Thông Điệp Magnifica Humanitas Của Đức Giáo Hoàng Leo XIV Về Việc Bảo Vệ
Con Người Trong Thời Đại Trí Tuệ Nhân Tạo
Dẫn nhập
1.Nhân loại, được Thiên Chúa tạo dựng trong tất cả sự vĩ đại của nó, ngày nay
đang đối diện với một sự lựa chọn then chốt: hoặc xây dựng một Tháp Baben mới
hoặc xây dựng thành phố nơi Thiên Chúa và nhân loại cùng chung sống. Mỗi thế hệ
thừa hưởng nhiệm vụ định hình thời đại của mình, hướng dẫn lịch sử trở thành một
nơi mà phẩm giá của mỗi người được bảo vệ, công lý được cổ vũ và tình huynh đệ
được làm cho khả hữu. Tuy nhiên, mỗi thời đại cũng có nguy cơ tạo ra một thế giới
vô nhân đạo và bất công hơn. Bất cứ khi nào nhân loại có nguy cơ làm tổn hại đến
bản sắc thực sự của mình, chúng ta, những người Kitô hữu, hướng mắt lên Thiên
Chúa Nhập Thể, biết rằng “chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể thì mầu nhiệm
nhân tính mới thực sự được sáng tỏ.” [1] Trong Chúa Giêsu Kitô, nhân tính này
trong sự vĩ đại của nó trở thành Đường đi, Chân lý và Sự sống, mở ra con đường
cho mỗi người chúng ta trưởng thành hướng tới sự trọn vẹn.
2. Được xây dựng trên Chúa Kitô, viên đá sống, chúng ta trải nghiệm hoạt động mạnh
mẽ và huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần, và chúng ta tin rằng mọi nỗ lực chân
chính của con người để cộng tác với Người vì điều thiện sẽ được Cha trên trời
chúc phúc, Đấng mà nơi Người chúng ta đặt niềm hy vọng. Vì lý do này, chúng ta
có thể siêng năng đóng góp vào mọi sáng kiến xây dựng một thế giới công bằng
hơn, và chúng ta có thể kêu gọi những người khác cộng tác trong việc cổ vũ sự
phát triển toàn diện của mỗi con người. Chúng ta mong muốn tham gia đối thoại với
tất cả mọi người nam nữ trong thời đại chúng ta, những người cùng chia sẻ với
chúng ta những các biến cố, câu hỏi và khát vọng của nhân loại. [2] Cùng với họ,
chúng ta tìm cách xác định những con đường mới vì lợi ích chung và để cổ vũ một
cuộc sống xứng đáng cho tất cả mọi người. Thật vậy, sự cởi mở đối thoại là một
phần không thể thiếu trong ơn gọi của Giáo hội bởi vì, được cấu thành trong
Chúa Kitô như “một bí tích… của sự hiệp thông với Thiên Chúa và sự hiệp nhất của
toàn thể nhân loại,” [3] Giáo hội nhận ra lịch sử là nơi mà Tin Mừng thách thức
và hướng dẫn kinh nghiệm của con người.
3. Trong tinh thần này, Giáo hoàng Leo XIII đã ban hành Thông điệp Rerum
Novarum vào năm 1891, năm nay chúng ta kỷ niệm 135 năm ngày ban hành với
lòng biết ơn sâu sắc. Với văn kiện đó, vị tiền nhiệm yêu quý của tôi đã cổ vũ sự
suy tư về xã hội, kinh tế và chính trị, mà ngày nay được gọi là “Học thuyết Xã
hội của Giáo hội”. Khi một số người phản đối rằng Giáo hội không nên lãng phí
năng lực vào những vấn đề thế tục, mà thay vào đó nên tập trung vào việc truyền
đạt thông điệp về sự sống vĩnh cửu, Đức Leo XIII đã đáp lại bằng chủ nghĩa thực
tiễn và khôn ngoan; Người nói rằng việc rao giảng Tin Mừng không thể bỏ qua cuộc
sống cụ thể của con người. [4] Nhiều thập niên đã trôi qua kể từ đó, và Giáo
quyền, các mục tử, các nhà thần học và các tín hữu đã tiếp tục suy gẫm về các vấn
đề xã hội dưới ánh sáng của Tin Mừng. Ngày nay, Học thuyết Xã hội của Giáo hội là
một di sản của sự khôn ngoan, nơi chúng ta tìm thấy các nguyên tắc tư duy, tiêu
chuẩn phân định và phán xét, và các hướng dẫn cụ thể cho hành động. Được xây dựng
trên Thánh Kinh và Truyền thống, và gắn kết với các ngành khoa học, nó giúp
chúng ta hiểu rõ những thách thức của hiện tại và xác định những cách thức
thích hợp để sống một chứng nhân Kitô giáo rõ ràng, với niềm vui và phục vụ thế
giới. Nó không phải là một tập hợp các khái niệm bất động, mà là một kho tàng
chân lý sống động bảo vệ và giải thích ơn gọi của nhân loại hướng tới một cuộc
sống trọn vẹn và công chính. Do đó, tôi muốn góp thêm tiếng nói của mình vào
truyền thống sống động này, cầu xin sự giúp đỡ của Thần Khí khôn ngoan, Đấng đã
ngự trong thế gian từ thuở ban đầu (xem Châm ngôn 8:22-31).
Những điều mới mẻ của thời đại chúng ta
4. Trong khi Đức Leo XIII đã nói về “những điều mới mẻ” (rerum novarum)
vào thời của Người, ngày nay chúng ta không thể chỉ giới hạn mình ở việc lặp lại
những lời dạy sâu sắc của Người. Thay vào đó, chúng ta phải cầu xin Chúa ban
cho sự khôn ngoan để giải thích những xu hướng lớn của thời đại chúng ta, đặc
biệt là những tiến bộ kỹ thuật. Trong những năm gần đây, ngày càng rõ ràng hơn
về tốc độ và mức độ sâu sắc mà kỹ thuật số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot
đang biến đổi thế giới của chúng ta. Kỹ thuật không nên được coi, tự thân nó,
như một lực lượng đối kháng với nhân loại. Ngược lại, nó đã là một phần của lịch
sử chúng ta ngay từ đầu như “một thực tại nhân bản sâu sắc, gắn liền với quyền
tự chủ và tự do của con người.” [5] Trải qua nhiều thế kỷ, sự phát triển kỹ thuật
đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của nhân loại. Đồng thời, mỗi giai đoạn tiến
bộ cũng đã bộc lộ sự mơ hồ của các công cụ có thể gây hại khi không hướng đến
điều tốt đẹp. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta thấy mình đang đối diện với một tình
huống mới. Sức mạnh và sự phổ biến của các kỹ thuật mới nổi được đan xen vào cấu
trúc của cuộc sống hàng ngày, định hình các quy trình ra quyết định và ảnh hưởng
sâu sắc đến trí tưởng tượng tập thể: “Chưa bao giờ nhân loại lại có quyền lực đối
với chính mình như vậy.” [6] Các kỹ thuật mới mở ra một chân trời trải dài theo
những hướng có thể tưởng tượng được nhưng chưa thể dự đoán đầy đủ. Điều này làm
phức tạp việc đánh giá tác động tiềm tàng của chúng và những ảnh hưởng lâu dài
mà chúng có thể gây ra đối với cả phẩm giá của cá nhân và lợi ích chung.
5. Giờ đây, chúng ta phải đối diện với những thách thức của thời đại với tư duy
rõ ràng và trách nhiệm. Cần phải thiết lập các quy định thích hợp các công cụ
có khả năng duy trì công lý và kiềm chế những tác động bóp méo của sức mạnh kỹ
thuật. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ giới hạn ở việc điều chỉnh. Như Đức Giáo
Hoàng Phanxicô đã cảnh báo, chúng ta phải thực tế tự hỏi ai đang nắm giữ quyền
lực này ngày nay và họ sử dụng nó như thế nào: “Cũng phải thừa nhận rằng năng lực
hạt nhân, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật thông tin, kiến thức về DNA của chính
chúng ta và nhiều khả năng khác mà chúng ta đã có được… đã trao cho những người
có kiến thức, và đặc biệt các nguồn lực kinh tế để sử dụng chúng, một sự thống
trị ấn tượng đối với toàn thể nhân loại và toàn thế giới.” [7] Trong quá khứ,
phần lớn việc hướng dẫn và chỉ đạo đổi mới thuộc về Nhà nước. Tuy nhiên, ngày
nay, động lực chính của sự phát triển là các bên tư nhân, thường là xuyên quốc
gia, được trang bị nguồn lực và khả năng can thiệp vượt trội so với nhiều Chính
phủ. Do đó, sức mạnh kỹ thuật mang một khía cạnh “tư nhân” chưa từng có, điều
này càng làm cho việc phân định, quản lý và định hướng sức mạnh đó hướng tới lợi
ích chung trở nên khó khăn hơn.
6. Vì lý do này, cần phải bắt đầu một quá trình phân định chung để xác định nguồn
gốc tinh thần và văn hóa của những chuyển đổi đang diễn ra. Nếu chúng ta chỉ tập
trung vào những tình huống bất ngờ, chúng ta có nguy cơ để cho chuỗi các tình
huống khẩn cấp định hướng con đường của mình. Chúng ta đang sống trong một giai
đoạn chuyển đổi nhanh chóng, một “thời đại mới”, trong đó – trong khi một số
người đang tranh giành tương lai của các kỹ thuật mới và những người khác dành
thời gian để suy gẫm về vấn đề này – thì hầu hết mọi người đang quan sát và chờ
đợi, theo dõi từ xa và chỉ hy vọng điều tốt đẹp nhất. Chính vì lý do này, những
câu hỏi quan trọng đặt ra trong lương tâm chúng ta và không thể tránh khỏi nữa:
Chúng ta đang đi đâu? Chúng ta muốn hướng tới mục tiêu nào? Chúng ta nên chọn
hướng đi nào với tư cách là một dân tộc và một cộng đồng nhân loại?
Hai hình ảnh trong Kinh Thánh
7. Để trả lời những câu hỏi này và phân định cách thức điều hướng một cách có
trách nhiệm trong kỷ nguyên Trí tuệ Nhân tạo, tôi muốn gợi nhớ đến hai cảnh
trong Kinh Thánh: việc xây dựng Tháp Baben (xem Sáng thế 11:1-9)
và việc xây dựng lại các bức tường thành Giêrusalem (xem Nơ-khe-mi-a 2-6).
Câu chuyện về Baben xuất hiện trong Sách Sáng thế, ở nguồn gốc của loài người,
ngay sau gia phả của các con trai Nô-ê. Sau khi định cư trên một vùng đồng bằng
ở xứ Shinar, dân chúng quyết định xây dựng một thành phố và một tòa tháp “đỉnh
cao đến tận trời” (Sáng thế 11:4). Lo sợ bị phân tán khắp trái đất,
họ tìm cách đảm bảo sự ổn định và quyền lực cho bản thân, và trên hết là để “tạo
dựng danh tiếng” cho mình. Đó là một kỳ tích ấn tượng: một ngôn ngữ duy nhất, một
kỹ thuật duy nhất, một hướng đi duy nhất. Tuy nhiên, dự án này ẩn chứa một mối
nguy hiểm sâu xa. Đó là một dự án được hình thành mà không tham khảo ý kiến của
Thiên Chúa, được hỗ trợ bởi một sự đồng nhất loại bỏ sự đa dạng và chọn sự đồng
nhất hóa hơn là sự hiệp thông. Khi một thành phố được xây dựng trên sự kiêu ngạo
và tuyên bố về sự tự cung tự cấp, sự thông đạt sẽ bị gián đoạn, ngôn ngữ bị lẫn
lộn và mọi người không còn hiểu nhau nữa. Kết quả không phải là sự thống nhất,
mà là sự phân tán. Do đó, tháp Baben cho thấy giới hạn của bất cứ nỗ lực nào,
dù vĩ đại đến đâu, xuất phát từ sự tự khẳng định, hy sinh phẩm giá con người vì
hiệu năng và khao khát vươn tới thiên đường mà không có sự chúc phúc của Thiên
Chúa.
8. Đến lượt mình, sách Nơ-khe-mi-a khai mở vào thời điểm dễ bị tổn thương lớn
trong lịch sử Israel cổ thời. Sau cuộc lưu đày ở Babylon, một phần dân chúng trở
về Giêrusalem, nhưng thành phố vẫn còn đổ nát, tường thành sụp đổ và cổng thành
bị cháy rụi (xem Nơ-khe-mi-a 1-2). Nơ-khe-mi-a, một người Do
Thái phục vụ vua Ba Tư Artaxerxes, nhận được tin về tình trạng thảm khốc của
thành phố tổ tiên mình. Trước khi hành động, ông đã nhịn ăn, cầu nguyện và cầu
thay cho dân chúng. Sau đó, ông xin phép nhà vua trở về Giêrusalem và khi đến
nơi, ông lặng lẽ xem xét các khu vực bị tàn phá. Ông không áp đặt giải pháp từ
trên xuống. Ông triệu tập các gia đình, giao cho mỗi gia đình một phần tường
thành để xây dựng lại, lắng nghe những lo lắng của họ, phối hợp nỗ lực của họ
và giải quyết mọi sự phản đối. Câu chuyện cho thấy thành phố được tái sinh như
thế nào, không phải nhờ sáng kiến của một người, mà nhờ trách nhiệm chung của tất
cả mọi người: đàn ông, đàn bà, thầy tế lễ, thợ thủ công, chủ hộ và thanh niên đều
đóng một vai trò. Đó là một công việc đặt Chúa ở trung tâm, xây dựng lại các mối
quan hệ trước khi xây dựng lại bằng đá. Như vậy, Giêrusalem cổ thời tái khám
phá một ngôn ngữ chung — không phải là ngôn ngữ của sự đồng nhất, mà là ngôn ngữ
của sự hiệp thông, cụ thể là sự hài hòa nảy sinh khi tất cả mọi người đảm nhận
vai trò của mình và nhận ra rằng sức mạnh của họ đến từ Thiên Chúa.
9. Dựa trên hai hình ảnh này, Chúa Thánh Thần thách thức chúng ta ngày nay về mối
quan hệ của chúng ta với kỹ thuật và cuộc cách mạng kỹ thuật số đang diễn ra.
Những khám phá khoa học là những tài năng được giao phó cho nhân loại để chúng
có thể sinh hoa kết trái (xem Mt 25:14-30). Kỹ thuật có sức mạnh
để chữa lành, kết nối, giáo dục và bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta; nhưng nó
cũng có thể chia rẽ, loại trừ và tạo ra những hình thức bất công mới. Về mặt trừu
tượng, kỹ thuật trong bà tự nó không phải là giải pháp cho các vấn đề của nhân
loại, cũng như nó không cố hữu xấu xa. Tuy nhiên, trên thực tế, kỹ thuật không
bao giờ trung lập, bởi vì nó mang đặc điểm của những người thiết kế, tài trợ,
điều chỉnh và sử dụng nó. Do đó, sự lựa chọn chính không phải là giữa
"có" hay "không" với kỹ thuật, mà là giữa việc xây dựng
tháp Baben hay xây dựng lại Giêrusalem; giữa một quyền lực tuyên bố thống trị
trời đất và một dân tộc cùng nhau làm việc trước sự hiện diện của Chúa để xây dựng
lại bức tường chung sống huynh đệ.
10. Do đó, chúng ta phải tránh "hội chứng Baben", cụ thể là sự sùng
bái lợi nhuận hy sinh kẻ yếu, sự đồng nhất làm vô hiệu hóa sự khác biệt, và cao
ngạo cho rằng một ngôn ngữ duy nhất - thậm chí là ngôn ngữ kỹ thuật số - có thể
phiên dịch mọi điều, bao gồm cả mầu nhiệm con người, thành dữ liệu và hiệu suất.
Nguy cơ phi nhân hóa - xây dựng một tương lai loại trừ Chúa và biến người khác
thành phương tiện - là một cám dỗ cổ xưa và luôn mới mẻ mà ngày nay mang hình
hài kỹ thuật. Thay vào đó, chúng ta hãy chọn “con đường của Nơ-khe-mi-a”, con
đường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cùng nhau xây dựng Thành phố của Thiên
Chúa hành một nơi an toàn cho những người lưu vong trở về. Việc xây dựng lại
ngày nay có nghĩa là nhận ra rằng, chính từ sự đa dạng của các tiếng nói và tầm
nhìn – dù đôi khi chúng nhắc nhở chúng ta về sự hỗn loạn do sự đa dạng của các
ngôn ngữ nói gây ra – một khả năng tươi sáng xuất hiện. Thật vậy, đó là khả
năng cùng nhau xây dựng, biến sự đa dạng thành một nguồn lực và biến việc lắng
nghe và đối thoại thành nền tảng chung để vun đắp công lý và tình huynh đệ.
Trong nhiệm vụ chung này, các Kitô hữu khám phá ra vai trò độc đáo của mình
trong việc hướng dẫn hành động về phía Thiên Chúa để, trong ánh sáng của Người,
chủ nghĩa đa nguyên không tan biến thành sự hỗn loạn, mà thay vào đó, thông qua
việc thực hành tính đồng nghị, nó trở thành không gian trong đó nhân loại tái
khám phá nền tảng vững chắc và mục đích cuối cùng của mình. Trong sách Khải Huyền,
Thánh Gioan nhìn thấy Giêrusalem Mới “từ trời xuống từ Thiên Chúa” (Khải Huyền 21:2)
như một oo7n phúc cho toàn thể nhân loại. Và tầm nhìn về ân sủng này là lời mời
gọi chúng ta, những người Kitô hữu, cùng nhau làm việc để thúc đẩy một cuộc sống
hòa bình, công bằng và phẩm giá trong cộng đồng trong “các thành phố” ngày nay.
Xây dựng vì lợi ích chung
11. Xây dựng một thành phố dựa trên lợi ích chung trước hết và trên hết có
nghĩa là xây dựng trên một mối quan hệ vững chắc với Chúa. Điều đó có nghĩa là
nhận ra rằng chân lý về tình yêu của Người kêu gọi chúng ta sống “trong tất cả
sự trọn vẹn của nó” (Ga 10:10) và hiệp thông với Người. Giống như
Thánh Augustinô, chúng ta cũng có thể nói: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng chúng
con cho chính Chúa, và lòng chúng con không yên nghỉ cho đến khi được yên nghỉ
trong Chúa.” [8] Thật vậy, Chúa đã khắc ghi trong lòng chúng ta một khát vọng hạnh
phúc bao trùm tất cả các chiều kích của cuộc sống. Giáo hội, trong cuộc đối thoại
với những người nam nữ thời đại chúng ta, nhận ra nhu cầu cấp thiết phải bảo vệ
và hướng dẫn khát vọng này hướng tới chân lý sâu sắc nhất của nó.
12. Thứ hai, xây dựng vì lợi ích chung có nghĩa là chấp nhận những giới hạn và
điểm yếu của nhân loại mà không coi chúng là một sai lầm cần được sửa chữa.
Ngày nay, khát vọng về sự trọn vẹn của cuộc sống đang có nguy cơ bị lừa dối bởi
những mục tiêu sai lầm, chẳng hạn như triển vọng về một kỹ thuật hứa hẹn giải
phóng chúng ta khỏi mọi điểm yếu, và các mô hình hạnh phúc bỏ lại phía sau toàn
bộ dân số. Thường thì, chúng ta đặt hy vọng vào những “nâng cấp” không giới hạn,
vào những hình thức tiến bộ làm trầm trọng thêm bất bình đẳng, và vào những giải
pháp tức thời không thể hàn gắn vết thương của con người. Kết quả là, trong khi
một số người theo đuổi ảo tưởng về sự tự khẳng định không giới hạn, nhiều người
lại bị tước đoạt những nhu cầu cơ bản. Giáo hội nhắc nhở chúng ta, với một giọng
nói kiên định nhưng khiêm nhường, rằng sự viên mãn thực sự không đạt được bằng
cách loại bỏ điểm yếu mà thông qua sự phát triển hài hòa. Nó được tìm thấy ở
nơi tự do và trách nhiệm đan xen với sự quan tâm lẫn nhau và tình liên đới thực
sự, và nơi tiến bộ được đo lường bằng phẩm giá của mỗi người và lợi ích của tất
cả mọi người.
13. Thứ ba, xây dựng một thế giới mà mọi người đều có thể phát triển thịnh vượng
đòi hỏi trách nhiệm và lòng can đảm chung. Không ai có thể một mình gánh vác trọng
trách của những thách thức mà thế giới đang phải đối diện, cũng như không ai yếu
đuối đến mức không thể đóng góp phần của mình, vì “sức mạnh được hoàn thiện
trong sự yếu đuối” (2 Cô-rinh-tô 12:9). Tất cả đều được giao phần
riêng của mình trên bức tường: các nhà khoa học và nhà nghiên cứu, các doanh
nhân và công nhân, các nhà giáo dục và nhà lập pháp, xã hội dân sự, các phong
trào quần chúng và các cộng đồng tín ngưỡng. Đây là luận lý học của nguyên tắc
phụ đới, coi trọng sự hợp tác giữa các thế hệ, các dân tộc, các ngành và các nền
văn hóa như là cách tốt nhất để thúc đẩy sự ổn định, thịnh vượng và hòa bình.
Chúng ta không nên bị đe dọa bởi những căng thẳng hay khác biệt vì chúng có thể
trở thành những động lực sáng tạo khi được dẫn dắt bởi trách nhiệm chung.
14. Cuối cùng, xây dựng vì lợi ích chung đòi hỏi một ngôn ngữ mang tính Tin Mừng.
Chúng ta phải tránh những lời lẽ xúc phạm hoặc đối kháng, thay vào đó chọn sự
rõ ràng soi sáng và sự thẳng thắn mở ra những khả năng mới. Chúng ta không thể
dung thứ cho sự nhiệt tình ngây thơ, cũng không thể nuôi dưỡng những nỗi sợ hãi
vô căn cứ. Thay vào đó, chúng ta hãy thiết lập các tiêu chuẩn để phân định — phẩm
giá của nhân vị, điểm đến phổ quát của của cải, việc ưu tiên chọn người nghèo,
chăm lo cho ngôi nhà chung và hòa bình của chúng ta — và chúng ta hãy chuyển những
tiêu chuẩn này thành những thực tiễn như quy hoạch có trách nhiệm, đánh giá tác
động xã hội và con người, sự hòa nhập của những người dễ bị tổn thương nhất,
thúc đẩy khả năng đọc viết kỹ thuật số và hướng nghiên cứu và kỹ nghệ hướng tới
công lý và hòa bình.
Giữ vững nhân tính
15. Trong Năm Thánh Thường lệ 2025 vừa qua, chúng ta đã bước đi như những người
hành hương của hy vọng và được ban nhiều ân sủng. Được củng cố bởi những ơn
lành này, chúng ta có thể tự tin tiến về phía trước để đối diện với những nhiệm
vụ khó khăn và những thách thức đầy đòi hỏi ở phía trước. Trong kỷ nguyên trí
tuệ nhân tạo, khi phẩm giá con người bị đe dọa bởi những hình thức phi nhân hóa
mới, nhiệm vụ cấp bách của chúng ta là phải giữ vững nhân tính sâu sắc. Chúng
ta phải yêu thương bảo vệ sự vĩ đại của nhân tính được ban tặng cho chúng ta và
được bày tỏ trọn vẹn trong Chúa Kitô, vẻ huy hoàng mà không một cỗ máy nào có
thể thay thế được. Sự tiến bộ thực sự luôn bắt nguồn từ một trái tim rộng mở với
người khác, một trí tuệ sẵn sàng lắng nghe và một ý chí tìm kiếm những gì đoàn
kết hơn là những gì chia rẽ.
16. Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các tín hữu Công Giáo, tất cả các Kitô hữu và
tất cả những người thiện chí. Chúng ta đừng ngại xắn tay áo vào “công trường
xây dựng” của thời đại chúng ta. Giống như Nơ-khe-mi-a, chúng ta hãy cầu nguyện,
lập kế hoạch khôn ngoan và làm việc kiên trì, đặt Chúa lên hàng đầu trong mọi
hành động và con người làm trung tâm trong mọi lựa chọn của mình. Như vậy, những
“hòn đá bị loại bỏ” – người nghèo, người bệnh, người di cư và những người thấp
kém nhất trong chúng ta – sẽ trở thành hòn đá góc, và một ngôi nhà chung vững
chắc, ấm áp sẽ hiện hữu trên trái đất, nơi tình yêu thương và lòng trung tín cuối
cùng sẽ gặp nhau, và sự công chính và hòa bình sẽ ôm lấy nhau (xem Tv 85:10).
Đây là ơn lành mà chúng ta cầu xin Chúa; và nhiệm vụ trước mắt chúng ta là trở
thành những người xây dựng sự hiệp thông, chứ không phải là những kiến trúc sư
của tháp Baben. Chúng ta phải là những người phục vụ Nước Trời sắp đến, chứ
không phải là những chúa tể của những tòa tháp định sẵn sẽ sụp đổ. Với tấm lòng
của một người chăn chiên và một người cha, tôi kêu gọi mọi người hãy từ bỏ việc
xây dựng thêm một Tháp Baben nữa và cùng chung tay xây dựng lợi ích chung, để
nhân loại không bao giờ đánh mất vẻ đẹp của mình, và thế giới một lần nữa sẽ nhận
ra trái tim con người là nơi mà Thiên Chúa muốn ngự trị.
CHƯƠNG MỘT: MỘT PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NĂNG ĐỘNG TRUNG THÀNH VỚI TIN MỪNG
17. Trong chương đầu tiên này, tôi dự định trình bày một cách tổng quát về cách
Học thuyết Xã hội của Giáo hội đã hình thành trong Huấn quyền Giáo hoàng gần
đây và trong Công đồng Vatican II, để chứng minh tính chất năng động của nó. Thật
vậy, trong mỗi thời đại, những điều mới mẻ đòi hỏi giáo huấn này phải giải quyết
các vấn đề lịch sử dưới ánh sáng của Chân lý mặc khải. Về vấn đề này, trí tuệ
nhân tạo cũng không nên được coi chỉ đơn thuần là một chủ đề khác để nghiên cứu
hoặc một cuộc khủng hoảng cần được quản lý, mà đúng hơn là một sự phát triển
thách thức các phạm trù của Học thuyết Xã hội từ bên trong, kêu gọi sự phát triển
hơn nữa của chúng trong sự trung thành với Tin Mừng.
18. Tuy nhiên, tổng quan này sẽ không dễ hiểu nếu, trước khi suy gẫm về đóng
góp của từng vị Giáo hoàng và các văn kiện quan trọng nhất của họ, chúng ta
không làm rõ trước một số nguyên tắc cơ bản liên quan đến cách thức Giáo hội hiện
hữu trong lịch sử và liên hệ với thế giới. Nếu không làm như vậy, Học thuyết Xã
hội sẽ có nguy cơ bị coi là sự can thiệp không cần thiết vào các vấn đề “thế tục”
hoặc là một bộ quy tắc đạo đức áp đặt từ trên xuống. Trên thực tại, nó xuất
phát từ một Giáo hội đồng hành cùng nhân loại, thừa nhận tính tự chủ của thực tại
trần gian và sự khác biệt giữa cộng đồng giáo hội và cộng đồng chính trị. Thật
vậy, chính vì lý do này mà Giáo hội nỗ lực phục vụ lợi ích chung.
Một Giáo hội đồng hành cùng lịch sử nhân loại
19. Giáo hội hiện diện trong thế giới như một dấu hiệu của sự hiệp nhất cho
toàn thể gia đình nhân loại. Giáo hội nhận ra những câu hỏi và thách thức ngày
nay như là bối cảnh hiện tại để thực hiện ơn gọi đặc biệt của mình là lắng
nghe, đối thoại và phục vụ, và đáp ứng mọi điều liên quan đến cuộc sống của con
người đương thời. Sự tham gia này vào cuộc sống của con người giúp Giáo hội hiểu
rõ hơn bao giờ hết rằng sứ mệnh của mình có phạm vi lịch sử và bao hàm trách
nhiệm đối với cách thức xây dựng các mối quan hệ xã hội. Vì lý do này, Giáo hội
không thể coi mình là người xa lạ với các lực lượng định hình xã hội. Ngược lại,
Giáo hội tích cực tham gia vào các quá trình qua đó xã hội phát triển và được tổ
chức, và Giáo hội đóng góp vào việc tạo ra một xã hội công bằng và huynh đệ
hơn. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh chiều kích lịch sử này trong sứ mệnh
của Giáo hội: “Không ai có thể đòi hỏi rằng tôn giáo phải bị đẩy vào nơi trú ẩn
(sanctum) bên trong đời sống cá nhân, không ảnh hưởng đến đời sống xã hội và quốc
gia, không quan tâm đến sự lành mạnh của các định chế dân sự, không có quyền đưa
ra ý kiến về các sự kiện ảnh hưởng đến xã hội.” [9]
20. Ơn gọi và bổn phận của Giáo hội là đồng hành cùng nhân loại trong những đặc
thù của lịch sử dẫn Giáo hội đến việc nhận ra rằng thực tại trần gian có đặc điểm
và trật tự riêng của chúng. Công đồng Vatican II đã diễn đạt nguyên tắc này một
cách đặc biệt chính xác trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, mà
chúng ta đã tưởng nhớ và kỷ niệm 60 năm ngày công bố với lòng biết ơn vào ngày
7 tháng 12 năm 2025: “Nếu quyền tự trị của các vấn đề trần gian có nghĩa là các
tạo vật và xã hội tự mình hưởng luật lệ và giá trị riêng của chúng… thì yêu cầu
về quyền tự trị là hoàn toàn chính đáng.” [10] Lời khẳng định này cho thấy rằng
công trình sáng tạo mang dấu ấn của một lòng tốt nguyên thủy mà quan điểm nhân
sinh của chúng ta phải gìn giữ, vun đắp và hoàn thiện. Về vấn đề này, Giáo hội
hiến dâng chính mình theo cách giúp giải thích thực tại trong tất cả chiều sâu
của nó. Giáo hội kiên định khiêm nhường ủng hộ những lựa chọn cổ vũ phẩm giá của
mỗi người, sự gắn kết của các cộng đồng và lợi ích của tất cả mọi người. Do đó,
Giáo hội đứng bên cạnh thế giới mà không lấn át nó, để lời hứa về công lý và
hòa bình mà Chúa Thánh Thần tiếp tục duy trì trong lòng nhân loại có thể được
trọn vẹn trong mọi nỗ lực của con người.
21. Nhận thức rằng Thiên Chúa duy trì tự do của nam giới và nữ giới trong diễn
tiến của lịch sử, Công đồng Vatican II đã khẳng định sự phân biệt giữa cộng đồng
Giáo hội và cộng đồng chính trị, nhấn mạnh rằng mỗi cộng đồng phải hoạt động với
quyền tự chủ hoàn toàn. Sự hiện diện của Giáo hội trong thế giới cũng được thể
hiện qua mối quan hệ của Giáo hội với xã hội dân sự và các định chế công cộng.
Qua việc tương tác với các thực thể này, Giáo hội thừa nhận giá trị của các thực
thể xã hội và chính trị, đồng thời tôn trọng trách nhiệm cụ thể của chúng, hỗ
trợ mọi điều cổ vũ hạnh phúc của cá nhân và củng cố nền tảng xã hội. Giáo hội
không tuyên bố đảm nhận các chức năng thuộc về Nhà nước. Ngược lại, Giáo hội
trân trọng những người phục vụ lợi ích chung và kiên quyết thừa nhận trách nhiệm
mà các định chế dân sự nắm giữ trong xã hội. Đồng thời, sứ mệnh được giao phó
cho Giáo hội cổ vũ Giáo hội giải quyết những đau khổ thực sự của người dân thời
nay. Sự gần gũi này không xuất phát từ ý định thay thế các định chế dân sự,
càng không phải là sự chỉ trích ngầm đối với công việc của chúng. Thay vào đó,
nó xuất phát từ lòng bác ái Tin Mừng, một điều vốn thúc đẩy Giáo hội đến gần những
vết thương của nhân loại bất cứ khi nào chúng xuất hiện với mức độ nghiêm trọng
hơn. Khi Giáo hội can thiệp, Giáo hội làm như vậy theo gương của Người
Samaritanô nhân hậu, với sự thận trọng và gần gũi, nhận thức rằng những gì phát
sinh từ nhu cầu cấp bách không thể trở thành chuẩn mực, cũng không thể thay thế
các trách nhiệm định chế vốn có của cộng đồng dân sự.
22. Bắt đầu từ sự thừa nhận kép này — tính tự chủ của thực tại trần gian và sự
phân biệt giữa các lĩnh vực thẩm quyền của Giáo hội và chính trị — cho phép hiểu
rõ hơn về hướng đi mà Công đồng Vatican II đã đặt ra cho Giáo hội trong mối quan
hệ của Giáo hội với thế giới. Gaudium et Spes nhắc nhở chúng
ta rằng “nhiệm vụ của toàn thể dân Chúa, đặc biệt là các mục tử và thần học
gia, là lắng nghe và phân biệt nhiều tiếng nói của thời đại chúng ta và giải
thích chúng dưới ánh sáng Lời Chúa, để Chân lý mặc khải có thể được thấu hiểu
sâu sắc hơn, được hiểu rõ hơn và được trình bày phù hợp hơn.” [11] Lắng nghe
“nhiều tiếng nói” không chỉ đơn thuần là một thao tác xã hội học, mà thay vào
đó đòi hỏi sự phân định thiêng liêng. Được Thánh Linh hướng dẫn, dân Chúa nhận
ra trong những biến đổi văn hóa và xã hội cả những dấu hiệu về sự hiện diện của
Chúa Kitô, Đấng đến và hướng dẫn lịch sử đến sự hoàn thành của nó, và cả những
sai lệch che khuất dung mạo của Người. Bằng cách này, cốt lõi thiết yếu của Chân
lý mặc khải không bị thay đổi, mà được làm rõ ràng và được chấp nhận như một
tiêu chuẩn sống động để hướng dẫn những lựa chọn cụ thể, truyền cảm hứng cho những
con đường hoán cải cá nhân và cộng đồng, cổ vũ các cuộc cải cách cấu trúc và hỗ
trợ các hình thức chứng nhân Tin Mừng mới trong đời sống công cộng. Lịch sử do
đó được hiểu là một trong những nơi mà Giáo hội cho phép mình được Thánh Linh dạy
dỗ về sức mạnh nhân bản hóa của Tin Mừng; và Giáo hội học cách phát triển giáo
huấn của riêng mình để phục vụ phẩm giá của mỗi người và lợi ích của tất cả các
dân tộc.
Sự khôn ngoan của Lời Chúa trong đối thoại với các khoa học nhân văn
23. Giáo hội coi tất cả những ai thành tâm tìm kiếm “chân, thiện, mỹ” là bạn đồng
hành trên hành trình, và coi họ là “đồng minh quý giá” [12] trong việc bảo vệ
phẩm giá của mỗi người và chăm sóc tạo thế. Áp dụng phương pháp mục vụ của Công
đồng Vatican II, mời gọi chúng ta lắng nghe, phân định và giải thích các dấu hiệu
của thời đại, và được soi sáng bởi sự khôn ngoan của Lời Chúa, Giáo hội không
ngại tiếp xúc với kiến thức nhân bản. Thật vậy, Lời Chúa cung cấp những tiêu
chuẩn đáng tin cậy để thiết lập các con đường công lý và mở ra các con đường
hòa giải và hòa bình giữa các dân tộc. Khi áp dụng những tiêu chuẩn này vào các
tình huống phức tạp của thời đại chúng ta, những đóng góp của triết học và khoa
học nhân văn và xã hội là rất cần thiết. Những ngành này giúp chúng ta hiểu và
phân tích sâu sắc hơn các động lực văn hóa, kinh tế và chính trị. Thánh Gioan
Phaolô II nhắc lại rằng Giáo hội hoan nghênh những đóng góp của khoa học xã hội
để “rút ra từ đó những hiểu biết cụ thể giúp Giáo hội thực hiện chức vụ huấn
quyền của mình”. [13] Một cuộc đối thoại với những loại kiến thức như vậy không
làm giảm sức mạnh của Tin Mừng. Ngược lại, nó giúp xác định rõ ràng hơn điều gì
thực sự cổ vũ đời sống của các cá nhân và cộng đồng. Theo quan điểm này, Đức
Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh rằng khi giải quyết nhiều câu hỏi cụ thể, Giáo Hội
không tuyên bố đưa ra “một ý kiến dứt khoát”, [14] nhưng thừa nhận tầm quan trọng
của việc lắng nghe nghiên cứu khoa học và khuyến khích một cuộc tranh luận
nghiêm túc và trung thực giữa các chuyên gia đồng thời hoan nghênh sự đa dạng về
quan điểm.
24. Được nuôi dưỡng bởi cuộc đối thoại hữu hiệu này giữa Tin Mừng và kiến thức
nhân bản, Giáo Hội đã dần dần phát triển Học thuyết Xã hội của mình, vun đắp
trong lịch sử một di sản khôn ngoan được đánh dấu bằng sự mạch lạc về thần học
và nhân học bắt nguồn từ sự hiểu biết của Kitô giáo về con người. Chính vì di sản
này xuất phát từ đức tin và tầm nhìn tương ứng về thực tại, nên nó không phải
là một tập hợp các giải pháp kỹ thuật hoặc một mô hình kinh tế hay chính trị để
đối lập với những mô hình khác. Thay vào đó, nó thuộc về một trật tự khác, [15]
cụ thể là các nguyên tắc hướng dẫn việc giải thích các sự kiện và duy trì sự hiểu
biết Tin Mừng về các quá trình lịch sử và những lựa chọn mà chúng kéo theo. Đây
chính là chức năng đúng đắn của Học thuyết Xã hội, không nhằm thay thế trách
nhiệm của chính trị hay các định chế, mà tự coi mình là nền tảng cho sự phân định
tập thể, giúp nhận ra và cổ vũ bất cứ điều gì phục vụ phẩm giá con người, sức sống
của cộng đồng và lợi ích chung.
Học thuyết Xã hội như một sự phân định chung
25. Hiểu rằng chân lý là một món quà để chia sẻ, chứ không phải là một tài sản
để độc chiếm, giải phóng Giáo hội khỏi cám dỗ tìm kiếm các hình thức hiện diện
dựa trên quyền lực. Để tái khám phá cách tiếp cận Tin Mừng về việc rao giảng
chân lý một cách nhẹ nhàng, không áp đặt, Thánh Gioan Phaolô II đã mời gọi
chúng ta xem xét một cách trung thực những thời điểm khi sự mặc nhận được dành
cho “sự bất dung thứ và thậm chí cả việc sử dụng bạo lực để phục vụ cho sự thật.”
[16] Cũng theo hướng này, tôi cũng đã khẳng định lại rằng Giáo hội “không tuyên
bố độc quyền về sự thật,” [17] bởi vì sự thật không phải là một lãnh thổ cần được
bảo vệ, mà là một điều tốt đẹp cần được chia sẻ. Về phần mình, Đức Giáo Hoàng
Phanxicô đã bày tỏ cùng một quan điểm này trong câu nói nổi bật của ngài, “thời
gian lớn hơn không gian.” [18] Điều quan trọng nhất không phải là chiếm giữ các
vị trí quyền lực hay bảo vệ các thành trì văn hóa, mà là khởi xướng các quá
trình tốt đẹp và cho phép chúng trưởng thành. Bằng cách này, chân lý của Tin Mừng
không bị áp đặt từ trên xuống, mà phát triển theo thời gian trong sự đan xen cụ
thể của cuộc sống, cộng đồng và văn hóa. Đây không phải là một chân lý sợ hãi sự
đa dạng, mà thay vào đó chào đón và hướng dẫn nó. Nó không loại bỏ các xung đột,
mà biến đổi chúng, đoàn tụ những gì lịch sử có xu hướng phân tán. Khái niệm này
cũng có thể được minh họa bằng hình ảnh của một khối đa diện, [19] trong đó
chân lý duy nhất của Tin Mừng được phản chiếu từ các góc độ khác nhau.
26. Thái độ cởi mở với chân lý này, vừa thống nhất vừa đa dạng, thể hiện sâu sắc
tính phổ quát của Giáo hội, vì Giáo hội bao trùm toàn thể gia đình nhân loại
nhưng cũng hòa mình vào hoàn cảnh cụ thể của các dân tộc và nền văn hóa. Công đồng
Vatican II nhắc nhở chúng ta rằng, nhờ tính phổ quát này, “mỗi phần đóng góp những
quà phúc của mình cho các phần khác và cho toàn thể Giáo hội.” [20] Bằng cách
này, Giáo hội phát triển như một tổng thể và như các cộng đồng riêng lẻ nhờ sự
trao đổi lẫn nhau và những nỗ lực chung hướng tới sự hiệp thông ngày càng trọn
vẹn hơn. Từ đó suy ra rằng dân Chúa không chỉ được quy tụ từ nhiều dân tộc, mà
còn được đan xen qua các chức năng, ơn gọi, văn hóa và truyền thống khác nhau,
mỗi bên được kêu gọi để hỗ trợ và làm giàu cho nhau. Từ quan điểm này, Thánh
Phaolô VI thừa nhận rằng, với sự đa dạng lớn của các hoàn cảnh lịch sử, thật
không thực tại khi nghĩ rằng Học thuyết Xã hội của Giáo hội có thể đưa ra một
câu trả lời duy nhất có giá trị trong mọi bối cảnh. [21] Vì lý do này, ngài đã
mời gọi mỗi cộng đồng Kitô giáo diễn giải thực tại ở đất nước mình một cách rõ
ràng và có trách nhiệm. Sự căng thẳng hữu ích giữa tính phổ quát của sứ mệnh
Giáo hội và nguồn gốc địa phương của Giáo hội là một khía cạnh nội tại của đời
sống Giáo hội, bởi vì Giáo hội bao trùm toàn thế giới, đồng thời giải quyết các
vấn đề cụ thể của từng bối cảnh như là bối cảnh thực sự mà Tin Mừng được hình
thành.
27. Dựa trên những điều đã nói ở trên, Học thuyết Xã hội của Giáo hội có thể được
nhìn nhận một cách chân thực hơn. Nó không phải là một cuốn cẩm nang về các
nguyên tắc và quy tắc để áp dụng, mà là một quá trình phân định chung. Nó được
sinh ra từ sự gặp gỡ giữa chân lý vĩnh cửu của Tin Mừng và các vấn đề lịch sử.
Nó cho phép mình được thách thức bởi các dấu hiệu của thời đại, và được nuôi dưỡng
bởi những đóng góp của khoa học, văn hóa và kinh nghiệm của con người. Do đó,
khi phẩm giá của anh chị em chúng ta bị xâm phạm, khi chính trị không giải quyết
được những bi kịch của nhân loại, khi nền kinh tế quay lưng lại với con người
hoặc khoa học vượt quá giới hạn thẩm quyền của mình, [22] Giáo hội — cùng với
các giáo phái Kitô giáo khác và các tín hữu của các tôn giáo khác — phải lên tiếng,
không phải để thống trị, mà để cổ vũ sự hiệp thông. Hiểu theo cách này, Học
thuyết Xã hội trở thành một thần học về sự hiệp thông trong lịch sử, một lịch sử
trong đó Ngôi Lời nhập thể tiếp tục hiện diện thông qua đối thoại, ký ức và lời
tiên tri.
Sự phát triển của Học thuyết Xã hội từ thời Lê-ô XIII đến nay
28. Sau khi đã phác thảo cách thức Giáo hội hiện diện trong lịch sử và tham gia
đối thoại với thế giới, giờ đây tôi muốn xem xét sự phát triển của Học thuyết
Xã hội trong Giáo huấn của Giáo hội, đã đáp ứng những biến đổi xã hội lớn từ thế
kỷ XIX đến nay. Đương nhiên, tôi không thể trình bày đầy đủ sự phong phú của
giáo huấn này, mà các nguyên tắc cơ bản của nó được trình bày trong Bản tóm tắt
Giáo lý Xã hội của Giáo hội và đã được các giáo huấn của Giáo hội gần đây xem
xét kỹ lưỡng hơn. Tôi cũng không thể hệ thống hóa việc khám phá mọi điều đã được
phát triển trong các Thông điệp của các vị tiền nhiệm đáng kính quá cố của tôi,
đặc biệt là trong Laudato Si’ và Fratelli Tutti.
Tuy nhiên, tôi sẽ nhấn mạnh một số điểm thiết yếu để cho thấy văn bản hiện tại
tiếp nối truyền thống đó như thế nào. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, trong truyền
thống này, cốt lõi bất biến của các chân lý mặc khải về con người và xã hội
luôn luôn đan xen với khả năng mới mẻ để lắng nghe các tình huống lịch sử và
đáp ứng các vấn đề đương thời. Bây giờ tôi sẽ xem xét lại một số giai đoạn quan
trọng của sự phát triển này, bắt đầu từ giai đoạn được khai mạc bởi Thông điệp Rerum
Novarum.
Những giai đoạn đầu tiên của Giáo lý Xã hội của Giáo hội
29. Điều mà chúng ta hiện gọi là “Học thuyết Xã hội của Giáo hội” không phải là
sản phẩm tự phát của thời đại hiện đại. Thay vào đó, nó là kết quả của sự tiếp
nhận và cấu trúc một truyền thống lâu đời về suy tư của Giáo hội về đời sống
trong xã hội, bắt nguồn từ Kinh Thánh, các Giáo phụ và những phát triển về thần
học và pháp luật của thời Trung cổ và thời hiện đại. Mặc dù thuật ngữ “Học thuyết
Xã hội của Giáo hội” được Pi-ô XII đặt ra vào năm 1950, [23] nội dung của nó bắt
đầu hình thành như một hệ thống hữu cơ của giáo huấn xã hội với Thông điệp Rerum
Novarum của Đức Lê-ô XIII. Đối diện với “những điều mới mẻ” của thời đại
mình — xung đột giữa tư bản và lao động, vấn đề lực lượng lao động, và những biến
đổi kinh tế và xã hội — Đức Lê-ô XIII không chỉ giới hạn mình ở việc thừa nhận
sự bất ổn, mà còn coi những tình huống này là một lĩnh vực cho sứ mệnh mục vụ của
Giáo hội. Ngài đã đưa chúng ra để phân định nghiêm ngặt, soi sáng nguyên nhân
và các giải pháp khả hữu của chúng dưới ánh sáng của Tin Mừng và một tầm nhìn
toàn diện về con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Thánh Gioan
Phaolô II coi cách tiếp cận này là một “mô hình lâu dài” [24] của Học thuyết Xã
hội: một thực tiễn mẫu mực mà qua đó Giáo hội, khi đối diện với những thay đổi
lịch sử, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình để xem xét thực tại xã hội, đưa
ra tuyên bố về chúng và chỉ ra con đường tìm kiếm các giải pháp công bằng. Bằng
cách này, nội dung trường tồn của đức tin và sự khôn ngoan của Giáo hội cổ xưa
được thể hiện trong một học thuyết sống động, trung thành với Tin Mừng đồng thời
phát triển để đáp ứng “những điều mới mẻ” của mỗi thời đại.
30. Thông điệp Rerum Novarum của Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII là một
cột mốc trong sự phát triển của giáo huấn xã hội của Giáo hội. Văn kiện này đặt
phẩm giá của lao động và người lao động lên hàng đầu trong suy tư của mình; khẳng
định quyền được trả lương công bằng cho bản thân và gia đình; thừa nhận rằng
con người có giá trị cơ bản vượt trội hơn vốn và lợi nhuận; bảo vệ quyền sở hữu
tư nhân cùng với vai trò xã hội không thể thiếu của nó; coi trọng các hiệp hội
công nhân; và đề xuất các hình thức hợp tác giữa các thành phần khác nhau của
xã hội như một giải pháp thay thế cho tư duy đấu tranh giai cấp. Do đó, không
có gì đáng ngạc nhiên khi Đức Pi-ô XI định nghĩa nó là “Đại Hiến chương [Magna
Carta]” [25] của hành động xã hội Kitô giáo. Trong Rerum Novarum, sự khôn ngoan
cổ xưa của Giáo hội về con người và cuộc sống trong xã hội đã mang một hình thức
mới có khả năng đáp ứng thời đại kỹ nghệ và cung cấp khuôn khổ hệ thống quan trọng
đầu tiên cho Học thuyết Xã hội sẽ được phát triển hơn nữa trong những thập niên
tiếp theo. Mặc dù nhiều điều kiện lịch sử được Đức Lê-ô XIII mô tả đã thay đổi,
nhưng ít nhất hai nhận thức vẫn còn rất phù hợp cho đến ngày nay: sự ưu tiên
lao động của con người hơn bất cứ tư duy nào chỉ tập trung vào tài chính hoặc
năng suất — với sự quan tâm đến những người và gia đình dễ bị bóc lột nhất — và
mối liên hệ không thể tách rời giữa việc rao giảng Tin Mừng và theo đuổi một trật
tự xã hội công bằng hơn. Do đó, Rerum Novarum tiếp tục nhắc nhở chúng ta rằng
không có sự rao giảng tin mừng đích thực nào mà không ảnh hưởng đến cấu trúc của
xã hội loài người.
31. Thông điệp Quadragesima Anno của Đức Giáo Hoàng Pi-ô XI được
ban hành năm 1931 nhân kỷ niệm 40 năm Thông điệp Rerum Novarum, vào
tuyệt đỉnh của một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lớn, đánh dấu một bước tiến
nữa trong giáo huấn xã hội của Giáo hội. Thay vì chỉ giới hạn ở việc giải quyết
“vấn đề lực lượng lao động”, thông điệp đã mở rộng phạm vi để bao quát toàn bộ
cấu trúc của trật tự kinh tế và chính trị. Thông điệp lên án sự tập trung quyền
lực kinh tế vào tay một số ít người; chỉ trích cả cạnh tranh không giới hạn và
các dự án tập thể làm suy yếu tự do và trách nhiệm của cá nhân; khẳng định mạnh
mẽ quyền lập hội của người lao động; và nhắc lại yêu cầu rằng tiền lương phải
tương xứng không chỉ với hiệu suất làm việc mà còn với nhu cầu của người lao động
và gia đình họ. Trong khuôn khổ này, Đức Giáo Hoàng Pi-ô XI đã hệ thống hóa
nguyên tắc phụ đới, vốn trở thành một trong những nền tảng của Học thuyết Xã hội.
Theo nguyên tắc này, bất cứ điều gì có thể được thực hiện bởi các cá nhân, gia
đình, các tổ chức trung gian và cộng đồng địa phương thì không nên được thực hiện
bởi các cơ quan cấp cao hơn. Bên cạnh những đóng góp này, trong nhiều bài phát
biểu của huấn quyền ngài — từ các Thông điệp Non Abbiamo Bisogno và Mit
Brennender Sorge đến Divini Redemptoris — Đức Giáo
Hoàng Pi-ô XI đã nhắc nhở rõ ràng về vai trò xã hội của tài sản tư nhân và lên
án các hình thức chủ nghĩa toàn trị làm suy giảm phẩm giá con người, bóp nghẹt
đời sống xã hội, đề cao Nhà nước hơn giá trị chính đáng của nó và phân biệt đối
xử theo chủng tộc. Ít nhất ba nhận thức sâu sắc trong giáo huấn xã hội của ngài
vẫn đặc biệt phù hợp cho đến ngày nay: nhận thức rằng sự bất công không chỉ
liên quan đến hành vi cá nhân mà còn cả cấu trúc kinh tế và định chế; tầm quan
trọng của nguyên tắc phụ đới, kêu gọi củng cố cấu trúc của các hiệp hội và cộng
đồng đồng thời tránh tập trung quyền lực hơn nữa; và mối liên hệ giữa phẩm giá
của lao động, tiền lương công bằng và khả năng thực sự để các gia đình có một
cuộc sống có phẩm giá.
32. Trong bối cảnh bi thảm của Chiến tranh Thế giới thứ hai và những năm tái
thiết sau đó, những giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII đã đóng góp đáng kể
vào sự phát triển của Học thuyết Xã hội. Điều này đặc biệt đúng với các thông
điệp phát thanh Giáng sinh của ngài, trong đó ngài đã phác thảo khuôn khổ của một
trật tự quốc tế dựa trên công lý, hòa bình và sự thừa nhận phẩm giá con người.
Trong những thông điệp này, Đức Giáo Hoàng đề xuất một cuộc đối thoại với xã hội
dựa trên lời kêu gọi luật tự nhiên, được hiểu là một tập hợp các nguyên tắc
khách quan đi trước lợi ích của cá nhân và quốc gia, và phải điều chỉnh cả đời
sống nội bộ của các quốc gia và các mối quan hệ giữa các quốc gia. Đức Giáo
Hoàng Pi-ô XII cũng dành vai trò quyết định cho các hiệp hội nghề nghiệp, công
đoàn và các tổ chức trung gian khác nhau trong trật tự kinh tế và xã hội. Ngài
công nhận những hình thức xã hội có tổ chức này là một biện pháp bảo vệ thiết yếu
cho sự cân bằng dân sự và bảo vệ lợi ích chung. Ngài khẳng định sự cần thiết của
một nền pháp trị vững chắc để ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực, và ngài công nhận
dân chủ là một phương tiện để đảm bảo việc thực thi quyền lực một cách đúng đắn.
Đồng thời, ngài cảnh báo chống lại bất cứ nỗ lực nào nhằm dựa luật pháp vào lợi
ích hoặc vũ lực, nhắc lại rằng một trật tự quốc tế được cai trị bởi lợi thế của
kẻ mạnh nhất sẽ khiến các dân tộc yếu hơn bị áp bức và về cơ bản làm suy yếu
lòng tin giữa các quốc gia. Cuối cùng, Đức Pi-ô XII đã xác định sự mất cân bằng
kinh tế sâu xa giữa các quốc gia là một trong những yếu tố cổ vũ xung đột. [26]
Ba nguyên tắc vẫn đặc biệt quan trọng đối với thời đại của chúng ta, hiện đang
được đánh dấu bởi các hình thức quyền lực toàn cầu mới và sự bất bình đẳng ngày
càng tăng: nhu cầu luật pháp phải được ưu tiên hơn lợi ích; nhận thức rằng sự
chênh lệch kinh tế là mảnh đất màu mỡ cho căng thẳng và bạo lực; và sự cần thiết
của một mạng lưới các hiệp hội có khả năng làm trung gian giữa cá nhân và Nhà
nước. Những nguyên tắc này tiếp tục cung cấp các tiêu chuẩn quan trọng cho phép
Học thuyết Xã hội giải thích động lực của toàn cầu hóa và cổ vũ một trật tự quốc
tế công bằng và hòa bình hơn.
Những năm của Công đồng Vatican II
33. Một giai đoạn mới trong giáo huấn xã hội của Giáo hội bắt đầu với Thánh
Gioan XXIII, người đã nhấn mạnh hơn vào chiều kích toàn cầu của các vấn đề xã hội
và ngôn ngữ về quyền. Trong Mater et Magistra, ngài đã trình bày đức
tin Kitô giáo như một ánh sáng có khả năng kết nối trời và đất. Ngài nhắc lại rằng,
trong khi sứ mệnh chính của Giáo hội là thánh hóa và rao giảng những điều tốt
lành vĩnh cửu, thì Giáo hội không bỏ bê những nhu cầu cụ thể trong cuộc sống
hàng ngày của con người, và quan tâm đến mọi điều tốt lành đích thực của con
người. [27] Dựa trên tầm nhìn thống nhất này về nhân loại, Đức Gioan XXIII nhấn
mạnh rằng đời sống xã hội đòi hỏi sự cân bằng giữa sáng kiến của công dân và
các nhóm — những người được kêu gọi tự tổ chức và làm việc cùng nhau — và hành
động của Nhà nước, phải điều phối và hỗ trợ mà không làm kìm hãm tự do và trách
nhiệm của cá nhân. Do đó, ngài đã lưu ý đến việc trả lương công bằng cho công
việc, sự tham gia của người lao động và sự chênh lệch ngày càng tăng giữa các
quốc gia. Vài năm sau, trong Pacem in Terris, Đức Gioan XXIII lần đầu
tiên không chỉ hướng đến các tín hữu mà còn đến tất cả những người thiện chí,
liên kết một cách hữu cơ phẩm giá của con người với việc công nhận các quyền và
nghĩa vụ cơ bản, và đề xuất một hướng đi cho xã hội — cả ở cấp độ quốc tế — dựa
trên chân lý, công lý, tình yêu và tự do. [28] Trong thời đại ngày nay, được
đánh dấu bởi xung đột lan rộng và các hình thức phụ thuộc lẫn nhau toàn cầu mới,
những khía cạnh sau đây trong tư tưởng của ngài vẫn đặc biệt quan trọng: quan
điểm phổ quát trong lời kêu gọi của ngài; việc ngài đề cập đến nhân quyền như một
khuôn khổ chung; và niềm tin của ngài rằng hòa bình lâu dài đòi hỏi các định chế
và mối quan hệ giữa các dân tộc được truyền cảm hứng từ phẩm giá của mỗi người.
34. Công đồng Vatican II đánh dấu một bước ngoặt trong sự hiểu biết của Giáo hội
về chính mình trong thế giới đương thời. Trong Hiến chế Mục vụ Gaudium
et Spes, Công đồng đã trình bày hình ảnh một Giáo hội gần gũi với nhân loại,
gắn bó với thế giới và cam kết suy gẫm về thực tại cụ thể của các tình huống lịch
sử, hơn là các khái niệm trừu tượng. Văn bản đề cập đến các vấn đề chính về hôn
nhân và gia đình, đời sống kinh tế và xã hội, cộng đồng chính trị, chiến tranh
và hòa bình. Văn bản nhấn mạnh rằng các cấu trúc kinh tế và định chế chỉ công bằng
khi chúng phục vụ sự phát triển toàn diện của con người và cổ vũ sự tham gia có
trách nhiệm của tất cả mọi người. [29] Tầm quan trọng của văn kiện công đồng
này đối với Học thuyết Xã hội của Giáo hội không chỉ nằm ở việc mở ra những
chân trời cho sự suy tư theo chủ đề, mà còn ở phương pháp phân định mời gọi
chúng ta diễn giải những thay đổi lịch sử được hướng dẫn bởi Tin Mừng và chuyên
môn của con người. Cách tiếp cận này cho thấy rằng đối thoại với thế giới không
phải là một lựa chọn chiến thuật đối với Giáo hội, mà là một biểu hiện cụ thể của
sứ mệnh của Giáo hội bởi vì Tin Mừng, giống như men, có khả năng biến đổi các cấu
trúc của xã hội từ bên trong và mở đường hướng tới một nhân loại lớn hơn. Tuyên
bố Dignitatis Humanae có thể được bao gồm vào cùng bối cảnh. Ở
đây, Công đồng đã công nhận rằng tự do tôn giáo là một quyền cơ bản dựa trên phẩm
giá con người phải được pháp luật bảo đảm để ngăn chặn việc mọi người bị ép buộc
hành động trái với lương tâm của họ hoặc bị cản trở trong việc tìm kiếm và
tuyên xưng chân lý cả riêng tư lẫn công khai. [30] Nguyên tắc này rất phù hợp
ngày nay và tiếp tục cung cấp cho Học thuyết Xã hội những tiêu chuẩn quyết định
để bảo vệ các cá nhân và xây dựng các xã hội đa nguyên và hòa bình.
35. Trong triều đại Giáo hoàng của Thánh Phaolô VI, một sự hiểu biết về hòa
bình đã xuất hiện, không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của chiến tranh, mà còn
hình thành trong phạm vi phát triển toàn diện của con người. Trong Populorum
Progressio, ngài đã mô tả sự phát triển như một quá trình chuyển đổi từ điều
kiện sống kém nhân đạo sang điều kiện sống nhân đạo hơn. Ngài còn hiểu nó như một
quá trình liên quan đến “mỗi người và toàn thể con người”, [31] tức là mọi khía
cạnh của con người và tất cả mọi người không ngoại lệ. Vì lý do này, Đức Phaolô
VI có thể khẳng định rằng sự phát triển được hiểu theo cách này thực sự là “tên
gọi mới của hòa bình”, [32] bởi vì nó nhằm mục đích xóa bỏ tận gốc rễ của bất
công và xung đột và tạo ra cơ hội cho một cuộc sống xứng đáng hơn cho tất cả mọi
người. Việc thành lập Ủy ban Giáo hoàng Iustitia et Pax cũng nên được nhìn nhận
theo khía cạnh này như một nỗ lực nhằm hiện thực hóa nhận thức này ở bình diện
giáo hội và quốc tế, đồng thời ghi nhớ khoảng cách ngày càng lớn giữa các nước
giàu và nghèo và nhu cầu về các chính sách thực sự cổ vũ điều kiện sống nhân bản
hơn cho tất cả mọi người.
36. Trong Octogesima Adveniens, được viết nhân dịp kỷ niệm 80
năm Rerum Novarum, Đức Phaolô VI đã áp dụng quan điểm này vào xã hội
hậu kỹ nghệ, được đánh dấu bởi quá trình đô thị hóa, các hình thức nghèo đói mới
và những thay đổi văn hóa nhanh chóng đặt ra câu hỏi về tương lai của các cá
nhân và cộng đồng. Đức Phaolô VI tin rằng mặc dù Tin Mừng được rao giảng, viết
ra và sống trong một bối cảnh lịch sử và văn hóa rất khác với bối cảnh của
chúng ta, nhưng thông điệp của nó không hề “lỗi thời”. [33] Thay vào đó, nó
mang đến một tầm nhìn về con người, các mối quan hệ, quyền lực và lợi ích chung
vẫn có khả năng hướng dẫn các lựa chọn kinh tế, chính trị và văn hóa ngày nay.
Nói cách khác, Tin Mừng vẫn còn phù hợp vì nó cung cấp các tiêu chuẩn để nhận
ra điều gì nhân bản hóa hoặc phi nhân bản hóa và điều gì giải phóng hoặc áp bức
trong các tình huống luôn thay đổi. Đối với Học thuyết Xã hội của Giáo hội, di
sản đòi hỏi khắt khe nhất của Đức Phaolô VI chính là điều này: chừng nào còn có
những người trên thế giới bị loại trừ khỏi sự phát triển phù hợp với phẩm giá
con người, thì cộng đồng Kitô giáo không thể bằng lòng với một lời tuyên bố hòa
bình trên lý thuyết. Thay vào đó, bắt đầu từ nơi những người bị gạt ra ngoài lề,
Giáo hội phải cho phép Tin Mừng phán xét những cấu trúc kinh tế và chính trị mà
— như Đức Gioan Phaolô II sau này nhắc nhở chúng ta — có thể trở thành những “cấu
trúc tội lỗi” thực sự. [34] Kết quả là, không một người hay một nhóm người nào
sẽ bị coi là có thể loại bỏ trong các quá trình phát triển.
Giáo huấn gần đây
37. Giáo huấn xã hội phong phú của Thánh Gioan Phaolô II nằm ở ngã ba đường của
cuộc khủng hoảng các hệ thống tư tưởng lớn của thế kỷ XX và sự khởi đầu của
toàn cầu hóa kinh tế. Thông điệp Laborem Exercens của ngài, được
viết 90 năm sau khi công bố Rerum Novarum, đã mở ra một con đường mới
để suy gẫm về việc làm. Thông điệp này trình bày tiền lương công bằng như một
phương tiện cụ thể để xác minh tính công bằng của toàn bộ hệ thống kinh tế xã hội
vì chúng cho thấy liệu người lao động có được đối xử như một con người hay chỉ
đơn thuần là một chi phí sản xuất. [35] Công việc không chỉ được coi là một vấn
đề cần giải quyết hoặc một phương tiện tạo ra thu nhập, mà là một điều tốt cơ bản
cho con người, một nguyên tắc hoạt động kinh tế và là chìa khóa cho toàn bộ vấn
đề xã hội. Thông qua việc làm, con người phát huy tự do, sự sáng tạo và khả
năng hợp tác của mình, góp phần vào sự nâng cao văn hóa và đạo đức của xã hội.
[36] Trong bối cảnh này, các loại bất an về việc làm, con đường sự nghiệp phân
mảnh và tự động hóa không được đánh giá chỉ dựa trên hiệu năng, mà còn liên
quan đến phẩm giá của người lao động, quyền được trả lương đầy đủ và khả năng
thực sự tham gia vào xã hội.
38. Với Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, đánh dấu kỷ niệm 20
năm Populorum Progressio, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã xem xét
lại tai họa của sự kém phát triển. Ngài thừa nhận sự thất bại của nhiều nỗ lực
nhằm đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của các dân tộc nghèo và hỗ trợ họ trong
quá trình kỹ nghệ hóa, lưu ý đến khoảng cách dai dẳng và thực sự ngày càng mở rộng
giữa Bắc và Nam bán cầu. [37] Người cũng lên án các cơ chế kinh tế, tài chính
và thương mại, do các nền kinh tế mạnh nhất quản lý, về mặt cấu trúc ưu tiên lợi
ích của chính họ trong khi kìm hãm các nền kinh tế yếu hơn, và ngài yêu cầu
chúng phải chịu sự xem xét nghiêm túc không những về mặt kỹ thuật, mà còn cả về
mặt đạo đức. [38] Trong bối cảnh này, tình liên đới được hiểu là một trách nhiệm
chung cụ thể giữa các cá nhân, dân tộc và quốc gia — một hình thức tình bạn xã
hội hoặc bác ái chính trị hướng tới “nền văn minh tình yêu” do Đức Phaolô VI đề
xuất. [39]
39. Nhân kỷ niệm 100 năm Rerum Novarum, Thông điệp Centesimus
Annus đã đưa ra một suy tư về sự sụp đổ của hệ thống Xô Viết và sự trỗi
dậy của nền dân chủ và nền kinh tế thị trường. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại
thông điệp của Đức Pi-ô XII rằng Giáo hội coi trọng nền dân chủ vì nó đảm bảo sự
tham gia hữu hiệu của công dân, cho phép họ bầu cử và thay thế các nhà lãnh đạo
một cách hòa bình và ngăn chặn quyền lực bị độc chiếm bởi các nhóm ưu tú nhỏ được
cổ vũ bởi các lợi ích cụ thể hoặc ý thức hệ. [40] Tương tự, Giáo hội chỉ công
nhận tiềm năng tích cực của thị trường và sáng kiến tư nhân nếu chúng vẫn tuân
theo luật luân lý và được hướng dẫn bởi nguyên tắc liên đới, mà không hy sinh
những người dễ bị tổn thương nhất cho lý lẽ lợi nhuận. [41] Điều này bổ sung một
di sản đặc biệt quan trọng cho Học thuyết Xã hội của Giáo hội. Việc khẳng định
mối liên hệ giữa phẩm giá của lao động, tình liên đới giữa các dân tộc, đánh
giá phê phán về nền dân chủ và nền kinh tế thị trường tiếp tục cung cấp các
tiêu chuẩn để đánh giá các hình thức bóc lột, loại trừ và khủng hoảng mới trong
đại diện chính trị.
40. Trong Thông điệp xã hội Caritas in Veritate, Đức Giáo Hoàng
Bênêđíctô XVI đã tìm cách đánh giá lại và mở rộng khái niệm phát triển được
trình bày trong Populorum Progressio, diễn giải nó dưới ánh sáng của
toàn cầu hóa. Ngài lưu ý rằng sự phát triển như vậy phải được chuyển thành
“tăng trưởng thực sự, có lợi cho mọi người và thực sự bền vững”. [42] Nghĩa là,
tiến bộ kinh tế thực sự bao trùm và tôn trọng giới hạn của tạo thế. Tuy nhiên,
ngài tái khẳng định rằng ở các nước giàu có, các loại nghèo đói mới đang nổi
lên cũng như các hình thức loại trừ chưa từng có, trong khi ở các vùng nghèo
hơn, các nhóm thiểu số nhỏ sống trong sự giàu có tiêu dùng bên cạnh tình trạng
nghèo đói phi nhân tính. [43] Ngoài ra, ngài nhận thấy rằng hệ thống kinh tế và
tài chính toàn cầu mới, được đánh dấu bằng sự di chuyển rộng lớn của vốn và
phương tiện sản xuất, đã làm giảm quyền lực chính trị của các quốc gia và khả
năng ảnh hưởng đến các quá trình kinh tế của họ. [44] Vì lý do này, Đức
Bênêđíctô XVI nhắc lại rằng hoạt động kinh tế không thể tuyên bố giải quyết các
vấn đề xã hội chỉ đơn giản bằng cách mở rộng tư duy thương mại, mà phải hướng tới
lợi ích chung, mà cộng đồng chính trị phải gánh vác trách nhiệm không thể thay
thế của mình. [45]
41. Đức Bênêđíctô XVI đặt lòng bác ái vào trung tâm phân tích của mình, tuyên bố
rằng nó “nằm ở cốt lõi của Học thuyết Xã hội của Giáo hội,” [46] với điều kiện
là nó luôn luôn được kết hợp với chân lý. Người cũng lưu ý với mối lo ngại rằng
có xu hướng bác bỏ tầm quan trọng về mặt đạo đức chính xác trong các lĩnh vực
xã hội, pháp luật, chính trị và kinh tế. Tính độc đáo trong đóng góp của ngài nằm
ở chỗ chỉ ra rằng sự phát triển, công lý, các định chế và thị trường không phải
là những thực thể trung lập, mà là những không gian nơi lòng bác ái trong chân
lý phải tìm thấy biểu thức lịch sử. Giáo huấn này đặc biệt phù hợp ngày nay
trong bối cảnh bất bình đẳng ngày càng gia tăng, áp lực trên thị trường tài
chính, khủng hoảng môi trường và thiếu niềm tin vào chính trị. Nó như một lời mời
gọi đánh giá mọi mô hình phát triển dựa trên khả năng bao quát và bền vững của
nó, xây dựng lại mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị dựa trên lợi ích chung,
và thừa nhận vai trò quan trọng và tạo sinh của lòng bác ái trong đời sống công
cộng.
42. Giáo huấn xã hội của Đức Giáo Hoàng Phanxicô phát triển theo hướng của Gaudium
et Spes, mời gọi chúng ta nhìn lịch sử qua lăng kính của hy vọng và sự dễ bị
tổn thương của con người, và đưa chúng vào đối thoại với Tin Mừng. Cách tiếp cận
này hiện lên rõ ràng nhất trong Evangelii Gaudium, nơi ngài khẳng định
rằng lời rao giảng của Kitô giáo có một chiều kích xã hội nội tại và kêu gọi một
Giáo hội có khả năng lắng nghe tiếng kêu than của người nghèo, người di cư và nạn
nhân của các hình thức nô lệ mới. Sự nhấn mạnh của Đức Phanxicô về một Giáo hội
đồng nghị, một Giáo hội “cùng nhau bước đi”, tìm cách đọc các dấu hiệu của thời
đại dưới ánh sáng của Tin Mừng và cho phép mình được rao giảng Tin Mừng bởi những
người nghèo mà Giáo hội cùng chia sẻ lịch sử, cũng phù hợp với quan điểm này.
[47]
43. Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô đã đưa ra việc xử lý có hệ thống
quan trọng đầu tiên về cuộc khủng hoảng môi trường trong một Thông điệp xã hội,
chứng minh rằng đó không phải là một vấn đề riêng lẻ, mà là khía cạnh sinh thái
của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đương thời. Đề xuất của ngài về một hệ
sinh thái toàn diện kết hợp việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta với sự ưu
tiên cho người nghèo, và khẳng định mạnh mẽ rằng “tiếng kêu than của trái đất
và tiếng kêu than của người nghèo” [48] không thể tách rời. Trong bối cảnh này,
mục đích phổ quát của hàng hóa được đưa lên hàng đầu, cùng với sự phê phán mô
hình kỹ trị tìm cách giản lược mọi thứ thành một vật thể để thống trị; sự bảo vệ
lao động của con người được nuôi dưỡng bởi tư duy lãng phí; và nhu cầu về công
lý giữa các thế hệ. Cuối cùng, ngài ủng hộ cuộc đối thoại chân thành giữa những
người làm việc trong lĩnh vực chính trị và tài chính, để không bên nào trở nên
tự quy chiếu.
44. Đối diện với sự đổ vỡ của cấu trúc xã hội, một “cuộc chiến thế giới đang được
tiến hành từng phần”, toàn cầu hóa theo chủ nghĩa cá nhân và tác động của đại dịch
đến các mối quan hệ cộng đồng, Đức Phanxicô, trong thông điệp Fratelli
Tutti, đã tìm cách khôi phục giấc mơ về một nhân loại lựa chọn tình bạn xã
hội và tình huynh đệ phổ quát. Ngài đề xuất một nền văn hóa gặp gỡ, một “nền
chính trị tốt hơn” có khả năng tìm kiếm lợi ích chung, con đường hòa giải và một
thế giới đảm bảo “đất đai, nhà ở và việc làm cho tất cả mọi người”. [49] Cuối
cùng, trong thông điệp Dilexit Nos, ngài đã chỉ ra rằng những nỗ lực
xã hội quan trọng này không thể tách rời khỏi mối quan hệ bả thân với Chúa
Kitô. Quay trở lại với lời Chúa, ngài nhắc nhở chúng ta rằng phản ứng chân thật
nhất đối với tình yêu từ trái tim của Chúa Giêsu là tình yêu cụ thể dành cho
anh chị em của chúng ta, và khẳng định rằng “không có cách nào tốt hơn để chúng
ta đáp lại tình yêu bằng tình yêu”. [50]
Giải thích lịch sử dưới ánh sáng đức tin
45. Xét đến tổng quan lịch sử này, rõ ràng Học thuyết Xã hội của Giáo hội không
phải là kết quả của một dự án được lập ra trên bàn làm việc, mà là sản phẩm của
một quá trình kiên nhẫn, trong đó mỗi vị Giáo hoàng — cùng với Công đồng
Vatican II — đã đóng góp độc đáo dưới ánh sáng của “những điều mới mẻ” của mỗi
thời đại cụ thể. Đáp lại những thách thức của thời đại mình, mỗi vị đã giải
thích những thay đổi lịch sử theo Tin Mừng, làm sáng tỏ những khía cạnh khác
nhau của một di sản duy nhất: phẩm giá con người, giá trị của lao động, mục
đích phổ quát của cải, tình liên đới và phụ đới, chăm sóc tạo vật và tầm quan
trọng của hòa bình và bác ái. Kết quả là một sự phát triển hài hòa, mặc dù
không phải lúc nào cũng tuyến tính, được đánh dấu bằng những điểm nhấn khác
nhau, những hiểu biết tiến bộ, và đôi khi là những thay đổi về quan điểm không
đoạn tuyệt với những gì đã có trước đó, mà cho phép những hàm ý của nó được trưởng
thành. Nếu ngày nay chúng ta có thể nói về một tập hợp các nguyên tắc và tiêu
chuẩn được chia sẻ, đó là bởi vì cách giải thích lịch sử dựa trên đức tin này
chưa bao giờ bị gián đoạn, luôn luôn mở ra trước những thách thức do mỗi thế hệ
đặt ra. Giờ đây, tôi muốn hướng sự chú ý của chúng ta đến những nguyên tắc vĩ đại
của Học thuyết Xã hội, những nguyên tắc định hướng sự phân định của các tín hữu
trong đời sống cá nhân và cộng đồng, để hiểu rõ hơn tính mạch lạc nội tại và khả
năng hướng dẫn thời đại của chúng.
CHƯƠNG HAI: NỀN TẢNG VÀ NGUYÊN TẮC CỦA HỌC THUYẾT XÃ HỘI
CỦA GIÁO HỘI
46. Học thuyết Xã hội của Giáo hội là một thực tại sống động, đối thoại với lịch
sử, văn hóa và khoa học. Đồng thời, nó chứa đựng một tập hợp các chân lý bất biến.
Vì lý do này, nó có thể được coi là một hình thức khôn ngoan có khả năng hướng
dẫn đời sống bản thân và xã hội của các tín hữu ngay cả ngày nay. Trong chương
thứ hai này, tôi muốn tập trung vào một số nền tảng và nguyên tắc của Học thuyết
Xã hội của Giáo hội sẽ giúp chúng ta hiểu được “những điều mới” của thời đại
chúng ta, đặc biệt là xét đến phẩm giá vốn có của con người. Để bảo vệ con người
trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi tin rằng ngày nay chúng ta phải một lần nữa
suy gẫm về lợi ích chung, mục đích phổ quát của cải, nguyên tắc phụ đới, tình
liên đới và công bằng xã hội. Tôi tin chắc rằng mối quan hệ hài hòa giữa các
nguyên tắc này đòi hỏi chúng phải được xem xét một cách tổng thể, để làm rõ mối
liên hệ và sự bổ sung lẫn nhau của chúng.
47. Khi trình bày những suy tư này, trước hết và trên hết, tôi hy vọng giúp các
tín hữu giáo dân và những người thiện chí tái khám phá bổn phận thực hiện các
nguyên tắc nêu trên trong đời sống hằng ngày, các mối quan hệ gia đình, công việc
và sự tham gia vào xã hội. Như vậy, họ sẽ được truyền cảm hứng bởi mục đích hiện
thân tình yêu của Chúa trong những sự kiện cụ thể của cuộc sống. Đồng thời, tôi
muốn khuyến khích các cơ sở giáo dục và các trường đại học tạo động lực mới cho
những nguyên tắc này, và áp dụng chúng một cách phù hợp và hữu hiệu trong việc
giải quyết cuộc cách mạng kỹ thuật số. Bằng cách này, việc nghiên cứu thần học
và triết học sẽ có thể tiếp tục khám phá và hỗ trợ hành trình mục vụ của Giáo hội,
và góp phần vào nhiệm vụ của Huấn quyền trong việc soi sáng lương tâm của các
tín hữu và hướng dẫn nỗ lực của họ để làm cho đời sống xã hội chúng ta công bằng
và huynh đệ hơn.
Các Nền tảng của Học thuyết Xã hội
Con người: hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi
48. Học thuyết Xã hội của Giáo hội đưa chúng ta đến tận cốt lõi của đức tin: mầu
nhiệm Thiên Chúa hằng sống, được mặc khải trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng, với tư
cách là một sự hiệp thông các Ngôi vị — Cha, Con và Thánh Thần — chính là tình
yêu trong mối quan hệ, được phát biểu trong sự hiến dâng lẫn nhau và trong việc
chia sẻ với thế giới. [51] Như Công đồng đã nhắc lại, con người được mời gọi bước
vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và “chỉ có thể khám phá trọn vẹn bản ngã đích
thực của mình trong sự hiến dâng chân thành”. [52] Thật vậy, ơn gọi sâu sắc nhất
của họ là bước vào động lực của tình yêu Ba Ngôi được đón nhận và chia sẻ.
49. Nếu mầu nhiệm Thiên Chúa là Tình Yêu là nguồn gốc của Học thuyết Xã hội,
thì chúng ta thấy biểu thức cụ thể nhất của nó nơi dung mạo của Chúa Giêsu
Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể. Bằng cách trở thành người, Con Thiên Chúa bước vào lịch
sử của chúng ta và mang lấy xác thịt con người, mang theo tình yêu kết hợp Người
với Cha và Thánh Thần. Trong Người, “mầu nhiệm của nhân loại thực sự trở nên rõ
ràng” [53] bởi vì nhân tính của Người hoàn toàn tự do, cởi mở với người khác,
có khả năng xây dựng những mối quan hệ lành mạnh và tốt đẹp và tận tâm hiến
dâng trọn vẹn bản thân. Những người tin vào Người tham gia vào công việc đổi mới
vĩ đại bắt đầu từ mầu nhiệm khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người, và họ
cộng tác trong việc xây dựng Vương quốc Thiên Chúa, học cách đón nhận tất cả mọi
người như anh chị em, con cái của một Cha. Bằng cách này, cả việc rao giảng Tin
Mừng và đời sống Kitô giáo, được hướng dẫn bởi hoạt động của Chúa Thánh Thần, đều
hướng đến việc mang lại những hệ quả xã hội trên thế giới. [54]
50. Cốt lõi của sự hiểu biết Kitô giáo về con người nằm ở sự khẳng định vĩ đại
của Kinh Thánh rằng nam nữ được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa Ba
Ngôi (xem Sáng thế 1:26-27). Được tạo dựng cho mối quan hệ, mỗi
con người đều được Thiên Chúa lên kế hoạch và muốn để hiệp thông với Người, với
người khác và với tạo thế. Phẩm giá con người không phụ thuộc vào khả năng, của
cải hay địa vị trong cuộc sống của một người, cũng không phụ thuộc vào những lựa
chọn đúng hay sai đã thực hiện; thay vào đó, nó là một ơn ban có trước và vượt
lên trên mỗi người, được Thiên Chúa ban tặng như một biểu thức của tình yêu bất
diệt của Người. Vì lý do này, con người luôn luôn là “con đường cho Giáo hội”
[55] và là trái tim của mọi con đường đích thực của sự phát triển toàn diện con
người. [56]
Phẩm giá bình đẳng của tất cả mọi người
51. Thánh Gioan Phaolô II đã tuyên bố rằng, “ý thức được nâng cao về phẩm giá của
con người và tính độc nhất của họ, và về sự tôn trọng dành cho hành trình lương
tâm, chắc chắn đại diện cho một trong những thành tựu tích cực của nền văn hóa
hiện đại.” [57] Tuyên bố này tiếp nối đường lối đã được nêu ra bởi Công đồng
Vatican II, trong đó ghi nhận sự công nhận ngày càng tăng về phẩm giá cao cả của
tất cả mọi người, sự ưu việt của họ so với vật chất và các quyền và nghĩa vụ phổ
quát và bất khả xâm phạm của họ. [58] Điều quan trọng là phải đảm bảo rằng sự
gia tăng đánh giá cao phẩm giá con người này không bị che khuất bởi áp lực của
các hệ tư tưởng mới hoặc các lợi ích rất mạnh mẽ trong thế giới ngày nay. Trong
số những hệ tư tưởng này, tôi cho rằng đặc biệt nguy hiểm là hệ tư tưởng cho rằng
mỗi người phải tự mình kiếm được hoặc chứng minh giá trị của bản thân, đến mức
gán giá trị lớn hơn cho những người hữu hiệu hoặc có năng suất hơn. Từ quan điểm
này, con người cuối cùng bị hạ thấp xuống thành phương tiện để đạt được kết quả,
một nguồn lực để sử dụng và khai thác, và không còn được công nhận là mục đích
tự thân đúng đắn, không bao giờ nên bị lợi dụng. Tuy nhiên, giá trị của con người
không phụ thuộc vào những gì họ đạt được hoặc sản xuất. Có những quyền áp dụng
cho tất cả mọi người chỉ đơn giản bằng việc là con người, và không một quyền lực
nào của con người có thể hợp pháp phủ nhận hoặc tùy tiện hạn chế chúng. [59]
52. Khi chúng ta nói về phẩm giá, chúng ta không phải lúc nào cũng sử dụng từ
này theo cùng một cách. Đôi khi chúng ta đề cập đến phẩm giá đạo đức, cụ thể là
cách một người định hướng các lựa chọn và hành động của mình. Những lúc khác,
chúng ta nghĩ đến phẩm giá xã hội, đề cập đến điều kiện sống của một người và sự
tôn trọng cụ thể nhận được từ xã hội. Trong những trường hợp khác, chúng ta đề
cập đến phẩm giá hiện sinh, có nghĩa là cách một người nhận thức giá trị của
chính mình và giá trị của cuộc sống. Những khía cạnh này của phẩm giá có thể được
nâng cao hoặc giảm đi. Bên cạnh những khái niệm này, còn có một bìnhh diện sâu
sắc và quan trọng hơn về phẩm giá hữu thể học. Đây là phẩm giá thuộc về mỗi con
người chỉ đơn giản nhờ việc hiện hữu, nhờ việc được Thiên Chúa muốn, tạo dựng
và yêu thương. [60] Không tội lỗi, thất bại, sỉ nhục hay sự loại trừ nào có thể
làm giảm giá trị sâu sắc của một cuộc sống con người mà Thiên Chúa đã muốn và
kêu gọi. [61]
53. Do đó, phẩm giá cơ bản của mỗi người không phải là thứ có được hay kiếm được,
cũng không cần phải được biện minh. Tuyên bố Dignitas Infinita gần
đây đã tóm tắt tư tưởng của Giáo hội về vấn đề này: “Mỗi con người đều sở hữu một
phẩm giá vô hạn, được đặt nền tảng không thể tách rời trong chính hữu thể của họ,
phẩm giá này tồn tại trong và vượt ra ngoài mọi hoàn cảnh, trạng thái hoặc tình
huống mà người đó có thể gặp phải” [62] — nói cách khác, luôn luôn và không có
ngoại lệ. Phẩm giá của mỗi con người có thể được mô tả là vô hạn, như Thánh
Gioan Phaolô II đã nói, [63] vì hai lý do: thứ nhất, bởi vì tình yêu của Thiên
Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta làm bạn với Người, là vô hạn; và thứ hai, tình yêu
của Người là hoàn toàn vô điều kiện, theo nghĩa là, ngay cả khi chúng ta tìm kiếm
vô tận, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy bất cứ điều gì có thể xóa bỏ hoặc phủ
nhận nó.
Giá trị tối cao của nhân quyền
54. Giáo hội thừa nhận một cách biết ơn rằng “phong trào hướng tới việc xác định
và công bố nhân quyền là một trong những nỗ lực quan trọng nhất để đáp ứng hữu
hiệu những yêu cầu không thể tránh khỏi của phẩm giá con người.” [64] Về vấn đề
này, Thánh Gioan Phaolô II đã nói rằng Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền, được
Liên Hợp Quốc công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, vẫn là một trong những biểu
thức cao nhất của lương tâm con người trong thời đại chúng ta. [65] Đó là “một
cột mốc trên con đường dài và khó khăn của nhân loại.” [66] Vì lý do này, từ
quan điểm Kitô giáo, nhân quyền không phải là một sự bổ sung bên ngoài cho con
người, mà là một biểu thức của phẩm giá nội tại của con người, mà cộng đồng quốc
tế được kêu gọi bảo vệ và cổ vũ.
55. Nhân quyền là bất khả xâm phạm, vì chúng “vốn có trong con người và trong
phẩm giá con người”. [67] Do đó, chúng là phổ quát và bất khả chuyển nhượng.
[68] Chính vì chúng được đặt nền tảng trên phẩm giá chung của mỗi người đàn ông
và đàn bà, nên chúng có những hậu quả thực tiễn và hiệu lực pháp lý, bởi vì “sẽ
thật vô ích nếu tuyên bố nhân quyền mà đồng thời không làm mọi thứ để đảm bảo
nghĩa vụ tôn trọng chúng, sự tôn trọng của tất cả mọi người, ở mọi nơi và cho tất
cả mọi người”. [69] Trong số những quyền này, quyền đầu tiên là quyền sống, từ
khi thụ thai đến khi kết thúc tự nhiên, [70] nếu không có quyền này thì không
thể thực hiện bất cứ quyền nào khác. Khi quyền cơ bản này bị phủ nhận — như
trong các trường hợp phá thai, giết người vô tội và an tử — chúng ta phải đối
diện với những lựa chọn mà Giáo hội coi là sai trái nghiêm trọng. [71]
56. Nhìn vào thời đại của chúng ta, chúng ta không thể bỏ qua sự kiện này là việc
bảo vệ nhân quyền đã bị phơi bày trước hai mối nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ nhất là những quyền này được tuyên bố một cách hoàn toàn hình thức, trong
khi tiến bộ kỹ thuật tiếp tục diễn ra song song với những vi phạm ngầm hoặc
công khai về phẩm giá con người. Thứ hai, mà thực chất là gốc rễ của điều thứ
nhất, là sự bất lực trong việc nhận ra nền tảng trong tính phổ quát của chúng,
vì chúng ta đã từ bỏ “việc tìm kiếm những nền tảng vững chắc hỗ trợ các quyết định
và luật pháp của chúng ta”. [72] Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã kêu gọi chúng ta
không nên đánh giá thấp vấn đề cuối cùng này. Ngài chỉ ra rằng khi lý trí
nghiêm túc xem xét bản chất con người, nó có khả năng khám phá ra những giá trị
áp dụng cho tất cả mọi người, bởi vì chúng bắt nguồn từ bản chất con người. Nếu
nhiệm vụ tìm hiểu này bị bỏ rơi, có thể hình dung rằng những quyền được coi là
bất khả xâm phạm ngày nay, trong tương lai, cuối cùng sẽ bị những người nắm quyền
đặt câu hỏi hoặc phủ nhận, có lẽ sau khi chỉ đạt được sự đồng thuận bề ngoài từ
các nhóm dân cư bị sợ hãi hoặc bị thao túng. [73]
57. Cùng với nhận thức lớn hơn về giá trị của mỗi con người và quyền của họ, sự
công nhận quyền của các nhóm thiểu số cũng đã tăng lên. Tuy nhiên, vẫn còn một
chặng đường dài để đảm bảo rằng quyền của rất nhiều người, đặc biệt là phụ nữ,
được đảm bảo một cách bình đẳng và thực sự trên toàn thế giới. Thực tế là “những
phụ nữ phải chịu đựng tình trạng bị loại trừ, ngược đãi và bạo lực càng nghèo
khổ hơn, vì họ thường ít có khả năng bảo vệ quyền của mình.” [74] Do đó, chỉ
đơn giản tuyên bố rằng nam và nữ có phẩm giá và quyền bình đẳng là chưa đủ; cần
phải phản ánh điều này trong các quyết định cụ thể, chẳng hạn như trong luật
pháp, tiếp cận việc làm, giáo dục, trách nhiệm xã hội và chính trị, và cách xã
hội lắng nghe và đánh giá cao những đóng góp của phụ nữ. Chừng nào khoảng cách
này còn tồn tại, chúng ta không thể nói rằng xã hội thực sự và đầy đủ công nhận
rằng phụ nữ có phẩm giá như nam giới.
58. Chính các cá nhân mới là điều quan trọng, mỗi người, cùng với gia đình của
họ. Các phong trào xã hội, hệ tư tưởng cộng đồng và những tuyên bố chính trị lớn
lao ủng hộ một bộ phận dân chúng đều vô giá trị nếu chúng không dẫn đến sự thịnh
vượng của con người – cả nam và nữ – với những quyền bất khả xâm phạm của họ.
Tương tự, việc ca ngợi tự do cá nhân hay doanh nghiệp tư nhân là chưa đủ nếu
sau đó chúng ta lại để cho nhiều người tiếp tục sống mà không có việc làm tử tế,
sự bảo vệ hoặc tiếp cận với những nhu cầu cơ bản.
Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội
Nguyên tắc lợi ích chung
59. Nhận thức rằng mỗi người đàn ông và đàn bà đều sở hữu một phẩm giá bất khả
xâm phạm, cùng với những quyền mà không một thế lực nào của con người có thể phản
bội hay vô hiệu hóa, đòi hỏi chúng ta phải định hình cách chúng ta sống cùng
nhau, bao gồm cả những lựa chọn kinh tế và chính trị của chúng ta, và cấu trúc
của các thành phố. Từ đó nảy sinh nguyên tắc chính đầu tiên của Học thuyết Xã hội
mà tôi muốn nhấn mạnh: lợi ích chung. Chúng ta có thể mô tả nó như biểu thức xã
hội của phẩm giá được công nhận trong mỗi con người. Khi Đức Bê-nê-đíc-tô XVI đề
cập đến những giá trị không thể thương lượng mà Giáo hội phải luôn bảo vệ, ngài
đã bao gồm trong đó “việc thúc đẩy lợi ích chung”. [75] Đối với một người Kitô
hữu, việc vượt ra khỏi những giới hạn hẹp hòi của lợi ích cá nhân và cống hiến
hết mình, trong khả năng của mình, cho lợi ích chung là một giá trị không thể
thương lượng, cũng như việc cổ vũ sự sống.
60. Công đồng Vatican II khẳng định rằng lợi ích chung bao gồm “tổng thể các điều
kiện xã hội cho phép mọi người, dù là theo nhóm hay cá nhân, đạt được sự viên
mãn của mình một cách trọn vẹn và dễ dàng hơn”. [76] Định nghĩa này cung cấp
cho chúng ta một điểm tham chiếu ban đầu có giá trị, bởi vì lợi ích chung không
thể bị thu hẹp thành một danh sách đơn thuần các điều kiện hoặc định chế. Nó
không phải là tổng thể các lợi ích cá nhân, cũng không phải là sự giao thoa của
các lợi ích riêng biệt của họ; đó là một lợi ích lớn hơn thuộc về tất cả mọi
người, và nó chỉ có thể đạt được, nuôi dưỡng và bảo vệ bằng những nỗ lực tập thể
của chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng hành động xã hội đạt được sự viên mãn
khi nó hướng tới lợi ích chung này, cũng như hành động đạo đức của một người
tìm thấy sự viên mãn trong việc lựa chọn điều thiện đích thực. [77]
61. Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói rằng toàn thể “lớn hơn tổng số các phần
của nó” [78] và chính vì lý do này, “tổng số các lợi ích cá nhân không đủ khả
năng tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho toàn thể gia đình nhân loại.” [79] Thật
vậy, thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng chỉ theo đuổi sự tiến bộ của bản thân mà
không quan tâm đến người khác là đủ để đóng góp vào lợi ích chung. Quan điểm
này bỏ qua giá trị vốn có và đặc thù của lợi ích chung, là kết quả của sự “phụ
thuộc lẫn nhau” [80] tạo ra một mạng lưới lợi ích xã hội mở rộng và tác động đến
mọi người. Lợi ích chung là một “phần cộng”, kết quả của sự tương tác và ảnh hưởng
lẫn nhau kết nối các hành động, sáng kiến, nỗ lực và quyết định khác nhau. Nếu
chúng ta cộng các lợi ích cá nhân lại với nhau, chúng ta không thể giải thích sự
tồn tại của “phần cộng” vốn vượt lên trên chúng và đồng thời làm giàu thêm cho
chúng.
62. Việc theo đuổi lợi ích chung mang lại sức sống cho một dân tộc, được hiểu
không chỉ đơn thuần là một tập hợp các cá nhân, mà là một thực tại sống động
trong đó mọi người học cách nhận ra rằng bản thân họ có mối liên hệ với nhau và
cùng chịu trách nhiệm về nền cộng hòa. Theo nghĩa này, mỗi người đóng góp vào
việc xây dựng dân tộc mình thông qua “một nỗ lực chậm chạp và gian khổ đòi hỏi
mong muốn hội nhập và sẵn sàng đạt được điều này thông qua sự phát triển của một
nền văn hóa gặp gỡ hòa bình và đa diện.” [81] Làm việc cùng nhau vì lợi ích
chung có nghĩa là có một tầm nhìn chung. Rõ ràng là có nhiều khác biệt về tư tưởng
và thực hành giữa mọi người, cũng như những lợi ích khác nhau và những bất đồng
thường xuyên, nhưng điều đó không có nghĩa là không thể tham gia đối thoại để
thiết lập một tập hợp các thỏa thuận cơ bản cho phép tạo ra một tầm nhìn chung,
dựa vào đó mọi người có thể cùng nhau tiến lên.
63. Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo sự gắn kết, sự thống nhất và tổ chức đúng đắn
của xã hội dân sự, để lợi ích chung có thể được theo đuổi với sự đóng góp của mọi
người. Về mặt thực hành, điều này có nghĩa là các cơ quan công quyền có nhiệm vụ
tế nhị là “hài hòa các lợi ích ngành khác nhau với các yêu cầu của công lý”,
[82] tìm kiếm sự cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, mà không bỏ lại
những người dễ bị tổn thương nhất. Khi chính trị từ bỏ tầm nhìn dài hạn và tự
thu hẹp lại thành những tính toán ngắn hạn hoặc sự phân cực vô ích, thì ngôn ngữ
về lợi ích chung sẽ mất đi uy tín, đồng thời, bất bình đẳng và chia rẽ xã hội
ngày càng gia tăng.
64. Điều này cũng áp dụng cho chính trị quốc tế. Khi khoảng cách giữa các quốc
gia ngày càng rộng, tâm lý đối đầu và gây hấn bắt đầu hình thành, và con đường
khó khăn hướng tới một thế giới thống nhất và có tình anh em hơn phải chịu những
trở ngại mới và đau đớn. Trong bối cảnh này, việc nói về một hành trình chung
hướng tới sự phát triển công bằng hơn cho toàn thể gia đình nhân loại “nghe có
vẻ điên rồ”. [83] Tuy nhiên, chúng ta không được mất hy vọng. Tôi mời mọi người
cùng suy nghĩ về các cách thức hợp tác và các định chế quốc tế hữu hiệu hơn, có
khả năng bảo vệ lợi ích chung toàn cầu mà không làm tổn hại đến sự đa dạng hợp
pháp của các dân tộc và quốc gia. Thật vậy, việc thúc đẩy lợi ích chung không
bao giờ có thể tách rời khỏi việc tôn trọng quyền hiện hữu của các dân tộc, quyền
bảo tồn bản sắc riêng và quyền đóng góp những phẩm chất độc đáo của họ cho cộng
đồng quốc tế. [84] Hơn nữa, bất cứ nỗ lực hoặc kế hoạch nào nhằm xóa bỏ hoặc
khuất phục một quốc gia đều là vô cùng phi đạo đức và do đó không thể chấp nhận
được.
Nguyên tắc về đích đến phổ quát của của cải
65. “Trong số nhiều hàm ý của lợi ích chung, nguyên tắc đích đến phổ quát của của
cải mang ý nghĩa trực tiếp.” [85] Trước hết, nguyên tắc này nhắc nhở chúng ta rằng
của cải của trái đất — đất, nước, không khí và tài nguyên thiên nhiên — được
Chúa ban cho toàn thể gia đình nhân loại để duy trì sự sống của tất cả mọi người,
và mỗi người đều có quyền cố hữu đối với việc sử dụng những của cải đó, cả hiện
tại và tương lai. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng, “Thiên Chúa đã ban trái
đất cho toàn thể nhân loại để nuôi sống tất cả các thành viên của nó, không loại
trừ hay ưu ái bất cứ ai.” [86] Do đó, “không phù hợp với kế hoạch của Thiên
Chúa khi sử dụng ơn ban này theo cách mà lợi ích của nó chỉ thuộc về một số ít
người được chọn.” [87] Ngày nay, chúng ta được kêu gọi nhận ra rằng mục đích phổ
quát này không chỉ áp dụng cho của cải vật chất, mà còn cho của cải phi vật chất
và văn hóa.
66. Chắc chắn có quyền sở hữu tư nhân, có ý nghĩa và mục đích cụ thể riêng,
nhưng nó luôn luôn phụ thuộc vào đích đến phổ quát của của cải. Theo Đức Gioan
Phaolô II, sự phụ thuộc này là quy tắc vàng của hành vi xã hội và là “nguyên tắc
đầu tiên của toàn bộ trật tự đạo đức và xã hội.” [88] Trong truyền thống của
Giáo hội, tài sản được coi là phương tiện để bảo vệ và quản lý của cải sao cho
chúng có thể phục vụ tốt hơn cho lợi ích chung. Vì “truyền thống Kitô giáo chưa
bao giờ công nhận quyền sở hữu tư nhân là tuyệt đối hoặc bất khả xâm phạm,”
[89] nên chức năng xã hội của nó không được coi là một quan điểm thần học đơn
thuần, mà là một học thuyết của Giáo hội, đã hiện diện trong Kinh Thánh và
trong các tác phẩm của các Giáo phụ. Vì lý do này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã
nhắc nhở chúng ta rằng tình liên đới, khi được sống trọn vẹn nhất, cũng có
nghĩa là “trả lại cho người nghèo những gì thuộc về họ.” [90]
67. Ngày nay, trong số những của cải được dành cho tất cả mọi người, chúng ta
cũng phải bao gồm các hình thức sở hữu mới, chẳng hạn như bằng sáng chế, thuật
toán, nền tảng kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dữ liệu. Trong bối cảnh
mà sự giàu có của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào kiến thức và kỹ thuật,
khi những của cải này vẫn tập trung trong tay một số ít người, mà không có các
hình thức chia sẻ và tiếp cận thích hợp, một sự mất cân bằng mới được tạo ra,
trái ngược với đích đến phổ quát của cải. Đến lượt nó, nó làm gia tăng khoảng
cách giữa những người được bao gồm và những người bị loại trừ, giữa những người
có thể tham gia vào cuộc cách mạng kỹ thuật số và những người vẫn ở bên lề. Hơn
nữa, việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta và trách nhiệm của chúng ta đối
với người nghèo và các thế hệ tương lai đòi hỏi việc sử dụng các của cải do tạo
hóa ban tặng và những khả năng mới do kỹ thuật mang lại phải được điều chỉnh
theo cách tôn trọng môi trường, tránh lãng phí và ngăn chặn các hình thức bóc lột
mới.
Nguyên tắc phụ đới
68. Nguyên tắc phụ đới xuất phát từ chính sự hiểu biết về con người đã hướng dẫn
suy tư của chúng ta về phẩm giá và lợi ích chung. Nếu mỗi người đàn bà và người
đàn ông được kêu gọi làm chủ cuộc sống của chính mình và đóng góp vào sự hình
thành xã hội, thì các định chế xã hội cũng phải tôn trọng và hỗ trợ trách nhiệm
này. Học thuyết Xã hội của Giáo hội đề cập đến nguyên tắc phụ đới như là nguyên
tắc theo đó vai trò của cá nhân, gia đình, cộng đồng địa phương và các tổ chức
trung gian không nên bị thay thế bởi các thẩm quyền cao hơn. Hơn nữa, các định
chế cao cấp hơn phải công nhận, bảo vệ và thúc đẩy sự tự do và sáng tạo của các
thực thể cấp thấp hơn, phối hợp các đóng góp của họ để họ có thể hợp tác hữu hiệu
vì lợi ích chung. [91]
69. Bắt đầu từ Đức Lê-ô XIII và những khởi đầu của giáo huấn xã hội hiện đại,
Giáo hội đã nhấn mạnh rằng cả cá nhân lẫn gia đình không nên bị Nhà nước chi phối,
mà nên được phép hành động tự do, trong chừng mực có thể, mà không gây hại đến
lợi ích chung. [92] Thánh Gioan Phaolô II đã tiếp thu và phát triển quan điểm
này, lưu ý rằng cộng đồng chính trị phục vụ xã hội dân sự và Nhà nước phải bảo
vệ lợi ích chung, can thiệp khi cần thiết, nhưng không thay thế vĩnh viễn trách
nhiệm của các tổ chức trung gian và các định chế xã hội. [93] Nguyên tắc phụ đới
không biện minh cho sự rút lui của Nhà nước, mà đúng hơn là hướng dẫn hành động
của Nhà nước. Thật vậy, sự can thiệp của nhà nước là cần thiết chính để cho
phép tất cả các chủ thể xã hội hoàn thành sứ mệnh của họ mà không bị kìm hãm. Cộng
đồng chính trị có trách nhiệm tạo ra những điều kiện cho phép các cá nhân, gia
đình, hiệp hội và các tổ chức trung gian hoàn thành sứ mệnh của họ trong xã hội,
mà không bị thay thế hoặc bị giảm xuống chỉ còn là những người hỗ trợ. [94]
70. Nguyên tắc này khuyến khích chúng ta vượt ra khỏi bất cứ hình thức quản lý
đời sống xã hội nào mang tính duy cha chú [paternalistic] hoặc dựa trên phúc lợi,
mà thay vào đó thúc đẩy một nền văn hóa trách nhiệm chung trong một Nhà nước
coi trọng sáng kiến của công dân và một xã hội dân sự có khả năng tạo dựng mối
liên kết và huy động năng lực phục vụ lợi ích chung. Phù hợp với nguyên tắc phụ
đới, các quyết định được đưa ra ở bình diện gần nhất có thể với những người
liên quan, do đó thúc đẩy đời sống cộng đồng và tránh việc người dân phải đối
diện với những quyết định đã được đưa ra. Bằng cách này, người dân có thể tham
gia vào quá trình ra quyết định. Khi các gia đình, hiệp hội, cộng đồng địa
phương, các tổ chức tình nguyện và những tổ chức thuộc điều gọi là “khu vực thứ
ba” được công nhận và hỗ trợ, đời sống xã hội trở nên dễ tiếp cận hơn với người
dân, các dịch vụ trở nên phù hợp hơn với nhu cầu thực tế và các giải pháp trở
nên sáng tạo hơn và tôn trọng phẩm giá của mỗi người. [95]
71. Nguyên tắc phụ đới đặc biệt áp dụng trong bối cảnh cuộc cách mạng kỹ thuật
số. Ở đây, cấp cao nhất không phải là Nhà nước, mà là các tác nhân kinh tế và kỹ
thuật lớn thực thi quyền lực trên thực tế đối với các điều kiện của cuộc sống
hàng ngày. Bình diện này, độc quyền về chuyên môn, dữ liệu và quyền ra quyết định,
bao gồm các công ty và nền tảng xác định các điều kiện truy cập, quy tắc hiển
thị, hình thức tương tác và thậm chí cả cơ hội kinh tế. Nguyên tắc phụ đới yêu
cầu các quy trình như vậy không được áp đặt từ trên xuống một cách mờ ám và đơn
phương, mà thay vào đó phải hướng tới lợi ích chung với tính minh bạch, trách
nhiệm giải trình và các hình thức tham gia có ý nghĩa (bao gồm kiểm tra độc lập,
tính minh bạch về thuật toán, quyền truy cập dữ liệu công bằng và các kênh khiếu
nại). [96]
72. Trong bối cảnh này, các quốc gia và các tổ chức siêu quốc gia được kêu gọi
đảm bảo các quy tắc công bằng và các biện pháp bảo vệ hữu hiệu, để các cộng đồng
địa phương, các tổ chức trung gian, trường học, đại học, các tổ chức và hiệp hội
tôn giáo có tiếng nói và có thể đóng góp vào việc phân định các lựa chọn ảnh hưởng
đến cuộc sống hàng ngày của người dân, chẳng hạn như việc làm, tiếp cận dịch vụ,
quản lý dữ liệu và môi trường kỹ thuật số. Khi nói đến các quyết định liên quan
đến các luồng kinh tế và nền tảng kỹ thuật số, cũng như việc quản trị dữ liệu
và thuật toán, chúng ta không thể cho phép một số ít tác nhân tự ý quyết định
các quy trình này; thay vào đó, chúng ta phải xây dựng các hình thức hợp tác tôn
trọng các bình diện khác nhau của cộng đồng toàn cầu và khiến họ cùng chịu
trách nhiệm vì lợi ích chung. [97]
Nguyên tắc liên đới
73. Sau khi xem xét lợi ích chung và nguyên tắc phụ đới, tôi muốn suy gẫm về
nguyên tắc liên đới. Nguyên tắc này xuất phát từ một tầm nhìn về con người được
hình thành bởi đức tin, đó là mỗi con người được tạo ra theo hình ảnh của Thiên
Chúa và là một phần của mạng lưới các mối quan hệ ràng buộc họ với những người
khác, với các cộng đồng cụ thể và với tạo thế. Thánh Phaolô VI nhận thấy rằng
các nghĩa vụ liên đới, công lý và bác ái bắt nguồn từ các mối liên kết huynh đệ
nhân bản và siêu nhiên kết nối các cá nhân và cộng đồng. [98] Tình huynh đệ
không chỉ là một khát vọng của những người tin, mà là một thực tại xã hội và
chính trị cần được hiện thân trong các lựa chọn và nỗ lực chung. Liên đới, do
đó, là sự thừa nhận cụ thể rằng tương lai của mỗi cá nhân được kết nối với
tương lai của tất cả; quả thật, “không ai được cứu rỗi một mình.” [99] Mối liên
hệ chặt chẽ giữa nguyên tắc phụ đới và tình liên đới do đó trở nên rõ ràng. Như
vậy, rõ ràng là có một mối liên hệ mật thiết giữa nguyên tắc phụ đới và tình
liên đới. Khi nguyên tắc phụ đới không được liên kết với tình liên đới, nó cuối
cùng chỉ trở thành sự bảo vệ các lợi ích cụ thể; khi tình liên đới không được hỗ
trợ bởi nguyên tắc phụ đới, nó sẽ thoái hóa thành một hình thức phúc lợi không
thúc đẩy trách nhiệm. [100] Sự liên kết này cũng liên quan đến trách nhiệm tham
gia đích thực. Tình liên đới được phát biểu khi mỗi người, cả cá nhân và tập thể,
tham gia vào đời sống cộng đồng — bằng cách cập nhật thông tin, tương tác với
người khác, lên tiếng và đóng góp vào các quyết định và lựa chọn công cộng — đồng
thời gánh vác trách nhiệm thực sự để đạt được lợi ích chung thông qua việc ra quyết
định chung.
74. Trong nhiều lĩnh vực, chúng ta đã và đang trải nghiệm một loại “tình liên đới
trên thực tế”, vì cuộc sống của chúng ta đan xen vào nhau; mạng lưới kỹ thuật số
kết nối mọi người và cộng đồng trên khắp thế giới trong thời gian thực, và nền
kinh tế và truyền thông toàn cầu có nghĩa là các sự kiện ở một nơi có tác động
sâu rộng. Tuy nhiên, mạng lưới các mối quan hệ này chỉ cấu thành tình liên đới
theo nghĩa đầy đủ nhất của hạn từ khi nó trở thành một lựa chọn có ý thức. Đức
tin mời gọi chúng ta nhìn nhận thực tại này như một lời kêu gọi: chúng ta không
chỉ là những người láng giềng của nhau, mà còn được giao phó cho nhau, để mỗi
người trong chúng ta có thể chịu trách nhiệm, trong khả năng tốt nhất của mình,
đối với cuộc sống và những vết thương của anh chị em mình. Tinh thần liên đới nảy
sinh chính khi chúng ta quyết định không thờ ơ với những gì xảy ra với người
láng giềng của mình mà thay vào đó biến những mối ràng buộc không thể tránh khỏi
— kinh tế, văn hóa và kỹ thuật— thành những con đường chia sẻ, hợp tác và chăm
sóc lẫn nhau, đón nhận ý tưởng “suy nghĩ và hành động theo tinh thần cộng đồng”.
[101]
75. Giáo huấn xã hội của Giáo hội nhấn mạnh rằng liên đới vừa là một nguyên tắc
vừa là một nhân đức. Là một nguyên tắc, nó nói lên trật tự khách quan của các mối
quan hệ giữa các cá nhân, nhóm và dân tộc, chỉ ra nhận thức về sự phụ thuộc lẫn
nhau, theo đó lợi ích của mỗi người phụ thuộc vào lợi ích của người khác. Là một
nhân đức, nó đòi hỏi một “quyết tâm vững chắc và kiên trì” [102] để phấn đấu vì
lợi ích chung, đặc biệt chú ý đến những người cần giúp đỡ nhất. Đức Giáo Hoàng
Phanxicô lưu ý rằng liên đới là “một cách làm nên lịch sử” [103] tạo ra các cộng
đồng chứ không chỉ là những khối cá nhân. Vì lý do này, nó đòi hỏi một lối sống
khiêm tốn và chia sẻ, khả năng từ bỏ lợi ích trước mắt để tạo cơ hội cho người
khác trong tương lai, và sự sẵn lòng thách thức những thói quen và đặc quyền —
bao gồm cả những thói quen và đặc quyền liên quan đến tiêu dùng kỹ thuật số và
sử dụng kỹ thuật — khi chúng ngăn cản người khác sống một cách đàng hoàng.
76. Trong một thế giới được đánh dấu bởi những mối liên hệ ngày càng chặt chẽ
giữa con người, cộng đồng và quốc gia, tình liên đới cũng mang một chiều kích
toàn cầu. Đức Bê-nê-đic-tô XVI đã hết sức nhấn mạnh mối liên hệ giữa phát triển,
công lý và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai, tuyên bố rằng sự phát triển
đích thực đòi hỏi tình liên đới và công lý giữa các thế hệ, [104] cũng như nhận
thức về những mối liên kết gắn kết chúng ta với môi trường tự nhiên. Ngày nay,
trách nhiệm này cũng mở rộng đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và thông tin. Giống
như môi trường tự nhiên, “hệ sinh thái kỹ thuật số” có thể được bảo tồn hoặc
khai thác, chia sẻ hoặc độc quyền. Tình liên đới đòi hỏi các quyết định liên
quan đến dữ liệu, thuật toán, nền tảng và trí tuệ nhân tạo phải tính đến không
chỉ lợi ích trước mắt của một số ít người, mà còn cả tác động đến tất cả mọi
người và các thế hệ tương lai.
Nguyên tắc công bằng xã hội
77. Đối với cộng đồng Kitô giáo, công bằng xã hội là một cách cụ thể để noi
theo Chúa Giêsu và trung thành với Tin Mừng. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu loan báo
“tin mừng cho người nghèo” (Lc 4:18) và đồng nhất mình với những
người thấp hèn, người bệnh, người bị giam cầm và người lạ (xem Mt 25:31-46).
Như vậy, Người dạy chúng ta rằng công lý được sinh ra từ và được hoàn thành
trong tình huynh đệ, bởi vì cách chúng ta tiếp cận và liên hệ với những người
thấp kém nhất trong chúng ta, nói một cách cụ thể, trở thành thước đo mối quan
hệ của chúng ta với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta. Tuy nhiên, công
lý không chỉ liên quan đến hành vi của các cá nhân, mà còn liên quan đến cách
thức mà các cấu trúc của xã hội được hình thành và tổ chức. Về vấn đề này, Công
đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta rằng mọi định chế đều được kêu gọi phục vụ
con người và phẩm giá của họ. [105] Do đó, công bằng xã hội được đặc trưng bởi
khả năng của một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị cho phép mọi người — đặc
biệt là những người yếu thế nhất — sống một cuộc sống thực sự có phẩm giá,
không bỏ lại ai phía sau.
78. Giáo huấn gần đây đã nhấn mạnh rằng công bằng xã hội bắt đầu từ những người
thấp kém nhất trong chúng ta. Thánh Gioan Phaolô II đã nói về sự lựa chọn ưu
tiên cho người nghèo [106] phải hướng dẫn cả những lựa chọn cá nhân và xã hội,
trong khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lên án một “văn hóa ‘vứt bỏ’” [107] tạo ra
những hình thức loại trừ ngày càng mới. Từ quan điểm này, công bằng xã hội đòi
hỏi chúng ta phải nhìn vào các cá nhân và cộng đồng, bắt đầu từ những người dễ
bị tổn thương nhất: người nghèo, người di cư, người tị nạn, người di dời trong
nước, nạn nhân của bạo lực và những người sống ở vùng ngoại ô đô thị hoặc vùng
ngoại ô về mặt hiện sinh.
79. Ý niệm “công bằng xã hội” giúp chúng ta nhận ra rằng sự bất công không chỉ
phát sinh từ những lựa chọn sai lầm của cá nhân, mà còn từ các cấu trúc, cơ chế
và hệ thống kinh tế và văn hóa tạo ra sự bất bình đẳng gần như tự động. Thánh
Gioan Phaolô II đã nói về các cấu trúc tội lỗi [108] chống lại ý muốn của Thiên
Chúa và đòi hỏi sự cam kết hoán cải cá nhân và xã hội. Theo quan điểm này, công
lý không chỉ đơn thuần là việc phân phối nguồn lực công bằng hơn hoặc sửa chữa
những bất công hiện tại, mà còn mang một chiều kích phục hồi. Nó nhằm mục đích
hàn gắn những mối quan hệ đổ vỡ và tái hòa nhập những người bị loại trừ, có
tính đến những vết thương do bất công gây ra, chẳng hạn như chiến tranh, chủ
nghĩa thực dân, phân biệt chủng tộc hoặc giới tính, bạo lực chống lại toàn bộ
các dân tộc và bóc lột. Điều này có thể bao gồm việc khôi phục phẩm giá và tiếng
nói cho những người bị bỏ qua, thúc đẩy các quá trình chữa lành ký ức tập thể,
chống lại các luật và thực hành phân biệt đối xử, và cung cấp hỗ trợ cụ thể cho
những người vẫn còn gánh chịu hậu quả của những sai trái đã phải chịu đựng
trong quá khứ.
80. Trong thời đại ngày nay, công lý xã hội cũng phải đối diện với môi trường
được định hình bởi các kỹ thuật kỹ thuật số. Sự lan rộng của các mạng lưới toàn
cầu, nền tảng và hệ thống trí tuệ nhân tạo đang thay đổi cách chúng ta thu thập
thông tin, giao tiếp và tiếp cận các dịch vụ. Công lý đòi hỏi chúng ta phải
ngăn chặn sự xuất hiện của các hình thức loại trừ và tước đoạt tự do mới: các
cá nhân và dân tộc bị cản trở hoặc bị từ chối tiếp cận các kỹ thuật cơ bản, các
cộng đồng bị phơi bày trước sự giám sát xâm phạm và các nhóm xã hội bị trừng phạt
bởi các thuật toán mập mờ duy trì định kiến và phân biệt đối xử. Trong thời đại
kỹ thuật số, một trật tự xã hội công bằng đảm bảo cho mọi người quyền tiếp cận
bình đẳng các cơ hội, bảo vệ các thành viên trẻ nhất và yếu thế nhất trong xã hội,
chống lại sự thù hận và thông tin sai lệch, và đặt việc sử dụng dữ liệu và kỹ
thuật dưới sự giám sát của công chúng, để nguyên tắc chỉ đạo không chỉ là lợi
nhuận mà còn là phẩm giá của mỗi người và lợi ích chung của tất cả mọi người.
81. Một phép thử cho công lý xã hội ngày nay là cách đối xử với người di cư,
người tị nạn và những người buộc phải di chuyển do nghèo đói, bạo lực, biến đổi
khí hậu và thảm họa môi trường. Cách một xã hội đối xử với họ cho thấy liệu ý
thức công lý của xã hội đó được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi hay bởi tinh thần bác
ái. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã kêu gọi chúng ta nhìn nhận người di cư không chỉ
đơn thuần là một vấn đề cần được quản lý, mà là hình ảnh sống động của dân Chúa
đang di chuyển. [109] Họ là những người có phẩm giá, nguồn lực và ước mơ, có
quyền được đối xử tôn trọng và yêu cầu trở thành thành viên tích cực của các xã
hội chào đón họ. Công bằng xã hội trong lĩnh vực này bao hàm ít nhất hai cam kết
bổ sung cho nhau. Một mặt, điều này có nghĩa là bảo vệ những hy vọng chính đáng
của những người buộc phải rời bỏ quê hương bằng cách đảm bảo các tuyến đường an
toàn và hợp pháp, điều kiện tiếp nhận xứng đáng và con đường hội nhập thực sự.
Mặt khác, điều này có nghĩa là thúc đẩy quyền được ở lại quê hương trong hòa
bình và an ninh bằng cách giải quyết các nguyên nhân gốc rễ buộc người dân phải
di cư, bao gồm cả những nguyên nhân liên quan đến bất công kinh tế và khủng hoảng
khí hậu. Khi những quyền này được tôn trọng, di cư có thể trở thành cơ hội gặp
gỡ và làm giàu lẫn nhau giữa các dân tộc.
Phát triển con người toàn diện
82. Trong Thông điệp Populorum Progressio, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI
khẳng định rằng sự phát triển chỉ thực sự đúng đắn nếu nó “toàn diện”, có nghĩa
là nó có thể “phát huy sự phát triển của mỗi người và của toàn thể con người”.
[110] Trong những thập niên tiếp theo, Học thuyết Xã hội của Giáo hội đã nhắc lại
và suy gẫm về cách diễn đạt này để chỉ ra những cách thức thực tiễn mà các
nguyên tắc cao cả — phẩm giá, lợi ích chung, đích đến phổ quát của của cải,
tính phụ đới, tình liên đới và công bằng xã hội — được thực hiện trong đời sống
thực tế. “Phát triển toàn diện con người” ở đây có nghĩa là một quá trình trong
đó sự phát triển của cá nhân và dân tộc bao trùm tất cả các khía cạnh của sự tồn
tại và mở ra tương lai cho các thế hệ kế tiếp.
83. Đối với cá nhân cũng như các quốc gia, phát triển vừa là nghĩa vụ vừa là
quyền lợi. Cần có những điều kiện tối thiểu để cho phép mỗi người và mỗi dân tộc
phát triển thịnh vượng phù hợp với phẩm giá của họ, mà không bị giữ trong tình
trạng phụ thuộc hoặc bị loại trừ khỏi việc tiếp cận các hàng hóa cần thiết.
Phát triển thực sự là nhân bản khi nó đặt con người làm trung tâm thay vì tích
lũy của cải, và khi nó liên quan đến các dân tộc cũng như các cá nhân. Công lý
đòi hỏi sự công nhận các quyền của xã hội và các quyền của các dân tộc, và bao
gồm trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Phát triển không thực sự mang
tính nhân bản nếu nó làm tăng mức tiêu thụ cho một số người trong khi chuyển
gánh nặng chi phí sang những người khác, hoặc đẩy toàn bộ các khu vực vào vai
trò phụ thuộc, ngăn cản họ phát huy hết tiềm năng của mình. [111] Phát triển
mang tính toàn diện khi nó không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn
thúc đẩy chất lượng cuộc sống ở các khía cạnh tinh thần, văn hóa, đạo đức và
quan hệ, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung của chúng ta, sự đa dạng của các
dân tộc và lối sống của họ. [112]
84. Ngày nay, khái niệm phát triển toàn diện con người là một chuẩn mực để đánh
giá sinh thái toàn diện, vốn đã trở thành một khía cạnh không thể thiếu của Học
thuyết Xã hội của Giáo hội. Thật vậy, chất lượng phát triển được đo lường bằng
khả năng tích hợp công lý đối với con người và việc chăm sóc ngôi nhà chung của
chúng ta, và thúc đẩy điều kiện sống xứng đáng, tiếp cận các hàng hóa cần thiết,
các mối quan hệ xã hội công bằng, chăm sóc tạo thế và quan tâm đến các thế hệ
tương lai. Từ đó suy ra rằng tiến bộ thực sự không phải là điều làm tăng phúc lợi
của một số người bằng cách làm suy thoái hệ sinh thái, chuyển gánh nặng chi phí
sang các cộng đồng thiệt thòi nhất, hoặc làm tổn hại đến điều kiện sống của những
người sẽ kế vị chúng ta.
85. Nhìn theo ánh sáng này, phát triển toàn diện con người là khuôn khổ mà qua
đó chúng ta có thể diễn giải những thay đổi của thời đại chúng ta, bao gồm cả
những thay đổi do cuộc cách mạng kỹ thuật số mang lại. Những đổi mới kỹ thuật,
bao gồm cả trí tuệ nhân tạo, không phải là trung lập, bởi vì chúng có thể thúc
đẩy sự tham gia và công lý hoặc làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng, kiểm soát
và loại trừ. Vì lý do này, chúng phải được đánh giá bằng cách đặt ra một câu hỏi
quan trọng: Liệu chúng có thực sự giúp các cá nhân và các dân tộc trở nên nhân
bản và huynh đệ hơn, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung của chúng ta và các thế
hệ tương lai? Chính tại đây, các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội trở thành
tiêu chuẩn cụ thể để phân định về các vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập trong các
chương tiếp theo.
Một cuộc xét mình cho Giáo hội
86. Tóm lại, tôi muốn đề cập đến một điểm đặc biệt gần gũi với trái tim tôi. Học
thuyết Xã hội không chỉ đơn thuần là một thông điệp gửi đến xã hội; nó còn là một
cuộc tự vấn lương tâm cho Giáo hội — một ngôi nhà và trường học của sự hiệp
thông luôn được kêu gọi đảm bảo rằng các nguyên tắc được nêu trong chương này
được áp dụng, đặc biệt là trong các cấu trúc của chính mình. Trong bối cảnh
Giáo hội, lợi ích chung mang hình thức của một cách tiếp cận đồng nghị cho sứ mệnh
phục vụ Nước Trời. Thật vậy, Giáo hội là “chủ thể cộng đồng và lịch sử của tính
đồng ghị và sứ mệnh”. [113] Điều này đòi hỏi sự chú ý đến cách thức đưa ra quyết
định và thực hiện trách nhiệm. Văn kiện Cuối cùng của Thượng Hội đồng xác định
một nền văn hóa minh bạch, trách nhiệm giải trình và đánh giá là những thực tiễn
quan trọng cho sự chuyển đổi truyền giáo. [114]
87. Với suy nghĩ này, nguyên tắc phụ đới trở thành nguyên tắc hướng dẫn cho việc
quản trị và đời sống mục vụ. Nó bao gồm việc công nhận và hỗ trợ các tổ chức
giáo hội trung gian và tín hữu khi họ thực hiện trách nhiệm của mình, coi trọng
các đặc sủng và kỹ năng, đồng thời tránh mọi hình thức của chủ nghĩa duy cha
chú bóp nghẹt tự do Tin Mừng. Về mặt thực hành, sự tham gia của những người đã
được rửa tội vào các quá trình ra quyết định và trách nhiệm chung của họ trong
sứ mệnh được thực hiện thông qua các cơ quan tham gia thực sự, chứ không chỉ
mang tính hình thức. [115]
88. Đối với cộng đồng Kitô giáo, tình liên đới bắt nguồn từ mầu nhiệm của Chúa
Kitô và được nuôi dưỡng bởi Bí tích Thánh Thể. Tình liên đới nảy sinh từ sự hiệp
thông trong đức tin và các Bí tích: Bí tích Rửa tội và Bí tích Thêm sức kết hợp
chúng ta trong Chúa Kitô, để chúng ta trở thành một Thân Thể và một Thần Khí, một
Tâm Hồn và một Linh Hồn (xem Ê-phê-sô 4:4; Công vụ 4:32).
Bí tích Thánh Thể, là bí tích của sự hiệp nhất, nuôi dưỡng sự thuộc về Thân Thể
Chúa Kitô của chúng ta và dạy chúng ta cách chia sẻ. Sự đa dạng về cảm nhận
trong Giáo hội và những niềm tin mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người là nguồn phong phú
nếu chúng được neo giữ trong sự chắc chắn rằng sự hiệp nhất là một ơn ban đã nhận
được và là một trách nhiệm cần phải hoàn thành.
89. Sống công lý trong Giáo hội có nghĩa là thanh lọc các mối quan hệ và cấu
trúc Giáo hội khỏi những sự méo mó dẫn đến bất bình đẳng, thiếu minh bạch và lạm
dụng quyền lực. Về vấn đề này, lắng nghe các nạn nhân của sự lạm dụng về tinh
thần, kinh tế, định chế, tình dục và quyền lực, cũng như lạm dụng lương tâm, là
một phần không thể thiếu của hành trình hướng tới công lý, bao gồm việc thừa nhận
những tổn hại đã gây ra, bồi thường công bằng và thực hiện các bước để ngăn chặn
điều đó xảy ra lần nữa. Mọi quyền lực đều phục vụ cho sự hiệp thông và sứ mệnh.
Mọi thẩm quyền đều phục vụ dân Chúa. Thừa tác vụ phục vụ này được phát biểu
không những qua đức tin của chúng ta được cử hành và sống trong các Bí tích, và
trong việc áp dụng phong cách đồng nghị, mà còn trong việc chia sẻ của cải cụ
thể. Theo gương của Giáo hội sơ khai, các nguồn lực của Giáo hội cần được chia
sẻ để không ai trong chúng ta phải thiếu thốn (xem Công vụ 4:34),
và để việc quản lý chúng có thể hỗ trợ sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho những người
nghèo nhất. Việc đánh giá thường xuyên việc thực hiện các trách nhiệm mục vụ
nên được khuyến khích, không phải như những phán xét đối với cá nhân, mà như những
công cụ để học hỏi và sửa chữa hướng tới sứ mệnh. [116] Chỉ khi nào chúng ta mở
lòng đón nhận sự tác động của Chúa Thánh Thần thì những nguyên tắc của Học thuyết
Xã hội này mới được nhập thể trong đời sống Giáo hội. Bằng cách này, Giáo hội sẽ
có thể làm chứng đáng tin cậy cho xã hội rằng việc cùng nhau tìm kiếm lợi ích
chung, với trách nhiệm chung và tình huynh đệ, không phải là không tưởng, nhưng
là một khả thể thực sự. (117)
CHƯƠNG BA: KỸ THUẬT VÀ SỰ THỐNG TRỊ. SỰ VĨ ĐẠI CỦA NHÂN
LOẠI DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA NHỮNG LỜI HỨA HẸN CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
90. Sau khi nhắc lại những nguyên tắc soi sáng Học thuyết Xã hội, giờ đây tôi
muốn tập trung vào một số thách thức đang định hình sâu sắc cách sống của chúng
ta ngày nay. Hình ảnh Kinh Thánh đi kèm với những suy tư này là hình ảnh của một
dự án xây dựng. Một mặt, đó là Tháp Baben, nơi nỗ lực tập thể tuân theo một kế
hoạch thống trị và cuối cùng làm mất đi tính nhân tính (xem Sáng thế 11:1-9).
Mặt khác, đó là những tàn tích của Giêrusalem, được xây dựng lại từng phần dưới
sự chỉ đạo của Nơ-khe-mi-a như một dự án trách nhiệm chung (xem Nơ-khe-mi-a 2-6).
Chúng ta được mời gọi suy gẫm về những “công trường xây dựng” vĩ đại của thời đại
chúng ta và tự hỏi: Chúng ta đang xây dựng cái gì? Khi sự phát triển kỹ thuật
nhanh chóng biến đổi ngôn ngữ, các mối quan hệ, kỹ thuật và các hình thức quyền
lực, chúng ta, những người tin Chúa, phải và có thể lựa chọn những dự án nào để
thực hiện và bằng cách nào, để bảo vệ và trân trọng sự vĩ đại của nhân loại từng
được ban cho chúng ta như quà tặng. Đây không chỉ là sự lựa chọn cho tương lai
mà còn cho hiện tại, vì trí tuệ nhân tạo và các kỹ thuật mới nổi khác đã là một
phần trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
91. Tôi tin chắc rằng cách thức cụ thể để sống các mối quan hệ xã hội theo ánh
sáng Tin Mừng không được thiết lập một lần và mãi mãi, mà vẫn là một nhiệm vụ
được giao phó từ thế hệ này sang thế hệ khác cho cộng đồng Kitô giáo. Dưới sự
hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội cho phép mình được soi sáng bởi Lời
Chúa, đọc các dấu hiệu của thời đại và sáng tạo tìm kiếm những cách thức mới để
các mối quan hệ giữa các dân tộc và quốc gia ngày càng phù hợp hơn với những
đòi hỏi của Nước Thiên Chúa. [118] Vì lý do này, tôi khuyến khích tất cả các
thành viên của Giáo Hội đừng sợ hãi những thách thức hiện tại, mà hãy lắng nghe
lẫn nhau và vững vàng đón nhận trách nhiệm của mình trong việc xây dựng một xã
hội nhân bản và huynh đệ hơn.
Mô hình kỹ trị và quyền lực kỹ thuật số
92. Trong Thông điệp Laudato Si’, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lên án
sự thống trị ngày càng tăng của mô hình kỹ trị [119] trong thế giới toàn cầu
hóa của chúng ta: xu hướng để cho luận lý học hiệu năng, kiểm soát và lợi nhuận
định hình các quyết định bản thân, xã hội và kinh tế. Điều này cho thấy rõ rằng
kỹ thuật không chỉ đơn thuần là một công cụ. Khi nó trở thành tiêu chuẩn để
đánh giá mọi thứ, nó bắt đầu quyết định điều gì quan trọng và điều gì có thể bị
loại bỏ, biến sự sáng tạo thành đối tượng khai thác và con người thành những
bánh răng đơn thuần trong một hệ thống hướng tới hiệu năng ngày càng cao hơn.
93. Mô hình này đã lan rộng nhanh chóng trong những năm gần đây, một phần được
thúc đẩy bởi sự mở rộng của trí tuệ nhân tạo, khoa học nhận thức, kỹ thuật
nano, robot và kỹ thuật sinh học. Bản thân những đổi mới này có thể phục vụ rất
nhiều cho sự phát triển toàn diện của con người và việc chăm sóc ngôi nhà chung
của chúng ta. Tuy nhiên, chính vì sức mạnh của chúng, chúng cũng có thể đẩy
nhanh sự mở rộng của mô hình kỹ trị và do đó đòi hỏi một khuôn khổ tinh thần, đạo
đức và chính trị mới. Nhiều quyền lực hơn không nhất thiết có nghĩa là điều gì
đó tốt hơn. Về khía cạnh này, lời của Romano Guardini vẫn còn phù hợp: “Con người
đương thời chưa được đào tạo để sử dụng quyền lực một cách tốt đẹp.” [120]
94. Nguy cơ nhân loại trở thành nạn nhân của chính những thành tựu của mình đã
được Thánh Phaolô VI nhận ra rõ ràng, ngài cảnh báo rằng “tiến bộ khoa học phi
thường nhất, những kỳ tích kỹ thuật đáng kinh ngạc nhất và sự tăng trưởng kinh
tế đáng kinh ngạc nhất, nếu không đi kèm với tiến bộ đạo đức và xã hội đích thực,
về lâu dài sẽ phản tác dụng đối với con người.” [121] Vì lý do này, tiến bộ kỹ
thuật— tự nó đã có giá trị — đòi hỏi sự phân định cẩn thận về tầm nhìn nhân học
hướng dẫn nó và những mục tiêu mà nó theo đuổi. Nếu sự phát triển kỹ thuật tiến
bộ mà không có sự tiến bộ đạo đức và xã hội tương ứng, kết quả có thể là sự gia
tăng về phương tiện mà không có sự phát triển về nhân tính: “có nhiều hơn” mà
không “trở nên tốt hơn”. Trong kịch bản như vậy, có nguy cơ các cá nhân sẽ được
đánh giá chủ yếu dựa trên kết quả mà họ tạo ra. [122]
95. Ở đây, chúng ta phải nhận ra một khía cạnh quan trọng khác mà tôi đã lưu ý
trước đó. Trong nhiều trường hợp trong bối cảnh kỹ thuật số, quyền kiểm soát
các nền tảng, cơ sở hạ tầng, dữ liệu và sức mạnh tính toán không nằm ở các quốc
gia, mà thuộc về các chủ thể kinh tế và kỹ thuật lớn. Những thực thể này thực
chất thiết lập các điều kiện truy cập, xác định các quy tắc hiển thị và định
hình chính các khả năng tham gia. Khi quyền lực như vậy tập trung trong tay một
số ít người, nó có xu hướng trở nên mờ ám và né tránh sự giám sát của công
chúng, làm tăng nguy cơ các hình thức phát triển méo mó dẫn đến sự phụ thuộc,
loại trừ, thao túng và bất bình đẳng mới.
96. Trước sự tập trung quyền lực này trong thế giới kỹ thuật số, các tiêu chuẩn
để phán xét và phân biệt trong tình huống mới này là các nguyên tắc cao quý của
Học thuyết Xã hội: phẩm giá bất khả xâm phạm của con người, lợi ích chung, đích
đến phổ quát của của cải, nguyên tắc phụ đới, tình liên đới và công bằng xã hội.
Chúng yêu cầu chúng ta đánh giá xem liệu sức mạnh của cơ sở hạ tầng kỹ thuật số
và thuật toán có thực sự thúc đẩy sự tham gia và trách nhiệm, bảo vệ những người
dễ bị tổn thương, đảm bảo tiếp cận công bằng với các cơ hội và vẫn hướng tới lợi
ích chung hay không. Trên cơ sở này, giờ đây chúng ta có thể xem xét kỹ hơn trí
tuệ nhân tạo là gì, những khả năng mà nó mở ra và những rủi ro mà nó mang lại.
Trí tuệ nhân tạo
97. Ở đây, tôi không có ý định đưa ra một cách tiếp cận toàn diện về trí tuệ
nhân tạo, cũng như không đưa ra một cái nhìn tổng quan về các tài liệu liên
quan rộng lớn, vì đã có những đóng góp có thẩm quyền, kể cả trong bối cảnh giáo
hội. [123] Tôi chỉ giới hạn mình ở việc nhắc lại một vài yếu tố thiết yếu cho sự
phân định đạo đức và xã hội nhằm bảo vệ tính ưu việt của con người, để đảm bảo
rằng chính trí tuệ con người, với lương tâm và tự do của nó, sẽ luôn hướng dẫn
những đổi mới kỹ thuật và xác định một cách có trách nhiệm việc sử dụng và giới
hạn của chúng.
98. Cần phải mở đầu cuộc thảo luận này bằng hai cân nhắc. Thứ nhất, bất cứ
tuyên bố nào liên quan đến AI đều có nguy cơ nhanh chóng trở nên lỗi thời, do tốc
độ phát triển đáng kể của các hệ thống này. Thứ hai, tất cả chúng ta, kể cả những
người thiết kế chúng, đều chỉ có hiểu biết hạn chế về cách thức hoạt động thực
tế của chúng. Thật vậy, các hệ thống AI hiện nay được “nuôi dưỡng” nhiều hơn là
“xây dựng”, bởi vì các nhà phát triển không trực tiếp thiết kế từng chi tiết,
mà thay vào đó tạo ra một khuôn khổ trong đó trí tuệ “phát triển”. Kết quả là,
các khía cạnh khoa học cơ bản — chẳng hạn như các biểu diễn nội bộ và các quy
trình tính toán của các hệ thống này — hiện vẫn chưa được biết đến. Do đó, xuất
hiện một nhu cầu cấp thiết về cam kết kép: một mặt, làm sâu sắc thêm nghiên cứu
khoa học; mặt khác, thực hành sự phân định đạo đức và tâm linh.
99. Không thể đưa ra một định nghĩa duy nhất, toàn diện về AI. Tuy nhiên, điều
có thể khẳng định là chúng ta phải tránh quan niệm sai lầm khi đánh đồng loại
“trí tuệ” này với trí tuệ của con người. Các hệ thống này chỉ đơn thuần bắt chước
một số chức năng nhất định của trí tuệ con người. Khi làm như vậy, chúng thường
vượt trội hơn trí tuệ con người về tốc độ và khả năng tính toán, mang lại lợi
ích hữu hình trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, sức mạnh này vẫn hoàn toàn gắn liền
với việc xử lý dữ liệu. Cái gọi là trí tuệ nhân tạo không trải qua kinh nghiệm,
không có thân thể, không cảm nhận được niềm vui hay nỗi đau, không trưởng thành
qua các mối quan hệ và không hiểu từ sâu bên trong ý nghĩa của tình yêu, công
việc, tình bạn hay trách nhiệm. Chúng cũng không có lương tâm đạo đức, vì chúng
không phán xét thiện ác, không nắm bắt được ý nghĩa cuối cùng của các tình huống,
hoặc chịu trách nhiệm về hậu quả. Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ, hành vi và kỹ
năng phân tích, hoặc thậm chí mô phỏng sự đồng cảm và thấu hiểu, nhưng chúng
không hiểu những gì chúng tạo ra, bởi vì chúng thiếu góc nhìn về tình cảm, mối
quan hệ và tâm linh mà con người cần để trưởng thành trong khôn ngoan. Ngay cả
khi những công cụ này được mô tả là có khả năng “học hỏi”, cách thức học hỏi của
chúng cũng khác với con người. Đó không phải là trải nghiệm của những người cho
phép bản thân được định hình bởi cuộc sống và trưởng thành theo thời gian thông
qua những lựa chọn, sai lầm, sự tha thứ và lòng trung thành. Thay vào đó, đó là
một hình thức thích nghi thống kê dựa trên dữ liệu và phản hồi, có thể rất hiệu
quả, nhưng không hàm ý sự trưởng thành nội tâm.
Một công cụ quý giá nhưng cần sự cảnh giác
100. Dựa trên những điều đã nói, chúng ta có thể hiểu rõ hơn tại sao AI có thể
là một công cụ quý giá và đồng thời, tại sao nó đòi hỏi một cách tiếp cận thận
trọng và có chừng mực. Trong những năm gần đây, việc sử dụng AI trong đời sống
cá nhân đã mở rộng đáng kể, dẫn đến sự suy gẫm ngày càng tăng về cả những cơ hội
mà nó mang lại và những rủi ro gắn liền với sự lan rộng nhanh chóng của nó.
Trong sử dụng cá nhân, ba khía cạnh đặc biệt cần được xem xét cẩn thận: sự dễ
dàng trong việc thu được kết quả, ấn tượng về tính khách quan và sự mô phỏng truyền
thông của con người. Tốc độ và sự đơn giản trong việc truy cập thông tin, các
phân tích phức tạp, nội dung truyền thông và hỗ trợ thực tiễn chắc chắn làm cho
cuộc sống dễ dàng hơn. Tuy nhiên, chúng cũng có thể khuyến khích sự phụ thuộc
quá mức và việc tìm kiếm các câu trả lời có sẵn, đồng thời làm suy yếu khả năng
sáng tạo và phán đoán bản thân. Tính khách quan rõ ràng của các phản hồi và đề
xuất mà các hệ thống này cung cấp có thể khiến chúng ta bỏ qua sự kiện này là
chúng phản ánh các giả định văn hóa của những người đã thiết kế và huấn luyện
chúng, với tất cả những điểm mạnh và hạn chế của chúng. Sự bắt chước nhân tạo
truyền thông tích cực của con người - những lời khuyên, sự đồng cảm, tình bạn
và thậm chí cả tình yêu - có thể hấp dẫn và đôi khi thực sự hữu ích. Tuy nhiên,
đối với những người dùng thiếu tinh ý, điều này cũng có thể gây hiểu lầm, tạo
ra ảo tưởng về một mối quan hệ với một người thật. Khi lời nói được giả tạo,
chúng không xây dựng được mối quan hệ chân chính, mà chỉ là vẻ bề ngoài. Sự bắt
chước giả tạo về sự quan tâm hoặc hỗ trợ có thể trở nên đặc biệt nguy hiểm khi
nó xuất hiện trong những bối cảnh thiếu vắng các mối quan hệ thực sự và sự gắn
kết tình cảm. Ở đây, mối nguy hiểm không nằm ở chỗ một người có thể tin rằng họ
đang giao tiếp với một người khác, nhưng thực chất là họ có thể dần đánh mất
chính mong muốn tạo dựng những mối liên hệ chân thành giữa người với người.
101. Mở rộng tầm nhìn về việc sử dụng AI trong xã hội, chúng ta thấy rằng nó hiện
đang được tích hợp vào các quy trình ra quyết định trên nhiều lĩnh vực và ở nhiều
bình diện: trong truyền thông, quản lý và kiểm soát. Lợi ích về hiệu quả và tiềm
năng cải thiện một số dịch vụ là rõ ràng, nhưng việc áp dụng chúng một cách
nhanh chóng và thiếu cân nhắc sẽ khiến chúng ta đối diện với một loạt rủi ro,
bao gồm cả xu hướng bỏ qua tác động đến môi trường. Các hệ thống AI hiện nay
đòi hỏi lượng năng lượng và nước khổng lồ, ảnh hưởng đáng kể đến lượng khí thải
carbon dioxide, và gây áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên. Khi độ phức tạp của
chúng tăng lên, đặc biệt là trong trường hợp các mô hình ngôn ngữ lớn, nhu cầu
về sức mạnh tính toán và dung lượng lưu trữ cũng tăng lên, đòi hỏi một mạng lưới
máy móc, cáp, trung tâm dữ liệu và cơ sở hạ tầng tiêu tốn nhiều năng lượng. Vì
lý do này, điều cần thiết là phải phát triển các giải pháp kỹ thuật bền vững
hơn nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường và giúp bảo vệ ngôi nhà chung của
chúng ta. [124]
Trách nhiệm, tính minh bạch và quản trị AI
102. Việc sử dụng AI không bao giờ chỉ là vấn đề kỹ thuật thuần túy: khi nó
tham gia vào các quy trình ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, nó tác động đến
quyền, cơ hội, địa vị và tự do. Các quyết định quan trọng và nhạy cảm — liên
quan đến việc làm, tín dụng, tiếp cận các dịch vụ công cộng hoặc thậm chí là
danh tiếng của một người — có nguy cơ bị giao hoàn toàn cho các hệ thống tự động
không biết đến “lòng trắc ẩn, sự khoan dung, sự tha thứ, và trên hết là hy vọng
rằng con người có thể thay đổi,” [125] và do đó có thể dẫn đến các hình thức loại
trừ mới. Rõ ràng có những cách sử dụng có hại, chẳng hạn như thao túng thông
tin hoặc vi phạm quyền riêng tư. Tuy nhiên, cũng có một mối nguy hiểm tinh vi
hơn, bởi vì khi các hệ thống AI tự thể hiện mình là trung lập và khách quan,
chúng cuối cùng lại phản ánh và củng cố các khuôn mẫu hoặc thành kiến về tư tưởng
của những người thiết kế và phát triển chúng.
103. Thật vậy, việc giao phó cho một thuật toán trên thực tế quyền lựa chọn ai
xứng đáng hay không, mà không ai chịu trách nhiệm về phán xét đó, là giao phó
nhiệm vụ định nghĩa lại ranh giới của khả năng con người. Trong quá trình này,
trách nhiệm chính trị cũng bị mất đi, không chỉ là sự đồng cảm đối với những
người bị loại trừ, điều mà xét cho cùng cũng có thể được giả tạo. Việc loại trừ
những người dễ bị tổn thương được che đậy bằng một lớp vỏ bọc trung lập và
khách quan, khiến việc phản đối trở nên khó khăn. Bằng cách này, sự bất công
không bị chú ý, và lòng thương xót, sự khoan dung và tha thứ — được hiểu không
chỉ là vẻ bề ngoài mà là những hành động chính trị thực sự — dần dần biến mất
khỏi tầm nhìn.
104. Từ đó dẫn đến một hệ quả đơn giản nhưng thuyết phục: chúng ta không thể
coi AI là trung lập về mặt đạo đức. Trên thực tế, mọi công cụ kỹ thuật đều thể
hiện các lựa chọn và ưu tiên thông qua những gì nó đo lường, bỏ qua và tối ưu
hóa, và cách nó phân loại con người và tình huống. Nếu một hệ thống được thiết
kế hoặc sử dụng theo cách đối xử với một số sinh mạng là kém giá trị hơn, hoặc
loại trừ họ mà không có khả năng kháng cáo, thì nó không chỉ đơn thuần là một
công cụ “để sử dụng tốt”, vì nó đã đưa ra các tiêu chuẩn mâu thuẫn với phẩm giá
bất khả xâm phạm của con người. Vì lý do này, sự phân định đạo đức không thể chỉ
giới hạn ở việc hỏi liệu chúng ta đang sử dụng một hệ thống cho mục đích tốt
hay xấu; nó cũng phải khảo sát xem cách hệ thống đó được thiết kế và tầm nhìn
nào về con người và xã hội được đặt để trong dữ liệu và mô hình hướng dẫn nó.
[126]
105. Để AI tôn trọng phẩm giá con người và thực sự phục vụ lợi ích chung, trách
nhiệm phải được xác định rõ ràng ở mọi giai đoạn: từ những người thiết kế và
phát triển các hệ thống này đến những người sử dụng chúng và dựa vào chúng để
đưa ra các quyết định cụ thể. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các quy trình
nội bộ dẫn đến kết quả vẫn còn mơ hồ, khiến việc phân công trách nhiệm và sửa
chữa lỗi trở nên khó khăn hơn. Đây là lúc trách nhiệm giải trình trở nên quan
trọng: khả thể xác định ai phải “chịu trách nhiệm” về các quyết định, biện minh
cho chúng, giám sát chúng và, khi cần thiết, thách thức chúng và khắc phục mọi
thiệt hại gây ra. [127]
106. Kêu gọi sự thận trọng, đánh giá nghiêm ngặt và thậm chí, đôi khi, tốc độ
chậm hơn trong việc áp dụng AI không có nghĩa là chống lại sự tiến bộ; thay vào
đó, đó là một thao tác chăm sóc có trách nhiệm đối với gia đình nhân loại. Nhu
cầu này càng trở nên cấp thiết hơn khi thường xuyên có sự mất cân bằng giữa tốc
độ tăng trưởng kỹ thuật và sự phát triển chậm hơn của nhận thức, chuẩn mực, biện
pháp bảo vệ và các định chế có khả năng quản lý các tác động của nó. Không chỉ
cần viện dẫn đạo đức một cách trừu tượng; cần có các khuôn khổ pháp lý vững chắc,
sự giám sát độc lập, người dùng được thông tin đầy đủ và một hệ thống chính trị
không thoái thác trách nhiệm. Nếu không, sự thay đổi sẽ chỉ bị chi phối bởi tư
duy kỹ trị và được trình bày như là cần thiết và không thể tránh khỏi, cuối
cùng sẽ áp đặt các quy tắc do những người kiểm soát dữ liệu, cơ sở hạ tầng và sức
mạnh tính toán đặt ra.
107. Chúng ta không thể chỉ hài lòng với việc kêu gọi phải đạo đức hóa máy móc
— điều gọi là “sự xếp hàng” AI cho phù hợp với các giá trị con người — mà không
có đủ can đảm để nhấn mạnh thêm một điều kiện nữa: khả năng thảo luận công khai
về các khuôn khổ đạo đức liên quan và đưa chúng vào các tiêu chuẩn chung về
công bằng xã hội. Nếu không, những người kiểm soát AI sẽ áp đặt tầm nhìn đạo đức
của riêng họ, điều này sẽ trở thành cơ sở hạ tầng vô hình của các hệ thống này.
Một AI có đạo đức hơn là chưa đủ nếu đạo đức đó được quyết định bởi một số ít
người. Điều cần thiết là sự tham gia chính trị tích cực hơn, có khả năng làm chậm
mọi thứ khi mọi thứ đang tăng tốc, và bảo vệ các cơ hội cho các cộng đồng vẫn
có thể tham gia và đặt câu hỏi.
108. Trên thực tế, cũng như mọi sự thay đổi kỹ thuật lớn, AI có xu hướng khuếch
đại quyền lực của những người đã sở hữu các nguồn lực kinh tế, chuyên môn và
quyền truy cập dữ liệu. Xét về lợi ích chung và mục đích phổ quát của hàng hóa,
điều này làm dấy lên những lo ngại nghiêm trọng, vì các nhóm nhỏ nhưng có ảnh
hưởng lớn có thể định hình các mô hình thông tin và tiêu dùng, ảnh hưởng đến
các quy trình dân chủ và điều khiển động lực kinh tế theo hướng có lợi cho
riêng họ, làm suy yếu công bằng xã hội và tình liên đới giữa các dân tộc. Vì lý
do này, điều cần thiết là việc sử dụng AI, đặc biệt khi nó liên quan đến hàng
hóa công cộng và các quyền cơ bản, phải được hướng dẫn bởi các tiêu chuẩn rõ
ràng và sự giám sát hữu hiệu, dựa trên sự tham gia và tính phụ đới. Cộng đồng
và các tổ chức trung gian không được bị giảm xuống thành những người thụ động
tiếp nhận các quyết định được đưa ra ở nơi khác; họ phải có khả năng đóng góp
vào việc phân định và giám sát. Hơn nữa, quyền sở hữu dữ liệu không thể chỉ nằm
trong tay tư nhân mà phải được điều chỉnh một cách thích hợp. Dữ liệu là sản phẩm
của nhiều người đóng góp và không nên được coi là thứ để bán đi hoặc giao phó
cho một số ít người được chọn. Cần phải tư duy sáng tạo để quản lý dữ liệu như
một tài sản chung hoặc được chia sẻ, với tinh thần tham gia, như Thánh Gioan
Phaolô II đã đề xuất liên quan đến tài sản tập thể. [128]
109. Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội cung cấp một khuôn khổ để hiểu thực tại
mới này. Trong một thế giới nơi dữ liệu, tài nguyên tính toán và ảnh hưởng điều
lệ vẫn nằm trong tay một số ít người, việc nói về lợi ích chung có nghĩa là vạch
trần hình thức bất đối xứng về nhận thức, kinh tế và chính trị mới này và nêu
danh các độc quyền mới của AI. Nói về đích đến phổ quát của hàng hóa có nghĩa
là tìm cách đảm bảo quyền tiếp cận phổ quát đối với cả kỹ thuật và giáo dục cần
thiết để sử dụng chúng. Nói về tính phụ đới đòi hỏi phải bảo vệ khả năng lựa chọn
và điều chỉnh của cộng đồng, thay vì chỉ giới hạn vai trò của họ ở việc giám
sát sau khi các tiêu chuẩn đã được thiết lập ở nơi khác. Nói về nguyên tắc liên
đới buộc chúng ta phải nhận ra những người lao động thầm lặng, thường bị bóc lột,
những người duy trì các hệ thống thuật toán. Nói về công lý đòi hỏi phải đặt
câu hỏi về sự phân bổ quyền lực toàn cầu quyết định ai thực sự có thể đào tạo
các mô hình này và ai chỉ đơn thuần là đối tượng bị chi phối bởi chúng. Tương tự,
điều đó có nghĩa là thừa nhận rằng công bằng xã hội không chỉ là mục tiêu cần
được bảo vệ sau khi kỹ thuật được triển khai, mà còn là điều kiện phải định
hình thiết kế của chúng ngay từ đầu.
110. Cuối cùng, tôi muốn sử dụng cụm từ “giải giáp”, một cụm từ rất gần gũi với
tôi. Giải giáp AI có nghĩa là giải phóng nó khỏi tư duy cạnh tranh “có vũ
trang”, điều mà ngày nay không chỉ giới hạn trong bối cảnh quân sự, mà còn là một
hiện tượng kinh tế và nhận thức. Điều này kéo theo một cuộc chạy đua để có được
các thuật toán ngày càng mạnh mẽ hơn và các tập dữ liệu lớn hơn, được thúc đẩy
bởi mong muốn đảm bảo sự thống trị về địa chính trị hoặc thương mại. Giải trừ
vũ khí có nghĩa là bác bỏ giả định rằng sức mạnh kỹ thuật tự động mang lại quyền
cai trị. Giải trừ vũ khí không có nghĩa là từ chối kỹ thuật, mà là ngăn chặn nó
thống trị nhân loại. Nó có nghĩa là giải phóng kỹ thuật khỏi sự kiểm soát độc
quyền và mở nó ra cho thảo luận và tranh luận, do đó làm cho nó thân thiện với
con người và khôi phục nó vào sự đa dạng của các nền văn hóa và lối sống của
nhân loại. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay không chỉ là đạo đức hay kỹ thuật. Nó
mang tính sinh thái theo nghĩa sâu sắc nhất, bởi vì nó liên quan đến một chiều
kích mới của ngôi nhà chung của chúng ta. Trí tuệ nhân tạo đã là một môi trường
mà chúng ta đang sống trong đó, cũng như một lực lượng mà chúng ta phải tương
tác. Vì lý do này, chỉ điều chỉnh nó thôi là chưa đủ; nó phải được giải trừ vũ
khí, trở nên thân thiện và dễ tiếp cận.
111. Tôi muốn gửi lời kêu gọi đặc biệt đến những người phát triển trí tuệ nhân
tạo. Theo một nghĩa nào đó, đổi mới kỹ thuật có thể đại diện cho sự tham gia của
con người vào hành động sáng tạo thần linh. Do đó, các nhà phát triển mang một
trách nhiệm đạo đức và tâm linh đặc biệt, bởi vì mỗi lựa chọn thiết kế đều phản
ánh một tầm nhìn về nhân loại. Cũng như người sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật
hay văn học phải cân nhắc những giá trị mà nó truyền tải, các nhà phát triển
cũng được kêu gọi phải lồng ghép các giá trị vào dự án của mình một cách nghiêm
túc: với sự minh bạch, trách nhiệm đối với cộng đồng bị ảnh hưởng và sự chú ý cẩn
thận để đảm bảo rằng những gì đang được vun đắp là một điều tốt đẹp thực sự.
Những gì không được phép mất đi
11 2. Sau khi xem xét các vấn đề về trách nhiệm và quản trị trí tuệ nhân tạo,
chúng ta phải quay lại câu hỏi trọng tâm: bảo vệ nhân tính của chúng ta có
nghĩa là gì? Rủi ro không chỉ nằm ở việc lạm dụng một số kỹ thuật nào đó.
Nghiêm trọng hơn, mô hình kỹ trị phổ biến mà chúng ta đang chìm đắm, và được
khuếch đại bởi cuộc cách mạng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo, đe dọa bình thường
hóa một tầm nhìn phản nhân loại. Trong tầm nhìn đó, sự trọn vẹn của cuộc sống
được đánh đồng với việc sở hữu nhiều hơn, giảm thiểu điểm yếu, loại bỏ sự không
chắc chắn và thực hiện quyền kiểm soát tuyệt đối. Khi hiệu năng trở thành thước
đo giá trị tối thượng, con người bị cám dỗ coi mình như một dự án cần được tối
ưu hóa hơn là những con người được kêu gọi đến các mối quan hệ và sự hiêp
thông.
113. Trên thực tế, việc nâng bất cứ khía cạnh nào của hiện sinh con người lên mức
tuyệt đối luôn là một sai lầm. Thật vậy, sự hỗn loạn không chỉ phát sinh từ sự
khan hiếm; ngay cả sự tăng trưởng không kiểm soát cũng có thể dẫn đến sự nghèo
khó. Trong một hệ sinh thái, sự cân bằng bị phá vỡ khi một loài mở rộng bằng
cách chiếm đoạt của các loài khác; trong cuộc sống con người, điều tương tự xảy
ra khi một năng lực nào đó tự cho mình là thước đo của mọi thứ. Do đó, trí
thông minh, khi được tuyệt đối hóa, sẽ che khuất các khía cạnh thiết yếu khác của
cuộc sống, chẳng hạn như tình cảm, ý chí, sự cam kết và các mối quan hệ. Tương
tự, sức mạnh kỹ thuật, nếu không được cân bằng, không làm cho chúng ta có khả
năng hơn; nó làm cho chúng ta bị cô lập hơn và dễ bị thống trị và loại trừ hơn.
Điểm quan trọng này không đối lập với trí thông minh, mà là lời nhắc nhở rằng
khi trí thông minh trở nên tự quy chiếu, mục đích thực sự của nó là phục vụ cuộc
sống và con người sẽ bị mất đi.
114. Chất lượng của một nền văn minh không được đo bằng sức mạnh của các phương
tiện của nó, mà bằng sự quan tâm mà nó có thể mang lại, bằng khả năng nhận ra
người khác như một khuôn mặt chứ không chỉ là một chức năng. Khả năng quan tâm
đến nhau là một khía cạnh cơ bản của nhân tính chúng ta, một khía cạnh được học
hỏi và làm chủ thông qua kinh nghiệm sống. Đọc truyện cho trẻ em, bầu bạn với
người già và sắp xếp nhà cửa sao cho ấm cúng là những cử chỉ đơn giản thường bắt
nguồn từ cuộc sống gia đình. Chúng dạy chúng ta coi trọng sự quan tâm ở bình diện
xã hội và rèn luyện chúng ta nhận ra người khác là những người đáng được quan
tâm. Kỹ thuật cũng có thể hỗ trợ sự quan tâm lẫn nhau giữa con người, ví dụ, bằng
cách cung cấp các công cụ giúp chúng ta dự đoán và sắp xếp mọi việc, mà không
làm suy yếu tự do và khả năng phán đoán của con người. Xét cho cùng, con người
là chủ thể của các mối quan hệ và chịu trách nhiệm về các quyết định của chính
mình.
Những câu chuyện ngầm: chủ nghĩa siêu nhân và chủ nghĩa hậu nhân
115. Trong nỗ lực làm sáng tỏ những giả định văn hóa đi kèm với cuộc cách mạng
kỹ thuật số đang diễn ra, tôi muốn chuyển sự chú ý của chúng ta đến một số dòng
tư tưởng diễn giải sự tiến bộ như là vượt qua thân phận con người, và thường được
nhóm lại dưới nhãn hiệu chủ nghĩa siêu nhân [transhumanism] và chủ nghĩa hậu
nhân [posthumanism]. Những quan điểm này tạo thành bối cảnh tư tưởng hiện diện
trong một số trung tâm quyền lực kỹ thuật và chiếm lĩnh trí tưởng tượng tập thể
dưới dạng đơn giản hóa, đặc biệt là trên các phương tiện truyền thông và mạng
xã hội. Chúng có xu hướng thúc đẩy sự nhiệt tình đối với các kỹ thuật mới thông
qua một tầm nhìn tương lai về một “con người được tăng cường” hoặc “con người
lai máy móc”.
116. Chủ nghĩa siêu nhân và chủ nghĩa hậu nhân bao gồm một loạt các dòng tư tưởng
và cảm nhận, khiến việc định nghĩa chúng một cách duy nhất, rõ ràng trở nên khó
khăn. Chúng có thể được ví như một quần đảo gồm những “hòn đảo” khái niệm,
riêng biệt nhưng được kết nối bởi một “biển” chung của các giả định, cụ thể là
vai trò trung tâm của kỹ thuật và khát vọng vượt qua giới hạn của thân phận con
người. Nói chung, chủ nghĩa siêu nhân hình dung việc nâng cao con người thông
qua các kỹ thuật— chẳng hạn như y sinh học, kỹ thuật cơ thể, thiết bị và thuật
toán — với mục đích tăng hiệu suất và khả năng. Chủ nghĩa hậu nhân, đặc biệt là
ở các hình thức cực đoan hơn, còn đi xa hơn: nó thách thức chủ nghĩa lấy con
người làm trung tâm và hình dung sự lai ghép giữa con người, máy móc và môi trường,
thậm chí còn dự đoán một ngưỡng nơi nhân loại vượt qua chính mình trong một
giai đoạn tiến hóa mới. Ngay cả khi những ý tưởng như vậy vẫn còn mang tính suy
đoán, chúng vẫn có được sự liên quan bằng cách thay đổi trí tưởng tượng tập thể
và do đó ảnh hưởng đến các lựa chọn xã hội, kinh tế và chính trị. [129]
117. Từ quan điểm của Học thuyết Xã hội của Giáo hội, vấn đề cốt lõi không phải
là việc sử dụng kỹ thuật mà là tầm nhìn nằm dưới nó. Nếu con người được coi là
thứ cần được hoàn thiện hoặc vượt qua, thì sẽ dễ dàng chấp nhận rằng một số cuộc
sống ít hữu ích hơn, ít đáng mong muốn hơn hoặc ít xứng đáng hơn. Nhân danh sự
tiến bộ, “những hy sinh cần thiết” có thể bắt đầu được biện minh, đặt gánh nặng
lên những người dễ bị tổn thương nhất trong quá trình theo đuổi sự tối ưu hóa
được cho là của loài người. Về vấn đề này, lời cảnh báo nói trên của Thánh
Phaolô VI vẫn giữ nguyên tầm nhìn xa: quả thực, những tiến bộ khoa học và kỹ
thuật, khi tách rời khỏi sự tiến bộ về đạo đức và xã hội, cuối cùng sẽ quay lại
chống lại nhân loại. [130] Vì lý do này, cần phải có sự phân biệt rõ ràng. Tích
hợp kỹ thuậtbvào một tầm nhìn lấy con người làm trung tâm và mang tính quan hệ
là một chuyện; chuyện hoàn toàn khác là việc bị dẫn dắt bởi một quan điểm coi
thường giới hạn của con người và hứa hẹn một hình thức “cứu rỗi” thuần túy kỹ
thuật.
Giới hạn, trái tim và sự vĩ đại của con người
118. Mối quan hệ của chúng ta với cuộc sống dường như đang trong khủng hoảng
ngày nay. Mọi thứ xuất hiện như một “giới hạn” — sự bất lực, bệnh tật, tuổi
già, đau khổ, dễ bị tổn thương — thường được xem chủ yếu là một khiếm khuyết cần
được sửa chữa, hơn là một thực tại qua đó nhân tính của chúng ta trưởng thành
và mở lòng đón nhận các mối quan hệ. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng nhân loại
phát triển mạnh mẽ không phải bất chấp những hạn chế, mà thường là thông qua
chúng. Ánh sáng của đức tin mang đến một góc nhìn về thực tại giúp chúng ta nhận
ra điều mà chúng ta gọi là “tính ngẫu nhiên” của những sự vật trên thế giới
này. Mặc dù việc nỗ lực làm giảm bớt nỗi đau khổ vốn là đặc điểm của cuộc sống
con người là điều đúng đắn, nhưng cũng thật khôn ngoan khi thừa nhận sự hữu hạn
cơ bản của chúng ta, biết rằng “kinh nghiệm tôn giáo, và đặc biệt là đức tin
Kitô giáo, đề xuất rằng chúng ta sống, không đơn giản hóa quá mức, sự mâu thuẫn
này giữa sự vĩ đại và giới hạn của con người, diễn giải nó dưới ánh sáng mối
quan hệ nguyên thủy và cơ bản của chúng ta với Chúa.” [131]
119. Chính trong những giới hạn của chúng ta mà những điều sau đây tìm thấy chỗ
đứng: lòng thương xót, cũng như sự quan tâm chân thành đến nhu cầu của người
khác; lòng quảng đại có thể xuất hiện ngay cả giữa bóng tối và thất bại; kinh
nghiệm tâm linh và sự thờ phượng Chúa. Chúng ta thấy điều này ở nhiều khoảnh khắc
khi giới hạn của chúng ta trở nên hữu hình: khi chúng ta đối diện với sự từ chối,
khi chúng ta chịu đựng bệnh tật hoặc mất mát người thân yêu, khi chúng ta gặp
phải điểm yếu hoặc thất bại của chính mình. Một cách kỳ diệu, chính trong những
khoảnh khắc như vậy mà chúng ta có thể khám phá ra một khôn ngoan mới, cảm nhận
một cách hữu hình sự gần gũi của người khác và gặp gỡ sự hiện diện của Chúa.
120. Ngay cả khi những giới hạn được trải nghiệm như nỗi đau khổ nội tâm, sự
khôn ngoan của con người dạy chúng ta không nên phủ nhận hoặc kìm nén nó, mà là
tích hợp nó. Loại bỏ hoàn toàn đau khổ cuối cùng cũng có nghĩa là dập tắt tình
yêu và khát vọng. Những người yêu thương và khao khát không thể tránh khỏi việc
trải qua thử thách và đau khổ; và qua nhiều năm, chúng ta mang trong mình những
bài học để lại dấu ấn như những vết sẹo, những ký ức về một hành trình được định
hình bởi tự do và thất bại, ước mơ và thất vọng. Chỉ nhờ sự tương tác của những
yếu tố này mà những điều kỳ diệu của tâm hồn mới xảy ra trong chúng ta, cho
phép chúng ta cảm nhận được sự phong phú của nhân tính. [132] Từ bỏ cuộc phiêu
lưu này, vừa bi thảm vừa huy hoàng, nhân danh sự siêu việt được cho là vượt qua
mọi giới hạn, có thể mang nhiều ý nghĩa, nhưng nó sẽ không còn là con người nữa.
121. Sự tha hóa đạo đức của những giới hạn của chúng ta với tư cách là những
sinh vật được tạo ra — cụ thể là cái ác rõ ràng khuấy động trái tim con người —
hủy hoại xã hội và cuộc sống, đôi khi đạt đến những hình thức vô nhân đạo cực
đoan. Tuy nhiên, ngay cả những biểu thức đau đớn này về những giới hạn của
chúng ta vẫn mở ra những cơ hội cho điều tốt đẹp. Ngay cả khi con người tự phi
nhân hóa bản thân và gây ra bi kịch, một ánh sáng nhỏ vẫn tiếp tục tỏa sáng
trong nhân loại, một ánh sáng có thể được thắp lại, với ân sủng của Chúa, trên
con đường hoán cải và hòa giải. Như Viktor Frankl đã nhận xét đúng đắn, trong
những khoảnh khắc kinh hoàng, “chúng ta đã biết con người thực sự là gì. Sau tất
cả, con người là sinh vật đã phát minh ra các phòng hơi ngạt ở Auschwitz; tuy
nhiên, anh ta cũng là sinh vật đã bước vào những phòng hơi ngạt đó một cách thẳng
đứng, với Kinh Lạy Cha hoặc Shema Yisrael trên môi.” [133]
122. Sự hữu hạn, khi được chấp nhận một cách chân thành, không làm giảm giá trị
của chúng ta mà mở ra cho chúng ta khả năng nhận ra khuôn mặt của Chúa và những
người khác. Thật vậy, chính vì chúng ta trải nghiệm những giới hạn — sự dễ bị tổn
thương, đau khổ và thất bại — chúng ta có thể nhận ra phẩm giá bất khả xâm phạm
của mỗi người, cả của chính chúng ta và của người khác. Trong cùng trải nghiệm
này, chúng ta vẫn có khả năng trực giác về một tình huynh đệ lớn hơn chính mình
và nhận thấy sự bất công như một điều đáng xấu hổ. Văn hóa và nghệ thuật đích
thực bảo tồn tia lửa này, chống lại sự bình thường hóa cái ác. Vì lý do này, một
số tác phẩm đã mang ý nghĩa gần như tiên tri: Bản giao hưởng số 9 của
Beethoven có thể được xem như một khát vọng về sự thống nhất; Guernica như
một sự tố cáo sự phi nhân hóa; Danh sách Schindler như một lời
kêu gọi không được lãng quên quá khứ.
123. Lịch sử không chỉ xuất hiện như một ghi chép về bạo lực của con người, mà
còn như bằng chứng cho thấy nhân loại có khả năng tạo ra các thể chế bảo vệ cuộc
sống chung của chúng ta. Trong hai thế kỷ qua, điều này có thể được thấy trong
một số thành tựu mang tính biểu tượng: việc thành lập Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế
(1863), với tính trung lập trong hoạt động đảm bảo sự chăm sóc nhân ái cho tất
cả mọi người; quá trình lâu dài dẫn đến việc bãi bỏ chế độ nô lệ, không chỉ đại
diện cho một sự thay đổi về mặt pháp lý mà còn là một sự chuyển đổi về lương
tâm; việc thành lập Liên Hợp Quốc (1945) và Tuyên ngôn Nhân quyền phổ quát
(1948), trong đó nêu rõ ngôn ngữ chung để khẳng định, ít nhất là như một lý tưởng
chung, tính phổ quát của phẩm giá con người; và Công ước về người tị nạn năm
1951, công nhận nghĩa vụ bảo vệ những người chạy trốn khỏi sự đàn áp và nguy hiểm.
Trong mỗi trường hợp này, khát vọng về điều tốt đẹp đã được thể hiện cụ thể
trong các bối cảnh công cộng — luật pháp, thể chế và thực tiễn — có khả năng hạn
chế việc lạm dụng quyền lực và bảo vệ những người dễ bị tổn thương. Tuy nhiên,
không có sự phát triển nào trong số này xuất hiện mà không gặp phải sự phản
kháng, lợi ích hẹp hòi hoặc sự trì trệ về văn hóa. Tiến bộ về mặt đạo đức hầu
như luôn diễn ra thông qua một hành trình dài và đầy thách thức, thường được
đánh dấu bằng những trở ngại. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến các tiến trình hòa bình
bị đình trệ hoặc việc thực hiện chậm chạp các cam kết về môi trường. Chính sự
mong manh của những thành tựu này làm nổi bật trách nhiệm quý giá của những người
khởi xướng và duy trì chúng.
124. Một số sự kiện cho thấy rõ rằng lịch sử cũng có thể thay đổi khi các cá
nhân thực sự coi trọng phẩm giá của mọi người: phong trào dân quyền ở Hoa Kỳ, gắn
liền với lời chứng của Martin Luther King Jr., hoặc sự chấm dứt chế độ phân biệt
chủng tộc ở Nam Phi sau khi Nelson Mandela được thả tự do và quyết định không đầu
hàng tương lai trước lòng thù hận. Trong những bối cảnh khác nhau, nhiều người
phụ nữ dũng cảm và hào phóng cũng đã nổi bật, bao gồm Thánh Laura Montoya,
Thánh Teresa thành Calcutta, Dorothy Day, Marie Skłodowska-Curie, Maria
Montessori, Elisabeth Elliot, Wangari Maathai, Benazir Bhutto và vô số người
khác từ mọi châu lục, những người có sự cống hiến đã góp phần làm cho lịch sử
trở nên nhân bản hơn.
125. Bên cạnh những dấu hiệu công khai này, còn có một câu chuyện kín đáo nhưng
mang tính quyết định hơn. Chúng ta thấy điều đó trong các cộng đồng tôn giáo chọn
phục vụ ở những nơi nghèo khó và nguy hiểm. Chúng ta cũng thấy điều đó trong
các vị tử đạo vì tình huynh đệ và công lý, như Thánh Maximilian Mary Kolbe,
Thánh Oscar Romero và Chân phước Enrique Angelelli; và trong những chứng nhân
đã thể hiện niềm hy vọng của Tin Mừng cũng như phẩm giá con người giữa những điều
kiện khắc nghiệt, thường là vô nhân đạo, như Đấng Đáng Kính Phanxicô Xaviê Nguyễn
Văn Thuận. Trên hết, điều đó thể hiện rõ nhất ở những “người tử đạo trong đời sống
thường nhật” – những người chăm sóc, giáo dục, đồng hành và an ủi mà không phô
trương, như cha mẹ, y tá, bác sĩ, tình nguyện viên và những người ở bên cạnh
người già hoặc người bị xã hội ruồng bỏ. Chứng ngôn của họ cho thấy rằng lòng tốt
không tự nhiên mà có, mà cần sự kiên trì, ghi nhớ và sự hoán cải nội tâm cần
thiết để bắt đầu lại, ngay cả sau thất bại.
126. Chính sự đan xen giữa các định chế công bằng, những nhân chứng đáng tin cậy
và lòng trung thành hằng ngày đã duy trì hy vọng và cung cấp hướng đi rõ ràng
cho sự tiến bộ kỹ thuật mà không để cho trái tim sa sút. Vì lý do này, nhân
tính – với tất cả sự vĩ đại và tổn thương của nó – không bao giờ được thay thế
hoặc vượt qua. Chúng ta có thể đón nhận sự tiến bộ kỹ thuật giúp giảm bớt đau
khổ và mở ra những khả năng mới, miễn là chúng ta không từ bỏ bản chất cốt lõi
của nhân loại, đó là khả năng thiết lập mối quan hệ và tình yêu thương. Điều
này dẫn đến một câu hỏi quan trọng: nếu một thể “hơn cả con người” đích thực hiện
hữu, thì nó được tìm thấy ở đâu? Đức tin Kitô giáo trả lời câu hỏi đó bằng cách
chỉ ra một sự viên mãn không phát sinh từ sự thần thánh hóa kỹ thuật, mà thông
qua ân sủng của Chúa nhận được trong Chúa Kitô.
“Hơn cả cả con người” đích thực: ân sủng và chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo
127. Cụm từ “hơn cả con người” không phải là lĩnh vực độc quyền của lời hứa kỹ
thuật. Trong nhiều thế kỷ, truyền thống Kitô giáo đã khẳng định rằng con người
không bị giới hạn bởi ranh giới của bản chất riêng mình; trái lại, họ được kêu
gọi vượt lên chính mình, không phải bằng cách trốn tránh thực tại hay coi thường
những hạn chế của mình, mà thông qua sự viên mãn trong tình yêu. Đức tin nhận
ra sự cởi mở hướng tới “vượt lên trên”, bắt nguồn từ một ơn ban của Thiên Chúa.
Sự biến đổi này là một công việc của Chúa Thánh Thần. Như Thánh Tôma Aquinô đã
dạy, quá trình nâng cao và biến đổi này “vượt qua mọi khả năng của bản chất được
tạo dựng”, [134] vì một sự khác biệt vô hạn ngăn cách bản chất hữu hạn của chúng
ta với sự sống của Thiên Chúa. [135] Tuy nhiên, vẫn có thể bước vào trái tim của
sự sống vô tận đó, ngay cả khi chúng ta hành trình qua những giới hạn của thế
giới này. Đấng làm cho sự chuyển đổi này trở nên khả hữu chỉ có thể là Đấng
Vĩnh Hằng, Đấng ban chính mình. Thật vậy, chính Thiên Chúa là Đấng vượt qua sự
bất cân xứng “vô hạn”. [136] Trong Người, sự tái tạo con người diễn ra. “Nếu ai
ở trong Đấng Ki-tô, người ấy là một tạo vật mới; mọi sự cũ đều đã qua đi, này,
mọi sự đều trở nên mới” (2 Cô-rinh-tô 5:17).
128. Khi chúng ta đón nhận khả năng vượt lên chính mình nhờ ân sủng của Chúa,
chúng ta không phủ nhận bản chất của mình, cũng không trở nên kém nhân tính
hơn. Ngược lại, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã giải thích, “Chúng ta trở nên trọn
vẹn là con người khi chúng ta trở nên hơn cả con người, khi chúng ta để Chúa
đưa chúng ta vượt lên chính mình để đạt được chân lý trọn vẹn nhất của hữu thể
chúng ta.” [137] Đây chính là sự khác biệt căn bản so với những giấc mơ
Prometheus: điều cứu rỗi nhân loại không phải là sự tự túc được nâng cao, mà là
một mối quan hệ giải phóng, một sự hiệp thông biến đổi. Trong ánh sáng này, một
kỹ thuật chỉ đơn thuần phân loại và tối ưu hóa những gì đã hiện hữu, dù vô
tình, cũng có thể trở thành trở ngại cho sự thay đổi và sự phát triển. Đối với
một thuật toán, lỗi là một khiếm khuyết cần được sửa chữa; tuy nhiên, đối với một
người, lỗi có thể là chất xúc tác cho sự thay đổi sâu sắc. Tương lai của một
người không thể tính toán được, mà phụ thuộc vào sự tự do của người đó — được
nâng cao bởi ân sủng vô bờ bến của Chúa — và vào các mối quan hệ được vun đắp.
Hai thành phố và hai tình yêu
129. Chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo không bác bỏ khoa học hay kỹ thuật, mà đón nhận
chúng với lòng biết ơn và chủ nghĩa thực tiễn, và đặt chúng trong một sứ mệnh
cao cả hơn. Trí tuệ sáng tạo của nhân loại là một thiên phú có thể làm giảm bớt
đau khổ và mở ra những khả năng mới, nhưng nó phải được hướng tới lợi ích
chung, công lý, sự chăm sóc những người dễ bị tổn thương và tạo thế. Theo nghĩa
này, sự lựa chọn thực sự không phải là giữa sự nhiệt tình và nỗi sợ hãi, mà là
giữa hai con đường phát triển: một sự tiến bộ phục vụ các cá nhân và dân tộc,
hoặc một sự tiến bộ khiến họ phải phục tùng tư duy quyền lực. Cuối cùng, câu hỏi
then chốt vẫn là câu hỏi do Thánh Gioan Phaolô II đặt ra: liệu trí tuệ nhân tạo
có “làm cho cuộc sống con người trên trái đất ‘nhân bản hơn’ trong mọi khía cạnh
của cuộc sống đó không? Liệu nó có làm cho cuộc sống xứng đáng với con người
hơn không?” [138] Nếu câu trả lời là có, thì chúng ta có thể nhận ra đó là một
cơ hội để đón nhận một cách có trách nhiệm, trên con đường tái thiết kiên nhẫn,
cùng nhau, tương tự như việc xây dựng lại Giêrusalem được kể trong Sách
Nơ-khe-mi-a. Tuy nhiên, nếu quyền lực gia tăng trong khi trái tim héo mòn và
các mối liên kết giữa con người rạn nứt, thì chúng ta phải đối diện với một
hình thức Baben mới — một công trình vĩ đại, nhưng về cơ bản là phi nhân tính.
130. Việc đặt câu hỏi về con đường tiến bộ thay thế này và cách chúng ta diễn
giải và sống theo nó cuối cùng là vấn đề xem xét chính trái tim của chúng ta.
Cách chúng ta hiểu và định hình các mối quan hệ, công việc và định chế, trên thực
tế cho thấy các giá trị cơ bản của chúng ta. Cuối cùng, tất cả đều bắt nguồn từ
những gì chúng ta trân trọng nhất. Đó là một tình yêu hướng dẫn chúng ta về những
gì chúng ta thực sự trân quý, cả với tư cách cá nhân và xã hội, và định hướng
cuộc sống và hành động của chúng ta. Thánh Augustinô đã mô tả lịch sử loài người
như một cuộc đấu tranh giữa hai tình yêu, tạo ra hai cách sống trên thế giới và
sống cùng nhau — hay hai “thành phố”, như người ta vẫn nói: một mặt, tình yêu đối
với Chúa và tha nhân; mặt khác, đó là tình yêu bản thân độc quyền. “Hai tình
yêu đã xây dựng nên hai thành phố: thành phố trần gian, tình yêu bản thân đến mức
khinh miệt Thiên Chúa; thành phố thiên đường, tình yêu Thiên Chúa đến mức khinh
miệt bản thân.” [139] Cũng như trong suốt lịch sử, hai tình yêu này tiếp tục
tranh giành quyền thống trị trong trái tim chúng ta ngày nay. Thời đại AI cũng
không ngoại lệ: việc xây dựng tháp Baben hay việc xây dựng lại Giêrusalem bắt đầu
từ bên trong mỗi chúng ta.
CHƯƠNG BỐN: BẢO VỆ NHÂN LOẠI TRONG THỜI KỲ BIẾN ĐỔI. SỰ
THẬT, VIỆC LÀM, TỰ DO
131. Sau khi đã phác thảo bối cảnh trong đó thách thức của sự biến đổi kỹ thuật
đang diễn ra, đặc biệt là những thách thức liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI)
và các trào lưu siêu nhân học và hậu nhân học, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở
bình diện phân tích tổng quát. Khi ngôn ngữ và công cụ thay đổi, các hành động
hàng ngày và các mối quan hệ xã hội cũng thay đổi. Vì lý do này, chúng ta phải
tập trung vào một số lĩnh vực mà những biến đổi này có những hậu quả đặc biệt cụ
thể, và đôi khi là bi thảm. Dựa trên các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội của
Giáo hội, sự biến đổi kỹ thuật số mời gọi chúng ta khám phá lại sự thật như một
lợi ích chung, để bảo vệ phẩm giá của lao động và bảo vệ tự do chống lại mọi
hình thức phụ thuộc và thương mại hóa.
Sự thật như một lợi ích chung
Sự thật và dân chủ
132. Việc sử dụng các nền tảng kỹ thuật số và hệ thống AI đang thúc đẩy những
thay đổi sâu sắc trong truyền thông công cộng và chính trị. Các công cụ có thể
thúc đẩy đối thoại và sự tham gia thường được sử dụng để xây dựng những câu
chuyện bị bóp méo và làm mờ ranh giới giữa sự thật và sai lầm, trộn lẫn sự thật
với ý kiến. Thông tin sai lệch không bắt nguồn từ trí tuệ nhân tạo (AI), nhưng
ngày nay nó được khuếch đại mạnh mẽ bởi AI. Khả năng thao túng nội dung, hình ảnh
và video khiến mọi người tiếp xúc với những quan điểm thiên vị hoặc gây hiểu lầm.
Vấn đề này có cả khía cạnh văn hóa và đạo đức, vì chất lượng truyền thông công
cộng phụ thuộc trực tiếp vào lòng tin xã hội và ngược lại, định hình lòng tin
đó. Đồng thời, thông tin trung thực không xuất phát từ sự kiểm soát tập trung
hoặc tự động. Trong diễn ngôn công cộng, sự thật của các sự kiện có một chiều
hướng thuận lý, vì nó đòi hỏi sự xác minh, đối chất các nguồn và lập luận có
trách nhiệm. Hơn nữa, nó mang tính quan hệ sâu sắc, được xây dựng thông qua các
mối liên kết của lòng tin và các thực hành chung, cũng như sự trao đổi trung thực
với người khác và với thế giới. Chỉ có việc cùng nhau theo đuổi tính xác thực của
sự kiện, được coi là một lợi ích chung, mới có thể cung cấp một nền tảng vững
chắc cho truyền thông chính trực.
133. Những người nắm giữ các nguồn lực kỹ thuật và kinh tế mạnh mẽ, cùng với
nguồn nhân lực đáng kể để can thiệp, sở hữu khả năng đáng kể trong việc ảnh hưởng
đến sự thay đổi văn hóa. Cuối cùng, họ có thể ảnh hưởng đến một số lượng đáng kể
người dân về sự thật về nhân loại, thế giới, ý nghĩa của sự hiện hữu, gia đình
và thậm chí cả Chúa. Đây là quyền lực thuần túy tách rời khỏi sự thật, thứ ngầm
hoặc công khai áp đặt những gì nó muốn người khác chấp nhận là đúng. Cội rễ của
nó nằm ở một “căn bệnh” sâu xa hơn và thường không được nhận ra: sư kiện này là
“con người hiện đại tin tưởng một cách sai lầm rằng họ là tác giả duy nhất của
chính mình, cuộc sống và xã hội của mình. Đây là một giả định xuất phát từ việc
ích kỷ khép kín với chính mình.” [140] Do đó, mọi người tin rằng họ có thể xây
dựng thực tại, và bất cứ điều gì phù hợp nhất với yêu sách của họ đều tương ứng
với những gì là sự thật. Thánh Gioan Phaolô II đã suy gẫm về hậu quả của “cuộc
khủng hoảng chân lý” này, thậm chí còn tuyên bố rằng “một khi ý niệm về một
chân lý phổ quát về điều thiện, có thể nhận biết được bằng lý trí con người, bị
mất đi, thì chắc chắn khái niệm về lương tâm cũng thay đổi.” [141] Trong bối cảnh
như vậy, những chân lý có giá trị phổ quát, những chân lý hiện hữu trước chúng
ta và lương tâm phải chấp nhận, không còn được công nhận nữa. Điều này đã khiến
Đức Giáo Hoàng Phanxicô đặt câu hỏi một cách thực tế: “Luật pháp là gì nếu
không có niềm tin, được phát sinh từ việc suy gẫm lâu đời và khôn ngoan vĩ đại,
cho rằng mỗi con người đều thánh thiêng và bất khả xâm phạm?” Ngài kết luận: “Nếu
xã hội muốn có tương lai, nó phải tôn trọng sự thật về phẩm giá con người và
tuân theo sự thật đó. Giết người không phải là sai chỉ vì nó không thể chấp nhận
được về mặt xã hội và bị pháp luật trừng phạt, mà là vì một niềm tin sâu sắc
hơn. Đây là một sự thật không thể thương lượng đạt được bằng cách sử dụng lý
trí và được chấp nhận trong lương tâm. Một xã hội cao quý và tử tế, thường là
vì nó ủng hộ việc theo đuổi sự thật và tuân thủ những sự thật cơ bản nhất.”
[142]
134. Việc tìm kiếm sự thật là một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ, bản thân nó
là một phương tiện đóng góp cho lợi ích chung. Khi những câu hỏi về điều gì là
đúng mất đi sức hấp dẫn, và chủ nghĩa thực dụng chiếm ưu thế, bằng lòng với những
gì có vẻ hữu ích hoặc hữu hiệu, thì đời sống dân chủ bị suy yếu. Xét cho cùng,
dân chủ không chỉ bao gồm các quy tắc và thủ tục, mà trên hết là sự phù hợp vững
chắc với sự kiện và cam kết chân thành vì lợi ích của cá nhân và toàn xã hội. Sự
thờ ơ với sự thật dẫn đến, một cách chậm chạp nhưng chắc chắn, sự suy thoái
thành chủ nghĩa toàn trị. Như triết gia Hannah Arendt đã viết, những đối tượng
lý tưởng của các chế độ như vậy không phải là những người bị thuyết phục về mặt
tư tưởng, mà là “những người mà sự phân biệt giữa sự thật và hư cấu (tức là thực
tế của kinh nghiệm) và sự phân biệt giữa đúng và sai (tức là các tiêu chuẩn tư
duy) không còn tồn tại nữa.” [143]
Truyền thông và trí tưởng tượng tập thể
135. Xét về điều này, điều quan trọng cần nhớ là truyền thông “không chỉ là việc
truyền tải thông tin mà còn là việc tạo ra một nền văn hóa.” [144] Nội dung lưu
hành trong môi trường kỹ thuật số định hình cách mọi người nhận thức thế giới
và đưa vào ý thức tập thể những hình ảnh và câu chuyện định hướng mong muốn của
chúng ta và ảnh hưởng đến các lựa chọn hàng ngày của chúng ta. Đây “không phải
là một thế giới song song hay hoàn toàn ảo,” [145] vì những gì bắt nguồn từ trực
tuyến giờ đây trở thành một phần cuộc sống của mọi người, đặc biệt là giới trẻ.
136. Vì lý do này, những người kiểm soát các nền tảng kỹ thuật số và phương tiện
truyền thông có khả năng đáng kể trong việc ảnh hưởng đến trí tưởng tượng tập
thể và trình bày một tầm nhìn cụ thể về thực tại như là điều đáng mong muốn.
Quyền lực như vậy cần được liên tục hướng dẫn bởi việc theo đuổi sự thật và tôn
trọng phẩm giá con người, để văn hóa được nuôi dưỡng trên internet không trở
thành một công cụ gây xao nhãng quá mức, đồng nhất hóa hoặc thống trị, mà là một
môi trường trong đó tự do nội tâm và tư duy phản biện có thể trưởng thành.
Hướng tới một hệ sinh thái truyền thông
137. Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta không phải là ma quỷ hóa hay thần tượng hóa
các công cụ kỹ thuật, mà là sử dụng chúng trên cơ sở một nguyên tắc cơ bản, tức
là, sự thật là một lợi ích chung chứ không phải là tài sản của những người có
quyền lực hoặc ảnh hưởng. Do đó, chúng ta phải thúc đẩy một hệ sinh thái truyền
thông. Ở bình diện chính sách công, điều này bao gồm việc thiết lập các chuẩn mực
để quá trình ra quyết định đằng sau việc lựa chọn và phát triển nội dung trở
nên minh bạch hơn và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Về các khía cạnh xã hội và văn
hóa, điều này đòi hỏi phải tăng cường các tổ chức trung gian, báo chí nghiêm
túc và các diễn đàn tranh luận, nơi mà lập luận có lý lẽ và sự xác minh được
coi trọng hơn phản ứng tức thời. Đối với gia đình và trường học, ngày càng cần
có nhận thức giáo dục mới và đào tạo về việc sử dụng đúng đắn và có tư duy phản
biện các công cụ kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng thương mại và
tài chính trực tuyến. Tại các trường đại học, thách thức chính nằm ở việc tích
hợp kiến thức, trau dồi cả khả năng kết nối và tổng hợp kiến thức để nắm bắt sự
phức tạp, và các kỹ năng cần thiết để xác minh sự thật.
138. Các cộng đồng Kitô giáo cũng được kêu gọi cam kết minh bạch trong truyền
thông và theo đuổi sự thật một cách trung thực. Đáng buồn thay, điều này không
phải lúc nào cũng diễn ra. Chúng ta đã chứng kiến với sự hổ thẹn sự xuất hiện của
những sự thật đau lòng liên quan đến ngay cả các thành viên của Giáo hội và các
thực tế giáo hội. Đặc biệt, một số nhà báo, được thúc đẩy bởi niềm đam mê sự thật,
đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa những bất công và lạm dụng ra ánh
sáng. Tôi muốn nhắc lại những lời mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói với các nhà
báo: “Tôi cũng cảm ơn các bạn vì những gì các bạn nói với chúng tôi về những điều
sai trái trong Giáo hội, vì đã giúp chúng tôi không che giấu chúng, và vì tiếng
nói mà các bạn đã dành cho các nạn nhân bị lạm dụng.” [146] Tuy nhiên, sự cảnh
giác và minh bạch vẫn là trách nhiệm nặng nề hàng đầu của chính Giáo hội, và
chúng ta không được chờ đợi người khác buộc chúng ta phải đối diện với những sự
thật khó chịu về chính mình.
Một liên minh giáo dục cho thời đại kỹ thuật số
139. Trong thời đại mà sự thật thường bị bóp méo để phục vụ các lợi ích và chiến
lược truyền thông cụ thể, lĩnh vực giáo dục có tầm quan trọng quyết định. Tuy
nhiên, những chuyển đổi kỹ thuật nhanh chóng cho thấy chúng ta chưa chuẩn bị tốt
như thế nào ở bình diện giáo dục. Sự phổ biến của phương tiện truyền thông kỹ
thuật số thúc đẩy một nền văn hóa tức thời và kích thích quá mức, dẫn đến sự mệt
mỏi, buồn chán và thờ ơ đối với nỗ lực cần thiết để tìm kiếm sự thật.
140. Ngược lại, giáo dục là một hành trình dài đòi hỏi sự kiên nhẫn, và do đó cần
thời gian để phát triển và gắn kết với thực tại vượt ra ngoài vẻ bề ngoài. Đây
là một vấn đề cơ bản bởi vì mọi kỹ thuật đều định hình những người sử dụng nó.
Việc giáo dục mọi người về việc sử dụng AI, do đó, bao gồm việc dạy họ quyết định
khi nào và với mục đích gì thì không nên sử dụng nó. Tốc độ và sự dễ dàng mà
câu trả lời hoặc tóm tắt có thể được cung cấp có nguy cơ làm mất đi mong muốn đặt
câu hỏi, một quá trình chỉ mang lại kết quả theo thời gian. Như Pla-tông đã viết,
những điều sâu sắc và quan trọng nhất chỉ được học sau nhiều thời gian và nỗ lực,
bằng cách tham gia thảo luận với người khác, cùng nhau “khám phá” các ý tưởng
và kinh nghiệm như đá lửa cho đến khi tia lửa hiểu biết được nhen nhóm trong
chúng ta. [147] Do đó, chúng ta phải học cách kiềm chế việc sử dụng AI và bảo vệ
những người trẻ tuổi của chúng ta khỏi lời hứa về cỗ máy hoàn hảo, khỏi sự cám
dỗ tinh tế khiến tư duy của con người dường như trở nên thừa thãi chính khi nó
cần thiết nhất.
141. Trong những năm gần đây, các tài liệu tâm lý và tâm thần học đã ghi nhận với
sự nhấn mạnh ngày càng tăng về việc tiếp xúc sớm và không được giám sát với các
thiết bị kỹ thuật số và mạng xã hội có thể ảnh hưởng tiêu cực đến giấc ngủ, khả
năng tập trung, kiểm soát cảm xúc và các mối quan hệ, đặc biệt là trong những
giai đoạn dễ bị tổn thương nhất của cuộc đời, đôi khi với những hậu quả bi thảm.
Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn do dễ dàng tiếp cận với nội dung bạo
lực hoặc hạ thấp nhân phẩm, xúc phạm đến cảm xúc, cũng như các tài liệu khiêu
dâm và mang tính tình dục hóa quá mức. Từ những thông điệp coi thường thân thể
và cảm xúc, đến những đề xuất bình thường hóa hành vi nguy hiểm. Các hiện tượng
trực tuyến như dụ dỗ, tống tiền và bóc lột tình dục trẻ vị thành niên không phải
là hiếm, và càng trở nên nguy hiểm hơn do việc sử dụng các hồ sơ giả mạo, thuật
toán tạo điều kiện cho việc liên lạc nguy hiểm, và các công cụ AI có khả năng
thao túng hình ảnh và video. Việc sở hữu thiết bị di động cá nhân quá sớm và sử
dụng chúng mà không có sự giám sát của người lớn có thể làm trầm trọng thêm sự
dễ bị tổn thương của thanh thiếu niên, thúc đẩy chứng nghiện và khiến họ bị cô
lập, bắt nạt và bắt nạt trên mạng, cũng như chịu áp lực phải chia sẻ hình ảnh
riêng tư hoặc thông tin nhạy cảm.
142. Cha mẹ khó có thể tự mình chống lại ảnh hưởng của các mô hình kinh doanh
kiếm tiền từ sự chú ý và thời gian. Do đó, điều cần thiết là phải hình thành một
liên minh giữa các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức giáo dục và gia đình
để có thể hỗ trợ cụ thể cho người lớn trong nhiệm vụ này. Cần có các chính sách
công có tầm nhìn xa để chống lại lợi ích trước mắt của các nền tảng, tập trung
trong tay một số ít người, khi chúng xung đột với hạnh phúc của trẻ vị thành
niên. Về vấn đề này, sự can thiệp của các nhà lập pháp là phù hợp để đặt ra giới
hạn độ tuổi, buộc các nhà cung cấp dịch vụ phải chịu trách nhiệm thay vì chuyển
toàn bộ gánh nặng kiểm soát sang các gia đình, và để cung cấp các biện pháp bảo
vệ cụ thể chống lại mọi hình thức bóc lột và bạo lực tình dục trực tuyến. Như vậy,
trẻ em và thanh thiếu niên, những người được giao phó cho sự chăm sóc của chúng
ta, có thể được bảo vệ một cách thực sự như một kho báu quý giá. [148] Đồng thời,
cũng cần phải dạy trẻ em, thanh thiếu niên và người trẻ tuổi cách nhận biết sự
thao túng, bảo vệ phẩm giá của mình và tôn trọng phẩm giá của người khác trong
môi trường kỹ thuật số. [149]
Vai trò trung tâm của trường học
143. Trường học là nơi mà các thế hệ mới có thể học cách tìm kiếm và yêu mến sự
thật, suy gẫm về ý nghĩa của cuộc sống và nhận ra phẩm giá của mỗi người. Vì lý
do này, nhiều bậc cha mẹ, những người muốn con cái mình phát triển khả năng
hình thành các mối quan hệ, phát triển kỹ năng tư duy phản biện và nắm bắt các
giá trị vững chắc, đặt kỳ vọng lớn vào trường học như những đối tác quý giá
trong giáo dục con cái họ. Tuy nhiên, cha mẹ có quyền chính yếu và bất khả xâm
phạm trong việc lựa chọn loại hình giáo dục và hình thành nhân cách cho con cái
mình, theo cách phù hợp với niềm tin đạo đức, văn hóa và tôn giáo của họ. Ngày
nay, thế giới giáo dục đang đối diện với một số thách thức cấp bách.
144. Thách thức đầu tiên là về chính trị - xã hội. Cả trong từng quốc gia và
trên khắp các khu vực khác nhau trên thế giới, sự bất bình đẳng đáng kể vẫn tồn
tại liên quan đến việc tiếp cận giáo dục cơ bản và giáo dục đại học. Ở nhiều quốc
gia, Chính phủ vẫn chưa đầu tư các nguồn lực cần thiết để đảm bảo chất lượng
giáo dục cho tất cả mọi người, dù bằng cách hỗ trợ đầy đủ hệ thống trường công
lập hay bằng cách hỗ trợ các cơ sở tư nhân cung cấp dịch vụ thiết yếu này. Khi
một phần đáng kể của giáo dục, ở các bình diện khác nhau, được giao cho các cơ
sở tư nhân, việc tiếp cận giáo dục có thể trở nên quá phụ thuộc vào khả năng
tài chính của gia đình, đặc biệt là khi thiếu sự hỗ trợ đầy đủ từ phía nhà nước.
Trước nguy cơ này, điều quan trọng là phải ghi nhận và khuyến khích sự đóng góp
của nhiều cơ sở giáo dục Công Giáo tư nhân, những nơi đảm bảo quyền tiếp cận
toàn diện cho trẻ em và thanh thiếu niên thuộc mọi hoàn cảnh, ngay cả khi hoàn
cảnh kinh tế của gia đình không cho phép điều đó.
145. Thách thức lớn thứ hai là về phương pháp sư phạm. Nhiều hệ thống giáo dục
đang phải vật lộn để theo kịp sự thay đổi và hỗ trợ sự phát triển toàn diện của
học sinh. Sự phát triển của kỹ thuật thông tin và trí tuệ nhân tạo đang nhanh
chóng làm cho các chương trình giảng dạy được thiết kế cho một thời đại khác trở
nên lỗi thời. Trong khi đó, việc tổ chức trường học, không gian vật lý, phương
pháp đánh giá và vai trò của chính giáo viên cần được xem xét lại để thúc đẩy một
nền giáo dục toàn diện thực sự, đáp ứng mọi khía cạnh của con người. Cần phải hỗ
trợ việc bồi dưỡng liên tục cho giáo viên trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của họ,
để họ có thể tích cực tiếp cận với các kỹ thuật mới, giúp học sinh sử dụng
chúng một cách có trách nhiệm, phê phán và sáng tạo, thay vì thụ động chịu ảnh
hưởng của chúng.
146. Thách thức lớn thứ ba là về mặt trí tuệ và liên quan đến kiến thức. Nếu
không chú trọng cẩn thận, một hệ thống giáo dục thiếu tình yêu đối với chân lý
có thể xuất hiện, trong đó luồng thông tin không ngừng thay thế cho việc thực
hành nghiên cứu, suy gẫm và biện phân cần thiết. Khi kiến thức ngày càng bị
phân mảnh, việc nắm bắt thực tại một cách toàn diện, đặt ra những câu hỏi sâu sắc
về ý nghĩa, hoặc phát triển tư duy đích thực, phê phán và sáng tạo trở nên khó
khăn. Nhiều nhà giáo dục đã báo cáo về những dấu hiệu của sự phi nhân hóa, nơi
mọi người có thể "biết nhiều thứ" nhưng lại khó tìm được định hướng
trong cuộc sống, một phần do không thể kết nối thông tin với kiến thức sâu sắc
hơn hoặc duy trì ý thức về mục đích. Cần có một thái độ thực sự lành mạnh, đòi
hỏi những nhịp điệu biết kết hợp sự tĩnh lặng, nghiên cứu sâu sắc, đọc sách và
phân tích thận trọng, bởi vì nếu thiếu những yếu tố này, sự tự do nội tâm có thể
bị tổn hại.
147. Học thuyết Xã hội của Giáo hội mời gọi các gia đình, trường học, cộng đồng
Kitô giáo và các tổ chức công cộng hình thành một liên minh giáo dục mới. Điều
này được hình thành khi các nguyên tắc cơ bản được chuyển thành các mục tiêu
giáo dục, bao gồm việc dạy cho học sinh ý thức về sự tiết chế và giới hạn; sự
công nhận quyền của người khác và của các thế hệ tương lai được hưởng những điều
tốt đẹp được ban cho chúng ta hoặc được tạo ra bởi sự khéo léo của con người; tự
do và trách nhiệm; và ý thức về sự siêu việt và lợi ích chung. Các trường học
không được kêu gọi chạy theo nhịp độ của thế giới kỹ thuật số, mà là cung cấp
những gì mà chính lĩnh vực kỹ thuật số không thể cung cấp, đó là thời gian
chung để học tập và phát triển các mối quan hệ đáng tin cậy.
Phẩm giá của lao động trong thời đại chuyển giao kỹ thuật số
Giá trị của việc làm
148. Kể từ khi Học thuyết Xã hội của mình ra đời, bắt đầu với Rerum Novarum,
Giáo hội đã nhấn mạnh việc bảo vệ người lao động và nhu cầu chống lại mọi hình
thức bóc lột. Tuy nhiên, trên hết, Huấn quyền đã nhận ra trong việc làm “chìa
khóa thiết yếu” [150] để hiểu toàn bộ vấn đề xã hội, bởi vì chính thông qua việc
làm mà các cá nhân phát triển nhiều khía cạnh của sự hiện hữu của họ. Xét về điều
này, chúng ta có thể hiểu được trực giác tuyệt vời của Thánh Bê-nê-đic-tô xứ
Nursia, người đã kết hợp cầu nguyện và lao động, cho thấy hoạt động hàng ngày
là một phần trong lời đáp trả nhân bản đối với lời kêu gọi của Chúa. Được tạo dựng
theo hình ảnh của Đấng Tạo Hóa, việc làm của chúng ta, một cách nào đó, tiếp nối
việc làm của Người, bởi vì nhờ đó chúng ta đóng góp vào sự tiến bộ của xã hội
và lợi ích chung, sử dụng tốt những khả năng mà chúng ta đã nhận được, cải thiện
và làm đẹp thế giới, hỗ trợ gia đình, tham gia vào các mối quan hệ hợp tác và,
thông qua lắng nghe và đối thoại, học cách cùng nhau xây dựng điều gì đó mà
không ai có thể đạt được một mình.
149. Vì những lý do này, việc làm không chỉ đơn thuần là một công cụ; nó phát
biểu và nâng cao phẩm giá cuộc sống của chúng ta. Nó là một yêu cầu của thân phận
con người, một con đường bình thường hướng tới sự trưởng thành, phát triển và sự
hoàn thiện cá nhân. Về vấn đề này, hỗ trợ tài chính cho người nghèo đôi khi có
thể cần thiết trong trường hợp khẩn cấp, nhưng nó không thể trở thành giải pháp
duy nhất, vì mục tiêu là giúp mỗi người sống có phẩm giá thông qua việc làm của
chính họ. [151]
150. Ngày nay, sự hội tụ của tự động hóa, robot và trí tuệ nhân tạo đang nhanh
chóng biến đổi cấu trúc việc làm. Người ta nói rằng điều này sẽ mang lại những
cải tiến lớn cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, trên thực tế, “những cách thức mới”
làm việc không nhất thiết tốt hơn, bởi vì “trong khi trí tuệ nhân tạo hứa hẹn sẽ
thúc đẩy năng suất bằng cách đảm nhận các nhiệm vụ đơn điệu, nó thường buộc người
lao động phải thích nghi với tốc độ và yêu cầu của máy móc, thay vì máy móc được
thiết kế để hỗ trợ những người làm việc. Kết quả là, trái ngược với những lợi
ích được quảng cáo của trí tuệ nhân tạo, các phương pháp tiếp cận kỹ thuật hiện
tại có thể nghịch lý là làm giảm kỹ năng của người lao động, khiến họ bị giám
sát tự động và bị đẩy vào các nhiệm vụ cứng ngắc và lặp đi lặp lại. Nhu cầu
theo kịp tốc độ của kỹ thuật có thể làm xói mòn ý thức tự chủ của người lao động
và kìm hãm khả năng sáng tạo mà họ được kỳ vọng mang lại cho công việc của
mình.” [152] Chính là để tránh sự lệch hướng này, cần phải thiết kế các hệ thống
lấy con người làm trung tâm chứ không chỉ tập trung vào hiệu suất.
Vấn đề thất nghiệp
151. Thánh Gioan Phaolô II nhận thấy rằng thất nghiệp là một tệ nạn nghiêm trọng.
Thật vậy, khi nó đạt đến quy mô lớn, nó trở thành một thảm họa xã hội thực sự,
đặc biệt đòi hỏi Nhà nước phải chịu trách nhiệm. [153] Ngày nay, giữa “cuộc
cách mạng kỹ nghệ lần thứ tư”, mối lo ngại này thậm chí còn gay gắt hơn, vì sự
đổi mới thường chỉ được theo đuổi để giảm chi phí và tăng lợi nhuận. [154]
Trong một số bối cảnh, có một nỗi sợ hãi chính đáng về sự thu hẹp đáng kể và
nhanh chóng về số lượng việc làm sẵn có, điều này sẽ tạo ra một phản ứng dây
chuyền ảnh hưởng sâu sắc đến các gia đình, thanh niên và nền kinh tế địa
phương. Trong nhiều lĩnh vực, điều này đã có thể được nhìn thấy trong các hình
thức mới của sự bất an và bất bình đẳng về việc làm, đặc trưng bởi mức lương
quá cao cho một thiểu số chuyên môn cao cùng với mức lương giảm đối với phần lớn
lực lượng lao động.
152. Chắc chắn là điều đáng mong muốn khi kỹ thuật giúp con người giải phóng khỏi
những công việc nặng nhọc, lặp đi lặp lại hoặc nguy hiểm và cung cấp sự hỗ trợ
thông minh cho hoạt động của con người. Tuy nhiên, việc bảo vệ cơ hội việc làm
và vai trò không thể thay thế của cá nhân phải luôn là nguyên tắc chung. Việc
theo đuổi lợi nhuận cao hơn không thể biện minh cho những lựa chọn hy sinh việc
làm một cách có hệ thống, bởi vì con người là mục đích chứ không phải phương tiện,
và trật tự kinh tế phải luôn phụ thuộc vào phẩm giá con người và lợi ích chung.
153. Đồng thời, chúng ta phải thừa nhận rằng mọi sự biến đổi thực sự đều bao gồm
những gián đoạn, bởi vì nó không đồng đều, rời rạc và đôi khi xung đột. Do đó,
không tồn tại một mô hình thay đổi duy nhất hoặc giải pháp phổ quát nào, vì có
những nơi và tình huống đòi hỏi những phản ứng khác nhau. Xét đến sự bất bình đẳng
đang đặc trưng cho thế giới của chúng ta, sự lan rộng của trí tuệ nhân tạo và
các hệ thống tính toán tạo ra những tác động khác nhau ở các nơi khác nhau. Các
xã hội giàu có tự động hóa nhanh chóng và hỗn loạn, làm giảm nhu cầu về lực lượng
lao động và tạo ra khoảng trống cho thất nghiệp và mài xát định chế. Ngược lại,
các vùng rộng lớn trên thế giới vẫn bị mắc kẹt trong nền kinh tế lai, nơi lao động
của con người được trả lương thấp và kỹ thuật chưa hoàn thiện cùng tồn tại mà
không đạt được sự biến đổi thực sự. Những khu vực này trở thành nơi có lao động
bấp bênh, và là điểm nóng của sự bất ổn và di cư cưỡng bức. Do đó, cần phải tìm
kiếm các giải pháp ở bình diện quốc gia và địa phương thông qua sự tham gia của
các cộng đồng trung gian. Chúng ta cần các công cụ thích ứng, bao gồm các mô
hình được cấu trúc tốt, các sáng kiến địa phương, phân phối lại tiến bộ và các
quyền mới về tiếp cận hàng hóa thiết yếu. Trong khi không theo đuổi sự hài hòa
trừu tượng, chúng ta phải xây dựng các hình thức cụ thể về sự cùng tồn tại của
con người trong thời điểm biến đổi này.
154. Việc làm vẫn là một khía cạnh cơ bản của trải nghiệm con người, bởi vì nó
không chỉ là phương tiện sinh kế mà còn là bối cảnh cho sự phát biểu, các mối
quan hệ và đóng góp cho cộng đồng. Do đó, các vấn đề liên quan đến công việc vượt
ra ngoài thu nhập cần thiết cho sự sống còn của gia đình. Một xã hội chỉ đảm bảo
việc làm cho một phần nhỏ dân số, bất chấp trình độ phát triển kỹ thuật cao, có
nguy cơ khiến nhiều người bị buộc phải thất nghiệp, thiếu trách nhiệm và thiếu
các nhiệm vụ và động lực hàng ngày, dẫn đến sự nghèo nàn về con người và văn
hóa. Điều này tạo ra một nghịch lý về tiến bộ vật chất và thoái hóa nhân học,
làm suy yếu nền tảng của một nền hòa bình xã hội công bằng và ổn định. Vì lý do
này, Học thuyết Xã hội của Giáo hội nhấn mạnh rằng việc tiếp cận việc làm cho tất
cả mọi người phải là ưu tiên hàng đầu trong các chính sách công và các quá
trình kinh tế, đóng vai trò là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng con người của
bất cứ mô hình phát triển nào. [155] Hơn nữa, ở những nơi trên thế giới trong
đó công việc có xu hướng giảm hoặc thay đổi mạnh mẽ do các quá trình kỹ thuật
và tổ chức nằm ngoài tầm kiểm soát dân chủ, chúng ta phải suy nghĩ lại về bản
chất của việc làm và mối liên hệ của nó với quyền công dân, đảm bảo rằng tình
trạng thất nghiệp không gây nguy hiểm cho sự tham gia xã hội.
155. Dựa trên niềm tin này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về lịch sử của Học thuyết
Xã hội của Giáo hội sau Rerum Novarum. Các sáng kiến xuất phát từ
truyền thống đó, bao gồm các hiệp hội, công đoàn, hợp tác xã và các tổ chức
phúc lợi, đã góp phần quyết định vào việc cải thiện luật lao động, bảo vệ những
người dễ bị tổn thương nhất và cổ vũ các điều kiện nhân đạo hơn. [156] Tuy
nhiên, ngày nay, những công cụ này tự chúng không còn đủ để đối diện với những
biến đổi do AI, tổ chức thị trường mới và tính cạnh tranh hiếm khi quan tâm đến
tính bền vững xã hội thúc đẩy. Cần có những nỗ lực hợp tác mới giữa các nhà
lãnh đạo chính trị, các tổ chức lao động, giới kinh doanh và cộng đồng khoa học
để nhanh chóng phát triển các quy định và biện pháp bảo vệ chung phù hợp, kể cả
ở bình diện quốc tế. [157] Các công đoàn, mà Giáo hội luôn ủng hộ, được kêu gọi
phải cởi mở với các loại hình việc làm mới và nhu cầu tương ứng của người lao động,
để đại diện và bảo vệ họ. Trong bối cảnh này, nếu không có những quyết định táo
bạo, viễn cảnh nghèo đói và bất bình đẳng lớn hơn sẽ hiện ra rõ ràng, điều này
sẽ khiến nhiều cá nhân bị gạt ra ngoài lề, bị bỏ rơi và bị bao vây bởi máy móc
và hệ thống tự động đã thay thế họ.
156. Vào thời điểm biến đổi này, chỉ phản ứng khi việc làm biến mất là chưa đủ;
chúng ta phải giám sát quá trình biến đổi từ trước. Một hướng đi khả hữu là,
trước hết, thiết lập các tiêu chuẩn xã hội cho việc đổi mới. Ở đây, mỗi lần ứng
dụng tự động hóa và trí tuệ nhân tạo cần đi kèm với các biện pháp có thể kiểm
chứng để bảo vệ việc làm, đào tạo lại và sự tham gia của người lao động. Bằng
cách này, kỹ thuật sẽ hướng đến việc giải phóng thời gian và khả năng của con
người, thay vì tạo ra sự loại trừ. Thứ hai, chúng ta cần các chính sách chủ động
giúp cho việc đào tạo liên tục và chuyển đổi nghề nghiệp trở nên dễ tiếp cận với
tất cả mọi người, đảm bảo rằng chi phí thích ứng không chỉ đổ dồn lên cá nhân.
Cuối cùng, cần có cam kết của doanh nghiệp trong việc đưa chất lượng và phẩm
giá công việc vào trong số các chỉ số thành công của mình. Khi những điều kiện
này hiện diện, đổi mới có thể đóng vai trò là đồng minh của công việc an toàn
hơn, sáng tạo hơn và có phẩm giá hơn; nếu không có chúng, đổi mới có xu hướng
trở thành chất xúc tác cho sự bất công.
Một nền kinh tế coi trọng phẩm giá
157. Thị trường lao động là một lĩnh vực mà những rủi ro liên quan đến kỹ thuật
mới thể hiện rõ ràng hơn. Do đó, cần nhớ rằng tự do kinh tế không phải là tuyệt
đối; nó luôn phải được đo lường dựa trên lợi ích chung và phẩm giá của mỗi người.
Tinh thần khởi nghiệp thực sự có thể là một sứ mệnh đích thực, tạo ra của cải
và cải thiện cuộc sống, chứ không chỉ là một yếu tố phụ thuộc vào lợi nhuận. Điều
này có thể xảy ra khi nó nhận ra rằng việc tạo ra những công việc có phẩm giá
và giá trị là một phần thiết yếu của việc phục vụ xã hội một cách đúng đắn.
[158]
158. Với tinh thần tiên tri, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cảnh báo chống lại một
nền tự do kinh tế chỉ được tuyên bố bằng lời nói, trong khi điều kiện thực tế
ngăn cản nhiều người hưởng lợi từ nó. [159] Các mô hình kinh tế đề cao hiệu
năng và thành công cá nhân thường coi việc đầu tư vào những người thiệt thòi hoặc
những người có con đường phát triển chậm hơn là vô ích hoặc bất tiện, như thể
tương lai của họ chỉ phụ thuộc vào khả năng theo kịp “người chiến thắng”. Trên
thực tế, một xã hội công bằng đòi hỏi một Nhà nước cảnh giác và các định chế
dân sự có khả năng vượt qua não trạng đơn nhất về hiệu năng, và đảm bảo rằng
các nguồn lực, giải pháp sáng tạo và quy định ưu tiên những người dễ bị tổn
thương nhất. [160] Thay vì chờ đợi lợi ích của tăng trưởng “cuối cùng” đến với
người nghèo, cần phải đưa ra các quyết định để đảm bảo rằng tăng trưởng trở nên
toàn diện ngay từ đầu. Kinh nghiệm của những thập niên gần đây cho thấy rằng
trong các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính, người nghèo luôn là người phải
trả giá cao nhất, trong khi các lý thuyết hứa hẹn sự thịnh vượng chung tự động
thường tỏ ra là ảo tưởng.
159. Điều quan trọng là phải vượt ra khỏi các thước đo phát triển hiện tại — vốn
đã gắn liền với khái niệm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong hơn tám mươi năm
qua — vì những thước đo này hầu như bỏ qua một cách có hệ thống các khía cạnh
thiết yếu đối với phúc lợi tổng thể của con người và môi trường. Việc phát triển
các tham số và thước đo bổ sung cho GDP là rất quan trọng để cải thiện cơ sở dữ
liệu được sử dụng để tiến hành phân tích, ra quyết định chính trị và kinh tế
cũng như thiết lập các ưu tiên khu vực, quốc gia và quốc tế. Việc đưa ra các
tham số mới sẽ cho phép đánh giá toàn diện và kịp thời về tác động của các quyết
định lập pháp và quy định đối với phẩm giá lao động, sự thịnh vượng chung, giảm
bất bình đẳng và bảo vệ môi trường. Nó cũng sẽ ảnh hưởng đến khái niệm phát triển,
các quá trình giáo dục, tư duy và dư luận, cũng như hòa bình, vốn chỉ thực sự tồn
tại khi dựa trên công lý.
160. Trong những năm gần đây, lĩnh vực tài chính đã gia tăng tầm quan trọng và
trải qua những đổi mới đáng kể, một phần do sự ra đời của tiền điện tử. Những
suy gẫm và quan sát chứa đựng trong giáo huấn của các vị tiền nhiệm của tôi, đặc
biệt là trong các Thông điệp của họ, đã nhấn mạnh cách thức mà lĩnh vực trung
gian tài chính, “khi hoạt động mà không có nền tảng nhân học và đạo đức cần thiết,
không chỉ tạo ra những lạm dụng và bất công rõ ràng mà còn thể hiện khả năng tạo
ra khủng hoảng kinh tế mang tính hệ thống và toàn cầu.” [161] Tương tự như vậy,
thu nhập từ vốn có nguy cơ thay thế thu nhập từ lao động, vốn thường bị giới hạn
ở rìa của các lợi ích chính của hệ thống kinh tế. Tuy nhiên, tiết kiệm được
chuyển đổi thành tín dụng cho nền kinh tế thực, từ đó tạo ra cả việc làm và việc
làm tự do, vẫn là trung tâm cho sự phát triển và các khoản đầu tư phải đi kèm với
các quá trình chuyển đổi đang diễn ra. Chức năng xã hội của tín dụng vẫn không
thể thay thế. Tài chính vì mục đích riêng của nó về cơ bản khác với tài chính
nhằm mục đích phát triển, tạo ra và tiến hóa của công việc.
161. Quan điểm này cần trở thành một phần của cái nhìn rộng hơn về động lực
toàn cầu. Trong khi của cải thế giới đã tăng lên về mặt tuyệt đối, nó ngày càng
tập trung vào tay một số ít người, làm gia tăng bất bình đẳng cả trong và giữa
các quốc gia. “Có một số ít người có quá nhiều, và quá nhiều người có quá ít,
đó là luận lý học của ngày nay.” [162] Những tiến bộ khoa học và kỹ thuật, ngay
cả trong lĩnh vực y tế, cũng không dễ tiếp cận với đại đa số người dân, như đã
được chứng minh một cách rõ ràng trong đại dịch gần đây. Trong khi một số khu vực
chi tiêu mạnh tay cho các can thiệp không cần thiết hoặc những giấc mơ về việc
nâng cao cá nhân chỉ dành cho một số ít người được chọn, thì các khu vực khác
trên thế giới lại thiếu các thiết bị thiết yếu cần thiết để cứu sống hàng triệu
người. Nghĩ rằng các kỹ thuật mới sẽ tự động mang lại lợi ích cho tất cả mọi
người là bỏ qua bằng chứng. Trừ khi những biến đổi ở giai đoạn thiết kế ưu tiên
việc ngăn ngừa sự bất bình đẳng mới và hơn thế nữa, tiến bộ kỹ thuật chắc chắn
sẽ tạo ra những bất bình đẳng về cấu trúc. Ngày nay, công lý đòi hỏi phải được
tiếp cận với những lợi ích của sự đổi mới, bao gồm chăm sóc, kiến thức, công cụ
và cơ hội.
162. Các luật và phương pháp phân phối lại công bằng chắc chắn là cần thiết để
khắc phục sự mất cân bằng, bao gồm cả các hệ thống thuế làm giảm gánh nặng cho
những người yếu nhất và yêu cầu nhiều hơn từ những người có nhiều nguồn lực
hơn. Tuy nhiên, việc theo đuổi công bằng xã hội không nên được coi là một vấn đề
riêng biệt chỉ xuất hiện sau khi tạo ra của cải, như thể nền kinh tế chỉ tồn tại
để tạo ra của cải, và các chính trị gia chỉ can thiệp sau đó để phân phối nó.
Thực tế, công bằng liên quan đến mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, từ việc
thu thập tài nguyên đến tài chính, và từ sản xuất đến tiêu dùng; mọi lựa chọn đều
có hậu quả về mặt đạo đức. [163]
163. Hơn bao giờ hết, trong thời đại trí tuệ nhân tạo và robot, không còn khả
năng chỉ dựa vào “bàn tay vô hình” của thị trường nữa. [164] Chính trị có nhiệm
vụ định hướng nền kinh tế và kỹ thuật vì lợi ích chung, thúc đẩy công việc có
phẩm giá, hòa nhập xã hội và phân phối công bằng lợi ích của sự đổi mới. Vì nhiều
quyết định kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, nên cũng cần có sự hợp tác quốc
tế có khả năng xác định các chiến lược chung, đặc biệt là có lợi cho các quốc
gia và người dân dễ bị tổn thương nhất, để thúc đẩy phát triển và khắc phục sự
phụ thuộc vào phúc lợi. Tư duy đằng sau những lựa chọn này là phẩm giá vô song
của mỗi người, lợi ích chung và một thế giới thực sự được cai trị cho tất cả mọi
người. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hòa bình và phát triển, như Thánh Phaolô VI
đã tiên tri viết vào năm 1967, [165] vẫn còn áp dụng được cho đến ngày nay, vì
sự thịnh vượng chỉ góp phần xây dựng và củng cố hòa bình nếu nó được phổ biến rộng
rãi, toàn diện và bền vững.
164. Về mặt thực tiễn, trong thời đại trí tuệ nhân tạo và robot, việc đảm bảo nền
kinh tế ưu tiên phẩm giá con người có nghĩa là áp dụng một số tiêu chuẩn nhất định
cho hành động kiên quyết. Thứ nhất, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình:
khi dữ liệu và thuật toán ảnh hưởng đến việc phân phối tín dụng, lựa chọn nhân
sự hoặc tiếp cận các dịch vụ và cơ hội, cần thiết phải đảm bảo các quyết định dễ
hiểu, có thể tranh luận và chịu sự giám sát, để cá nhân không bị thu hẹp thành
những hồ sơ đơn thuần. Thứ hai, tính toàn diện và khả năng tiếp cận: lợi ích của
đổi mới phải đi kèm với đầu tư vào kỹ năng, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ thiết
yếu để đảm bảo kỹ thuật không làm gia tăng khoảng cách giữa người giàu và người
nghèo. Cuối cùng, các biện pháp đảm bảo công bằng: chính sách thuế, bảo trợ xã
hội và chính sách công nghiệp phải khắc phục sự mất cân bằng do sự tập trung của
cải và quyền lực tạo ra. Thực tế, những tiêu chuẩn này không phải là sự kìm hãm
đổi mới; thay vào đó, chúng làm cho đổi mới trở nên văn minh và nhân bản.
Gia đình và thanh thiếu niên: những điều kiện xã hội cho hy vọng
165. Gia đình là một lợi ích xã hội cơ bản. Được xây dựng trên sự kết hợp bền vững
giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nó là môi trường đầu tiên mà tất cả
mọi người phát triển tiềm năng của mình, nhận thức được phẩm giá của bản thân
và học hỏi những hình thức sơ khai nhất của chân lý và điều tốt đẹp, nội hóa những
thói quen chuẩn bị cho họ cuộc sống trong xã hội. [166] Là xã hội tự nhiên đầu
tiên, được ban tặng những quyền cơ bản, gia đình là tế bào cơ bản và không thể
thay thế của mọi tổ chức cộng đồng. [167] Do đó, khi các dự án chính trị và các
quyết định kinh tế lớn đẩy gia đình vào vai trò thứ yếu hoặc bên lề, sự phát
triển đích thực của toàn bộ cơ thể xã hội sẽ bị tổn hại. [168]
166. Tuy nhiên, gia đình là một tài sản xã hội dễ bị tổn thương, ngay lập tức bị
ảnh hưởng bởi những chuyển đổi kinh tế và kỹ thuật đang định hình lại bản chất
của việc làm. Do đó, nó cần sự hỗ trợ về văn hóa, pháp lý và kinh tế. Tác động
tàn phá của thất nghiệp và tình trạng việc làm không ổn định đối với cấu trúc
gia đình đã được biết đến rộng rãi. Trong ngắn hạn, việc giảm chi phí lao động
hoặc tối đa hóa hiệu quả tài chính có vẻ có lợi, nhưng về lâu dài, điều này làm
suy yếu chính nền tảng của sự chung sống xã hội. Trong khi những thành công về
kỹ thuật được ca ngợi, cấu trúc xã hội lại bị xói mòn dần dần, như thể bởi một
loại virus thầm lặng.
167. Đối với người trẻ, tình trạng việc làm không ổn định đặc biệt tàn phá. Như
các Giám mục của Hoa Kỳ đã nhắc lại, công việc không chỉ đơn thuần là nguồn thu
nhập mà còn là một lĩnh vực quan trọng, nơi hình thành bản sắc, vun đắp tình bạn
và các mối quan hệ, học hỏi trách nhiệm thực tiễn và nhận ra ơn gọi của mình.
[169] Khi việc tiếp cận việc làm bị cản trở bởi tỷ lệ thất nghiệp cao, hệ thống
đào tạo không đầy đủ hoặc các rào cản cấu trúc, nhiều người trẻ thấy con đường
dẫn đến sự viên mãn về nhân cách và nghề nghiệp của họ bị chặn đứng. Nhu cầu
thay đổi công việc nhiều lần trong suốt cuộc đời đòi hỏi phải cung cấp việc cập
nhật và đào tạo lại liên tục, để các thế hệ mới có thể đối diện một cách thành
thạo và độc lập với những rủi ro của một môi trường kinh tế vừa thay đổi vừa
thường khó lường. [170]
168. Điều này làm nảy sinh một trách nhiệm công cộng cụ thể. Nhà nước có nhiệm
vụ hỗ trợ hoạt động kinh doanh bằng cách thúc đẩy các điều kiện thuận lợi cho
việc làm, khuyến khích việc làm ở những nơi còn thiếu và bảo vệ nó trong thời kỳ
khủng hoảng, vì nó là một lợi ích cơ bản cho gia đình và xã hội. [171] Đặc biệt
trong thời đại chuyển đổi kỹ thuật liên tục, chúng ta cần một sự sáng tạo chính
trị để cổ vũ “việc làm” và đặt gia đình và các thế hệ tương lai vào trung tâm;
nếu không, sự tiến bộ kinh tế của chúng ta sẽ dẫn đến những hình thức bất an và
loại trừ mới.
169. Hỗ trợ các gia đình và thanh niên trong quá trình chuyển đổi này đòi hỏi
những lựa chọn giúp đảm bảo sự ổn định. Như đã nêu ở trên, các chính sách lao động
cần cổ vũ tính liên tục và chất lượng việc làm, chống lại tình trạng bất an như
một điều kiện sống bình thường và khuyến khích những con đường thực tế để gia
nhập lực lượng lao động và phát triển nghề nghiệp. Thứ hai, cần có các biện
pháp để đảm bảo sức khỏe. Lối sống của con người, bởi vì nếu không có sự cân bằng
hợp lý giữa việc làm, giải trí và nghỉ ngơi, gia đình sẽ suy yếu và giới trẻ sẽ
khó phát triển ý thức trách nhiệm. Hơn nữa, việc đầu tư vào giáo dục và tái đào
tạo dễ tiếp cận là rất cần thiết, để sự dịch chuyển nghề nghiệp mà nền kinh tế
kỹ thuật số đòi hỏi không trở thành sự chọn lọc khắc nghiệt giữa những người có
khả năng cập nhật kỹ năng và những người không thể. Cuối cùng, cần phải hỗ trợ
các mối quan hệ xã hội, với các mạng lưới và cộng đồng giáo dục đồng hành cùng
các lựa chọn trong cuộc sống và ngăn ngừa sự bất ổn dẫn đến sự cô đơn hoặc nghiện
ngập. Nếu được thực hiện, những chuyển đổi kỹ thuật này có thể được vượt qua mà
không làm suy yếu khả năng xây dựng tương lai, điều làm cho một xã hội thịnh vượng.
Bảo vệ tự do chống lại sự phụ thuộc và thương mại hóa
Sự phụ thuộc và kiểm soát xã hội
170. Sau khi suy gẫm về sự thật và giáo dục, việc làm và gia đình, giờ đây
chúng ta phải xem xét tác động của cuộc cách mạng kỹ thuật số đối với tự do của
con người, giải quyết các rủi ro đối với cả sức khỏe tâm thần của cá nhân và những
thách thức xã hội rộng lớn hơn. Không nên đánh giá thấp các hình thức nghiện ngập
tinh vi hơn liên quan đến “nền kinh tế chú ý kỹ thuật số”, vì các nền tảng và dịch
vụ thường được thiết kế để thu hút thời gian và sự chú ý của người dùng, khai
thác điểm yếu của họ và làm suy yếu tự do nội tâm của họ. Khi các mô hình kinh
doanh phát triển mạnh dựa trên điểm yếu của con người, con người bị đối xử như
một phương tiện chứ không phải là một mục đích; những người thiết kế hoặc tài
trợ cho các hệ thống như vậy phải gánh chịu trách nhiệm đạo đức không thể bỏ
qua. Cần khẩn cấp thúc đẩy các kỹ thuật tăng cường tự do nội tâm bằng cách nuôi
dưỡng giáo dục về sự tỉnh táo trong thế giới kỹ thuật số và bảo vệ trẻ vị thành
niên, từ đó chống lại các mô hình khai thác điểm yếu.
171. Một rủi ro khác, ít được chú ý hơn nhưng không kém phần nghiêm trọng, là sự
kiểm soát xã hội được tạo ra bởi việc thu thập dữ liệu khổng lồ và sử dụng các
hệ thống thuật toán. Khi mọi hành động—di chuyển, mua sắm, mối quan hệ và sở
thích—đều để lại dấu vết, một hình thức quyền lực mới xuất hiện, đó là quyền lực
để lập hồ sơ, dự đoán và ảnh hưởng đến hành vi, thường mà các cá nhân không
hoàn toàn nhận thức được điều đó. Nếu loại dữ liệu này được sử dụng để đưa ra
các quyết định ảnh hưởng đến các cơ hội cụ thể—chẳng hạn như tiếp cận tín dụng,
việc làm hoặc các dịch vụ thiết yếu—thì có nguy cơ làm suy yếu tự do và phân biệt
đối xử với những người dễ bị tổn thương nhất. Hơn nữa, sự kiểm soát không chỉ
được thực hiện thông qua các lệnh cấm rõ ràng mà còn thông qua cấu trúc của sự
hiển thị: điều gì được khuếch đại hoặc bị che khuất, điều gì được khen thưởng
hoặc bị trừng phạt, cuối cùng sẽ định hình các ý kiến và lựa chọn, thúc đẩy sự
tuân thủ và tự kiểm duyệt. Vì lý do này, tự do trong thời đại kỹ thuật số không
chỉ là vấn đề nội tâm mà còn là mối quan tâm của cộng đồng. Nó đòi hỏi các quy
tắc rõ ràng, tính minh bạch, khả năng khiếu nại và giới hạn tương xứng đối với
việc sử dụng các kỹ thuật xâm phạm, để kỹ thuật vẫn phục vụ con người chứ không
trở thành một hình thức kiểm soát lương tâm.
172. Gốc rễ của những vấn đề này nằm ở tư duy kỹ trị và hậu nhân bản có xu hướng
coi con người như một đối tượng để thao túng hoặc một nguồn lực để tối ưu hóa,
[172] loại bỏ tất cả các biện pháp bảo vệ chống lại việc theo đuổi lợi nhuận
không kiểm soát. Điều chiếm ưu thế là hiệu năng, chứ không phải là sự tôn trọng
tự do và phẩm giá con người. Một số trào lưu hậu nhân bản thậm chí còn đi xa đến
mức hình dung ra những con người “hạng hai”, lệ thuộc vào lợi ích của giới tinh
hoa tự cho mình là thượng đẳng. Viễn cảnh đáng lo ngại này càng trở nên nghiêm
trọng hơn khi kết hợp với các công cụ kỹ thuật làm tăng khả năng kiểm soát và lựa
chọn một cách theo cấp số nhân. Ngay cả một số hình thức nợ nần mang tính cấu
trúc, vốn giữ toàn bộ các dân tộc trong tình trạng phụ thuộc, cũng phản ánh
cùng một tư duy, dưới những hình thức mới, dung túng cho các mối quan hệ lệ thuộc
tương tự như chế độ nô lệ.
Phá vỡ xiềng xích của những hình thức nô lệ mới
173. Quan điểm méo mó này về con người ngày nay được phản ánh trong nhiều hình
thức nô dịch liên quan trực tiếp đến nền kinh tế kỹ thuật số. Không có gì trong
thế giới AI là phi vật chất hay kỳ diệu. Mỗi phản hồi dường như tức thì và hoàn
hảo đều là kết quả của một chuỗi trung gian dài, liên quan đến các mạng lưới rộng
lớn về tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng năng lượng và trên hết là con người.
Một phần đáng kể hoạt động của nền kinh tế kỹ thuật số dựa vào công việc thầm lặng
của hàng triệu người tham gia vào các hoạt động thiết yếu nhưng phần lớn không
được nhìn thấy, chẳng hạn như gắn nhãn dữ liệu, đào tạo mô hình và kiểm duyệt nội
dung, thường liên quan đến các nội dung gây khó chịu. Trong nhiều trường hợp,
những người lao động này là những người trẻ tuổi, chủ yếu là phụ nữ, làm việc
trong điều kiện khắc nghiệt với mức lương tối thiểu. Ngoài công việc lao động
thầm lặng này, còn có công việc khắc nghiệt hơn nữa là khai thác các nguồn tài
nguyên cần thiết cho việc sản xuất các thiết bị và bộ vi xử lý
[microprocessors]mà trí tuệ nhân tạo phụ thuộc vào. Ở một số vùng trên thế giới,
trẻ em và thanh thiếu niên làm việc trong điều kiện nguy hiểm, nghiền nát các vật
liệu để chiết xuất các nguyên tố đất hiếm. Thể xác của những người này mang vết
thẹo, bị thương tích và bị bào mòn để dòng chảy vi tính có thể tiếp tục không bị
gián đoạn. Hơn nữa, các mạng lưới tội phạm sử dụng các nền tảng trực tuyến, hệ
thống nhắn tin, phương thức thanh toán ẩn danh và kỹ thuật lập hồ sơ để tuyển mộ,
kiểm soát và vận chuyển nạn nhân của nạn buôn người — rất thường là trẻ vị
thành niên — biến đàn ông và đàn bà thành “dữ liệu” để theo dõi và “gói hàng” để
di chuyển trong cùng một mạch kỹ thuật số hỗ trợ phần lớn nền kinh tế toàn cầu.
Thực tế này đặt ra thách thức sâu sắc đối với lương tâm đạo đức của thời đại
chúng ta. Không đủ chỉ viện dẫn hiệu năng, cũng không đủ chỉ ca ngợi lợi ích của
sự đổi mới, nếu chúng được xây dựng trên một chuỗi bóc lột vẫn cố tình bị che
giấu. Nếu kỹ thuật hứa hẹn sự giải phóng, nhưng lại tạo ra những hình thức lệ
thuộc toàn cầu mới, thì nó mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản về phẩm giá con người.
174. Cuộc chiến chống lại các hình thức nô lệ mới là một thử thách quyết định đối
với sự phân định đạo đức của Trí tuệ Nhân tạo và chuyển đổi kỹ thuật số. Tiếp nối
truyền thống do Đức Giáo Hoàng Leo XIII khởi xướng, Giáo hội tái khẳng định sự
lên án mạnh mẽ của mình đối với mọi hình thức nô lệ, buôn người và biến con người
thành hàng hóa. Giáo hội cũng nhấn mạnh sự cần thiết cấp bách phải suy gẫm và
hành động để giữ gìn phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người và lợi ích
chung, vừa là trọng tâm và mục tiêu của xã hội, vừa là tiêu chuẩn hướng dẫn cho
mọi lựa chọn bản thân, xã hội và chính trị. Nếu thiếu sự suy gẫm về đạo đức và
nhân bản này, sức mạnh ngày càng tăng của các hệ thống kỹ thuật số có thể dẫn
chúng ta đến những tội ác mới không kém phần đáng xấu hổ so với những tội ác
trong quá khứ mà chúng ta hiện đang lên án, trong khi chúng ta vẫn tiếp tục tự
xưng là những xã hội “tiên tiến” và “văn minh”.
175. Buôn người phải được công nhận là một hình thức nô lệ hiện đại và là sự vi
phạm nghiêm trọng phẩm giá con người. Không phản ứng kiên quyết, hoặc dung túng
những hành vi này dưới bất cứ hình thức nào, đều đồng nghĩa với việc trở thành
đồng lõa trong những tội lỗi ngày nay, tương tự như những tội lỗi trong quá khứ
khi chế độ nô lệ bị che giấu và biện minh. [173]
176. Trong quá trình phát triển học thuyết của mình, Giáo hội đã dần nhận thức
sâu sắc hơn về mức độ nghiêm trọng của những vấn đề này. Đúng là không thể đánh
giá các sự kiện trong quá khứ một cách lỗi thời, như thể các tiêu chuẩn đạo đức
đã trưởng thành theo thời gian luôn luôn có sẵn. Tuy nhiên, chúng ta cũng không
thể phủ nhận hoặc giảm nhẹ sự chậm trễ mà cả xã hội và Giáo hội đã lên án tai họa
của chế độ nô lệ. Trong thời cổ đại và Trung Cổ, nhiều cá nhân và thậm chí cả
các tổ chức giáo hội đều có nô lệ. Ngay từ thời kỳ cận đại, Tòa Thánh Roma, đáp
lại yêu cầu từ các vị vua, đã can thiệp nhiều lần để điều chỉnh và hợp pháp hóa
các hình thức khuất phục, và trong một số trường hợp, là việc nô dịch những người
“ngoại đạo”. [174] Chỉ đến thế kỷ XIX, một sự lên án chính thức, tuyệt đối và
phổ quát đối với chế độ nô lệ mới được nêu rõ ràng, đặc biệt là dưới thời Đức
Giáo Hoàng Leo XIII. [175] Sự phát triển này cung cấp một ví dụ rõ ràng về sự
trưởng thành của Giáo hội trong việc hiểu biết những chân lý vĩnh cửu của Mặc
Khải mà Giáo hội bảo vệ. Mặc dù không phải lúc nào cũng có sự nhất quán trong
thực hành — vì chế độ nô lệ đã được dung thứ trong một thời gian dài trước khi
bị lên án một cách dứt khoát — nhưng xuyên suốt lịch sử, phẩm giá của mỗi con
người, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, luôn được khẳng định một
cách liên tục, ngay cả khi phải mất mười tám thế kỷ để sự bất khả kháng hoàn
toàn của nó với chế độ nô lệ được công nhận một cách rõ ràng. Điều này tạo nên
một vết thương trong ký ức Kitô giáo, một vết thương mà chúng ta không thể coi
mình là tách rời khỏi. [176] Không thể không cảm thấy đau buồn sâu sắc khi
chiêm niệm về sự đau khổ và sỉ nhục to lớn mà rất nhiều người phải chịu đựng,
trái ngược hoàn toàn với phẩm giá vô bờ bến của họ với tư cách là những người
được Chúa yêu thương vô hạn. Vì điều này, nhân danh Giáo hội, tôi thành tâm xin
tha thứ.
177. Đây là lý do tại sao ký ức về sự đồng lõa và mù quáng trong quá khứ trước
sự bất công của chế độ nô lệ trở thành lời kêu gọi cảnh giác. Những gì chúng ta
đã học được phải được chuyển thành sự phân định và trách nhiệm trong hiện tại.
Nếu chúng ta muốn tránh việc phải xin lỗi một lần nữa trong tương lai vì đã
không tôn trọng giá trị nhân phẩm quý báu mà đức tin của chúng ta đòi hỏi, thì
hôm nay chúng ta có trách nhiệm lên án một cách rõ ràng và kiên quyết nạn buôn
người dưới nhiều hình thức khác nhau và cùng với tất cả những người cam kết vì
sự nghiệp này, hỗ trợ những nỗ lực cụ thể trong việc phòng ngừa, bảo vệ, giải
phóng và phục hồi.
178. Ngay cả ngày nay, chủ nghĩa thực dân vẫn mang những hình thức mới. Nó
không còn chỉ thống trị thân xác mà còn chiếm đoạt dữ liệu, biến cuộc sống cá
nhân thành thông tin có thể khai thác. Toàn bộ các khu vực, đặc biệt là những
khu vực có cấu trúc yếu kém và tầm quan trọng địa chính trị hạn chế, hiện đang
phải chịu một tư duy khai thác mới: đó là dữ liệu sức khỏe, hồ sơ dịch tễ học,
bản đồ gen và thông tin nhân khẩu học. Chúng đã trở thành những “đất hiếm” mới
của quyền lực: dữ liệu quan trọng, một khi được tổng hợp và phân tích, có thể
được sử dụng để đào tạo các mô hình dự đoán, hướng dẫn chiến lược đầu tư, dự
báo khủng hoảng và, trên hết, quyết định ai và điều gì được coi là quan trọng.
Những người kiểm soát dữ liệu sức khỏe của toàn bộ cộng đồng – thường được thu thập
dưới chiêu bài viện trợ, nghiên cứu hoặc đổi mới – nắm giữ đòn bẩy cấu trúc đối
với tương lai, bởi vì họ có thể định hình nhu cầu và thị trường. Họ cũng có thể
quyết định, trước những người khác, thuốc men, đầu tư và sự bảo vệ sẽ được phân
bổ cho ai. Đây là một trong những thách thức đạo đức cấp bách nhất của thời đại
chúng ta: đảm bảo rằng kiến thức được chia sẻ trở thành một lợi ích chung thực
sự chứ không phải là một công cụ thống trị. Điều này đòi hỏi phải khôi phục cho
cá nhân không chỉ dữ liệu mô tả về họ, mà còn cả khả năng quyết định cách thức
sử dụng, bởi ai và vì lợi ích của ai. Nếu không, thời đại kỹ thuật số sẽ không
phải là hậu thuộc địa, mà là thuộc địa dưới một hình thức khác.
179. Các hình thức nô lệ mới được thúc đẩy bởi các chuỗi kinh tế và cơ sở hạ tầng
kỹ thuật số. Do đó, cần phải hành động trên nhiều mặt trận. Thứ nhất, các chuỗi
cung ứng hỗ trợ ngành kỹ thuật và nền kinh tế kỹ thuật số cần trở nên minh bạch
hơn, để không có lợi thế cạnh tranh nào được xây dựng dựa trên sự bóc lột ngầm.
Thứ hai, các công ty và nhà đầu tư cần áp dụng các tiêu chuẩn rõ ràng để xác
minh đạo đức mang tính phòng ngừa (thẩm định kỹ lưỡng), đặt ưu tiên hàng đầu là
bảo vệ người lao động, chống lại lao động cưỡng bức và đánh giá tác động xã hội
của các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu. Hơn nữa, các nền tảng kỹ thuật số
phải hợp tác có trách nhiệm với chính quyền và xã hội dân sự để ngăn chặn các
công cụ truyền thông, thanh toán và lập hồ sơ trở thành kênh tuyển dụng và kiểm
soát nạn nhân. Khi những nỗ lực này hội tụ, môi trường kỹ thuật số có thể được
chuyển đổi từ không gian bóc lột thành không gian bảo vệ, phòng ngừa và thúc đẩy
phẩm giá con người.
Trách nhiệm chung
180. Các lĩnh vực vừa được xem xét— việc tìm kiếm sự thật trong đời sống công cộng,
giáo dục trong môi trường kỹ thuật số, sự chuyển đổi của công việc, sự mong
manh của gia đình và các hình thức nô lệ mới—không phải là những hiện tượng
riêng lẻ. Thay vào đó, chúng phản ánh một vấn đề cơ bản chung, đó là nếu kỹ thuật
trở thành tiêu chuẩn tối thượng, con người có nguy cơ bị giảm xuống thành dữ liệu,
một bánh răng trong máy móc hoặc một món hàng hóa. Tuy nhiên, nếu kỹ thuật được
tích hợp với một quan điểm khôn ngoan, nó có thể trở thành một công cụ của sự
tăng trưởng, công lý và tình huynh đệ.
181. Từ quan điểm này, Học thuyết Xã hội của Giáo hội kêu gọi trách nhiệm
chung. Học thuyết yêu cầu các quá trình này phải được hướng dẫn bằng tầm nhìn
xa: bởi các định chế có khả năng qui định mà không bóp nghẹt, và bảo vệ mà
không chiếm đoạt; bởi các doanh nghiệp nhận thức được lao động và phẩm giá là
thước đo thành công; bởi các tổ chức trung gian và cộng đồng giáo dục xây dựng
lại niềm tin và các mối quan hệ; và bởi những công dân trau dồi trách nhiệm, sự
tiết chế, khả năng phân định và ý thức về chân lý. Chỉ bằng cách này, sự đổi mới
mới thực sự phục vụ sự phát triển toàn diện của con người, thay vì trở thành
nguồn gốc của sự loại trừ và thống trị. Và chỉ bằng cách này, lời hứa về sự tiến
bộ mới được công nhận là đích thực, bởi vì nó được đo lường dựa trên phẩm giá bất
khả xâm phạm của mỗi người nam và người nữ.
CHƯƠNG NĂM: VĂN HÓA QUYỀN LỰC VÀ NỀN VĂN MINH TÌNH YÊU
182. Sau khi xem xét cách trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm biến đổi một số khía cạnh
của cuộc sống và xã hội, đặc biệt là những hệ lụy nghiêm trọng đối với phẩm giá
con người, giờ đây chúng ta phải chuyển sự chú ý sang vấn đề bi thảm hơn nữa là
chiến tranh. Ở đây, câu hỏi không chỉ đơn thuần là hiệu quả của các công cụ mới,
mà còn là nguy cơ kỹ thuật, khi tách rời khỏi đạo đức và trách nhiệm, sẽ khiến
các quyết định về sự sống và cái chết trở nên nhanh chóng và vô cảm hơn, và sẽ
biến việc sử dụng vũ lực thành một lựa chọn tức thời và khả hữu. Trong một thế
giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, hòa bình không chỉ đơn thuần là một vấn đề
trong số nhiều vấn đề khác, mà là điều kiện tiên quyết cho lợi ích chung toàn cầu
và là thước đo sự trưởng thành về mặt đạo đức của các dân tộc, đặc biệt là những
người có trách nhiệm cai trị.
183. Cuộc cách mạng kỹ thuật số đang thay đổi bản chất của xung đột. Bên cạnh
chiến tranh thông thường, còn có các hình thức lai ghép như tấn công mạng, thao
túng thông tin, các chiến dịch gây ảnh hưởng và tự động hóa các quyết định chiến
lược. AI đóng vai trò là yếu tố thúc đẩy các quá trình này, đặc biệt trong bối
cảnh nhiều kỹ thuật vốn dĩ mang tính mơ hồ. Do đó, những gì được tạo ra để
phòng thủ có thể nhanh chóng được sử dụng lại cho mục đích tấn công, và ranh giới
mong manh giữa bảo vệ và xâm lược trở nên mờ nhạt. Trong khi AI có thể tăng cường
khả năng phòng thủ và bảo vệ dân thường, nó cũng có thể làm giảm ngưỡng sử dụng
vũ lực, che chắn cho mọi người khỏi trách nhiệm và nuôi dưỡng một nền văn hóa
trong đó kẻ thù bị giảm xuống thành con số thống kê và nạn nhân trở thành “thiệt
hại ngoài dự kiến [collateral damage]”. Đối diện với những biến đổi này, chúng
ta phải nhớ lại các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội — phẩm giá con người, lợi
ích chung, đích đến phổ quát của của cải, tính phụ đới, tình liên đới và công
lý — bởi vì chúng là những tiêu chuẩn để đánh giá xem kỹ thuật có thực sự phục
vụ nhân loại hay đang khuất phục nhân loại. Do đó, chúng ta nên coi những
nguyên tắc này như những hướng dẫn cho việc ra quyết định của mình.
184. Vì vậy, trong chương này, tôi sẽ so sánh hai cách tiếp cận đối lập, mà tôi
đã đề cập thông qua hình ảnh Kinh thánh trong phần Giới thiệu. Một mặt, có sự
cám dỗ của việc xây dựng Tháp Baben, dựa vào quyền lực và lòng kiêu hãnh. Mặt
khác, cần phải có sự kiên nhẫn để xây dựng lại Giêrusalem “từng phần một”, như
thời Nơ-khe-mi-a, bằng cách bảo vệ nhân loại và lợi ích chung.
185. Nếu xem xét động lực toàn cầu, chúng ta có thể nhận ra rõ hơn sự lan rộng
của một nền văn hóa quyền lực đặc trưng bởi sự phân cực và bạo lực. Tháp Baben
hiện đại không chỉ được nhìn thấy trong mô hình kỹ trị toàn cầu hóa, mà còn
trong cuộc xung đột xa xôi giữa các đế chế đối lập, giữa các cường quốc muốn
duy trì quyền lực tối cao của mình và những cường quốc khao khát giành lấy quyền
lực tối cao đó, dẫn đến vô số xung đột cục bộ. Hơn nữa, dường như không có giới
hạn nào cho cuộc chạy đua – được thúc đẩy bởi tham vọng phi nhân tính – để phát
triển các kỹ thuật ngày càng mạnh mẽ hơn hoặc để giành quyền kiểm soát chúng.
Tuy nhiên, bất chấp vòng xoáy đi xuống này, chúng ta cũng có thể thấy một phần
lớn nhân loại đang cố gắng giữ vững nhân tính và nỗ lực xây dựng thành phố
thánh của sự chung sống và hòa bình. Thường thì, chúng ta là những người xây dựng
vô tình và những kiến trúc sư vụng về của thành phố này, có khả năng thực hiện
những cử chỉ hào phóng nhưng thiếu tầm nhìn tổng thể. Dự án xây dựng này diễn
ra chậm hơn, ít được chú ý hơn và ít ngoạn mục hơn, và cần sự hiểu biết tốt hơn
và sự phối hợp chặt chẽ hơn để nó có thể trở thành trách nhiệm có ý thức và rõ
ràng của mọi cộng đồng, từ gia đình đến các quốc gia và mối quan hệ giữa các quốc
gia. Chính triển vọng của sự cam kết này, công trường xây dựng của hy vọng này,
mà chúng ta gọi là “nền văn minh của tình yêu”.
Nền văn minh của tình yêu trong thời đại kỹ thuật số
186. Khi Thánh Phaolô VI đặt ra cụm từ “nền văn minh của tình yêu”, [177] thế
giới đang ở giữa Chiến tranh Lạnh, một cuộc chạy đua vũ trang và sự bất ổn kinh
tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, Giáo hội đã đề xuất một con đường thay thế
cho sự đối lập về ý thức hệ giữa các hệ thống, và hình dung ra một trật tự xã hội
trong đó công lý và bác ái đan xen và tình yêu trở thành nguyên tắc chỉ đạo của
đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa. Ngày nay, chúng ta phải kiên quyết khôi
phục tầm nhìn này, vì nền văn minh của tình yêu không phải là một ảo tưởng ngây
thơ, mà là một dự án đầy thách thức, bao gồm việc chuyển đổi lòng bác ái thành
các cấu trúc công lý, tạo hình thức định chế cho tình huynh đệ và coi những người
khác — dù là cá nhân hay dân tộc — là những đồng minh cần thiết để xây dựng lợi
ích chung. Như Thông điệp Fratelli Tutti đã nhắc nhở chúng ta, chỉ có tình yêu
xã hội này mới có khả năng trở thành một nền văn hóa và một chuẩn mực, và do đó
mang lại một trật tự quốc tế ổn định, biến sự chung sống vũ trang đơn thuần
thành một cộng đồng có chung tương lai. [178]
187. Nhận thức này thậm chí còn mang tính nền tảng hơn trong bối cảnh chuyển đổi
kỹ thuật số hiện nay. Mạng lưới kỹ thuật số, nền kinh tế toàn cầu hóa và sự
phát triển của trí tuệ nhân tạo làm nẩy sinh những mối liên kết ngày càng chặt
chẽ, liên kết — trong thời gian thực — các quyết định được đưa ra ở một nơi với
những tác động mà chúng tạo ra ở nơi khác. Theo nghĩa này, những lời của Công đồng
Vatican II về sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các dân tộc vẫn còn phù
hợp, vì lợi ích chung đang mang một chiều kích ngày càng phổ quát, với các quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan đến toàn thể gia đình nhân loại. [179] Do đó, dự án về
một nền văn minh của tình yêu phải đảm nhận nhiệm vụ chuyển đổi sự phụ thuộc lẫn
nhau bị áp đặt này thành một tình liên đới tự nguyện và được lựa chọn. Đây là
nguyên tắc chỉ đạo cho các quy trình kỹ thuật: trí tuệ nhân tạo không chỉ giúp
chúng ta hiệu quả hơn hoặc kết nối hơn; nó còn phải phục vụ việc xây dựng một
gia đình nhân loại phổ quát, với các quyền lợi và nghĩa vụ được chia sẻ, nơi sự
gần gũi kỹ thuật số trở thành một cơ hội thực sự để gặp gỡ và chăm sóc lẫn
nhau.
Văn hóa quyền lực
188. Trong thời đại của chúng ta, một nền văn hóa quyền lực đang hình thành,
trong đó sự sẵn có của các nguồn lực và khả năng thống trị có xu hướng chi phối
chương trình nghị sự và các tiêu chuẩn ra quyết định. Bằng cách này, lợi ích
chung của nhân loại bị đẩy xuống hàng thứ yếu và thảm kịch cụ thể của các dân tộc
trong chiến tranh bị giảm xuống thành một vấn đề thứ yếu so với lợi ích chiến
lược. Văn hóa quyền lực này len lỏi vào xã hội, thay đổi các mối quan hệ và
hành vi, và phát triển bằng cách bình thường hóa chiến tranh, theo đuổi sức mạnh
quân sự ngày càng lớn, lợi dụng cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương và
nuôi dưỡng một chủ nghĩa hiện thực sai lầm khẳng định rằng không có lựa chọn
nào khác.
Sự bình thường hóa chiến tranh
189. Năm 1965, những lời của Thánh Phaolô VI vang vọng mạnh mẽ tại Đại hội đồng
Liên Hợp Quốc: “Không bao giờ chiến tranh nữa, không bao giờ chiến tranh nữa!”
[180] Chúng ta phải thừa nhận rằng, bất chấp những mong muốn và tuyên bố về hòa
bình, sáu mươi năm qua đã được đánh dấu bằng các cuộc xung đột với mức độ tàn bạo
đáng kinh ngạc, thường ảnh hưởng đến dân thường trên quy mô lớn, dẫn đến cái chết
của những nạn nhân vô tội, sự di dời hàng loạt, sự bất ổn xã hội và những vết
thương lâu dài. Tuy nhiên, trong diễn ngôn công cộng, có một niềm tin rộng rãi
rằng chiến tranh nên vẫn là biện pháp cuối cùng, phải tuân theo các giới hạn đạo
đức và pháp lý nghiêm ngặt, và luôn hướng tới một tầm nhìn chính trị về hòa
bình. Sau những diễn biến trong giai đoạn ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất,
một bước ngoặt đã xảy ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai: hòa bình trở thành
trọng tâm của trật tự quốc tế, như được chứng thực đặc biệt bởi Hiến chương
Liên Hợp Quốc, với ý định “cứu các thế hệ kế tiếp khỏi tai họa chiến tranh”.
[181] Tương tự, nhiều hiến pháp quốc gia đã hạn chế việc sử dụng vũ lực trong
những trường hợp cực đoan và bị giới hạn nghiêm ngặt. Ngay cả trong Chiến tranh
Lạnh, bất chấp sự tồn tại của các xung đột nghiêm trọng, vẫn còn nhận thức rằng
một cuộc chiến tranh thế giới mới phải được tránh bằng mọi giá.
190. Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi mô hình thực
sự trong diễn ngôn công cộng và trong các quyết định liên quan đến tái vũ
trang, với sự hồi sinh đáng lo ngại của chiến tranh như một công cụ của chính
trị quốc tế, trong khi chính những nguyên tắc đạo đức trước đây đã hạn chế việc
sử dụng nó đang bị xói mòn. Các xung đột khu vực kéo dài theo thời gian, căng
thẳng leo thang và các mối đe dọa qua lại đang trở nên gần như phổ biến, và các
hình thức xung đột do mong muốn bành trướng lãnh thổ mà người ta cho rằng đã được
khắc phục đang tái xuất hiện. Dư luận đang dần bị định hình và chi phối bởi các
câu chuyện truyền thông phân cực, thường được khuếch đại bởi các thuật toán ưu
tiên xung đột và đối đầu.
191. Chúng ta cũng đang chứng kiến sự mất mát đáng lo ngại về ký ức lịch sử,
khi những lời kể trực tiếp về Holocaust và hai Thế chiến đang biến mất. Điều
này dẫn đến việc viết lại quá khứ một cách có chọn lọc hoặc bóp méo, trong bối
cảnh tin giả và sự thao túng các câu chuyện che khuất những bài học đã được rút
ra. Nếu không có ký ức sống động về những nỗi kinh hoàng của chiến tranh, các
quyết định chính trị có nguy cơ được đưa ra chỉ dựa trên quyền lực, mà không
xem xét đến hậu quả lâu dài.
192. Thêm vào đó, truyền thông và các chiều kích kỹ thuật số đang bổ sung thêm
những yếu tố mới và mang tính quyết định. Mạng lưới truyền thông, môi trường
thông tin phân mảnh và các thuật toán khuyến khích xung đột có thể khuếch đại sự
phân cực và oán giận, gia tăng tuyên truyền và làm cho việc phân biệt chung trở
nên khó khăn hơn. Do đó, chiến tranh không chỉ được tiến hành mà còn được định
hình về mặt văn hóa thông qua các câu chuyện đơn giản, tâm lý bạn hay thù,
thông tin sai lệch và nỗi sợ hãi. Khi ký ức lịch sử phai nhạt và các nguyên tắc
đạo đức bảo vệ thường dân và những người dễ bị tổn thương nhất bị suy yếu, việc
biện minh cho bạo lực như là cần thiết, không thể tránh khỏi hoặc thậm chí là
“được làm vệ sinh” trở nên dễ dàng hơn. Chính trong bối cảnh này, nhân loại
đang trượt vào một nền văn hóa bạo lực của quyền lực, nơi hòa bình không còn xuất
hiện như một trách nhiệm cần phải gánh vác, mà như một khoảng thời gian mong
manh giữa các cuộc xung đột. Ngày nay, hơn bao giờ hết, không ảnh hưởng đến quyền
tự vệ theo nghĩa nghiêm ngặt nhất, điều quan trọng là phải khẳng định lại rằng
lý thuyết “chiến tranh chính nghĩa”, vốn thường được sử dụng để biện minh cho bất
cứ loại chiến tranh nào, giờ đã lỗi thời. [182] Nhân loại sở hữu những công cụ
hiệu quả và có khả năng hơn nhiều để thúc đẩy cuộc sống con người và giải quyết
xung đột bằng các phương pháp như đối thoại, ngoại giao và tha thứ. Việc sử dụng
vũ lực, bạo lực và vũ khí phản ánh sự nghèo nàn về mặt quan hệ, luôn dẫn đến hậu
quả thảm khốc đối với dân thường.
Vũ lực không giới hạn
193. Sự phát triển của tổ hợp kỹ nghệ quân sự đã trở thành đặc điểm nổi bật của
bối cảnh chính trị hiện nay và trở thành một lĩnh vực then chốt trong nền kinh
tế của nhiều quốc gia. Mối liên hệ chặt chẽ giữa lợi ích kinh tế, bộ máy quân sự
và các quyết định chính trị tạo ra một “quốc gia vũ trang”, trong đó chiến
tranh xuất hiện như một sự mở rộng tự nhiên của chính trị, và thị trường vũ khí
trở thành động lực tự chủ đằng sau các quyết định quân sự. Chúng ta cũng không
thể bỏ qua những lợi ích kinh tế khổng lồ đằng sau chiến tranh. Ngành kỹ nghệ
vũ khí, và các quốc gia cung cấp vũ khí, thu lợi từ một thị trường phát triển mạnh
mẽ chính xác nhờ các cuộc xung đột. Theo nghĩa này, cũng có những lợi ích tài
chính góp phần làm gia tăng căng thẳng ở nhiều khu vực trên thế giới.
194. Kho vũ khí quân sự đang nhận được sự chú ý trở lại. Trong quá khứ, việc nhận
thức được mối đe dọa do các loại vũ khí có khả năng hủy diệt toàn nhân loại gây
ra đã thúc đẩy các con đường hướng tới hòa hoãn và đàm phán giải trừ quân bị.
Thật không may, cách tiếp cận này đã bị bỏ lại phía sau, và sự phát triển của
kho vũ khí hạt nhân — bao gồm cả triển vọng sử dụng “chiến thuật” — khiến việc
sử dụng các loại vũ khí này dường như không còn là điều không thể xảy ra. Trong
bối cảnh này, Hiệp ước Cấm Vũ khí Hạt nhân, có hiệu lực vào năm 2021 với sự ủng
hộ của hơn 70 quốc gia, là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, nó có nguy cơ
chỉ mang tính biểu tượng vì các cường quốc hạt nhân lớn chưa đồng ý với nó. Điều
này đã dẫn đến niềm tin sai lầm nhưng phổ biến rằng răn đe hạt nhân là điều kiện
tiên quyết không thể thiếu cho an ninh. Điều này cũng góp phần vào một cuộc chạy
đua vũ trang mới, khó kiểm soát và đi kèm với việc dần dần phá bỏ các thỏa thuận
giảm vũ khí hạt nhân, cũng như sự phát triển của các loại vũ khí “thu nhỏ
[miniaturize]”, khiến việc sử dụng chúng dường như là một lựa chọn khả hữu hơn.
195. Luậnn lý học tương tự cũng áp dụng cho chiến tranh thông thường. Lực lượng
quân sự, các sáng kiến ngoại giao yếu kém và sự phức tạp của các lợi ích liên
quan góp phần dẫn đến các cuộc xung đột có xu hướng kéo dài, với chi phí nhân mạng
và môi trường cực kỳ cao. Việc bắt đầu một cuộc chiến dễ hơn nhiều so với việc
ngăn chặn nó, thế nhưng, các cuộc thảo luận về phòng ngừa xung đột vẫn bị bỏ qua
một cách đáng buồn.
196. Tình hình càng trở nên bất ổn hơn bởi sự xuất hiện của các lực lượng vũ
trang mới, chẳng hạn như các nhóm thánh chiến, các nhóm dân quân tư nhân và các
mạng lưới tội phạm, đánh dấu sự kết thúc của độc quyền sử dụng vũ lực của Nhà
nước. Thường thì các nhóm này đan xen những động cơ ý thức hệ mơ hồ với các lợi
ích kinh tế cụ thể, biến chiến tranh thành “lối sống” cho toàn bộ các thế hệ
thanh niên và trẻ em. Ở đây, mục tiêu không còn là một chiến thắng dứt khoát,
mà là sự duy trì xung đột như một nguồn quyền lực và thu nhập.
Vũ khí và trí tuệ nhân tạo
197. Kịch bản nêu trên có liên quan đến sự phát triển không ngừng của các hệ thống
vũ khí, đặc biệt là những hệ thống liên quan đến trí tuệ nhân tạo. Tòa Thánh gần
đây đã nhận thấy rằng việc triển khai các hệ thống vũ khí tự động ngày càng dễ
dàng hơn khiến chiến tranh trở nên “khả hữu” hơn và ít chịu sự kiểm soát của
con người hơn. Điều này vi phạm nguyên tắc này là lực lượng vũ trang chỉ nên được
sử dụng như biện pháp cuối cùng trong trường hợp tự vệ chính đáng. [183] Vì lý
do này, việc phát triển và sử dụng AI trong chiến tranh phải tuân theo những
ràng buộc đạo đức nghiêm ngặt nhất, để đảm bảo tôn trọng phẩm giá con người và
tính thánh thiêng của sự sống và tránh một cuộc chạy đua phát triển các loại vũ
khí như vậy. [184]
198. Đôi khi người ta nói về “các tác nhân đạo đức nhân tạo”, như thể máy móc
có thể phân biệt đúng sai một cách nhất quán hơn con người. Tuy nhiên, phán xét
đạo đức không thể bị giản lược thành tính toán, vì nó liên quan đến lương tâm,
trách nhiệm cá nhân và sự công nhận người khác là một con người. Do đó, không
được phép giao phó các quyết định gây chết người hoặc không thể đảo ngược cho
các hệ thống nhân tạo. Không có thuật toán nào có thể làm cho chiến tranh trở
nên chấp nhận được về mặt đạo đức. AI không loại bỏ tính vô nhân đạo vốn có của
xung đột; thực tế, nó chỉ có thể gây ra xung đột nhanh hơn và làm cho nó trở
nên vô cảm hơn, hạ thấp ngưỡng sử dụng bạo lực, biến phòng thủ thành dự đoán mối
đe dọa và do đó biến nạn nhân thành dữ liệu. Bằng cách này, nó sẽ làm cho chúng
ta quen với ý tưởng cho rằng bạo lực là không thể tránh khỏi và chỉ cần được tối
ưu hóa. Điều này không làm giảm tầm quan trọng của việc truyền đạt, trong chừng
mực có thể, các giá trị và phán đoán đúng đắn vào các hệ thống nhân tạo mà
chúng ta xây dựng, để chúng có thể đóng góp vào một hệ sinh thái đạo đức trong
đó con người có thể lắng nghe lương tâm của chính mình tốt hơn, cũng như cho
phép các mô hình AI thiết lập các ranh giới phù hợp.
199. Không đủ chỉ viện dẫn một loại đạo đức chung chung. Cần phải thiết lập các
tiêu chuẩn cụ thể để biện phân. Tiêu chuẩn đầu tiên như vậy liên quan đến trách
nhiệm cá nhân. Khi quyết định đình công trở nên tự động hoặc không minh bạch,
nguy cơ thoái trách nhiệm sẽ tăng lên. Trách nhiệm ngày càng tăng. Vì lý do
này, chuỗi trách nhiệm phải được xác định và kiểm chứng; những người thiết kế,
đào tạo, ủy quyền và sử dụng kỹ thuật phải chịu trách nhiệm về các quyết định của
họ. Tiêu chuẩn thứ hai liên quan đến khung thời gian đạo đức để đưa ra phán
đoán. Mặc dù trí tuệ nhân tạo có xu hướng đẩy nhanh quá trình ra quyết định,
nhưng tốc độ và hiệu quả không bao giờ được là động lực tối cao cho các quyết định
không thể đảo ngược được đưa ra trong bối cảnh chiến tranh. Tiêu chuẩn thứ ba
là việc xác định và bảo vệ thường dân. Bất cứ kỹ thuật nào tạo điều kiện cho
các cuộc tấn công mà không nhìn thấy khuôn mặt của con người đều làm giảm ngưỡng
đạo đức của xung đột. Việc lựa chọn mục tiêu và sử dụng vũ lực không được gây
nhầm lẫn giữa người tham chiến và người không tham chiến, cũng như không được bỏ
qua tác động đến các cộng đồng không có khả năng tự vệ.
200. Những tiêu chuẩn này dẫn đến một số yêu cầu không thể thương lượng. Thứ nhất,
tất cả các hệ thống được sử dụng trong bối cảnh chiến tranh phải đảm bảo khả thể
truy vết [retracing] và tái cấu trúc các quá trình ra quyết định, để trách nhiệm
và sự đổ lỗi không bị đổ dồn vào “máy móc”. Thứ hai, quyết định sử dụng vũ lực
gây chết người không thể được giao cho các quy trình mờ ám hoặc tự động, mà phải
nằm dưới sự kiểm soát hữu hiệu, tự nhận thức và có trách nhiệm của con người.
Cuối cùng, điều cần thiết là phải thiết lập một khuôn khổ chung — cả ở bình diện
quốc tế — để kiềm chế cuộc chạy đua vũ trang kỹ thuật và đảm bảo sự bảo vệ vững
chắc cho thường dân và cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự sống còn của họ.
Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương
201. Văn hóa quyền lực cũng bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng của hệ thống đa
phương. Các định chế được thiết lập để bảo vệ khái niệm về một tương lai chung
cho tất cả các dân tộc và một lợi ích chung toàn cầu dường như đã bị suy yếu.
Điều này không chỉ do những hạn chế về cấu trúc, mà còn do thường xuyên thiếu ý
chí chung để hỗ trợ và cải cách chúng, hoặc để công nhận thẩm quyền đạo đức của
chúng. Thay vì tiến bộ, chúng ta đang thụt lùi so với bước ngoặt quan trọng của
thế kỷ XX. Sau năm 1989, sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở châu Âu được tiếp
nối bởi một quá trình toàn cầu hóa chủ yếu về kinh tế, thiếu một khuôn khổ
chính trị thích hợp có khả năng duy trì đối thoại và hòa bình. Một niềm tin gần
như mù quáng đã được đặt vào khả năng của thị trường để tạo ra sự thịnh vượng,
dân chủ và ổn định. Trên thực tế, thay vì tự động tạo ra sự thống nhất và hòa
bình, toàn cầu hóa đã gây ra những phản ứng cực đoan, dựa trên bản sắc và chủ
nghĩa dân tộc. Kết quả khác xa với chủ nghĩa đa phương đích thực; thay vào đó,
điều xuất hiện là một chủ nghĩa đa cực hỗn loạn và đầy xung đột với cảm giác ngờ
vực lan tràn.
202. Điều cũng tái xuất hiện là sự cám dỗ tạo dựng một bản sắc tập thể đối lập
với kẻ thù, được thúc đẩy bởi những câu chuyện trong đó mỗi bên tự miêu tả mình
là nạn nhân có quyền được trả thù. Việc đơn giản hóa các vấn đề phức tạp thành
các phạm trù đơn giản — “tôi trước”, “bạn hay thù”, “chúng ta hay bọn chúng” —
tạo điều kiện cho các quyết định thường thiếu trách nhiệm và làm suy yếu lòng
tin lẫn nhau giữa các quốc gia. Do đó, sức mạnh của luật pháp quốc tế được thay
thế bằng tuyên bố rằng “kẻ mạnh thắng”. Kết quả là, các tòa án có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp giữa các quốc gia hoặc xử lý tội ác chiến tranh thường bị suy
yếu hoặc bị bỏ qua, với những hậu quả tàn khốc đối với văn hóa chính trị và sự
gắn kết xã hội. [185]
203. Trong bối cảnh này, việc xây dựng hòa bình đã bị đẩy xuống vai trò thứ yếu.
Hợp tác vì phát triển, giải trừ quân bị, ngăn ngừa xung đột và thiết lập lòng
tin lẫn nhau bị bỏ quên nhân danh chính trị quyền lực. Những thành tựu của luật
nhân đạo cũng đang bị tổn hại. Thật vậy, nguyên tắc tương xứng trong việc đáp
trả hành động gây hấn, việc bảo vệ quyền tiếp cận nước, thực phẩm và hàng hóa
thiết yếu, và việc tôn trọng mạng sống của thường dân, đặc biệt là trẻ em, đang
dần bị coi là những tàn tích ngây thơ của quá khứ.
Một chủ nghĩa hiện thực chính trị giả tạo
204. Chúng ta đang sống trong thời đại mù quáng về tinh thần và văn hóa đáng kể.
Một chủ nghĩa thực dụng sai lầm thúc giục chúng ta cắt đứt cội rễ lịch sử của
mình, như thể có thể khai mở một loại “sáng tạo mới” tách rời khỏi quá khứ.
Ngay cả những người viện dẫn các nguyên tắc đạo đức quan trọng cũng có thể rơi
vào chủ nghĩa hư vô lịch sử này, lầm tưởng rằng những tội ác của thế kỷ XX sẽ
không bao giờ xảy ra nữa. Tuy nhiên, trên thực tế, những động lực tương tự đang
tái xuất hiện dưới những vỏ bọc mới. Tâm lý cân bằng vũ trang và răn đe dường
như đang tự khẳng định lại. Tuy nhiên, ngày nay, trái ngược với động lực hai
chiều của Chiến tranh Lạnh, sự gia tăng số lượng điệp viên và chiến trường khiến
tâm lý này ngày càng trở nên mong manh. Các cuộc xung đột leo thang dẫn đến các
cuộc chiến tranh bất đối xứng và "lai tạp", không chỉ diễn ra trên
chiến trường mà còn trên các mặt trận kinh tế, tài chính và liên mạng, nơi
thông tin sai lệch và các chiến dịch khơi dậy nỗi sợ hãi của người dân được sử
dụng để thao túng dư luận. Ở nhiều quốc gia, bao gồm cả các nước đang phát triển,
việc tăng chi tiêu quân sự được coi là giải pháp duy nhất cho một tương lai bất
định hay các mối đe dọa được cho là có thật. Trong khi đó, gánh nặng thực sự lại
đổ lên vai những người nghèo nhất, những người chứng kiến nguồn lực dành cho
chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ xã hội bị cắt giảm.
205. Cốt lõi của những vấn đề này là một chủ nghĩa hiện thực sai lầm, không chỉ
dựa trên tư duy bạo lực đang thịnh hành, mà còn dựa trên niềm tin văn hóa và
nhân chủng học rằng chiến tranh là một phần không thể tránh khỏi của bản chất
con người. Người ta nói rằng mọi thứ vẫn luôn như vậy, ngoại trừ những khoảng lặng
dừng thỉnh thoảng, và nó sẽ luôn như vậy! Kết quả là, mối quan tâm không còn là
việc tìm kiếm hòa bình — điều đã bị mất đi như một điểm tham chiếu trên trường
quốc tế — mà là làm thế nào và khi nào tiến hành hành động quân sự. Lập luận
tương tự cho rằng sẽ là vô trách nhiệm nếu không chuẩn bị cho xung đột. Tuy
nhiên, tôi cho rằng điều thực sự vô trách nhiệm là Chủ nghĩa hiện thực
[Realpolitik] chính trị, hình thức “hiện thực” chính trị gieo rắc vào lương tâm
và xã hội thái độ cam chịu sự không thể tránh khỏi của chiến tranh, và bác bỏ
hòa bình và đối thoại như những quan điểm không tưởng hoặc phi lý bỏ qua những
rủi ro đang hiện hữu. Trên thực tế, hòa bình không phải là một niềm hy vọng
ngây thơ hay chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của chiến tranh; thay vào đó, nó luôn
luôn có thể đạt được như là kết quả của công lý và lòng bác ái.
206. Trong bối cảnh như vậy, chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa thực dụng trở nên đan
xen và cuối cùng bình thường hóa những sai lầm nghiêm trọng. Chủ nghĩa cực đoan
tôn giáo và chủ nghĩa cuồng tín dựa trên bản sắc liên minh với các chính sách
kinh tế phi lý, trong khi chính trị thường chuyển sang thông tin sai lệch và chế
giễu đối thủ, và nuôi dưỡng một cách có hệ thống nỗi sợ hãi và oán giận. Do đó,
sự đa dạng ngày càng được coi là một mối đe dọa, điều này thúc đẩy mong muốn sở
hữu, ý chí thống trị, tham vọng bá quyền, lạm dụng quyền lực và nỗi sợ hãi đối
với những người khác biệt, do đó tạo ra một môi trường trong đó các xung đột mới
có thể phát triển gần như không thể nhận thấy. [186]
207. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho những cuộc chiến tranh mới, có lẽ còn
nguy hiểm hơn những cuộc chiến tranh trong quá khứ, vì chúng có xu hướng bỏ qua
mọi giới hạn đạo đức. Những gì từng bị coi là không thể chấp nhận được giờ đây
có thể được thực hiện gần như không chút do dự, trong khi phản ứng quốc tế ngày
càng bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi lợi ích của các Chính phủ riêng lẻ hơn là bởi mức
độ nghiêm trọng khách quan của tình hình. Các quyết định hiện nay dường như được
thúc đẩy gần như hoàn toàn bởi các tính toán kinh tế, được biện minh thông qua
sự bóp méo của truyền thông, sự nhiệt tình được tạo ra và những “giấc mơ” chắc
chắn sẽ tan vỡ, tạo ra sự thất vọng và bạo lực hơn nữa. Khi người ta tin rằng
không có gì là thực sự đúng và các nguyên tắc chỉ là những lời nói suông, thì
ngọn lửa trong trái tim họ được nhóm lên cho những bùng phát mới của sự bất
dung thứ và hung hãn.
208. Trong những tình huống này, vấn đề về các biện pháp bảo vệ cụ thể để ngăn
chặn bạo lực trong tương lai vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Khi một nền văn hóa
bình thường hóa và biện minh cho xung đột, một con đường nguy hiểm sẽ mở ra, ở
chỗ những gì dường như không thể tưởng tượng được ngày hôm nay có thể trở nên
chấp nhận được vào ngày mai nhân danh lợi ích hoặc an ninh. Ở những quốc gia bị
ảnh hưởng bởi căng thẳng xã hội nghiêm trọng, chúng ta không thể loại trừ khả
năng một số nhà lãnh đạo có thể coi xung đột vũ trang là một cách hiệu quả để
chuyển hướng sự chú ý khỏi các vấn đề trong nước và là một công cụ đầy hoài
nghi để quản lý khó khăn.
209. Một trách nhiệm đặc biệt đặt lên vai những người làm việc trong lĩnh vực
nghiên cứu. Tất cả những người đóng vai trò chủ chốt trong lĩnh vực này — các
nhà khoa học, chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, các nhà chức trách học thuật, chính
trị gia và những người khác — phải làm việc với tư duy minh bạch và có trách
nhiệm, đồng thời duy trì nhận thức sâu sắc về bối cảnh rộng lớn hơn của những
tiến bộ kỹ thuật mà họ giúp vun đắp, bao gồm cả những tiến bộ liên quan đến trí
tuệ nhân tạo (AI). Khi mọi người chỉ giới hạn bản thân trong lĩnh vực của riêng
mình, họ có thể tự lừa dối mình rằng họ đang thực hiện những hành động trung lập
về mặt đạo đức và tránh đặt câu hỏi về mục đích cuối cùng hướng dẫn một số thí
nghiệm nhất định. Bằng cách này, họ có nguy cơ hợp tác — có lẽ là vô tình — với
những dự án đáng ngờ, thúc đẩy các hình thức bạo lực, thao túng và thống trị mới.
Xây dựng nền văn minh của tình yêu
210. Việc xây dựng một thế giới trong trạng thái xung đột triền miên là một điều
ác và phải được gọi đúng tên của nó. Cách mô tả tình hình hiện tại của chúng ta
như vậy có vẻ ảm đạm hoặc bi quan, nhưng tôi cho rằng cần thiết phải làm như vậy.
Tuy nhiên, quan điểm Kitô giáo không chỉ giới hạn ở việc lên án điều ác. Chúng
ta nhìn nhận lịch sử dưới ánh sáng của Chúa bị đóng đinh và phục sinh, Đấng mà
Chúa Cha đã ban cho “mọi quyền năng trên trời và dưới đất” (Mt 28:18).
Chúng ta không coi hiện tại là số phận đã được định trước, mà là cơ hội để hoán
cải cá nhân và tập thể. Hơn nữa, chúng ta tin vào quyền năng của Nước Trời, quyền
năng ấy nảy nở từ hạt cải nhỏ bé, khi được gieo xuống sẽ nảy mầm và lớn lên
(xem Mc 4:26-32). Trong khi sự hỗn loạn bao trùm xung quanh
chúng ta, điều tốt lành vẫn âm thầm nảy nở từ đất. Như lời tiên tri I-sai-a:
“Này, ta đang làm một điều mới; nó đang nảy mầm, các ngươi không nhận thấy
sao?” (Is 43:19).
211. Phân tích kỹ hơn lịch sử xác nhận điều này. Ngay cả trong những đêm tối
tăm nhất, Chúa vẫn làm nổi lên những người nam và nữ không chịu bỏ cuộc, kiên
trì làm điều thiện, bảo vệ những người dễ bị tổn thương và mở ra con đường hòa
giải. Ký ức về các vị thánh, những người công chính và những người kiến tạo hòa
bình thường bị lãng quên, cho chúng ta thấy rằng ân sủng không tự nhiên xóa bỏ
xung đột, mà thay vào đó, nó truyền cảm hứng cho sự kháng cự tích cực chống lại
cái ác và sự sáng tạo đáng kinh ngạc trong việc làm điều thiện. Người Kitô hữu
nhìn thấy bóng tối và thừa nhận nó là gì, nhưng họ không chỉ nhìn vào nó một
cách thụ động, vì họ biết ánh sáng và hiểu rằng bóng tối không thắng được nó và
không thể đánh bại nó (xem Ga 1:5). Vì lý do này, ngay cả khi
đau khổ dường như có tiếng nói cuối cùng, người Kitô hữu vẫn phục vụ điều thiện
và được nâng đỡ bởi một niềm hy vọng thần học mang lại cho thực tại cả ý nghĩa
và phương hướng.
Tất cả chúng ta đều có thể làm phần việc của mình
212. Tuy nhiên, tại thời điểm này, một cám dỗ tinh tế có thể xuất hiện, đó là
suy nghĩ rằng các vấn đề quá lớn và chúng ta quá nhỏ bé, và do đó, những lựa chọn
của chúng ta không thể tạo ra sự khác biệt. Đây là một hình thức cam chịu lịch
sự, thường được ngụy trang dưới vỏ bọc chủ nghĩa hiện thực. Chắc chắn, không phải
ai cũng có cùng sức mạnh để tạo ra sự khác biệt. Có những người cai trị, đưa ra
quyết định đầu tư, lãnh đạo các tổ chức, tiến hành nghiên cứu, giáo dục, sản xuất
hoặc cung cấp thông tin, và rồi có những người dường như chỉ sống cuộc sống thường
nhật của họ. Tuy nhiên, không ai là không có trách nhiệm. Tất cả chúng ta đều
có lĩnh vực hoạt động riêng của mình, và chính ở đó - và không nơi nào khác -
chúng ta phải lựa chọn xem có nên nuôi dưỡng tư duy bạo lực (ngay cả khi chỉ
thông qua sự thờ ơ, hoài nghi, dối trá hoặc thù hận), hay giữ gìn tư duy hòa
bình (với sự thật, sự ôn hòa, sự gần gũi và sự quan tâm).
213. Nhà văn Công Giáo thế kỷ XX J.R.R. Tolkien, qua lời của một nhân vật chính
trong một trong những tiểu thuyết của ông, đã mô tả trách nhiệm của chúng ta
như sau: “Nhiệm vụ của chúng ta không phải là làm chủ tất cả những biến động của
thế giới, mà là làm những gì trong khả năng của mình để giúp đỡ những năm tháng
mà chúng ta đang sống, nhổ tận gốc cái ác trên những cánh đồng mà chúng ta biết,
để những người sống sau có thể có mảnh đất sạch để canh tác.” [187] Nền văn
minh của tình yêu sẽ không nảy sinh từ một cử chỉ đơn lẻ hay ngoạn mục, mà từ tổng
thể những hành động nhỏ bé và kiên định của lòng trung thành, đóng vai trò như
một bức tường thành chống lại sự phi nhân hóa. Vì lý do này, đáng để dừng lại
suy gẫm về một số khía cạnh về cách chúng ta, mỗi người theo cách riêng của
mình, có thể hợp tác để xây dựng nền văn minh của tình yêu. Không giả vờ bao
quát hết chủ đề này, tôi muốn đề xuất năm con đường hướng tới trách nhiệm hàng
ngày và công cộng: nhu cầu giải giớ lời nói, xây dựng hòa bình thông qua công
lý, áp dụng quan điểm của nạn nhân, nuôi dưỡng chủ nghĩa hiện thực lành mạnh và
khôi phục đối thoại và chủ nghĩa đa phương.
Nhu cầu giải giới [disarm] lời nói
214. Đóng góp đầu tiên mà chúng ta có thể thực hiện hướng tới một nền văn minh
nhân văn hơn là hãy cẩn trọng với lời nói của mình. “Hãy giải giớ lời nói và
chúng ta sẽ giúp giải giới thế giới.” [188] Lời nói có sức mạnh to lớn, điều mà
chúng ta trải nghiệm trong các tương tác hàng ngày; ví dụ, lời nói có thể thay
đổi tâm trạng của chúng ta theo chiều hướng tốt hơn hoặc xấu hơn. “Hòa bình bắt
đầu từ mỗi chúng ta: trong cách chúng ta nhìn người khác, lắng nghe người khác
và nói về người khác. Theo nghĩa này, cách chúng ta giao tiếp có tầm quan trọng
cơ bản: chúng ta phải nói ‘không’ với cuộc chiến tranh bằng lời nói và hình ảnh,
chúng ta phải bác bỏ mô hình chiến tranh.” [189] Do đó, tất cả chúng ta phải tự
xét lương tâm về những từ ngữ chúng ta sử dụng, những định kiến chúng ta có và
sự hung hăng rõ ràng hoặc ngầm ẩn trong đó. Chúng ta có cơ hội thực sự để đóng
góp cho lợi ích chung mỗi khi chúng ta nói sự thật, đưa ra lời khuyên khôn
ngoan, hỗ trợ những người cần được an ủi, tố cáo sự bất công và lên tiếng cho
những người không có tiếng nói.
Xây dựng hòa bình thông qua công lý
215. Tất cả chúng ta, ở mọi cấp độ, đều có thể đóng góp vào việc xây dựng nền tảng
của hòa bình, đó là công lý. Chúng ta không chỉ tìm kiếm bất cứ loại hòa bình
nào — chẳng hạn như không có xung đột bằng mọi giá — mà thay vào đó, là hòa
bình đích thực được sinh ra từ công lý. “Tồn tại một mối liên hệ rất chặt chẽ
giữa công lý của cá nhân và hòa bình của mọi người.” [190] Bình luận về câu
thánh vịnh “công lý và hòa bình đã ôm nhau” (Tv 84:11), Thánh
Augustinô viết: “Không ai né tránh mong muốn hòa bình, nhưng không phải ai cũng
sẵn lòng thực hành công lý… Nhưng hãy thực hiện các việc làm công lý, hãy nhớ rằng
công lý và hòa bình đã ôm nhau; chúng không đối nghịch với nhau. Tại sao bạn lại
chống lại công lý? Ví dụ, công lý đang bảo bạn đừng trộm cắp, nhưng bạn không để
ý; đừng ngoại tình, và bạn làm ngơ; đừng làm điều bạn không muốn người khác làm
cho mình; đừng nói về người hàng xóm những điều bạn không muốn người khác nói về
mình… Vậy bạn có muốn đạt được hòa bình không? Vậy thì hãy thực hành công lý!”
[191] Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi trong việc tìm kiếm công lý!
Áp dụng quan điểm của nạn nhân
216. Có những lúc, để giữ được nhân tính, chúng ta phải gạt bỏ những dè dặt của
mình và đứng lên. Trong một số xung đột, việc giữ thái độ trung lập là bất
công, cũng không đủ chỉ bằng cách tuyên bố rằng chúng ta không đồng lõa. [192]
Khi chúng ta chứng kiến việc đánh bom dân thường, các cuộc tấn công vào bệnh viện,
trường học hoặc cơ sở hạ tầng thiết yếu và bạo lực ảnh hưởng đến trẻ em, chúng
ta phải đối diện với những vụ bê bối làm tổn thương chính nhân loại. Vì lý do
này, chúng ta không thể giới hạn bản thân ở mức độ phân tích trừu tượng. Đức
Giáo Hoàng Phanxicô khuyến khích chúng ta “chạm vào vết thương” [193] của những
người đau khổ, nhìn vào khuôn mặt của họ, lắng nghe câu chuyện của họ và thừa
nhận vết thương của họ. Những sự kiện đau thương đòi hỏi cả lịch sử và ký ức, lịch
sử để kể lại sự thật, còn ký ức để làm chứng cho những trải nghiệm đã sống.
217. Việc tạo không gian cho quan điểm và tiếng nói của các nạn nhân thông qua
truyền thông và giáo dục giúp chúng ta nhận thức được vực sâu của cái ác vốn có
trong chiến tranh, và nói chung là trong tất cả các hình thức bạo lực. Nó giúp
chúng ta bác bỏ việc bình thường hóa xung đột; không ngoảnh mặt làm ngơ khi phẩm
giá con người bị vi phạm; và khôi phục lại cho các nạn nhân phẩm giá được công
nhận và lắng nghe. [194] Việc chú ý đến những tiếng nói này củng cố niềm tin rằng,
ngoài các nhóm thiểu số bạo lực, nhân loại không mong muốn chiến tranh. Theo một
cách đặc biệt, Giáo hội có thể là nơi lưu giữ ký ức sống động cho các nạn nhân.
Như Thánh Phaolô VI đã nhắc lại, Giáo hội cảm thấy mình phải làm chủ cả tiếng
nói của những người đã chết trong các cuộc chiến tranh trước đây và tiếng nói của
những người còn sống vẫn đang mang vết thương ngày nay, để tiếng kêu than của họ
có thể trở thành lời kêu gọi hòa bình và hòa hợp chứ không phải là khúc dạo đầu
cho những xung đột mới. [195]
Nuôi dưỡng chủ nghĩa hiện thực lành mạnh
218. Chúng ta cần một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh, tránh cả chủ nghĩa duy tâm
chính trị và chủ nghĩa hoài nghi. Có một loại chủ nghĩa duy tâm, để bảo vệ thế
giới quan của riêng mình, có xu hướng chọn lọc sự kiện, bóp méo và đặt lại tên
cho chúng. Những người ủng hộ nó cuối cùng sống trong một thực tại được xây dựng
để phù hợp với niềm tin của riêng họ. Ngược lại, cũng có một hình thức chủ
nghĩa hiện thực suy đồi, nhầm lẫn giữa quan sát với sự cam chịu, lập luận rằng
vì bạo lực thắng thế, nên nó sẽ luôn thắng thế. Chủ nghĩa hiện thực đích thực
không từ bỏ việc thay đổi thế giới; thực thế, nó bắt đầu bằng việc xác định rõ
ràng các lợi ích, nỗi sợ hãi, hạn chế và động lực quyền lực, chính là để xác định
những gì có thể đạt được và các biện pháp cần thiết để đạt được điều đó. Nó
không thu hẹp chính trị thành đạo đức; nó cũng không đầu hàng trước bạo lực.
Thay vào đó, nó tìm kiếm những con đường khả hữu để biến hòa bình thành hiện thực
chứ không chỉ là lời nói suông, thông qua các định chế đáng tin cậy, các đảm bảo
có thể kiểm chứng, các cuộc đàm phán kiên nhẫn, việc ngăn ngừa xung đột và bảo
vệ thường dân.
Khôi phục đối thoại
219. Để xây dựng nền văn minh của tình yêu, chúng ta phải tham gia đối thoại,
vì đây là phương tiện chính yếu để con người và các quốc gia cùng tồn tại, và
là giải pháp thay thế cho xung đột công khai. Trước thềm Chiến tranh Thế giới
thứ hai, Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII khẳng định rằng không có gì mất mát với hòa
bình, trong khi với chiến tranh thì mọi thứ đều có thể mất mát. Ngài nhấn mạnh
rằng mọi người phải quay trở lại nói chuyện với nhau, bởi vì một cuộc đối thoại
chân thành và kiên trì luôn mở ra khả năng tìm ra giải pháp đáng trân trọng.
[196]
220. Thật vậy, đối thoại là một phần bình thường của cuộc sống con người và
không chỉ liên quan đến quan hệ giữa các quốc gia. Nó bao gồm việc có được thái
độ tìm cách tạo dựng những mối dây huynh đệ dựa trên sự lắng nghe, một thái độ
cởi mở, dành thời gian cho nhau và thậm chí là dành thời gian bên nhau. Bởi vì
nếu chúng ta trải nghiệm những cuộc gặp gỡ chân thực với người khác, với những
người khác biệt, người lạ và người di cư, thì việc tưởng tượng ra chiến tranh sẽ
trở nên khó khăn hơn nhiều.
221. Ở cấp độ chính trị, cần phải chuyển đổi khẩn cấp từ “văn hóa quyền lực”
sang “văn hóa đàm phán” đích thực, trong đó đối thoại và ngoại giao trở thành
phương tiện tiêu chuẩn để giải quyết xung đột. Giorgio La Pira bày tỏ hy vọng rằng
“phương pháp chiến tranh sẽ được thay thế bằng phương pháp hòa bình: phương
pháp đàm phán, gặp gỡ, hội tụ, tức là phương pháp nhân bản đích thực!” [197] Nhận
thức rằng tất cả các dân tộc đều chia sẻ một tương lai chung đòi hỏi “văn hóa
đàm phán” phải trở thành một cam kết chính trị và văn hóa ngày càng được chia sẻ,
có khả năng dần dần dẫn dắt nhân loại thoát khỏi vòng xoáy bạo lực.
222. Gửi đến những người có vinh dự và trách nhiệm cai trị, tôi muốn nhắc lại
những lời tôi đã nói khi bắt đầu nhiệm kỳ Giáo hoàng của mình: “Các dân tộc
trên thế giới của chúng ta khao khát hòa bình, và tôi tha thiết kêu gọi các nhà
lãnh đạo của họ: Hãy gặp gỡ, hãy nói chuyện, hãy đàm phán! Chiến tranh không
bao giờ là điều không thể tránh khỏi. Vũ khí có thể và phải được im lặng, vì
chúng không giải quyết được vấn đề mà chỉ làm gia tăng thêm. Những người làm
nên lịch sử là những người kiến tạo hòa bình, chứ không phải những người gieo rắc
đau khổ. Trước hết, những người láng giềng của chúng ta không phải là kẻ thù,
mà là đồng loại; không phải là những tên tội phạm đáng ghét, mà là những người
đàn ông và đàn bà khác mà chúng ta có thể nói chuyện cùng. Chúng ta hãy bác bỏ
những quan niệm nhị nguyên điển hình của tư duy bạo lực chia thế giới thành những
người tốt và những người xấu.” [198]
223. Trong việc bác bỏ tư duy bạo lực, đối thoại liên tôn đóng vai trò quyết định,
bởi vì cốt lõi của những con đường tâm linh vĩ đại nằm ở thông điệp về hòa
bình. [199] Trong khi những kẻ dùng danh nghĩa của Chúa để hợp thức hóa chủ
nghĩa khủng bố, bạo lực hoặc chiến tranh phản bội bản chất thực sự của Người, bởi
vì chiến đấu nhân danh tôn giáo có nghĩa là tấn công chính tôn giáo. [200]
“Tinh thần Assisi”, được Thánh Gioan Phaolô II gợi lên và được Đức Giáo Hoàng
Phanxicô tiếp nối — ví dụ, thông qua cuộc đối thoại của ngài với Đại Imam của
Al-Azhar — cho thấy rằng những người tin có thể dựa vào những nguồn gốc đích thực
nhất của truyền thống tâm linh đặc thù của họ, nơi không có chỗ cho “sự thù hận
được thánh hóa”.
Sự cần thiết của ngoại giao và chủ nghĩa đa phương
224. Trong quan hệ quốc tế, đối thoại là một công cụ ngoại giao không thể thiếu
để ngăn ngừa xung đột và xây dựng lại các mối quan hệ tin cậy. Đối diện với những
phát ngôn bốc đồng, lời lẽ hung hăng và chính trị quyền lực đặc trưng cho thời
đại chúng ta, “nhiệm vụ của ngoại giao là thúc đẩy đối thoại với tất cả các
bên, bao gồm cả những người đối thoại được coi là kém ‘thuận tiện’ hoặc không
được coi là hợp pháp để đàm phán.” [201] Do đó, cần phải vận dụng mọi sự khiêm
nhường và kiên nhẫn để nuôi dưỡng ngay cả những dấu hiệu thiện chí nhỏ nhất giữa
các bên xung đột, nhằm thúc đẩy tiến trình hòa bình.
225. Không gian mạng cũng đã trở thành một chiến trường. Các cuộc tấn công mạng,
thao túng dữ liệu và các chiến dịch gây ảnh hưởng, được dàn dựng với sự trợ
giúp của trí tuệ nhân tạo, có thể gây bất ổn cho toàn bộ quốc gia ngay cả trước
khi xung đột vũ trang công khai nổ ra. Hơn nữa, trong lĩnh vực này, việc quy
trách nhiệm thường không chắc chắn. Khi không rõ ai đã thực hiện một cuộc tấn
công, nguy cơ phản ứng không cân xứng, tính toán sai lầm và leo thang sẽ tăng
lên. Vì lý do này, ngoại giao phải có khả năng hoạt động hữu hiệu trong môi trường
mới này, đàm phán các quy định chung về việc sử dụng kỹ thuật kỹ thuật số, để bảo
vệ thường dân và những người dễ bị tổn thương nhất khỏi các hình thức bạo lực
“vô hình” nhưng có thật.
226. Các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc, là những công cụ thiết yếu
để thúc đẩy một nền văn minh yêu thương, bởi vì chúng có thể thúc đẩy đối thoại
giữa các quốc gia và thúc đẩy giải quyết xung đột một cách hòa bình, phát triển
toàn diện của các dân tộc, bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất, giải trừ
vũ khí và chăm sóc môi trường. Thông qua những nỗ lực như vậy, cộng đồng quốc tế
có thể cùng nhau nỗ lực giảm bớt bất bình đẳng, bảo vệ quyền của người tị nạn
và các nhóm thiểu số, phân bổ lại nguồn lực từ chi tiêu quân sự sang phát triển
con người và bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta. Tòa Thánh ủng hộ và đồng hành
cùng những nỗ lực này, đồng thời cũng nhận thấy rằng những điểm yếu hiện tại của
Liên Hợp Quốc và hệ thống chính trị quốc tế cho thấy cần phải có những cải cách
sâu sắc. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề điều chỉnh kỹ thuật, bởi vì cuộc khủng
hoảng về niềm tin và giá trị, cũng liên quan đến nền tảng đạo đức của các quốc
gia, khiến việc hướng chủ nghĩa đa phương đến lợi ích chung thực sự trở nên khó
khăn hơn. [202]
227. Trong bối cảnh quốc tế, ngoại giao của Tòa Thánh áp dụng nguyên tắc lòng
thương xót của Tin Mừng như một tiêu chuẩn cụ thể cho hành động chính trị. Đây
là một trong những cách mà Tòa Thánh đặt mình vào phục vụ nhân loại, qua đó kêu
gọi lương tâm nhân danh lòng bác ái và sự thật, bảo vệ phẩm giá của mỗi người
và lên tiếng thay mặt cho người nghèo, người di cư và nạn nhân chiến tranh.
Theo cách này, ngoại giao của Giáo hoàng thể hiện tính côn giáo của Giáo hội và
góp phần xây dựng một nền văn minh của tình yêu, nơi ngay cả những kỹ thuật mới
cũng có thể được hướng tới lợi ích chung.
Cầu nguyện và hy vọng
228. Những con đường để thực hiện trách nhiệm này được duy trì bởi lời cầu nguyện,
và đến lượt chúng nuôi dưỡng lời cầu nguyện. Thật vậy, đối với mỗi chúng ta,
hòa bình chủ yếu đến “từ Thiên Chúa, Thiên Chúa yêu thương tất cả chúng ta vô
điều kiện.” [203] Đó là một món quà mà Chúa Giêsu ban cho các môn đệ của Người
vào ngày Phục Sinh: “Bình an cho các con! Đó là bình an của Chúa Kitô phục
sinh. Một bình an không vũ trang và không gây hấn, khiêm nhường và kiên trì.”
[204] Với những lời này, tôi đã chào đón Giáo hội và thế giới vào ngày tôi được
bầu vào Tòa Thánh Phêrô. Tôi muốn nhắc lại chúng bây giờ, và mời gọi mọi người
cầu nguyện cho ơn ban này. Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi khi cầu nguyện cho hòa
bình và cam kết đạt được nó trong các mối quan hệ của chúng ta và trong xã hội.
KẾT LUẬN
229. “Mỗi người thợ xây hãy cẩn thận lựa chọn cách xây dựng” (1
Cô-rinh-tô 3:10). Với những lời này, Thánh Phaolô khuyến khích các
Kitô hữu thành Cô-rinh-tô giữ gìn sự hiệp nhất. Kính thưa anh chị em, chúng ta
đã suy gẫm về thế giới mà chúng ta đang xây dựng, và chúng ta tự hỏi điều đó có
nghĩa gì khi bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Kết thúc bài suy
niệm này, tôi muốn đề xuất một chương trình đời sống Kitô giáo nghiêm túc nhưng
đầy thách thức, nhờ đó chúng ta có thể vượt qua sự thay đổi mang tính thời đại
này dưới ánh sáng Tin Mừng. Con đường này xuất hiện thông qua việc chiêm niệm kế
hoạch của Thiên Chúa, sống hiệp nhất trong Giáo hội bằng cách tham dự Thánh Thể,
xây dựng một thế giới lấy lợi ích chung làm trung tâm và cầu nguyện trong sự hiệp
nhất với Đức Trinh Nữ Maria.
Ngôi Lời đã trở thành xác thịt
230. Thế giới của chúng ta đầy rẫy những nỗ lực giành quyền kiểm soát thị trường
và các lĩnh vực ảnh hưởng, thường được che đậy bằng những lời lẽ trấn an và những
hệ tư tưởng quyến rũ. Tuy nhiên, trái tim chúng ta khao khát một cách tiếp cận
khôn ngoan và nhân từ, tương tự như cách mà Đức Mẹ Maria ca ngợi trong bài ca
Magnificat của ngài, khi Mẹ tuyên bố rằng lòng thương xót của Thiên Chúa trải rộng
trong mọi thế hệ cho những người kính sợ Người. [205] Kế hoạch thương xót này
tiếp tục diễn ra trong suốt lịch sử ngày nay, ngay cả giữa những thay đổi nhanh
chóng và bất ổn do thuật toán và mạng lưới toàn cầu mang lại, và nó trở thành một
la bàn trong kỷ nguyên kỹ thuật số để sống cuộc đời của chúng ta theo Tin Mừng.
231. Cốt lõi của mọi sự là mầu nhiệm Nhập Thể, Ngôi Lời đã trở thành xác thịt
và ở giữa chúng ta. Xác thịt của Con, nghèo khó và dễ bị tổn thương, gợi lên
xác thịt của rất nhiều anh chị em bị tước đoạt phẩm giá và bị buộc phải im lặng.
[206] Qua sự gần gũi của Chúa, ơn bình an đến với thế giới một cách nghịch lý.
Nó làm như vậy thông qua sức mạnh để trở thành con cái của Chúa, và được đánh
thức khi chúng ta cho phép bản thân mình xúc động trước những giọt nước mắt của
những đứa trẻ, sự mong manh của người già, sự im lặng của các nạn nhân và cuộc
đấu tranh của những người chiến đấu chống lại cái ác mà họ không muốn phạm phải.
[207] Trong thân xác bị thương nhưng được yêu thương này, Chúa Cha cho chúng ta
thấy nhân tính đích thực của một cuộc sống được hoàn thành thông qua sự cởi mở
và hiệp thông, điều này dẫn chúng ta đến mong muốn rằng ý muốn của Người được
thực hiện trên đất cũng như trên trời. [208]
232. Trong những lời hứa của chủ nghĩa siêu nhân bản và một số dòng tư tưởng hậu
nhân bản, tìm kiếm một nhân loại được nâng cao và gần như phi vật chất, chúng ta
nhận ra một khát vọng đáng quan tâm, đó là nhu cầu về một cuộc sống trọn vẹn
hơn, ít bị giới hạn và đau khổ hơn. Tuy nhiên, sự Nhập Thể mở ra một con đường
khác. Một mặt, cả những hệ tư tưởng cũ và mới đều thúc giục nhân loại vượt qua
những giới hạn thông qua kỹ thuật và vươn lên trên những người khác bằng cách
khẳng định sự thống trị. Trái ngược với điều này, mầu nhiệm Con Thiên Chúa bước
vào thân phận con người của chúng ta hứa hẹn một điều hoàn toàn khác. Thiên
Chúa hằng sống ngự xuống lịch sử của chúng ta để giải phóng chúng ta khỏi mọi
hình thức nô lệ. [209] Người gánh lấy sự yếu đuối của chúng ta và biến nó thành
bối cảnh cho sự cứu rỗi. Không có khoảnh khắc hay hoàn cảnh nào của con người
là không xứng đáng với Thiên Chúa. “Theo giáo huấn của đức tin chúng ta, trong
các mầu nhiệm, chúng ta có và tôn thờ một Thiên Chúa sinh ra trong máng cỏ, một
Thiên Chúa sống và du hành ở Giu-đê-a, một Thiên Chúa chết trên thập giá, một
Thiên Chúa đã chết nằm trong mộ.” [210] Do đó, tương lai của nhân loại tìm thấy
tiêu chuẩn của mình trong khả năng đón nhận cách thức thần linh đến gần này,
chia sẻ gánh nặng của thế giới, biến đổi các mối quan hệ từ bên trong. “Ôi kỳ
diệu… con người là Thiên Chúa và Thiên Chúa-Người này trải qua tất cả những
giai đoạn đó, chịu đựng tất cả những trạng thái đó và làm cho chúng trở nên cao
quý, thánh hóa chúng, thần hóa chúng trong chính mình!” [211] Điều cứu rỗi nhân
loại là tình yêu thần linh ngự xuống điểm yếu đuối nhất trong lịch sử của chúng
ta và đổi mới nó từ bên trong.
233. Vì lý do này, với tư cách là một tín hữu giữa những người tin, tôi mời gọi
mọi người chiêm niệm, trước dung mạo của Con Thiên Chúa, sự vĩ đại của nhân loại
soi sáng cả kỷ nguyên Trí tuệ Nhân tạo. Trong Chúa Kitô, chúng ta được kêu gọi
cộng tác trong công việc sáng tạo, thay vì là những người quan sát vô tư các
quy trình kỹ thuật hạn chế tự do và trách nhiệm của chúng ta. [212] Phẩm giá được
ghi khắc trong mỗi chúng ta bởi Chúa Thánh Thần cũng có thể được nhìn thấy
trong khả năng suy tư một cách phê phán, lựa chọn và yêu thương tự do, và hình
thành các mối quan hệ chân thực. Không một hệ thống tính toán nào, dù tinh vi đến
đâu, có thể tạo ra một trái tim hiến dâng chính mình, hoặc một lương tâm phân định
được thiện ác. Ngay cả khi máy móc vượt trội về hiệu năng, một khuôn mặt con
người cần được chiêm ngưỡng vẫn là trung tâm của lịch sử chúng ta. Khuôn mặt
con người này là sự trọn vẹn mà lịch sử đang hướng tới. Đó là mầu nhiệm “quy tập
[recapitulation]”: sự chắc chắn rằng Chúa Cha đã định mang tất cả mọi sự, những
sự ở trên trời và những sự ở dưới đất, trở về với Chúa Kitô, Đầu duy nhất (xem
Ê-phê-sô 1:10). Trong kế hoạch này, không có gì thuộc về con người đích thực sẽ
bị mất đi. Quả thật, mọi thứ sẽ được thanh tẩy và hợp nhất trong Đấng Duy Nhất,
Đấng quy tụ mọi mảnh vụn của sự sống, mọi giọt nước mắt và mọi thành tựu đích
thực của con người, cứu vớt chúng khỏi hư không và sự diệt vong, dâng chúng, đã
được cứu chuộc, cho Chúa Cha.
Một thân thể trong Chúa Kitô
234. Linh đạo mà chúng ta cần là linh đạo Thánh Thể, nghĩa là linh đạo hiệp nhất
Giáo hội trong tình yêu. Sự Nhập Thể và Mầu nhiệm Phục Sinh cho thấy Thiên Chúa
bước vào thân phận con người chúng ta và biến đổi nó qua việc hiến dâng chính
mình. Ơn ban này vẫn hiện diện và hoạt động trong Thánh Thể, trong đó Chúa hiến
dâng chính mình và quy tụ Giáo hội lại, để sự hiến dâng của Người trở thành
nguyên tắc hiệp nhất và nguồn sống mới. Chính từ sự hiệp thông này mà tình liên
đới Kitô giáo cũng nảy sinh, vì “hiệp nhất với Chúa Kitô cũng là hiệp nhất với
tất cả những người mà Người hiến dâng chính mình cho”. [213] Như Thánh
Augustinô đã giải thích cho những người Kitô hữu mới của Giáo hội địa phương của
ngài, bánh và rượu trên bàn thờ là bí tích của sự hiệp nhất các tín hữu trong
Chúa Kitô: “Những gì được nhìn thấy chỉ là hình ảnh vật chất; những gì được nắm
bắt sẽ mang lại hoa trái thiêng liêng. Vậy bây giờ, nếu các bạn muốn hiểu về
thân thể Chúa Kitô, hãy lắng nghe Thánh Tông đồ Phaolô nói với các tín hữu:
cùng nhau, anh em là thân thể Chúa Kitô (1 Cô-rinh-tô 12:27). Nếu
anh em là thân thể và các chi thể của Chúa Kitô, thì đó là bí tích của anh em
được đặt trên bàn thờ Chúa; đó là bí tích mà anh em lãnh nhận. Anh em đáp lại
‘Amen’, và bằng cách đáp lại như vậy, anh em đồng ý với điều đó. Vì anh em nghe
những lời ‘Thân thể Chúa Kitô’ và đáp lại ‘Amen’. Vậy hãy là một chi thể của
Thân thể Chúa Kitô để lời Amen của anh em được chân thật!” [214]
235. Lời “Amen” mà chúng ta nói trong phụng vụ, Thân thể chúng ta ăn và Máu
chúng ta uống định hình toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Bí tích Thánh Thể “là một
cuộc gặp gỡ vô cùng riêng tư với Chúa nhưng không bao giờ chỉ đơn thuần là một
hành động sùng kính cá nhân.” [215] Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta tìm thấy
một biểu hiện hữu hình của thực tại rằng chúng ta “là Giáo Hội của Chúa Kitô,
là các chi thể của Người, là thân thể của Người. Chúng ta là anh chị em trong
Người. Và trong Chúa Kitô, dù nhiều và khác nhau, chúng ta là một: In Illo uno
unum.” [216] Bí tích Thánh Thể mở lòng chúng ta đến với công lý và sự chia sẻ,
với mối quan tâm ưu tiên dành cho những người đang gánh chịu nghèo đói hoặc bị
gạt ra ngoài lề xã hội. Và trong khi các mạng lưới kinh tế và kỹ thuật mới có
thể tạo ra sự loại trừ, cô lập và phụ thuộc, Giáo Hội — được nuôi dưỡng bởi Bí
tích Thánh Thể — được kêu gọi làm cho một mô hình khác trở nên hữu hình, một mô
hình bảo tồn các mối liên hệ giữa con người, lên tiếng cho những điều vô hình
và đảm bảo rằng các quy trình hướng đến việc tôn trọng phẩm giá của con người.
Công trường xây dựng của thời đại chúng ta
236. Linh đạo mà tôi muốn ca ngợi là linh đạo của “kiến trúc sư khôn ngoan”,
người được thúc đẩy bởi hy vọng về Nước Thiên Chúa, cam kết xây dựng thế giới
vì lợi ích chung (xem 1 Cô-rinh-tô 3:10). Như tôi đã đề cập ở
đầu bài suy niệm này, [217] nhiệm vụ xây dựng trong thời đại chúng ta phải đặt
mối quan hệ của chúng ta với Chúa làm trọng tâm. Quy tắc của chúng ta phải là
chấp nhận những hạn chế của con người như một thực tế tự nhiên và tích cực, và
phải được đặc trưng bởi trách nhiệm chung và một ngôn ngữ được đặc trưng bởi
Tin Mừng. Vào cuối bài suy niệm này, kế hoạch cho một nền văn minh tình yêu có
thể được nhìn thấy rõ ràng hơn, và công trường xây dựng dường như đã được khởi
công và hoạt động, đặc biệt là nhờ nhiều viên đá sống được kết hợp vững chắc với
Chúa Kitô là viên đá góc (xem 1 Phê-rô 2:4-6). Trong nhiệm vụ
này, chúng ta được kêu gọi đảm nhận một vai trò tích cực, không tìm nơi nương
náu trong sự ủy mị tâm linh hay rút lui vào thế giới nhỏ bé của riêng mình.
Chúng ta phải trung thành với sự thật, đầu tư vào giáo dục, vun đắp các mối
quan hệ và yêu công lý và hòa bình.
237. Chúng ta hãy trung thành với sự thật! Sống giữa dòng chảy thông tin, ý kiến
và hình ảnh không ngừng, chúng ta biết việc ảnh hưởng đến các quyết định và sở
thích thông qua các thuật toán ngày càng tinh vi dễ dàng như thế nào. [218]
Trong bối cảnh này, điều cần thiết là phải vun đắp những tấm lòng yêu mến sự thật,
ưu tiên điều đúng đắn bất chấp nội dung hấp dẫn nhất và theo đuổi sự khôn ngoan
hơn là kết quả tức thời. Chúng ta phải luôn giữ trước mắt mình sự thật về Thiên
Chúa và nhân loại, giống như Chúa Kitô đã mặc khải cho chúng ta. Chúng ta phải
gạt bỏ quan điểm cá nhân chủ nghĩa và kỹ thuật về nhân loại, như thể thực tại
chỉ là vật chất được định hình theo lợi ích ích kỷ, dù là cá nhân hay tập thể.
[219] Thay vào đó, chúng ta hãy vun đắp điều mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô gọi là
“chủ nghĩa nhân bản có bối cảnh”, [220] nhận ra con người là một tạo vật được đặt
vào một mạng lưới các mối quan hệ với các sinh vật sống khác và với toàn bộ tạo
vật. Lòng trung thành với sự thật đòi hỏi phải tích hợp những khả năng do kỹ
thuật mang lại vào một khuôn khổ được đánh dấu bằng sự khôn ngoan, có khả năng
bảo vệ cả phẩm giá của mỗi người và tương lai của ngôi nhà chung của chúng ta.
238. Chúng ta hãy đầu tư vào giáo dục, bắt đầu từ chính bản thân mình! Tất cả
chúng ta cần học cách tương tác với thế giới kỹ thuật số một cách nhân bản, như
một phần không thể thiếu trong giáo dục đức tin và cuộc sống theo Tin Mừng. Thật
vậy, chúng ta phải coi thế giới kỹ thuật số như một lục địa mới cần được truyền
bá Tin Mừng, một lục địa đòi hỏi những nhà truyền giáo quảng đại, trưởng thành
trong đức tin. Đặc biệt, chúng ta cần người lớn tái khám phá ơn gọi của mình
như những nghệ sĩ. Không có nền tảng giáo dục, nhưng sẵn sàng làm việc kiên nhẫn
mỗi ngày, với sự hỗ trợ của các mối quan hệ đối tác giáo dục rộng rãi và chia sẻ.
Ngày nay, việc đồng hành cùng trẻ em và thanh thiếu niên trong việc sử dụng kỹ
thuật để phát triển các mối quan hệ có trách nhiệm, giúp họ nhận ra rủi ro và lựa
chọn những gì nuôi dưỡng sự tự do nội tâm, là một hình thức bác ái cụ thể và sẽ
bảo vệ phẩm giá của họ. Việc dạy cho các thế hệ mới rằng sự tiến hóa kỹ thuật
không tuân theo một con đường định trước, mà có thể được dẫn dắt bởi trách nhiệm
cá nhân và tập thể, cấu thành một trong những dịch vụ quý giá nhất cho lợi ích
chung.
239. Hãy vun đắp các mối quan hệ! Trong một thời đại ưa chuộng tốc độ và sự
phân mảnh, con người vẫn khao khát nhận được sự chăm sóc và công nhận từ những
tâm hồn chu đáo, những lời nói tử tế và những bàn tay có khả năng dịu dàng. Văn
hóa kỹ thuật số nhân lên các kết nối và mang đến những cơ hội tương tác mới;
tuy nhiên, trái tim con người vẫn giữ một nhu cầu không thể thiếu về sự gần gũi
chân thành. Tôi mời gọi mọi người trân trọng những nơi và thời gian mà sự hiện
diện vật lý vẫn rất quan trọng, chẳng hạn như những bữa ăn chung, các buổi họp
mặt cộng đồng Kitô giáo, thời gian dành cho những người cô đơn và phục vụ người
nghèo. Đây là những dấu hiệu của một nhân loại tiếp tục tin rằng thân thể của mỗi
người là nơi ngự của Chúa và là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Chính giao ước giữa
vinh quang và sự mong manh này trở thành tiêu chuẩn để đánh giá các mô hình
nhân học được đưa ra bởi nền văn hóa đương thời.
240. Chúng ta hãy yêu công lý và hòa bình! Chính những kỹ thuật tạo điều kiện
thuận lợi cho truyền thông và tiếp cận tài nguyên cũng có thể hỗ trợ các mô
hình bóc lột những người dễ bị tổn thương nhất, tạo ra các hình thức nô lệ mới
và thu lợi nhuận từ xung đột. Mỗi quyết định kỹ thuật hoặc kinh tế nên bao gồm
sự phân định tâm linh và là cơ hội để đánh giá xem những tiến bộ trong trí tuệ
nhân tạo có đang thúc đẩy công lý và sự tham gia hay tập trung của cải và quyền
lực vào tay một số ít người được chọn. Tôi khuyến khích việc xem xét cẩn thận
các chuỗi cung ứng của sản xuất kỹ thuật số, điều kiện làm việc ẩn sau các thiết
bị của chúng ta và các cơ chế thu lợi từ sự thao túng và chiến tranh. Đồng thời,
cần phải tìm ra những cách thức thực tiễn để thúc đẩy sự công bằng, sự tham gia
và chăm sóc cho tạo hóa. Chúng ta tuyên bố một niềm hy vọng bắt nguồn từ Đấng
đã từ trời xuống để “tạo nên một câu chuyện mới ở đây”. Vì lý do này, những người
tin tưởng cam kết đảm bảo rằng công lý lớn hơn sẽ thay thế sự bất bình đẳng, và
ngành kỹ nghệ chiến tranh sẽ được thay thế bằng nghề kiến tạo hòa bình. [221]
241. Khi chúng ta hướng tới tương lai, tôi muốn nhắc lại hình ảnh của
Nơ-khe-mi-a, người mà chúng ta đã chọn làm bạn đồng hành và người dẫn đường
ngay từ đầu. Nơ-khe-mi-a đã nghe thấy tiếng kêu than của một thành phố bị tàn
phá, mang nỗi đau đó đến cầu nguyện, phân định trước mặt Chúa, xin giúp đỡ, được
phép trở về, tổ chức công việc, đối diện với sự kháng cự từ bên trong và bên
ngoài và xây dựng lại các bức tường của Giêrusalem với sự giúp đỡ của người
dân, từng viên gạch một. Trong kỷ nguyên chuyển đổi kỹ thuật số này, tôi thấy ở
ông một hình ảnh ẩn dụ nổi bật về ơn gọi của chính chúng ta, đó không phải là
những người quan sát thụ động trước những rạn nứt về xã hội và văn hóa, cũng
không phải là những người bình luận đơn thuần về những gì đang sụp đổ, mà là những
người đàn ông và đàn bà sẵn sàng bước vào các công trường xây dựng lịch sử —
các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các công ty kỹ thuật, trường học, phương tiện
truyền thông, các tổ chức và cộng đồng địa phương — để xây dựng lại những gì đã
sụp đổ và bảo vệ những gì đang bị đe dọa. Giống như Nơ-khe-mi-a, chúng ta cũng
được kêu gọi kết hợp sự lắng nghe và lòng can đảm, cầu nguyện và trách nhiệm, để
ngay cả khi tư duy kỹ trị hoặc lợi ích phe phái dường như chiếm ưu thế, thành
phố của con người có thể trở thành một nơi đáng sống hơn.
242. Hình ảnh về việc xây dựng lại Giê-ru-sa-lem gợi lên lời hứa trong Tân Ước
về thành phố thánh, được ban cho chúng ta trước hết và trên hết như một ơn ban.
Trong sách Khải Huyền, Giêrusalem mới xuất hiện như một ơn ban cho toàn thể dân
Chúa, “được chuẩn bị như một cô dâu trang điểm cho chồng mình” (Khải Huyền 21:2).
Các bức tường của Giêrusalem không còn là những pháo đài phòng thủ nữa, mà là
những đồ trang sức quý giá của Cô dâu Chiên Con. Các cổng thành, mà Nơ-khe-mi-a
đã canh giữ rất siêng năng, vẫn luôn mở rộng cho mọi dân tộc. Sự hiện diện của
Chúa ban ánh sáng và sự sống cho tất cả. Thành phố là một vườn Ê-đen mới, với
nước hằng sống được ban cho người khát, và cây sự sống mà lá của nó “dùng để chữa
lành các dân tộc” (Khải Huyền 22:2). Khi chúng ta chờ đợi sự ứng
nghiệm của nó, thị kiến này được đặt trước mắt chúng ta như một sự khích lệ — một
lời kêu gọi vượt qua những chia rẽ của chúng ta và cùng nhau làm việc — vì đây
là con đường của Chúa Giê-su Ki-tô, hôm qua, hôm nay và mãi mãi.
Bài ca hy vọng: Kinh Magnificat
243. Sau khi đã suy gẫm về đức tin, vốn chiêm niệm kế hoạch yêu thương của Chúa
Cha; đức ái, vốn kết hợp chúng ta trong một thân thể Giáo hội; và đức cậy, vốn
nâng đỡ hành động của chúng ta trong thế giới, trụ cột thứ tư của chương trình
đời sống Kitô giáo này là cầu nguyện. Bài ca của Đức Mẹ Maria đồng hành cùng sự
tận hiến của chúng ta. Trước bà Ê-li-sa-ve, người báo cho Mẹ biết rằng Mẹ đã trở
thành Mẹ của Chúa, Đức Mẹ Maria cất lên một bài thánh ca ca ngợi và vui mừng.
Tâm hồn Mẹ ngợi khen Chúa, và tinh thần của Mẹ vui mừng trong Chúa, Đấng Cứu Thế
của Mẹ, vì Người đã chọn một cô gái trẻ, nghèo khó và khiêm nhường cho kế hoạch
cứu rỗi của Người. Bỗng nhiên, Mẹ Maria nhìn thấy toàn bộ lịch sử qua lăng kính
của sự mặc khải này. Mọi thứ xung quanh Mẹ vẫn không thay đổi; tình hình chính
trị - xã hội thời đó vẫn vậy. Người La Mã tiếp tục kiểm soát đất nước Mẹ, và
dân tộc Mẹ vẫn bị áp bức và sỉ nhục. Tuy nhiên, mọi thứ đã thay đổi bên trong Mẹ,
và điều này cho phép Mẹ nhìn thấy những điều vô hình. Chúa đã tỏ ra sức mạnh
cánh tay của Người; Người đã phân tán kẻ kiêu ngạo, hạ bệ kẻ quyền thế, nâng
cao người thấp hèn, cho người đói khát no đủ và đuổi người giàu ra về tay
không. Người đã giúp đỡ Israel, tôi tớ của Người. Chúa “đứng về phía người thấp
hèn. Kế hoạch của Người thường bị che giấu dưới bối cảnh mờ mịt của các sự kiện
con người, nơi mà ‘kẻ kiêu ngạo, kẻ quyền thế và người giàu’ chiến thắng. Tuy
nhiên, sức mạnh bí mật của Người cuối cùng sẽ được bày tỏ.” [222]
244. Đức Trinh Nữ Maria không chỉ dạy chúng ta nhận ra công việc vô hình của
Thiên Chúa, mà còn hướng ánh nhìn của chúng ta đến “những điểm ở đó nhân loại bị
tan vỡ và thế giới trở nên méo mó: sự tương phản giữa người khiêm nhường và người
quyền lực, người nghèo và người giàu, người no đủ và người đói khát”, dạy chúng
ta “nhìn thế giới từ một vị trí thấp hơn: qua con mắt của những người đau khổ
hơn là của những người quyền lực; nhìn lịch sử qua con mắt của những người bé
nhỏ, hơn là qua quan điểm của những người quyền lực; giải thích các sự kiện lịch
sử từ quan điểm của góa phụ, trẻ mồ côi, người lạ, trẻ em bị thương, người lưu
vong và người chạy trốn”. [223] Do đó, Đức Trinh Nữ Maria trở thành “nhà thơ và
nhà tiên tri của Sự Cứu Chuộc”, bởi vì trên môi Mẹ vang lên “bài thánh ca mạnh
mẽ và sáng tạo nhất từng được xướng lên, Magnificat; chính Mẹ là người tiết lộ
tầm nhìn biến đổi của nền kinh tế Kitô giáo, kết quả lịch sử và xã hội vẫn bắt
nguồn và có sức mạnh từ Kitô giáo”. [224]
245. Với cùng đức tin như Đức Mẹ Maria, chúng ta hãy trở thành “người dệt nên
niềm hy vọng” trong thế giới này, chia sẻ con người chúng ta và những gì chúng
ta có, để sự hiện diện của Chúa Giêsu được lớn mạnh giữa chúng ta và Nước Chúa
được hình thành. Trong lòng trung thành khiêm nhường của cuộc sống hằng ngày,
ngay cả thời đại AI cũng có thể trở thành thời điểm mà Chúa Thánh Thần mang đến
nền văn minh của tình yêu trong cuộc sống của chúng ta. Thật vậy, Chúa tiếp tục
làm cho mọi sự trở nên mới mẻ và ban cho mọi thời đại khả năng trở thành một phần
của lịch sử cứu độ trong ánh sáng của sự Nhập Thể. Tôi phó thác ước muốn của
chúng ta cho Mẹ của Chúa Kitô, cho Người Phụ Nữ của Kinh Magnificat, để Mẹ hướng
dẫn bước chân chúng ta qua thời kỳ thay đổi này và gìn giữ trong mỗi chúng ta đức
tin chân chính vào Tin Mừng, để chúng ta có thể làm chứng cho sự vĩ đại của
nhân loại, nơi Thiên Chúa đã ngự trị.
Ban hành tại Rôma, tại Nhà thờ Thánh Phêrô, ngày 15 tháng 5 năm 2026, năm thứ
hai triều đại Giáo hoàng của tôi.
LEO PP. XIV
________________________________________
[1] Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 22: AAS
58 (1966), 1042.
[2] Cf. ibid., 11: AAS 58 (1966), 1033-1034.
[3] Công đồng Vatican II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 1: AAS 57
(1965), 5.
[4] Cf. Lêô XIII, Thông điệp Rerum Novarum (15/5/1891), 22:
ASS 23 (1890-1891), 653.
[5] Bênêđíctô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/6/2009),
69: AAS 101 (2009), 702.
[6] Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24/5/2015), 104: AAS
107 (2015), 888.
[7] Như trên.
[8] Thánh Augustinô, Tự Thú, I, 1, 1: CCSL 27, Turnhout 1981, 1.
[9] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
183: AAS 105 (2013), 1097.
[10] Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 36: AAS
58 (1966), 1054; xem. Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân Apostolicam
Actuositatem, 7: AAS 58 (1966), 843-844.
[11] Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 44: AAS
58 (1966), 1065.
[12] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
257; AAS 105 (2013), 1123.
[13] Thánh Gioan Phaolô II, Tông Thư ban hành “Motu Proprio” Socialium
Scientiarum (01/01/1994): AAS 86 (1994), 209.
[14] Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24/5/2015), 61: AAS
107 (2015), 871.
[15] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei
Socialis (30/12/1987), 41: AAS 80 (1988), 570-572.
[16] Thánh Gioan Phaolô II, Tông Thư Tertio Millennio Adveniente (10/11/1994),
35: AAS 87 (1995), 27.
[17] Diễn văn với các Thành viên của Tổ chức “Centesimus Annus Pro
Pontifice” (17 tháng 5 năm 2025): AAS 117 (2025), 696.
[18] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
222: AAS 105 (2013), 1111.
[19] X. ibid., 236: AAS 105 (2013), 1115; Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli
Tutti (3 tháng 10 năm 2020), 215: AAS 112 (2020), 1045-1046.
[20] Công đồng Vatican II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 13: AAS
57 (1965), 17.
[21] Xem. Thánh Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens (14/5/1971),
4: AAS 63 (1971), 403.
[22] Xem Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
243: AAS 105 (2013), 1118.
[23] X. Đức Piô XII, Tông huấn Menti Nostrae (23/09/1950): AAS
42 (1950), 657-702.
[24] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (01/05/1991),
5: AAS 83 (1991), 799.
[25] Đức Piô XI, Thông điệp Quadragesimo Anno (15/5/1931), 39:
AAS 23 (1931), 189; xem. Đức Piô XII, Thông điệp phát thanh nhân kỷ niệm
50 năm Rerum Novarum: AAS 33 (1941), 198.
[26] X. Đức Piô XII, Diễn văn gửi Hồng Y đoàn và Giáo phận Rôma (24/12/1940):
AAS 33 (1941), 13.
[27] X. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra (15/5/1961),
2-3: AAS 53 (1961), 402.
[28] X. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in Terris (11/04/1963),
87: AAS 55 (1963), 301.
[29] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 26:
AAS 58 (1966), 1046-1047.
[30] X. Công đồng Vatican II, Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, 2: AAS
58 (1966), 930-931.
[31] Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26/03/1967),
14: AAS 59 (1967), 264.
[32] Như trên, 76: AAS 59 (1967), 299.
[33] X. Thánh Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens (14/5/1971),
4-7: AAS 63 (1971); 404-406.
[34] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30/12/1987),
36: AAS 80 (1988), 561.
[35] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens (14/09/1981),
19: AAS 73 (1981), 625-629.
[36] X. như trên, 10: AAS 73 (1981), 600-602.
[37] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei
Socialis (30/12/1987), 14: AAS 80 (1988), 526-528.
[38] X. ibid., 16: AAS 80 (1988), 531.
[39] X. ibid., 31-33: AAS 80 (1988), 555-559.
[40] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (1
tháng 5 năm 1991), 46: AAS 83 (1991), 850-851.
[41] Cf. ibid., 42: AAS 83 (1991), 844-846.
[42] Đức Bênêđíctô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29
tháng 6 năm 2009), 21: AAS 101 (2009), 656.
[43] Cf. ibid., 22: AAS 101 (2009), 657.
[44] Cf. ibid., 24: AAS 101 (2009), 658-659.
[45] Cf. ibid., 36: AAS 101 (2009), 671-672.
[46] Cùng nguồn, 2: AAS 101 (2009), 642.
[47] X. Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
198: AAS 105 (2013), 1103.
[48] Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24 tháng 5 năm
2015), 49: AAS 107 (2015), 866.
[49] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm
2020), 127: AAS 112 (2020), 1013.
[50] Đức Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24 tháng 10 năm
2024), 167: AAS 116 (2024), 1421.
[51] X. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tập hợp Học thuyết
Xã hội của Giáo hội, Thành phố Vatican 2004, 32.
[52] Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 24: AAS
58 (1966), 1045.
[53] Ibid., 22: AAS 58 (1966), 1042.
[54] Cf. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tập hợp Học thuyết
Xã hội của Giáo hội, 38.
[55] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor Hominis (4
tháng 3 năm 1979), 14: AAS 71 (1979), 284.
[56] Cf. Đức Bênêđíctô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29
tháng 6 năm 2009), 11: AAS 101 (2009), 647-648.
[57] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis Splendor (6/8/1993),
31: AAS 85 (1993), 1159.
[58] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 26:
AAS 58 (1966), 1046-1047.
[59] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (01/05/1991),
11: AAS 83 (1991), 806-807.
[60] X. Bộ Giáo lý Đức tin, Tuyên bố Dignitas Infinita (2
tháng 4 năm 2024), 7: AAS 116 (2024), 592-593.
[61] X. ibid., 8: AAS 116 (2024), 593-594.
[62] Ibid., 1: AAS 116 (2024), 589-590.
[63] Cf. Thánh Gioan Phaolô II, Kinh Truyền Tin với người khuyết tật tại
Nhà thờ Osnabrück (16 tháng 11 năm 1980): Insegnamenti di Giovanni
Paolo II, tập III/2, Thành phố Vatican 1980, 1232.
[64] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội của
Giáo hội, 152.
[65] Cf. Thánh Gioan Phaolô II, Bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
lần thứ 50 (5 tháng 10 năm 1995), 2: Insegnamenti di Giovanni Paolo II, tập.
XVIII/2, Thành phố Vatican 1998, 731.
[66] Thánh Gioan Phaolô II, Bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc lần thứ 34 (2 tháng 10 năm 1979), 7: AAS 71 (1979), 1148.
[67] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp nhân Ngày Hòa bình Thế giới lần
thứ 32 (1 tháng 1 năm 1999), 3: AAS 91 (1999), 379.
[68] Cf. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in Terris (11
tháng 4 năm 1963), 5: AAS 55 (1963), 259.
[69] Thánh Phaolô VI, Thông điệp gửi Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền (15
tháng 4 năm 1968): AAS 60 (1968), 285.
[70] Cf. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae (25/03/1995),
2: AAS 87 (1995), 402.
[71] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 27:
AAS 58 (1966), 1047-1048; xem. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis
Splendor (6 tháng 8 năm 1993), 80: AAS 85 (1993), 1197-1198; xem.
Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae (25/03/1995),
7-28: AAS 87 (1995), 408-427.
[72] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 Octháng 10 năm
2020), 208: AAS 112 (2020), 1043.
[73] Cf. ibid., 209: AAS 112 (2020), 1043-1044.
[74] Ibid., 23: AAS 112 (2020), 977. Cf. Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
212: AAS 105 (2013), 1108.
[75] Đức Bênêđíctô XVI, Tông huấn Sacramentum Caritatis (22/02/2007),
83: AAS 99 (2007), 169.
[76] Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 26, AAS
58 (1966), 1046-1047.
[77] X. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học
thuyết Xã hội của Giáo hội, 164.
[78] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
235: AAS 105 (2013), 1115.
[79] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm
2020), 105: AAS 112 (2020), 1005.
[80] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30/12/1987),
38: AAS 80 (1988), 564.
[81] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
220: AAS 105 (2013), 1110.
[82] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình, Bản tóm lược Học thuyết
Xã hội của Giáo hội, 169.
[83] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm
2020), 16: AAS 112 (2020), 974.
[84] Cf. Thánh Gioan Phaolô II, Bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc lần thứ 50 (5 tháng 10 năm 1995), 8: Insegnamenti di Giovanni
Paolo II, vol. XVIII/2, 735.
[85] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học thuyết
Xã hội của Giáo hội, 171.
[86] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (1
tháng 5 năm 1991), 31: AAS 83 (1991), 831.
[87] Thánh Gioan Phaolô II, Bài giảng trong Thánh lễ dành cho nông dân
tại Recife (7 tháng 7 năm 1980), 4: AAS 72 (1980), 926.
[88] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens (14
tháng 9 năm 1981), 19: AAS 73 (1981), 626.
[89] Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24 tháng 5 năm
2015), 93: AAS 107 (2015), 884; cf. Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm
2020), 120: AAS 112 (2020), 1010.
[90] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
189: AAS 105 (2013), 1099.
[91] X. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học
thuyết Xã hội của Giáo hội, 187.
[92] X. Đức Lêô XIII, Thông điệp Rerum Novarum (15/5/1891),
26: ASS 23 (1890-1891), 656.
[93] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (01/05/1991),
11: AAS 83 (1991), 806-807.
[94] X. ibid.
[95] X. ibid., 48: AAS 83 (1991), 852-854.
[96] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10
năm 2020), 169: AAS 112 (2020), 1028.
[97] X. ibid., 168: AAS 112 (2020), 1027-1028.
[98] Xem. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26/03/1967),
17: AAS 59 (1967), 265-266.
[99] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm
2020), 32 và 54: AAS 112 (2020), 980 và 988.
[100] Xem Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/06/2009),
58: AAS 101 (2009), 693-694.
[101] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm
2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.
[102] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30/12/1987),
38: AAS 80 (1988), 564.
[103] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm
2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.
[104] X. Đức Bênêđíctô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/06/2009),
48: AAS 101 (2009), 685.
[105] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 25:
AAS 58 (1966), 1045-1046.
[106] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei
Socialis (30/12/1987), 42: AAS 80 (1988), 572-574.
[107] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
53: AAS 105 (2013), 1042.
[108] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30/12/1987),
36-37: AAS 80 (1988), 561-564.
[109] X. Đức Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn lần thứ
110 (29 tháng 9 năm 2024): AAS 116 (2024), 735.
[110] Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26/03/1967),
14: AAS 59 (1967), 264.
[111] X. ibid., 17: AAS 59 (1967), 265-266; Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli
Tutti (3 tháng 10 năm 2020), 125-127: AAS 112 (2020), 1012-1013.
[112] X. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26/03/1967),
14: AAS 59 (1967), 264; Đức Bênêđíctô XVI, Bài phát biểu trước Đoàn ngoại
giao được công nhận tại Tòa Thánh (8 tháng 1 năm 2007): AAS 99 (2007),
73; Đức Phanxicô, Bài phát biểu trước những người tham dự Cuộc họp toàn
cầu lần thứ 3 của Diễn đàn các dân tộc bản địa thuộc Quỹ Phát triển Nông nghiệp
Quốc tế (15 tháng 2 năm 2017): AAS 109 (2017), 244-245.
[113] Văn kiện cuối cùng của Phiên họp thứ hai của Đại hội đồng thường
kỳ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục (26 tháng 10 năm 2024), 17.
[114] Cf. ibid., 11.
[115] Cf. ibid., 103-108.
[116] Cf. ibid., 100-101.
[117] Cf. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10
năm 2020), 94: AAS 112 (2020), 1001.
[118] X. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học
thuyết Xã hội của Giáo hội, 53.
[119] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’, (24 tháng 5 năm
2015), 106-109: AAS 107 (2015), 889-891.
[120] R. Guardini, Das Ende der Neuzeit, Würzburg 1951, 89.
[121] Thánh Phaolô VI, Bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập
FAO (16 tháng 11 năm 1970): AAS 62 (1970), 833.
[122] Cf. Đức Phanxicô, Bài phát biểu trước Hội đồng về Chủ nghĩa Tư bản
Toàn diện (11 tháng 11 năm 2019): L’Osservatore Romano, 11-12 tháng 11
năm 2019, 8.
[123] Cf. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua
et Nova (14 tháng 1 năm 2025): AAS 117 (2025), 159-210; Đức
Phanxicô, Thông điệp nhân Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 57 (8
tháng 12 năm 2023): AAS 116 (2024), 54-64; Đức Phanxicô, Thông điệp
nhân Ngày Truyền thông Xã hội Thế giới lần thứ 58 (24 tháng 1 năm
2024): AAS 116 (2024), 261-266; Đức Phanxicô, Bài phát biểu tại Phiên họp
G7 về Trí tuệ Nhân tạo: “Một công cụ thú vị và đáng sợ” (14 tháng 6 năm
2024): AAS 116 (2024), 866-875; Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo vadis,
humanitas? Suy nghĩ về nhân học Kitô giáo trước một số kịch bản về tương
lai của nhân loại (9 tháng 2 năm 2026); Thông điệp nhân Ngày Truyền
thông Xã hội Thế giới lần thứ 60 (24 tháng 1 năm 2026): L’Osservatore
Romano, 24 tháng 1 năm 2026, 2-3.
[124] Cf. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua
et Nova (14 tháng 1 năm 2025), 96: AAS 117 (2025), 201.
[125] Đức Phanxicô, Bài phát biểu trước những người tham dự Cuộc họp “Đối
thoại Minerva” do Bộ Văn hóa và Giáo dục tổ chức (27 tháng 3 năm
2023): AAS 115 (2023), 465.
[126] Cf. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua
et Nova (14 tháng 1 năm 2025), 41: AAS 117 (2025), 178.
[127] Cf. ibid., 44-45: AAS 117 (2025), 179-180.
[128] Cf. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (1
tháng 5 năm 1991), 40: AAS 83 (1991), 843.
[129] Cf. Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo vadis, humanitas? Suy nghĩ về
nhân học Kitô giáo trước một số kịch bản về tương lai của nhân loại (9 tháng 2
năm 2026), 63.
[130] Cf. Thánh Phaolô VI, Bài diễn thuyết nhân dịp kỷ niệm 25 năm
thành lập FAO (16 tháng 11 năm 1970): AAS 62 (1970), 833.
[131] Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo vadis, humanitas? Suy nghĩ về
nhân học Kitô giáo trước một số kịch bản về tương lai của nhân loại (9 tháng 2
năm 2026), 3.
[132] “Nếu chúng ta coi thường trái tim, chúng ta cũng coi thường ý nghĩa của
việc nói từ trái tim, hành động bằng trái tim, vun đắp và chữa lành trái tim. Nếu
chúng ta không đánh giá cao tính đặc thù của trái tim, chúng ta sẽ bỏ lỡ những
thông điệp mà chỉ riêng trí óc không thể truyền đạt; chúng ta sẽ bỏ lỡ sự phong
phú trong những cuộc gặp gỡ của chúng ta với người khác; chúng ta sẽ bỏ lỡ thi
ca. Chúng ta cũng mất dấu vết của lịch sử và quá khứ của chính mình, vì lịch sử
bản thân thực sự của chúng ta được xây dựng bằng trái tim. Cuối đời, chỉ điều
đó mới quan trọng.” Đức Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24
tháng 10 năm 2024), 11: AAS 116 (2024), 1372.
[133] V. Frankl, Con người đi tìm ý nghĩa. Giới thiệu về liệu pháp ý
nghĩa, Boston 1963, 213.
[134] Thánh Thomas Aquinas, Thần học tổng hợp, I-II, q. 112, A. 1,
đồng; q. 114, a, 5, co.: ed. Leonina, VII, Rome 1892, 323 và 349.
[135] X. ibid., q. 114, A. 1, co.: ed. Leonina, VII, 344.
[136] X. Thánh Thomas Aquinas, Super Boetium de Trinitate, q. 1, A.
2, quảng cáo 3: biên tập. Leonina, L, Rome 1992, 96; Tổng luận Thần học, I, q.
7, A. 1, quảng cáo 3: biên tập. Leonina, IV, Rome 1888, 72.
[137] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, (24/11/2013), 8:
AAS 105 (2013), 1022.
[138] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor Hominis (4/3/1979),
15: AAS 71 (1979), 286-287.
[139] Thánh Augustinô, De civitate Dei, XIV, 28: CCSL 48, Turnhout
1955, 451.
[140] Đức Bênêđíctô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/6/2009),
34: AAS 101 (2009), 668-669.
[141] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis Splendor (6/8/1993),
32: AAS 85 (1993), 1159.
[142] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm
2020), 207: AAS 112 (2020), 1043.
[143] H. Arendt, Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị, III, New York
1962, 474.
[144] Diễn văn với các đại diện truyền thông (12 tháng 5 năm
2025): AAS 117 (2025), 681-682.
[145] Đức Bênêđíctô XVI, Thông điệp nhân Ngày Truyền thông Xã hội Thế
giới lần thứ 47 (24 tháng 1 năm 2013): AAS 105 (2013), 183.
[146] Đức Phanxicô, Bài phát biểu nhân dịp phong tước Hiệp sĩ và Nữ Hiệp
sĩ Đại Thập tự của Huân chương Pi-ô cho ông Philip Pullella và bà Valentina
Alazraki (13 tháng 11 năm 2021): L’Osservatore Romano, 13 tháng 11 năm
2021, 12.
[147] Cf. Plato, Thư VII, 344b-c: ed. Souilhé, XIII/1, Paris 1931 (
CUF, Série grecque 63), 54.
[148] Cf. Bài phát biểu trước những người tham dự Hội nghị “Phẩm giá của
trẻ em và thanh thiếu niên trong thời đại trí tuệ nhân tạo” (13 tháng
11 năm 2025): L’Osservatore Romano, 13 tháng 11 năm 2025, 3.
[149] Cf. Bài phát biểu trước các thành viên của Ban Cố vấn của Học viện
RCS (7 tháng 11 năm 2025): L’Osservatore Romano 7 tháng 11 năm 2025,
4.
[150] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens (14
tháng 9 năm 1981), 3: AAS 73 (1981), 584.
[151] Cf. Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24 tháng 5 năm
2015), 128: AAS 107 (2015), 898.
[152] Bộ Giáo lý Đức tin — Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua et
Nova (14 tháng 1 năm 2025), 67: AAS 117 (2025), 188-189.
[153] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens,
(14/09/1981), 18: AAS 73 (1981), 622-625.
[154] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24/5/2015),
109: AAS 107 (2015), 891.
[155] X. Đức Bênêđíctô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/06/2009),
32: AAS 101 (2009), 666.
[156] X. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học
thuyết Xã hội của Giáo hội, 268.
[157] X. Đức Bênêđíctô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/06/2009),
64: AAS 101 (2009), 698.
[158] Xem Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24/5/2015),
129: AAS 107 (2015), 899.
[159] X. ibid.
[160] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10
năm 2020), 108: AAS 112 (2020), 1006.
[161] X. Bộ Giáo lý Đức tin - Bộ Cổ vũ sự phát triển con người toàn diện, Kinh
tế và Các Vấn đề Tài chánh. Những cân nhắc để phân định đạo đức liên quan đến một
số khía cạnh của hệ thống kinh tế-tài chính hiện tại (6 tháng 1 năm
2018), 6: AAS 110 (2018), 772.
[162] Đức Phanxicô, Lời chào các nhân viên của Quỹ Phát triển Nông nghiệp
Quốc tế (IFAD) (14 tháng 2 năm 2019): AAS 111 (2019), 309. Cfr. Đức
Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/06/2009),
22: AAS 101 (2009), 657.
[163] Xem. như trên., 36: AAS 101 (2009), 671-672.
[164] X. Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (24/11/2013),
204: AAS 105 (2013), 1105-1106.
[165] X. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26/03/1967),
87: AAS 59 (1967), 299.
[166] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (01/05/1991),
39: AAS 83 (1991), 841.
[167] X. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học
thuyết Xã hội của Giáo hội, 211.
[168] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thư gửi các Gia đình Gratissimam
Sane (2 tháng 2 năm 1994), 17: AAS 86 (1994), 903-906.
[169] Cf. Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, Con cái của Ánh sáng: Kế
hoạch Mục vụ cho Mục vụ với Giới trẻ (12 tháng 11 năm 1996),
Washington D.C., 1996, I, 3.
[170] Cf. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học
thuyết Xã hội của Giáo hội, 290.
[171] Cf. ibid., 214.
[172] Cf. Đức Phanxicô, Thông điệp nhân dịp kỷ niệm Ngày Giới trẻ vì
Hòa bình Thế giới lần thứ 48 (8 tháng 12 năm 2014), 4: AAS 107 (2015),
70-71.
[173] Cf. Ủy ban Thần học Quốc tế, Ký ức và Hòa giải, Giáo hội và những
sai lầm trong quá khứ, Thành phố Vatican 2000, 5.3.
[174] Như trong các Sắc lệnh Giáo hoàng Sicut Dudum (13 tháng
1 năm 1435) và Etsi Suscepti (9 tháng 1 năm 1442) của Đức
Eugenius IV, và trong các Sắc lệnh Giáo hoàng Dum Diversas (18
tháng 6 năm 1452) và Romanus Pontifex (8 tháng 1 năm 1455) của
Đức Nicholas V. Nhu cầu chính trị và, đôi khi, thậm chí cả nhu cầu kinh tế đã vượt
qua những đòi hỏi của Tin Mừng. Nhu cầu truyền giáo thường bị thỏa hiệp hoặc ít
nhất là bị hiểu sai liên quan đến nhu cầu của các thế lực thế gian, do đó làm
giảm nhẹ sự không tương thích đầy vấn đề của chế độ nô lệ với lương tâm Kitô
giáo.
[175] Cf. Đức Leo XIII, Thông điệp In Plurimis (5 tháng 5 năm
1888), Acta Leonis XIII, VIII, Rome, 1889, 169-192. Hãy xem xét điều đó, cho đến
cuối năm 1866, Văn phòng Thánh đã phân biệt giữa các khía cạnh vô đạo đức và
luân lý của chế độ nô lệ, mà không lên án nó hoàn toàn: Huấn thị của Văn phòng
Thánh về những nghi ngờ khác nhau của Đức ông Massaia, Đại diện Tông tòa tại đất
nước Galla, tháng 4 năm 1866, trả lời câu hỏi số 15.
[176] X. Thánh Gioan Phaolô II, Incarnationis Mysterium (29/11/1998),
11: AAS 91 (1999), 139-141.
[177] X. Thánh Phaolô VI, Regina Caeli (17 tháng 5 năm 1970):
Insegnamenti di Paolo VI, tập. VIII, 506.
[178] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10
năm 2020), 183: AAS 112 (2020), 1033-1034.
[179] Cf. Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes,
26: AAS 58 (1966), 1046-1047.
[180] Thánh Phaolô VI, Bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lần
thứ 20 (4 tháng 10 năm 1965): AAS 57 (1965), 881.
[181] Liên Hợp Quốc, Hiến chế Liên Hợp Quốc, San Francisco (26
tháng 6 năm 1945), Lời mở đầu.
[182] Cf. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10
năm 2020), 258: AAS 112 (2020), 1061: “Trong những thập niên gần đây, mọi cuộc
chiến tranh đều được ‘biện minh’ một cách rõ ràng. Giáo lý của Giáo Hội Công
Giáo nói về khả năng phòng thủ chính đáng bằng lực lượng quân sự, điều này đòi
hỏi phải chứng minh rằng một số ‘điều kiện nghiêm ngặt về tính hợp pháp đạo đức’
đã được đáp ứng. Tuy nhiên, rất dễ rơi vào cách giải thích quá rộng về quyền tiềm
năng này. Theo cách này, một số người cũng sẽ sai lầm khi biện minh cho cả những
cuộc tấn công ‘phòng ngừa’ hoặc các hành động chiến tranh mà khó có thể tránh
khỏi gây ra ‘những điều ác và rối loạn nghiêm trọng hơn cả điều ác cần phải loại
bỏ.’”
[183] Cf. Bộ Giáo lý Đức tin — Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua
et Nova (14 tháng 1 năm 2025), 99: AAS 117 (2025), 202-203.
[184] Cf. ibid., 103: AAS 117 (2025), 204.
[185] Cf. Bài phát biểu trước những người tham gia Phiên họp toàn thể của
“Hội ngộ các Cơ quan cứu trợ dành cho các Giáo hội phương Đông (ROACO)”
(26 tháng 6 năm 2025): AAS 117 (2025), 847-849.
[186] Cf. Đức Phanxicô, Thông điệp nhân Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ
53 (8 tháng 12 năm 2019): AAS 112 (2020), 54-61.
[187] J.R.R. Tolkien, Chúa tể những chiếc nhẫn. Sự trở lại của nhà vua,
Phần III, Quyển năm, Chương IX, New York 1965, 190.
[188] Bài phát biểu trước các đại diện của giới truyền thông, (12
tháng 5 năm 2025): AAS 117 (2025), 682.
[189] Ibid.
[190] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp nhân Ngày Hòa bình Thế giới lần
thứ 31, (1 tháng 1 năm 1998), 1: AAS 90 (1988), 147.
[191] Thánh Augustinô, Enarrationes in Psalmos, 84, 12: CCSL 39,
Turnhout 1956, 1172-1173.
[192] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24 tháng 10 năm
2024), 22: AAS 116 (2024), 1375-1376.
[193] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm
2020), 115: AAS 112 (2020), 1008-1009.
[194] X. ibid., 261: AAS 112 (2020), 1062.
[195] X. Thánh Phaolô VI, Diễn văn tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lần
thứ 20 (4 tháng 10 năm 1965): AAS 57 (1965), 878-879.
[196] Cf. Đức Pius XII, Thông điệp trên đài phát thanh Giờ Nghiêm Trọng (24
tháng 8 năm 1939): AAS 31 (1939), 334.
[197] Giorgio La Pira, Riflessioni sul Concilio. Bài phát biểu của
Giáo sư Giorgio La Pira, Thị trưởng Florence, gửi tới “Guides de France” (Rome,
4 tháng 9 năm 1962), Florence 1962, 6.
[198] Bài phát biểu trước những người tham gia Đại lễ các Giáo hội
Phương Đông (14 tháng 5 năm 2025): AAS 117 (2025), 686.
[199] Cf. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10
năm 2020), 271: AAS 112 (2020), 1066.
[200] Cf. Đức Phanxicô, Lời kêu gọi hòa bình tại Assisi nhân Ngày Thế
giới Lời cầu nguyện cho hòa bình “Khát khao hòa bình: Các tín ngưỡng và văn hóa
trong đối thoại” (20 tháng 9 năm 2016): AAS 108 (2016), 1124.
[201] Đức Phanxicô, Bài phát biểu trước các thành viên của Đoàn ngoại
giao được công nhận tại Tòa Thánh (9 tháng 1 năm 2025): AAS 117
(2025), 110.
[202] So sánh với Đức Phanxicô, Bài phát biểu trước những người tham dự
Hội nghị FAO lần thứ 38 (20 tháng 6 năm 2013): AAS 105 (2013),
616-617.
[203] Lời chúc phúc “Urbi et Orbi” đầu tiên (8 tháng 5 năm
2025): AAS 117 (2025), 660.
[204] Ibid.
[205] So sánh với Bài giảng Kinh chiều đầu tiên trong Lễ trọng kính Đức
Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa (31 tháng 12 năm 2025): L’Osservatore Romano,
ngày 2 tháng 1 năm 2026, 1-2.
[206] X. Bài giảng Thánh lễ ban ngày (25 tháng 12 năm 2025):
L’Osservatore Romano, 27 tháng 12 năm 2025, 3.
[207] X. ibid.
[208] X. Truyền Tin Lễ Trọng Hiển Linh (6 tháng 1 năm 2026):
L’Osservatore Romano, 7 tháng 1 năm 2026, 3.
[209] X. Bài giảng Thánh lễ ban đêm (24 tháng 12 năm 2025):
L’Osservatore Romano, 27 tháng 12 năm 2025, 2.
[210] P. de Bérulle, Discours de l’état et des grandeurs de Jésus,
Discours IV, Unité de Dieu en l’incarnation: Œuvres complètes, Paris 1856,
cột 218.
[211] Ibid.
[212] Cf. Bài phát biểu tại Hội nghị “Trí tuệ nhân tạo và Chăm sóc Ngôi
nhà Chung của Chúng ta” (5 tháng 12 năm 2025): L’Osservatore Romano, 5
tháng 12 năm 2025, 2.
[213] Đức Bênêđíctô XVI, Thông điệp Deus Caritas Est (25 tháng
12 năm 2005), 14: AAS 98 (2006), 228.
[214] Thánh Augustinô, Bài giảng 272: In die Pentecostes ad infantes de
sacramento: PL 38, Paris 1865, cột 1247.
[215] Đức Bênêđíctô XVI, Bài giảng tại Thánh lễ Tiệc Thánh của
Chúa (21 tháng 4 năm 2011): AAS 103 (2011), 321.
[216] Bài phát biểu gửi người Roma Thông báo của Tòa Giám mục về việc
trao đổi lời chúc Giáng sinh (22 tháng 12 năm 2025): L’Osservatore
Romano, 22 tháng 12 năm 2025, 6-7.
[217] Xem ở trên, số 11-14.
[218] Xem Bài phát biểu tại Hội nghị “Phẩm giá của trẻ em và thanh thiếu
niên trong thời đại trí tuệ nhân tạo” (13 tháng 11 năm 2025):
L’Osservatore Romano, 13 tháng 11 năm 2025, 3.
[219] Xem Đức Bênêđíctô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29
tháng 6 năm 2009), 34: AAS 101 (2009), 668-670.
[220] Đức Phanxicô, Tông huấn Laudate Deum (4 tháng 10 năm
2023), 67: AAS 115 (2023), 1059.
[221] Xem Kinh Truyền Tin vào Lễ Hiển Linh (6 tháng 1 năm
2026): L’Osservatore Romano, 7 tháng 1 năm 2026, 3.
[222] Đức Bênêđíctô XVI, Buổi tiếp kiến chung (15 tháng 2 năm
2006): L’Osservatore Romano, 16 tháng 2 năm 2006, 4.
[223] Suy niệm nhân dịp Canh thức cầu nguyện và Kinh Mân Côi cầu hòa
bình (11 tháng 10 năm 2025): L’Osservatore Romano, 13 tháng 10 năm
2025, 2.
[224] Thánh Phaolô VI, Bài giảng tại Đền thờ Đức Mẹ Bonaria, (24
tháng 4 năm 1970): AAS 62 (1970), 301.
(Vũ Văn An dịch đăng trên Vietcatholic)