Trang

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

03.02.2026: THỨ BA TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

 03/02/2026

 Thứ Ba tuần 4 thường niên

 


Bài Ðọc I: (Năm II) 2 Sm 18, 9-10. 14b. 24-25a. 30 – 19, 3

“Áp-sa-lôm con cha ơi, sao cha không chết thay cho con?”

Trích sách Sa-mu-en quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, Áp-sa-lôm đang cỡi lừa, tình cờ gặp các cận vệ của Ða-vít, và khi con lừa đi qua dưới cây sồi to lớn rậm rạp, thì đầu ông vướng vào cây sồi, và ông bị treo lơ lửng, và con lừa ông đang cỡi cứ chạy. Có người thấy vậy, liền đi báo cho Giô-áp rằng: “Tôi đã thấy Áp-sa-lôm bị treo trên cây sồi”. Giô-áp cầm ba chiếc lao phóng thẳng vào tim Áp-sa-lôm.

Bấy giờ Ða-vít đang ngồi giữa hai cửa, còn người lính gác lúc đó đi trên thành phía trên cửa, ngước mắt lên trông thấy một người chạy về. Tên lính gác hô to báo tin cho vua. Vua liền nói: “Nếu chỉ có một đứa, tức là nó mang tin mừng”. Vua nói với anh ta: “Ngươi hãy qua bên này”. Khi anh ta đi qua và đứng đó, thì tên Cút xuất hiện và tâu vua rằng: “Tâu đức vua, tôi mang đến cho vua một tin mừng, vì hôm nay, Chúa đã xét xử bênh vực đức vua, Người đã giải thoát đức vua khỏi tay tất cả những kẻ dấy lên chống lại đức vua”. Vua hỏi Cút: “Áp-sa-lôm con ta có bình an không?” Cut thưa lại: “Ước gì các thù địch của đức vua và toàn thể những kẻ dấy lên chống đức vua, đều bị tai hoạ như chàng thanh niên đó”.

Bấy giờ vua buồn sầu và đi lên lầu nơi cổng thành mà khóc lóc. Ngài vừa đi vừa nói: “Con ơi, hỡi Áp-sa-lôm! Áp-sa-lôm con ơi! Sao cha không chết thay cho con! Áp-sa-lôm con ơi! Áp-sa-lôm con ơi! Chớ gì ai để cha chết thay cho con. Áp-sa-lôm con ơi! Con ơi, hỡi Áp-sa-lôm!”

Người ta đi báo tin cho Giô-áp hay rằng đức vua khóc lóc và than tiếc con, nên hôm đó cuộc chiến thắng trở nên tang chế cho toàn dân, vì hôm đó, dân chúng nghe nói rằng: “Ðức vua thương tiếc con mình”.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 85, 1-2. 3-4. 5-6

Ðáp: Lạy Chúa, xin ghé tai nghe, xin nhậm lời con

Xướng: Lạy Chúa, xin ghé tai nghe, xin nhậm lời con, vì con đau khổ và cơ bần. Xin bảo toàn mạng sống con, vì con hiếu thảo với Ngài, xin cứu vớt người bầy tôi đang cậy trông vào Chúa.

Xướng: Ngài là Thiên Chúa của con, xin thương con, lạy Chúa, vì con ân cần kêu van Ngài. Nguyện cho bầy tôi Chúa được hân hoan, vì, lạy Chúa, con vươn hồn lên tới Chúa.

Xướng: Lạy Chúa, vì Chúa nhân hậu và khoan dung, giàu lượng từ bi với những ai kêu cầu Chúa. Lạy Chúa, xin nghe lời con khẩn nguyện, và quan tâm đến tiếng con van nài.

 

Alleluia: Tv 144, 13cd

Alleluia, alleluia! – Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 5, 21-43

“Hỡi em bé, Ta bảo em hãy chỗi dậy”.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mác-cô.

Khi ấy, Chúa Giê-su đã xuống thuyền trở về bờ bên kia, có đám đông dân chúng tụ họp quanh Người, và lúc đó Người đang ở bờ biển. Bỗng có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đến. Trông thấy Người, ông sụp lạy và van xin rằng: “Con gái tôi đang hấp hối, xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó được khỏi và được sống”. Chúa Giê-su ra đi với ông ấy, và đám đông dân chúng cũng đi theo chen lấn Người tứ phía.

Vậy có một người đàn bà bị bệnh xuất huyết đã mười hai năm. Bà đã chịu cực khổ, tìm thầy chạy thuốc, tiêu hết tiền của mà không thuyên giảm, trái lại bệnh càng tệ hơn. Khi bà nghe nói về Chúa Giê-su, bà đi lẫn trong đám đông đến phía sau Người, chạm đến áo Người, vì bà tự nhủ: “Miễn sao tôi chạm tới áo Người thì tôi sẽ được lành”. Lập tức, huyết cầm lại và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc ấy, Chúa Giê-su nhận biết có sức mạnh đã xuất phát tự mình, Người liền quay lại đám đông mà hỏi: “Ai đã chạm đến áo Ta?” Các môn đệ thưa Người rằng: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy tứ phía, vậy mà Thầy còn hỏi “Ai chạm đến Ta?” Nhưng Người cứ nhìn quanh để tìm xem kẻ đã làm điều đó. Bấy giờ người đàn bà run sợ, vì biết rõ sự thể đã xảy ra nơi mình, liền đến sụp lạy Người và thú nhận với Người tất cả sự thật. Người bảo bà: “Hỡi con, đức tin con đã chữa con, hãy về bình an và được khỏi bệnh”.

Người còn đang nói, thì người nhà đến nói với ông trưởng hội đường rằng: “Con gái ông chết rồi, còn phiền Thầy làm chi nữa?” Nhưng Chúa Giêsu đã thoáng nghe lời họ vừa nói, nên Người bảo ông trưởng hội đường rằng: “Ông đừng sợ, hãy cứ tin”. Và Người không cho ai đi theo, trừ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, em Gia-cô-bê. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Và Chúa Giê-su thấy người ta khóc lóc kêu la ồn ào, Người bước vào và bảo họ: “Sao ồn ào và khóc lóc thế? Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó”. Họ liền chế diễu Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, chỉ đem theo cha mẹ đứa bé và những môn đệ đã theo Người vào chỗ đứa bé nằm. Và Người cầm tay đứa nhỏ nói rằng: “Ta-li-tha-kum”, nghĩa là: “Hỡi em bé, Ta truyền cho em hãy chỗi dậy!” Tức thì em bé đứng dậy và đi được ngay, vì em đã được mười hai tuổi. Họ sửng sốt kinh ngạc. Nhưng Người cấm ngặt họ đừng cho ai biết việc ấy, và bảo họ cho em bé ăn.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về 2 Sa-mu-en 18,9-10. 14. 24-25. 30—19,3

Một lần nữa, Đa-vít lại khiến chúng ta ngạc nhiên bởi phản ứng của ông. Tình thế đang đảo ngược đối với Áp-sa-lôm nổi loạn và một đạo quân hùng mạnh kéo đến chống lại những kẻ ủng hộ hắn. Chính Đa-vít, theo lời khuyên của các tướng lĩnh, đã ở lại phía sau. Họ đã nghi ngờ thái độ hiền lành của ông đối với con trai mình. Khi họ lên đường, Đa-vít nói với họ:

Hãy đối xử nhẹ nhàng với chàng trai trẻ Áp-sa-lôm vì cớ ta. (2 Sa-mu-en 18,5)

Áp-sa-lôm, lúc này đang chạy trốn, trên lưng con la của mình, mái tóc dài của hắn bị vướng vào cành cây khi hắn cưỡi dưới một cái cây. Con la tiếp tục chạy và Áp-sa-lôm bị treo lơ lửng giữa không trung (hình như con la là phương tiện cưỡi thông thường của hoàng gia trong vương quốc của Đa-vít). Trước đó chúng ta được biết rằng Áp-sa-lôm, người vô cùng đẹp trai, có mái tóc dày đến nỗi hắn phải cạo đầu mỗi năm. Có lẽ, chính mái tóc này đã bị vướng vào cành cây. Dù nguyên nhân là gì, chính vẻ đẹp của chàng trai trẻ đã dẫn đến sự diệt vong của anh ta.

 

Việc Áp-sa-lôm bị treo trên cây lập tức được báo cho Giô-áp, vị tướng chỉ huy quân đội. Trong những câu không có trong bài đọc hôm nay, Giô-áp hỏi người lính tại sao anh ta không giết Áp-sa-lôm để nhận phần thưởng. Người lính trả lời rằng ngay cả khi anh ta có 2.000 đồng bạc trong tay, anh ta cũng sẽ không động đến con trai của nhà vua, người mà Đa-vít đã ra lệnh cho các sĩ quan của mình bảo vệ. Người lính đã tìm thấy Áp-sa-lôm nói với Giô-áp:

…nếu tôi đã phản bội mạng sống của anh ấy [Áp-sa-lôm] (và không có gì giấu giếm được nhà vua), thì chính ngài cũng sẽ đứng ngoài cuộc. (2 Samuel 18,13)

Giô-áp liền đi đến và đâm ba ngọn giáo vào tim Áp-sa-lôm bất lực, vẫn còn đang treo sống trên cây. Theo quan điểm của Giô-áp, cuộc nổi loạn giờ đã kết thúc và mối đe dọa đối với ngai vàng của Đa-vít đã được loại bỏ.

Trận chiến giờ đã được hủy bỏ. Áp-sa-lôm bị đưa xuống khỏi cây và ném xuống một hố sâu trong rừng. Một đống đá được dựng lên làm mốc mộ cho hắn.

Trong khi đó, A-khi-ma-ác, con trai của thầy tế lễ Xa-đốc, đề nghị mang tin mừng chiến thắng đến cho Đa-vít. Giô-áp nói với anh ta rằng anh ta không phải là người thích hợp để làm điều đó, bởi vì thực tế, đối với Đa-vít, đó sẽ không phải là tin tốt khi con trai ông đã chết. Thay vào đó, một người Cút vô danh được cử đi mang tin. Sau đó, A-khi-ma-ác lại cầu xin Giô-áp cho anh ta đi. Giô-áp nói với anh ta:

Tại sao con lại chạy, con trai ta, khi con chẳng được thưởng gì khi mang tin này đến?

Nhưng cuối cùng Giô-áp cũng cho A-khi-ma-ác đi. Anh ta chạy theo người Cút và thực sự đã đuổi kịp anh ta, là người đầu tiên đến được tường thành.

Một người canh gác ở cổng thành nhìn thấy A-khi-ma-ác chạy một mình.Đa-vít nói:

Nếu hắn đi một mình, thì miệng hắn đang nói về tin mừng.

 

Một nhóm lớn binh lính bỏ chạy chỉ có thể dẫn đến thảm họa. Rồi người chạy thứ hai xuất hiện và Đa-vít lại nói rằng điều đó chắc hẳn là tin tốt lành. Khi những người chạy đến gần hơn, A-khi-ma-ác được nhận ra là một trong số họ. Đa-vít nói:

Ông ấy là người tốt và đến mang theo tin tốt lành.

A-khi-ma-ác sau đó, trước mặt Đa-vít, thuật lại:

Ngợi khen Chúa, Đức Chúa Trời của ngài, Đấng đã giao nộp những kẻ đã giơ tay chống lại vua tôi.

Nhưng Đa-vít chỉ có một câu hỏi:

Áp-sa-lôm trẻ tuổi có được bình an không?

A-khi-ma-ác, đột nhiên nhận ra tầm quan trọng của câu hỏi, lập tức thận trọng và thực tế là không nói ra những gì mình biết:

Tôi thấy một sự hỗn loạn lớn khi Giô-áp, tôi tớ của vua, sai tôi tớ của ngài đến, nhưng tôi không biết đó là gì.

Đa-vít liền để A-khi-ma-ác sang một bên cho đến khi nghe được lời tường thuật của người Cút. Lúc đầu, người Cút cũng chỉ đưa ra một báo cáo chung chung:

Tin mừng cho đức vua! Vì Chúa đã minh oan cho ngài hôm nay, giải cứu ngài khỏi quyền lực của tất cả những kẻ nổi dậy chống lại ngài.

Một lần nữa, nhà vua chỉ có một mối quan tâm và hỏi liệu Áp-sa-lôm có ​​an toàn không. Nhưng câu trả lời gián tiếp của người Cút đã nói lên tất cả:

Nguyện cho kẻ thù của đức vua và tất cả những kẻ nổi dậy làm hại ngài đều giống như chàng trai trẻ đó.

Thay vì vui mừng trước việc con trai nổi loạn của mình bị đuổi đi, Đa-vít tìm nơi trú ẩn trong một căn phòng trên cổng thành và chìm trong đau buồn:

Ôi con trai Áp-sa-lôm của ta, con trai ta, con trai Áp-sa-lôm của ta! Ước gì ta đã chết thay con, hỡi Áp-sa-lôm, con trai ta, con trai ta!

 

Những lời ấy đã vang vọng qua nhiều thế kỷ như một trong những biểu hiện cảm động nhất về tình yêu thương của người cha. Và điều đó bất chấp tất cả những gì Áp-sa-lôm đã làm chống lại cha mình. Nó nhắc nhở chúng ta về cách Chúa yêu thương chúng ta, ngay cả khi chúng ta tội lỗi nhất.

Và điều lẽ ra phải là một chiến thắng vẻ vang lại biến thành một ngày tang thương cho toàn quân.

Khi văn bản tiếp tục sau đoạn chúng ta đọc, chúng ta được biết rằng các tướng lĩnh và binh lính có những cảm xúc lẫn lộn về phản ứng của Đa-vít. Họ tự hỏi nếu Áp-sa-lôm, người đang tìm cách hủy diệt cha mình, còn sống và họ chết, liệu Đa-vít có hạnh phúc hơn không? Trong điều đó, họ có thể đã không công bằng. Bởi vì chỉ có cha mẹ mới hiểu được cảm giác khi có một đứa con, thậm chí là một đứa con nổi loạn, bị mất mát theo cách này.

Một lần nữa, chúng ta thấy được lòng nhân ái sâu sắc của Đa-vít. Ông đã làm điều mà chúng ta thường không làm được. Ông đã phân biệt rõ ràng giữa con người của con trai mình và hành động của nó. Ông phản đối hành động của con trai mình, nhưng ông yêu thương con trai mình sâu sắc. Đôi khi chúng ta bày tỏ điều đó bằng cách nói rằng chúng ta yêu người phạm tội, nhưng không yêu tội lỗi. Tuy nhiên, thường thì sự thù hận của chúng ta hướng đến những điều khiến cho cả việc tha thứ và hòa giải đều trở nên rất khó khăn.

Tất nhiên, Chúa Giê-su, là hình ảnh của Cha Ngài, cũng đã nêu gương cho chúng ta về điều này. Khi những người đầy thù hận đóng đinh Ngài lên thập tự giá, Ngài đã cầu nguyện:

Lạy Cha, xin tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì. (Lu-ca 23,34)

Và, tất nhiên, mỗi khi chúng ta tận dụng Bí tích Hòa giải, chúng ta mong đợi rằng Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta bất kể chúng ta đã làm gì hoặc phạm tội bao nhiêu lần.

Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng, là những người Kitô hữu, chúng ta cần phải có cùng thái độ như Chúa Giê-su. Mỗi khi chúng ta cầu nguyện Kinh Lạy Cha, chúng ta đều nói:

Xin tha thứ tội lỗi cho chúng con, như chúng con tha thứ cho những người phạm tội nghịch cùng chúng con.

Đó là một lời cầu nguyện nguy hiểm và chúng ta nên suy nghĩ kỹ về ý nghĩa của nó trước khi để nó dễ dàng thốt ra khỏi miệng mình.

 

 


Chú giải về Mác-cô 5,21-43

Đoạn Kinh Thánh hôm nay minh họa một đặc điểm của Phúc Âm Mác-cô—sự bao hàm, trong đó một đoạn được chứa đựng bên trong một đoạn khác. Hôm nay chúng ta có hai phép lạ, một trong số đó được thuật lại bên trong phép lạ kia. Một lần nữa, chúng ta được kể về đám đông lớn tụ tập quanh Chúa Giê-su trên bờ khi Ngài lại băng qua hồ.

Một viên chức hội đường, Gia-ia, đến gần và cầu xin Chúa Giê-su đặt tay chữa lành cho con gái ông, người đang bị bệnh nặng. Gia-ia là người chịu trách nhiệm điều hành các nghi lễ tại hội đường và giữ trật tự. Đôi khi chức vụ này mang tính danh dự, không kèm theo bất kỳ trách nhiệm hành chính nào.

Gia-ia xin Chúa Giê-su đến và đặt tay chữa lành cho con gái ông, như Ngài đã làm cho rất nhiều người khác. Khi Chúa Giê-su đi đến nhà, theo sau là một đám đông lớn, có một người phụ nữ bị xuất huyết suốt 12 năm. Bà đã thử mọi phương pháp điều trị y tế nhưng vô ích, và tình trạng của bà ngày càng xấu đi. Ngoài nỗi đau khổ do bệnh tật gây ra, việc chảy máu khiến bà trở nên ô uế về mặt nghi lễ. Nếu những người xung quanh biết về tình trạng của bà, bà có thể đã bị tấn công. Do đó, bà cảm thấy vô cùng lo lắng khi đến gần Chúa Giê-su mà không bị nhận ra hoặc thu hút sự chú ý.

Bà có một niềm tin mãnh liệt rằng, chỉ cần chạm vào vạt áo của Chúa Giê-su, bà sẽ được chữa lành. Và bà đã được chữa lành ngay lập tức. Trong cả hai trường hợp, đều có một niềm tin sâu sắc rằng sự tiếp xúc thể chất, cùng với niềm tin vào quyền năng chữa lành của Chúa Giê-su, sẽ mang lại sự chữa lành. Điều quan trọng là chúng ta phải khôi phục lại mối liên hệ giữa sự tiếp xúc thể chất và sự chữa lành.

Chúa Giê-su biết điều gì đó đã xảy ra:

Ngay lập tức nhận thức được rằng quyền năng đã phát ra từ Ngài, Chúa Giê-su quay lại giữa đám đông và nói: “Ai đã chạm vào áo choàng của Ta?”

Các môn đệ của Ngài đương nhiên thắc mắc tại sao Ngài lại nói điều này khi có rất nhiều người đang chen chúc xung quanh Ngài.

Trong nỗi sợ hãi và run rẩy, có lẽ sợ đám đông hơn là sợ Chúa Giê-su, người phụ nữ đã tự xưng danh tính của mình. Sau đó, bà nghe thấy những lời tuyệt vời:

“Con gái, đức tin của con [tức là sự tin tưởng hoàn toàn của con vào Ta] đã chữa lành con; hãy đi bình an, và con sẽ được chữa khỏi bệnh tật.”

Thật là bình an. Bà không chỉ được chữa lành về thể chất mà giờ đây bà còn có thể tự do giao tiếp với mọi người trở lại. Bà được phục hồi hoàn toàn về mặt xã hội và cộng đồng, không còn nỗi xấu hổ mà một người phụ nữ thời đó thường cảm thấy, và không cần phải che giấu.

Sau đó, chúng ta tiếp tục câu chuyện đầu tiên. Sứ giả đến báo rằng con gái của Gia-ia đã chết. Không cần phải làm phiền Chúa Giê-su nữa. Chúa Giê-su khuyên Gia-ias hãy tiếp tục tin tưởng. Khi đến gần nhà, Ngài tách khỏi đám đông và chỉ dẫn theo Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan làm chứng cho một sự kiện rất đặc biệt. Ngôi nhà đầy những người than khóc, rên rỉ theo phong tục.

Tại sao các ngươi lại làm ầm ĩ và khóc lóc? Đứa trẻ không chết mà chỉ đang ngủ.

Khi nói như vậy, Chúa Giê-su không phủ nhận cái chết thực sự của đứa trẻ, mà đó là lời bảo đảm rằng nó sẽ được thức tỉnh khỏi giấc ngủ của sự chết. Cái chết trong Cựu Ước thường được mô tả như giấc ngủ. Và chúng ta cũng đọc trên bia mộ rằng người này người kia “đã ngủ trong Chúa”.

Đám đông, thường được miêu tả là rất ủng hộ Chúa Giê-su, ở đây lại được thể hiện là hoài nghi. Họ cười nhạo Ngài. Vậy là mọi người đều được đưa ra khỏi phòng, trừ cha mẹ của đứa trẻ và ba người bạn đồng hành của Chúa Giê-su. Rồi:

Ngài nắm tay cô bé và nói: “Talitha koum,” nghĩa là: “Hỡi con gái nhỏ, hãy đứng dậy!”

Những lời này gợi lên sự phục sinh, một cuộc sống mới. Ngay lập tức, cô bé đứng dậy và bắt đầu đi lại. Cô bé mới chỉ 12 tuổi.

Những người có mặt đều “vô cùng kinh ngạc” và được dặn dò không được nói gì với ai. Họ cũng được nhắc nhở hãy cho cô bé tội nghiệp một ít thức ăn. Đây là một bước nữa trong việc hé lộ danh tính thật của Chúa Giê-su, đồng thời, Ngài không muốn danh tính đó được công khai ở giai đoạn này. Đó là một dấu hiệu khác về sứ mệnh của Chúa Giê-su:

Ta đến để họ có sự sống và có sự sống dồi dào. (Gioan 10,10)

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2043g/

 

 


Suy Niệm: Nhận ra phép lạ mỗi ngày

Ngày 17/9/1961, máy bay chở ông Ðavít Hamacon, Tổng thư ký Liên hiệp quốc, đã ngộ nạn trên không phận nước Congo, Phi Châu. Ông Hamacon không chỉ là người hoạt động cho hòa bình và là một nhà chính trị lỗi lạc, ông còn là một nhà tu đức có chiều sâu. Sau khi ông qua đời, tại căn phòng của ông ở Nữu Ước, người ta đã tìm được tập tài liệu đánh máy, ghi lại những suy tư và cầu nguyện hằng ngày của ông. Trong tập tài liệu này người ta đọc thấy những dòng như sau:: “Thiên Chúa sẽ không chết, ngày mà chúng ta không còn tin ở thần linh nào nữa. Nhưng chính chúng ta sẽ chết, ngày nào cuộc sống của chúng ta không còn thấm nhập bởi ánh sáng của phép lạ không ngừng xảy ra, phép lạ mà lý trí chúng ta không biết từ đâu tới".

Cái chết mà ông Ðavít Hamacon nói trên đây chính là cái chết của tinh thần con người. Khi tinh thần con người không còn vượt qua khỏi chính mình để đi vào chiêm niệm, nghĩa là đi vào thế giới ở bên ngoài khả năng nắm bắt của lý trí, thì đó là lúc nó trở nên cằn cỗi và chết dần chết mòn.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta đi vào thế giới ấy, thế giới của những câu hỏi: “tại sao", mà lý trí con người không thể lý giải được. Phép lạ một người đàn bà bị băng huyết được chữa lành nhờ chỉ chạm đến áo của Chúa Giêsu, và phép lạ một em bé gái chết được Chúa Giêsu cho sống lại; cả hai phép lạ đều phát xuất từ lòng tin của con người. Ông trưởng hội đường đã biểu lộ lòng tin bằng cách lặn lội tìm đến với Chúa Giêsu xin Ngài tới đặt tay trên con gái của ông; người đàn bà băng huyết tin một cách mãnh liệt nơi sức mạnh phát xuất từ con người Chúa Giêsu. Nơi ông trưởng hội đường, lòng tin được tuyên xưng tỏ tường; nơi người đàn bà băng huyết, niềm tin rụt rè kín đáo. Nhưng dù tỏ tường hay kín đáo, chính lòng tin đã giúp cho phép lạ xảy ra, như Chúa Giêsu đã nói với người đàn bà:: “Lòng tin của con đã cứu chữa con".

Niềm tin làm cho con người được sống, điều này vẫn thường xảy ra trong đời sống con người. Tất cả những thành công trong cuộc sống đều nhờ ở niềm tin, nhưng niềm tin tôn giáo thì quan trọng hơn, bởi vì chính sự sống tinh thần và tâm linh mới là điều cần thiết cho con người đạt được thành công. Có tất cả, nhưng thiếu đời sống tâm linh, con người vẫn như sống dở. Sống sung mãn, sống dồi dào, chính là sống nội tâm. Chỉ có một đời sống nội tâm sung mãn mới giúp con người thấy được, cảm nhận được những gì mà giác quan và lý trí không thể đạt được.

Cuộc sống vốn là một phép lạ, từng hơi thở con người là một phép lạ, mỗi ngày là một phép lạ, mỗi phút giây là một phép lạ. Chỉ có đôi mắt nội tâm mới cho con người cảm nhận được phép lạ triền miên ấy. Sống đích thực, sống dồi dào, là biết chiêm ngưỡng để đón nhận phép lạ từng ngày ấy.

Nguyện xin Chúa ban cho cuộc sống chúng ta luôn được thấm nhập bởi ánh sáng của phép lạ triền miên ấy.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét