Trang

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC HỒNG Y LUIS ANTONIO G. TAGLE, ĐẶC SỨ CỦA ĐỨC THÁNH CHA, TRONG THÁNH LỄ TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC CHO CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP NGÀY 02/7/2026

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC HỒNG Y LUIS ANTONIO G. TAGLE, ĐẶC SỨ CỦA ĐỨC THÁNH CHA, TRONG THÁNH LỄ TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC CHO CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP NGÀY 02/7/2026

 


WHĐ (02/7/2026) – Sau đây là toàn văn bản dịch Việt ngữ Bài giảng của Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Đặc sứ của Đức Thánh Cha, trong Thánh lễ Tuyên phong Chân phước cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp ngày 02/7/2026.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy ngợi khen Thiên Chúa, Đấng đã quy tụ chúng ta trong Thánh lễ Tuyên phong Chân phước Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị mục tử của Tắc Sậy, chứng nhân đức tin và là vị tử đạo của Giáo hội Công giáo. Qua ngài, Giáo hội tại Việt Nam được Thiên Chúa chúc lành. Ngài cũng là hồng ân của Chúa dành cho toàn thể Hội thánh và cho gia đình nhân loại.

Nhiều người, kể cả các tín hữu Công giáo, vẫn đặt câu hỏi: Vì sao cái chết của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lại được Giáo hội tôn vinh là Chân phước? Có lẽ, theo cái nhìn của thế gian, người ta sẽ gọi những người như ngài là "những người xấu số" hơn là "chân phước". Tuy nhiên, chúng ta hãy cùng suy nghĩ dưới ánh sáng đức tin.

Thánh lễ hôm nay đưa chúng ta trở về với giáo huấn của Chúa Giêsu trong Tin mừng theo Thánh Matthêu, chương năm, về các mối phúc thật:

"Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao."

Như vậy, những ai bị bách hại vì Danh Chúa, bị thế gian khước từ nhưng được Thiên Chúa đón nhận, chính là những người có phúc. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải mọi cuộc bách hại đều vì Danh Chúa. Chỉ khi một người chấp nhận đau khổ và thử thách vì Chúa Giêsu, người ấy mới thực sự làm chứng rằng mình thuộc về Thiên Chúa hơn là thuộc về thế gian.

Trong Tin mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu khẳng định rằng Người đã chọn chúng ta để thuộc về Người, chứ không thuộc về sự dữ. Người mời gọi chúng ta sống theo lời Người dạy, sống trong sự thật, không giả dối và luôn kết hợp với Người, ngay cả giữa những hiểm nguy. Người môn đệ đích thực là người yêu mến Chúa, ở lại với Chúa và trung thành với Người ngay trong những lúc bị bách hại.

Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi mỗi người chúng ta đáp lại tiếng gọi ấy: Hãy chọn Chúa và nương tựa vào Người mỗi ngày trong cuộc sống.

Giờ đây, tôi muốn hỏi anh chị em:

Anh chị em sẽ chọn điều gì?

Anh chị em sẽ làm giàu bằng những cách bất chính hay mưu sinh bằng sự chân thật?

Anh chị em sẽ chỉ tích trữ của cải cho bản thân hay biết quảng đại chia sẻ với những người nghèo khó?

Anh chị em sẽ chọn cuộc sống tiện nghi cho riêng mình hay sẵn sàng mang lấy đau khổ của tha nhân?

Nếu chọn Chúa Giêsu, anh chị em đã được chúc phúc.

Phúc thay những ai chọn sống theo gương Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

Giờ đây, chúng ta hãy cùng suy nghĩ về ý nghĩa của sự tử đạo.

Thông thường, người ta nghĩ tử đạo chỉ đơn thuần là cái chết. Nhưng ý nghĩa sâu xa của tử đạo chính là chấp nhận chết vì chân lý, vì Danh Chúa và để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô.

Các vị tử đạo loan báo Tin mừng bằng chính lời nói, hành động và mối tương quan mật thiết với Chúa. Khi một người sẵn sàng hiến mạng sống vì Danh Chúa, chứng tá của họ trở nên đáng tin hơn bất cứ lời giảng dạy nào. Người tử đạo là một nhà truyền giáo tuyệt vời, bởi chính cuộc đời họ làm chứng cho Đức Kitô.

Vậy ai là người làm chứng cho Đức Giêsu?

Đó là những người sống trong sự thật vì Chúa.

Trong bài đọc thứ hai, trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô, Tông đồ, chúng ta vừa nghe:

"Anh chị em thân mến, anh chị em hãy tôn thờ Đức Kitô là Chúa trong lòng mình; hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh chị em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với lòng kính cẩn; hãy giữ lương tâm ngay chính, để khi anh chị em bị vu khống thì những kẻ phỉ báng nếp sống tốt đẹp của anh chị em trong Đức Kitô phải xấu hổ." (1 Phêrô 3,15-16)

Người tử đạo là người luôn sống vui tươi, hiền hòa, đầy lòng nhân hậu và can đảm, ngay cả khi phải đối diện với sự chống đối.

Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp chưa bao giờ chần chừ trong việc sống đức ái và làm chứng cho chân lý. Ngài yêu thương người nghèo, tận tụy phục vụ tha nhân. Ngài sống tình yêu của Thiên Chúa bằng việc quan tâm, ôm lấy mọi người, kể cả những người chưa biết Chúa. Đặc biệt, ngài đã ở lại với đoàn chiên giữa lúc hiểm nguy thay vì tìm đường chạy trốn.

Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi chúng ta hãy can đảm làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình.

Tôi muốn hỏi anh chị em một lần nữa:

Anh chị em sẽ làm chứng cho Đức Kitô hay sẽ tiếp tục loan truyền những tin giả?

Anh chị em sẽ chọn sống theo gương Đức Giêsu trong đức ái hay sẽ chọn những con đường khác?

Anh chị em sẽ thỏa mãn với thành công và danh tiếng cá nhân hay sẽ hãnh diện vì được mang Danh Chúa?

Người tử đạo chân chính giúp mọi người biết phân định điều gì đáng để lựa chọn.

Thế giới hôm nay đang rất cần những con người dám làm chứng cho sự thật.

Chúng ta đừng sống cho bạo lực, thù hận, chia rẽ, kích động hay những điều sai sự thật.

Mối tương quan của người tử đạo với Thiên Chúa được thể hiện rõ qua niềm hy vọng mà họ luôn gìn giữ giữa những cuộc bách hại.

Thánh Phêrô nói rằng người ta có thể giết chết thân xác, nhưng sự sống trong Thần Khí thì không bao giờ bị hủy diệt.

Cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu không kết thúc bằng khổ đau và cái chết, nhưng được hoàn tất trong ánh sáng Phục sinh vinh hiển.

Đức Kitô đã thực sự sống lại. Người đang hiển trị trong Nước của Người, ngự bên hữu Chúa Cha và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta.

Chính niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đem lại cho chúng ta một niềm hy vọng vững chắc.

Vinh quang mà Thiên Chúa hứa ban sẽ không bao giờ phai tàn.

Chúng ta hãy nhớ đến người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu. Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông tha thiết thưa với Chúa: "Xin Ngài nhớ đến tôi khi vào Nước của Ngài." Và Chúa Giêsu đã lập tức đáp lại lời cầu xin ấy.

Người trộm chỉ xin được Chúa nhớ đến, và Chúa đã ghi nhớ ông trong chính trái tim của Người.

Thế gian có thể quên lãng chúng ta, nhưng Đức Giêsu Phục Sinh sẽ không bao giờ quên những ai thuộc về Người.

Thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi, giữa lúc chịu đau khổ đã được thấy trời mở ra và Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa.

Vinh quang Nước Trời đang chờ đợi phía trước.

Các vị tử đạo đã bước qua đau khổ, gươm giáo và cái chết để tiến vào vinh quang ấy.

Chúng ta tin rằng Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã gặp gỡ Đức Giêsu và đang sống trong hạnh phúc vĩnh cửu với Người.

Ngài mời gọi chúng ta đặt trọn niềm hy vọng nơi Đức Giêsu.

Chính Chúa sẽ làm cho cuộc đời và sứ mạng của chúng ta được bền vững, chứ không phải của cải vật chất.

Vì thế, tôi lại muốn hỏi anh chị em:

Anh chị em sẽ chọn đặt nền tảng cuộc đời trên sự giàu có của thế gian hay trên sự giàu có của Thiên Chúa?

Anh chị em sẽ tìm kiếm danh tiếng và những lượt thích, lượt chia sẻ trên mạng xã hội hay sẽ chọn nương tựa nơi Thiên Chúa?

Anh chị em sẽ chọn những vũ khí gây nên chiến tranh hay sẽ đón nhận món quà là chính Đức Kitô, Đấng đem lại bình an đích thực?

"Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì Danh Chúa, vì Nước Trời là của họ."

Lạy Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hòa Bình, xin chuyển cầu cho chúng con.

Xin Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp cầu bầu cùng Chú;a cho chúng con.

Amen.

 

Truyền thông HĐGMVN


Link xem trên Youtube: https://www.youtube.com/watch?v=LCMn1DIS3Uo


 

JULY 3, 2026: FEAST OF SAINT THOMAS, APOSTLE

 July 3, 2026

Feast of Saint Thomas, Apostle

Lectionary: 593

 


Reading 1

Ephesians 2:19-22

Brothers and sisters:
You are no longer strangers and sojourners,
but you are fellow citizens with the holy ones
and members of the household of God,
built upon the foundation of the Apostles and prophets,
with Christ Jesus himself as the capstone.
Through him the whole structure is held together
and grows into a temple sacred in the Lord;
in him you also are being built together
into a dwelling place of God in the Spirit.

 

Responsorial Psalm

Psalm 117:1bc, 2

R. (Mark 16:15) Go out to all the world and tell the Good News.
Praise the LORD, all you nations;
glorify him, all you peoples!
R. Go out to all the world and tell the Good News.
For steadfast is his kindness for us,
and the fidelity of the LORD endures forever.
R. Go out to all the world and tell the Good News.

 

Alleluia

John 20:29

R. Alleluia, alleluia.
You believe in me, Thomas, because you have seen me, says the Lord;
blessed are those who have not seen, but still believe!
R. Alleluia, alleluia.

 

Gospel

John 20:24-29

Thomas, called Didymus, one of the Twelve,
was not with them when Jesus came.
So the other disciples said to him, "We have seen the Lord."
But Thomas said to them,
"Unless I see the mark of the nails in his hands
and put my finger into the nailmarks
and put my hand into his side, I will not believe."
Now a week later his disciples were again inside
and Thomas was with them.
Jesus came, although the doors were locked,
and stood in their midst and said, "Peace be with you."
Then he said to Thomas, "Put your finger here and see my hands,
and bring your hand and put it into my side,
and do not be unbelieving, but believe."
Thomas answered and said to him, "My Lord and my God!"
Jesus said to him, "Have you come to believe because you have seen me?
Blessed are those who have not seen and have believed."

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/070326.cfm

 


Commentary on Ephesians 2:19-22; John 20:24-29

Today’s Gospel reading recalls the scene after Jesus’ resurrection when Jesus appeared to his disciples in the upper room. They first saw him on Easter Sunday, the day of the Resurrection, but for some reason, Thomas was not with them. When, later on, they told Thomas they had seen the Lord, he absolutely refused to believe them. He said that unless he saw with his own eyes the mark of the nails in Jesus’ hands and was able to put his hands into the wound in Jesus’ side, he would not believe.

Then, exactly a week later, when they were all gathered together again and Thomas was with them, Jesus suddenly appeared, although the doors were again locked. After giving them a greeting of peace, he immediately addressed Thomas:

Put your finger here and see my hands. Reach out your hand and put it in my side. Do not doubt but believe.

Thomas is clearly overwhelmed. He can only burst out:

My Lord and my God!

It is clearly a statement of deep faith. He is the only person in the Gospels to address Jesus directly as ‘God’. And it seems to have been made without his touching the body of his Risen Lord.

Jesus then says:

Have you believed because you have seen me? Blessed are those who have not seen and yet have come to believe.

Two comments can be made. First, Thomas in fact went beyond what he was seeing. He saw the Risen Jesus, but he addressed him as God. That was something which went beyond just seeing—it was a statement of faith.

Second, the rest of the statement is addressed to us. None of us has ever seen the Risen Jesus, but we firmly believe that he did rise from the dead and is in glory with the Father. It is on the basis of that act of faith that our Christian life is founded.

The First Reading from the Letter to the Ephesians reminds us that our membership in the Christian community is built on the foundation of the Apostles and prophets, with Jesus himself as the headstone. Thomas is part of that foundation. And it is through Jesus that the whole structure of the Christian community is held together and:

…grows into a holy temple in the Lord.

In the Risen Jesus, we:

…are built together spiritually into a dwelling place for God.

We, as Paul says elsewhere, are the Temple of the Lord, the Body of Christ, his visible presence on earth. This is both a huge privilege and a huge responsibility for each one of us. We remember that Jesus once said:

…whoever sees me sees him who sent me. (John 12:45)

But we also believe that whenever someone looks at us, they should also see Jesus. This is the faith that Jesus spoke of to Thomas. Are we really aware of this?

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0703r/

 

 


Friday, July 3, 2026

St. Thomas, Apostle

Opening Prayer

Father,

you call your children to walk in the light of Christ.

Free us from darkness and keep us in the radiance of your truth.

We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen.

Gospel Reading - John 20: 24-29

Thomas, called the Twin, who was one of the Twelve, was not with them when Jesus came. So the other disciples said to him, 'We have seen the Lord,' but he answered, 'Unless I can see the holes that the nails made in his hands and can put my finger into the holes they made, and unless I can put my hand into his side, I refuse to believe.'

Eight days later the disciples were in the house again and Thomas was with them. The doors were closed, but Jesus came in and stood among them. 'Peace be with you,' he said. Then he spoke to Thomas, 'Put your finger here; look, here are my hands. Give me your hand; put it into my side. Do not be unbelieving any more but believe.'

Thomas replied, 'My Lord and my God!' Jesus said to him: You believe because you can see me. Blessed are those who have not seen and yet believe.

Reflection

Today is the Feast of Saint Thomas and the Gospel speaks to us about the encounter of Jesus with Thomas, the apostle who wanted to see in order to believe. For this reason, many call him Thomas the incredulous. The message of this Gospel is very diverse. It is much more profound and actual.

           John 20: 24-25: The doubt of Thomas. Thomas, one of the twelve was not present when Jesus appeared to the disciples the week before. He did not believe in the witness of the others who said: “We have seen the Lord.” He gives some conditions: “Unless I can see the holes that the nails made in his hands and can put my finger into the holes they made, and unless I can put my hand into his side, I refuse to believe.” Thomas is very demanding. In order to believe he wants to see! He does not want a miracle in order to believe. No! He wants to see the signs on the hands, on the feet and on the side! He does not believe in the glorious Jesus, separated from the human Jesus who suffered on the Cross. When John writes, at the end of the first century, there were some persons who did not accept the coming of the Son of God in the flesh (2 Jn 7; 1 Jn 4: 2-3). They were the Gnostics who despised matter and the body. John presents this concern of Thomas to criticize the Gnostics: “To see in order to believe.” The doubt of Thomas also makes us see the difficulty of believing in the Resurrection!

           John 20: 26-27: Do not be unbelieving but believe. The text says “six days later.” That means that Thomas was capable of maintaining his opinion during a whole week against the witness of the other Apostles. Stubborn! Thank God, for us! Thus, six days later, during the community meeting, they once again had the profound experience of the presence of the risen Lord in their midst.

The closed doors could not prevent the presence of Jesus in the midst of those who believe in him. Today, it is also like this. When we are meeting, even when we are meeting with the doors closed, Jesus is in our midst. And up until today, the first word of Jesus is and will always be: “Peace be with you!” What impresses is the kindness of Jesus. He does not criticize, nor does he judge the unbelief of Thomas, but he accepts the challenge and says: “Thomas, put your finger in the hole of my hands!” Jesus confirms the conviction of Thomas and of the communities, that is, the glorious Risen One is the tortured crucified One! The Jesus who is in the community is not a glorious Jesus who has nothing in common with our life. He is the same Jesus who lived on this earth and on his body he has the signs of his Passion. The signs of the Passion are found today in the sufferings of people, in hunger, in the signs of torture, of injustice. And Jesus becomes present in our midst in the persons who react, who struggle for life and who do not allow themselves to be disheartened. Thomas believes in this Christ and so do we!

           John 20: 28-29: Blessed are those who have not seen and yet believe. Together with him we say: “My Lord and my God!” This gift of Thomas is the ideal attitude of faith. And Jesus completes with a final message: “You believe because you can see me. Blessed are those who have not seen and yet believe!” With this phrase, Jesus declares blessed all of us who find ourselves in the same condition: without having seen, we believe that Jesus, who is in our midst, is the same One who died crucified!

           The mandate: “As the Father sent me so I am sending you!” From this Jesus, who was crucified and rose from the dead, we receive the mission, the same one which he has received from the Father (Jn 20: 21). Here, in the second apparition, Jesus repeats: “Peace be with you!” This repetition stresses the importance of Peace. To construct peace forms part of the mission. Peace means much more than the absence of war. It means to construct a harmonious human living together in which persons can be themselves, having everything necessary to live, living happily together in peace. This was the mission of Jesus and also our own mission. Jesus breathed and said: “Receive the Holy Spirit” (Jn 20: 22). And with the help of the Holy Spirit we will be capable to fulfil the mission which he has entrusted to us. Then Jesus communicates the power to forgive sins: “If you forgive anyone’s sins, they are forgiven; if you retain anyone’s sins, they are retained!” The central point of the mission of peace is reconciliation, in the effort of trying to overcome barriers which separate us. This power of reconciling and of forgiving is given to the community (Jn 20: 23); Mt 18: 18). In the Gospel of Matthew, this power is also given to Peter (Mt 16: 19). Here we can perceive that a community without pardon and without reconciliation is not a Christian community. In one word, our mission is that of “forming community” according to the example of the community of the Father, of the Son and the Holy Spirit.

Personal Questions

           In society today the divergence and the tensions of race, social class, religion, gender and culture are enormous, and they continue to grow every day. How can the mission of reconciliation be carried out today?

           In your community and in your family is there some mustard seed, the sign of a reconciled society?

Concluding Prayer

Praise Yahweh, all nations, extol him, all peoples, for his faithful love is strong and his constancy never-ending. (Ps 117)

 

www.ocarm.org

 


Saint Thomas, Apostle

 

Thomas is listed in the Synoptic Gospels and in the Acts of the Apostles as one of the Twelve Apostles. His name in Aramaic, Te’oma, means ‘twin’, as does Didymus in Greek. What we know of Thomas comes mostly from the New Testament, although there are many other legends about him. He is mentioned just once in each of the Synoptic Gospels and always in the same context—as one of the Twelve Apostles chosen from among the disciples of Jesus. There is no other mention of him in these Gospels. He is also mentioned just once in the Acts of the Apostles, where he is simply listed among the Apostles who gather in the “upper room” immediately after the ascension of Jesus.

However, he is mentioned four times in John’s Gospel, where something of his character appears. He comes across as somewhat aggressive and argumentative. In chapter 11 of John’s Gospel, we are told that Jesus has just received word that his friend Lazarus, the brother of Mary and Martha, is seriously ill. But Jesus waits for two days before deciding to go to Bethany. The disciples are somewhat alarmed because there are people there who are threatening the life of Jesus, and so they try to dissuade him from going. But when it is clear that Jesus has made up his mind, Thomas says to his companions:

Let us also go, that we may die with him.

Was it just bravado or was it a statement of loyalty? Perhaps it was something of both.

Later, during the Last Supper, when Jesus speaks of leaving his disciples, but also says that he will come back to take them to himself, Jesus continues:

And you know the way to the place where I am going.

It is then that Thomas indignantly blurts out,

Lord, we do not know where you are going. How can we know the way?

And we can be thankful to Thomas for eliciting one of Jesus’ most beautiful and meaningful statements:

I am the way and the truth and the life…

We next meet Thomas in chapter 20 of John’s Gospel. Jesus is risen. He has already appeared to his disciples on Easter Sunday, but Thomas is not there and, when told of the meeting, refuses to believe.

Unless I see the mark of the nails in his hands and put my finger in the mark of the nails and my hand in his side, I will not believe.

On the following Sunday, Jesus appears again and tells Thomas to examine his hands and put his own hands in Jesus’ side:

Do not doubt but believe.

Again, the impulsive Thomas goes to the other extreme. He falls to his knees and exclaims:

My Lord and my God!

He is the only person in the Gospel to address Jesus as ‘God’. It was an expression of deep faith.

Thomas’ last appearance in this Gospel is in the final chapter when we are told that seven disciples, after the Resurrection, went fishing on the Sea of Galilee. Of the five disciples named, one is Thomas the Twin.

Apart from the Gospel narrative, there are many legends about Thomas. For instance, there is one that he was the only witness to the Assumption of Mary and that as she rose heavenwards she dropped her ‘girdle’—a knotted textile cord used as a belt. This story was frequently depicted in the art of Florence and the supposed original girdle is a relic belonging to Prato Cathedral in Tuscany.

There is also long tradition in Edessa, Mesopotamia, that Thomas was the Apostle of India. It is said that Thomas’ bones were brought from India to Edessa. The local church of Kerala State in South India has a tradition that Thomas sailed there to spread the Christian faith.

According to tradition, Thomas landed in Kodungallur in AD 52, in the company of a Jewish merchant, named Hebban. There were Jewish colonies in Kodungallur since ancient times, and Jews continue to reside in Kerala, tracing their ancient history. In the 13th century, Marco Polo, who visited South India, mentions the Syrian Christians of Quilon and also refers to a tomb of Thomas, confirming the tradition that Thomas died in South India.

While exploring the Malabar coast of Kerala, South India, after Vasco da Gama’s arrival in Calicut (now Kozhikode) in 1498, the Portuguese encountered Christians in South Western India, who traced their foundations to Thomas. On the isolated island of Socotra south of Yemen in the Arabian Sea, a community of Christians had been attested as early as 354 AD. They survived to be documented in 1542 by Saint Francis Xavier, and told him that their ancestors had been evangelized by Thomas. Francis Xavier was careful to station four Jesuits to guide the faithful in Socotra into orthodoxy. An attempt was made by the Portuguese in the 16th century to trace the original tomb of Thomas.

Finally, they settled on Mylapore, near Madras (Chennai) in south India, as the site of his martyrdom. Near Chennai stands a small hill called St Thomas Mount, where the Apostle is said to have been killed in 72 AD. Also to be found in Chennai is the Diocese of Saint Thomas of Mylapore to which his mortal remains were supposedly transferred.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0703s/

 

 

03.07.2026: THỨ SÁU TUẦN XIII THƯỜNG NIÊN - THÁNH TÔ-MA, TÔNG ĐỒ - LỄ KÍNH

 03/07/2026

Thứ Sáu đầu tháng, tuần 13 thường niên

 Thánh TÔMA, TÔNG ĐỒ.

 Lễ kính

 


* Vào lúc Đức Giêsu chịu thương khó và phục sinh, khuôn mặt của thánh Tôma nổi bật. Trong bữa ăn tối, đáp lại thắc mắc của Tôma, Đức Giêsu nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Khi nghe nói Đức Giêsu đã phục sinh, vị tông đồ này không tin ngay. Mãi tới lúc Đức Giêsu cho Tôma thấy tay và cạnh sườn bị đâm thủng, Tôma mới tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20,28).

Theo truyền khẩu thì thánh nhân đã đi loan báo Tin Mừng cho dân Ấn Độ. Từ thế kỷ 4, người ta mừng ngày rước hài cốt của ngài về Ê-đét-xa, tức là ngày 3 tháng 7.

 

Bài Ðọc I: Ep 2, 19-22

“Anh em được xây dựng trên nền tảng các tông đồ”.

Trích thư Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, anh em không còn là khách trọ và khách qua đường nữa, nhưng là người đồng hương với các Thánh và là người nhà của Thiên Chúa: anh em đã được xây dựng trên nền tảng các Tông đồ và các Tiên tri, có chính Ðức Giê-su Ki-tô làm Ðá góc tường. Trong Người, tất cả toà nhà được xây dựng cao lên thành đền thánh trong Chúa, trong Người, cả anh em cũng được xây dựng làm một với nhau, để trở thành nơi Thiên Chúa ngự trong Thánh Thần.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 116, 1. 2

Ðáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian

Xướng: Hỡi muôn dân, hãy ngợi khen Chúa! Hỡi ngàn dân, hãy ca tụng Người. – Ðáp.

Xướng: Vì lòng từ bi Người vững bền trên chúng ta, và lòng trung kiên Người tồn tại đến muôn đời. – Ðáp.

 

Alleluia: Ga 20, 29

Alleluia, alleluia! – Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 20, 24-29

“Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!”

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Gio-an.

Bấy giờ trong Mười Hai Tông đồ, có ông Tô-ma gọi là Ði-đy-mô, không ở cùng với các ông, khi Chúa Giê-su hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa”. Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi không tin”. Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà, và có Tô-ma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giê-su hiện đến đứng giữa mà phán: “Bình an cho các con”. Ðoạn Người nói với Tô-ma: “Hãy xỏ ngón tay vào đây và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”. Tô-ma thưa rằng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Chúa Giê-su nói với ông: “Tô-ma, vì con đã thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”.

Ðó là lời Chúa.

 

 




Chú giải về Ê-phê-sô 2,19-22; Gioan 20,24-29

Bài đọc Tin Mừng hôm nay thuật lại cảnh tượng sau khi Chúa Giê-su phục sinh, khi Ngài hiện ra với các môn đệ trong phòng trên lầu. Họ lần đầu tiên thấy Ngài vào Chúa nhật Phục Sinh, ngày Phục Sinh, nhưng vì lý do nào đó, Tô-ma không có mặt cùng họ. Sau đó, khi họ nói với Tô-ma rằng họ đã thấy Chúa, ông hoàn toàn không tin. Ông nói rằng trừ khi ông tận mắt nhìn thấy dấu đinh trên tay Chúa Giê-su và có thể đặt tay vào vết thương bên sườn Chúa Giê-su, ông sẽ không tin.

Rồi, đúng một tuần sau, khi tất cả họ lại tụ họp và Tô-ma có mặt cùng họ, Chúa Giê-su đột nhiên hiện ra, mặc dù các cửa lại bị khóa. Sau khi chào hỏi bình an, Ngài lập tức nói với Tô-ma:

Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây và xem tay Ta. Hãy đưa tay ngươi ra và đặt vào bên sườn Ta. Đừng nghi ngờ, nhưng hãy tin.

Tô-ma rõ ràng rất xúc động. Ông chỉ có thể thốt lên:

Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!

Đó rõ ràng là một lời tuyên bố về đức tin sâu sắc. Ông là người duy nhất trong các sách Phúc Âm gọi Chúa Giêsu trực tiếp là “Thiên Chúa”. Và dường như điều đó được thực hiện mà không cần ông chạm vào thi thể của Chúa Phục Sinh.

Chúa Giêsu sau đó nói:

Các ngươi tin vì đã thấy Ta chăng? Phúc cho những ai không thấy mà tin.

Có thể đưa ra hai nhận xét. Thứ nhất, Tôma thực sự đã vượt ra ngoài những gì ông nhìn thấy. Ông đã thấy Chúa Giêsu Phục Sinh, nhưng ông đã gọi Ngài là Thiên Chúa. Đó là điều vượt ra ngoài việc chỉ nhìn thấy—đó là một lời tuyên xưng đức tin.

Thứ hai, phần còn lại của lời tuyên xưng đó dành cho chúng ta. Không ai trong chúng ta từng thấy Chúa Giêsu Phục Sinh, nhưng chúng ta tin chắc rằng Ngài đã sống lại từ cõi chết và đang ở trong vinh quang với Chúa Cha. Chính trên cơ sở hành động đức tin đó mà đời sống Kitô giáo của chúng ta được xây dựng.

Bài đọc thứ nhất từ ​​Thư gửi tín hữu Êphêsô nhắc nhở chúng ta rằng tư cách thành viên của chúng ta trong cộng đồng Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng của các Tông đồ và các tiên tri, với chính Chúa Giêsu là viên đá đầu. Tôma là một phần của nền tảng đó. Và chính nhờ Chúa Giê-su mà toàn bộ cấu trúc của cộng đồng Kitô giáo được giữ vững và:

…phát triển thành một đền thờ thánh trong Chúa.

Trong Chúa Giê-su Phục Sinh, chúng ta:

…được xây dựng cùng nhau về mặt tâm linh thành một nơi ở cho Đức Chúa Trời.

Chúng ta, như Phao-lô nói ở một nơi khác, là Đền thờ của Chúa, là Thân thể của Đấng Ki-tô, là sự hiện diện hữu hình của Ngài trên đất. Đây vừa là một đặc ân to lớn vừa là một trách nhiệm to lớn đối với mỗi người chúng ta. Chúng ta nhớ rằng Chúa Giê-su đã từng nói:

…ai thấy Ta thì thấy Đấng đã sai Ta đến. (Gioan 12,45)

Nhưng chúng ta cũng tin rằng bất cứ khi nào ai đó nhìn chúng ta, họ cũng nên thấy Chúa Giê-su. Đây là đức tin mà Chúa Giê-su đã nói với Tô-ma. Chúng ta có thực sự nhận thức được điều này không?

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0703r/

 

 


Vị tiên tri cô độc  

Người Ấn Ðộ có kể lại câu chuyện ngụ ngôn sau đây:

“Vì tội lỗi của loài người, Thượng đế doạ sẽ trừng trị họ bằng một trận động đất. Ðất sẽ nứt nẻ và nước sẽ rút hết vào trong lòng đất... Một thứ nước độc sẽ tràn ngập mặt đất. Ai uống vào sẽ trở nên bất bình thường.

Một vị tiên tri nọ đã không xem thường lời đe doạ của Thượng đế. Ông chuẩn bị đương đầu với biến cố bằng cách từng ngày đem nước lên một ngọn núi cao. Số nước dự trữ đủ cho ông sống đến ngày tàn của cuộc đời...

Ðộng đất đã xảy đến, bao nhiêu sông nước trên mặt đất đều bốc hơi, một thứ nước khác được thay thế vào.

Một tháng sau, vị tiên tri trở lại đất bằng để xem những gì đang xảy ra cho loài người. Ðúng như lời đe doạ của Thượng đế, mọi người sống trên mặt đất đều hoá ra điên dại. Nhưng kỳ lạ thay, loài người không ý thức được tình trạng điên dại của mình. Trái lại, ai cũng muốn ra đường để chế diễu vị tiên tri vì họ cho rằng ông mới là người điên dại...

Buồn tình, vị tiên tri trở lại chốn núi cao của mình. Ông sung sướng vì nước dự trữ vẫn còn và ông vẫn là người duy nhất còn có một tâm trí lành mạnh, bình thường...

Nhưng ngày qua ngày, ông cảm thấy không chịu nổi sự cô đơn của mình. Ông khao khát được sống một cách bình thường với những người đồng loại. Thế là một lần nữa, ông trở lại đồng bằng. Và một lần nữa, ông lại bị dân chúng ruồng rẫy, vì họ cho rằng ông không còn giống họ nữa.

Không còn chịu được sự hắt hủi của những người đồng loại, vị tiên tri đã đổ hết số nước dự trữ của mình và ông uống lấy nước mới của người đồng loại để cũng trở nên điên dại như họ...”

Con đường dẫn đến chân lý không phải là con đường rộng thênh thang. Người đi tìm chân lý thường là người cô độc...

Hôm nay chúng ta kính nhớ thánh tông đồ Toma. Ai cũng biết lời bất hủ của Toma khi tuyên bố về sự sống lại của Chúa: Nếu tôi không xỏ tay tôi vào lỗ đinh và cạnh sườn Ngài, tôi không tin... Theo phương pháp khoa học, nhiều người đã lấy câu nói của Toma làm châm ngôn cho việc đi tìm chân lý. Nghĩa là, nếu tôi không kiểm chứng được, nếu tôi không sờ mó được, tôi không chấp nhận điều đó là đúng...

Thái độ đó chưa hẳn là thái độ thực tiễn trong cuộc sống. Giá trị cao cả nhất trong cuộc sống: đó là sự tin tưởng, tín nhiệm đối với người khác. Ðau yếu, chúng ta đi mua thuốc, chúng ta buộc phải tin tưởng ở người bán thuốc. Lạc đường, chúng ta buộc phải tin tưởng ở lòng thành thật của người chỉ lối...

Thái độ đó càng đúng hơn trong lĩnh vực Ðức Tin... Chúng ta tin vào sự sống lại của Chúa Giêsu không phải vì chúng ta đã thấy Người hiện ra, nhưng chỉ vì lời chứng của các tông đồ, của các tiền nhân... Một thái độ như thế đòi hỏi rất nhiều phấn đấu của lý trí. Lắm khi, chúng ta chỉ là một thiểu số cô độc.

Chúng ta dễ dàng rơi vào nỗi cô độc của những người đang đi tìm chân lý. Người Kitô thường phải đi ngược dòng. Ðiều người đời cho là bất bình thường, có lẽ phải là cái bình thường đối với người Kitô. Ðiều người đời cho là yếu nhược, có khi phải là sức mạnh của người Kitô. Ðiều người đời cho là điên dại, có khi phải là lẽ khôn ngoan của người Kitô.

‘Mỗi Ngày Một Tin Vui'

 




 

Ngày 3/7: Thánh Tô-ma tông đồ

Lễ kính

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Tại Tây Phương, từ các thế kỷ VII – VIII, Lễ Thánh Tôma Tông Đồ được kính vào ngày 21 tháng Mười Hai. Nhưng rồi đã được đổi sang ngày 3 tháng Bảy, và từ nay trùng với ngày chuyển hài cốt của thanh nhân về Edesse. Đây cũng là ngày lễ kính trọng thể của các giáo dân, theo nghi lễ Syro-madabar ở Ấn Độ (họ vẫn tự coi là con cái thiêng liêng của Thánh Tôma), và của nghi lễ Syro Phương Tây.

Vị Tông Đồ mà các sách Phúc Âm gọi một cách đơn sơ là Tôma (Mt 10, 9; Mc 3, 18; Lc 6, 15; Cv 1, 13) thì Thánh Gioan gọi tên là Điđymô Song Sinh (11, 16; 20, 24) và ta thấy Người đóng vai trò quan trọng (14, 5; 20, 24-29; 21, 2). Truyền thống Antiochia, về cuộc đời truyền giáo của Người ở Ba Tư, nhất là ở Ấn Độ, xuất phát từ các văn bản ngụy kinh trong đó có lẽ chứa đựng vài yếu tố lịch sử.

2. Thông điệp và tính thời sự

Các lời nguyện cũng như các điệp ca và ca vãn của phụng vụ giờ kinh nhìn Thánh Tôma dưới ánh sáng Phúc Âm.

Lời nguyện của ngày và điệp ca hiệp lễ nhắc lại mẩu chuyện Phúc Âm, trong đó, Thánh Tôma công nhận Đức Giêsu là Chúa (Ga 20, 24-27). Vị tông đồ cứng lòng tin đã phải công nhận bằng một lời tuyên xưng niềm tin nối kết hai tước vị Chúa và Thiên Chúa.

Lời nguyện sau hiệp lễ, cũng như ca vãn giờ kinh, cầu xin Chúa Cha, cho chúng ta “cùng với Thánh Tông đồ Tôma, biết tuyên xưng Người là Chúa và là Thiên Chúa” chúng ta. Niềm tin chúng ta vào sự phục sinh là vững chắc, và được dựa trên kinh nghiệm của các tông đồ, những kẻ đã tận mắt thấy và tận tay chạm vào Ngôi Lời của sự sống (xem 1 Ga 1, 1) và đã thấy Người sống lại.

Thánh Grêgoriô Cả mà Bài đọc trích dẫn có tuyên bố: “Câu nói, Phúc cho ai không thấy mà tin, thực sự đem lại cho chúng ta vui mừng. Vì câu nói đó chính để nói về chúng ta, những người bám víu bằng tinh thần vào Đấng mà chúng ta không thấy bằng xác thể” (xem điệp ca bài Ca vinh Giacaria).

Điệp ca thứ nhất giờ kinh mai, nhắc tới một khía cạnh khác trong nhân cách của Thánh Tôma: tính cách duy lý, bởi vì, trong bữa tiệc ly, Tôma đã thưa với Thầy: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao có thể biết được đường Thầy đi là đường nào?”

Enzo Lodi

 

 

 

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

JULY 2, 2026: THURSDAY OF THE THIRTEENTH WEEK IN ORDINARY TIME

 July 2, 2026

Thursday of the Thirteenth Week in Ordinary Time

Lectionary: 380

 


Reading 1

Amos 7:10-17

Amaziah, the priest of Bethel, sent word to Jeroboam,
king of Israel:
"Amos has conspired against you here within Israel;
the country cannot endure all his words.
For this is what Amos says:
Jeroboam shall die by the sword,
and Israel shall surely be exiled from its land."

To Amos, Amaziah said:
"Off with you, visionary, flee to the land of Judah!
There earn your bread by prophesying,
but never again prophesy in Bethel;
for it is the king's sanctuary and a royal temple."
Amos answered Amaziah, "I was no prophet,
nor have I belonged to a company of prophets;
I was a shepherd and a dresser of sycamores.
The LORD took me from following the flock, and said to me,
'Go, prophesy to my people Israel.'
Now hear the word of the LORD!"

You say: prophesy not against Israel,
preach not against the house of Isaac.
Now thus says the LORD:
Your wife shall be made a harlot in the city,
and your sons and daughters shall fall by the sword;
Your land shall be divided by measuring line,
and you yourself shall die in an unclean land;
Israel shall be exiled far from its land.
 

Responsorial Psalm

Psalm 19:8, 9, 10, 11

R. (10cd) The judgments of the Lord are true, and all of them are just.
The law of the LORD is perfect,
refreshing the soul;
The decree of the LORD is trustworthy,
giving wisdom to the simple.
R. The judgments of the Lord are true, and all of them are just.
The precepts of the LORD are right,
rejoicing the heart;
The command of the LORD is clear,
enlightening the eye.
R. The judgments of the Lord are true, and all of them are just.
The fear of the LORD is pure,
enduring forever;
The ordinances of the LORD are true,
all of them just.
R. The judgments of the Lord are true, and all of them are just.
They are more precious than gold,
than a heap of purest gold;
Sweeter also than syrup
or honey from the comb.
R. The judgments of the Lord are true, and all of them are just.
 

Alleluia

2 Corinthians 5:19

R. Alleluia, alleluia.
God was reconciling the world to himself in Christ
and entrusting to us the message of reconciliation.
R. Alleluia, alleluia.
 

Gospel

Matthew 9:1-8

After entering a boat, Jesus made the crossing, and came into his own town.
And there people brought to him a paralytic lying on a stretcher.
When Jesus saw their faith, he said to the paralytic,
"Courage, child, your sins are forgiven."
At that, some of the scribes said to themselves,
"This man is blaspheming."
Jesus knew what they were thinking, and said,
"Why do you harbor evil thoughts?
Which is easier, to say, 'Your sins are forgiven,'
or to say, 'Rise and walk'?
But that you may know that the Son of Man
has authority on earth to forgive sins"–
he then said to the paralytic,
"Rise, pick up your stretcher, and go home."
He rose and went home.
When the crowds saw this they were struck with awe
and glorified God who had given such authority to men.

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/070226.cfm

 

 


Commentary on Amos 7:10-17

Today we see Amos expelled from the sanctuary of
Bethel, which, as mentioned, was in Israel, the Northern Kingdom. The reading begins with Amaziah, the priest at Bethel, telling Jeroboam, king of Israel, about the things Amos has been saying against the king:

Jeroboam shall die by the sword,
and Israel must go into exile
away from his land.

By “Jeroboam”, he means the royal house, where the king’s name also represents the dynasty. In fact, Jeroboam will die a natural death (2 Kings 14:29), but his son and successor Zechariah will be assassinated (2 Kings 15:8,10).

By any standards, these would be regarded as treasonable words and they were seen as such. The fact that they would be proved true was not relevant at this time. And, as far as Amos was concerned, he was simply transmitting words of warning from God to his people.

Amaziah, the priest, who comes across as someone more interested in his personal position and career with the king than in the service of God, is determined to get rid of this trouble-maker.

The contempt that Amaziah feels for Amos is clear:

O seer, go, flee away to the land of Judah, earn your bread there…

Amos is never again to prophesy in the shrine at Bethel, which Amaziah describes as the king’s sanctuary and a royal temple. Amaziah’s allegiance is to the King of Samaria rather than to Israel’s heavenly King. Amos is dismissed as a prophet for hire who need not be taken seriously.

Amos, however, makes no claims to being a member of a school of ‘professional’ prophets. He is neither a prophet nor a prophet’s son. He denies any connection with any school of prophets or their disciples. No one had hired him to announce judgement against Jeroboam and Israel.

He says that he was a simple shepherd (although the unusual Hebrew word used could mean he tended cattle also) and a “dresser of sycamore trees”. The “sycamore” here was a large tree which bore a fig-like fruit and also provided good timber. In order to ensure a good crop, the gardener had to slit the top of each fig and this is presumably implied by the rare word “dresser” of sycamores.

Amos says:

…the Lord took me from following the flock, and the Lord said to me, ‘Go, prophesy to my people Israel.’

If Amos was prophesying, it was simply in response to instructions which God had given him. He has been made a different kind of shepherd for a flock that is straying far from the Lord.

Amos then proceeds to utter a savage prophecy against the priest Amaziah, even though Amaziah had told Amos not to prophesy (which was, in fact, telling the prophet to disobey God). There are four points in his prophecy:

  1. Amaziah will be exiled to gentile, “unclean” and idolatrous territory where his ceremonial purity as a priest will be defiled;
  2. his sons and daughters will be slaughtered;
  3. he will lose his family estate;
  4. his wife will be reduced to prostitution in order to survive.

And he repeats again the prophecy he had made earlier: the people of Israel will be driven into exile, repeating exactly the words Amaziah had attributed to Amos at the beginning of the reading. All of these things, of course, took place.

The reading epitomises the challenging but indispensable role of the prophet. His responsibility is to speak out clearly the truths he sees, however unpalatable they may be. He is bound to arouse hostility against himself by those who do not want to hear what he has to say. Yet prophets are absolutely essential; we need them, even if we do not like their messages.

There is a distinguished line of prophets in the Old Testament, of whom Amos is an excellent example. But there are also prophets in the New Testament. Jesus was a prophet, as was John the Baptist (although usually regarded as the last of the Old Testament prophets). Both died because of the messages they gave in word and deed.

The letters of Paul rank ‘prophets’ very high in the list of charisms in the Church—immediately after ‘apostles‘:

Now you are the body of Christ and individually members of it. And God has appointed in the church first apostles, second prophets… (1 Cor 12:27-28)

Down the centuries there has, thankfully, been a long list of prophets, some of whom fell victims of the Church itself. Even some of those regarded as heretics were prophets in their own way and, while much of what they said was regarded as not in harmony with tradition, they often forced the Church into changing direction. Without Luther and the other Protestant reformers would there have been a Council of Trent? Would there have been a Counter-Reformation?

The Second Vatican Council, too, produced many prophetic voices which led to insights not dreamed of by its first organisers. One example was Bishop Helder Camrara of Recife in Brazil. He was once credited with saying: “When I give help to the poor, people call me a saint; when I ask why they are poor, they call me a Communist.” Bishop Camara was a prophet.

In our recent past, one thinks, too, of Bishop Oscar Romero, martyred in El Salvador, or of the martyred Baptist pastor, Martin Luther King, Jr. In one case, a prophetic voice for the downtrodden poor and, in the other, a voice demanding equality for the black people of the United States.

Who are the prophets in our Christian communities today? Do we recognise them? Do we listen to them? May we have many more of them.

Comments Off

 


Commentary on Matthew 9:1-8

After the cure of the two demoniacs (see the Gospel passage from Wednesday of Week 13 of Ordinary Time), Jesus and his disciples now re-cross the lake and come into his own town. This refers not to Nazareth, but to Capernaum, which is the centre out of which he operates in Galilee. As usual with Matthew, he just gives the bare bones of a story which is told in a much more interesting way by Mark (2:1-12). Matthew concentrates on what Jesus says and does—he leaves out the details.

Some people brought a paralysed man lying on a mat to Jesus. Moved by their faith in him, Jesus says to the man,

Take heart, child; your sins are forgiven.

In Mark’s version the degree of the man’s faith is indicated by his being carried up on to the roof of the house by some friends and being let down through the roof at the feet of Jesus. Matthew says nothing about this.

The man was probably not expecting to hear Jesus mention his sins. As far as he was concerned, that was not the reason he had come to Jesus. Some scribes nearby were surprised too and even shocked. They were thinking:

This man is blaspheming.

Fully aware of what they were thinking, Jesus asked them:

For which is easier: to say, ‘Your sins are forgiven,’ or to say, ‘Stand up and walk’?

Obviously, it is much easier to say, “Your sins are forgiven.” How can you know if it has taken place? But Jesus goes on:

But so that you may know that the Son of Man has authority on earth to forgive sins—he then said to the paralytic—“Stand up, take your bed, and go to your home.”

And the man did just that: he rolled up his mat and walked out of the house to his home.

The people around were awestruck and praised God for giving such authority to human beings. They did not yet fully recognise the identity of Jesus, but they did realise that God was acting before their very eyes. The scribes for their part were reduced to silence. Matthew’s use of the word ‘men’ seems to point to the power of Jesus being passed on to his followers—his power to heal and to forgive.

To understand this story we need to be aware of the close links that the people of the time saw between sickness and sin. Sickness, especially a chronic sickness, was often seen as a punishment for sin, either the sin of the person himself or of a parent. We remember, in John’s Gospel, how the people asked Jesus if the man was born blind because of his own sin or the sin of his parents (John 9:2). Similarly, after Jesus had healed a man crippled for 38 years, he told him not to sin again, for fear something worse might befall him (John 5:14).

In telling the paralysed man that his sins were forgiven, Jesus was going to the root of his problem. We can probably say that sin in some form or other is at the root of all our problems. Jesus had been challenged for telling the man his sins were forgiven. To prove that he had the power to do this, he cured the man’s paralysis, which, in the minds of the onlookers, was the result of his sin. If there was no more paralysis, which was caused by sin, then the sin had been taken away too.

Nowadays, we do not see something like paralysis or a disability as a punishment from God—we do not believe that God works like that. On the other hand, it is likely that many health problems which we have can be linked with a disharmony in our lives arising from a conflict between what we are truly meant to be and what we tend to be. We refer to some sicknesses as ‘dis-eases’. They are the result of harmful stress when we are out of harmony with ourselves, with other people and with our environment. In that sense, we can see a clear link between sin and sickness.

Perhaps if we looked at our own lives we might see that some of our physical and mental ailments are due to a lack of harmony between God and others and our surroundings. Let’s think about that today.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2135g/

 

 


Thursday, July 2, 2026

Ordinary Time

Opening Prayer

Father, you call your children to walk in the light of Christ.

Free us from darkness and keep us in the radiance of your truth.

We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen.

Gospel Reading - Matthew 9: 1-8

Jesus got back in the boat, crossed the water and came to his hometown. And suddenly some people brought him a paralytic stretched out on a bed. Seeing their faith, Jesus said to the paralytic, 'Take comfort, my child, your sins are forgiven.'

And now some scribes said to themselves, 'This man is being blasphemous.' Knowing what was in their minds Jesus said, 'Why do you have such wicked thoughts in your hearts? Now, which of these is easier: to say, "Your sins are forgiven," or to say, "Get up and walk"? But to prove to you that the Son of man has authority on earth to forgive sins,' -- then he said to the paralytic-'get up, pick up your bed and go off home.'

And the man got up and went home. A feeling of awe came over the crowd when they saw this, and they praised God for having given such authority to human beings.

Reflection

           The extraordinary authority of Jesus. To the reader, Jesus appears as a person invested with extraordinary authority, by means of the words and actions (Mt 9: 6, 8). The authoritative word of Jesus strikes evil at its root: in the case of the paralytic man on sin that affects the man in his liberty and blocks him in his living forces: “Your sins are forgiven” (v. 5); “Get up pick up your bed and go off home” (v. 6). Truly all the form of paralysis of the heart and the mind to which we are subject are cancelled by the authority of Jesus (9: 6), because during his life on earth he met all these forms. The authoritative and effective word of Jesus awakens the paralyzed humanity (9: 5-7) and gives it the gift of walking (9: 6) in a renewed faith

           The encounter with the paralytic. After the storm and a visit in the country of the Gadarenes, Jesus returns to Capernaum, his city. And as he was on his way, he met the paralytic. The healing did not take place in a house, but along the road. Therefore, along the road that leads to Capernaum they brought him a paralytic man. Jesus addresses him calling him “my son,” a gesture of attention that soon becomes a gesture of salvation: “your sins are forgiven you” (v. 2) The forgiveness of sins which Jesus pronounces on the part of God on the paralytic refers to the bond between sickness, failure and sin. This is the first time that the evangelist attributes this particular divine power to Jesus, in an explicit way. For the Jews the sickness of a man was considered a punishment because of sins committed; The physical illness was considered always as a consequence of one’s own moral evil or due to parents (Jn 9: 2). Jesus restores to man the condition of salvation freeing him from illness as well as from sin.

           For some of those who were present, for the Scribes, the words of Jesus which announce forgiveness of sins is a true and proper blasphemy. According to them Jesus is arrogant because God alone can forgive sins. They do not manifest openly such a judgment of Jesus but express it by murmuring among themselves. Jesus who penetrates their hearts sees their considerations and reproves them because of their unbelief. The expression of Jesus “To prove to you that the Son of man has authority on earth to forgive sins...” (v. 6) he is going to indicate that not only God can forgive sins, but with Jesus, also man (Gnilka).

           The crowd, differently from the Scribes, is seized by fear before the cure of the paralytic and glorifies God. The crowd is struck by the power to forgive sins manifested in the healing. People exult because God has granted such a power to the Son of man. Is it possible to attribute this to the ecclesial community where forgiveness of sins was granted on the order of Jesus? Matthew has presented this episode on forgiveness of sins with the intention of applying it to fraternal relationships within the ecclesial community. In it the practice to forgive sins, by delegation of Jesus, was already in force; a practice which was not shared in the Synagogue. The theme of forgiveness of sins is repeated also in Mt 18 and at the end of the Gospel it is affirmed that this is rooted in the death of Jesus on the Cross (26, 28). But in our context the forgiveness of sins is linked with the demand of mercy present in the episode which follows, the vocation of Matthew: «…mercy is what pleases me, not sacrifice. And indeed, I came to call not the upright but sinners” (Mt 9: 13). Such words of Jesus intend to say that He has made visible the forgiveness of God; above all, in his relationships with the Publicans or tax collectors and sinners, in sitting at table with them.

           This account that takes up again the problem of sin and reminds of the bond with the misery of man is something to be practiced in the forgiveness which should be given, but it is a story that should occupy a privileged place in the preaching of our ecclesial communities.

Personal Questions

           Are you convinced that Jesus, called the friend of sinners, does not despise your weaknesses and your resistance, but he understands and offers you the necessary help to live a life in harmony with God and with the brothers and sisters?

           When you make the experience of betraying or refusing friendship with God do you have recourse to the Sacrament of reconciliation that reconciles you with the Father and with the Church and makes you a new creature by the force of the Holy Spirit?

Concluding Prayer

The precepts of Yahweh are honest, joy for the heart; the commandment of Yahweh is pure, light for the eyes. (Ps 19: 8)

 

www.ocarm.org

 

02.07.2026: THỨ NĂM TUẦN XIII THƯỜNG NIÊN

 02/07/2026

 Thứ Năm đầu tháng, tuần 13 thường niên. 

 


Bài Ðọc I: (Năm II) Am 7, 10-17

Ngươi hãy đi nói tiên tri cho dân Ta”.

Trích sách Tiên tri Amos.

Trong những ngày ấy, một vị tư tế ở Bêthel, là Amasia, sai người đến với Giêrôbôam, vua Israel, mà thưa rằng: “Amos đã nổi loạn chống đức vua, ngay trong nhà Israel, xứ sở không chịu nghe các lời của y”. Vì đây, Amos nói rằng: “Giêrôbôam sẽ chết vì gươm, và dân Israel sẽ bị đày xa xứ sở”.

Và Amasia đã nói với Amos: “Hỡi nhà tiên tri, hãy trốn sang đất Giuđa mà kiếm ăn và nói tiên tri. Ðừng ở Bêthel mà tiếp tục nói tiên tri nữa. Vì đây là nơi thánh của vua, là đền thờ của vương quốc”. Nhưng Amos trả lời Amasia rằng: “Tôi không phải là tiên tri, cũng không phải con của tiên tri: nhưng tôi là một mục tử, chuyên trồng cây sung. Chúa đã bắt tôi khi tôi đi theo đoàn vật, và Chúa bảo tôi: “Ngươi hãy đi nói tiên tri cho dân Israel của Ta”. Và này, hãy nghe lời Chúa phán: “Người bảo: Chớ nói tiên tri chống lại Israel, chớ chỉ trích dòng họ kẻ theo dị thần”. Chính vì thế mà Chúa phán như sau: “Vợ ngươi sẽ gian dâm trong thành phố. Con trai con gái ngươi sẽ gục ngã dưới lưỡi gươm. Ruộng vườn ngươi sẽ bị phân tán. Chính ngươi, ngươi sẽ chết trên đất nhơ nhớp, và dân Israel sẽ bị đày ải xa quê hương mình”.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 18, 8. 9. 10. 11

Ðáp: Phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy (c. 10b).

Xướng: Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. – Ðáp.

Xướng: Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. – Ðáp.

Xướng: Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy. – Ðáp.

Xướng: Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng; ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy tự tàng ong. – Ðáp.

 

Alleluia: Ga 8, 12

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống”. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 9, 1-8

“Họ tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người quyền năng như thế”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền, vượt biển mà về thành của Người. Bấy giờ người ta đem đến cho Người một kẻ bất toại nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: “Hỡi con, con hãy vững tin, tội con được tha rồi”. Bấy giờ mấy luật sĩ nghĩ thầm rằng: “Ông này nói phạm thượng”. Chúa Giêsu biết ý nghĩ của họ liền nói: “Tại sao các ngươi suy tưởng những sự xấu trong lòng? Bảo rằng “Tội con được tha rồi”, hay nói “Hãy chỗi dậy mà đi”, đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ngươi biết rằng trên đời này Con Người có quyền tha tội”. Bấy giờ Người nói với người bất toại: “Con hãy chỗi dậy, vác giường mà về nhà con”. Người ấy chỗi dậy và đi về nhà. Thấy vậy dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người quyền năng như thế.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về A-mốt 7,10-17

Hôm nay chúng ta thấy A-mốt bị đuổi khỏi đền thờ ở Bết-Ên, như đã đề cập, thuộc về Ít-ra-en, Vương quốc phía Bắc. Đoạn Kinh Thánh bắt đầu với việc A-mát-gia, thầy tế lễ ở Bết-Ên, nói với Gia-róp-am, vua Ít-ra-en, về những điều A-mốt đã nói chống lại nhà vua:

Gia-róp-am sẽ chết bởi gươm,

Ít-ra-en phải đi lưu đày

xa khỏi đất nước của mình.

Từ “Gia-róp-am” mà ông dùng là hoàng tộc, tên của nhà vua cũng đại diện cho triều đại. Thực tế, Gia-róp-am sẽ chết một cách tự nhiên (2 Vua 14,29), nhưng con trai và người kế vị của ông là Dơ-khác-gia sẽ bị ám sát (2 Vua 15,8. 10).

Theo bất kỳ tiêu chuẩn nào, những lời này đều được coi là lời phản quốc và chúng đã được nhìn nhận như vậy. Việc chúng có được chứng minh là đúng hay không không quan trọng vào thời điểm này. Và, đối với A-mốt, ông chỉ đơn giản là truyền đạt lời cảnh báo từ Chúa đến dân mình. A-mát-gia, vị tư tế, người dường như quan tâm đến địa vị và sự nghiệp cá nhân với nhà vua hơn là phụng sự Chúa, quyết tâm loại bỏ kẻ gây rối này.

Sự khinh miệt mà A-mát-gia dành cho A-mốt rất rõ ràng:

Hỡi nhà tiên tri, hãy đi, trốn sang xứ Giu-đa, kiếm sống ở đó…

A-mốt không bao giờ được phép tiên tri trong đền thờ ở Bết-Ên nữa, nơi mà A-mát-gia mô tả là thánh điện của nhà vua và là đền thờ hoàng gia. Lòng trung thành của A-mát-gia là với Vua Sa-ma-ri chứ không phải với Vua trên trời của Ít-ra-en. A-mốt bị coi thường như một nhà tiên tri được thuê, không cần phải được coi trọng.

 

Tuy nhiên, A-mốt không tự nhận mình là thành viên của một trường phái tiên tri ‘chuyên nghiệp’. Ông không phải là một nhà tiên tri cũng không phải là con trai của một nhà tiên tri. Ông phủ nhận mọi mối liên hệ với bất kỳ trường phái tiên tri nào hoặc các môn đệ của họ. Không ai thuê ông để công bố phán xét chống lại Gia-róp-am và Israel.

Ông nói rằng ông là một người chăn cừu bình thường (mặc dù từ tiếng Do Thái khác thường được sử dụng có thể có nghĩa là ông cũng chăn gia súc) và là người “chăm sóc cây sung”. “Cây sung” ở đây là một loại cây lớn cho quả giống quả sung và cũng cho gỗ tốt. Để đảm bảo mùa màng bội thu, người làm vườn phải rạch ngọn mỗi quả sung và điều này có lẽ được ngụ ý bởi từ hiếm gặp “chăm sóc” cây sung.

A-mốt nói:

…Chúa đã cất tôi khỏi việc chăn bầy chiên, và Chúa phán với tôi rằng: ‘Hãy đi, hãy nói tiên tri cho dân Ít-ra-en của ta.’

Nếu A-mốt đang nói tiên tri, thì đó chỉ đơn giản là để đáp lại những chỉ dẫn mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông. Ông đã được tạo thành một loại người chăn chiên khác cho một bầy chiên đang lạc lối xa khỏi Chúa.

Sau đó, A-mốt tiếp tục đưa ra một lời tiên tri gay gắt chống lại thầy tế lễ A-mát-gia, mặc dù A-mát-gia đã bảo A-mốt đừng nói tiên tri (thực chất là bảo nhà tiên tri bất tuân lệnh Chúa). Lời tiên tri của ông có bốn điểm:

1. A-mát-gia sẽ bị lưu đày đến vùng đất của dân ngoại, “ô uế” và thờ thần tượng, nơi sự thanh khiết theo nghi lễ của ông với tư cách là một thầy tế lễ sẽ bị ô uế;

2. Con trai và con gái của ông sẽ bị giết;

3. Ông sẽ mất gia sản;

4. Vợ ông sẽ phải làm gái mại dâm để sống sót.

Và ông lặp lại lời tiên tri mà ông đã đưa ra trước đó: dân Ít-ra-ensẽ bị đuổi đi lưu đày, lặp lại chính xác những lời mà A-mát-gia đã gán cho A-mốt ở đầu bài đọc. Tất cả những điều này, dĩ nhiên, đã xảy ra.

Bài đọc này tóm gọn vai trò đầy thách thức nhưng không thể thiếu của nhà tiên tri. Trách nhiệm của ông là nói rõ những chân lý mà ông nhìn thấy, dù chúng có khó nghe đến đâu. Ông chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự thù địch từ những người không muốn nghe những gì ông nói. Tuy nhiên, các nhà tiên tri là vô cùng cần thiết; chúng ta cần họ, ngay cả khi chúng ta không thích thông điệp của họ.

Có một dòng dõi các nhà tiên tri lỗi lạc trong Cựu Ước, trong đó A-mốt là một ví dụ xuất sắc. Nhưng cũng có các nhà tiên tri trong Tân Ước. Chúa Giê-su là một nhà tiên tri, cũng như Gioan Tẩy giả (mặc dù thường được coi là nhà tiên tri cuối cùng của Cựu Ước). Cả hai đều chết vì những thông điệp mà họ truyền đạt bằng lời nói và việc làm.

Các thư của Phao-lô xếp hạng ‘các nhà tiên tri’ rất cao trong danh sách các ân tứ trong Giáo hội—ngay sau ‘các sứ đồ’:

Giờ đây, anh em là thân thể của Chúa Kitô và từng người là chi thể của thân thể ấy. Và Đức Chúa Trời đã đặt trong Hội Thánh trước hết là các sứ đồ, thứ hai là các tiên tri… (1 Cô-rin-tô 12,27-28)

Trải qua nhiều thế kỷ, thật may mắn, đã có một danh sách dài các tiên tri, một số người trong số họ đã trở thành nạn nhân của chính Giáo hội. Ngay cả một số người bị coi là dị giáo cũng là những tiên tri theo cách riêng của họ và, mặc dù phần lớn những gì họ nói được coi là không phù hợp với truyền thống, họ thường buộc Giáo hội phải thay đổi hướng đi. Nếu không có Luther và các nhà cải cách Tin Lành khác, liệu có Công đồng Trentô không? Liệu có cuộc Phản Cải cách không?

Công đồng Vatican II cũng đã sản sinh ra nhiều tiếng nói tiên tri dẫn đến những hiểu biết mà những người tổ chức ban đầu không thể ngờ tới. Một ví dụ là Giám mục Helder Camrara của Recife ở Brazil. Ông từng được cho là đã nói: “Khi tôi giúp đỡ người nghèo, người ta gọi tôi là thánh; khi tôi hỏi tại sao họ nghèo, họ gọi tôi là Cộng sản.” Giám mục Camrara là một tiên tri. Trong quá khứ gần đây, người ta cũng nghĩ đến Giám mục Oscar Romero, người tử đạo ở El Salvador, hoặc mục sư Tin Lành tử đạo Martin Luther King, Jr. Trong trường hợp thứ nhất, đó là tiếng nói tiên tri cho những người nghèo bị áp bức, và trong trường hợp thứ hai, đó là tiếng nói đòi bình đẳng cho người da đen ở Hoa Kỳ.

Ai là những nhà tiên tri trong cộng đồng Kitô giáo của chúng ta ngày nay? Chúng ta có nhận ra họ không? Chúng ta có lắng nghe họ không? Mong rằng chúng ta sẽ có thêm nhiều người như vậy.

 


Chú giải về Mát-thêu 9,1-8

Sau khi chữa lành hai người bị quỷ ám (xem đoạn Tin Mừng ngày thứ Tư tuần thứ 13 Mùa Thường Niên), Chúa Giê-su và các môn đệ lại vượt hồ và đến thành phố của Ngài. Đây không phải là Na-da-rét, mà là Ca-phác-na-um, trung tâm hoạt động của Ngài ở Ga-li-lê. Như thường lệ với Mát-thêu, ông chỉ thuật lại những điểm chính của câu chuyện, trong khi Mác-cô kể lại một cách thú vị hơn nhiều (2,1-12). Mát-thêu tập trung vào những gì Chúa Giê-su nói và làm—ông bỏ qua các chi tiết.

Một số người đem một người bại liệt nằm trên chiếu đến với Chúa Giê-su. Cảm động trước đức tin của họ, Chúa Giê-su nói với người ấy:

“Hãy vững lòng, con ơi; tội lỗi con đã được tha.”

Trong bản của Mác-cô, mức độ đức tin của người đàn ông được thể hiện qua việc ông được một số người bạn khiêng lên mái nhà và thả xuống dưới chân Chúa Giê-su. Mát-thêu không nói gì về điều này.

Người đàn ông có lẽ không ngờ rằng Chúa Giê-su sẽ nhắc đến tội lỗi của mình. Đối với ông ta, đó không phải là lý do ông đến gặp Chúa Giê-su. Một số thầy dạy luật gần đó cũng ngạc nhiên và thậm chí kinh ngạc. Họ nghĩ:

Người này đang phạm thượng.

Biết rõ họ đang nghĩ gì, Chúa Giê-su hỏi họ:

Vì điều nào dễ hơn: nói: “Tội ngươi đã được tha,” hay nói: “Hãy đứng dậy và đi”?

Rõ ràng, nói “Tội ngươi đã được tha” thì dễ hơn nhiều. Làm sao biết được điều đó đã xảy ra? Nhưng Chúa Giê-su tiếp tục:

Nhưng để các ngươi biết rằng Con Người có quyền tha tội trên đất—Ngài phán với người bại liệt—“Hãy đứng dậy, vác giường của ngươi mà về nhà.”

Và người ấy làm đúng như vậy: ông cuộn chiếu lại và đi ra khỏi nhà về nhà mình.

Những người xung quanh kinh ngạc và ngợi khen Chúa vì đã ban quyền năng như vậy cho loài người. Họ chưa hoàn toàn nhận ra danh tính của Chúa Giê-su, nhưng họ nhận ra rằng Chúa đang hành động ngay trước mắt họ. Về phần mình, các thầy dạy luật im lặng. Việc Mátthêu sử dụng từ “người” dường như ám chỉ quyền năng của Chúa Giê-su được truyền lại cho những người theo Ngài—quyền năng chữa lành và tha thứ.

Để hiểu câu chuyện này, chúng ta cần nhận thức được mối liên hệ mật thiết mà người thời đó nhìn nhận giữa bệnh tật và tội lỗi. Bệnh tật, đặc biệt là bệnh mãn tính, thường được coi là hình phạt cho tội lỗi, hoặc là tội lỗi của chính người bệnh hoặc của cha mẹ. Chúng ta nhớ lại trong Phúc Âm Gioan, người ta đã hỏi Chúa Giê-su rằng người đàn ông đó bị mù bẩm sinh là do tội lỗi của chính mình hay do tội lỗi của cha mẹ (Gioan 9,2). Tương tự, sau khi Chúa Giê-su chữa lành một người bị què suốt 38 năm, Ngài bảo người đó đừng phạm tội nữa, vì sợ điều tồi tệ hơn sẽ xảy đến với mình (Gioan 5,14).

Khi nói với người bị bại liệt rằng tội lỗi của ông đã được tha thứ, Chúa Giê-su đã đi đến tận gốc rễ vấn đề của ông. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng tội lỗi dưới hình thức này hay hình thức khác là gốc rễ của mọi vấn đề của chúng ta. Chúa Giê-su đã bị thách thức vì nói với người đàn ông rằng tội lỗi của ông đã được tha thứ. Để chứng minh rằng mình có quyền năng làm điều đó, ông đã chữa khỏi chứng tê liệt cho người đàn ông, điều mà trong suy nghĩ của những người chứng kiến, là hậu quả của tội lỗi ông ta. Nếu không còn chứng tê liệt nữa, vốn là do tội lỗi gây ra, thì tội lỗi cũng đã được xóa bỏ.

Ngày nay, chúng ta không coi chứng tê liệt hay khuyết tật là sự trừng phạt của Chúa – chúng ta không tin rằng Chúa hành động như vậy. Mặt khác, rất có thể nhiều vấn đề sức khỏe mà chúng ta gặp phải có liên quan đến sự bất hòa trong cuộc sống, phát sinh từ mâu thuẫn giữa con người thật sự mà chúng ta hướng đến và con người mà chúng ta thường trở thành. Chúng ta gọi một số bệnh tật là "bệnh không lành mạnh". Chúng là kết quả của căng thẳng có hại khi chúng ta không hòa hợp với chính mình, với người khác và với môi trường xung quanh. Theo nghĩa đó, chúng ta có thể thấy một mối liên hệ rõ ràng giữa tội lỗi và bệnh tật.

Có lẽ nếu nhìn vào cuộc sống của chính mình, chúng ta có thể thấy rằng một số bệnh tật về thể chất và tinh thần của chúng ta là do thiếu sự hòa hợp giữa Chúa và những người khác cũng như môi trường xung quanh. Hãy suy nghĩ về điều đó hôm nay.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2135g/

 

 


Suy Niệm: Sống niềm tin

Con người là con vật xã hội. Xã hội không dành riêng phần đất cho những người tự đóng kín vào mình. Vừa mở mắt chào đời, con người đã phải đón nhận sự nâng đỡ của người khác, rồi trong suốt cuộc đời, không ai có thể tự hào mình không cần nhờ vả đến ai. Sống là một luân lưu của những trao đổi và cảm thông. Tôi phải nhờ đến người khác và cũng có bổn phận để người khác nhờ đến tôi.

Ðời sống đức tin cũng không ra ngoài định luật ấy. Ơn cứu độ được gửi đến cho tất cả, chứ không cho riêng một ai, mỗi cá nhân đón nhận nhưng rồi phải san sẻ cho người khác. Sự thánh thiện hoặc tội lỗi của một người cũng có ảnh hưởng đến người khác. Chúa Giêsu đã lên án mạnh mẽ những ai làm cớ vấp phạm cho người khác xa lìa Thiên Chúa.

Tin Mừng hôm nay thuật lại một phép lạ xẩy ra nhờ ảnh hưởng của tập thể. Một người tê liệt được khiêng đến cho Chúa Giêsu. Phúc Âm Marcô và Luca cho thấy rõ hơn quang cảnh của phép lạ này: vì không có chỗ để chen vào, người ta leo lên gỡ mái nhà và thòng người tê liệt xuống trước mặt Chúa Giêsu. Tất cả sự việc diễn ra không kèm theo một câu nói hay một lời van xin nào, thế nhưng, hành vi của họ đã đủ diễn đạt tấm lòng của họ. Chúa Giêsu thấy lòng tin của họ, tức lòng tin của những người khiêng người tê liệt, Ngài đã chữa lành bệnh nhân.

Dấu lạ đòi hỏi lòng tin. Một khi lòng tin đã đáp ứng lời mời gọi của Thiên Chúa, thì con người sẽ dễ dàng gặp được dấu lạ và lòng tin có thể chuyển dấu lạ hay ơn lành sang cho người khác. Với đám đông đang vây quanh Chúa Giêsu để nghe Ngài giảng, thì việc đưa bệnh nhân đến gần Ngài quả là một cố gắng vượt mức. Nhìn vào cố gắng này, chắc chắn nhiều người sẽ đặt câu hỏi về Chúa Giêsu: Ngài là ai mà con người phải cố gắng tìm gặp đến thế? Ðặt câu hỏi tức là đã bắt đầu tiến đến gần Thiên Chúa.

Xin Chúa cho chúng ta biết sống niềm tin, dù cho có gặp nhiều cản trở, nhờ đó chúng ta sẽ nhận được ơn lành của Chúa, và củng cố niềm tin nơi nhiều người xung quanh.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)