Trang

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

01.08.2026: THỨ BẢY TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN - THÁNH ANPHONGSÔ, GIÁM MỤC, TIẾN SĨ HỘI THÁNH - Lễ Nhớ

 


01/08/2026

Thứ Bảy đầu tháng, tuần 17 thường niên.

Thánh Anphongso, Giám mục Tiến sĩ Hội Thánh.

Lễ Nhớ

 


* Thánh nhân sinh năm 1696 tại Napôli. Người từ bỏ nghề luật sư để làm linh mục, rồi sau lại nhận trách nhiệm giám mục để loan báo tình yêu của Chúa Kitô. Người đi giảng không mỏi mệt, siêng năng giải tội và rất nhân từ với các hối nhân. Người đã lập Dòng Chúa Cứu Thế nhằm mục đích loan báo Tin Mừng cho dân các miền quê (1732). Người đã giảng dạy luân lý và viết nhiều tác phẩm về đời sống thiêng liêng. Người qua đời năm 1787.

 

Bài Ðọc I: (Năm II) Gr 26, 11-16. 24

“Thật Chúa đã sai tôi đến nói với các ngươi những lời đó”.

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Trong những ngày ấy, các tư tế và các tiên tri nói cùng các đầu mục và toàn dân rằng: “Người này đáng xử tử, vì nó đã nói tiên tri chống lại thành này, như tai các ngươi đã nghe”. Giêrêmia nói cùng tất cả các đầu mục và toàn dân rằng: “Chúa đã sai tôi đến nói tiên tri về đền thờ này và về thành này tất cả những lời các ngươi đã nghe. Vậy giờ đây, các ngươi hãy cải thiện đời sống và những điều các ngươi ưa thích, hãy nghe tiếng Chúa là Thiên Chúa các ngươi, thì Chúa sẽ hối tiếc tai hoạ Người đã phán chống lại các ngươi. Phần tôi đây, tôi ở trong tay các ngươi, các ngươi cứ đối xử với tôi điều mà các ngươi cho là tốt là phải. Nhưng các ngươi hãy hiểu biết rằng: nếu các ngươi giết tôi, thì các ngươi sẽ đổ máu vô tội lên chính các ngươi, lên thành này và dân cư của nó. Vì thật Chúa đã sai tôi đến với các ngươi để nói vào tai các ngươi tất cả những lời đó”.

Những đầu mục và toàn dân nói cùng các tư tế và các tiên tri rằng: “Không được xử tử người này, vì ông đã nhân danh Chúa là Thiên Chúa chúng ta mà nói với chúng ta”. Vậy Ahica con của Sapha ra tay bảo vệ Giêrêmia, để ông khỏi bị nộp vào tay dân chúng định giết ông.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 68, 15-16. 30-31. 33-34

Ðáp: Ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương, xin nhậm lời con (c. 14).

Xướng: Nguyện cứu con thoát nơi bùn nhơ kẻo bị chìm; xin giải thoát con khỏi tay những người ghen ghét, và thoát khỏi những đầm nước thẳm sâu. Xin đừng để cho ba đào lôi cuốn; xin đừng để cho vực thẳm nuốt trửng, cũng đừng để cho giếng ngậm miệng nhốt con. –

Xướng: Phần con, con đau khổ cơ hàn, lạy Chúa, xin gia ân phù trợ, bảo toàn con. Con sẽ xướng bài ca ngợi khen danh Chúa, và con sẽ chúc tụng Ngài với bài tri ân.

Xướng: Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ; các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân của Người bị bắt cầm tù.

 

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia! – Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! – Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Allleluia.)

 

Phúc Âm: Mt 14, 1-12

“Hêrôđê sai người đi chặt đầu Gioan, và các môn đệ của Gioan đi báo tin cho Chúa Giêsu”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy quận vương Hêrôđê nghe danh tiếng Chúa Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: “Người này là Gioan Tẩy Giả, ông từ cõi chết sống lại, nên mới làm được các phép lạ như vậy”. Tại vì Hêrôđia vợ của anh mình mà vua Hêrôđê đã bắt trói Gioan tống ngục, bởi Gioan đã nói với vua rằng: “Nhà vua không được lấy bà ấy làm vợ”. Vua muốn giết Gioan, nhưng lại sợ dân chúng, vì họ coi Gioan như một tiên tri. Nhân ngày sinh nhật của Hêrôđê, con gái Hêrôđia nhảy múa trước mặt mọi người, và đã làm cho Hêrôđê vui thích. Bởi đấy vua thề hứa sẽ ban cho nó bất cứ điều gì nó xin. Ðược mẹ nó dặn trước, nên nó nói: “Xin vua đặt đầu Gioan Tẩy Giả trên đĩa này cho con”. Vua lo buồn, nhưng vì đã trót thề rồi, và vì các người đang dự tiệc, nên đã truyền làm như vậy. Ông sai người đi chặt đầu Gioan trong ngục, và để đầu Gioan trên đĩa đem trao cho cô gái, và nó đem cho mẹ nó. Các môn đồ của Gioan đến lấy xác thầy và chôn cất, rồi đi báo tin cho Chúa Giêsu.

Ðó là lời Chúa.

 


Chú giải về Giê-rê-mi-a 26,11-16. 24

Hôm nay chúng ta tiếp tục bài đọc hôm qua về phản ứng đối với lời tiên tri của Giê-rê-mi-a về số phận tương lai của Đền thờ và Giê-ru-sa-lem. Hôm qua chúng ta đã thấy Giê-rê-mi-a bị các lãnh đạo tôn giáo bắt giữ sau khi ông cảnh báo rằng Đền thờ và Giê-ru-sa-lem sẽ bị tàn phá nếu dân chúng không thay đổi lối sống của mình. Lời nói của ông nghe có vẻ phạm thượng đối với những người nghe, và giờ đây ông đang bị phán xét.

Trong một câu nằm giữa hai đoạn văn, nhưng không có trong cả hai bài đọc, chúng ta được biết rằng các lãnh đạo của Giu-đa đã được thông báo về tình hình và đã tổ chức một phiên tòa chính thức tại Cổng Mới của Đền thờ. Các thầy tế lễ và các tiên tri nói với các lãnh đạo và dân chúng tụ tập xung quanh rằng Giê-rê-mi-a đáng phải chết vì những gì ông đã nói chống lại Đền thờ và thành thánh. Những người buộc tội ông đã tuyên án ông ngay cả trước khi Giê-rê-mi-a có cơ hội tự bào chữa.

Khi Giê-rê-mi-a có cơ hội lên tiếng, ông nói rằng mọi điều ông nói với họ đều đến trực tiếp từ Chúa. Đó không phải là suy nghĩ của riêng ông. Một lần nữa, ông nói với họ rằng họ chỉ cần thay đổi lối sống và phục tùng luật pháp của Đức Chúa Trời thì tai họa đã được đe dọa sẽ không xảy ra. Giê-rê-mi-a đang ở trong tay họ và ông nói rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn với ông. Nhưng nếu họ hành quyết ông, họ sẽ vấy máu người vô tội trên tay mình:

…vì quả thật Đức Chúa Trời đã sai tôi đến với các ngươi để nói tất cả những lời này vào tai các ngươi.

Tuyên bố này tạo ra sự chia rẽ giữa các quan chức tòa án và dân chúng với các nhà lãnh đạo tôn giáo, các thầy tế lễ và các tiên tri. Những người trước nói rằng Giê-rê-mi-a không đáng phải chết vì những gì ông đã nói, ông đã nói nhân danh Đức Chúa Trời.

Những gì xảy ra tiếp theo trong đoạn văn không được ghi trong bài đọc của chúng ta (xem Giê-rê-mi-a 26,17-23). ​​Trước hết, một số trưởng lão nhắc nhở dân chúng rằng tiên tri Mi-kha đã đưa ra những lời tiên tri rất giống với những lời tiên tri của Giê-rê-mi-a, nhưng ông không bị kết án tử hình. Mi-kha đã nói rằng:

Si-on sẽ bị cày xới như một cánh đồng;

Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành một đống đổ nát,

và núi đền thờ sẽ trở thành một ngọn đồi có rừng cây. (Mi-kha 3,12)

Nhưng rồi chúng ta được kể về một vị tiên tri khác tên là U-ri-a, người cũng rao giảng cùng một sứ điệp như Giê-rê-mi-a. Khi nhà vua muốn thủ tiêu ông, ông đã trốn sang Ai Cập, nhưng bị truy đuổi, bắt về, hành quyết và chôn trong một ngôi mộ chung.

Tuy nhiên, Giê-rê-mi-a đã được cứu thoát khỏi cái chết chắc chắn nhờ sự can thiệp của một người có quyền lực. A-hi-am, con trai của Sa-phan, là một quan chức cấp cao, một người ghi chép trong triều đình của vua Giô-si-a và luôn có thiện cảm với Giê-rê-mi-a. Ông cũng là cha của Ghê-đa-li-gia, người sau này trở thành thống đốc Giê-ru-sa-lem sau khi thành bị phá hủy vào năm 586 trước Công nguyên, và cũng là bạn của Giê-rê-mi-a.

 

Ở đây chúng ta thấy một ví dụ về việc sự chính trực của nhà tiên tri được đền đáp, mặc dù không phải lúc nào kết quả cũng như vậy. Dù hậu quả thế nào, Giê-rê-mi-a vẫn phải nói ra điều ông tin là sứ điệp của Chúa. Hoàn toàn không hay biết, hoàn cảnh đã có lợi cho ông và bảo toàn mạng sống của ông.

Đây là một ví dụ về việc mạng sống của một người nằm trong tay Đấng Tạo Hóa. Giê-rê-mi-a sẽ chết khi đến lúc, chứ không phải trước đó. Ông hay bất cứ ai khác cũng không thể thay đổi điều đó. Rõ ràng, Đức Chúa Trời còn có một số việc cần ông làm.

Đối với chúng ta cũng vậy. Trong cuộc sống của chúng ta, sự quan phòng của Chúa cũng có thể hoạt động theo những cách kỳ lạ và sử dụng những công cụ rất bất ngờ. Hôm nay, chúng ta hãy đếm những phước lành mình nhận được và nhớ lại biết bao lần tình yêu của Chúa đã được cảm nhận qua những sự can thiệp bất ngờ và khó lường.

 


Chú giải về Mát-thêu 14,1-12

Bài đọc hôm nay nói về cái chết của Gioan Tẩy Giả dưới tay Hê-rô-đê. Khi Hê-rô-đê Cả qua đời, vương quốc của ông được chia cho bốn người con trai. Một trong số họ, Hê-rô-đê trong Phúc Âm hôm nay (cũng được biết đến với tên Hê-rô-đê An-ti-pát), được gọi là “tứ vương”, nghĩa là ông cai trị một phần tư lãnh thổ.

Hê-ô-đêt An-ti-pát cai trị xứ Ga-li-lê và Pê-rê từ năm 4 trước Công nguyên đến năm 39 sau Công nguyên, tức là suốt cuộc đời của Chúa Giê-su và cả sau đó. Ông chính là người muốn gặp Chúa Giê-su, và người mà Chúa Giê-su gọi là “con cáo đó”. Ông là người mà Phi-la-tô đã sai Chúa Giê-su đến trong phiên tòa xét xử Ngài. Cái chết đau đớn và ghê tởm của ông được mô tả trong Công Vụ Các Tông Đồ (12,20-23). ​​Mặc dù chỉ là một tứ vương, Mát-thêu gọi ông là “vua” vì đó là tước hiệu phổ biến của ông trong số người Ga-li-lê và cả ở Rô-ma.

Dường như, theo mọi lời kể, Hê-rô-đê là một người đàn ông độc ác và, như câu chuyện hôm nay cho thấy, cũng là một người yếu đuối và rất mê tín. Điều đáng chú ý là, ngay cả ngày nay, nhiều người tưởng chừng như quyền lực lại cảm thấy bất an vì mê tín (ví dụ, cần phải mặc cùng một bộ vest công sở "may mắn" hoặc chỉ lái xe hoặc đi một kiểu xe cụ thể).

Hê-rô-đê đã nghe những điều phi thường về Chúa Giê-su và ông đi đến kết luận rằng Chúa Giê-su là sự tái sinh của Gioan Tẩy Giả, người mà ông đã hành quyết vì những lý do mà ông biết rất rõ là hoàn toàn sai trái. Giờ đây, linh hồn của Gioan đã trở lại để chế giễu ông, vì ông đã giết tôi tớ của Đức Chúa Trời. Điều này dẫn đến việc Mát-thêu kể lại những sự kiện dẫn đến cái chết của Gioan.

Goan, người không thiên vị ai, đã công khai chỉ trích Hê-rô-đê vì đã lấy Hê-rô-đi-át, vợ của anh cùng cha khác mẹ mình là Phi-líp-phê, làm vợ. Điều này rõ ràng là trái với Luật Môi-se. Lỗi của Hê-rô-đê không phải ở chỗ cưới một người họ hàng gần, mà là lấy bà làm vợ khi Phi-líp-phê vẫn còn sống, đồng thời bỏ người vợ cũ.

Đó vốn dĩ đã là một gia đình loạn luân tột độ. Hê-rô-đi-át là cháu gái của Hê-rô-đê Đại đế và do đó là cháu của Hê-rốt An-ti-pát. Đầu tiên, bà kết hôn với một người chú khác, Hê-rô-đê Phi-líp-phê, sống ở Rô-ma. Ông là anh em cùng cha khác mẹ với Hê-rốô-đê An-ti-pát. Chính trong một chuyến thăm Rô-ma, Hê-rô-đê An-ti-pát đã thuyết phục Hê-rô-đi-át bỏ chồng để đến với mình. Điều này, dĩ nhiên, bị luật Môi-se nghiêm cấm:

Ngươi chớ xem trần truồng vợ của anh ngươi; đó là sự trần truồng của anh ngươi. (Lê-vi 18,16)

Hê-rô-đê, chắc chắn dưới áp lực của Hê-rô-đi-át, muốn thoát khỏi sự xấu hổ mà Gioan gây ra cho mình, nhưng lại sợ làm gì vì, trong mắt dân chúng, Gioan là một tiên tri và nói nhân danh Đức Chúa Trời.

Hê-rô-đi-át có cơ hội vào dịp sinh nhật của Hê-rô-đê. Biết được điểm yếu của người chồng mới cưới, bà đã sai con gái mình nhảy múa trước mặt ông. Theo nhà sử học Do Thái Josephus, cô con gái đó tên là Salome. Sau này, cô kết hôn với ông chú của mình, cũng tên là Philipphê, con trai của Hê-rô-đê Đại đế, người cai trị các vùng lãnh thổ phía bắc. Ông được nhắc đến trong sách Lu-ca.

Chúng ta không biết liệu điệu nhảy đó có dâm dục hay không (như những bộ phim Hollywood cũ đã gợi ý), nhưng Hê-rô-đê rất thích thú với màn trình diễn đó. Trước mặt các cận thần và rất có thể đã uống quá nhiều rượu, ông hứa với cô gái rằng sẽ cho cô bất cứ điều gì cô muốn, thậm chí là một nửa vương quốc của mình. Dưới sự xúi giục của mẹ, cô gái đã yêu cầu đầu của Gioan Tẩy giả được đặt trên một chiếc đĩa. Hê-rô-đê rõ ràng rất kinh hãi và sợ hãi, nhưng ông đã thề trước mặt rất nhiều người. Ông không thể rút lại lời thề. Gioan bị chặt đầu và đầu của ông được giao theo yêu cầu. Các môn đệ của ông đến chôn cất thi thể và sau đó đi báo cho Chúa Giê-su. Câu chuyện này có những điểm tương đồng với cái chết của chính Chúa Giê-su. Ngài cũng chết vì sự yếu đuối về mặt đạo đức của Phi-la-tô, người đã khuất phục trước những lời đe dọa của các lãnh đạo Do Thái vì lợi ích sự nghiệp của chính mình. Cái chết của Chúa Giê-su cũng là kết quả của lòng thù hận mù quáng. Và khi Ngài chết, các môn đệ đã lo liệu việc chôn cất Ngài.

Không nghi ngờ gì nữa, Gioan là một vị tử đạo. Ông đã chết như một nhân chứng cho sự thật và công lý trong việc phụng sự Chúa. Mặt khác, Hê-rô-đê lại đặt sự tiện lợi và lợi ích cá nhân lên trên sự thật và công lý. Ông ta có mối quan hệ bất chính với một người phụ nữ và đã khuất phục trước những gì ông ta cảm thấy sẽ là sự chỉ trích và có lẽ là sự chế giễu của người khác. Ông ta quả thực đã thề, nhưng đó là lời thề mà trong hoàn cảnh đó, ông ta buộc phải không tuân thủ.

Tôi đồng cảm với ai hơn? Gioan Tẩy giả, người bảo vệ không sợ hãi cho sự thật và công lý? Hay Hê-rô-đê, kẻ do dự, người đã thỏa hiệp với sự thật và công lý vì áp lực dư luận và lợi ích cá nhân của mình? Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều có thể nhớ lại những lúc mình đã thỏa hiệp với điều mình biết là tốt hoặc đúng đắn và chọn con đường ít kháng cự hơn.

Gioan là một tấm gương về sự chính trực cho chúng ta. Và giống như ông, mỗi người trong chúng ta đều được kêu gọi theo cách riêng của mình để trở thành những nhà tiên tri, để trở thành người phát ngôn cho đường lối của Chúa. Điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2177g/

 

 


Suy Niệm: Tương Quan Giữa Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu

Trong Tin Mừng hôm nay, tác giả hai lần nhắc đến Gioan Tẩy giả trong tương quan với Chúa Giêsu.

Ở khởi đầu trình thuật, vua Hêrôđê nghe danh tiếng Chúa Giêsu, thì ông cho đó chính là Gioan Tẩy giả, người mà ông đã cho chém đầu nay sống lại. Ơn gọi của Gioan Tẩy giả như chính miệng ông Zacaria loan báo trong ngày lễ đặt tên cho con mình: "Con là tiên tri của Ðấng tối cao, con sẽ đi trước dọn đường cho Ngài". Ơn gọi đó Gioan đã chu toàn một cách tốt đẹp. Gioan chuẩn bị cho Chúa Giêsu đến, không những bằng việc rao giảng thống hối, mà còn bằng chính cái chết vì trung thành với sự thật. Dung mạo của Gioan Tẩy giả loan báo dung mạo của Chúa Giêsu một cách tốt đẹp, đến nỗi khi Chúa Giêsu xuất hiện, vua Hêrôđê tưởng Ngài là hiện thân của Gioan Tẩy giả sống lại.

"Các con sẽ làm chứng về Thầy", đó là mệnh lệnh của Chúa Giêsu cho các Tông đồ, cho mỗi môn đệ của Chúa. Chúng ta cần trở nên một Chúa Kitô cho anh em mình, vận mệnh của Chúa sẽ là vận mệnh của chúng ta.

Một chi tiết nữa, đó là các môn đệ Gioan Tẩy giả, sau khi chôn cất ông xong, thì đến báo tin cho Chúa Giêsu. Chi tiết này nói lên mối liên hệ thân tình giữa Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Gioan Tẩy giả là hướng về Chúa Giêsu. Gioan Tẩy giả không phải là Chúa Giêsu, nhưng là người giúp anh em mình đến với Chúa. Chính Gioan Tẩy giả đã tuyên bố: "Tôi không phải là ánh sáng, nhưng tôi đến để làm chứng cho ánh sáng".

Người Kitô hữu được mời gọi sống hướng về Chúa, kết hợp với Chúa, trở thành một Chúa Kitô thứ hai cho anh em. Nhưng đó là để giúp anh em đến với Chúa, chứ không dừng lại nơi mình. Người Kitô hữu không được chiếm chỗ của Chúa trong tâm hồn anh em: Chúa Kitô phải lớn lên trong tâm hồn anh em, còn tôi chỉ là phương thế, tôi không được cản trở anh em đến với Chúa.

Xin Chúa ban cho chúng ta lòng can đảm và trung thành với sự thật, dù phải hy sinh chính mạng sống mình, để giúp người khác đến với Chúa và tin nhận Chúa.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 


Ngày 1/8: Thánh An-phong-sô Ma-ri-a Li-gô-ri – Giám mục – Tiến sĩ Hội Thánh

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Alphonse (An-phong) là Đấng sáng lập hội dòng Chúa Cứu Thế vào một giai đoạn chủ nghĩa duy lý thống trị. Qua đời ngày 1 tháng tám năm 1787 tại Campanie (nước Italie), Ngài được phong thánh năm 1839 và năm 1871, Giáo hội tuyên bố Ngài là tiến sỹ Hội thánh.

Alphonse-Marie de Liguori sinh năm 1696 gần Naples, trong một gia đình quí tộc. Đỗ tiến sĩ luật đời và cả luật đạo năm mười bảy tuổi, nhưng năm 1723, Alphonse rời bỏ tòa án để đi làm linh mục (năm 1726). Trước tiên Ngài lo đào tạo các thừa sai sang Trung quốc tại một chủng viện ở Naples, nhằm phục vụ các bệnh nhân và giảng dạy giới bình dân. Về sau, Ngài giảng dạy trong các vùng quê miền Naples, nơi đây Ngài khám phá thấy sự thiếu thốn lớn trong vấn đề đạo đức. Điều này đưa Ngài tới việc thành lập một hội dòng mới (Dòng Chúa Cứu Thế) vào năm 1732 nhằm mục đích truyền giáo cho các miền quê, đặc biệt là cho giới bình dân và dạy dỗ về bí tích hòa giải. Năm 1749, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV sẽ phê chuẩn luật dòng mới này. Mặc dầu có các khó khăn buổi đầu, hội dòng đã nhanh chóng phát triển, đặc biệt nhờ công của thánh Clément Hofbauer phổ biến sang Ba Lan và trong các xứ thuộc Đức.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày cầu khẩn Chúa là Đấng không ngừng thúc đẩy phát sinh trong Hội Thánh “nhưng gương mẫu nhân đức mới”. Quả thế, vào thời đó giữa hai chủ trương lạc quan tôn giáo và nhặt nhiệm do Janséniste chủ xướng, thánh Alphonse đã xây dựng một hệ thống thần học luân lý được mệnh danh là “thuyết trung dung”, dựa trên nguyên tắc lòng nhân từ vô biên của Chúa, và đứng giữa hai thái cực nhặt nhiệm và thả lỏng của những người chủ trương “có thể”. Qua công trình của nhà luân lý quân bình, thánh Alphonse đã đặc biệt có công trong việc giải phóng các giáo hữu đương thời khỏi chủ trương quá nhiệm nhặt của phái Jansenius. Là nhà giảng thuyết và nhà luân lý lớn, thánh nhân cũng biết khai thác các tài năng thơ – nhạc của mình phục vụ cho nhiệt tình truyền giáo. Ngài là một trong những tác giả thánh ca Noel nổi tiếng. Người ta gán cho thánh Alphonse một trăm sáu mươi tác phẩm thần học hoặc đạo đức, trong đó phải kể Viếng Mình Thánh Chúa (1745), Vinh quang của Đức Maria (1750), Phương pháp lớn là cầu nguyện (1759), Luận về tình yêu của Đức Giêsu Kitô và Thần học luân lý (1753 – 1755). Tác phẩm trọn bộ của Người đã được dịch sang tiếng Pháp (1834 – 1842).

Phụng vụ bài đọc trích dẫn từ bộ Luận về tình yêu của Đức Giêsu Kitô cho ta thấy linh đạo của thánh An-phong là dựa trên tình yêu:“Vì Chúa biết rằng con người thường bị các ân huệ chinh phục, Chúa đã muốn buộc nó yêu Chúa vì các ơn của Người. Chúa nói, Ta muốn lôi kéo chúng bằng những thứ lưới mà loài người mắc phải, để chúng yêu Ta, vì đó là những sợi dây yêu thương”.

Lời nguyện trên lễ vật nhắc lại rằng thánh Alphonse đã tự dâng hiến chính mình “như một hy lễ thánh”. Đặc biệt là khi đã lớn tuổi, vị sáng lập dòng Chúa Cứu Thế đã gặp phải bao thử thách do những đau khổ lớn lao, nhưng ngài đã đón nhận tất cả với sự kiên nhẫn anh hùng: bệnh tật, ngờ vực, thậm chí cả sự xa lánh của chính gia đình dòng tu của mình, những cuộc tranh giành gây đối chọi giữa các thành viên hội dòng, kết cuộc đi đến chia rẽ, và sau hết nổi lo bị kết án, đã hằn sâu những năm cuối đời thánh nhân.

Lời nguyện tạ lễ gọi thánh An-phong là “nhà giảng thuyết và tư tế trung thành của Thánh Thể”. Ngài luôn tận tâm với việc canh tân lòng tôn sùng Thánh thể, – cách riêng, việc thực hiện các cuộc Viếng Mình Thánh Chúa, và Ngài đòi hỏi phải tôn kính Thánh Thể cách xứng đáng. Vị chủ chăn lớn thường nói: “Chính nhờ việc cầu nguyện mà các thánh nên thánh”; chính vì ý thức rõ tính cách quan trọng của cầu nguyện mà bản thân Ngài luôn thực hành và rao giảng, thánh nhân cũng đã thành lập một ngành nữ của hội dòng Chúa Cứu Thế với hoạt động chủ yếu là thần vụ, suy gẫm và đọc sách thiêng liêng. Thánh nhân đặt “tình yêu vô biên” của Cha vĩnh cửu đối với nhân loại làm nền tảng cho toàn bộ giáo lý của Người, bởi vì “Đấng đã không từ chối giao phó chính Con Một mình vì tất cả chúng ta, làm sao Chúa lại không ban tất cả cho chúng ta, cùng với Con của Người?” (Luận về tình yêu Đức Giêsu Kitô).

Enzo Lodi

 

 

LINH ĐẠO THÁNH INHAXIÔ VÀ LỜI MỜI GỌI PHÂN ĐỊNH GIỮA THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI

 


Thánh Inhaxio Loyola (1491-1556) 

 

Linh đạo Thánh Inhaxio và Lời mời gọi Phân định giữa thế giới hiện đại

Lễ Thánh Inhaxio Loyola — Đấng sáng lập Dòng Tên — được cử hành vào ngày 31/7 hằng năm, là dịp để Giáo hội tái khám phá một con đường thiêng liêng giàu tính thời sự. Giữa một thế giới hiện đại tràn ngập tiếng ồn, áp lực và khủng hoảng ý nghĩa, di sản Linh Thao, nghệ thuật phân định thiêng liêng cùng tinh thần “Tìm Chúa trong mọi sự” của Thánh nhân vẫn tiếp tục soi sáng hành trình sống của người Kitô hữu.

Vatican News

Hành trình hoán cải từ vết thương Pamplona

Thánh Inhaxio sinh năm 1491 tại vùng Basque, Tây Ban Nha, với tên gọi Íñigo López de Loyola. Xuất thân từ một gia đình quý tộc, ngài lớn lên với những khát vọng điển hình của thanh niên thời Phục Hưng: danh dự, chiến công, địa vị xã hội và lòng trung thành với các lãnh chúa. Từ năm 16 tuổi, Íñigo dấn thân vào môi trường cung đình Tây Ban Nha – nơi quyền lực, tham vọng và lý tưởng hiệp sĩ chi phối mạnh mẽ tư duy giới trẻ quý tộc.

Thế nhưng, chính trên con đường lý tưởng rực rỡ ấy, Thiên Chúa đã âm thầm chuẩn bị một bước ngoặt làm thay đổi toàn bộ đời sống ngài. Năm 1521, trong trận chiến bảo vệ thành Pamplona, một quả đại bác của quân Pháp đã bắn dập nát chân Íñigo. Biến cố tàn khốc ấy không chỉ tàn phá thân thể người hiệp sĩ trẻ, mà còn làm sụp đổ hoàn toàn mọi giấc mơ danh vọng. Íñigo được đưa về lâu đài gia đình ở Loyola để dưỡng bệnh. Đứng trước đau đớn thể xác, nguy cơ tàn phế vĩnh viễn và những tháng ngày bất động, Íñigo đối diện với câu hỏi căn bản: Ý nghĩa thực sự của đời mình là gì?

Trong thời gian dưỡng bệnh, Íñigo tìm đọc tiểu thuyết hiệp sĩ để giải trí. Tuy nhiên, tại lâu đài lúc bấy giờ chỉ có hai cuốn sách: một cuốn về cuộc đời Chúa Giêsu và một cuốn về Hạnh các thánh. Bất đắc dĩ, ngài bắt đầu đọc. Chính những trang sách tưởng như tình cờ ấy đã mở ra một cuộc hoán cải nội tâm sâu sắc. Khi đọc và suy ngẫm, Íñigo nhận ra một chuyển động nội tâm rất đặc biệt. Khi mơ tưởng về chiến công và danh vọng thế trần, ngài cảm thấy hào hứng trong giây lát, nhưng ngay sau đó tâm hồn lại rơi vào trạng thái trống rỗng và buồn phiền. Trái lại, khi nghĩ đến việc bắt chước các thánh, sống trọn vẹn cho Chúa Kitô, niềm vui không chỉ xuất hiện lúc suy nghĩ mà còn kéo dài, để lại sự bình an sâu xa.

Trong mục số 8 của cuốn Tự thuật, Thánh Inhaxio ghi lại chính kinh nghiệm nền tảng này: “Tôi không suy xét cũng chẳng dừng lại để đánh giá sự khác biệt này, cho đến một ngày kia mắt tôi bắt đầu mở ra. Tôi bắt đầu ngạc nhiên về sự khác biệt ấy và phản tỉnh về nó: từ kinh nghiệm, tôi nhận ra rằng một số suy nghĩ khiến mình buồn phiền, trong khi những suy nghĩ khác lại làm mình vui sướng; và từng bước một, tôi nhận biết sự khác biệt giữa các thần khí đang tác động trên mình: một đàng đến từ ma quỷ, đàng khác đến từ Thiên Chúa”.

Từ vết thương Pamplona, Thánh Inhaxio rút ra bài học vô giá: Thiên Chúa có thể dùng chính những thất bại và đau khổ để mở ra con đường mới. Biến cố tưởng chừng chấm dứt tương lai lại trở thành điểm khởi đầu cho một hành trình thiêng liêng vĩ đại. Từ người chiến đấu vì danh vọng trần thế, Íñigo chuyển sang khao khát trở thành người bạn đường khiêm tốn của Chúa Giêsu.

Sau khi hồi phục, ngài rời Loyola hành hương đến Montserrat, rồi dừng chân tại Manresa trong những năm 1522–1523. Tại một hang động bên bờ sông Cardoner, ngài sống những tháng ngày cầu nguyện, ăn chay, đền tội và thanh luyện nội tâm. Íñigo phải chiến đấu bền bỉ với những dằn vặt lương tâm, mặc cảm tội lỗi cùng vô vàn xao xuyến.

Thế nhưng, chính trong bóng tối ấy, ngài được dẫn dắt vào một kinh nghiệm ánh sáng. Bên dòng sông Cardoner, trí hiểu của ngài bừng sáng để nhận biết trật tự của Đấng Tạo Hóa và tình yêu bao la của Thiên Chúa. Íñigo hiểu ra rằng sự thánh thiện không phát xuất từ nỗ lực hành xác kiêu ngạo hay ý chí tự hoàn thiện, mà đến từ lòng thương xót nhưng không của Thiên Chúa. Từ Manresa, ngài bước ra với một tâm hồn hoàn toàn biến đổi và minh định rõ ràng về sứ mạng phục vụ Chúa và tha nhân.

Linh Thao và Nghệ thuật Phân định

Từ kinh nghiệm thiêng liêng của chính mình, Thánh Inhaxio đúc kết thành tập sách Linh Thao — một lộ trình cầu nguyện, suy niệm, xét mình và thao luyện nội tâm.

Một khóa Linh Thao trọn vẹn thường diễn ra trong khoảng 30 ngày, chia làm bốn tuần: Tuần thứ nhất chiêm ngắm tình yêu Thiên Chúa trong công trình sáng tạo, đối diện với thực tại tội lỗi của bản thân và cảm nhận lòng thương xót bao la của Chúa; Tuần thứ hai đi vào cuộc đời công khai của Đức Kitô, lắng nghe lời mời gọi bước theo Người và lựa chọn con đường sống đáp lại lời mời gọi ấy; Tuần thứ ba đi vào sự hiệp thông  với Đức Kitô trong cuộc Thương Khó và cái chết trên Thập giá; và Tuần thứ tư mở ra niềm vui Phục Sinh vinh hiển, kết thúc bằng việc “Chiêm niệm để đạt tới tình yêu” – nhận ra Thiên Chúa đang không ngừng lao tác và hiện diện trong mọi sự.

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh về bản chất của lộ trình này: “Mục đích của Linh Thao là dành thời gian để cảm nhận những chuyển động của Thánh Thần, và tìm kiếm ý Chúa trong thực hành thông qua việc ‘cải hoán’ đời sống... Trong Linh Thao, sự cải hoán không chỉ giằng co với những gì đã bị bóp méo trước đó, mà còn là sự khuôn đúc theo điều mới mẻ – nghĩa là theo sự sống, phong cách, tiêu chí và các lựa chọn của Chúa. Sự cải hoán không mang tính chức năng, cũng không phải để tự hoàn thiện bản thân, mà là hướng đến sứ mạng” (ĐGH Phanxicô, Sứ điệp Video ngày 10/05/2021).

Trọng tâm cốt lõi của Linh Thao chính là nghệ thuật phân định các thần. Trong thuật ngữ Inhaxio, phân định là khả năng nhận diện những chuyển động nội tâm: suy nghĩ, cảm xúc, khao khát hay sự kháng cự bên trong; từ đó nhận biết chúng khởi nguồn từ đâu và dẫn con người đi về đâu. Thánh Inhaxio gọi một số chuyển động là “an ủi thiêng liêng” – khi tâm hồn được kéo hướng về Thiên Chúa, gia tăng đức tin, đức cậy, đức mến và bình an sâu xa. Ngược lại, “sầu khổ thiêng liêng” là trạng thái tối tăm, xáo trộn, nghi ngờ, khép kín và đẩy con người xa rời Thiên Chúa.

Trong xã hội hiện đại, con người không thiếu thông tin nhưng thiếu không gian thinh lặng để đọc ra ý nghĩa sống. Nhịp sống gấp gáp, áp lực thành tích và chủ nghĩa tiêu thụ liên tục kích thích cảm xúc bề mặt. Nhiều người dễ lầm tưởng cảm xúc bồng bột nhất thời là tiếng nói của Chúa, hoặc để nỗi sợ và bất an chi phối các quyết định quan trọng. Do đó, sự phân định Inhaxio đòi hỏi sự bình tâm – nghĩa là không dính bén lệch lạc vào danh vọng, tiện nghi hay sự an toàn riêng tư, để hoàn toàn tự do chọn lựa điều dẫn tới sự sống thật.

Trong đời sống hằng ngày, quá trình phân định có thể thực hành qua ba bước: Bước Nhận diện dừng lại để biết điều gì đang diễn ra trong lòng mình. Bài xét mình hằng ngày là phương thế đơn sơ nhưng hiệu quả để đọc lại ngày sống dưới ánh sáng Lời Chúa. Bước Phản tỉnh giúp đặt câu hỏi về nguồn gốc và hướng đi của các chuyển động nội tâm. Cảm xúc này đưa tôi đến bình an, yêu thương và phục vụ, hay kéo tôi vào cô lập, cay đắng và sợ hãi? Và bước Hành động đón nhận những thúc đẩy đến từ thần lành, đồng thời khước từ các cám dỗ làm xa rời Thiên Chúa. Đặc biệt, nguyên tắc vàng của Inhaxio là không bao giờ thay đổi các quyết định quan trọng khi đang ở trong tình trạng sầu khổ thiêng liêng.

Phân định không phải là hành trình cô độc tự thân. Linh đạo Thánh inhaxio luôn nhấn mạnh vai trò của đồng hành thiêng liêng. Trong tác phẩm The Practice of Spiritual Direction, William A. Barry và William J. Connolly định nghĩa: “Đồng hành thiêng liêng là sự giúp đỡ mà một Kitô hữu dành cho một người khác, nhằm giúp người đó chú ý đến sự tương giao cá nhân với Thiên Chúa, đáp lại Thiên Chúa, gia tăng sự mật thiết với Người, và thực hành sống những hệ luận của mối tương quan ấy.” Trong mối tương quan này, người đồng hành không quyết định thay cho người thao luyện. Vị đồng hành đóng vai trò là người trợ lực, giúp người thao luyện nhận ra dấu vết thiêng liêng của Chúa trong lịch sử cuộc đời mình, từ đó nhận ra Thiên Chúa đang mời gọi điều gì trong hoàn cảnh cụ thể.

Tinh thần “Tìm Chúa trong mọi sự” và Ơn gọi đời thường

Một trong những nét đặc trưng nhất của linh đạo Inhaxio là tinh thần “Tìm Chúa trong mọi sự”. Đối với Thánh Inhaxio, không có sự phân chia cứng nhắc giữa điều linh thánh và đời thường. Thiên Chúa không chỉ hiện diện trong nhà thờ hay các bí tích, mà Ngài còn đang hiện diện và hoạt động tích cực trong thiên nhiên, khoa học, nghệ thuật, lao động, gia đình và mọi tương quan xã hội. Nhà thơ Dòng Tên Gerard Manley Hopkins đã diễn tả sự hiện diện mầu nhiệm ấy:

“Vì Đức Kitô hiện diện trong vạn nơi chốn,
Tươi đẹp trong những hình hài,
và tươi đẹp trong những ánh mắt không phải của Người”.

Tinh thần này giúp người Kitô hữu nhìn nhận đời sống như một không gian thiêng liêng nơi Thiên Chúa đang âm thầm lao tác. Thành công có thể trở thành lời mời gọi biết ơn và phục vụ; thất bại có thể biến thành cơ hội hoán cải; những giới hạn hay tổn thương đều có thể mở ra sứ mạng mới nếu con người biết mở lòng để ân sủng soi sáng.

Trong bối cảnh mục vụ gia đình và giáo xứ, linh đạo Inhaxio cũng giúp mở rộng cách hiểu về ơn gọi. Ơn gọi không chỉ dành riêng cho linh mục hay tu sĩ, mà là lời mời gọi nên thánh hướng đến mọi Kitô hữu. Người sống đời hôn nhân, người độc thân, người làm việc trong bệnh viện, trường học, công xưởng hay nông trường đều có thể sống trọn vẹn ơn gọi nếu biết tìm kiếm và thi hành ý Chúa trong bổn phận hằng ngày.

Linh mục James Martin, S.J., trong bài viết Be Who You Is, nhấn mạnh rằng ơn gọi sâu xa nhất của mỗi người là trở thành chính mình như Thiên Chúa tạo dựng. Cha trích dẫn lời tu sĩ Thomas Merton: “Đối với tôi, trở thành một vị thánh có nghĩa là trở thành chính mình”. Cha Martin cũng nhắc lại câu nói sâu sắc của linh mục John Kerdiejus, S.J.: “Con phải là chính con, chứ đừng là người khác. Vì nếu con không là chính con, thì con lại là người mà con không phải. Và điều đó thì chẳng tốt chút nào!”

Theo nhãn quan Inhaxio, những khao khát chân thật nhất trong tâm hồn chính là nơi Thiên Chúa gieo mầm dấu chỉ của Người. Vì thế, phân định ơn gọi không phải là ép mình vào khuôn mẫu bên ngoài, mà là học lắng nghe tiếng Chúa trong chiều sâu bản thân – nơi niềm khao khát nội tâm gặp gỡ nhu cầu của thế giới. Như Frederick Buechner đã viết: “Nơi Thiên Chúa kêu gọi bạn chính là nơi mà niềm đói khát sâu thẳm của thế giới và sự khao khát mãnh liệt của chính bạn gặp nhau".

Khởi đi từ nhóm bạn ban đầu gồm bảy người tại Đại học Paris — trong đó có Inhaxio Loyola, Phanxicô Xaviê và Phêrô Favre – Dòng Tên được Đức Giáo hoàng Phaolô III phê chuẩn năm 1540. Ngay từ buổi đầu, sứ mạng của Dòng đã gắn liền với việc đáp ứng các nhu cầu cấp bách của Giáo hội và thế giới qua giáo dục, truyền giáo, huấn luyện thiêng liêng và phục vụ người nghèo.

Nguyên tắc nền tảng của giáo dục Dòng Tên là Cura Personalis – sự chăm sóc từng người cách toàn diện theo cá nhân người ấy. Giáo dục không chỉ là truyền đạt tri thức hay kỹ năng, mà là giúp từng cá nhân phát triển toàn diện về thể lý, trí tuệ, cảm xúc, lương tâm và đời sống thiêng liêng. Mỗi con người là một thụ tạo độc đáo, cần được tôn trọng, lắng nghe, đồng hành và phát triển tối đa các ân ban.

Mọi hoạt động giáo dục, mục vụ, truyền giáo và xã hội theo tinh thần Inhaxio đều quy hướng về khẩu hiệu cốt lõi: “Ad Majorem Dei Gloriam” (AMDG) – Để Thiên Chúa Được Tôn Vinh Hơn. Chữ “hơn” (Magis) trong linh đạo Inhaxio không mang tính so sánh hơn thua, mà là một thái độ sống, một lời mời gọi liên tục vượt lên chính mình để yêu mến, phục vụ và đáp lại ý Chúa cách quảng đại hơn, tận tuỵ hơn mỗi ngày.

Giữa một thế giới hiện đại đầy áp lực, nơi con người dễ bị cuốn theo tiếng ồn và những chọn lựa vội vã, Thánh Inhaxio trao gửi lời mời gọi thiết thực: Hãy học nghệ thuật dừng lại. Dừng lại để xét mình dưới ánh sáng ân sủng, để nhận diện điều gì thực sự mang đến sự bình an đích thực. Dừng lại để phân định giữa tiếng nói nhẹ nhàng của Thần Khí với những hấp dẫn mau qua. Dừng lại để hành động đúng đắn hơn, tự do hơn và trung thành hơn với sứ mạng cùng ơn gọi độc đáo mà Thiên Chúa trao phó cho mỗi người giữa lòng Giáo hội và thế giới.

 

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2026-07/linh-dao-thanh-inhaxio-loi-moi-goi-phan-dinh-giua-the-gioi-hien.html

 

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

JULY 31, 2026: MEMORIAL OF SAINT IGNATIUS OF LOYOLA, PRIEST


 

July 31, 2026

Memorial of Saint Ignatius of Loyola, Priest

Lectionary: 405

 

Reading 1 

Jeremiah 26:1-9

In the beginning of the reign of Jehoiakim,
son of Josiah, king of Judah,
this message came from the LORD:  
Thus says the LORD:
Stand in the court of the house of the LORD
and speak to the people of all the cities of Judah
who come to worship in the house of the LORD;
whatever I command you, tell them, and omit nothing.
Perhaps they will listen and turn back, 
each from his evil way,
so that I may repent of the evil I have planned to inflict upon them
for their evil deeds.
Say to them:  Thus says the LORD: 
If you disobey me,
not living according to the law I placed before you
and not listening to the words of my servants the prophets,
whom I send you constantly though you do not obey them,
I will treat this house like Shiloh,
and make this the city to which all the nations of the earth
shall refer when cursing another.Now the priests, the prophets, and all the people
heard Jeremiah speak these words in the house of the LORD.
When Jeremiah finished speaking
all that the LORD bade him speak to all the people,
the priests and prophets laid hold of him, crying,
“You must be put to death! 
Why do you prophesy in the name of the LORD:
‘This house shall be like Shiloh,’ and
‘This city shall be desolate and deserted’?”
And all the people gathered about Jeremiah in the house of the LORD.

 

Responsorial Psalm

Psalm 69:5, 8-10, 14

R.  (14c)  Lord, in your great love, answer me.
Those outnumber the hairs of my head
who hate me without cause.
Too many for my strength
are they who wrongfully are my enemies.
Must I restore what I did not steal?
R. Lord, in your great love, answer me.
Since for your sake I bear insult,
and shame covers my face.
I have become an outcast to my brothers,
a stranger to my mother’s sons,
Because zeal for your house consumes me,
and the insults of those who blaspheme you fall upon me.
R. Lord, in your great love, answer me.
But I pray to you, O LORD,
for the time of your favor, O God!
In your great kindness answer me
with your constant help.
R. Lord, in your great love, answer me.

 

Alleluia 

1 Peter 1:25

R. Alleluia, alleluia.
The word of the Lord remains forever;
this is the word that has been proclaimed to you.
R. Alleluia, alleluia.

 

Gospel 

Matthew 13:54-58

Jesus came to his native place and taught the people in their synagogue.
They were astonished and said,
“Where did this man get such wisdom and mighty deeds?
Is he not the carpenter’s son?
Is not his mother named Mary
and his brothers James, Joseph, Simon, and Judas?
Are not his sisters all with us?
Where did this man get all this?”
And they took offense at him.
But Jesus said to them,
“A prophet is not without honor except in his native place
and in his own house.”
And he did not work many mighty deeds there
because of their lack of faith.

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/073126.cfm

 

Friday of Week 17 of Ordinary Time – First Reading

 


Commentary on Jeremiah 26:1-9

Today’s reading from Jeremiah is in historical or biographical form. Some believe these passages may come from the prophet Baruch. It tells of Jeremiah’s discourse to the people warning them about disasters which will come unless they change their ways. His message will not be well received by the priests and people.

The scene takes place at the beginning of the reign of King Jehoiakim of Judah. The Hebrew term indicates the beginning of his first official (calendar) year as king, rather than the time of his immediate succession. This places it in the year 609-608 BC. Jeremiah is told by Yahweh to go to the temple court, perhaps near what was called the New Gate, and to speak to all those who had come from the surrounding countryside of Judah to worship. He is to say exactly what Yahweh has told him. Through his prophet, Yahweh promises that, if they listen to Jeremiah and change their ways, he will not bring disaster on them.

The Lord’s warning comes in the clearest language. If each person listens and turns back from their evil ways, the Lord may repent of the “disaster” he planned to inflict on them. On the other hand, if they will not observe the Law and listen to the words of his prophet, the Temple will end up like Shiloh, and the city of Jerusalem will become a curse word among the nations of the earth.

Shiloh was an ancient shrine, which was now in ruins. The sanctuary there was apparently destroyed by the Philistines. In the first book of Samuel we read:

…Israel was defeated, and they fled, everyone to his home. There was a very great slaughter, for there fell of Israel thirty thousand foot soldiers. The ark of God was captured…
(1 Sam 4:10-11)

Jerusalem, says Yahweh, will meet the same fate.

Not surprisingly, this message did not go down well with those who heard it. The priests and prophets seized Jeremiah and threatened him with death. The phrase they used described the ultimate penalty for those who seriously violated the law of Moses. The ‘prophets’ here are those false prophets who gave upbeat prophecies, putting unrealistic hopes in the people’s minds and glossing over their wrongdoings.

All were horrified and enraged that the Temple should become deserted like Shiloh and the city. These were absolutely unthinkable ideas. How could God allow such a thing to happen?

But it would, and very soon. And it would happen again about 40 years after the death of Jesus—never to recover. St Augustine had similar feelings when he saw Rome (for him the centre of the world and its civilisation) fall to the ‘barbarian’ invaders.

Once again we see the dangerous vocation of the prophet. He is blessed with a special insight and he can see where the behaviour of people is leading them. He gives warnings, but they fall on deaf ears. Even worse, they are rejected and the prophet is seen as someone to be gotten rid of as an enemy. But the prophet has no option but to continue speaking out.

What makes the matter more complex is that there will be confusion between true and false prophets and often the beguiling messages of the latter will be listened to. Careful discernment is needed to distinguish the genuine prophet from those who either lull us into complacency or, on the other hand, tell us that “the end of the world is nigh”.

Comments Off

 


Commentary on Matthew 13:54-58

Immediately following the discourse on the parables of the Kingdom, we see Jesus going to his home town of Nazareth. The New American Bible marks this as the beginning of a new section in Matthew’s Gospel which it calls “Jesus, the Kingdom and the Church”. It ends with chapter 18, which contains the fourth of the five discourses distinctive to Matthew.

As was his right, Jesus spent some time teaching in the synagogue at Nazareth. The townspeople were quite amazed to hear the local carpenter’s son speaking as he did:

Where did this man get this wisdom and these deeds of power?

The New International Version says that the word usually translated “carpenter” could also mean “stonemason”. All his family were well known to the people and they knew he could not have gotten it from them (“Is not this the carpenter’s son?”), but they failed to apprehend the real origin of what he was saying and doing.

And, in the contrariness of human nature, they were so impressed that they rejected him! He was just too much. A perfect example of familiarity breeding contempt and blinding the eyes to the obvious. And Jesus sadly comments that a prophet can get a hearing everywhere except among his own. Probably all of us have had some experience, directly or indirectly, of this! We Irish, in particular, are well known for our ‘begrudgery’!

It might be helpful for us to see how often and where we ourselves have been guilty of this sort of behavior. How often have we written off what people we know very well, or think we know very well, suggest to us? It is important for us to realise that God can communicate with us through anyone at all, and we must never decide in advance who his spokespersons will be.

Finally, we are told that Jesus could not do in Nazareth any of the wonderful things he had done elsewhere “because of their unbelief”. His hands were tied. Jesus can only help those who are ready to be helped, those who are open to him. How open am I?

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2176g/

 


Friday, July 31, 2026

Ordinary Time

Opening Prayer

God our Father and protector, without you nothing is holy, nothing has value. Guide us to everlasting life by helping us to use wisely the blessings you have given to the world.

We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen.

Gospel Reading - Matthew 13: 54-58

Coming to his hometown, Jesus taught the people in their synagogue in such a way that they were astonished and said, 'Where did the man get this wisdom and these miraculous powers? This is the carpenter's son, surely? Is not his mother the woman called Mary, and his brothers James and Joseph and Simon and Jude? His sisters, too, are they not all here with us? So where did the man get it all?' And they would not accept him. But Jesus said to them, 'A prophet is despised only in his own country and in his own house,' and he did not work many miracles there because of their lack of faith.

Reflection

The Gospel today tells us the visit of Jesus to Nazareth, his native community. Passing through Nazareth was painful for Jesus. What was his community at the beginning, now it is no longer so. Something has changed. Where there is no faith, Jesus can work no miracles.

           Matthew 13: 53-57a: The reaction of the people of Nazareth before Jesus. It is always good for people to go back to their land. After a long absence, Jesus also returns, as usual, on a Saturday, and he goes to the meeting of the community. Jesus was not the head of the group, but just the same he speaks. This is a sign that persons could participate and express their own opinion. People were astonished. They did not understand Jesus’ attitude: "Where did the man get this wisdom and these miraculous powers?” Jesus, son of that place, whom they knew since he was a child, how is that now he is so different? The people of Nazareth were scandalized and do not accept him: “This is the carpenter’s son, surely? The people do not accept the mystery of God present in a common man as they are, as they had known Jesus. In order to speak about God he should be different. As one can see, not everything was positive. The persons, who should have been the first ones to accept the Good News, are the first ones to refuse to accept it. The conflict is not only with foreigners, but also with his relatives and with the people of Nazareth. They do not accept because they cannot understand the mystery envelops Jesus: “Is not his mother, the woman called Mary, and his brothers James and Joseph and Simon and Jude? And his sisters too, are they not all here with us? So where did the man get it all?” They are not able to believe.

           Matthew 13: 57b-58: Reaction of Jesus before the attitude of the people of Nazareth. Jesus knows very well that “no one is a prophet in his own country.” And he says: A prophet is despised only in his own country and in his own house.” In fact, where there is neither acceptance nor faith, people can do nothing. The prejudice prevents it. Jesus himself, even wanting, can do nothing. He was astonished before their lack of faith.

           The brothers and sisters of Jesus. The expression “brothers of Jesus” causes much polemics between Catholics and Protestants. Basing themselves in this and in other texts, the Protestants say that Jesus had many brothers and sisters, and that Mary had more children! Catholics say that Mary did not have any other children. What can we think about this? In the first place, both positions, that of Catholics as well as that of Protestants, contain arguments taken from the Bible and from the Tradition of their respective Churches. For this reason, it is not convenient to discuss this question with arguments which are only intellectual, because it is a question of profound convictions, which have something to do with faith and with the sentiments of both and of each one. The argument which is only intellectual cannot change a conviction of the heart! It only irritates and draws away! Even if I do not agree with the opinion of others, I must respect it. In the second place, instead of discussing around texts, all of us, Catholics, and Protestants, should unite ourselves much more to fight for the defense of life, created by God, a life so disfigured by poverty, injustice, lack of faith. We should recall some other phrases of Jesus. “I have come so that they may have life and life to the full” (Jn 10: 10). “That all may be one, so that the world may believe that you, Father, has sent me” (Jn 17: 21). “Do not prevent them! Anyone who is not against us is for us” (Mk 10: 39, 40)

Personal Questions

           In Jesus something changed in his relationship with the Community of Nazareth. Since you began to participate in the community, has something changed in your relationship with the family? Why?

           Has participation in the community helped you to accept and to trust persons, especially the more simple and the poorest?

Concluding Prayer

For myself, wounded wretch that I am, by your saving power raise me up!

I will praise God’s name in song, I will extol him by thanksgiving. (Ps 69: 29-30)

www.ocarm.org

 

 


Saint Ignatius Loyola, Priest and Founder of the Society of Jesus

 

Ignatius of Loyola (original name Inigo), born in 1491, was the youngest of eleven children of a Basque nobleman and was destined to become a soldier. During a battle against the French he was wounded at the siege of Pamplona in 1521. His broken leg was badly set and, very conscious of his appearance, he insisted that it be broken again and re-set.

However, the surgery was not well done and Ignatius was left with a limp for the rest of his life. During his long period of convalescence he was not able to get books about the knightly romances he craved and had to settle for a book about the life of Christ and stories of saints, the only books available in the family castle. However, these books had a deep effect on him, and the heroism he now dreamed of was that of saints like Francis of Assisi and Dominic. He pledged his loyalty to the Mother of God by visiting her shrine at the Benedictine monastery of Montserrat in Catalonia and then began a year of prayer and penance in the cave at Manresa not far away. Here he experienced both desolation and consolation and began to learn the causes for each. This led to the compiling of his classic, the Spiritual Exercises. In 1523, he fulfilled a dream by making a pilgrimage to Jerusalem, begging his way like many before him. However, the Franciscans there persuaded him to give up his intention of converting Muslims, and he returned to Spain without a clear plan of what to do next.

He decided that he needed to do some studies if he was to be an effective evangeliser. He began, at the age of 30, by sitting down with schoolboys to learn Latin. He went on to Barcelona, Alcala, Salamanca and finally to the University of Paris. In Paris he studied philosophy for three years and graduated in 1534 as a master of arts. All this time he led a life of austerity and, though still a layman, gave spiritual direction, especially to women. In Spain he spent some time in prison, suspected of heresy.

As a student in Paris he gathered six disciples, to whom he gave the Spiritual Exercises. They then made vows of poverty, chastity and obedience at the Chapel of St Denis in Montmartre, promising to serve the Church either by preaching the gospel in the Holy Land, or else at the exclusive service of the pope. In 1537, they met in Venice, but were unable to continue on to the Holy Land, so they went on to Rome to ask the pope to recognise them as a religious community.

They were now all priests and had made an extra vow of special obedience to the pope. Their main priorities were the education of the young and going on missionary enterprises. They also were the first religious congregation to drop the communal recitation of the Divine Office so as to increase their freedom and mobility for apostolic works. In 1540, the new congregation, with the name Society of Jesus, got papal approval. Ignatius was unanimously, though against his will, elected as the first General and would hold the post for the rest of his life.

He would also remain in Rome from where he directed the works of the Society. Other works he personally was involved in were houses for converted Jews and shelters for prostitutes. Given that so many members were scattered to so many places and often working on their own, obedience to the aims of the Society became very important for maintaining unity. It also explains the long letters which members on the missions regularly sent back to Rome to report on what they were doing. Among the most famous of these were the letters of St Francis Xavier and of the missionaries working in China and North America.

A tighter organisation was also called for because of the crisis situation caused in Europe by the Reformation. Peter Canisius was one of the leaders of the Counter-Reformation, as were the many schools started by the Society. In missionary work, Francis Xavier was the pioneer with an astonishing career. He was followed by missionaries in India, China, Ethiopia, Latin America and North America. Spiritual direction, which was to complete rather than replace the work of parish priests, was undertaken by the Society. Ignatius, who had been plagued by chronic stomach problems due to the austere excesses in his younger years, died suddenly on 31 July, 1556. By then the Jesuits numbered over 1,000 members in nine European provinces, besides those working in foreign missions.

He was canonized with Francis Xavier on 12 March, 1622 and declared Patron of Spiritual Exercises and Retreats by Pope Pius XI.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0731s/

 

31.07.2026: THỨ SÁU TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN - THÁNH INHAXIÔ LÔIÔLA, LINH MỤC - Lễ Nhớ

 


31/07/2026

Thứ Sáu tuần 17 thường niên.

 Thánh I-nha-xi-ô Lôi-ô-la, linh mục.

Lễ nhớ

 

* Sinh năm 1491 tại Lôiôla miền Can-ta-bơ-ri-a. Lúc còn thanh niên, Inhaxiô theo binh nghiệp, phục vụ trong triều đình. Khi đã trở lại, người học thần học ở Pari. Tại đây, cùng với mấy người bạn, người đã sáng lập dòng Chúa Giêsu, thường gọi tắt là Dòng Tên (1534). Nhưng chính tại Rôma, người nỗ lực làm cho dòng lan rộng khắp châu Âu và hăng hái truyền giáo, nêu gương phục vụ Hội Thánh, hết lòng tuân phục Đức Giáo Hoàng. Phương pháp linh thao của người vạch ra một con đường cho ai muốn hiến thân để làm cho vinh quang Thiên Chúa ngày một sáng ngời hơn. Người qua đời ở Rôma năm 1556.

 


Bài Ðọc I: (Năm II) Gr 26, 1-9

“Toàn thể dân chúng tập họp trước Thiên Chúa”.

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Khi Gioakim, con của Giosia vua nước Giuđa mới lên cai trị, thì Chúa phán rằng: “Ðây Chúa phán: Ngươi hãy đứng giữa tiền đàng đền thờ Chúa, và bảo mọi thành phố nước Giuđa đến thờ lạy trong đền thờ Chúa, hãy nói cho họ biết tất cả những lời Ta truyền cho ngươi nói với họ: ngươi chớ bớt một lời; may ra ai nấy nghe mà trở lại, và bỏ đàng tội lỗi của mình, mong Ta hối tiếc tai hoạ Ta định giáng xuống họ, vì sự gian ác họ ưa thích. Và ngươi hãy bảo họ rằng: Ðây Chúa phán: Nếu các ngươi không nghe Ta để bước đi trong lề luật Ta đã ban cho các ngươi, để nghe lời các tiên tri tôi tớ Ta mà ban đêm Ta chỗi dậy và điều động sai đến các ngươi, và các ngươi không nghe, thì Ta sẽ để đền thờ này như Silô, sẽ khiến thành này bị hết thảy các dân trên địa cầu nguyền rủa”.

Các tư tế, các tiên tri, toàn dân đều nghe Giêrêmia nói những lời ấy trong đền thờ Chúa. Khi Giêrêmia nói hết những lời Chúa truyền cho ông nói với toàn dân, thì các tư tế, các tiên tri, và toàn dân bắt ông và nói rằng: “Ngươi phải chết! Tại sao ngươi nhân danh Thiên Chúa mà nói tiên tri rằng: ‘Ðền thờ này sẽ như Silô, thành này sẽ hoang vu không ai cư ngụ’?” Và toàn dân tập họp phản đối Giêrêmia trong đền thờ Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 68, 5. 8-10. 14

Ðáp: Lạy Chúa, xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi (c. 14c).

Xướng: Những kẻ thù ghét con vô cớ, chúng nhiều hơn số tóc trên đầu con. Chúng thực là mạnh thế hơn con, những con người phản hại con trái lẽ: điều mà con không lấy, con cũng phải đền ư?

Xướng: Sở dĩ vì Chúa mà con chịu nhục, và thẹn thò làm nhơ nhuốc mặt con. Con bị những người anh em coi như khách lạ, bị những người cùng con một mẹ xem như kẻ ngoại lai. Sự nhiệt tâm lo việc nhà Chúa khiến con mòn mỏi; điều tủi nhục người ta nhục mạ Chúa đổ trên mình con.

Xướng: Nhưng lạy Chúa, con dâng lời nguyện cầu lên Chúa con. Ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương. Xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, theo ơn phù trợ trung thành của Chúa.

 

Alleluia: Tv 24, 4c và 5a

Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 13, 54-58

Nào ông chẳng phải là con bác thợ mộc ư? Vậy bởi đâu ông được những sự ấy?”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê quán Người, và giảng dạy người ta trong hội đường, khiến người ta ngạc nhiên và nói rằng: “Bởi đâu ông này được sự khôn ngoan và quyền làm phép lạ như vậy? Nào ông chẳng phải là con bác thợ mộc sao? Nào mẹ ông chẳng phải là bà Maria, và Giacôbê, Giuse, Simon, Giuđa chẳng phải là anh em ông sao? Và chị em ông, nào chẳng phải những người ở nơi chúng ta sao? Vậy bởi đâu ông được những sự ấy?” Và họ vấp phạm đến Người.

Nhưng Chúa Giêsu phán cùng họ rằng: “Không tiên tri nào mà không được vinh dự, trừ nơi quê quán và nhà mình”. Người không làm nhiều phép lạ ở đó, vì họ chẳng có lòng tin.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Giê-rê-mi-a 26,1-9

Bài đọc hôm nay từ sách Giê-rê-mi-a được viết theo hình thức lịch sử hoặc tiểu sử. Một số người tin rằng những đoạn này có thể đến từ tiên tri Ba-rúc. Nó kể về bài diễn thuyết của Giê-rê-mi-a trước dân chúng, cảnh báo họ về những tai họa sẽ giáng xuống nếu họ không thay đổi lối sống. Thông điệp của ông sẽ không được các thầy tế lễ và dân chúng đón nhận tốt.

Cảnh này diễn ra vào đầu triều đại của vua Giê-hô-gia-kim xứ Giu-đa. Thuật ngữ tiếng Híp-ri chỉ ra sự bắt đầu năm trị vì chính thức (theo lịch) đầu tiên của ông, chứ không phải thời điểm ông lên ngôi ngay lập tức. Điều này đặt nó vào khoảng năm 609-608 trước Công nguyên. Giê-rê-mi-a được Đức Chúa bảo đến sân đền thờ, có lẽ gần nơi được gọi là Cổng Mới, và nói chuyện với tất cả những người đã đến từ vùng nông thôn xung quanh Giu-đa để thờ phượng. Ông phải nói chính xác những gì Đức Chúa đã bảo ông. Qua tiên tri của mình, Đức Chúa hứa rằng, nếu họ lắng nghe Giê-rê-mi-a và thay đổi lối sống, Ngài sẽ không giáng tai họa xuống họ.

Lời cảnh báo của Chúa được nói ra bằng ngôn ngữ rõ ràng nhất. Nếu mỗi người lắng nghe và từ bỏ con đường gian ác của mình, Chúa có thể sẽ hối tiếc về “tai họa” mà Ngài đã định giáng xuống họ. Mặt khác, nếu họ không tuân giữ Luật pháp và lắng nghe lời của vị tiên tri của Ngài, Đền thờ sẽ kết cục giống như Si-lô, và thành Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành một lời nguyền rủa giữa các quốc gia trên trái đất.

Si-lô là một đền thờ cổ xưa, nay đã đổ nát. Nơi thánh ở đó dường như đã bị người Phi-li-tin phá hủy. Trong sách Sa-mu-en thứ nhất, chúng ta đọc:

Ít-ra-en bị đánh bại, và họ bỏ chạy, mỗi người về nhà mình. Có một cuộc tàn sát rất lớn, vì có ba mươi ngàn lính bộ binh Ít-ra-en ngã xuống. Hòm giao ước của Đức Chúa Trời bị bắt giữ… (1 Sa-mu-en 4,10-11)

Đức Chúa phán rằng, Giê-ru-sa-lem sẽ gặp phải số phận tương tự.

Không có gì đáng ngạc nhiên, thông điệp này đã không được những người nghe đón nhận tốt. Các thầy tế lễ và các tiên tri đã bắt giữ Giê-rê-mi-a và đe dọa ông bằng cái chết. Cụm từ họ dùng mô tả hình phạt cao nhất dành cho những kẻ vi phạm nghiêm trọng luật Môi-se. Những “tiên tri” ở đây là những tiên tri giả đã đưa ra những lời tiên tri lạc quan, gieo hy vọng hão huyền vào tâm trí mọi người và che đậy những hành vi sai trái của họ.

Tất cả đều kinh hoàng và phẫn nộ khi thấy Đền thờ bị bỏ hoang giống như Si-lô và thành phố. Đó là những ý nghĩ hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi. Làm sao Chúa có thể cho phép điều như vậy xảy ra?

Nhưng nó sẽ xảy ra, và rất sớm thôi. Và nó sẽ xảy ra một lần nữa khoảng 40 năm sau cái chết của Chúa Giê-su – không bao giờ hồi phục được. Thánh Augustinô cũng có cảm xúc tương tự khi chứng kiến ​​La Mã (đối với ông là trung tâm của thế giới và nền văn minh) sụp đổ trước những kẻ xâm lược “man rợ”.

Một lần nữa, chúng ta thấy được sứ mệnh nguy hiểm của nhà tiên tri. Ông được ban cho sự thấu hiểu đặc biệt và có thể thấy được hành vi của con người đang dẫn họ đến đâu. Ông đưa ra những lời cảnh báo, nhưng chúng không được lắng nghe. Tệ hơn nữa, chúng bị bác bỏ và nhà tiên tri bị coi là kẻ thù cần phải loại bỏ. Nhưng nhà tiên tri không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục lên tiếng.

Điều khiến vấn đề trở nên phức tạp hơn là sẽ có sự nhầm lẫn giữa các nhà tiên tri chân chính và giả mạo, và thường thì những thông điệp quyến rũ của những người giả mạo sẽ được lắng nghe. Cần có sự phân định cẩn thận để phân biệt nhà tiên tri chân chính với những người hoặc ru ngủ chúng ta vào sự tự mãn, hoặc ngược lại, nói với chúng ta rằng “ngày tận thế sắp đến”.

 

 


Chú giải về Mát-thêu 13,54-58

Ngay sau bài giảng về các dụ ngôn về Nước Trời, chúng ta thấy Chúa Giê-su đến quê hương của Ngài là Na-da-rét. Bản dịch Kinh Thánh Tân Mỹ đánh dấu đây là sự khởi đầu của một phần mới trong Phúc Âm Mát-thêu, được gọi là “Chúa Giê-su, Nước Trời và Hội Thánh”. Phần này kết thúc ở chương 18, chứa đựng bài giảng thứ tư trong năm bài giảng đặc trưng của Mát-thêu.

Như quyền của mình, Chúa Giê-su đã dành một thời gian giảng dạy trong hội đường ở Na-da-rét. Dân chúng rất kinh ngạc khi nghe con trai của người thợ mộc địa phương nói như vậy:

Người này lấy đâu ra sự khôn ngoan và những phép lạ này?

Bản dịch Kinh Thánh Quốc tế Mới cho rằng từ thường được dịch là “thợ mộc” cũng có thể có nghĩa là “thợ xây đá”. Cả gia đình ông đều được dân chúng biết đến và họ biết ông không thể học được điều đó từ họ (“Chẳng phải đây là con trai của người thợ mộc sao?”), nhưng họ đã không hiểu được nguồn gốc thực sự của những điều ông nói và làm. Và, trái ngược với bản chất con người, họ đã quá ấn tượng đến nỗi từ chối Ngài! Ngài quá khác biệt so với họ. Một ví dụ hoàn hảo về sự quen thuộc sinh ra khinh thường và làm mờ mắt trước điều hiển nhiên. Và Chúa Giê-su buồn bã nhận xét rằng một nhà tiên tri có thể được lắng nghe ở khắp mọi nơi trừ những người cùng dân tộc với mình. Có lẽ tất cả chúng ta đều đã từng trải qua điều này, trực tiếp hoặc gián tiếp! Người Ireland chúng ta, đặc biệt, nổi tiếng với tính “thiếu thiện chí”!

Có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta xem xét mình đã phạm phải hành vi này bao nhiêu lần và ở đâu. Chúng ta đã bao nhiêu lần gạt bỏ những lời đề nghị của những người mà chúng ta biết rất rõ, hoặc nghĩ rằng mình biết rất rõ? Điều quan trọng là chúng ta phải nhận ra rằng Chúa có thể giao tiếp với chúng ta thông qua bất kỳ ai, và chúng ta không bao giờ được quyết định trước ai sẽ là người phát ngôn của Ngài.

Cuối cùng, chúng ta được cho biết rằng Chúa Giê-su không thể làm ở Na-da-rét bất kỳ điều kỳ diệu nào mà Ngài đã làm ở những nơi khác “vì sự thiếu đức tin của họ”. Tay Ngài bị trói buộc. Chúa Giê-su chỉ có thể giúp đỡ những người sẵn sàng được giúp đỡ, những người mở lòng với Ngài. Tôi mở lòng đến mức nào?

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2176g/

 

 




Suy Niệm: Tâm Thức Thời Ðại

Dư luận trong giới trí thức Âu Mỹ hiện nay đang nhắc nhiều đến cuốn sách bàn về tương lai nhân loại với tựa đề: "Ngỡ Ngàng Trước Tương Lai", trong đó tác giả nói về những thay đổi nhanh chóng hiện nay trên đời sống con người khiến ông cảm thấy ngỡ ngàng. Theo tác giả thì tâm lý thường tình của con người thích những khuôn sẵn có cho cuộc sống của mình nhờ đó con người dễ ổn định và dự liệu cho những gì xảy ra. Tắt một lời, dù có khuynh hướng sống thay đổi nhưng tận thâm tâm,con người sống và suy tưởng theo những khung sẵn có, và tệ hại hơn theo điều mà chúng ta gọi là thành kiến.

Tâm thức trên đây giúp chúng ta hiểu phần nào biến cố được trình thuật trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu trở về giảng dạy tại quê hương của Ngài là Nazareth, nhưng dân chúng tại đây không tin nhận Chúa, bởi vì họ suy tưởng và hành động theo thói quen, theo thành kiến. Họ đã quen với Chúa Giêsu như là con bác thợ mộc Giuse sống giữa họ từ bao năm nay, do đó giờ đây phải nhìn Chúa và đón nhận giáo huấn của Ngài với một tâm thức mới thì họ bị vấp phạm. Quả thật, như lời cụ già Simêon đã nói trong biến cố dâng Chúa vào Ðền thánh: Chúa Giêsu luôn luôn là dấu gợi lên chống đối; trực diện với Ngài, con người phải chọn lựa hoặc tin nhận, hoặc chối từ.

Chúng ta hãy xét lại xem đức tin của chúng ta hiện nay đối với Chúa Giêsu có còn sống động hay đã trở thành một thói quen khô khan, nguội lạnh, chỉ vì quá quen thuộc như dân làng Nazareth ngày xưa? Phải chăng cuộc sống của chúng ta đã trở thành mù quáng hoặc nô lệ cho những thành kiến đến độ không còn tin nhận Chúa và không còn bén nhạy trước tác động của ơn Chúa?

Xin Chúa tha thứ cho thái độ lạnh nhạt của chúng ta. Xin ban Thánh Thần để chúng ta nhìn thấy những dấu chỉ Chúa thực hiện trong đời sống và trong những biến cố hằng ngày để chúng ta luôn tin nhận Chúa.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 


Ngày 31/7: Thánh I-nha-xi-ô Lo-yo-la – Linh mục (1491 – 1556)

 

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Inhaxiô Loyola qua đời tại Roma ngày 31 tháng Bảy năm 1556 và được phong thánh năm 1622. Ngài đã sống trong một thời kỳ nổi bật chủ nghĩa lạc quan nhân bản và chủ trương sức mạnh cá nhân vốn là đặc trưng của phong trào baroque.

Inigo Lopez de Loyola sinh năm 1491, là con thứ mười một trong một gia đình hiệp sĩ nổi tiếng vùng Basque, Tây Ban Nha. Sau một thời gian sống tại triều đình ở Castille và một thời thanh xuân không mấy đáng khích lệ, Inigo gia nhập quân ngũ. Bị thương nặng trong cuộc vây hãm Pampelune (1521) do François IV tấn công, Inigo đành phải chịu đựng một giai đoạn dưỡng thương dài tại lâu đài gia đình. Trong thời gian dưỡng thương bắt buộc, cậu mê say đọc các tiểu thuyết hiệp sĩ và cả một số tác phẩm về cuộc đời Chúa Giêsu và các thánh. Được Ơn Chúa thúc đẩy, Inigo de Loyola trở lại vào chính năm Luther bị khủng hoảng, rút lui về lâu đài Wartburg ở Đức. Từ đây cuộc đời Inigo bước qua nhiều chặng đường khác nhau. Trước tiên là Catalogne, tại đây Inigo dừng chân trong một buổi canh thức theo tập tục người hiệp sĩ, trước tượng Đức Mẹ ở Montserrat. Tiếp đến, tại Manrèse, trong một hang đá, ngài bắt đầu ghi những điểm đầu tiên trong cuốn Linh thao sẽ là cơ bản cho linh đạo của Dòng Tên. Năm 1523, ngài hành hương sang Jérusalem. Từ 1524 đến 1527, theo học ở Tây Ban Nha, buổi đầu ở Barcelone, về sau ở Salamanque. Tại Barcelone, bị coi là “người ảo tưởng”, Inigo bị bỏ tù, cũng như sau này ở Salamanque bị tố cáo là “tâm thần”.

Năm 1528, Inigo đến Paris, ở đó đến 1535, ban đầu là sinh viên, về sau là “tiến sĩ nghệ thuật” (maýtre ès arts) (dạy triết học). Chính tại Paris năm 1534, Thánh Inhaxiô thâu nhận các người bạn đầu tiên, trong đó có Thánh Phanxicô Xavie, để chia sẻ lý tưởng với mình. Tại Montmartre, trong nhà nguyện các thánh tử đạo, các ngài tuyên khấn ba lời khấn dòng thông thường, ngoài ra còn thêm lời khấn đi truyền giáo cho lương dân tại Đất Thánh và nếu dự tính không thể thực hiện thì sẵn sàng tuân theo ý Đức Giáo Hoàng. Năm 1537, sau khi thụ phong linh mục, Thánh Inhaxiô cùng các bạn sang Roma, nhưng không thể sang Palestine vì đang có chiến tranh giữa Venise với quốc vương Hồi Giáo, Đức Phaolô III sai các ngài đến các điểm truyền giáo ở Italia, và năm 1540, Đức Giáo Hoàng phê chuẩn luật Dòng Chúa Giêsu. Thánh Inhaxiô Loyola là bề trên tổng quyền đầu tiên của dòng. Hiến pháp cố định của dòng được phê chuẩn năm 1550.

Thánh Inhaxiô qua đời tại Roma, thọ 65 tuổi, sau thời gian làm bề trên tổng quyền mười lăm năm.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày lấy tư tưởng từ bài đọc thứ nhất trong Thánh Lễ (1 Co 10, 31), nhắc lại châm ngôn lừng danh của Dòng Tên: “Ad majorem Dei gloriam – AMDG – Để Chúa được vinh danh hơn”: “Lạy Chúa, để danh Chúa được tôn vinh hơn, Ngài đã cho xuất hiện trong Giáo Hội Thánh Inhaxiô Loyola…”. Vị bề trên tổng quyền dòng tu này đã “sẵn sàng cho những công việc phục vụ ánh sáng” và “cho việc loan báo cứu rỗi trên khắp thế giới” (Ca vãn trong Phụng vụ Bài đọc). Để đạt mục tiêu trong cuộc chiến đấu vì Phúc Âm này, cần có kỷ luật, và việc thực tập nó được thực hiện là nhờ các bài đọc trong cuốn Linh thao, lấy theo tinh thần của bài Phúc Âm trong Thánh Lễ (Lc 14, 25-33) là: triệt để bước theo Đức Kitô bằng cách từ bỏ tất cả, sau khi đã nghiên cứu vấn đề một cách chính chắn trước; suy nghĩ về mục đích của con người, về tội lỗi, suy niệm các mầu nhiệm trong cuộc đời Đức Kitô, kiếm tìm và nhìn thấy Chúa trong mọi sự, trở thành những nhà chiêm niệm trong khi vẫn hoạt động và tập phân biệt các loại tinh thần khác nhau…”

Lời nguyện trên lễ vật xin Chúa cho chúng ta cũng được “thánh hóa trong sự thật”, nhờ Thánh Thể là “nguồn mạch mọi sự thánh thiện”. Trong cuốn Nhật ký tinh thần, Thánh Inhaxiô trình bày Đức Kitô của Phúc Âm trong cái chết cũng như phục sinh, là mẫu gương cho cuộc sống tu đức Kitô Giáo. Việc bắt chước Chúa trước tiên phải được thực hiện bằng vâng phục vốn là nhân đức căn bản, sau đó bằng khó nghèo và sau hết bằng khiêm tốn, là điều kiện của đời sống thánh thiện đích thực.

Trong lời nguyện tạ lễ, chúng ta xin Chúa dẫn chúng ta tới chốn “ca tụng vinh quang Chúa không ngừng”. Thánh Inhaxiô từng là một con người chiêm niệm đồng thời là một con người hoạt động. Quả thế, ở Roma, Ngài đã không ngừng truyền giáo, giảng dạy, cứu giúp người nghèo khổ, kẻ mồ côi, thậm chí còn lập một trường dự tòng cho người Do thái Giáo và Hồi Giáo cải đạo và một nhà cho các phụ nữ hoàn lương …

Vậy nên Thánh Inhaxiô Loyola vẫn mãi mãi là gương mẫu diệu kỳ để bắt chước bởi tình yêu của Ngài đối với Đức Kitô, bởi sự quân bình trong đời sống và tư tưởng của Ngài, bởi tình yêu say đắm đối với Giáo Hội, bởi tình gắn bó của Ngài với Đức Giáo Hoàng. Dòng Tên do Ngài sáng lập qua bao thế kỷ sẽ là một hoạt động do sự quan phòng của Chúa trong việc Phục hưng công giáo, huấn luyện giới trẻ và phát triển Giáo Hội Chúa sang vùng truyền giáo.

Enzo Lodi