Trang

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

03.09.2026: THỨ NĂM TUẦN XXII THƯỜNG NIÊN - THÁNH GHÊGÔRIÔ CẢ, GIÁO HOÀNG, TIẾN SĨ HỘI THÁNH

 


03/09/2026

Thứ Năm tuần 22 thường niên

 Thánh Ghêgôriô Cả, giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh.

 Lễ nhớ

 


* Thánh nhân sinh quãng năm 540 tại Rôma. Người theo con đường công danh, nhưng đã từ chối chức thái thú Rôma. Người gia nhập đan viện và sau khi làm phó tế, người nhận nhiệm vụ sứ thần Công-tăng-ti-nốp. Ngày 3 tháng 9 năm 590, người được chọn làm người kế vị thánh Phêrô suốt mười bốn năm phục vụ Hội Thánh (590-604). Dầu sức khỏe không dồi dào, người đã tận tụy chu toàn bổn phận, giúp đỡ người nghèo, củng cố và truyền bá đức tin. Người đã biên soạn nhiều tác phẩm về luân lý và thần học. Hoạt động của người được nuôi dưỡng nhờ chiêm niệm. Người qua đời ngày 12 tháng 3 năm 604.

 

Bài Ðọc I: (Năm II) 1 Cr 3, 18-23

“Tất cả là của anh em, nhưng anh em thuộc về Ðức Kitô, và Ðức Kitô thuộc về Thiên Chúa”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, đừng có ai lừa dối mình. Nếu có ai trong anh em cho mình là người khôn ngoan ở đời này, thì kẻ ấy hãy nên điên dại để được khôn ngoan: vì sự khôn ngoan của thế gian này là sự điên dại đối với Thiên Chúa, vì có lời chép rằng: “Chính Người bắt chợt những người khôn ngoan ngay trong xảo kế của họ”. Lại có lời khác rằng: “Chúa biết tư tưởng của những người khôn ngoan là hão huyền”. Vậy đừng có ai còn tự phô trương nơi loài người. Vì tất cả là của anh em, dù là Phaolô hay Apollô, hoặc Kêpha, hoặc thế gian, sự sống hay sự chết, hoặc hiện tại hay tương lai. Tất cả là của anh em; nhưng anh em thuộc về Ðức Kitô, và Ðức Kitô thuộc về Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 23, 1-2. 3-4ab. 5-6

Ðáp: Chúa là chủ trái đất và mọi vật làm sung mãn nó (c. 1a).

Xướng: Chúa là chủ trái đất và mọi vật làm sung mãn nó, chủ địa cầu và muôn loài cư trú ở trong. Vì chính Ngài xây dựng nó trên biển cả, và Ngài giữ vững nó trên chỗ nước nguồn.

Xướng: Ai khá trèo lên cao sơn của Chúa, ai được đứng trong nơi thánh của Ngài? Người tay vô tội và lòng thanh khiết, người không để lòng xu hướng bả phù hoa.

Xướng: Người đó sẽ được Chúa chúc phúc cho, và được Thiên chúa là Ðấng cứu độ ban ân thưởng. Ðó là dòng dõi người tìm kiếm Chúa, người tìm long nhan Thiên Chúa nhà Giacob.

 

Alleluia: 2 Tx 2, 14

Alleluia, alleluia! – Thiên Chúa đã dùng Tin Mừng mà kêu gọi chúng ta, để chúng ta được chiếm lấy vinh quang của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! Chúa nói: Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. – Alleluia.)

 

Phúc Âm: Lc 5, 1-11

“Các ông đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, dân chúng chen nhau lại gần Chúa Giêsu để nghe lời Thiên Chúa, lúc đó Người đứng ở bờ hồ Ghênêsarét. Người trông thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ; những người đánh cá đã ra khỏi thuyền và họ đang giặt lưới. Người xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông đưa ra khỏi bờ một chút. Rồi Người ngồi trên thuyền, giảng dạy dân chúng.

Vừa giảng xong, Người bảo ông Simon rằng: “Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu và thả lưới bắt cá”. Ông Simon thưa Người rằng: “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Các ông đã thả lưới và bắt được rất nhiều cá; lưới các ông hầu như bị rách. Bấy giờ các ông làm hiệu cho các bạn đồng nghiệp ở thuyền bên cạnh đến giúp đỡ các ông. Những người này tới, họ đổ cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi những thuyền chở nặng gần chìm.

Thấy thế, ông Simon sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và thưa Người rằng: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Ông kinh ngạc và tất cả mọi người ở đó với ông cũng kinh ngạc trước mẻ cá mà các ông vừa mới bắt được; cả ông Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, bạn đồng nghiệp với ông Simon cũng thế. Nhưng Chúa Giêsu phán bảo ông Simon rằng: “Ðừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Bấy giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về 1 Cô-rin-tô 3,18-23

Một lần nữa, Phao-lô khuyên các tín hữu tại Cô-rin-tô hãy gạt bỏ "sự khôn ngoan của thế gian" và học cách trở nên kẻ khờ dại vì Đấng Ki-tô trong mắt thế gian ấy. "Trở nên kẻ khờ dại" nghĩa là quay lưng lại với "sự khôn ngoan" của thế gian—điều khiến một người bị coi là kẻ ngốc trong mắt nhiều người. Đó là bước đầu tiên dẫn đến sự khôn ngoan đích thực. Chỉ khi nhận ra chiến thắng của tình yêu Thiên Chúa ngay trong sự thất bại và thảm cảnh bề ngoài của Thập Tự Giá, chúng ta mới bắt đầu có được sự khôn ngoan chân chính.

Những ai theo đuổi "sự khôn ngoan của thế gian" thường tin rằng tiền bạc, của cải vật chất, thành công và quyền lực trên người khác chính là con đường dẫn đến sự viên mãn và hạnh phúc. Một số người thậm chí sẵn sàng hy sinh tính mạng vì những điều này; nhưng về lâu dài, những sự theo đuổi ấy không mang lại sự viên mãn mà tất cả chúng ta hằng khao khát.

Trích dẫn từ sách Thánh Vịnh, Phao-lô nói:

Chúa biết tư tưởng của kẻ khôn ngoan,

rằng chúng chỉ là hư không. (Thánh Vịnh 94,11)

Trái lại, sự khôn ngoan của Thiên Chúa được truyền tải đến chúng ta qua cuộc đời và cái chết của Chúa Giê-su.

Vì vậy, Phao-lô tiếp tục khẳng định rằng không ai nên tự hào theo kiểu phàm trần. Ông nhắc lại lời kêu gọi hiệp nhất mà mình đã đưa ra ngay từ đầu thư (xem 1 Cô-rin-tô 1,10-13).

Chẳng hạn, ông viết về việc nhận mình là môn đồ của người này hay người kia. Các nhà lãnh đạo Ki-tô—như Phao-lô, A-pô-lô và những người khác—thuộc về toàn thể Hội Thánh. Không một nhóm nào có thể coi một nhà lãnh đạo là của riêng mình. Nói cách khác, thật sai lầm—như cách mà người Cô-rin-tô dường như đang làm—khi đặt trọn niềm tin và tâm trí vào một người như Phao-lô, A-pô-lô, Kê-pha (Phê-rô), hay vào thế gian nói chung, vào sự sống hay sự chết, vào hiện tại hay tương lai. Tất cả những điều đó chỉ là tôi tớ hay công cụ của Thiên Chúa, và chúng ta không bao giờ được phép dừng lại ở đó.

Vì thế, đừng còn nói rằng nhóm này theo Phao-lô còn nhóm kia theo A-pô-lô nữa:

…tất cả đều thuộc về anh em, anh em thuộc về Đấng Ki-tô, và Đấng Ki-tô thuộc về Thiên Chúa. Các Kitô hữu hiệp thông với những người lãnh đạo đích thực của Giáo hội và với Đức Kitô; về phần mình, Đức Kitô lại hiệp thông với các Ngôi Vị khác trong Chúa Ba Ngôi.

Dù gia nhập cộng đồng bằng cách nào đi nữa, tất cả mọi người đều chỉ có thể coi Đức Kitô là nguồn mạch mang lại ý nghĩa cho cuộc đời mình. Và chính nhờ Đức Kitô—chỉ duy Ngài chứ không phải bất kỳ trung gian nhân loại nào khác—họ mới có thể đến được với Thiên Chúa, Đấng là nguồn gốc của họ và cũng là Đấng mà họ được mời gọi để hiệp nhất trọn vẹn sau cùng.

Nếu thực sự khôn ngoan, người Côrintô sẽ thay đổi cách nhìn nhận và thấy được mọi sự trên thế gian cũng như tất cả những người cùng sống trong Giáo hội dưới ánh sáng của mối tương quan đích thực giữa họ với nhau. Xét về phương diện "quyền sở hữu", thứ tự sẽ là: Thiên Chúa, Đức Kitô, các tín hữu, rồi đến các vị lãnh đạo Giáo hội. Tuy nhiên, xét về phương diện phục vụ, thứ tự ấy lại đảo ngược hoàn toàn.

Chỉ khi nhìn nhận vai trò lãnh đạo trong Giáo hội như một sự phục vụ các tín hữu, chúng ta mới tránh được những tình trạng mà Thánh Phaolô từng lên án. Khi các tín hữu buộc phải phục vụ giới lãnh đạo, chúng ta bắt đầu tạo ra sự chia rẽ bè phái—điều từng gây tổn hại cho Giáo hội tại Côrintô. Chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng tư tưởng này vào thực trạng Giáo hội của chính mình, dù là ở cấp độ toàn cầu, quốc gia hay địa phương.

 


Chú giải về đoạn Tin Mừng Luca 5,1-11

Hôm nay, chúng ta đọc tường thuật của thánh Luca về việc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ lần đầu tiên. Câu chuyện này khác biệt đáng kể so với các tường thuật song song trong Tin Mừng Máccô và Mátthêu, đồng thời là sự kết hợp các chi tiết từ Tin Mừng Máccô và Gioan.

Chúng ta được biết rằng Chúa Giêsu đang đứng bên bờ "Hồ Ghennêsaret". Các tác giả Tin Mừng khác gọi nơi này là Biển Galilê, còn thánh Gioan hai lần gọi là Biển Tibêria.

Vì đám đông chen lấn vây quanh để nghe Lời Chúa, Ngài buộc phải mượn một trong hai chiếc thuyền đang neo đậu gần bờ, nơi các chủ thuyền đang giặt lưới:

Ngài bước lên một chiếc thuyền, chiếc thuyền của ông Simon, và bảo ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Sau đó, Ngài ngồi xuống và giảng dạy cho đám đông từ trên thuyền.

Như chúng ta đã thấy tại hội đường Nadarét (và cả trong Bài Giảng Trên Núi ở Tin Mừng Mátthêu), ngồi là tư thế giảng dạy thường thấy. Xét về mặt thực tế, việc giảng dạy từ trên thuyền giúp Chúa Giêsu tránh được áp lực từ đám đông mà vẫn đủ gần để nói chuyện với họ.

Đó là một chi tiết đơn giản, trực diện nhưng lại mang tính biểu tượng. Chúa Giêsu bước lên thuyền của Simon và giảng dạy từ đó. Trong các sách Tin Mừng, chiếc thuyền thường là biểu tượng cho cộng đoàn Giáo hội. Việc Chúa Giêsu bước lên chiếc thuyền ấy—chiếc thuyền của Simon—và giảng dạy từ đó mang ý nghĩa rất sâu sắc. Đó là hình ảnh báo trước những gì sẽ diễn ra trong tương lai gần.

Tiếp đến là bài học và sự mặc khải. Sau khi giảng dạy xong, Simon được bảo hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu và thả lưới. Simon đáp lời:

Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Tuy nhiên, nếu Thầy đã bảo, con sẽ thả lưới.

Có lẽ ta có thể cảm nhận được chút thái độ của một người chuyên nghiệp đối với kẻ nghiệp dư trong câu trả lời của Simon, đại ý là: "Chúng tôi biết ở đó chẳng có cá đâu, nhưng thôi, cứ thả lưới cho Thầy vui lòng vậy."

Thế nhưng, lưới vừa mới xuống nước thì đã đầy ắp cá, đến mức tưởng chừng như sắp rách. Họ (Simon và những người cùng đi trên thuyền) phải gọi các bạn đồng hành ở chiếc thuyền kia đến giúp đỡ (dường như họ không bắt được con cá nào; chỉ có thuyền của Simon mới bắt được cá). Giờ đây, cả hai chiếc thuyền đều đầy ắp cá đến mức suýt chìm.

Simon—người ít phút trước còn tỏ ra tự phụ và cái gì cũng biết—giờ đây hoàn toàn bị khuất phục. Ông biết rõ là ở đó không có cá. Vì vậy, chỉ có một cách giải thích duy nhất: Người đang đứng trước mặt ông là một Đấng vô cùng đặc biệt:

Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!

Đó là phản ứng của một con người khi đứng trước quyền năng và lòng nhân lành vĩ đại của Thiên Chúa. Chúng ta cũng thấy những phản ứng tương tự nơi Áp-ra-ham (Sáng thế  18,27), Gióp (42,6) và I-sai-a (6,5).

Simon—vốn là một "chuyên gia"—nhận ra mình chẳng là gì khi đứng trước Người này. Thay vào đó, ông nhận thức được những khiếm khuyết của bản thân. Nghịch lý thay, chính các vị thánh lại là những người sẵn sàng thừa nhận tội lỗi của mình nhất. Các bạn đồng hành của ông là Gia-cô-bê và Gio-an cũng kinh ngạc không kém. Phiên bản câu chuyện này không nhắc đến An-rê vì ông hẳn đã ở trên cùng chiếc thuyền với anh mình là Simon. Đoạn văn cho thấy Simon không ở một mình trên thuyền ("chúng tôi đã vất vả suốt đêm...").

Một số nhà chú giải cho rằng có thể Lu-ca đã mượn câu chuyện này từ tường thuật của Gio-an về việc các môn đệ đi đánh cá ở phần cuối Tin Mừng đó. Người ta nhận thấy Simon gọi Chúa Giê-su là "Chúa" (Lord)—một tước hiệu thường dùng sau khi Người phục sinh—và nhắc đến tội lỗi của mình; điều này hợp lý hơn khi xét đến việc ông đã chối Chúa ba lần trong cuộc Khổ nạn. Câu chuyện cũng hướng tới vai trò lãnh đạo của Phê-rô (lúc đó ông đã được đổi tên), điều được xác nhận trong cùng chương đó của Tin Mừng Gio-an.

Sau đó, Chúa Giê-su trấn an Simon và các bạn đồng hành:

Đừng sợ...

Đây là những lời họ sẽ còn được nghe lại, bởi vì Người đang kêu gọi họ trở thành những cộng sự trong công cuộc xây dựng Vương quốc của Người. Mẻ cá khổng lồ mà chiếc thuyền chở Chúa Giê-su và Simon thu được chính là dấu báo cho một mẻ lưới thu phục con người còn vĩ đại hơn nhiều, do cộng đồng mới—được dẫn dắt bởi Thần Khí của Chúa Giê-su và dưới sự lãnh đạo của Phê-rô—thực hiện. Khác với các sách Tin Mừng còn lại, Tin Mừng Luca ghi lại một khoảng thời gian Chúa Giê-su giảng dạy và thực hiện các phép lạ trước khi Ngài kêu gọi các môn đệ. Điều này khiến cho sự đáp lại dứt khoát của họ trở nên hợp lý và bớt gây ngạc nhiên hơn.

Họ đã nghe sứ điệp, đón nhận lời kêu gọi và:

Sau khi đưa thuyền vào bờ, họ bỏ lại tất cả và đi theo Ngài.

Trong Tin Mừng Mác-cô và Mát-thêu, họ bỏ lại lưới và thuyền. Riêng trong Tin Mừng Luca, việc đi theo Chúa Giê-su được hiểu là sự dấn thân tuyệt đối—người ta phải từ bỏ mọi sự và hoàn toàn phó thác cuộc đời mình cho Chúa Giê-su, bất kể Ngài sẽ dẫn lối đến đâu. Những chiếc thuyền và tấm lưới ấy chính là chỗ dựa bảo đảm cho cuộc sống của Si-môn, các bạn đồng hành và gia đình họ. Thế nhưng, họ đã bỏ lại tất cả những thứ đó. Đó chính là đức tin; đó là sự tín thác. Nếu thiếu đi điều này, sứ mạng sẽ không thể thành công.

_______________________________________________

1.                   Ông chưa được gọi là Phê-rô cho đến chương kế tiếp của sách Luca.

 

https://sacredspace.com/commentary

 


Suy niệm: Sự hiện diện và tác động của Chúa

Ý nghĩa của mẻ cá và ơn gọi của các môn đệ đầu tiên được Luca ghi lại trong Tin Mừng hôm nay sẽ được sáng tỏ, nếu chúng ta nắm bắt được quan niệm của người Do thái về biểu tượng của nước, nhất là của biển cả. Người Do thái tin rằng biển cả là nơi cư ngụ của Satan và những lực lượng chống đối Thiên Chúa. Trong niềm mong đợi chung, người Do thái tin rằng chỉ có Ðấng Cứu Thế được Thiên Chúa sai đến mới có đủ uy quyền để chế ngự biển cả và giải thoát tất cả những ai đang bị chôn vùi trong đó.

Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ thấy được quyền năng giải thoát của Ngài khi thực hiện mẻ cá lạ lùng trước mặt các ông. Chiếc lưới được thả vào lòng biển khơi để vớt cá lên, đó là hình ảnh của công cuộc cứu thoát mà Ngài đang thực hiện. Ngài đến là để lôi kéo con người khỏi vực sâu của tội lỗi và sự dữ. Chính trong ý nghĩa ấy, Chúa Giêsu dùng kiểu nói "đánh lưới người" mà Ngài sẽ trao phó cho các môn đệ và Giáo Hội mà Ngài sẽ thiết lập; trở thành ngư phủ đánh lưới người có nghĩa là tham dự vào công trình cứu rỗi của Chúa Giêsu.

Qua mẻ cá lạ lùng, Chúa Giêsu muốn chứng tỏ cho các môn đệ thấy rằng tự sức họ, họ không thể làm được gì. Thánh Phêrô đã ý thức được điều đó: "Chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả". Thánh Phêrô không chỉ nói lên cái giới hạn bất toàn của con người, mà còn nhận ra thân phận tội lỗi yếu hèn của mình: "Lạy Thầy, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi". Ý thức về thân phận ấy và sống cho đến cùng thân phận ấy là cả một cuộc chiến đấu cam go. Hơn ai hết, thánh Phêrô đã cảm nghiệm được sự yếu đuối mỏng giòn của con người khi chối Thầy; cả cuộc đời ngư phủ đánh lưới người của Phêrô chỉ trở thành hữu hiệu với ý thức ấy. Càng thấy mình yếu hèn, con người càng sống gắn bó với Chúa; càng thấy mình vô dụng, con người càng trở nên hữu hiệu trong quyền năng của Chúa. Ra đi tản mát khắp nơi để trở thành ngư phủ đánh lưới người, tất cả các môn đệ đều nhớ lại bài học của mẻ cá lạ ấy và tâm niệm lời Chúa Giêsu: "Không có Thầy, các con không làm được gì".

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tin tưởng nhìn vào tác động của Chúa qua Giáo Hội. Ngài vẫn hiện diện trong con thuyền Giáo Hội, và ngoài mọi suy nghĩ, tính toán của chúng ta, Ngài vẫn tiếp tục thực hiện những điều cả thể, ngay cả những lúc Giáo Hội tưởng mình bị bó tay không làm được gì. Lời nhắn nhủ của Ðức Hồng Y Etchegaray đáng cho chúng ta suy nghĩ: Người ta dễ chú ý đến tiếng động của cây rừng ngã đổ, mà lại quên đi âm thanh nhỏ bé của những mầm non đang mọc lên.

Nguyện xin Chúa củng cố chúng ta trong niềm tin vững vào sự hiện diện và tác động của Chúa trong Giáo Hội. Xin Ngài ban cho chúng ta đôi mắt tinh tường bén nhạy để nhận ra biết bao điều cả thể Ngài đang thực hiện trong những biến cố âm thầm, mất mát, thua thiệt của Giáo Hội.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 


Ngày 3/9: Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả – Giáo hoàng, Tiến sĩ Hội Thánh

Lễ nhớ

 

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ thánh Grégoire cử hành vào ngày Người được chọn làm giám mục ngày 3 tháng 9 năm 590 tại đền thánh Phê-rô ở Roma sau khi được bầu làm giáo hoàng.

Grégoire là chắt của Đức giáo hoàng Félix (+ 492), sinh tại Roma vào khoảng năm 540, thuộc gia đình dòng nghị sỹ Anicii. Thân phụ Ngài, ông Gordien, là nghị viên, thân mẫu là thánh nữ Sylvie, các bà cô là thánh nữ Tharsilla và thánh nữ Emiliana (Tarsille và Émilienne). Từ năm 573 đến 578, Ngài là thị trưởng thành phố Roma; sau khi thân phụ qua đời, cảm thấy đời tu lôi cuốn, Ngài giã từ công việc, biến ngôi nhà gia đình ở Coelius thành tu viện, sống như tu sỹ, theo luật dòng thánh Biển Đức. Ngài cũng thành lập sáu tu viện khác trên các lãnh địa của mình ở Sicile. Năm 579, Đức giáo hoàng cho Ngài thụ phong phó tế rồi sau làm sứ thần tại Constantinople; trong vòng sáu năm. Tại đây, Ngài bắt đầu chú giải Sách Gióp theo đề nghị của các tu sỹ Ngài đem từ Roma và cùng sống với Ngài.

Trở về Roma năm 586, thánh Grégoire tiếp tục đời tu dòng. Nhưng năm 590, sau cái chết của Đức giáo hoàng Pélage II vì dịch hạch, Ngài được cả nghị viện, hàng giáo sỹ và dân chúng tôn làm giáo hoàng. Lúc này thành phố còn bị tàn phá bởi dịch hạch, nạn đói đe dọa, lũ lụt sông Tibre hoành hành. Để lấy lại tinh thần dân chúng, Đức tân giáo hoàng tổ chức các cuộc kiệu, những buổi cầu nguyện trọng thể và đồng thời đảm trách việc tiếp tế lương thực cho thành phố. Chuyện kể rằng thời đó có một thiên thần hiện đến với đức Grégoire báo tin sắp hết dịch bệnh ở Roma.

Dù có ơn gọi sống đời chiêm tu, thánh Grégoire cũng là bậc thầy về linh đạo, là con người của hành động, nhà cai trị tài ba (người ta sẽ gọi Ngài là người La mã cuối cùng) và nhà chính trị sắc xảo. Được bầu làm giáo hoàng ngoài ý muốn, Ngài biến Giáo hội Roma thành lực lượng chính của phương Tây. Ngài tổ chức lại, khôi phục “di sản thánh Phêrô” trải dài đến tận Sicile và trong khi lo chống đối các dân man di, Ngài thương lượng ký kết một hoà ước với quân Lombardo đang đe dọa Roma. Về Hội Thánh, Ngài phục hồi trật tự, kỷ luật, chứng tỏ uy quyền; tại châu Phi, Ngài can thiệp vào vụ giáo phái Donatus; tại Tây Ban Nha, Ngài chống lại lạc giáo Arius; ở xứ Gaule, Ngài tái lập vị trí trưởng giáo khu cho Arles. Đức giáo hoàng Grégoire cũng can thiệp sang phương Đông chống lại hoàng đế Manrice không chấp thuận cho các quân nhân và cộng chức thụ phong linh mục, chống lại Đức Constantinople tự xưng là “oecuménique” gây xúc phạm đến tư cách cũng như quyền lợi của các thượng phụ khác.

Vị giáo hoàng không hề mỏi mệt này mặc dầu sức khỏe mỏng dòn, đã cai quản Hội Thánh trong mười bốn năm. Mặc dầu vào những năm cuối đời có yếu đi và không thể cử động, Ngài vẫn tiếp tục giáo huấn dân chúng bằng những bài giảng dọn cẩn thận và giao cho một giáo sỹ đọc. Ngài qua đời ngày 12 tháng 3 năm 604, thọ sáu mươi ba tuổi. Vị giáo hoàng đã chọn tước hiệu Servus servorum Dei (Tôi tớ của các tôi tớ Thiên Chúa) nầy, tước hiệu được các đấng kế vị gỉư lại. Ngài thật xứng đáng với tước hiệu “Vĩ đại” mà Đức Boniface VIII đặt cho. Xác Ngài được tôn kính tại Đền thờ thánh Phêrô ở Vatican. Mộ chí gọi Ngài là Consul Dei (nghị viên của Chúa).

2. Thông điệp và tính thời sự

Hai lời nguyện thánh lễ lấy từ Sách các phép thánh Grégoire, vốn đã được chọn làm nền tảng cho sách lễ Roma; sách Các phép này người ta nói là do thánh Grégoire, nhưng có lẽ có từ thời Đức Grégoire II (715 – 737).

Lời nguyện trong ngày cầu xin Chúa ban “Thần trí khôn ngoan của Chúa cho những ai có trách nhiệm dẫn dắt Giáo hội”. Trong bản Quy luật mục vụ, thánh Grégoire phác thảo các bổn phận của giám mục, cũng như trong bài giảng về Ezéchiel (Phụng vụ bài đọc trích dẫn), thánh nhân mô tả nhiệm vụ “người trinh sát”. “Người trinh sát luôn đứng trên cao để nhìn được những gì từ xa sắp xảy đến. Tất cả những người trinh sát đều phải đứng cao trên cuộc đời mình để có thể giúp đỡ, nhờ sự cảnh giác của mình… Quả thế, tôi buộc lòng phải xem xét đến khi thì những công việc của Giáo hội, lúc của các tu viện, và thường phải xét đoán về đời sống cũng như hành vi các cá nhân, khi phải bận tâm lâu ngày dài tháng về một số vấn đề dân sự, lúc khác nữa phải đau đớn trước những đợt tấn công gây chết chóc của những dân man di và lo sợ những đàn sói đang đe dọa đàn chiên Chúa giao phó cho tôi. Có lần tôi buộc lòng sử dụng một số biện pháp để khỏi thiếu sự trị liệu… lần khác tôi phải kiên nhẫn cam chịu những vụ cướp bóc và lần khác nữa phải ra mặt chống đối lại chúng hầu giữ được tình bác ái” (Bài giảng về Ezechiel 1, 11, 4 – 6). Lời nguyện hiệp lễ nhấn mạnh giáo huấn của Chúa như là nguồn mạch chân lý tình yêu – Quả thế, Đức giáo hoàng Grégoire, trong một bức thư, đã viết rằng người ta có thể “hiểu rõ tấm lòng Chúa qua trung gian các lời của Người”. Lúc khác, thánh nhân nói: “Lời Chúa phát triển cùng với kẻ đọc nó”. Nhưng lời Chúa chỉ có thể hiểu trọn vẹn trong Giáo hội: “Kinh nghiệm cho thấy thông thường tôi được nhiều điều về lời Chúa khi cùng với anh em hơn, những điều tôi không sao hiểu nổi một mình; chính anh em giúp tôi học được những gì lời dạy anh em. đây là sự thật, là: nhiều khi tôi chỉ nói lại những gì tôi đã nghe từ chính anh em” (Bài giảng về Ezechiel 2, 2, 1).

Một khía cạnh khác trong công việc mục tử của Ngài, đó là lòng nhiệt thành truyền giáo. Chính Ngài đã sai bốn mươi tu sỹ Biển Đức sang quần đảo nước Anh, với sự hướng dẫn của tu sỹ Augustin sau sẽ là tổng giám mục Cantorbery đầu tiên. Việc này đã giúp Kitô giáo phát triển sang Anh quốc, đồng thời cũng là cơ hội cho bản kỷ luật dòng Biển đức rực chiếu trong nhiều nhà dòng sẽ được xây dựng hầu khắp châu Âu.

Chăm lo cho đàn chiên mà Thánh Thần giao phó trách nhiệm (Đáp ca trong Phụng vụ bài đọc), thánh Grégoire vừa soi sáng vừa xây dựng Giáo hội – khi vạch nét căn bản cho thần học luân lý truyền thống trong một nền giáo lý thánh kinh, thánh Grégoire mãi mãi là gương mẫu cho Giáo hội mọi thời.

Enzo Lodi

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét