Trang

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

Ngày 01 tháng Giêng


Ngày 1 tháng Giêng
(Cuối Tuần Bát Nhật Lễ Chúa Giáng Sinh)
Lễ Ðức Maria Mẹ Thiên Chúa


Bài Ðọc I: Ds 6, 22-27
"Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel và Ta sẽ chúc lành cho chúng".
Trích sách Dân Số.
Chúa phán cùng Môsê rằng: "Hãy nói với Aaron và con cái nó rằng: Các ngươi hãy chúc lành cho con cái Israel; hãy nói với chúng thế này: "Xin Chúa chúc lành cho con, và gìn giữ con. Xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con, và thương xót con. Xin Chúa ghé mặt lại cùng con, và ban bằng yên cho con". Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel, và Ta sẽ chúc lành cho chúng".
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 66, 2-3. 5. 6 và 8
Ðáp: Xin Thiên Chúa xót thương và ban phúc lành cho chúng con (c. 2a).
Xướng: 1) Xin Thiên Chúa xót thương và ban phúc lành cho chúng con; xin chiếu giãi trên chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ. - Ðáp.
2) Các dân tộc hãy vui mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa cầu. - Ðáp.
3) Chư dân, hãy ca tụng Ngài; thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài! Xin Thiên Chúa ban phúc lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài. - Ðáp.

Bài Ðọc II: Gl 4, 4-7
"Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Galata.
Anh em thân mến, khi đã tới lúc thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ, sinh dưới chế độ Luật, để cứu chuộc những người ở dưới chế độ Luật, hầu cho chúng ta được nhận làm dưỡng tử. Sở dĩ vì anh em được làm con, Thiên Chúa đã sai Thần Trí của Con Ngài vào tâm hồn chúng ta, kêu lên rằng: "Abba!", nghĩa là "Lạy Cha!" Thế nên, bạn không còn phải là tôi tớ, nhưng là con; mà nếu là con, tất bạn cũng là người thừa kế, nhờ ơn Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Dt 1, 1-2
Alleluia, alleluia! - Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 2, 16-21
"Họ đã gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi... và tám ngày sau người ta gọi tên Người là Giêsu".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, các mục tử ra đi vội vã đến thành Bêlem, và gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ. Khi thấy thế, họ hiểu ngay lời đã báo về hài nhi này. Và tất cả những người nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ.
Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những việc đó và suy niệm trong lòng. Những mục tử trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và đã xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ.
Khi đã đủ tám ngày, lúc phải cắt bì cho con trẻ, thì người ta gọi tên Người là Giêsu, tên mà thiên thần đã gọi trước khi con trẻ được đầu thai trong lòng mẹ.
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm:
Khi nghe các mục đồng thuật lại những điều được phán dạy về Hài Nhi, Ðức Maria hằng giữ kỹ những lời ấy và suy đi nghĩ lại. Ðức Maria, con người của chiều sâu nội tâm. Mẹ luôn chiêm ngắm dấu ấn của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh mọi biến cố. Thái độ "giữ kỹ" là thái độ khiêm tốn đón nhận. Sự "suy đi nghĩ lại" chứng tỏ một tâm hồn khao khát tìm hiểu.
Thiện tâm nơi Ðức Maria là điều kiện để mầu nhiệm cao siêu của Thiên Chúa được hiện tỏ.

Cầu Nguyện:
Lạy Mẹ Maria, mẹ tự khiêm hạ thẳm sâu nên đã được Thiên Chúa nâng lên đỉnh cao sang trong chức vụ Mẹ Thiên Chúa. Trước khi đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong cung lòng, Mẹ đã đón nhận Lời Chúa tận thâm sâu tâm hồn. Trong Mẹ tất cả chỉ có một niềm tin son sắt, một tình yêu nồng nàn để ý nhiệm của Thiên Chúa được thực hiện trọn vẹn. Xin Mẹ cầu cho chúng con cũng biết yêu mến, lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Amen.

Suy Niệm:
(Ngày 1 Tháng GIêng - Lễ Ðức Maria Mẹ Thiên Chúa)
(Ds 6,22-27; Ga 4,4-7; Lc 2,16-21)
Những bài Kinh Thánh chúng ta vừa nghe đọc cho thấy Lễ này có nhiều khía cạnh. Từ ngàn xưa khi mừng Lễ Chúa Giáng Sinh, Dân Chúa vẫn chú tâm đến Ðức Mẹ và không ngớt chiêm ngưỡng khuôn mặt của Người nơi máng cỏ. Có thể nói, Mùa Giáng sinh cũng là mùa lễ Ðức Mẹ. Nhưng riêng ngày 1 tháng Giêng hôm nay, Phụng vụ nhiều khi lúng tún: khi thì chú trọng đến việc cắt bì và đặt tên cho Hài Nhi, khi lại muốn tôn kính đặc biệt Ðức Thánh Mẫu. Ðức Phaolô VI lại thêm cho ngày này một ý nghĩa xã hội và đặt tên là Ngày Hòa Bình Thế Giới. Suy nghĩ của chúng ta có lẽ nên bao gồm cả ba khía cạnh đó để Ngày Lễ hôm nay được cử hành một cách phong phú.

1. Cắt Bì Và Ðặt Tên Cho Hài Nhi
Trong Thánh Lễ Nửa Ðêm Giáng sinh, Phụng vụ đọc cho ta nghe bài Tin Mừng Luca. Tác giả thuật lại câu chuyện Chúa ra đời một cách chính xác khiến ta thấy rõ lịch sử tính của Tin Mừng. Nhưng Luca đã dùng một từ ngữ, mà những người có kiến thức đạo đức nông cạn đã không hiểu gì. Luca nói: Ðức Maria đã sinh con đầu lòng, lấy khăn bọc lại rồi đặt vào máng cỏ. Có người đã nói: vì sao lại nói là "con đầu lòng"? Ðức Maria có sinh người con nào khác nữa đâu! Tốt hơn và chính xác hơn nên nói là "Con Một". Suy nghĩ như thế cũng đúng thôi, và khoa học đấy,nhưng lại không đạo đức như Luca là một tác giả Sách Thánh. Chữ "Con đầu lòng" dùng trong Tin Mừng gợi lên nhiều âm vang trong Cựu Ước, đặc biệt các đoạn sách liên quan tới việc Chúa đưa dân ra khỏi Aicập. Ngày ấy, thần sứ nhà Trời đã đi qua nước này và giết hết các con trai đầu lòng người Aicập và bỏ qua các con trai đầu lòng người Dothái. Từ đó, cả dân được cứu vớt được coi như con đầu lòng của Chúa và mọi con trai đầu lòng người Dothái phải được hiến thánh cho Ngài để trở thành của Ngài, đến nỗi gia đình phải dâng một đôi chim hay một con chiên nhỏ cho Ðền Thờ để thế lại rồi mới được đem đứa con đầu lòng về lại gia đình.
Vậy, khi dùng từ ngữ "con trai đầu lòng" để nói về Hài Nhi mà Ðức Maria vừa sinh ra, Luca muốn cho chúng ta nhìn thấy ngay Hài Nhi về phương diện đạo đức. Ðây là Hài Nhi thánh, Hài Nhi của dân thánh, Hài Nhi được hiến thánh, là Con của Thiên Chúa. Nhất là Luca đã viết trong bài Truyền tin rằng: Thánh Thần đến phủ bóng trên Ðức Maria; nên Trẻ Người sinh ra sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Thế nên Luca đã không dùng từ ngữ "Con Một" để nói về Hài Nhi Ðức Maria vừa sinh ra; ông đã dùng từ ngữ "con đầu lòng" để bao trùm máng cỏ trong một bầu khí thánh thiện đạo đức.
Và chúng ta cũng phải nhìn việc cắt bì và đặt Tên cho Hài Nhi trong bầu khí thánh thiện đạo đức ấy. Mọi ý nghĩa tò mò đều không xứng đáng. Người Dothái cử hành ngày thứ 8 này sau khi đứa trẻ sinh ra, một cách thánh thiện lạ lùng. Họ ý thức đâu là buổi lễ liên kết gia đình, dòng dõi họ vào Giao ước; họ được gắn liền với Thiên Chúa để Yavê là Chúa của họ và họ là dân và con của Ngài ở giữa mọi dân khác chỉ là dân ngoại. Gia đình Hài Nhi ở Bêlem còn cử hành ngày hôm nay đạo đức hơn nữa. Vì cả Yuse lẫn Maria sẽ phải đặt Tên cho Con Trẻ là Yêsu, như thiên thần đã dạy. Làm công việc này là vâng theo Ý Chúa, là thực hiện chương trình cứu độ của Ngài. Ngày hôm nay đáng dùng để suy nghĩ về các Ngài và đặc biệt về Ðức Maria.

2. Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa
Còn tước hiệu nào hợp hơn để nói về Ðức Maria trong hoàn cảnh này bằng tước hiệu Mẹ Thiên Chúa? Dĩ nhiên những lạc giáo ở những thế kỷ III-IV đã khiến Phụng vụ nhấn mạnh đến khía cạnh này. Nhưng như vậy cũng chỉ đúng với sự thật thôi! Nhìn Ðức Maria nơi máng cỏ, ai không thấy Người là Mẹ? Và sở dĩ máng cỏ được chúng ta chú ý và các thế hệ loài người nhìn ngắm, là vì Hài Nhi nằm đó không phải là một trẻ thường. Cả Luca, cả Yoan và cả Matthêô chỉ nói về Hài Nhi này như là một Trẻ Thánh. Luca dù tả chính xác câu chuyện Chúa sinh ra với những chi tiết thật cụ thể, vẫn gọi Hài Nhi là "con đầu lòng" như chúng ta đã nói ở trên và vẫn thêm cả một khúc trong bài tường thuật để làm nổi bật tính cách thần linh trong việc Giáng sinh này. Yoan thì rõ ràng xác định: Hài Nhi chính là Ngôi Lời trở thành nhục thể. Và chúng ta cử hành Phụng vụ Giáng sinh để cùng với các thiên thần trên trời thờ lạy người Con mà Chúa Cha vừa sinh ra ở đời. Vậy, Hài Nhi nơi máng cỏ đã là Ðấng Thánh, là Con Thiên Chúa và là chính Ngôi Lời Thiên Chúa hóa thân làm người, thì Ðức Maria, mẹ Người, cũng thật là Thánh Mẫu và là Mẹ Thiên Chúa.
Ðừng sợ tước hiệu này xúc phạm đến Thiên Chúa Cao Cả. Ngài đã chấp nhận giáng trần để trở nên như chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi; Ngài chấp nhận mọi luật lệ sinh sống, đau khổ và tử nạn, thì tại sao ta lại sợ nói phạm đến Ngài khi bảo Ngài là con của một người mẹ? Ngài đã gọi chúng ta là anh em và muốn là bạn hữu của mọi người; và chúng ta lấy đó làm vinh dự, thì chúng ta càng không có lý khi không muốn tuyên xưng Ðức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Suy nghĩ kỹ, chúng ta chỉ có thể thấy đây là một vinh dự lớn lao cho một người trong loài người chúng ta. Chúng ta phải hân hoan chúc tụng Mẹ là Ðấng đầy ơn phúc. Chúng ta cảm mến Mẹ và nhất là muốn theo gương Mẹ để có tâm hồn, tâm tình và thái độ đạo đức như Mẹ.

3. Tâm Tình Hòa Bình
Trong bài Tin Mừng Luca hôm nay, Mẹ hiện ra như là một từ mẫu ghi sâu tất cả những điều về Con và suy đi nghĩ lại trong lòng. Chúng ta quen nhìn thái độ ấy một cách đạo đức và có lý để coi Mẹ như là gương mẫu về sự chiêm niệm và cầu nguyện. Nhưng chúng ta cũng đừng quên nhìn thái độ ấy một cách tự nhiên hơn, để thấy Ðức Maria là một bà mẹ như hết mọi bà mẹ, ghi nhớ tất cả những điều gì về Con và gẫm suy những điều đó trong lòng. Quả thật, người mẹ nào không tự hỏi về tương lai của đứa con? Bất cứ dấu hiệu nào cũng khiến người mẹ suy nghĩ. Ðức Maria không suy đi nghĩ lại sao được khi thấy các mục đồng đến thăm và kể chuyện về việc các thiên thần hiện ra ban đêm? Và Người có thể nào không suy nghĩ về tiếng "Yêsu" mà từ nay theo lệnh sứ thần, Người sẽ dùng để gọi Con mình. Chính sứ thần đã giải thích trong buổi Truyền tin: "Bà sẽ gọi Con Trẻ là Yêsu. Người sẽ làm lớn và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Chính Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vua Ðavit cha Người và Người sẽ cai trị trong nhà Yacob đến muôn đời". Những lời đó không đơn sơ dễ hiểu. Nội dung chắc chắn vô cùng phong phú. Maria dĩ nhiên phải suy đi nghĩ lại.
Hôm nay các mục đồng lại kể thêm về các lời của thiên sứ. Hài Nhi trong máng cỏ sẽ là Cứu Thế, nên các thiên thần đã xướng ca: Vinh quang Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người Chúa thương. Như vậy, Yêsu Con của Ðức Maria thực hiện lời tiên tri hứa cùng nhà Ðavít. Người sẽ đem lại hòa bình cho Dân Chúa và vinh quang cho Chúa Trời. Ðức Maria hôm nay gẫm suy những điều ấy. Và Ðức Phaolô VI khuyên ta hằng năm hãy dùng Ngày Ðầu Năm Dương lịch này để suy nghĩ về hòa bình thế giới.
Chúng ta đã ra khỏi những năm chiến tranh. Chúng ta vẫn còn nhiệm vụ phải suy nghĩ về hòa bình. Hòa bình không phải chỉ là hết chiến tranh. Hòa bình còn là xây dựng bình đẳng, ấm no, thịnh vượng, hạnh phúc nữa. Phần tích cực có thể nói còn gồm nhiều mặt hơn phần tiêu cực là hết chiến tranh. Vả lại hết chiến tranh cũng phải là đã hết những hậu quả của chiến tranh là những thương tích, đổ vỡ vật chất và tinh thần. Chúng ta phải cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới. Chúng ta còn có nhiệm vụ quốc tế và công giáo. Hòa bình hạnh phúc phải là khí thở của mọi người trên thế giới.
Chúng ta đóng góp được gì? Hãy suy nghĩ hòa bình như Ðức Maria hằng suy đi nghĩ lại. Người suy nghĩ về Danh "Yêsu", có nghĩa là Cứu Thế. Danh đó phải được kêu cầu trên con cái loài người, như bài sách Dân số nói, để phước lộc được đổ xuống trên các dân. Và phước lộc phong phú cụ thể là chính Thánh Thần yêu mến mà Thiên Chúa muốn đổ xuống lòng mọi người, như lời thư Galát nói, để khi chúng ta gọi Chúa là Cha thì thấy mình là anh em với nhau.
Nhưng làm sao có thể kêu cầu Danh Chúa Yêsu mang lại hòa bình như thế, khi không bắt chước Ðức Maria mà kêu Danh ấy với tất cả lòng yêu mến dấn thân. Mỗi lần Ðức Maria gọi tên Yêsu, Người muốn hiến thân để cùng cứu thế. Ðiều đó thật chắc chắn! Ðiều đó nhắc nhở ta là Kitô hữu phải hiến thân cứu đời, tức là quên mình để sống vì hạnh phúc của xã hội. Yêu hòa bình thì phải xây dựng công bình bác ái; phải kiến tạo bình đẳng, ấm no, thịnh vượng, hạnh phúc; phải dứt khoát với mọi hình thức vinh thân phì gia, sống chết mặc bay miễn là cái tôi ích kỷ được thỏa mãn. Như vậy, hòa bình đòi phấn đấu và đấu tranh để tiêu diệt các xấu và phát triển cái tốt. Rất nhiều công tác cụ thể đang ở tầm tay mỗi người. Hết thảy chúng ta hãy tích cực để chúng ta không chỉ nói hòa bình nhưng muốn xây hòa bình.
Chúng ta sẽ đáp lại nguyện vọng của Ðức Phaolô VI khi đặt tên cho ngày hôm nay là Ngày Hòa Bình Thế Giới. Chúng ta sẽ bắt chước Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa, hôm nay suy nghĩ về Danh Ðức Yêsu, muốn hiến thân cùng cứu thế với Người. Chúng ta sẽ thể hiện ý nghĩa của mầu nhiệm Thánh Thể sắp cử hành, khi đem thân, đem máu mình ra để hủy diệt cái cũ, xây dựng cái mới cho muôn người được cứu độ.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

01/01/2012 CHÚA NHẬT CUỐI TUẦN BÁT NHẬT GS – B
Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa 
Lc 2,16-21
*****
GHI NHỚ SUY NIỆM TRONG LÒNG
“Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những việc đó và suy niệm trong lòng.” (Lc 2,19)
Suy niệm: Một trong những thành tựu quan trọng của công nghệ ngày nay là chế tạo ra những thiết bị có khả năng lưu trữ lượng thông tin khổng lồ, dung lượng ngày càng lớn, tốc độ truy cập ngày càng nhanh. Nhưng dù thế nào đi nữa những thiết bị đó không thể bì được với một bộ nhớ vô cùng kỳ diệu, đó là bộ nhớ của Đức Maria. “Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những việc đó và suy niệm trong lòng.” Mẹ không chỉ ghi nhớ những sự kiện như một bộ máy lưu trữ; Mẹ ghi nhớ và suy niệm chúng với cả tấm lòng và cả đời sống của mình: tham dự vào Mầu Nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể được sinh ra từ cung lòng của Mẹ; trung thành với lời “xin vâng” ban đầu để theo sát Chúa Kitô suốt trọn hành trình cứu thế.
Mời Bạn: Giữa cuộc sống vật chất sôi động và lôi cuốn, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, các tiện nghi vật chất giúp sinh hoạt đời sống ngày càng dễ chịu, nhưng tinh thần thế tục, não trạng hưởng thụ ích kỷ cũng ngày càng lớn theo, khiến cho “bộ nhớ thần linh” về “những sự trên trời” ngày càng teo tóp lại… Bạn đừng để cuộc sống của mình trôi dạt theo dòng đời, đừng quên rằng cuộc sống còn là một mầu nhiệm, con người có một nguồn gốc thần linh, và được mời gọi xây dựng Nước Trời như Đức Maria. Đây chính là Tin Mừng Bình An mà Đức Kitô đã mang vào trần gian khi Ngài giáng sinh làm người, cũng là điều kiện của nền hoà bình mà loài người hôm nay nguyện ước.
Sống Lời Chúa: Cùng Đức Mẹ, “ghi nhớ và suy niệm” những mầu nhiệm đời mình trong mối tương quan với Chúa.
Cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa.”
(5 Phút Lời Chúa)
++++++++++++++++++
Lời Chúa Trong Gia Đình
Chúa Nhật cuối Tuần Bát Nhật Giáng Sinh; Thánh Maria Mẹ Thiên Chúa; Ds 6, 22-27.
Gl 4, 4-7; Tin Mừng theo Thánh Lc 2, 16-21.
LỜI SUY NIỆM:
            “Nghe các người chăn chiên thuật chuyện ai cũng ngac nhiên. Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Lc 2, 18-19).
            Đức Mẹ suy đi nghĩ lại trong lòng, đây cũng là một bài học “Lớn” quan trọng và cần thiết  cho mọi tín hữu chúng ta. Khi có một biến cố xãy đến cho mình, hay một người thân, hoặc bất cứ của một người nào đó. Chúng ta phải biết quan tâm đến, biến cố này, sẽ đem lại cho bản thân mình những gì, có lợi cho phần rỗi của mình hay không? - Chúng ta không thể thờ ơ, không thể không quan tâm tới. Đặc biệt trong đời sống đức tin của chúng ta hôm nay. Như Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI, cũng như Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa XII, rất mong muốn mọi Ki-tô hữu, đọc Lời Chúa, rồi suy gẫm, cầu nguyện và chiêm niệm; giúp cho chúng ta được sống một thời gian thinh lặng hiệp thông với Chúa.
Mạnh Phương
++++++++++++++++++
01 Tháng Giêng
Chiếc Mốc Thời Gian

Cứ ở mỗi cuối năm, hoặc ở khởi đầu của một năm mới, một thập niên mới, một kỷ nguyên mới, tạp chí Time có thói quen chọn một người nổi bật nhất trong lịch sử nhân loại để làm một cái mốc cho thời gian.
Lần đầu tiên, năm 1927, phi công Hoa Kỳ tên là Charles Lindbergh đã được chọn làm người của năm. Viên phi công này là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã thực hiện một chuyến bay liên tục từ New York sang Paris. Người của năm không phải chỉ là một đấng mày râu, mà ngay cả phái yếu cũng được chọn vào danh dự ấy. Trước kia, có nữ hoàng Elizabeth đệ nhị, và năm 1986, tổng thống Aquino của Phi Luật Tân cũng đã được chọn làm người của năm. 
Có đàn ông, có đàn bà. Có những người xây dựng Hòa bình như Mahatma Gandhi, như martin Luther King, mà cũng có những người chỉ biết gây đau thương tang tóc cho nhân loại như Stalin, như Hitler, như Ðặng Tiểu Bình cũng đã từng được chọn làm người của năm. 
Gần đây, thế giới nhìn vào chủ tịch Gorbachov như gương mặt nổi bật nhất của lịch sử nhân loại. Năm 1987, ông được chọn làm người của năm vì đã xuất hiện như một biểu tượng của Hy vọng cho Liên Xô. Và với những thay đổi sâu rộng trong khối Ðông Âu do chính sách đổi mới của ông mang lại, ông được chọn làm người của năm 1989. Nhưng tạp chí Time còn đi xa hơn nữa khi tặng cho ông danh hiệu "Người của thập niên 80". Trước kia, năm 1949, thủ tướng nước Anh là Winston Churchill cũng đã được chọn làm người của nửa thế kỷ. 
Thời gian sẽ vô nghĩa và trống rỗng, nếu không được liên tục bằng những cái mốc của lịch sử. Con người cần có những chiếc ấy để nhìn lại quá khứ và dự phóng cho tương lai.
Người Kitô sống giữa thế giới không thể không dựa vào những chiếc mốc thời gian ấy. Nhưng chúng ta không nhìn vào những chiếc mốc thời gian ấy với đôi mắt bàng quan, hoặc tệ hơn nữa, bằng cái nhìn bi quan. Trong đức tin, tất cả được nhìn bằng đôi mắt lạc quan, bởi vì chúng ta tin rằng Thiên Chúa là chủ của lịch sử, Thiên Chúa luôn có mặt trong lịch sử con người. Tin vào sự hiện diện và hướng dẫn ấy của Thiên Chúa, chúng ta nhìn vào những chiếc mốc của thời gian như những dấu hiệu của Hy vọng. Ngay cả trong thất bại, rủi ro, tang tóc, thương đau, người Kitô cũng luôn nhận ra những dấu chỉ của Hy vọng. Tất cả mọi biến cố xảy đến đều phải được nhìn trong ánh sáng phục sinh của Ðức Kitô. Cái chết đau thương và nhục nhã của Ngài trên thập giá không phải là ngõ cụt, là đường cùng, là tăm tối mà là đường dẫn về Ánh Sáng.
Tin tưởng ở sự hiện diện của Thiên Chúa trong từng phút giây của cuộc sống và lịch sử con người, cái mốc thời gian của chúng ta có lẽ không phải là đơn vị của năm, thập niên, mà là từng phút giây của Hiện tại. Và người được chúng ta chọn cho từng phút giây ấy phải là Thiên Chúa, chủ của thời gian, chủ của lịch sử.
Xin chọn Người làm trung tâm điểm của cuộc sống, xin chọn Người làm Sự Sống, xin chọn Người làm Lý Tưởng, xin chọn Người làm Cảm Hứng, xin chọn Người làm cho tất cả cho cuộc đời, xin chọn Người trong từng phút giây của cuộc sống.

(Lẽ Sống)
++++++++++++++++++
Lời Chúa Mỗi Ngày
Ngày 1 tháng 1, Lễ Mẹ Thiên Chúa, Năm ABC
Bài đọc: Num 6:22-27; Gal 4:4-7; Lk 2:16-21.

1/ Bài đọc I:
22 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê:
23 "Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này:
24 "Nguyện ĐỨC CHÚA chúc lành và gìn giữ anh (em)!
25 Nguyện ĐỨC CHÚA tươi nét mặt nhìn đến anh (em) và dủ lòng thương anh (em)!
26 Nguyện ĐỨC CHÚA ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh (em)!
27 Chúc như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng."

2/ Bài đọc II:
4 Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật,
5 để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.
6 Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: "Áp-ba, Cha ơi! "
7 Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.

3/ Phúc Âm:
16 Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.
17 Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.
18 Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.
19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.
20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.
21 Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ:
Lời chúc lành tốt đẹp nhất của Năm Mới.

Trong Ngày Đầu Năm, chúng ta có thói quen chúc cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất, tùy vào những gì mà người khác muốn nghe; chẳng hạn, đối với các thương gia: phú quí, thịnh đạt; đối với các sinh viên sắp ra trường: thành công và thắng lợi trên đường công danh; đối với nhà nông: mùa màng trù phú; đối với người bệnh: sức khỏe lành mạnh. Nhưng đâu là lời chúc tốt đẹp và hòan hảo nhất của Ngày Đầu Năm? Các tín hữu tin đó là lời chúc có được Thiên Chúa; lý do của niềm tin này: có Chúa là có tất cả. Hơn nữa, chưa chắc có được những gì người khác chúc là đã tốt lành, chẳng hạn như được trúng số mà gia đình tan nát; nhưng nếu được những gì Thiên Chúa ban, chắc chắn sẽ tốt lành cho người lãnh nhận, vì Ngài biết con người cần gì.

Các Bài đọc của Ngày Đầu Năm tập trung trong các ơn lành đến từ Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, Thiên Chúa dạy cho Aaron biết cách chúc lành cho con cái Israel: phải nhân danh Thiên Chúa, phải xin Thiên Chúa tươi mặt nhìn đến và dủ lòng thương, phải xin Thiên Chúa ghé mắt nhìn đến và ban bình an. Trong Bài Đọc II, Thiên Chúa đã tỏ tình yêu của Ngài qua Mầu Nhiệm Nhập Thể: Ngài không những giải thóat con người khỏi tội, ban cho con người diễm phúc được làm nghĩa tử, và còn ban Thánh Thần để thúc đẩy con người gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi! Trong Phúc Âm, Thiên Chúa đã ban cho con người, đại diện qua Thánh Giuse, Đức Mẹ Maria, và các Mục-đồng được nhìn thấy Mặt của Thiên Chúa. Vì thế, khi con người có được Thiên Chúa, được Ngài đóai thương nhìn tới, con người sẽ không còn thiếu một ân huệ nào nữa.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Lời chúc tốt đẹp nhất: Xin Thiên Chúa đóai thương nhìn tới anh em!
1.1/ Phải nhân danh Thiên Chúa mà chúc lành: Đức Chúa phán với ông Moses: "Hãy nói với Aaron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Israel, anh em hãy nói thế này: "Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em!””
Theo truyền thống Do-Thái, tên là người. Danh của Thiên Chúa, Yaweh, đồng nhất với lòng thương xót, sự tốt lành, và sự bình an. Khi Thiên Chúa hiện ra với ông Moses, Người đã mặc khải tên này cho Moses. Khi chúng ta lấy tên ai để kêu cầu, chúng ta muốn đặt những lời cầu xin dưới sự bảo trợ của người đó; chẳng hạn, khi chúng ta kết thúc lời cầu xin bằng câu: “chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen;” là chúng ta đặt lời cầu dưới sự bảo trợ của Đức Kitô. Trong đọan văn hôm nay, Thiên Chúa cũng bảo đảm điều này: “Chúc như thế là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng.”
1.2/ Xin Thiên Chúa ghé mặt nhìn tới: “Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!" Truyền thống Do-Thái tin: Chúa nhìn thấy con người, nhưng con người không thể nhìn thấy Thiên Chúa. Ai nhìn thấy Thiên Chúa sẽ phải chết. Khi Chúa nhìn đến ai, người đó được Ngài chúc lành; ví dụ, Mẹ Maria ca ngợi Thiên Chúa: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đóai thương nhìn tới.” Ngược lại, khi Thiên Chúa ngỏanh mặt đi, hay nhìn đến với nét mặt không tươi, người đó bị chúc dữ.
2/ Bài đọc II: Chúa Giêsu làm cho con người nên công chính trước mặt Thiên Chúa.
2.1/ Thiên Chúa cho Con của Người nhập thể để cứu chúng ta khỏi Lề Luật: “Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.”
Tại sao phải cứu con người thóat khỏi Lề Luật? Vì Lề Luật mà con người phạm tội, không chu tòan những gì Lề Luật dạy. Hậu quả của tội là sự chết. Con người không thể nên công chính trước mặt Thiên Chúa bằng Lề Luật. Để cứu con người thóat khỏi sự chết, hậu quả của Lề Luật, Thiên Chúa đã cho Người Con nhập thể trong cung lòng một con người, Đức Mẹ Maria, để sinh ra làm người. Chính Người Con này sẽ gánh tất cả tội cho con người; vì thế, con người có thể trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa. Khi Người Con cất đi mọi tội, Ngài đã vô hiệu hóa Lề Luật - làm cho Lề Luật không còn giam hãm con người nữa.
2.2/ Thiên Chúa nhận chúng ta làm nghĩa tử qua Chúa Giêsu: Không những chỉ giải phóng con người khỏi tội, Chúa Giêsu còn ban cho con người muôn vàn ân phúc qua Mầu Nhiệm Nhập Thể. Thánh Phaolô nói: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: "Abba, Cha ơi!" Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.”
(1) Ơn làm con Thiên Chúa: Nhờ Chúa Giêsu, con người trở thành những người con của Thiên Chúa bằng niềm tin vào Đức Kitô, như Thánh Gioan nói: “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Jn 1:12-13). Đã là con, cũng là người thừa kế. Con người được thừa hưởng tất cả những gì Thiên Chúa ban qua Đức Kitô, nhất là ơn được sống đời đời.
(2) Các ơn của Chúa Thánh Thần: Để có thể tin vào Đức Kitô, và gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi! con người phải được Chúa Thánh Thần tác động. Nếu đã có Thánh Thần, con người sẽ không thiếu những ơn lành của Ngài, cách cụ thể là 7 ơn của Chúa Thánh Thần.
3/ Phúc Âm: Các Mục-đồng đến thờ lạy Hài Nhi.
3.1/ Ba phản ứng của các Mục-đồng: Sau khi được các Thiên-thần loan báo Tin Mừng, các Mục đồng đã đáp lại bằng 3 phản ứng:
(1) Họ đi tìm và đã thấy: Trình thuật kể: “Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp Bà Maria, Ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.” Con người chúng ta cũng phải hối hả và nhiệt thành như các Mục-đồng trong việc tìm kiếm Thiên Chúa; vì nếu không lên đường đi tìm, làm sao chúng ta có thể thấy Ngài được. Yếu điểm của nhiều người chúng ta là nhiệt thành tìm kiếm mọi điều, nhưng không nhiệt thành trong việc tìm kiếm và học hỏi về Thiên Chúa. Với một thái độ như thế, không lạ gì khi chúng ta vẫn còn xa cách Thiên Chúa vạn dặm!
(2) Họ tôn vinh ca tụng tình yêu Thiên Chúa: “Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.” Không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui của người đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa. Các Mục-đồng chắc chắn đã được Hài Nhi cho cảm nghiệm được tình yêu này, khi họ chiêm ngắm Ngài. Chúng ta đã cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa khi chiêm ngắm Hài Nhi trong máng cỏ chưa?
(3) Phải rao giảng và làm chứng cho tình yêu này: “Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.” Một khi đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa, con người trở thành khí cụ ca rao tình yêu của Thiên Chúa cho muôn người. Thánh Phanxicô Khó Khăn chỉ có thể hát lên “Kinh Hòa Bình” sau khi đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa dành cho ngài. Nếu các tín hữu đều phản ứng như các Mục-đồng hôm nay, chẳng mấy chốc mọi con người trong thế giới này sẽ cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa.
3.2/ Mẹ Maria ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy để suy đi nghĩ lại trong lòng: Một gương sáng Đức Mẹ dạy cho con người: đứng trước Mầu Nhiệm Nhập Thể, chúng ta đừng nói nhiều, nhưng hãy ghi nhận mọi sự kiện xảy ra và suy niệm trong lòng. Như một con người, có rất nhiều điều Mẹ có thể hỏi và kêu ca trách Thiên Chúa trong ngày sinh của Chúa Giêsu; chẳng hạn: Con Thiên Chúa mà lại sinh ra trong cảnh khó nghèo như vậy sao? Uy quyền của Thiên Chúa đâu mà để cho Con Ngài mới sinh ra đã phải chạy nạn rồi? Không phải chỉ lúc sinh con, nhưng trong suốt cả cuộc đời, Mẹ đã chứng kiến cuộc sống của Chúa Giêsu: khi thì rất uy quyền làm các phép lạ như tại tiệc cưới Cana, khi thì cô đơn bại trận như lúc sinh thì trên Thánh Giá. Mẹ có thể hỏi Thiên Chúa những lý do tại sao, nhưng Mẹ đã chọn sự thinh lặng và hòan tòan tin tưởng vào Kế Họach và tình yêu của Thiên Chúa cho gia đình Mẹ.
3.3/ Đặt tên cho con trẻ là Jesus: Tên Jesus trong tiếng Do-Thái có nghĩa là “Jaweh cứu thóat,” đó là tên mà Sứ-thần đã truyền đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ (Lk 1:31). Trong Cựu-Ước, cũng có một nhân vật mang tên này là Thủ Lãnh Joshua. Ông được chọn để thay Moses mang dân vào Đất Hứa (Num 13:6). Giống như Joshua, Chúa Giêsu cũng được Chúa Cha tuyển chọn để cứu nhân lọai khỏi tội, và mang họ đế cuộc sống đời đời trên Thiên Đàng. Khi ban cho chúng ta Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã sống đúng với Danh của Ngài là Thiên Chúa Thương Xót.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Trong Ngày Đầu Năm, chúng ta hãy dùng danh Đức Kitô mà chúc cho nhau được Thiên Chúa đóai thương nhìn tới.
- Vì Thiên Chúa đóai thương, nên Người ban cho chúng ta Người Con Một của Ngài, để gánh tội và để cho chúng ta thành những người con của Ngài.
- Thuở xưa, con người không được phép nhìn mặt Thiên Chúa; nhưng qua Biến Cố Nhập Thể, con người có thể chiêm ngưỡng dung nhan Thiên Chúa qua khuôn mặt của Chúa Hài Nhi.
- Với nền kinh tế bấp bênh của thế giới và của quốc gia chúng ta đang định cư, chúng ta không biết tương lai sẽ thế nào; nhưng chúng ta biết chắc chắn một điều: “những người được Thiên Chúa đóai thương, sẽ chẳng thiếu chi những điều tốt lành và bình an.”
- Cầu chúc quí khán giả khắp nơi luôn hăng hái nhiệt thành trong việc học hỏi Lời Chúa, và luôn sống trong tình yêu và ơn thánh của Ngài. Chúng con cầu xin nhờ Danh Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên OP

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

The Seventh Day in the Octave of Christmas


The Seventh Day in the Octave of Christmas 
Lectionary: 204


Reading 1 1 Jn 2:18-21

Children, it is the last hour; 
and just as you heard that the antichrist was coming,
so now many antichrists have appeared. 
Thus we know this is the last hour. 
They went out from us, but they were not really of our number;
if they had been, they would have remained with us. 
Their desertion shows that none of them was of our number. 
But you have the anointing that comes from the Holy One,
and you all have knowledge. 
I write to you not because you do not know the truth 
but because you do, and because every lie is alien to the truth.

Responsorial Psalm Ps 96:1-2, 11-12, 13

R. (11a) Let the heavens be glad and the earth rejoice!
Sing to the LORD a new song;
sing to the LORD, all you lands.
Sing to the LORD; bless his name;
announce his salvation, day after day. 
R. Let the heavens be glad and the earth rejoice!
Let the heavens be glad and the earth rejoice;
let the sea and what fills it resound;
let the plains be joyful and all that is in them!
Then shall all the trees of the forest exult before the LORD.
R. Let the heavens be glad and the earth rejoice!
The LORD comes,
he comes to rule the earth.
He shall rule the world with justice
and the peoples with his constancy.
R. Let the heavens be glad and the earth rejoice!

Gospel Jn 1:1-18

In the beginning was the Word,
and the Word was with God,
and the Word was God.
He was in the beginning with God. 
All things came to be through him,
and without him nothing came to be.
What came to be through him was life,
and this life was the light of the human race;
the light shines in the darkness,
and the darkness has not overcome it.

A man named John was sent from God.
He came for testimony, to testify to the light, 
so that all might believe through him.
He was not the light,
but came to testify to the light.
The true light, which enlightens everyone, was coming into the world.

He was in the world,
and the world came to be through him,
but the world did not know him.
He came to what was his own,
but his own people did not accept him.

But to those who did accept him
he gave power to become children of God, 
to those who believe in his name, 
who were born not by natural generation 
nor by human choice nor by a man's decision 
but of God.

And the Word became flesh
and made his dwelling among us,
and we saw his glory,
the glory as of the Father's only-begotten Son,
full of grace and truth.

John testified to him and cried out, saying, 
"This was he of whom I said, 
'The one who is coming after me ranks ahead of me 
because he existed before me.'"
From his fullness we have all received,
grace in place of grace,
because while the law was given through Moses, 
grace and truth came through Jesus Christ.
No one has ever seen God.
The only-begotten Son, God, who is at the Father's side, 
has revealed him.

 "The Word became flesh and dwelt among us"
Meditation: Why does John the Evangelist begin his gospel with a description of the Word of God which began the creation of the universe and humankind in the first book of Genesis? The “word of God” was a common expression among the Jews. God’s word in the Old Testament is an active, creative, and dynamic word. “By the word of the Lord the heavens were made” (Psalm 33:6). “He sends forth his commands to the earth; his word runs swiftly” (Psalm 147:15). “Is not my word like fire, says the Lord, and like a hammer which breaks the rock in pieces” (Jeremiah 23:29)? The writer of the Book of Wisdom addresses God as the one who “made all things by your word” (Wisdom 9:1). God’s word is also equated with his wisdom. “The Lord by wisdom founded the earth” (Proverbs 3:19).The Book of Wisdom describes “wisdom” as God’s eternal, creative, and illuminating power. Both “word” and “wisdom” are seen as one and the same. “For while gentle silence enveloped all things, and night in its swift course was now half gone, your all-powerful word leaped from heaven, from the royal throne, into the midst of the land that was doomed, a stern warrior carrying the sharp sword of your authentic command” (Book of Wisdom 18:14-16).
John describes Jesus as God’s creative, life-giving and light-giving word that has come to earth in human form. “God so loved the world that he gave his only Son, that whoever believes in him should not perish but have eternal life” (John 3:16). Jesus is the wisdom and power of God which created the world and sustains it who assumed a human nature in order to accomplish our salvation in it. Jesus became truly man while remaining truly God. “What he was, he remained, and what he was not he assumed” (from an early church antiphon for morning prayer). Jesus Christ is truly the Son of God who, without ceasing to be God and Lord, became a man and our brother. From the time of the Apostles the Christian faith has insisted on the incarnation of God’s Son “who has come in the flesh” (1 John 4:2) 
. 
Gregory of Nyssa, one of the great early church fathers (330-395 AD) wrote: Sick, our nature demanded to be healed; fallen, to be raised up; dead, to rise again.  We had lost the possession of the good; it was necessary for it to be given back to us. Closed in darkness, it was necessary to bring us the light; captives, we awaited a Savior; prisoners, help; slaves, a liberator.  Are these things minor or insignificant?  Did they not move God to descend to human nature and visit it, since humanity was in so miserable and unhappy a state?
Christians never cease proclaiming anew the wonder of the Incarnation. The Son of God assumed a human nature in order to accomplish our salvation in it. The Son of God ...worked with human hands; he thought with a human mind. He acted with a human will, and with a human heart he loved.  Born of the Virgin Mary, he has truly been made one of us, like to us in all things except sin (Gaudium et Spes).
If we are going to behold the glory of God we will do it through Jesus Christ. Jesus became the partaker of our humanity so we could be partakers of his divinity (2 Peter 1:4). God's purpose for us, even from the beginning of his creation, is that we would be fully united with Him. When Jesus comes God is made known as the God and Father of our Lord Jesus Christ. By our being united in Jesus, God becomes our Father and we become his sons and daughters. Do you thank the Father for sending his only begotten Son to redeem you and to share with you his glory?
"Almighty God and Father of light, your eternal Word leaped down from heaven in the silent watches of the night. Open our hearts to receive his life and increase our vision with the rising of dawn, that our lives may be filled with his glory and his peace.”

This reflection is courtesy of Don Schwager, whose website is located at: http://www.rc.net/wcc/readings/

Ngày 31 tháng 12


Ngày 31 tháng 12
(Trong Tuần Bát Nhật Lễ Chúa Giáng Sinh)


Bài Ðọc I: 1 Ga 2, 18-21
"Các con được Ðấng Thánh xức dầu, và các con biết mọi sự".
Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.
Hỡi các con, đây là giờ sau hết. Các con đã nghe biết là sẽ có Phản-Kitô đến, thì nay đã có nhiều Phản-Kitô xuất hiện, do đó chúng ta biết rằng đây là giờ sau hết. Họ ở giữa chúng ta mà ra, nhưng không thuộc về chúng ta, vì nếu họ thuộc về chúng ta, thì họ vẫn còn ở với chúng ta. Như vậy để chứng tỏ rằng không phải tất cả mọi người đều thuộc về chúng ta.
Còn các con, các con được Ðấng Thánh xức dầu, và các con biết mọi sự. Ta viết cho các con, không phải vì các con không biết sự thật, nhưng vì các con biết sự thật, và phàm là dối trá thì không (thể) do sự thật mà có.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 95, 1-2. 11-12. 13
Ðáp: Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan (c. 11a).
Xướng: 1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy chúc tụng danh Người, ngày ngày hãy loan truyền ơn Người cứu độ. - Ðáp.
2) Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan. Biển khơi và muôn vật trong đó hãy reo lên. Ðồng nội và muôn loài trong đó hãy mừng vui, các rừng cây hãy vui tươi hớn hở. - Ðáp.
3) Trước nhan Thiên Chúa, vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người sẽ cai quản địa cầu cách công minh, và chư dân cách chân thành. - Ðáp.

Alleluia: Dt 1, 2
Alleluia, alleluia! - Ngày thánh đã dọi ánh sáng trên chúng ta. Hỡi các dân, hãy tới thờ lạy Chúa, vì hôm nay ánh sáng chan hoà đã toả xuống trên địa cầu. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 1, 1-18
"Ngôi Lời đã làm người".
Bắt đầu Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thuỷ. Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.
Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan. Ông đã đến nhằm việc chứng minh, để ông chứng minh về sự sáng, hầu cho mọi người nhờ ông mà tin. Chính ông không phải là sự sáng, nhưng đến để chứng minh về sự sáng. Vẫn có sự sáng thực, sự sáng soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra.
Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý.
Gioan làm chứng về Người khi tuyên xưng rằng: "Ðây là Ðấng tôi tiên báo. Người đến sau tôi, nhưng xuất hiện trước tôi, vì Người có trước tôi". Chính do sự sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác.
Bởi vì Chúa ban Lề luật qua Môsê, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Ðức Giêsu Kitô. Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Ðấng ngự trong Chúa Cha, sẽ mạc khải cho chúng ta.
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm:
Ðức Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa. Nhưng Ngài đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.
Kinh nghiệm trong cuộc sống, người ta thấy hãnh diện khi được quen thân với người quyền cao chức trọng. Chính vì thế, người đời thường "thấy sang bắt quàng làm họ". Còn ngược lại, Ðức Giêsu lại thích đến làm thân với con người hèn mọn.
Chúng ta suy nghĩ gì về sự tự hủy và tình thân của Ðức Giêsu đối với chúng ta?

Cầu Nguyện:
Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng con cảm nhận được tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Chúa cao trọng như thế mà lại yêu thương nhân loại hèn mọn chúng con. Chúa đã tự hủy vinh quang quyền thế, xuống trần gian và nhận trần gian là nhà của Chúa; nhận con người thấp hèn là người nhà của Chúa. Thế nhưng xót xa thay! người nhà của Chúa chẳng chịu đón nhận. Con người hèn mọn mà dám khước từ Thiên Chúa. Chúng con quá ngỗ nghịch! Lạy Chúa, xin tha thứ cho chúng con. Amen.

Ngôi Lời Ðã Hóa Thành Nhục Thể

Khởi đầu Tin Mừng của thánh Gioan đã cho chúng ta thấy xuất xứ của Ðức Giêsu Kitô bởi Thiên Chúa mà ra. Ðức Giêsu Kitô được sinh ra không do xác thịt, cũng không bởi ý muốn của người đàn ông kết hợp với người đàn bà, nhưng bởi Thiên Chúa. Cho nên Ðức Maria đã thắc mắc với thiên thần Gabriel: "Chuyện ấy xảy ra thế nào được vì tôi không biết đến người nam". Thiên thần Gabriel đã giải thích cho Ðức Maria: "Chúa Thánh Thần đến với Trinh Nữ và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao phủ Trinh Nữ. Vì thế, Ðấng Trinh Nữ sinh ra sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa".
Vậy, Ðức Kitô sinh ra bởi quyền phép Thiên Chúa và được gọi là Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể, Ngài mặc lấy thân xác con người như chúng ta và như Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu với các môn đệ của ông: "Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian" và ông cũng làm chứng bằng lời nói sau đây: "Ðây là Ðấng tôi tiên báo, Người đến sau tôi nhưng xuất hiện trước tôi, vì Người có trước tôi".
Theo lẽ thường bà chị họ của Ðức Maria là Elizabeth mang thai Gioan Tẩy Giả trước sáu tháng, thì Gioan được nhìn nhận là sinh ra trước Chúa Giêsu. Nhưng Gioan Tẩy Giả lại nói: "Ngài có trước tôi", nghĩa là Gioan muốn nói lên bản tính Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô.
Như vậy qua đoạn Tin Mừng này, Gioan Tẩy Giả muốn dẫn chứng cho chúng ta con người của Chúa Giêsu Kitô có hai bản tính:
- Bản tính Thiên Chúa.
- Bản tính nhân loại.
Xét theo bản tính Thiên Chúa: thì từ nguyên thủy đã có Ngài, Ngài vẫn ở với Thiên Chúa và Ngài vẫn là Thiên Chúa. Vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa cho nên mọi vật đều được Người làm nên, và nếu không có Người thì không có vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Nơi Ngài có sự sống và chính Người là Thiên Chúa.
Theo bản tính nhân loại: Chúa Giêsu đã được sinh ra ở làng quê Belem bé nhỏ, nước Do Thái do một Trinh Nữ tên là Maria và một dưỡng phụ là Giuse. Chúa Giêsu đã sống ẩn dật ba mươi năm ở Nazareth, ba năm đi rao giảng nước Thiên Chúa rồi cũng bị bắt bớ, đánh đập và chết trên Thập Giá, an táng trong huyệt đá như mọi người đều biết.
Trong cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu, Ngài luôn luôn nhắc nhở đến sứ mệnh là phải chu toàn công việc Cha Ngài ủy thác, Ngài luôn luôn đề cao sự kết hợp mật thiết giữa Ngài với Chúa Cha và cả hai cùng làm việc không ngừng. Ngài cũng nhắc đến Chúa Thánh Thần sẽ được sai đến để tiếp tục công việc cứu rỗi của Ngài ở trần gian cho đến khi Ngài lại đến.
Chúa Giêsu đem ơn cứu rỗi đến cho nhân loại, vì trước Chúa Giêsu, chưa có ai nhận được ơn cứu rỗi kể từ lúc Adam và Evà phạm tội. Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến sự sung mãn của Chúa Giêsu mà hết thảy chúng ta được tiếp nhận từ ơn này tới ơn khác. Bởi vì Chúa ban lề luật qua Môisen, nhưng ơn thánh và chân lý thì được ban qua Ðức Giêsu Kitô.
Qua bài Tin Mừng hôm nay, thánh sử đã giúp chúng ta thêm niềm tin vào Ðức Kitô là Con Thiên Chúa, là Ngôi Hai Thiên Chúa đã đến làm người để đem ơn cứu rỗi đến cho nhân loại tội lỗi.
Lạy Chúa, trong Mùa Giáng Sinh năm nay, xin Chúa cho mỗi người chúng con thêm vững niềm tin để chúng con xác tín mạnh mẽ hơn: Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể đem tình thương tha thứ vô biên đến cho mỗi người chúng con. Xin cho chúng con sống thực sự với mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa làm người ở với chúng con. Amen.


31/12/2011 - THỨ BẢY TUẦN 1 GS
Th. Silvester I, giáo hoàng
Ga 1,1-18
*******
CHIÊM NGẮM NGÔI LỜI
“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” (Ga 1,14)
Suy niệm: Tựa như khúc nhạc dạo của bản giao hưởng, phần Lời Tựa Tin Mừng của thánh Gioan cho ta một thoáng nhìn về những đề tài sẽ được triển khai sau này như sự sống, ánh sáng, sự thật, vinh quang, thế gian… cũng như giới thiệu chủ đề căn bản của sách Tin Mừng: Đức Giêsu là Đấng Mạc Khải hoàn hảo của Thiên Chúa, để rồi rốt cuộc, con người hoặc chối từ hoặc đón nhận Ngài. Phần Lời Tựa này đã khéo léo trình bày cho ta bản sơ yếu lý lịch của Đức Giêsu để ta có một cái nhìn xuyên suốt về Ngài. Ngài là Ngôi Lời ở trong Thiên Chúa trước khi vũ trụ được tạo thành, Ngài xuống thế làm người qua mầu nhiệm nhập thể để chúng ta  trở nên con Thiên Chúa. Cuối cùng, sau khi hoàn tất công trình cứu độ, Ngài trở về với Thiên Chúa.
Mời Bạn: Bản sơ yếu lý lịch mang hình parabôn này cho bạn thấy vinh quang cao cả của Ngôi Hai Thiên Chúa cũng như sự hạ mình tột bậc của Ngài khi nhập thể làm người (đáy parabôn), để ban ân sủng và sự thật của Thiên Chúa cho bạn. Suy ngắm sự kiện này, ước mong bạn sẽ sững sờ, trái tim bạn rộn ràng niềm vui của người con cái Chúa.
Sống Lời Chúa: Trong mùa Giáng Sinh này, tôi sẽ dành thời gian quỳ cầu nguyện bên cạnh hang đá, chiêm ngắm và cảm tạ Ngôi Lời nhập thể làm người nơi Hài nhi Giêsu.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa, chúng con quỳ bên máng cỏ, chiêm ngắm Chúa nơi hình dáng nhỏ bé khiêm hạ của Hài Nhi Giêsu. Chúng con cảm tạ Chúa đã thương trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng con. Xin cho chúng con thật sự trở nên người con cái Chúa. Amen.
(5 Phút Lời Chúa)
*****************************************
Lời Chúa Trong Gia Đình
Ngày 31 - 12
Ngày VII Trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh; Thánh Silvester I Giáo Hoàng; 1Ga 2, 18-21.
Tin Mừng theo Thánh Ga 1, 1-18.
LỜI SUY NIỆM:
          “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa, và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.” (Ga 1, 18)
          Khi Gioan nói Thiên Chúa, chưa ai được thấy. Điều này trong Cựu Ước đã nói tới như ở Sách Xuất-Hành (33,22-23: Khi vinh quang của Ta đi qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đã đi qua. Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được thấy.) cũng như trong Sách Đệ Nhị Luật (4,12: Đức Chúa phán với anh em từ trong đám lửa: anh em nghe thấy tiếng nói nhưng không thấy hình bóng nào, chỉ có tiếng thôi.) Gioan đã không dừng lại ở đây. Gioan nhấn mạnh đến vai trò của Chúa Giêsu là Con Một có nghĩa là Chúa Giêsu là người duy nhất, người được Cha yêu dấu đặc biệt, người được chiếm hữu lòng người cha. Nên Tân Ước xác tín rằng Chúa Giêsu là người duy nhất, không thể có ai giống Ngài, cũng chẳng có ai làm được những việc Ngài đã làm. Ngài là người duy nhất đem Thiên Chúa đến cho loài người và đem loài người về cùng Thiên Chúa. Ai muốn được ơn cứu độ hãy tin vào Ngài. Vì Ngài là Đấng cứu độ hôm qua, hôm nay và mãi đến muôn đời.
Mạnh Phương
*****************************************
Gương Thánh Nhân
Ngày 31-12: Thánh SILVESTRÔ I
Giáo Hoàng (+335)
Thánh Silvestrô kế vị Thánh Miltiades làm giáo hoàng năm 314, sau khi Constantinô đã trả lại tự do cho Kitô giáo bằng sắc lệnh Milanô ít lâu. Có lẽ chính Ngài đã rửa tội cho Gustantinô, và đã chữa cho ông khỏi bệnh củi và nhà vua đã dâng cho Đức Silvestrô công trường Latêranô.
Cả một khối truyền thuyết cho Ngài là một thày thuốc, một nhà thần học, một luật gia. Nhưng có lẽ Ngài đã không phải như vậy.
Điều chắc chắn là Ngài đã cai quản Giáo hội dưới thời vua Constantino và đã góp phần vào việc xây dựng những đại thánh đường.
Cũng vào thời Ngài, cuộc ly khai của phái Dônatô và sự sai lầm của phái Atiô đã gây nên nhiều tai hoạ lớn lao cho Giáo hội. Cộng đồng Nicêa năm 325 dưới thời Ngài đã chặn đứng những tai hoạ ấy.
Ngài qua đời năm 335 và được mai táng tại nghĩa trang Priscilla, đường Salaria.

(daminhvn.net) 
*****************************************
31 Tháng Mười Hai
Lẽ Sống
Ngày xưa có một ông vua, tuổi đã quá ngũ tuần mà vẫn chưa xem được một quyển sách nào. Bộ sách mà ông thèm khát được đọc nhất là bộ "Lịch sử loài người". Nhưng khốn nỗi, cuộc đời của ông, từ mái đầu xanh cho đến tóc điểm bạc, không lúc nào được rảnh rang. Ðời ông luôn luôn sống trên lưng ngựa, nằm sương, gối tuyết trên bãi chiến trường. Nay chinh phục nước này, mai ngăn chặn nước kia xâm lăng. Mắt ông chỉ thấy có gươm giáo và máu lửa. Ông rất ân hận vì chưa đọc được một trang sách của thánh hiền... Nay nước nhà đã hòa bình, ông muốn dành thời giờ còn lại để đọc cho kỳ được bộ lịch sử loài người, để xem con người xưa nay sống để làm gì? Nhưng tuổi ông đã cao, mà bộ sách lại quá dày. Biết sức mình không thể đọc hết bộ sách, cho nên nhà vua mới ra lệnh cho viên sử thần làm hộ cho mình công việc ấy. Với sự giúp đỡ của một ban gồm 50 người, viên sử thần mới bắt tay ngày đêm miệt mài đọc sách.
Sau 10 năm cắm cúi đọc sách, viên sử thần đã có thể tóm tắt bộ lịch sử loài người thành 10 quyển sách, và cho mang vào trình lên nhà vua. Nhưng vừa nhìn thấy 10 quyển sách và đo lường tuổi tác của mình, nhà vua lại cảm thấy không đủ sức để đọc hết bộ sách đã được rút ngắn. Nhà vua mới đề nghị cho ủy ban làm việc thêm một thời gian nữa. Sau 5 năm làm việc thêm, ủy ban đã có thể tóm lược lịch sử loài người thành 5 quyển. Nhưng khi ủy ban mang 5 quyển sách vào ra mắt nhà vua, thì cũng chính là lúc nhà vua đang hấp hối trên giường bệnh. Biết mình không thể đọc được dù một trang, nhà vua mới thều thào nói với viên trưởng ban tu sử hãy tóm tắt bộ lịch sử loài người thành một câu mà thôi. Vị trưởng ban tu sử mới tâu với nhà vua như sau: "Hạ thần xin vâng mạng. Lịch sử loài người từ khai thiên lập địa đến giờ là: loài người sinh ra để khổ rồi chết". Nhà vua gật đầu. Ðôi môi khô héo của nhà vua bỗng nở nụ cười mãn nguyện... rồi tắt thở. Và giữa lúc ấy, vị trưởng ban tu sử cũng nấc lên mấy tiếng rồi trút hơi thở cuối cùng.
Hôm nay là ngày cuối năm. Nhìn lại một năm qua với không biết bao đói khổ, chiến tranh, chết chóc cho nhân loại cũng như cho chính bản thân, có lẽ cũng có nhiều người đi đến kết luận bi quan như viên trưởng ban tu sử trong câu chuyện trên đây: "Loài người sinh ra để khổ rồi chết".
Ði qua một đoạn đường trong cuộc lữ hành trần gian, Giáo Hội muốn chúng ta mặc lấy thái độ hân hoan và lạc quan. Bài ca trên môi miệng của chúng ta trong ngày hôm nay không phải là bài ca bi ai, tả oán, mà phải là bài ca "Te Deum", ngợi khen Chúa, cảm tạ Chúa. Ngợi khen Chúa, cảm tạ Chúa bởi vì vinh quang của Ngài là con người được sống. Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải của người chết.
Không chối bỏ thực tại của khổ đau, chết chóc, nhưng chúng ta luôn được mời gọi để không nhìn vào đó như tiếng nói cuối cùng, như ngõ cụt. Bởi vì vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống, cho nên hướng đi của lịch sử loài người không phải là ngõ cụt của sự chết, mà là Sự Sống. Bên kia khổ đau, chết chóc, cuộc sống vẫn còn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống.
Còn tâm tình nào xứng hợp trong ngày cuối năm cho bằng cảm tạ và phó thác. Cảm tạ và phó thác cho Chúa bởi vì Ngài vẫn luôn là Thiên Chúa của Tình Yêu, Thiên Chúa của Sự Sống. Cảm tạ và phó thác cho Chúa bởi vì Ngài là Ðường, là Sự Thật và là Lẽ Sống của chúng ta. Cảm tạ và phó thác cho Chúa vì cuộc sống này vẫn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống.
(Lẽ Sống)
*****************************************
Lời Chúa Mỗi Ngày
Ngày 31 tháng 12, BNGS
Bài đọc: I Jn 2:18-21; Jn 1:1-18.
1/ Bài đọc I18 Hỡi anh em là những người con thơ bé,
đây là giờ cuối cùng.
Anh em đã nghe biết là tên Phản Ki-tô sẽ đến;
thế mà giờ đây nhiều tên Phản Ki-tô đã xuất hiện.
Do đó, chúng ta biết được rằng đây là giờ cuối cùng.
19 Chúng xuất thân từ hàng ngũ chúng ta,
nhưng không phải là người của chúng ta;
vì nếu là người của chúng ta, chúng đã ở lại với chúng ta.
Nhưng như thế mới rõ:
không phải ai ai cũng là người của chúng ta.
20 Phần anh em, anh em nhận được dầu, do tự Đấng Thánh,
và tất cả anh em đều được ơn hiểu biết.
21 Tôi đã viết cho anh em,
không phải vì anh em không biết sự thật,
nhưng vì anh em biết sự thật,
và vì không có sự dối trá nào phát xuất từ sự thật. 
2/ Phúc Âm1 Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.
2 Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
3 Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành.
Điều đã được tạo thành 4 ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.
5 Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.
6 Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an. 7 Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. 8 Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng. 9 Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.
10 Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người.
11 Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. 12 Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
13 Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. 14 Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. 15 Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố: "Đây là Đấng mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi." 16 Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. 17 Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có. 18 Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Những kẻ Phản-Kitô là những người từ chối tiếp nhận Đức Kitô. 
Đối diện với sự xuất hiện của Đức Kitô, con người buộc phải tỏ thái độ: tin hay không tin. Tùy thuộc vào thái độ này, con người tự chọn cho mình phải hư đi hay đạt tới cuộc sống đời đời. Thiên Chúa không cần phán xét con người, nhưng Ngài để cho con người tự phán xét lấy. Điều này đã rõ ràng trong Tin Mừng Gioan: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Jn 3:16-18).
Các bài đọc hôm nay xoay chung quanh việc từ chối tiếp nhận Đức Kitô. Trong Bài đọc I, Thánh Gioan đề cập đến những kẻ Phản-Kitô và cuộc giao chiến cuối cùng của các Kitô hữu với những kẻ này. Trong Phúc Âm, Thánh Gioan tường thuật hai phản ứng của con người khi Ngôi Lời xuất hiện: (1) Có những kẻ từ chối tiếp nhận Người: “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Jn 1:10-11). (2) Nhưng nếu ai tiếp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa (Jn 1:12). 
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC: 
1/ Bài đọc I: Cuộc chiến cuối cùng với những kẻ Phản-Kitô 
1.1/ Cuộc chiến với những kẻ Phản-Kitô:
(1) Giờ cuối cùng là khi nào? Có 2 ý kiến khác nhau:
- Thời gian trước Ngày Tận Thế: Từ thời các Tông-đồ, con người luôn cố gắng đóan xem khi nào Ngày Tận Thế xảy ra: Thánh Phaolô trong Thư gởi tín hữu Thessalonica I đã tiên đóan Ngày này sẽ xảy ra trong tương lai gần; nhưng sau đó, ngài đã xét lại sự tiên đóan này trong các Thư: Thessalonica II, chương 2; và Corintô I, chương 7.
- Thời gian từ lúc Đấng Cứu Thế đến cho tới Ngày Tận Thế: Đây là ý kiến được đa số công nhận hơn vì được Chúa Giêsu nói tới nhiều lần trong các Tin Mừng. Chính Chúa Giêsu đã quả quyết: Ngày ấy chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng khi nào xảy ra không ai biết, trừ một mình Thiên Chúa Cha. Vì không ai biết khi nào Ngày đó xảy ra, nên mọi người phải luôn chuẩn bị.
(2) Ai là kẻ Phản-Kitô? Giới từ anti có 2 nghĩa trong tiếng Hy-Lạp: chống lại hay thay chỗ của. Vì thế từ Phản-Kitô cũng có 2 ý nghĩa:
- Kẻ chống lại Đức Kitô: những ai trực tiếp và đơn giản chống lại Ngài, chẳng hạn: các bè rối chống thiên tính hay nhân tính của Đức Kitô hay Con Thú trong Sách Khải Huyền.
- Kẻ muốn thay thế chỗ của Đức Kitô: những ai muốn thay thế chỗ của Đức Kitô cách gián tiếp và không minh bạch, chẳng hạn: thay vì chỉ cho mọi người tới với Chúa, họ lợi dụng những gì Chúa nói để chỉ vào mình hay từ từ đưa con người xa Chúa. 
1.2/ Dấu để nhận ra kẻ Phản-Kitô:
(1) Là người ở giữa chúng ta: không phải là quỉ vương ra đời như nhiều người lầm tưởng. Thánh Gioan chỉ rõ: “Chúng xuất thân từ hàng ngũ chúng ta, nhưng không phải là người của chúng ta; vì nếu là người của chúng ta, chúng đã ở lại với chúng ta. Nhưng như thế mới rõ: không phải ai ai cũng là người của chúng ta.” Vì kẻ Phản-Kitô lẫn lộn trong cộng đồng, nên các tín hữu cần cẩn thận đề phòng, vì khó nhận ra họ.
(2) Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta nhận ra kẻ Phản-Kitô: “Phần anh em, anh em nhận được dầu, do tự Đấng Thánh, và tất cả anh em đều được ơn hiểu biết. Tôi đã viết cho anh em, không phải vì anh em không biết sự thật, nhưng vì anh em biết sự thật, và vì không có sự dối trá nào phát xuất từ sự thật.” Chúa Thánh Thần là sự thật, chính Ngài sẽ giúp các tín hữu nhận ra ai là kẻ Phản-Kitô. 
2/ Phúc Âm: Người ở giữa thế gian, nhưng thế gian lại không nhận biết Người. 
2.1/ Ngôi Lời tỏ mình cho thế gian: Thánh Gioan nêu ra ít là 3 cách Ngôi Lời đã tỏ mình:
(1) Trong việc tạo dựng: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” Con người có thể nhận ra Thiên Chúa qua việc tạo dựng và quan phòng.
(2) Qua nhân chứng Gioan: “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin.” Gioan Tẩy Giả là nhân chứng đã biết và đã chỉ cho dân chúng thấy khi Ngài xuất hiện: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian” (Jn 1:29).
(3) Qua biến cố Nhập Thể: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.” Các Tông-đồ đã nhìn thấy Ngôi Lời bằng xương thịt. Ngài đã ở giữa họ, đã dạy dỗ, và đã làm bao phép lạ để chứng tỏ uy quyền của Ngài. Thánh-sử Gioan làm chứng cho chúng ta, những người không có kinh nghiệm nhìn thấy Chúa, trong cả Phúc Âm và Thư của ngài. 
2.2/ Phản ứng của con người: Có 2 phản ứng chính:
(1) Từ chối và không tin Ngài: “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.” Có những người không nhìn thấy sự hiện diện của Thiên Chúa qua việc tạo dựng. Họ cũng chẳng nhận ra Thiên Chúa qua Mầu Nhiệm Nhập Thể. Sau cùng, họ cũng chẳng tin vào lời các người làm chứng cho Thiên Chúa. Thời của Chúa cũng như thời nay, vẫn có những hạng người này.
(2) Tiếp nhận và tin vào Ngài: “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa.” 
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG: 
- Chúng ta phải tin vào Đức Kitô để được làm con Thiên Chúa và để đạt được cuộc sống đời đời.
- Con người tự phán xét lấy mình trong việc lựa chọn tin hay không tin vào Đức Kitô.
- Chúng ta phải cẩn thận đề phòng những kẻ Phản-Kitô: những người từ chối Đức Kitô, những người mạo nhận danh nghĩa của Ngài, và những người muốn thay Ngài bằng những điều khác.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP