Trang

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

05.06.2026: THỨ SÁU TUẦN IX THƯỜNG NIÊN - THÁNH BÔ-NI-PHÁT, GIÁM MỤC, TỬ ĐẠO - Lễ Nhớ

 05/06/2026

 Thứ Sáu đầu tháng, tuần 9 thường niên.

 Thánh Bôniphát, giám mục, tử đạo.

Lễ nhớ

 


* Thánh nhân sinh tại Anh quốc quãng năm 673. Người nhập đan viện I-xơ-te và được Đức Giáo Hoàng Ghê-gô-ri-ô II đổi tên Uyn-phơ-rít thành Bô-ni-pha-xi-ô.

Người là tông đồ của nước Đức và là người tổ chức lại Hội Thánh nhiều miền. Sau khi được Đức Giáo Hoàng tấn phong giám mục (năm 722), người rảo khắp nước Đức, thành lập các giáo phận và các đan viện trong đó có đan viện Phun-đa. Người bị sát hại ở Đốc-cum (Hà Lan) cùng với năm mươi hai đồng bạn năm 754.

 

Bài Ðọc I: (Năm II) 2 Tm 3, 10-17

“Kẻ sống đạo đức trong Ðức Giêsu Kitô, đều chịu bắt bớ”.

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gởi cho Timô-thêu.

Con thân mến, con đã noi theo cha về giáo lý, đức hạnh, dự định, lòng tin, khoan dung, yêu thương, kiên nhẫn, bắt bớ, đau khổ, như đã xảy đến cho cha ở Antiokia, Icôni và Lystra. Biết bao cuộc bắt bớ cha đã phải chịu, và Chúa đã cứu cha thoát khỏi tất cả. Vả lại, mọi kẻ muốn sống đạo đức trong Ðức Giêsu Kitô đều chịu bắt bớ. Còn những kẻ tội lỗi và gian trá, thì sẽ đi sâu vào tình trạng tệ hại hơn, vì họ lầm lạc và làm cho kẻ khác lầm lạc. Phần con, con hãy bền vững trong các điều con đã học hỏi và xác tín, vì con biết con đã học cùng ai, vì từ bé, con đã học biết Sách Thánh, và chính Sách Thánh đã dạy con sự khôn ngoan để con được cứu rỗi nhờ tin vào Ðức Giêsu Kitô. Tất cả Kinh Thánh đã được Chúa linh hứng, đều hữu ích để giảng dạy, biện bác, sửa dạy và giáo dục trong đàng công chính, ngõ hầu người của Thiên Chúa được hoàn hảo để sẵn sàng thực hiện mọi việc lành.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 118, 157. 160. 161. 165. 166. 168

Ðáp: Ðại bình an cho những ai yêu luật pháp Chúa (c. 165).

Xướng: Nhiều người bắt bớ và nhiễu hại con, nhưng con chẳng sai trật lời nghiêm huấn của Chúa. – Ðáp.

Xướng: Căn bản lời Chúa là sự thật, mọi chỉ dụ công minh của Chúa tồn tại muôn đời. – Ðáp.

Xướng: Các vua chúa bách hại con vô lý, nhưng lòng con vẫn kính sợ lời Ngài. – Ðáp.

Xướng: Ðại bình an cho những ai yêu luật pháp Chúa, không có gì làm cớ cho họ sẩy chân. – Ðáp.

Xướng: Lạy Chúa, con mong ơn Ngài phù trợ, để thực thi những chỉ thị của Ngài. – Ðáp.

Xướng: Con tuân giữ huấn lệnh và những lời truyền của Chúa, vì bao đường lối của con hiện ở trước nhan Ngài. – Ðáp.

 

Alleluia: Ga 14, 5

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! Chúa nói: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy. Alleluia.)

 

Phúc Âm: Mc 12, 35-37

“Sao họ có thể bảo Ðức Kitô là Con vua Ðavít?”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu cất tiếng giảng dạy trong đền thờ rằng: “Sao các luật sĩ lại nói Ðấng Cứu Thế là con vua Ðavít? Vì chính Ðavít được Chúa Thánh Thần soi sáng đã nói: Thiên Chúa đã phán cùng Chúa tôi rằng: “Con hãy ngồi bên hữu Cha, cho đến khi Cha đặt các kẻ thù con làm bệ dưới chân con”. Chính Ðavít gọi Người là Chúa, thì sao Người lại có thể là Con Ðavít được?” Và đám dân chúng thích thú nghe Người nói.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về 2 Ti-mô-thê 3,10-17

Trong Bài đọc thứ nhất hôm nay, Phao-lô tiếp tục khuyên Ti-mô-thê hãy lấy lời dạy và cách sống của Phao-lô làm mẫu mực cho đời sống của mình.

Phao-lô có những thiếu sót rất rõ ràng, mà ông nhận thức rất rõ, nhưng ông cũng biết rằng trong lòng tận hiến cho việc theo Chúa Giê-su, ông không thua kém ai. Thật vậy, chính vì những yếu đuối của ông mà quyền năng của Chúa Giê-su tỏa sáng mạnh mẽ qua ông:

…vì khi nào tôi yếu đuối, thì tôi lại mạnh mẽ. (2 Cô-rin-tô 12,10)

Và ông hết lòng yêu mến Chúa Giê-su, mà rằng:

…không còn phải là tôi sống nữa, mà là Đấng Ki tô sống trong tôi. (Ga-lát 2,20)

Vậy nên giờ đây Ti-mô-thê được mời gọi hãy nhớ đến lòng trung thành, sự kiên nhẫn và tinh thần chịu đựng của Phao-lô khi ông trải qua rất nhiều sự bắt bớ và đau khổ. Phao-lô nhắc đến ba thành phố Ga-lát là An-ti-ốt, I-cô-ni-ô và Ly-stra. Phaolo đã đến thăm họ trong hai chuyến truyền giáo đầu tiên của mình, và vì Ti-mô-thê đến từ Lystra, nên ông hẳn đã có hiểu biết trực tiếp về những đau khổ của Phaolo ở vùng đó. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã giải cứu Phaolô khỏi mọi mối đe dọa và khó khăn mà ông gặp phải ở đó.

Sau đó, Phaolô nêu lên một nguyên tắc thường xuyên xuất hiện trong Tân Ước và là một thực tế trong Giáo hội mọi thời đại:

…tất cả những ai muốn sống một đời sống thánh thiện trong Chúa Giê-su Ki tô đều sẽ bị bắt bớ.

Chúng ta tìm thấy những lời cảnh báo tương tự trong Phúc Âm:

…các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta. Nhưng ai kiên trì đến cuối cùng sẽ được cứu rỗi. (Mát-thêu 10,22)

Chính tại những nơi được đề cập ở trên, Phaolô đã khích lệ các tín hữu ở đó:

Chúng ta phải trải qua nhiều cuộc bắt bớ để vào được vương quốc của Đức Chúa Trời. (Công vụ Tông đồ 14,22)

Thánh Ignatius Loyola, người sáng lập Dòng Tên, đã diễn đạt điều đó hơi khác một chút khi ông nói rằng ông hy vọng rằng những người của ông sẽ luôn trải qua một số cuộc bắt bớ. Đó là dấu hiệu chắc chắn cho thấy họ đang làm tốt công việc của mình. Vì vậy, chúng ta không nên ngạc nhiên trước những cuộc tấn công hay chế giễu các giáo hội Ki tô của chúng ta.

Thực tế, sẽ luôn có, như Phao-lô nói, “những kẻ gian ác và những kẻ giả mạo” coi sứ điệp phúc âm là điều đáng nguyền rủa và là mối đe dọa. Họ sẽ làm mọi cách để phá hủy nó và những người truyền bá nó. Nhưng chừng nào phúc âm về Chân lý và Tình yêu còn được rao giảng thì nó không thể thất bại, bất kể điều gì chống lại nó.

Ti-mô-thê được khuyên hãy trung thành với tất cả những gì mình đã học và tin từ các thầy dạy của mình, bao gồm Phao-lô cũng như mẹ của Ti-mô-thê, bà Ê-nê-cô, và bà ngoại, bà Ê-li-át (tên của họ được nêu ở đầu thư). Họ đã dạy ông lời Chúa từ những năm tháng đầu đời. Một cậu bé Do Thái chính thức bắt đầu học Kinh Thánh khi mới năm tuổi. (Chúng ta biết rằng Ti-mô-thê sinh ra từ một người cha ngoại bang và một người mẹ Do Thái, và người Do Thái sẽ coi ông như một trong số họ. Vì lý do đó, Phao-lô đã cho cắt bì cho ông để ông được chấp nhận hơn trong cộng đồng người Do Thái.)

Phao-lô nói rằng Kinh Thánh, lời của Đức Chúa Trời, là:

…những văn bản thiêng liêng có thể hướng dẫn anh em để được cứu rỗi nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su Ki tô

Sự khôn ngoan không phải là kiến ​​thức hay thông tin; đó là sự hiểu biết sâu sắc về thực tại của thế giới chúng ta và khả năng nhìn thấy mọi sự liên quan đến nhau như thế nào. Sự khôn ngoan đặc biệt ở đây là sự khôn ngoan đến từ sự cam kết của chúng ta với tầm nhìn về cuộc sống mà Chúa Giê-su và phúc âm ban cho.

Phaolô tiếp tục:

Tất cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời soi dẫn…

Phaolo khẳng định sự tham gia tích cực của Đức Chúa Trời trong việc viết Kinh Thánh, một sự tham gia mạnh mẽ và sâu rộng đến nỗi những gì được viết ra là lời bất khả sai phạm và có thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Vào thời điểm này, sự tham chiếu chính ở đây phải là đến những gì chúng ta gọi là Cựu Ước vì một số sách trong Tân Ước thậm chí còn chưa được viết. Tuy nhiên, đến thời điểm của các sách sau này, ví dụ như 1 Ti-mô-thê và 2 Phê-rô, một số sách trong Tân Ước và các tài liệu viết khác (sau này sẽ trở thành một phần của kinh điển) đã được coi là ngang hàng với các sách trong Cựu Ước. (Đồng thời, người ta cảm thấy rằng Phaolô sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng một số bức thư ông viết, dường như đôi khi vội vàng, lại được coi là lời mặc khải của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta!)

Do đó, hiểu biết về Kinh Thánh là một nguồn thiết yếu cho:

việc giảng dạy, khiển trách, sửa chữa và huấn luyện trong sự công chính…

Được trang bị sự hiểu biết này, tất cả những người là “người của Đức Chúa Trời” sẽ có đủ năng lực, sẵn sàng và có khả năng làm mọi việc lành. Vì chính nhờ Lời Chúa trong Kinh Thánh mà chúng ta:

có thể trở nên thành thạo, được trang bị cho mọi việc lành.

Kinh Thánh chứa đựng sự khôn ngoan cần hướng dẫn toàn bộ đời sống Kitô hữu của chúng ta, và thật đáng tiếc khi nhiều người Công giáo (trái ngược với nhiều người Tin Lành) lại ít quen thuộc với Lời Chúa trong cả Cựu Ước và Tân Ước hơn mức cần thiết. Thánh Giêrôm đã nói rằng “không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô”.

Thật đáng ngạc nhiên khi đôi lúc nghe những người hầu như không bao giờ mở Kinh Thánh ra lại rao giảng về Chúa Giêsu và bản chất của Kitô giáo. Nếu chúng ta nằm trong số những người phải thừa nhận rằng phần lớn Kinh Thánh là một cuốn sách khó hiểu đối với chúng ta, thì hôm nay chúng ta hãy quyết tâm làm quen thuộc hơn với nó. Chúng ta sẽ tìm thấy ở đó một nguồn cảm hứng vô tận cho cuộc sống của mình.

Những người có kinh nghiệm sẽ nói với bạn rằng, cho dù họ đọc các đoạn Kinh Thánh bao nhiêu lần đi nữa, vẫn còn nhiều điều sâu sắc hơn để có thể hiểu được. Nó không giống như một cuốn tiểu thuyết trinh thám mà có thể vứt bỏ sau khi đọc xong. Nó giống như một tác phẩm nhạc cổ điển tuyệt vời có thể nghe đi nghe lại nhiều lần và luôn mở ra những cách diễn giải mới trong khi vẫn giữ được lòng trung thành với bản gốc.

 

 


Chú giải về Mác-cô 12,35-37

Trước những cuộc đối đầu mà Ngài đã trải qua, Chúa Giê-su giờ đây khẳng định danh tính thật của mình. Từ lâu, người Do Thái đã tin rằng Đấng Mê-si-a sẽ là hậu duệ của dòng dõi Đa-vít. (Mặt khác, người Sa-ma-ri lại thấy Đấng Mê-si-a đến qua dòng dõi tiên tri; xem Gioan 4.)

Chúng ta biết từ gia phả mà Phúc Âm cung cấp rằng Chúa Giê-su thuộc dòng dõi Đa-vít. Nhưng hôm nay, Ngài khẳng định mình không chỉ là hậu duệ của Đa-vít. Trên thực tế, Ngài là Chúa của Đa-vít. Trong Phúc Âm, Chúa Giê-su trích dẫn Thánh Vịnh 110, và chúng ta cần nhớ rằng Đa-vít được cho là tác giả của tất cả các Thánh Vịnh, chính những lời này được Đức Thánh Linh soi dẫn.

Trong Thánh Vịnh, Đa-vít nói:

Chúa [Đức Chúa Trời] phán cùng Chúa tôi [Đấng Mê-si-a] rằng:

“Hãy ngồi bên hữu ta

cho đến khi ta đặt kẻ thù ngươi làm bệ chân ngươi.” (Thánh Vịnh 110,1)

Vậy, Chúa Giê-su đang nói hai điều với những người chống đối Ngài:

1. Chúa Giê-su, hậu duệ, là Chúa của tổ phụ Ngài, Vua Đa-vít, và Ngài là Đấng Mê-si-a - Vua sẽ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Vì vậy, Ngài cũng là Chúa của những người đang thách thức Ngài.

2. Đức Chúa Trời hứa rằng Ngài sẽ nghiền nát tất cả kẻ thù của Đấng Mê-si-a - Vua.

Lập luận được sử dụng trong đoạn Kinh Thánh này khó có thể được sử dụng ngày nay, vì chúng ta hiểu rõ hơn về tác giả của các Thánh Vịnh so với người ta vào thời Chúa Giê-su.

 

Tuy nhiên, có nhiều yếu tố khác trong Kinh Thánh dẫn chúng ta đến cùng một kết luận: Chúa Giê-su là Chúa của muôn loài. Chúng ta nên tự hỏi: Cuộc sống của tôi có làm chứng cho niềm tin đó không?

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2096g/

 

 


Suy Niệm: Ðấng Kitô là Chúa

Cuộc đối đầu trực diện giữa Chúa Giêsu và các đối thủ qua đi với việc họ không còn chất vấn Ngài nữa. Lúc này, tác giả Marcô lại nhớ thêm một cảnh, trong đó chính Chúa Giêsu là người chất vấn. Marcô không xác định rõ kẻ bị hỏi, chỉ ở cuối đoạn ông mới cho biết đông đảo dân chúng lắng nghe Ngài cách thích thú.

Trong lần chất vấn này, Chúa Giêsu đề cập đến tước hiệu mà các luật sĩ gán cho Ngài: con vua Ðavít. Một truyền thống Do thái xa xưa vẫn cho rằng Ðấng Kitô phải thuộc dòng dõi vua Ðavít (2V 7,14-17). Người ta cũng thường gọi Chúa Giêsu là "con vua Ðavít" (x. 10,48; 11,10). Nhưng chắc chắn Chúa Giêsu không tự xưng mình bằng tước hiệu này, vì nó quá hàm hồ, Ngài muốn tránh xa quan niệm về Ðấng Kitô theo kiểu chính trị. Ngài trưng dẫn Thánh vịnh 110, theo đó Ðấng Kitô vừa là con vua Ðavít, vừa được Ðavít gọi bằng "Chúa tôi". Chính Kinh Thánh đã gán cho Ðấng Kitô một phẩm tính cao cả hơn con vua Ðavít và gọi bằng tước hiệu "Chúa". Sau biến cố Phục Sinh, các Kitô hữu đã sử dụng Thánh vịnh 110 để tìm ra các tước hiệu bao hàm trọn vẹn tính cách của Chúa Giêsu: họ tuyên xưng Ngài thực sự thuộc đẳng cấp thần thánh: Ngài đã sống lại và được Thiên Chúa phong làm "Chúa". Ngài lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa (Cv 2,34-36).

Ðức Kitô là Thiên Chúa thật và cũng là người thật. Ðó là lòng tin kiên vững của Kitô giáo. Quá nhấn mạnh tới thiên tính mà bỏ quên nhân tính, hoặc ngược lại, đều là những sai lầm tai hại. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật, như lời thánh Gioan: "Từ khởi thủy đã có Lời, và Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa". Nhưng Lời đã thành xác phàm và sống giữa nhân loại để cứu độ con người và nâng con người lên địa vị con cái Thiên Chúa. Nói theo thánh Irênê: Thiên Chúa đã làm người để con người được trở thành Thiên Chúa.

Ước gì đó là niềm xác tín mà chúng ta mang trong lòng, diễn tả ra cuộc sống và sẵn sàng bảo vệ đến cùng.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 


Ngày 5/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo (khoảng 673-754)

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Cuộc tử đạo của thánh giám mục thành Mayence và 52 người bạn đã diễn ra ngày 5 tháng 6 năm 754. Trong khi dâng Thánh lễ ở Dokkum, thuộc Frise miền Bắc (Hà Lan ngày nay), các Ngài đã bị dân Frisons sát hại, dẫu rằng họ đã được các ngài loan báo Tin Mừng của Chúa. Lễ nhớ thánh Boniface ca ngợi ngài là vị Tông Đồ vĩ đại của nươc Đức. Ngài hoạt động truyền giáo đến tận vương quốc dân Francs.

Mãi đến năm 1874, theo lời yêu cầu của các Nghị phụ Công đồng Vaticanô I, người ta mới đưa lễ nhớ thánh Boniface vào lịch Giáo triều Rôma. Tuy nhiên thánh nhân đã được tôn kính không những tại Đức, mà còn ở Anh là quê quán của ngài. Nơi đây, một Công đồng đã ban tặng người tước hiệu Đấng Thánh Bảo Trợ, bên cạnh thánh Grégoire Cả và thánh Augustin de Cantorbéry.

Winfrid sinh khoảng năm 673 tại vương quốc Anglo-saxon Wessex, nước Anh. Ngài được giáo dục trong các Đan viện Biển Đức miền Exeter và Nutshulling và khấn dòng năm 715.

Vì mong ước ra đi loan báo chân lý đức tin cho dân ngoại, lần đầu tiên ngài đến Frise năm 716. Nhưng nỗ lực này kết thúc trong thất bại. Năm 719, Đức Giáo Hoàng Grégoire II trao ngài sứ vụ loan báo Tin Mừng cho những kẻ thờ tà thần ở Đức, và cho gọi ngài bằng tên của một vị thánh tử đạo người Rôma: Bonifacius. Năm 722, ngài được phong giám mục, trực thuộc Tòa thánh nên không có giáo phận riêng.

Sau khi loan báo Tin Mừng cho miền Hesse – nơi đây ngài đã hạ ngã Cây sồi thiêng Donar, gần Geismar vào năm 725 – ngài sang Thuringe, lưu lại nơi này bảy năm và lập nhiều Đan viện. Sau đó, Đức Giáo Hoàng Grégoire III trao cho ngài một cánh đồng truyền giáo mới ở Bavière và phong ngài làm Tổng giám mục năm 732. Boniface ở lại đó 9 năm, cho đến năm 741, vào thời điểm này ngài lập các giáo phận quan trọng thuộc giáo tỉnh như Salzbourg, Freising, Ratisbonne, Passau.

Để hoàn thành tốt hơn sứ vụ loan báo Tin Mừng, thánh giám mục xin Đức Giáo Hoàng Zacharie quyền đặc miễn của Giáo Hoàng cho Đan viện Fulda mà ngài vừa thành lập năm 744: đây là quyền đặc miễn đầu tiên trong lịch sử.

Năm 747, dưới áp lực của các môi trường người Francs, xem Boniface như một người Anglo-saxon nguy hiểm, nên Pépin le Bref đã tách Boniface ra khỏi các nơi ấy. Sau cùng, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần năm 754, ngài bị một nhóm người ngoại đạo sát hại cùng với 52 bạn, trong khi ngài đang rao giảng Tin Mừng cho miền Frise miền Bắc. Các thánh tích của ngài luôn được sùng kính tại Đan viện Fulda. Chính vì luôn trung thành tưởng nhớ đến ngài mà các giám mục Đức thường qui tụ về thành phố này.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện mới trong Thánh lễ được trích từ sách lễ Ambroise và Paris. Lời nguyện xin thánh giám mục Boniface chuyển cầu “cho chúng ta giữ vững lòng tin và lấy cả cuộc đời can đảm tuyên xưng lòng tin mà thánh tử đạo đã dùng lời nói rao giảng và lấy máu đào để chứng minh”. Nhờ tích cực hoạt động Tông Đồ trong nhiều vùng đất châu Âu, và cũng nhờ tiếp xúc dễ dàng với các Giáo Hoàng và các vị vua chúa, ngài đã hỗ trợ việc chuyển giao quyền Giáo Hoàng từ thời Byzantin sang thời Francs.

Phương pháp truyền giáo của Boniface dựa trên hai điểm chính: trước hết tìm kiếm sự hậu thuẫn của vua chúa và quan quyền mà không bao giờ phương hại sự tự do của Hội thánh; sau đó, kêu gọi sự hỗ trợ của các Đan viện, là những trung tâm đích thực của đời sống Kitô giáo và rao giảng Tin Mừng.

Khi phân chia vương quốc của Charles Martel năm 741; Carloman được hưởng vùng Austrasie, đã nhờ Boniface giúp loại bỏ những sự lạm dụng trong việc chuyển nhượng bổng lộc danh tước, và buông lỏng kỷ cương trong giới giáo sĩ và ngay cả các đan sĩ Celte phiêu bạt. Để đạt mục đích này, Boniface đã triệu tập một Công đồng chung các giám mục Francs tại Soisson năm 742. Công đồng này kéo dài trong ba năm và đã đưa ra sắc lệnh cải tổ quan trọng trong Giáo hội Francs.

Các Đan viện là những trung tâm sinh hoạt Phụng Vụ và cũng là trung tâm văn hóa xã hội. Việc phát triển xây dựng các Đan viện là một trong những đặc điểm quan trọng trong việc thánh nhân xây dựng và tái tổ chức các Giáo hội, như ở Bavière, Thuringe hay tại các quốc gia nói tiếng Pháp. Thánh Boniface cũng là tác giả sách ngữ pháp, hệ thống đo lường và sáng tác nhiều thơ văn.

Bài đọc – Kinh sách đề xuất một lá thư của thánh giám mục Boniface qua đó chúng ta thấy được các đặc tính của vị mục tử như ngài: “… Chúng ta chớ như những con chó câm, những lính canh thinh lặng, những kẻ chăn thuê chạy trốn sói dữ; nhưng chúng ta hãy là những mục tử chuyên chăm, biết lo lắng cho đoàn chiên Chúa Kitô, biết rao giảng mọi ý định của Thiên Chúa cho hết mọi người, thuộc mọi tầng lớp cũng như tuổi tác, cho kẻ lớn cũng như người bé, cho người giàu cũng như kẻ nghèo, trong mức độ Thiên Chúa giúp sức cho, lúc thuận tiện cũng như lúc gặp phải nghịch cảnh, theo cách thức như thánh Grégoire đã chép trong sách mục vụ” (Thư 78).

Enzo Lodi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét