánh Thần nhận làm nghĩa tử, và cứu chuộc thân xác chúng ta“. (Rm 8,22-24)

Chúng ta tự hỏi: Chúa Thánh Thần là ai hay là gì? Làm sao chúng ta có thể nhận ra Ngài? Bằng cách nào, chúng ta đến với Ngài và Ngài đến với chúng ta? Ngài tác động điều chi? Thưa, Chúa Thánh Thần là Ðấng Sáng Tạo, đến trợ giúp chúng ta. Ngài đã buớc vào trong lịch sử, và như thế, Ngài nói với chúng ta trong cách thức mới. Ngài đến gặp chúng ta qua tạo vật. Ngài là Tình Yêu, là sự hiệp nhất. Ngài mang đến cho chúng ta sự sống và sự tự do. Tất cả mọi tạo vật đều khao khát Chúa Thánh Thần.

Từ lòng họ nước hằng sống sẽ chảy ra

Ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là một cuộc thần hiện trong đó gió và lửa nhắc nhở chúng ta về tính siêu việt của Thiên Chúa. Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, các môn đệ nói mà không sợ hãi. Chúa Thánh Thần được Chúa Giêsu xin Chúa Cha ban xuống cho Giáo hội như là “nước hằng sống chảy ra như giòng sông” (Ga 7,38) vì nước ấy ở trong cung lòng của Thiên Chúa, cùng một lúc, chúng ta khám phá ra rằng, cũng trong Giáo hội, Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống thật. Thường chúng ta đề cập đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong phương diện cá nhân, tuy nhiên, Lời Chúa hôm nay hiển nhiên cho thấy tác động Chúa Thánh Thần trong cộng đoàn Kitô hữu: “Thánh Thần mà những kẻ tin Người sẽ lãnh lấy” (Ga 7,39). Thánh Thần duy nhất biến cộng đoàn thành một thân thể duy nhất, thân thể Chúa Kitô. Hơn nữa, Ngài là suối bẩy nguồn đa dạng về các ơn: ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết và ơn thông minh, ơn lo liệu, ơn sức mạnh, ơn đạo đức và ơn kính sợ Chúa và tài năng như: tông đồ, làm tiên tri, nói tiếng mới lạ… làm cho mỗi người chúng ta trở nên phong phú và đa dạng.

Sự duy nhất là dấu chỉ rõ ràng về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cộng đoàn tín hữu. Điều quan trọng nhất của Giáo hội chính là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần Đấng ban sự sống. Với con mắt loài người nhìn vào Giáo hội, chúng ta không thể nhận ra sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Trong lời nguyện mở đầu của Thánh lễ vọng chiều nay, chúng ta cầu xin Chúa tuôn đổ Thánh Thần để “các dân tộc trên thế giới, tuy ngôn ngữ bất đồng, được hiệp nhất cùng nhau mà tuyên xưng danh Chúa.” (Lời nguyện nhập lễ)

Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến! Xin hãy đổ tràn xuống tâm hồn các tín hữu, và đốt lên trong họ ngọn lửa Tình Yêu Chúa!” Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

MAY 23, 2026: SATURDAY OF THE SEVENTH WEEK OF EASTER

 May 23, 2026

Saturday of the Seventh Week of Easter - Mass in the Morning

Lectionary: 302

 


Reading 1

Acts 28:16-20, 30-31

When he entered Rome, Paul was allowed to live by himself,
with the soldier who was guarding him.

Three days later he called together the leaders of the Jews.
When they had gathered he said to them, "My brothers,
although I had done nothing against our people
or our ancestral customs,
I was handed over to the Romans as a prisoner from Jerusalem.
After trying my case the Romans wanted to release me,
because they found nothing against me deserving the death penalty.
But when the Jews objected, I was obliged to appeal to Caesar,
even though I had no accusation to make against my own nation.
This is the reason, then, I have requested to see you
and to speak with you, for it is on account of the hope of Israel
that I wear these chains." 

He remained for two full years in his lodgings.
He received all who came to him, and with complete assurance
and without hindrance he proclaimed the Kingdom of God
and taught about the Lord Jesus Christ.
 

Responsorial Psalm

Psalm 11:4, 5 and 7

R. (see 7b) The just will gaze on your face, O Lord.
or:
R. Alleluia.
The LORD is in his holy temple;
the LORD's throne is in heaven.
His eyes behold,
his searching glance is on mankind.
R. The just will gaze on your face, O Lord.
or:
R. Alleluia.
The LORD searches the just and the wicked;
the lover of violence he hates.
For the LORD is just, he loves just deeds;
the upright shall see his face.
R. The just will gaze on your face, O Lord.
or:
R. Alleluia.
 

Alleluia

John 16:7, 13

R. Alleluia, alleluia.
I will send to you the Spirit of truth, says the Lord;
he will guide you to all truth.
R. Alleluia, alleluia.
 

Gospel

John 21:20-25

Peter turned and saw the disciple following whom Jesus loved,
the one who had also reclined upon his chest during the supper
and had said, "Master, who is the one who will betray you?"
When Peter saw him, he said to Jesus, "Lord, what about him?"
Jesus said to him, "What if I want him to remain until I come?
What concern is it of yours? 
You follow me."
So the word spread among the brothers that that disciple would not die.
But Jesus had not told him that he would not die,
just "What if I want him to remain until I come?
What concern is it of yours?"

It is this disciple who testifies to these things
and has written them, and we know that his testimony is true.
There are also many other things that Jesus did,
but if these were to be described individually,
I do not think the whole world would contain the books
that would be written.
 

https://bible.usccb.org/bible/readings/052326.cfm

 

 


Commentary on Acts 28:16-20,30-31

Today we complete the readings for the Easter season. During these last seven weeks, we have been going through the Acts of the Apostles. As with most of the books which form the liturgical readings, much had to be omitted, but at least we do get a general picture of the extraordinary developments of the Church from a small group of uneducated fishermen to a chain of communities which, in such a short time, reached to the very centre of their known world—the empire’s seat of government in Rome. This would be the new centre from which it would over the centuries expand to every corner of the world.

Yesterday we saw Paul in the presence of King Agrippa and Bernice, while Festus explained the reason for Paul’s arrest to them. The following day, Paul was again brought before the king and, for the third time in Acts, gave them an account of how he had tried to destroy the followers of Christ only to experience his own conversion on the way to Damascus. At the end of the speech, Festus said he thought it was all crazy nonsense, but both he and the king agreed that Paul had done nothing to warrant punishment. If he had not appealed to the emperor, they agreed, he could have been released.

We are then told of the long and eventful sea journey to Rome, which included a storm and being shipwrecked on the island of Malta. When they eventually arrived in Rome, members of the community were there to welcome them on the Appian Way, the ancient highway that led to the city of Rome.

It is at this point that today’s reading begins. We are told that when Paul entered Rome, he was allowed to live by himself with a soldier who was guarding him. It was clearly a benign form of house arrest. Another reading says that “when he entered Rome, the centurion handed the prisoners over to the commander. But Paul was allowed to live outside the [Praetorian] camp.” As noted in the Jerusalem Bible:

“…this additional information agrees with what in fact must have happened. By the concession of custodia militaris (military guard) the prisoner had his own lodgings, but his right arm was chained to the left of the soldier in charge.”

Clearly, the prisoner was not regarded as dangerous.

As he did so often in the past, Paul made contact with the local Jews. The decree of the emperor Claudius, which, we remember, had caused Apollos and Priscilla to leave Rome, had been allowed to lapse and Jews now had returned to Rome with their leaders. Paul wants to establish good relations with the Jews of Rome as soon as possible. He insists that he has nothing as such against his own people, although it was certain Jews who did cause him a great deal of trouble and who were ultimately responsible for his having to appeal to Caesar. Ironically, as we saw, Governor Festus and King Agrippa had agreed that Paul had done no wrong and could have been released if he had not made his appeal to Caesar. In fact, as Paul had emphasised all along:

…it is for the sake of the hope of Israel that I am bound with this chain.

In the final sentences of Acts we are told that Paul spent two years in his place of arrest:

…proclaiming the kingdom of God and teaching about the Lord Jesus Christ with all boldness and without hindrance.

He was able to receive all who came looking for him and was able to preach without hindrance. The two years represents the legal period during which he could be kept in custody. Within that period his case would have to be tried, so it is likely that, at the end of the period, he was released. At the end of his short letter to Philemon, he seems to be looking forward to his release and asks that a room be made ready for him in Philemon’s house. During this time also he would have written his letter to the Christians at Colosse and the letter to the Ephesians (although the immediate authorship of this letter by Paul has been questioned), as well as his note to Philemon.

As the New International Version Bible points out, there are a number of indications that Paul was released from his imprisonment at the end of two years:

  • Acts stops abruptly at this time;
  • Paul wrote to churches expecting to visit them soon; so he must have anticipated a release (see Phil 2:24; Philem 22);
  • A number of the details in the Pastoral Letters do not fit into the historical setting given in the book of Acts. Following the close of Acts, these details indicate a return to Asia Minor, Crete and Greece;
  • Tradition indicates that Paul went to Spain. Even if he did not go, the very fact that a tradition arose suggests a time when he could have taken that journey.*

It is clear that the sudden ending of Acts indicates that it is not an ending at all but a beginning. Luke’s story had begun with Jesus’ ‘mission statement’ made in the synagogue at Nazareth. From there, Jesus progresses steadily south to Jerusalem, which is the climax of his life and work—through passion, death and resurrection. The story is then taken up with Acts, which begins with the Pentecost experience when the baton of Jesus’ mission is passed to his disciples. It begins where Jesus left off, in Jerusalem, and from there spreads progressively to the surrounding territories and then on to Macedonia and Greece and ultimately to the heart of the empire and the centre of their world—Rome. The gospel is being preached freely in the very heart of the Roman Empire.

Christianity, from being a tiny movement of a small number of Jews, is now a world phenomenon. From now on, its mission is to make the Kingdom a reality in every corner of our planet. There are many more triumphs and tragedies to come. But to have reached Rome in such a short time was little short of miraculous. So, these final sentences sound an understandable note of triumph for the fledgling Church.
_______________________________________

*Regarding Paul’s ministry after his discharge, his second imprisonment, and his death, see the section: “Introduction to the Letters of St Paul” in the Jerusalem Bible.

Comments Off

 

 


Commentary on John 21:20-25

Peter has been given his mandate to shepherd the Lord’s flock and been fully rehabilitated after his sad betrayal earlier on. But it is still the same old, impetuous Peter.  Having heard about his own future, he now wants to know that of “the disciple Jesus loved”, i.e. the ‘beloved disciple’. Basically, Peter is told to mind his own business; it is no concern of his.  Jesus says enigmatically,

If it is my will that he remain until I come, what is that to you? Follow me!

As a result, Jesus’ words became distorted and were understood to mean that the ‘beloved disciple’ was not going to die.  He would stay alive until the Lord came.  But this is strongly denied by the author of the chapter (biblical scholars strongly believe that this final chapter is not by the author of the rest of this Gospel).

The New American Bible comments here:

“This whole scene takes on more significance if the disciple is already dead.  The death of the apostolic generation caused problems in the church because of a belief that Jesus was to have returned first.  Loss of faith sometimes resulted (see 2 Peter 3:4).”

Another very different explanation is possible if the ‘beloved disciple’ is not identified with John, but with the symbolic figure who represents the perfect follower of Jesus.  This person appears four times in John’s Gospel—and perhaps five, if we identify him with one of the unnamed disciples of John the Baptist who spent a day with Jesus in the company of Andrew (see John 1:35).  At this point, he is not called the ‘beloved disciple’, as he is just beginning to be a follower. Later in the Gospel, he is identified on four different occasions of special significance—leaning on the breast of Jesus at the Last Supper; standing at the foot of the Cross; going with Peter to the empty tomb on the day of the resurrection and understanding the meaning of the arrangement of the cloths (something which meant nothing to Peter). Finally, he is seen as the one who recognised as “the Lord” the stranger who told the disciples where the fish were to be found.

Hopefully, all through the history of the Church there will be ‘beloved disciples’, people who have lived out the gospel to a very high degree.  And such people will continue to be found until Jesus finally comes to bring us all to himself.

For our own lives, in the light of this passage, we can ask ourselves once again what we see to be the mission that Jesus has for us at this time.  As well, while we do of course need to be responsible for the well-being of our brothers and sisters, our main concern is to focus on where God is calling us and not be too worried about what he expects from others.

On a final note, the author claims to have witnessed everything that has been written, but that it still is only a fraction of all the things that Jesus said and did.  We would indeed love to know what some of those unreported words and actions were, but we have more than enough with the existing texts to provide a challenge to us for the rest of our lives. And with the imminent approach of Pentecost, we remember that the Spirit is there to continue teaching and guiding us and leading us ever deeper into the meanings of God’s Word.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/e1077g/



Saturday, May 23, 2026

Easter Weekday

Opening Prayer

Lord our God,

like Mary, the women and the apostles on the day before the first Pentecost we are gathered in prayer.

Let the Holy Spirit come down also on us, that we may become enthusiastic believers and faithful witnesses to the person and the good news of Jesus. May our way of living bear witness that Jesus is our light and life, now and forever.

Gospel Reading - John 21: 20-25

Peter turned and saw the disciple whom Jesus loved following them -- the one who had leant back close to his chest at the supper and had said to him, 'Lord, who is it that will betray you?' Seeing him, Peter said to Jesus, 'What about him, Lord?' Jesus answered, 'If I want him to stay behind till I come, what does it matter to you? You are to follow me.' The rumor then went out among the brothers that this disciple would not die. Yet Jesus had not said to Peter, 'He will not die,' but, 'If I want him to stay behind till I come.' This disciple is the one who vouches for these things and has written them down, and we know that his testimony is true. There was much else that Jesus did; if it were written down in detail, I do not suppose the world itself would hold all the books that would be written.

Reflection

Today’s Gospel begins with the question of Peter: Lord, what about him? Jesus begins to speak with Peter, announcing the destiny or type of death by which Peter will glorify God. And at the end Jesus adds: Follow me. (Jn 21: 19).

           John 21: 20-21: Peter’s question concerning John’s destiny. At this moment, Peter turned back and saw the Disciple whom Jesus loved and asks: “Lord, what about him?” Jesus had just indicated the destiny of Peter and now Peter wants to know from Jesus which is the destiny of this other disciple. It is a curiosity which does not deserve an adequate response from Jesus.

           John 21: 22: The mysterious response of Jesus. Jesus says: If I want him to stay behind till I come, what does it matter to you? You are to follow me.” A mysterious phrase which ends again with the same affirmation as before: Follow me! Jesus seems to want to stop Peter’s curiosity. Just as each one of us has his/her own history, in the same way each one of us has his/her own way of following Jesus. Nobody is the exact copy of another person. Each one of us should be creative in following Jesus.

           John 21: 23: The Evangelist clarifies the sense of the response of Jesus. Ancient tradition identifies the Beloved Disciple with the Apostle John and says that he died very old, when he was almost one hundred years old. Putting together the old age of John with the mysterious response of Jesus, the Evangelist clarifies things saying: “The rumor then went out among the brothers that this disciple would not die. Yet, Jesus had not said to Peter: He will not die, but: If I want him to stay behind till I come; what does that matter to you?” Perhaps, it is a warning to be very attentive to the interpretation of the words of Jesus and not base oneself in any rumour.

           John 21: 24: Witness of the value of the Gospel. Chapter 21 is an added appendix when the final redaction of the Gospel was made. Chapter 20 ends with this phrase: “There were many other signs that Jesus worked in the sight of his disciples, but they are not recorded in this book. These are recorded so that you may believe that Jesus is the Christ, the son of God, and that believing this you may have life through his name.” (Jn 20: 30-31). The Book was ready but there were many other facts about Jesus. This is why, on the occasion of the definitive edition of the Gospel, some of these “many facts” about Jesus were chosen and added, very probably to clarify better the new problems of the end of the first century. We do not know who wrote the definitive redaction with the appendix, but we know it was someone of the community who could be trusted, because he writes: “This is the disciple who vouches for these things and has written them down and we know that his testimony is true”.

           John 21: 25: The mystery of Jesus is inexhaustible. A beautiful phrase to conclude the Gospel of John: “There was much else that Jesus did; if it were written down in detail, I do not suppose the world itself would hold all the books that would be written”. It seems an exaggeration, but it is the truth. Never will anyone be capable of writing all the things that Jesus has done and continues to do in the life of persons who up until now follow Jesus!

For Personal Confrontation

           Is there something in your life which Jesus has done and which could be added to this book which will never be written?

           Peter is very concerned about the other disciple and forgets to carry on and live his own “Follow me”. Does this also happen to you?

Concluding Prayer

Yahweh in his holy temple! Yahweh, his throne is in heaven; his eyes watch over the world, his gaze scrutinizes the children of Adam. (Ps 11: 4)

www.ocarm.org

 

23.05.2026: THỨ BẢY TUẦN VII PHỤC SINH

 23/05/2026

 Thứ Bảy tuần 7 Phục Sinh

 


Bài Ðọc I: Cv 28, 16-20. 30-31

“Ngài ở lại Rôma, rao giảng nước Thiên Chúa”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi chúng tôi đến Rôma, Phaolô được phép ở nhà riêng với người lính canh. Sau ba hôm, ngài mời các đầu mục người Do-thái đến. Khi họ đến, ngài nói với họ: “Thưa anh em, dầu tôi đây không làm điều gì phạm đến dân tộc hay tục lệ tổ tiên, mà tôi đã bị bắt tại Giêrusa-lem và bị nộp trong tay người Rôma. Khi đã điều tra, họ muốn thả tôi vì tôi không có tội gì đáng chết. Nhưng người Do-thái chống lại, nên tôi buộc lòng phải nại đến hoàng đế, nhưng không phải là tôi có gì kiện cáo dân tôi. Do đó tôi đã xin gặp anh em và nói chuyện: Chính vì niềm hy vọng của Israel mà tôi phải mang xiềng xích này”.

Suốt hai năm, ngài trú tại ngôi nhà đã thuê, tiếp nhận tất cả những ai đến gặp ngài, ngài rao giảng nước Thiên Chúa và dạy dỗ những điều về Chúa Giêsu Kitô một cách dạn dĩ, không có ai ngăn cấm.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 10, 5. 6 và 8

Ðáp: Lạy Chúa, người chính trực sẽ nhìn thấy tôn nhan Chúa

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Chúa kiểm soát người hiền đức, kẻ ác nhân, ai chuộng điều ác, thì linh hồn Người ghét bỏ.

Xướng: Trên lũ tội nhân Người làm mưa than đỏ diêm sinh, và phần chén của chúng là luồng gió lửa. Bởi Chúa công minh, nên Người thích chuyện công minh, người chính trực sẽ nhìn thấy thiên nhan.

 

Alleluia: Ga 14, 16

Alleluia, alleluia! – Thánh Thần sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! Chúa nói: Thầy sẽ sai Thần Khí sự thật đến với anh em; Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Alleluia.)

 

Phúc Âm: Ga 21, 20-25

“Chính môn đệ này làm chứng về những việc đó và đã viết ra”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Phêrô quay lại, thấy môn đệ Chúa Giêsu yêu mến theo sau, cũng là người nằm sát ngực Chúa trong bữa ăn tối và hỏi “Thưa Thầy, ai là người sẽ nộp Thầy?” Vậy khi thấy môn đệ đó, Phêrô hỏi Chúa Giêsu rằng: “Còn người này thì sao?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu Thầy muốn nó cứ ở lại mãi cho tới khi Thầy đến thì việc gì đến con? Phần con, cứ theo Thầy”. Vì thế, có tiếng đồn trong anh em là môn đệ này sẽ không chết. Nhưng Chúa Giêsu không nói với Phêrô: “Nó sẽ không chết”, mà Người chỉ nói: “Nếu Thầy muốn nó cứ ở lại mãi cho tới khi Thầy đến thì việc gì đến con”.

Chính môn đệ này làm chứng về những việc đó và đã viết ra, và chúng tôi biết lời chứng của người ấy xác thật. Còn nhiều việc khác Chúa Giêsu đã làm, nếu chép lại từng việc một thì tôi thiết tưởng cả thế giới cũng không thể chứa hết các sách viết ra.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Công vụ Tông đồ 28,16-20. 30-31

Hôm nay chúng ta hoàn thành các bài đọc cho mùa Phục Sinh. Trong bảy tuần qua, chúng ta đã cùng nhau nghiên cứu sách Công vụ các Tông đồ. Cũng như hầu hết các sách tạo nên các bài đọc phụng vụ, nhiều phần đã phải lược bỏ, nhưng ít nhất chúng ta cũng có được một bức tranh tổng quát về sự phát triển phi thường của Giáo hội, từ một nhóm nhỏ ngư dân không được học hành đến một chuỗi các cộng đồng mà chỉ trong một thời gian ngắn đã vươn tới trung tâm của thế giới họ biết đến – kinh đô của đế quốc ở Rome. Đây sẽ là trung tâm mới mà từ đó, qua nhiều thế kỷ, Giáo hội sẽ mở rộng đến mọi ngóc ngách trên thế giới.

Hôm qua, chúng ta đã thấy Phaolô hiện diện trước mặt vua Agrippa và Bernice, trong khi Festus giải thích lý do Phaolô bị bắt giữ cho họ. Ngày hôm sau, Phaolô lại bị đưa ra trước mặt nhà vua và, lần thứ ba trong sách Công vụ, ông đã kể lại việc mình đã cố gắng tiêu diệt những người theo Chúa Kitô nhưng lại trải nghiệm sự hoán cải của chính mình trên đường đến Damascus. Cuối bài phát biểu, Festus nói rằng ông nghĩ tất cả đều là chuyện vớ vẩn, nhưng cả ông và nhà vua đều đồng ý rằng Phaolô không làm gì đáng bị trừng phạt. Nếu ông không kháng cáo lên hoàng đế, họ đồng ý, ông đã có thể được thả.

Sau đó, chúng ta được kể về chuyến hành trình dài và đầy biến cố trên biển đến Rome, bao gồm một cơn bão và bị đắm tàu ​​trên đảo Malta. Khi cuối cùng họ đến Rome, các thành viên của cộng đồng đã chào đón họ trên đường Appian, con đường cổ dẫn đến thành phố Rome.

Chính tại điểm này mà bài đọc hôm nay bắt đầu. Chúng ta được kể rằng khi Phaolô vào Rome, ông được phép sống một mình với một người lính canh gác. Rõ ràng đó là một hình thức quản thúc tại gia nhẹ nhàng. Một bài đọc khác nói rằng “khi ông vào Rome, viên đội trưởng đã giao các tù nhân cho viên chỉ huy. Nhưng Phaolô được phép sống bên ngoài trại [của đội cận vệ hoàng gia].” Như đã ghi trong Kinh Thánh Jerusalem:

“…thông tin bổ sung này phù hợp với những gì thực sự đã xảy ra. Nhờ sự nhượng bộ của custodia militaris (lực lượng canh gác quân sự), tù nhân có chỗ ở riêng, nhưng cánh tay phải của anh ta bị xích vào bên trái của người lính phụ trách.”

Rõ ràng, tù nhân không được coi là nguy hiểm.

Như thường lệ, Phaolô đã liên lạc với người Do Thái địa phương. Sắc lệnh của hoàng đế Claudius, mà chúng ta nhớ là đã khiến Apollos và Priscilla rời khỏi Rome, đã hết hiệu lực và người Do Thái giờ đây đã trở lại Rome cùng với các nhà lãnh đạo của họ. Phaolô muốn thiết lập mối quan hệ tốt với người Do Thái ở Rome càng sớm càng tốt. Ông khẳng định rằng ông không có gì chống lại dân tộc mình, mặc dù chính một số người Do Thái đã gây ra cho ông rất nhiều rắc rối và cuối cùng là những người chịu trách nhiệm khiến ông phải kháng cáo lên Caesar. Trớ trêu thay, như chúng ta đã thấy, Thống đốc Festus và Vua Agrippa đã đồng ý rằng Phaolô không làm gì sai và có thể được thả nếu ông không kháng cáo lên Caesar. Thực tế, như Phao-lô đã nhấn mạnh từ đầu:

…chính vì niềm hy vọng của Ít-ra-en mà tôi bị xiềng xích này trói buộc.

Trong những câu cuối của sách Công Vụ Tông Đồ, chúng ta được biết rằng Phao-lô đã ở trong nơi bị bắt giữ hai năm:

…rao giảng về Nước Thiên Chúa và dạy dỗ về Chúa Giê-su Ki-tô với tất cả sự mạnh dạn và không bị cản trở.

Ông đã có thể tiếp đón tất cả những người đến tìm ông và có thể rao giảng mà không gặp trở ngại nào. Hai năm là thời hạn pháp lý mà ông có thể bị giam giữ. Trong thời gian đó, vụ án của ông sẽ phải được xét xử, vì vậy rất có thể, sau khi hết thời hạn, ông đã được thả. Ở cuối bức thư ngắn gửi cho Philemon, ông dường như đang mong chờ được thả và yêu cầu chuẩn bị một phòng cho ông trong nhà của Philemon. Trong thời gian này, ông cũng đã viết thư cho các tín hữu tại Cô-lô-sê và thư cho người Ê-phê-sô (mặc dù việc Phao-lô trực tiếp viết bức thư này đã bị nghi ngờ), cũng như ghi chú của ông gửi cho Philemon.

Như Kinh Thánh phiên bản Quốc tế Mới chỉ ra, có một số dấu hiệu cho thấy Phao-lô đã được thả khỏi nhà tù sau hai năm:

• Sách Công Vụ Các Tông Đồ dừng lại đột ngột vào thời điểm này;

Phao-lô đã viết thư cho các hội thánh với mong đợi sớm đến thăm họ; vì vậy ông hẳn đã dự đoán được việc được thả (xem Phi-líp-phê 2,24; Phi-lê-môn 22);

• Một số chi tiết trong các Thư Mục vụ không phù hợp với bối cảnh lịch sử được nêu trong sách Công Vụ  Tông Đồ. Sau khi sách Công Vụ Tông Đồ kết thúc, những chi tiết này cho thấy sự trở lại Tiểu Á, Crete và Hy Lạp;

• Truyền thống cho rằng Phaolô đã đến Tây Ban Nha. Ngay cả khi ông không đi, chính việc có một truyền thống như vậy đã gợi ý về một thời điểm mà ông có thể đã thực hiện chuyến đi đó.*

Rõ ràng là sự kết thúc đột ngột của sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy đó không phải là một kết thúc mà là một sự khởi đầu. Câu chuyện của Lu-ca bắt đầu với “tuyên bố sứ mệnh” của Chúa Giê-su được đưa ra trong hội đường ở Na-xa-rét. Từ đó, Chúa Giê-su tiến dần về phía nam đến Giê-ru-sa-lem, đó là đỉnh điểm của cuộc đời và công việc của Ngài—qua sự khổ nạn, cái chết và sự phục sinh. Câu chuyện sau đó được tiếp tục với sách Công Vụ Tông Đồ, bắt đầu với kinh nghiệm Lễ Ngũ Tuần khi ngọn đuốc sứ mệnh của Chúa Giê-su được trao cho các môn đệ của Ngài. Nó bắt đầu từ nơi Chúa Giê-su dừng lại, ở Giê-ru-sa-lem, và từ đó lan rộng dần đến các vùng lãnh thổ xung quanh, rồi đến Ma-xê-đô-ni-a và Hy Lạp, và cuối cùng là đến trung tâm của đế chế và trung tâm thế giới của họ—Rô-ma. Phúc âm đang được rao giảng tự do ngay giữa lòng Đế chế La Mã.

 

Kitô giáo, từ một phong trào nhỏ bé của một số ít người Do Thái, giờ đây đã trở thành một hiện tượng toàn cầu. Từ nay trở đi, sứ mệnh của nó là làm cho Nước Trời trở thành hiện thực ở mọi ngóc ngách trên hành tinh của chúng ta. Sẽ còn nhiều chiến thắng và bi kịch nữa phía trước. Nhưng việc đến được Rô-ma trong một thời gian ngắn như vậy quả là một điều kỳ diệu. Vì vậy, những câu cuối cùng này vang lên một nốt nhạc chiến thắng dễ hiểu cho Giáo hội non trẻ.

 

_______________________________________

*Về chức vụ của Phao-lô sau khi được thả, lần bị giam cầm thứ hai và cái chết của ông, xem phần: “Lời giới thiệu về các Thư của Thánh Phao-lô” trong Kinh Thánh Giê-ru-sa-lem.

 

 


Chú giải về Gioan 21,20-25

Phê-rô đã được giao nhiệm vụ chăn dắt bầy chiên của Chúa và được phục hồi hoàn toàn sau sự phản bội đáng buồn trước đó. Nhưng ông vẫn là Phê-rô nóng nảy như xưa. Sau khi nghe về tương lai của chính mình, giờ đây ông muốn biết về tương lai của “môn đồ mà Chúa Giê-su yêu mến”, tức là “môn đồ được yêu quý”. Về cơ bản, Phê-rô được bảo hãy lo việc của mình; đó không phải là việc của ông. Chúa Giê-su nói một cách bí ẩn:

Nếu ta muốn người ấy ở lại cho đến khi ta đến, thì điều đó có liên quan gì đến ngươi? Hãy theo ta!

Kết quả là, lời của Chúa Giê-su bị xuyên tạc và được hiểu là “môn đồ được yêu mến” sẽ không chết. Ông sẽ sống cho đến khi Chúa đến. Nhưng điều này bị tác giả của chương này phủ nhận mạnh mẽ (các học giả Kinh Thánh tin chắc rằng chương cuối cùng này không phải do tác giả của phần còn lại của Phúc Âm này viết). Bản dịch Kinh Thánh Tân Mỹ (New American Bible) bình luận như sau:

“Toàn bộ cảnh tượng này càng trở nên ý nghĩa hơn nếu người môn đồ đó đã qua đời. Cái chết của thế hệ tông đồ đã gây ra những vấn đề trong Giáo hội vì niềm tin rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại trước. Đôi khi dẫn đến sự mất đức tin (xem 2 Phê-rô 3,4).”

Một lời giải thích rất khác có thể xảy ra nếu “người môn đồ yêu dấu” không được đồng nhất với Gioan, mà với hình tượng tượng trưng cho người theo Chúa Giê-su hoàn hảo. Người này xuất hiện bốn lần trong Phúc Âm Gioan—và có lẽ là năm lần, nếu chúng ta đồng nhất ông với một trong những môn đồ vô danh của Gioan Tẩy Giả, người đã dành một ngày với Chúa Giê-su cùng với An-rê (xem Gioan 1,35). Tại thời điểm này, ông chưa được gọi là “người môn đồ yêu dấu”, vì ông chỉ mới bắt đầu trở thành người theo Chúa. Sau đó trong Phúc Âm, ông được xác định trong bốn dịp khác nhau có ý nghĩa đặc biệt—tựa vào ngực Chúa Giê-su trong Bữa Tiệc Ly; đứng dưới chân Thập Tự Giá; đi cùng Phê-rô đến ngôi mộ trống vào ngày phục sinh và hiểu ý nghĩa của việc sắp xếp các tấm vải (điều mà Phê-rô không hiểu gì). Cuối cùng, ông được xem là người đã nhận ra “Chúa” là người lạ mặt đã nói cho các môn đệ biết nơi tìm thấy cá.

Hy vọng rằng, xuyên suốt lịch sử Giáo hội sẽ có những “môn đệ yêu dấu”, những người đã sống trọn vẹn Tin Mừng ở mức độ rất cao. Và những người như vậy sẽ tiếp tục được tìm thấy cho đến khi Chúa Giê-su cuối cùng đến để đem tất cả chúng ta về với Ngài.

Đối với cuộc sống của chính chúng ta, dưới ánh sáng của đoạn Kinh Thánh này, chúng ta có thể tự hỏi lại một lần nữa sứ mệnh mà Chúa Giê-su dành cho chúng ta vào thời điểm này là gì. Cũng như, trong khi chúng ta cần phải có trách nhiệm đối với hạnh phúc của anh chị em mình, mối quan tâm chính của chúng ta là tập trung vào nơi Chúa đang kêu gọi chúng ta và không quá lo lắng về những gì Ngài mong đợi ở người khác.

Cuối cùng, tác giả tuyên bố đã chứng kiến ​​mọi điều đã được viết ra, nhưng đó vẫn chỉ là một phần nhỏ trong tất cả những điều Chúa Giê-su đã nói và làm. Chúng ta thực sự rất muốn biết một số lời nói và hành động chưa được ghi chép lại đó là gì, nhưng những văn bản hiện có đã đủ để thách thức chúng ta trong suốt cuộc đời. Và với Lễ Ngũ Tuần sắp đến, chúng ta nhớ rằng Đức Thánh Linh luôn hiện diện để tiếp tục dạy dỗ, hướng dẫn và dẫn dắt chúng ta đi sâu hơn nữa vào ý nghĩa Lời Chúa.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/e1077g/

 

 


Suy niệm: Lời ban sự sống

Câu kết thúc Phúc Âm thánh Gio-an khiến ta ngạc nhiên: “Còn có nhiều điều khác Chúa Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra”.

Chúa Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa. Ngôi Lời Thiên Chúa vốn toàn năng toàn tri toàn thiện và phổ quát. Nhưng Ngôi Lời Nhập Thể tự nhận những giới hạn của con người. Lời Thiên Chúa thì vô hạn. Ngôn ngữ con người thì hữu hạn. Lời hữu thanh chẳng diễn tả hết ý vô thanh. Thánh Gioan đã tựa đầu vào ngực Chúa. Đã nghe được nhịp đập của trái tim Chúa. Đã nghe được lời vô thanh của Thiên Chúa. Đã hiểu được lời vô hạn của Thiên Chúa. Đã ôm ấp Lời Thiên Chúa cao sâu muôn trùng, mênh mông vô biên, trời đất chứa chẳng nổi.

Thánh Phao-lô cũng là người nghe được lời vô hạn, vô thanh, vô ngôn của Thiên Chúa. Ngài đã được đưa lên tầng trời thứ ba. Đã được Thiên Chúa trực tiếp dậy dỗ. Và đã hình thành một Tin Mừng riêng biệt của mình. Tin Mừng đầy ắp trong tâm hồn khiến ngài bị thúc bách nói ra: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”(1Cr 9,16). Vì thế ngài rao giảng không ngừng. Chờ thụ án tử hình vẫn rao giảng. Rao giảng cho đến hơi thở cuối cùng.

Như thế Phúc Âm không phải là một quyển sách nhưng là một cuộc gặp gỡ. Có bao nhiêu cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su là có bấy nhiêu Phúc Âm.

Theo lời truyền khi thánh Gioan về già, không thể nói nhiều. Mỗi lần tín hữu tụ tập lại, người ta khiêng ngài ra. Ngài chỉ giảng một câu: “Anh em hãy yêu thương nhau”. Ngài giảng mãi câu ấy không biết chán. Giáo dân nghe câu ấy suốt đời không biết mệt. Vì lời hữu hạn của con người đã gặp Chúa, có sức chuyên chở nội dung sức sống vô biên của Lời Thiên Chúa.

Ở đây nữa ta thấy sự sâu xa của Lời Thiên Chúa vô hạn đối nghịch với lời hữu hạn của con người. Chỉ một Lời Thiên Chúa ngắn ngủi lại tràn đầy sức sống, tràn đầy ý nghĩa và làm say đắm lòng người hơn nhiều bài giảng dài dòng, huyên thiên, vô nghĩa trong lời hữu hạn của con người.

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

 

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

MAY 22, 2026: FRIDAY OF THE SEVENTH WEEK OF EASTER

 May 22, 2026

Friday of the Seventh Week of Easter

Lectionary: 301

 


Reading 1

Acts 25:13b-21

King Agrippa and Bernice arrived in Caesarea
on a visit to Festus.
Since they spent several days there,
Festus referred Paul's case to the king, saying,
"There is a man here left in custody by Felix.
When I was in Jerusalem the chief priests and the elders of the Jews
brought charges against him and demanded his condemnation.
I answered them that it was not Roman practice
to hand over an accused person before he has faced his accusers
and had the opportunity to defend himself against their charge.
So when they came together here, I made no delay;
the next day I took my seat on the tribunal
and ordered the man to be brought in.
His accusers stood around him,
but did not charge him with any of the crimes I suspected.
Instead they had some issues with him about their own religion
and about a certain Jesus who had died
but who Paul claimed was alive.
Since I was at a loss how to investigate this controversy,
I asked if he were willing to go to Jerusalem
and there stand trial on these charges.
And when Paul appealed that he be held in custody
for the Emperor's decision,
I ordered him held until I could send him to Caesar."
 

Responsorial Psalm

Psalm 103:1-2, 11-12, 19-20ab

R. (19a) The Lord has established his throne in heaven.
or:
R. Alleluia.
Bless the LORD, O my soul;
and all my being, bless his holy name.
Bless the LORD, O my soul,
and forget not all his benefits.
R. The Lord has established his throne in heaven.
or:
R. Alleluia.
For as the heavens are high above the earth,
so surpassing is his kindness toward those who fear him.
As far as the east is from the west,
so far has he put our transgressions from us.
R. The Lord has established his throne in heaven.
or:
R. Alleluia.
The LORD has established his throne in heaven, 
and his kingdom rules over all.
Bless the LORD, all you his angels,
you mighty in strength, who do his bidding.
R. The Lord has established his throne in heaven.
or:
R. Alleluia.
 

Alleluia

John 14:26

R. Alleluia, alleluia.
The Holy Spirit will teach you everything
and remind you of all I told you.
R. Alleluia, alleluia.
 

Gospel

John 21:15-19

After Jesus had revealed himself to his disciples and eaten breakfast with them, 
he said to Simon Peter,
"Simon, son of John, do you love me more than these?"
Simon Peter answered him, "Yes, Lord, you know that I love you."
Jesus said to him, "Feed my lambs."
He then said to Simon Peter a second time,
"Simon, son of John, do you love me?"
Simon Peter answered him, "Yes, Lord, you know that I love you." 
He said to him, "Tend my sheep."
He said to him the third time,
"Simon, son of John, do you love me?"
Peter was distressed that he had said to him a third time,
"Do you love me?" and he said to him,
"Lord, you know everything; you know that I love you."
Jesus said to him, "Feed my sheep.
Amen, amen, I say to you, when you were younger,
you used to dress yourself and go where you wanted; 
but when you grow old, you will stretch out your hands,
and someone else will dress you
and lead you where you do not want to go."
He said this signifying by what kind of death he would glorify God.
And when he had said this, he said to him, "Follow me."
 

https://bible.usccb.org/bible/readings/052226.cfm

 

 


Commentary on Acts 25:13-21

We are now moving rather quickly to the end of Acts.  We have to finish between today and tomorrow, which is the end of the Easter season.  Next week we will return to what is called ‘Ordinary Time’.

After Paul was rescued from the uproar in the Sanhedrin, a group of Jews were determined to assassinate him and were concocting a plot to bring it about.  However, Paul’s nephew got wind of it and passed the information to the Romans.  So Paul was taken away from Jerusalem and sent under heavy guard to Governor Felix in Caesarea to await formal charges from his Jewish accusers. 

Both the Jews and Paul presented their case to Felix in the most flattering terms.  Felix was rather sympathetic to Paul and was apparently aware of Christian beliefs.  He kept Paul in custody for a further two years because he liked discussing religion—until Paul began to tell him about moral behaviour and the judgement to come.  Feeling somewhat uneasy (about his own behavior!), Felix postponed further meetings indefinitely.  He also hoped for a bribe from Paul to expedite his release (apparently not expecting Paul to practise what he preached!).

The next governor, Festus, was more favourable to the Jews.  He again allowed them to come up to Caesarea to confront Paul in court.  Knowing what the Jews wanted, Festus asked Paul if he would be willing to go to Jerusalem to be tried.  Paul knew that was tantamount to a death sentence (indeed the Jews planned to murder him on the way), so he played his final trump card. As a Roman citizen, he appealed for a Roman trial. The governor now had no choice. He said:

I ordered him to be held until I could send him to the emperor.

We now enter today’s reading.  We see King Agrippa and his sister Bernice come to pay a courtesy visit to Festus in Caesarea.  It was customary for rulers to pay a complimentary visit to a new ruler at the time of his appointment.  It was to the advantage of each that they get along. (We might compare the relationship of Herod Antipas with Pontius Pilate; see especially Luke 23:6-12.)

Agrippa and Bernice were an interesting couple to say the least. Agrippa, Bernice and Drusilla were children of King Herod Agrippa I.  Herod Agrippa II was 17 years old at the death of his father in AD 44 (Acts 12:23).  Being too young to succeed his father, he was replaced by Roman procurators.  Eight years later, however, a gradual extension of territorial authority began.  Ultimately he ruled over territory north and northeast of the Sea of Galilee, over several Galilean cities and over some cities in Perea.  At the Jewish revolt, when Jerusalem fell, he was on the side of the Romans.  He died about AD 100—the last of the Herods.

According to the New International Version Bible, Bernice:

“…when only 13, married her uncle, Herod of Chalcis, and had two sons.  When Herod died, she lived with her brother, Agrippa II.  To silence rumours that she was living in incest with her brother, she married Polemon, king of Cilicia, but left him soon to return to Agrippa.  She became the mistress of the emperor Vespasian’s son Titus, but was later ignored by him.”

Titus, as emperor, was responsible for the siege and destruction of Jerusalem and the Temple in AD 70.  The memory of that event is recorded on the sculptural reliefs of the Arch of Titus still standing in the Roman Forum.

The governor now took the opportunity for Paul to present his case to the king, who was a Jew.  The governor gives a slightly distorted account of the proceedings held in his presence with the Jews from Jerusalem.  In reply to the Jews’ demand to have Paul surrendered to them, Festus said that it was not in accordance with Roman law to hand someone over before he had a chance to speak in his own defence.

However, when the trial began in Festus’ presence, none of the charges he expected were brought forward.  Instead they were arguing about matters concerning their own religion and there was talk of a Jesus who had died, but whom Paul was claiming to be alive.  Festus wanted the Jews to deal with this issue themselves, but because Paul had appealed to Rome, he had to remain in custody until he could be sent to Caesar.  The emperor in question was Nero, who reigned (if that is the appropriate word) from AD 54-68.

While every stage in this story can be understood as taking place in response to the various actions of the participants, the incidents can also be seen as factors which were to bring Paul to the heart of the empire in Rome. Rome would in time become the centre of Christ’s Kingdom on earth. It is the fulfilment of the words of Jesus to the Apostles before his ascension:

…you will receive power when the Holy Spirit has come upon you, and you will be my witnesses in Jerusalem, in all Judea and Samaria, and to the ends of the earth. (Acts 1:8)

Once again, we see the finger of God behind every action of every person in the story.  His finger is in our life stories too.  Can we see that?  And where will we find him in today’s experiences?

Comments Off

 


Commentary on John 21:15-19

The Gospel reading is from the very end of John’s Gospel. The whole chapter is divided into three parts. In the first, seven of Jesus’ disciples are out fishing and have caught nothing. Then in the early dawn, as light breaks, a stranger on the shore tells them where to drop their nets. When they do so, they make a huge catch of fish and at that point the Beloved Disciple, the one with the deeper spiritual insight, exclaims:

It is the Lord!

They then bring the catch ashore.

In the second part, after coming ashore, the disciples find that a fire has been lit and a meal is ready for them, a meal of bread and fish—a Eucharistic meal. The disciples are somewhat confused. Jesus, on the one hand, does not look familiar and yet they know it is he.

At the end of the meal, Jesus begins to speak with Peter, although he addresses him by his own name, Simon:

Simon son of John, do you love me more than these?

It sounds like a simple question, but in fact it makes Peter very uncomfortable. He has not forgotten the shameful moment during the trial of Jesus when he swore three times that he had never laid eyes on Jesus. And this on top of an earlier boast that, even if all the others betrayed Jesus, Peter never would. He was in effect saying that he loved Jesus more than his other companions.

But now, in this scene, it is a more humble and remorseful Peter. After betraying his Master he had wept bitterly, deeply regretting his cowardice. Earlier on, when they were in the boat and the Beloved Disciple had cried, “It is the Lord!”, Peter immediately dressed himself. Only the innocent can go naked (like our First Parents in the garden before their sin), and Peter was deeply aware of his failings. At the same time, his diving into the water to get to Jesus first was a sign that, sinner though he may have been, he deeply loved his Lord.

Now, in answer to Jesus’ painful question, he simply replies:

Yes, Lord, you know that I love you.

And, of course, Jesus did know. The reconciliation then takes place and Peter is told:

Feed my sheep.

He is fully restored to his role as Peter, as the Rock on which the community will be built and to which he will be responsible.

But Jesus is not yet finished. Twice more he asks Peter if he loves his Master and twice more his leadership of the community is re-affirmed. Peter is all too conscious why he is being asked three times and it hurts:

Lord, you know all things; you know that I love you.

And, of course, it was true.

The second half of the passage, while spoken about Peter, seems almost a poem about the course of anyone’s life:

Very truly I tell you,
when you were younger
you dressed yourself
and went where you wanted;
but when you are old
you will stretch out your hands,
and someone else will dress you
and lead you where you do not want to go.

The Gospel writer interprets this poem saying:

Jesus said this to indicate the kind of death by which Peter would glorify God.

Peter’s witness will cost him his life, but will also lead the Church forward to growth unimaginable to Jesus’ original disciples.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/e1076g/

 

 


Friday, May 22, 2026

Easter Weekday

Opening Prayer

Lord our God,

you have appointed shepherds in your Church to speak your word to us and to build community in your name. We pray you today:

May they be shepherds like your Son who look for those who have lost the way, bring back the stray, bandage the wounded and make the weak strong. May they all be ministers of your tender love and service, as Jesus was, your Son and our Lord.

Gospel Reading - John 21: 15-19

When they had eaten, Jesus said to Simon Peter, 'Simon son of John, do you love me more than these others do?' He answered, 'Yes, Lord, you know I love you.' Jesus said to him, 'Feed my lambs.'

A second time he said to him, 'Simon son of John, do you love me?' He replied,

'Yes, Lord, you know I love you.' Jesus said to him, 'Look after my sheep.' Then he said to him a third time, 'Simon son of John, do you love me?' Peter was hurt that he asked him a third time, 'Do you love me?' and said, 'Lord, you know everything; you know I love you.' Jesus said to him, 'Feed my sheep. In all truth I tell you, when you were young you put on your own belt and walked where you liked; but when you grow old you will stretch out your hands, and somebody else will put a belt round you and take you where you would rather not go.' In these words he indicated the kind of death by which Peter would give glory to God. After this he said, 'Follow me.'

Reflection

We are in the last days before Pentecost. During the time of Lent the selection of the Gospels of the day continues the ancient tradition of the Church. Between Easter and Pentecost, the Gospel of John is preferred. And thus, during these last days, before Pentecost, the Gospels of the day narrate the last verses of the Gospel of John. When again we go to Ordinary time, we will go back to the Gospel of Mark. In the weeks of Ordinary Time, the Liturgy proceeds to a continuous reading of the Gospel of Mark (from the 1st to the 9th week of the Ordinary Time), of Matthew (from the 10th to 21st week of Ordinary Time) and of Luke from the 22nd to the 34th week of Ordinary Time).

The Gospel readings for today and for tomorrow speak about the last encounter of Jesus with his disciples. It was an encounter of celebration, marked by tenderness and affection. At the end Jesus calls Peter and asks him three times: “Do you love me?” Only after having received three times the same affirmative response, Jesus entrusts tO Peter the mission of taking care of the lambs. To be able to work in the community Jesus does not ask us many things. What he asks of us is to have much love!

           John 21: 15-17: Love in the center of the mission. After a whole night of fishing in the lake catching not even one fish, they go to the shore, the disciples discover that Jesus had prepared bread and roasted fish for them. When they finished eating, Jesus calls Peter and asks him three times: “Do you love me?” Three times, because Peter denied Jesus three times (Jn 18: 17, 25-27). After the three affirmative responses, Peter also becomes a “Beloved Disciple” and receives the order to take care of the lambs. Jesus does not ask Peter if he had studied exegesis, theology, Morals, or Canon Law. He only asks: “Do you love me?” Love in the first place. For the communities of the Beloved Disciple the force which supports and maintains united is not the doctrine, but love.

           John 21: 18-19: The foresight of death. Jesus tells Peter: Truly I tell you: when you were young, you put on your own belt and walked where you liked; but when you grow old you will stretch out your hands, and somebody else will put a belt round you and take you where you would rather not go! Throughout life, Peter and we also, attain maturity. The practice of love will take roots in life and the persons will no longer be the patrons of their own life. Service to the brothers and sisters out of love will prevail and will lead us. Somebody else will put a belt round you and take you where you would rather not go. This is the meaning of the following. And the Evangelist comments: “He tells him this to indicate the kind of death by which Peter would give glory to God”. And Jesus adds: “Follow me.”

           Love in John – Peter, do you love me? – The Beloved Disciple. The word love is one of the words which today are more used by us. Precisely, because of this, it is a word that has been greatly worn out. But the communities of the Beloved Disciple manifested their identity and their own project by this word. To love is, above all, a profound experience of relationship among persons in which there are similar sentiments and values: joy, sadness, suffering, growth, renunciation, dedication, fulfilment, gift, commitment, life, death, etc. All these together is summarized in the Bible in one only word in the Hebrew language. This word is hesed. Its translation in our language is difficult. Generally, in our Bibles it is translated by charity, mercy, fidelity, or love. The communities of the Beloved Disciple sought to live this practice of love in a very radical way. Jesus revealed this in his encounters with persons with sentiments of friendship and tenderness, as for example, in his relationship with the family of Martha and Mary of Bethany: “Jesus loved Martha and her sister and Lazarus.” He weeps before the tomb of Lazarus (Jn 11: 5, 33-36). Jesus always embodies his mission in a manifestation of love: “having loved his own, he loved them to the end” (Jn 13: 1). In this love, Jesus manifests his profound identity with the Father (Jn 15: 9). For his communities, there was no other commandment, except this one “to act as Jesus acted” (1 Jn 2: 6). This presupposes to love the brethren” (1 Jn 2: 7-11; 3: 11-24; 2 Jn 4-6). Being such a central commandment in the life of the community, the writings of John define love as follows: “This is the proof of love that he laid down his life for us and we too ought to lay down our lives for our brothers”. Our love should not be just words or mere talk but something active and genuine”. (1 Jn 3: 16-17). Anyone who lives this love and manifests it in words and attitudes becomes a Beloved Disciple.

For Personal Confrontation

           Look within you and say: which is the most profound reason which impels you to work in the community? Love or the concern for ideas?

           Considering the relationships among us, with God and with nature, what type of community are we constructing?

Concluding Prayer

Bless Yahweh, my soul,

from the depths of my being, his holy name; bless Yahweh, my soul, never forget all his acts of kindness. (Ps 103: 1-2)

www.ocarm.org

 

22.05.2026: THỨ SÁU TUẦN VII PHỤC SINH

 22/05/2026

 Thứ Sáu tuần 7 Phục Sinh

 


Bài Ðọc I: Cv 25, 13-21

“Ðức Giêsu đã chết mà Phaolô quả quyết là vẫn sống”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, vua Agrippa và Berni xuống Cêsarêa chào Phestô. Vì hai người lưu lại đó nhiều ngày, nên Phestô đem chuyện Phaolô trình nhà vua rằng: “Ở đây có một người tù Phêlixê để lại. Lúc tôi ở Giêrusalem, các thượng tế và kỳ lão Do-thái đã đến xin tôi lên án hắn. Tôi đã trả lời với họ rằng: “Người Rôma không có thói quen lên án người nào trước khi bị cáo đối diện với nguyên cáo, và có cơ hội bào chữa để thanh minh tội mình”. Vậy họ liền đến đây, ngày hôm sau tôi ngồi toà án, truyền điệu bị cáo đến. Các nguyên cáo đều có mặt, nhưng không đưa ra một tội trạng nào, như tôi đã ngờ trước; họ chỉ tố cáo hắn mấy điều về mê tín, về một Giêsu nào đó đã chết mà Phaolô quả quyết là vẫn sống. Ðang phân vân về vấn đề ấy, tôi hỏi hắn có muốn đi Giêrusalem để được xét xử tại đó về các điều ấy không. Nhưng Phaolô nại đến thẩm quyền của hoàng đế Augustô, nên tôi đã truyền giữ hắn lại để nạp cho hoàng đế”.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 102, 1-2. 11-12. 19-20ab

Ðáp: Chúa thiết lập ngai vàng Người ở cõi cao xanh

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá quên mọi ân huệ của Người. – Ðáp.

Xướng: Cũng như trời xanh cao vượt trên trái đất, lòng nhân Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người. Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi. – Ðáp.

Xướng: Chúa thiết lập ngai vàng Người ở cõi cao xanh, và vương quyền Người phủ trị trên khắp muôn loài. Hãy chúc tụng Chúa đi, chư vị thiên thần, dũng lực hùng anh, thi hành lời Chúa. – Ðáp.

 

Alleluia: Ga 14, 18

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng”. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! Thánh Thần sẽ dạy anh em mọi điều, và sẽ làm anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em. Alleluia)

 

Phúc Âm: Ga 21, 15-19

“Con hãy chăn dắt các chiên mẹ và chiên con của Thầy”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi Chúa Giêsu đã tỏ mình ra cho các môn đệ, Người dùng bữa với các ông, và hỏi Simon Phêrô rằng: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?” Ông đáp: “Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người bảo ông: “Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy”.

Người lại hỏi: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người bảo ông: “Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy”.

Người hỏi ông lần thứ ba: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?” Phêrô buồn phiền, vì thấy Thầy hỏi lần thứ ba “Con có yêu mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự: Thầy biết con yêu mến Thầy” Người bảo ông: “Con hãy chăn dắt các chiên mẹ của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho con biết: khi con còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu mặc ý, nhưng khi con già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn đến”. Chúa nói thế có ý ám chỉ Phêrô sẽ chết cách nào để làm sáng danh Thiên Chúa. Phán những lời ấy đoạn, Người bảo ông: “Con hãy theo Thầy”.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Công vụ Tông đồ 25,13-21

Chúng ta đang nhanh chóng tiến đến phần cuối của sách Công vụ Tông đồ. Chúng ta phải hoàn thành trong khoảng thời gian từ hôm nay đến ngày mai, tức là kết thúc mùa Phục Sinh. Tuần tới, chúng ta sẽ quay lại với phần được gọi là ‘Mùa Thường Niên’.

Sau khi Phao-lô được giải cứu khỏi sự náo loạn trong Tòa Công luận, một nhóm người Do Thái quyết tâm ám sát ông và đang âm mưu thực hiện điều đó. Tuy nhiên, cháu trai của Phao-lô đã biết được chuyện và báo tin cho người La Mã. Vì vậy, Phao-lô bị đưa ra khỏi Giê-ru-sa-lem và được đưa đến chỗ Thống đốc Phê-lích Xê-da-rê dưới sự canh gác nghiêm ngặt để chờ đợi những cáo buộc chính thức từ những người Do Thái tố cáo ông.

Cả người Do Thái và Phao-lô đều trình bày vụ việc của họ với Phê-lích bằng những lời lẽ tâng bốc nhất. Phê-lích khá thông cảm với Phao-lô và dường như biết về tín ngưỡng Ki-tô. Ông giam giữ Phao-lô thêm hai năm nữa vì ông thích thảo luận về tôn giáo—cho đến khi Phao-lô bắt đầu nói với ông về hành vi đạo đức và sự phán xét sắp đến. Cảm thấy có phần bất an (về hành vi của chính mình!), Phê-lích đã hoãn các cuộc gặp gỡ tiếp theo vô thời hạn. Ông ta cũng hy vọng nhận được hối lộ từ Phaolô để đẩy nhanh việc phóng thích mình (rõ ràng là không mong đợi Phaolô sẽ thực hành những gì ông rao giảng!).

Vị thống đốc tiếp theo, Phét-tô, có thiện cảm hơn với người Do Thái. Ông ta lại cho phép họ đến Xê-da-rê để đối chất với Phaolô tại tòa án. Biết được điều người Do Thái muốn, Phét-tô hỏi Phaolô liệu ông có sẵn lòng đến Jerusalem để bị xét xử hay không. Phaolô biết điều đó tương đương với án tử hình (thực tế người Do Thái đã lên kế hoạch giết ông trên đường đi), vì vậy ông đã chơi con át chủ bài cuối cùng của mình. Là một công dân La Mã, ông đã kháng cáo để được xét xử tại La Mã. Vị thống đốc lúc này không còn lựa chọn nào khác. Ông ta nói:

Tôi ra lệnh giam giữ ông ta cho đến khi tôi có thể gửi ông ta đến gặp hoàng đế.

Bây giờ chúng ta đến với bài đọc hôm nay. Chúng ta thấy Vua Agrippa và em gái Béc-ni-kê đến thăm Phét-tô Xê-da-rê. Theo thông lệ, các nhà cai trị thường đến thăm nhà cai trị mới vào thời điểm nhậm chức để bày tỏ thiện chí. Việc hai bên hòa thuận với nhau là có lợi cho cả hai bên. (Chúng ta có thể so sánh mối quan hệ giữa Hê-rô-đê An-ti-pa với Phong-xi-ô Phi-la-tô; xem đặc biệt Lu-ca 23,6-12.)

Agrippa và Béc-ni-kê là một cặp vợ chồng thú vị, nói một cách nhẹ nhàng. Agrippa, Bernice và Drusilla là con của vua Hê-rô-đê Agrippa I. Hê-rô-đê Agrippa II mới 17 tuổi khi cha ông qua đời vào năm 44 sau Công nguyên (Công vụ 12,23). Vì còn quá trẻ để kế vị cha mình, ông đã bị các quan tổng đốc La Mã thay thế. Tuy nhiên, tám năm sau, quyền lực lãnh thổ của ông bắt đầu được mở rộng dần dần. Cuối cùng, ông cai trị lãnh thổ phía bắc và đông bắc Biển Ga-li-lê, một số thành phố ở Ga-li-lê và một số thành phố ở Pê-rê-a. Trong cuộc nổi dậy của người Do Thái, khi Giê-ru-sa-lem thất thủ, ông đứng về phía người La Mã. Ông qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên - vị vua cuối cùng của dòng họ Hê-rô-đê.

Theo Kinh Thánh phiên bản Quốc tế Mới, Bernice:

“…khi mới 13 tuổi, bà kết hôn với chú của mình, Herod xứ Chalcis, và sinh được hai con trai. Khi Herod qua đời, bà sống với anh trai mình, Agrippa II. Để dập tắt những lời đồn đại rằng bà sống loạn luân với anh trai mình, bà kết hôn với Polemon, vua xứ Cilicia, nhưng sớm bỏ ông để trở về với Agrippa. Bà trở thành tình nhân của Titus, con trai của hoàng đế Vespasian, nhưng sau đó bị ông bỏ rơi.”

Titus, với tư cách là hoàng đế, chịu trách nhiệm về cuộc vây hãm và phá hủy Jerusalem và Đền thờ vào năm 70 sau Công nguyên. Ký ức về sự kiện đó được ghi lại trên các phù điêu điêu khắc của Khải Hoàn Môn Titus vẫn còn đứng vững trong Diễn đàn La Mã.

Viên thống đốc đã tận dụng cơ hội để Phaolô trình bày vụ việc của mình trước nhà vua, một người Do Thái. Viên thống đốc đưa ra một bản tường thuật hơi sai lệch về các thủ tục diễn ra trước sự chứng kiến ​​của ông ta với những người Do Thái đến từ Jerusalem. Đáp lại yêu cầu của người Do Thái về việc giao nộp Phaolô cho họ, Phét-tô nói rằng luật La Mã không cho phép giao nộp một người trước khi người đó có cơ hội tự bào chữa.

Tuy nhiên, khi phiên tòa bắt đầu trước sự chứng kiến ​​của Phét-tô, không có cáo buộc nào mà ông ta mong đợi được đưa ra. Thay vào đó, họ tranh luận về các vấn đề liên quan đến tôn giáo của họ và có lời bàn tán về một người tên là Jesus đã chết, nhưng Phaolô lại khẳng định người đó vẫn còn sống. Phét-tô muốn người Do Thái tự giải quyết vấn đề này, nhưng vì Phaolô đã kháng cáo lên La Mã, ông phải bị giam giữ cho đến khi có thể được gửi đến Xê-da. Hoàng đế được đề cập đến là Nero, người trị vì (nếu đó là từ thích hợp) từ năm 54 đến năm 68 sau Công nguyên. Mặc dù mỗi giai đoạn trong câu chuyện này đều có thể được hiểu là diễn ra do những hành động khác nhau của các nhân vật tham gia, nhưng các sự kiện cũng có thể được xem là những yếu tố đưa Phao-lô đến trung tâm của đế chế La Mã. La Mã sau này sẽ trở thành trung tâm của Vương quốc Chúa Kitô trên trái đất. Đó là sự ứng nghiệm lời Chúa Giê-su nói với các tông đồ trước khi Ngài thăng thiên:

…các ngươi sẽ nhận được quyền năng khi Đức Thánh Linh giáng xuống trên các ngươi, và các ngươi sẽ làm chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, khắp Giu-đê và Sa-ma-ri, cho đến tận cùng trái đất. (Công vụ Tông đồ 1,8)

Một lần nữa, chúng ta thấy bàn tay của Chúa đằng sau mỗi hành động của mỗi người trong câu chuyện. Bàn tay của Ngài cũng hiện diện trong câu chuyện cuộc đời chúng ta. Chúng ta có thể nhận ra điều đó không? Và chúng ta sẽ tìm thấy Ngài ở đâu trong những trải nghiệm ngày nay?

 

 


Chú giải về Gioan 21,15-19

Bài đọc Phúc Âm này trích từ phần cuối cùng của Phúc Âm Gioan. Toàn bộ chương được chia thành ba phần. Trong phần đầu, bảy môn đệ của Chúa Giêsu đi đánh cá và không bắt được gì. Rồi vào lúc rạng đông, khi ánh sáng ló dạng, một người lạ trên bờ chỉ cho họ chỗ thả lưới. Khi họ làm theo, họ bắt được rất nhiều cá và ngay lúc đó, môn đệ yêu dấu, người có sự hiểu biết tâm linh sâu sắc hơn, kêu lên:

Đó là Chúa!

Rồi họ mang cá vào bờ.

Trong phần thứ hai, sau khi vào bờ, các môn đệ thấy lửa đã được đốt và bữa ăn đã sẵn sàng cho họ, một bữa ăn gồm bánh và cá—một bữa ăn Thánh Thể. Các môn đệ có phần bối rối. Một mặt, Chúa Giêsu trông không quen thuộc, nhưng mặt khác, họ biết đó là Ngài.

Sau bữa ăn, Chúa Giêsu bắt đầu nói chuyện với Phê-rô, mặc dù Ngài gọi ông bằng tên riêng của mình, Si-môn:

Si-môn con của Gioan, con có yêu mến Ta hơn những người này không?

 Nghe có vẻ là một câu hỏi đơn giản, nhưng thực tế nó khiến Phê-rô rất khó chịu. Ông vẫn chưa quên khoảnh khắc xấu hổ trong phiên tòa xét xử Chúa Giê-su khi ông thề ba lần rằng mình chưa từng nhìn thấy Chúa Giê-su. Và điều này còn chồng chất thêm lời khoe khoang trước đó rằng, ngay cả khi tất cả những người khác phản bội Chúa Giê-su, Phê-rô cũng sẽ không bao giờ làm vậy. Thực chất, ông đang nói rằng ông yêu Chúa Giê-su hơn những người bạn đồng hành khác của mình.

Nhưng giờ đây, trong cảnh này, đó là một Phê-rô khiêm nhường và hối hận hơn. Sau khi phản bội Thầy mình, ông đã khóc nức nở, vô cùng hối tiếc về sự hèn nhát của mình. Trước đó, khi họ ở trên thuyền và môn đồ yêu dấu đã kêu lên: “Là Chúa!”, Phê-rô lập tức mặc quần áo vào. Chỉ những người vô tội mới có thể trần truồng (giống như Tổ phụ chúng ta trong vườn Ê-đen trước khi phạm tội), và Phê-rô nhận thức sâu sắc về những thiếu sót của mình. Đồng thời, việc ông nhảy xuống nước để đến với Chúa Giê-su trước tiên là một dấu hiệu cho thấy, dù là một tội nhân, ông vẫn yêu thương Chúa mình sâu sắc.

Giờ đây, để trả lời câu hỏi đau lòng của Chúa Giê-su, ông chỉ đơn giản đáp:

Vâng, thưa Chúa, Chúa biết con yêu Chúa.

Và dĩ nhiên, Chúa Giê-su biết điều đó. Sau đó, sự hòa giải diễn ra và Phê-rô được bảo:

Hãy chăn chiên của Ta.

Ông được phục hồi hoàn toàn vai trò của mình là Phê-rô, là Đá tảng mà cộng đồng sẽ được xây dựng trên đó và ông sẽ chịu trách nhiệm.

Nhưng Chúa Giê-su vẫn chưa xong. Hai lần nữa, Ngài hỏi Phê-rô có yêu Thầy mình không và hai lần nữa, vai trò lãnh đạo cộng đồng của ông được tái khẳng định. Phê-rô ý thức rõ lý do tại sao mình bị hỏi ba lần và điều đó làm ông đau lòng:

Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự; Chúa biết con yêu Chúa.

Và dĩ nhiên, điều đó là sự thật.

Nửa sau của đoạn văn, mặc dù nói về Phê-rô, dường như gần như là một bài thơ về cuộc đời của bất kỳ ai:

Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi,

khi các ngươi còn trẻ,

các ngươi tự mặc quần áo

và đi đến nơi các ngươi muốn;

 

nhưng khi các ngươi già,

các ngươi sẽ giơ tay ra,

và người khác sẽ mặc quần áo cho các ngươi

và dẫn các ngươi đến nơi các ngươi không muốn đến.

 

Người viết Phúc Âm giải thích bài thơ này như sau:

Chúa Giê-su nói điều này để chỉ ra kiểu chết mà Phê-rô sẽ làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Lời chứng của Phê-rô sẽ khiến ông phải trả giá bằng mạng sống, nhưng cũng sẽ dẫn dắt Giáo hội tiến lên phía trước, phát triển vượt bậc so với những môn đệ đầu tiên của Chúa Giê-su.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/e1076g/

 


 

Suy niệm: Yêu mến hơn

Hai người tiền phong. Phê-rô và Phao-lô. Đá Tảng và Trụ Đồng nâng đỡ Giáo hội. Hai tông đồ trưởng. Hai tâm hồn ưu tuyển. Với chỉ một điều kiện: Yêu Mến Hơn.

Chúa Giê-su hỏi Phê-rô: “Này anh Si-mon, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không”? Đây là lời mời gọi thứ hai. Cách lời mời gọi đầu khoảng 3 năm. Lời mời gọi đầu khi Chúa Giê-su khởi sự đời công khai. Khi Phê-rô còn bồng bột hăng say. Chúa mời gọi ông hãy đi chinh phục: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ lưới người như lưới cá”. Và Phê-rô hăng say đáp trả: “Dù mọi người bỏ Thầy, con quyết không bỏ Thầy”.

Hôm nay lời mời gọi đi vào chiều sâu: Con có yêu mến Thầy hơn những anh em này không? Chúa cần tình yêu. Tình yêu là đủ. Và Chúa trao nhiệm vụ mới. Không phải đi chinh phục. Nhưng quan tâm chăm sóc đoàn chiên: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”. Phê-rô thưa lại. Tuy không bồng bột hăng say. Nhưng đầy quyết tâm và sâu lắng: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy”. Sau tất cả những gì đã trải qua, lời đáp trả thật sự sâu lắng, vững chắc, nhưng cũng đầy khiêm tốn. Chúa cũng không úp mở hứa hẹn. Thẳng thắn báo trước cái chết. Nhưng Phê-rô vẫn cương quyết bước theo. Đó chính là tình yêu đã lớn manh. Đã yêu mến hơn.

Thánh Phao-lô cũng đi trên con đường yêu mến hơn. Từ khi được biết Chúa, ngài yêu mến. Đến nỗi cùng chịu đóng đinh với Chúa. Để từ nay không còn sống cho chính mình nữa. Chỉ sống cho Chúa. Để Chúa sống trong ngài. “Tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách” ngài. Khiến ngài ra đi không ngừng nghỉ. Rao giảng trở thành lẽ sống. “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Biết chắc “xiềng xích và Thánh Thần đang chờ đợi”, nhưng ngài luôn hiên ngang tiến bước. Chỉ ước mong được hi sinh cho Chúa và cho anh em: “Tôi hoàn thành nơi thân xác tôi những cực hình còn thiếu sót nơi cuộc khổ nạn của Chúa. Hầu sinh ơn ích cho Giáo hội”.

Hôm nay Chúa đang cần những tâm hồn yêu mến hơn. Chúng ta có quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa không? Hôm nay Chúa cũng muốn hỏi tôi: “Con có yêu mến Thầy hơn những anh em này không”? Tôi đáp lại thế nào?

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)