Trang

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

04.05.2026: THỨ HAI TUẦN V PHỤC SINH

 04/05/2026

 Thứ Hai tuần 5 Phục Sinh

 


Bài Ðọc I: Cv 14, 5-17

“Chúng tôi rao giảng cho các người bỏ các thần này mà trở về với Thiên Chúa hằng sống”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, tại Icônia có phong trào người dân ngoại và người Do-thái cùng các thủ lãnh của họ định ngược đãi và ném đá Phaolô và Barnaba. Biết thế, hai ngài trốn sang các thành thuộc Lycaonia là Lystra, Ðerbê và khắp vùng phụ cận, và rao giảng Tin Mừng ở đó.

Lúc ấy tại Lystra có người bại chân từ lòng mẹ, anh chỉ ngồi và không hề đi được. Anh nghe Phaolô giảng dạy. Phaolô chăm chú nhìn anh, thấy anh có lòng tin để được cứu chữa, nên nói lớn tiếng rằng: “Hãy chỗi dậy và đứng thẳng chân lên”. Anh liền nhảy lên và bước đi. Dân chúng thấy việc Phaolô làm, thì la to bằng tiếng Lycaonia rằng: “Các vị thần mặc lớp người phàm đã xuống với chúng ta”. Họ gọi Barnaba là thần Giupitê và Phaolô là thần Mercuriô, vì chính ngài giảng. Thầy sãi thần Giupitê ở ngoại thành, mang bò và vòng hoa đến trước cửa: ông toan hợp cùng dân tế thần.

Nghe tin ấy, các tông đồ Barnaba và Phaolô liền xé áo mình ra, xông vào đám dân chúng mà la lên rằng: “Hỡi các ngươi, các ngươi làm gì thế? Chúng tôi cũng là loài hay chết, là người như các ngươi, là những kẻ rao giảng cho các người bỏ các thần này mà trở về với Thiên Chúa hằng sống, Ðấng tạo thành trời đất, biển cả và mọi vật trong đó. Trong các thế hệ trước đây, Người đã để mặc cho mọi dân tộc đi theo đường lối riêng mình; dầu vậy, Người không hề để thiếu sót những dấu chứng về Người, Người ban phát muôn ơn lành, cho mưa từ trời xuống cho các ngươi và mùa màng hoa trái, cho các ngươi được no lòng phỉ dạ”. Dầu nói thế, các ngài cũng phải vất vả lắm mới ngăn cản được dân chúng khỏi tế các ngài.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 113B, 1-2. 3-4. 15-16

Ðáp: Lạy Chúa, không phải cho chúng con, nhưng xin cho danh Ngài rạng sáng

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Không phải cho chúng con, lạy Chúa, không phải cho chúng con, nhưng xin cho danh Ngài rạng sáng, vì đức từ bi, vì lòng trung tín của Ngài. Tại sao Chúa để chư dân người ta nói: “Thiên Chúa của bọn này ở đâu?”

Xướng: Thiên Chúa chúng tôi ngự trên trời, phàm điều chi Ngài ưng ý, Ngài đã thực thi. Thần tượng của họ bằng bạc với vàng, đó là sự vật do tay loài người tác tạo.

Xướng: Anh em đã được Chúa ban phúc lành, Chúa là Ðấng đã tạo thành trời đất. Trời là trời của Chúa, còn đất thì Chúa đã tặng con cái loài người.

 

Alleluia: Cl 3, 1

Alleluia, alleluia! – Nếu anh em sống lại làm một với Ðức Kitô, thì anh em hãy tìm kiếm những sự cao siêu trên trời, nơi Ðức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 14, 21-26

“Ðấng Phù Trợ mà Cha sẽ sai đến, Người sẽ dạy các con mọi điều”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ, người ấy là kẻ yêu mến Thầy, và ai yêu mến Thầy, sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy cũng yêu mến và tỏ mình ra cho người ấy”.

Ông Giuđa, không phải Giuđa Iscariô, thưa Người rằng: “Lạy Thầy, tại sao Thầy sẽ tỏ mình ra cho chúng con, mà không tỏ cho thế gian?” Chúa Giêsu trả lời: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. Kẻ không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Lời mà các con nghe, không phải là của Thầy, nhưng là của Cha, Ðấng đã sai Thầy. Thầy đã nói với các con những điều này khi còn ở với các con. Nhưng Ðấng Phù Trợ, là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con”.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Công vụ Tông đồ 14,5-18

Phao-lô và Ba-na-ba tiếp tục chuyến hành trình truyền giáo đầu tiên của họ, rao giảng Tin Mừng. Lần cuối chúng ta gặp họ là ở thành phố I-cô-ni-ô thuộc Ga-lát. Ban đầu, họ rất thành công trong việc rao giảng, và chúng ta được cho biết (trong các câu trước bài đọc hôm nay) “rất nhiều người Do Thái và người Hy Lạp đã tin”. Nhưng sau đó, như đã xảy ra ở An-ti-ốt, một số người Do Thái từ chối chấp nhận sứ điệp của họ đã kích động một số người ngoại chống lại hai tông đồ. Dù vậy, các môn đồ vẫn kiên trì và “ở lại lâu để mạnh dạn rao giảng về Chúa”. Sứ điệp của họ được xác nhận bởi các dấu kỳ phép lạ do Đức Chúa Trời thực hiện qua bàn tay chữa bệnh của họ.

Kết quả là dân chúng bị chia rẽ trong ý kiến ​​– những người ngay từ đầu đã bác bỏ những gì Phao-lô và Ba-na-ba nói, và những người bị thuyết phục bởi những hành động dường như xác nhận sứ điệp của các nhà truyền giáo. Và đó là tình hình khi chúng ta bắt đầu bài đọc hôm nay. Một lần nữa, như ở Antioch, một âm mưu của người Do Thái và người ngoại bang đã cấu kết với nhau để tấn công hai tông đồ và ném đá đến chết họ. Ném đá là hình phạt của người Do Thái dành cho tội phạm thượng. Trước đó, chúng ta đã thấy số phận của Stêphanô vì những lời nói bị các lãnh đạo Do Thái coi là hoàn toàn phạm thượng.

Khi Phao-lô và Ba-na-ba biết được điều này, họ đã chạy trốn khỏi Icô-ni-ô. Sau đó, họ đến các thành phố Lystra và Đê-bê và vùng lân cận ở Lycaonia và tiếp tục rao giảng phúc âm ở những nơi này.

Lycaonia là một quận nằm phía đông Pisi-a và phía bắc dãy núi Kim Ngưu ở đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Nó là một phần của tỉnh Ga-lát thuộc La Mã. Lystra là một thuộc địa của La Mã, và dường như là quê hương của Ti-mô-thê, người mà chúng ta sẽ gặp trong Chuyến Truyền Giáo Thứ Hai. Đê-bê cách Lystra khoảng 100 km (60 dặm). Các sự kiện trong bài đọc hôm nay diễn ra ở Lystra; chúng ta sẽ gặp Phao-lô ở Đê-bê vào ngày mai.

Khi đến Lystra, Phao-lô thấy một người đàn ông ở đó, bị “què từ khi sinh ra”, đang nghe ông giảng. Thấy người đó là người có đức tin, Phao-lô bảo ông đứng dậy, và người đó lập tức làm theo. Ông hoàn toàn khỏi bệnh tật không thể đi lại.

Những người chứng kiến ​​vô cùng kinh ngạc và ngay lập tức coi các tông đồ như những vị thần trong hình dạng con người: Ba-na-ba là thần Zeus và Phao-lô là thần Hermes (mà người La Mã biết đến với tên gọi ‘Mercury’), người phát ngôn của các vị thần.

Bản dịch Kinh Thánh Quốc tế Mới (New International Version) bình luận:

“Zeus là vị thần bảo hộ của thành phố, và đền thờ của ông ở đó. Những người đến dâng lễ vật cho Zeus dường như đã quyết định dâng lễ vật cho Phao-lô và Ba-na-ba thay vì Zeus. Việc đồng nhất Zeus với Ba-na-ba có thể cho thấy rằng vẻ ngoài của ông ta uy nghiêm hơn và Phao-lô được đồng nhất là thần Hermes (Mercury của La Mã) vì ông là người phát ngôn.”

Sự việc này có thể bắt nguồn từ một truyền thuyết cổ xưa kể về một chuyến viếng thăm được cho là của Zeus và Hermes đến cùng khu vực đó. Tuy nhiên, họ không được ai nhận ra ngoại trừ một cặp vợ chồng già. Vì vậy, người dân Lystra quyết tâm không để sự sơ suất như vậy xảy ra lần nữa. Ngay cả vị tư tế của đền thờ thần Zeus địa phương, nằm ngay bên ngoài cổng thành, cũng đang chuẩn bị dâng lễ vật để tôn vinh họ. Kinh hoàng, các Tông đồ xé áo mình, một dấu hiệu thể hiện sự bất mãn và là cách người Do Thái bày tỏ nỗi đau khổ tột cùng. Họ khẳng định mình chỉ là những con người bình thường.

Sau đó, Phao-lô nói với đám đông rằng sứ mệnh của ông, cùng với Ba-na-ba, chính là dẫn dắt dân chúng từ bỏ những mê tín dị đoan thờ thần tượng để tin vào:

…Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng đã tạo dựng trời đất, biển cả và mọi vật trong đó.

Khi rao giảng chống lại niềm tin vào nhiều thần (điều mà hầu hết những người nói tiếng Hy Lạp tin), Phao-lô thường đối chiếu Đức Chúa Trời chân thật với thần giả, Đức Chúa Trời hằng sống với những thần tượng bất lực, và kêu gọi sự thay đổi tấm lòng.

Phao-lô muốn nói với họ về một Đức Chúa Trời hằng sống, là nguồn gốc của mọi sự trên trời và dưới đất. Trong khi cho phép dân ngoại đi theo con đường riêng của họ, Đức Chúa Trời ban cho họ bằng chứng dồi dào về sự hiện diện của Ngài—Ngài ban cho:

 

…mưa từ trời, mùa màng bội thu, và làm cho các ngươi no đủ thức ăn, lòng các ngươi vui mừng.

Phao-lô nói với họ về Nguồn gốc chân thật của tất cả những điều tốt lành này. Nhưng dân chúng không dễ bị thuyết phục và khó có thể ngăn cản họ thực hiện kế hoạch dâng lễ vật cho hai tông đồ.

Ở đây chúng ta thấy thêm hai yếu tố nữa trong công việc của chúng ta cho Chúa Kitô:

• Sự bách hại ở một nơi có nghĩa là sứ điệp được mang đến nơi khác. Chúng ta thấy điều này xảy ra thường xuyên trong sách Công vụ Tông đồ.

• Trong khi sự bách hại thường là số phận của người làm việc cho Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài, thì một cái bẫy nguy hiểm hơn nữa có thể là sự tâng bốc của mọi người.

• Chúng ta thấy điều này trong chính cuộc đời của Chúa Giê-su, người đôi khi đã chạy trốn khỏi những tình huống như vậy (xem Gioan 6,15). Ở đây chúng ta thấy Phao-lô và Ba-na-ba kiên quyết từ chối một tình huống có vẻ thuận lợi mà họ có thể bị cám dỗ để lợi dụng. Như chúng ta sẽ thấy ngày mai, thật may là họ đã không làm vậy.

 

 


Chú giải về Gioan 14,21-26

Chúa Giê-su tiếp tục thông điệp cuối cùng của Ngài cho các môn đệ tại Bữa Tiệc Ly. Những người thật sự yêu mến Ngài là những người thực hành những lời dạy mà Ngài đã truyền dạy. Chỉ lời nói thôi thì không đủ. Nơi nào có tình yêu chân thành từ môn đệ, Chúa Giê-su sẽ đáp lại tình yêu đó và tỏ mình ra cho môn đệ. Ngài sẽ làm điều này bằng cách đến cùng Cha Ngài để ngự trong người đó.

Bây giờ đến lượt Giu-đa đặt câu hỏi. Giu-đa, trong đoạn Kinh Thánh được gọi là “Giu-đa (không phải Íscariot)”, cũng được gọi là “Giu-đa con trai của Gia-cốp”. Ông được liệt kê trong số Mười Hai sứ đồ trong Lu-ca 6,16 và ông lại xuất hiện (trong một danh sách) trong Công vụ Tông Đồ 1,13. Ông được cho là “Thaddaeus” trong Mát-thêu 10,3 và Mác-cô 3,18.

Ông muốn biết tại sao Chúa Giê-su chỉ tỏ mình ra cho các môn đệ mà không tỏ mình ra cho cả thế gian. Chúa Giê-su trả lời khá ngắn gọn, nhưng về cơ bản Ngài muốn nói rằng bất cứ ai đáp lại Chúa Giê-su bằng tình yêu thương chắc chắn sẽ trải nghiệm được tình yêu của Chúa Giê-su (tình yêu luôn hiện hữu). Theo định nghĩa trong Phúc Âm Gioan, “thế gian” bao gồm những người quay lưng lại với Chúa Giê-su, với thông điệp và tình yêu của Ngài:

Ai không yêu mến Ta thì không giữ lời Ta, và lời các ngươi nghe không phải là lời của Ta, nhưng là lời từ Cha, Đấng đã sai Ta đến.

Chúa Giê-su lại nhắc nhở các môn đệ rằng mọi điều Ngài truyền đạt cho họ cuối cùng đều đến từ Cha chứ không chỉ riêng Ngài. Ngài là Đấng trung gian; Ngài là Đường đi; Ngài là Lời của Đức Chúa Trời. Và sau này, sau khi Ngài ra đi, vai trò này sẽ được đảm nhiệm bởi Đức Thánh Linh, Đấng An Ủi.

Từ “an ủi” (tiếng Hy Lạp, parakletes) có nhiều nghĩa. Nó có thể có nghĩa là luật sư bào chữa trong tòa án, người đứng bên cạnh bị cáo và hỗ trợ bị cáo trong việc bào chữa. Nó có nghĩa là bất kỳ người nào đứng bên cạnh bạn và mang lại cho bạn sự hỗ trợ và an ủi. (Xem 2 Cô-rinh-tô 1,3-7, trong một đoạn ngắn, từ “parakletes”, với nhiều dạng khác nhau của tiếng Hy Lạp gốc, được sử dụng 7 hoặc 8 lần với nghĩa là “an ủi” và “nâng đỡ”.) Đức Thánh Linh sẽ đóng vai trò đó trong Hội Thánh sau khi Chúa Giê-su trở về với Cha Ngài—và Đức Thánh Linh vẫn tiếp tục vai trò đó cho đến ngày nay.

Vai trò của Đức Thánh Linh là giúp các môn đệ ghi nhớ tất cả những gì Chúa Giê-su đã nói với họ. Ngài là tiếng nói bên trong của Đức Chúa Trời, Đấng sẽ dẫn dắt những người lắng nghe đến sự trọn vẹn của chân lý (điều mà không ai có được vào bất kỳ thời điểm nào). Đức Thánh Linh sẽ giúp họ hiểu được ý nghĩa trọn vẹn của Đấng Ki tô đối với họ và đối với thế giới. Đức Thánh Linh sẽ cho họ thấy rằng Đấng Ki tô là sự ứng nghiệm của Kinh Thánh, và sẽ giúp họ hiểu sâu sắc hơn nữa ý nghĩa của cuộc đời Chúa Giê-su, những hành động và “dấu hiệu” của Ngài.

Tất cả những điều này các môn đệ hầu như không hiểu ở giai đoạn này—một sự thiếu hụt vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/e1052g/

 

 


Suy niệm: Bỏ điều hão huyền

Con người thiện chí. Nhưng dễ rơi vào những điều hão huyền. Dân chúng và các tư tế đền thờ thần Dớt tại Ly-cao-ni-a là một bằng chứng. Họ nghĩ tưởng về thần thánh theo phạm trù khái niệm họ tự đặt ra. Quả quyết Phao-lô và Bar-na-ba là thần Dớt và thần Hẹc-mét. Trong khi đó không tin lời của chính đương sự nói. Nên Phao-lô khuyên nhủ họ phải từ bỏ những điều hão huyền để trở về với Thiên Chúa là đường ngay nẻo chính.

Thực ra không ai có thể biết Thiên Chúa. Trừ khi Thiên Chúa tỏ mình cho. Thiên Chúa vượt xa mọi tầm hiểu biết của con người. Vượt xa mọi khái niệm của con người. Vượt xa mọi điều con người có thể suy nghĩ và mường tượng ra. Nhưng Thiên Chúa cũng không thể tỏ mình cho bất cứ ai. Thiên Chúa không tỏ mình một cách vô lý cưỡng ép. Nhưng chỉ có thể tỏ ra với những điều kiện phải có. Điều kiện đó là tình yêu.

Thiên Chúa là Tình Yêu. Chỉ những ai yêu mới đón nhận được Thiên Chúa. Không phải yêu lý thuyết nhưng là yêu thực sự cụ thể. Đó là tuân giữ giới răn như Chúa Giêsu đòi hỏi: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ đượ Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”. Thiên Chúa tình yêu tỏ mình ra cho người có tình yêu. Và chỉ người có tình yêu mới hiểu và đón nhận được Thiên Chúa là Tình Yêu.

Còn hơn cả tỏ mình ra, Thiên Chúa sẽ ở lại và kết hợp với ta trong tình yêu. “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”. Đó chính là lúc ta cảm nhận được tình yêu thực sự. Đó chính là ta đón nhận được tình yêu thực sự. Tình yêu cụ thể. Tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Tình yêu tuyệt hảo giữa Cha và Con trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần.

Ta hãy từ bỏ những điều hão huyền. Lối sống hão huyền. Mơ ước hão huyền. Tình yêu hão huyền. Hạnh phúc hão huyền. Yêu mến và tuân giữ Lời Chúa ta sẽ có tình yêu thực sự. Được Thiên Chúa Ba Ngôi Tình Yêu đến ở với ta, ta sẽ cảm nhận được tình yêu thực sự. Sẽ có niềm vui chan chứa. Sẽ hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét