31/07/2026
Thứ Sáu tuần 17 thường niên.
Thánh I-nha-xi-ô
Lôi-ô-la, linh mục.
Lễ nhớ
* Sinh năm 1491 tại Lôiôla miền Can-ta-bơ-ri-a. Lúc còn
thanh niên, Inhaxiô theo binh nghiệp, phục vụ trong triều đình. Khi đã trở lại,
người học thần học ở Pari. Tại đây, cùng với mấy người bạn, người đã sáng lập
dòng Chúa Giêsu, thường gọi tắt là Dòng Tên (1534). Nhưng chính tại Rôma, người
nỗ lực làm cho dòng lan rộng khắp châu Âu và hăng hái truyền giáo, nêu gương phục
vụ Hội Thánh, hết lòng tuân phục Đức Giáo Hoàng. Phương pháp linh thao của
người vạch ra một con đường cho ai muốn hiến thân để làm cho vinh quang Thiên
Chúa ngày một sáng ngời hơn. Người qua đời ở Rôma năm 1556.
Bài Ðọc I: (Năm
II) Gr 26, 1-9
“Toàn thể dân chúng tập họp trước Thiên Chúa”.
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Khi Gioakim, con của Giosia vua nước Giuđa mới lên cai trị,
thì Chúa phán rằng: “Ðây Chúa phán: Ngươi hãy đứng giữa tiền đàng đền thờ Chúa,
và bảo mọi thành phố nước Giuđa đến thờ lạy trong đền thờ Chúa, hãy nói cho họ
biết tất cả những lời Ta truyền cho ngươi nói với họ: ngươi chớ bớt một lời;
may ra ai nấy nghe mà trở lại, và bỏ đàng tội lỗi của mình, mong Ta hối tiếc
tai hoạ Ta định giáng xuống họ, vì sự gian ác họ ưa thích. Và ngươi hãy bảo họ
rằng: Ðây Chúa phán: Nếu các ngươi không nghe Ta để bước đi trong lề luật Ta đã
ban cho các ngươi, để nghe lời các tiên tri tôi tớ Ta mà ban đêm Ta chỗi dậy và
điều động sai đến các ngươi, và các ngươi không nghe, thì Ta sẽ để đền thờ này
như Silô, sẽ khiến thành này bị hết thảy các dân trên địa cầu nguyền rủa”.
Các tư tế, các tiên tri, toàn dân đều nghe Giêrêmia nói những
lời ấy trong đền thờ Chúa. Khi Giêrêmia nói hết những lời Chúa truyền cho ông
nói với toàn dân, thì các tư tế, các tiên tri, và toàn dân bắt ông và nói rằng:
“Ngươi phải chết! Tại sao ngươi nhân danh Thiên Chúa mà nói tiên tri rằng: ‘Ðền
thờ này sẽ như Silô, thành này sẽ hoang vu không ai cư ngụ’?” Và toàn dân tập họp
phản đối Giêrêmia trong đền thờ Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 68, 5. 8-10. 14
Ðáp: Lạy Chúa,
xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi (c. 14c).
Xướng: Những kẻ
thù ghét con vô cớ, chúng nhiều hơn số tóc trên đầu con. Chúng thực là mạnh thế
hơn con, những con người phản hại con trái lẽ: điều mà con không lấy, con cũng
phải đền ư?
Xướng: Sở dĩ vì
Chúa mà con chịu nhục, và thẹn thò làm nhơ nhuốc mặt con. Con bị những người
anh em coi như khách lạ, bị những người cùng con một mẹ xem như kẻ ngoại lai. Sự
nhiệt tâm lo việc nhà Chúa khiến con mòn mỏi; điều tủi nhục người ta nhục mạ
Chúa đổ trên mình con.
Xướng: Nhưng lạy
Chúa, con dâng lời nguyện cầu lên Chúa con. Ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ
tình thương. Xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, theo ơn phù trợ trung
thành của Chúa.
Alleluia: Tv 24, 4c và 5a
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước
của Chúa và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 13, 54-58
“Nào ông chẳng phải là con bác thợ mộc ư? Vậy bởi đâu ông
được những sự ấy?”
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê quán Người, và giảng dạy người
ta trong hội đường, khiến người ta ngạc nhiên và nói rằng: “Bởi đâu ông này được
sự khôn ngoan và quyền làm phép lạ như vậy? Nào ông chẳng phải là con bác thợ mộc
sao? Nào mẹ ông chẳng phải là bà Maria, và Giacôbê, Giuse, Simon, Giuđa chẳng
phải là anh em ông sao? Và chị em ông, nào chẳng phải những người ở nơi chúng
ta sao? Vậy bởi đâu ông được những sự ấy?” Và họ vấp phạm đến Người.
Nhưng Chúa Giêsu phán cùng họ rằng: “Không tiên tri nào mà
không được vinh dự, trừ nơi quê quán và nhà mình”. Người không làm nhiều phép lạ
ở đó, vì họ chẳng có lòng tin.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về Giê-rê-mi-a 26,1-9
Bài đọc hôm nay từ sách Giê-rê-mi-a được viết theo hình thức lịch sử hoặc tiểu
sử. Một số người tin rằng những đoạn này có thể đến từ tiên tri Ba-rúc. Nó kể về
bài diễn thuyết của Giê-rê-mi-a
trước dân chúng, cảnh báo họ về những tai họa sẽ giáng xuống nếu họ không thay
đổi lối sống. Thông điệp của ông sẽ không được các thầy tế lễ và dân chúng đón
nhận tốt.
Cảnh này diễn ra vào đầu triều đại của vua Giê-hô-gia-kim xứ
Giu-đa. Thuật ngữ tiếng Híp-ri
chỉ ra sự bắt đầu năm trị vì chính thức (theo lịch) đầu tiên của ông, chứ không
phải thời điểm ông lên ngôi ngay lập tức. Điều này đặt nó vào khoảng năm
609-608 trước Công nguyên. Giê-rê-mi-a được Đức Chúa bảo
đến sân đền thờ, có lẽ gần nơi được gọi là Cổng Mới, và nói chuyện với tất cả
những người đã đến từ vùng nông thôn xung quanh Giu-đa để thờ phượng. Ông phải
nói chính xác những gì Đức Chúa
đã bảo ông. Qua tiên tri của mình, Đức Chúa hứa rằng, nếu họ lắng nghe Giê-rê-mi-a và thay đổi lối sống, Ngài sẽ không
giáng tai họa xuống họ.
Lời cảnh báo của Chúa được nói ra bằng ngôn ngữ rõ ràng nhất.
Nếu mỗi người lắng nghe và từ bỏ con đường gian ác của mình, Chúa có thể sẽ hối
tiếc về “tai họa” mà Ngài đã định giáng xuống họ. Mặt khác, nếu họ không tuân
giữ Luật pháp và lắng nghe lời của vị tiên tri của Ngài, Đền thờ sẽ kết cục giống
như Si-lô, và thành Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành một lời nguyền rủa giữa các quốc
gia trên trái đất.
Si-lô là một đền thờ cổ xưa, nay đã đổ nát. Nơi thánh ở đó
dường như đã bị người Phi-li-tin phá hủy. Trong sách Sa-mu-en thứ nhất, chúng
ta đọc:
…Ít-ra-en
bị đánh bại, và họ bỏ chạy, mỗi người về nhà mình. Có một cuộc tàn sát rất lớn,
vì có ba mươi ngàn lính bộ binh Ít-ra-en ngã xuống. Hòm giao ước của
Đức Chúa Trời bị bắt giữ… (1 Sa-mu-en 4,10-11)
Đức Chúa
phán rằng, Giê-ru-sa-lem sẽ gặp phải số phận tương tự.
Không có gì đáng ngạc nhiên, thông điệp này đã không được những
người nghe đón nhận tốt. Các thầy tế lễ và các tiên tri đã bắt giữ Giê-rê-mi-a và đe dọa ông bằng cái chết. Cụm
từ họ dùng mô tả hình phạt cao nhất dành cho những kẻ vi phạm nghiêm trọng luật
Môi-se. Những “tiên tri” ở đây là những tiên tri giả đã đưa ra những lời tiên
tri lạc quan, gieo hy vọng hão huyền vào tâm trí mọi người và che đậy những
hành vi sai trái của họ.
Tất cả đều kinh hoàng và phẫn nộ khi thấy Đền thờ bị bỏ
hoang giống như Si-lô và thành phố. Đó là những ý nghĩ hoàn toàn không thể tưởng
tượng nổi. Làm sao Chúa có thể cho phép điều như vậy xảy ra?
Nhưng nó sẽ xảy ra, và rất sớm thôi. Và nó sẽ xảy ra một lần
nữa khoảng 40 năm sau cái chết của Chúa Giê-su – không bao giờ hồi phục được.
Thánh Augustinô cũng có cảm xúc tương tự khi chứng kiến La Mã (đối với ông là
trung tâm của thế giới và nền văn minh) sụp đổ trước những kẻ xâm lược “man rợ”.
Một lần nữa, chúng ta thấy được sứ mệnh nguy hiểm của nhà
tiên tri. Ông được ban cho sự thấu hiểu đặc biệt và có thể thấy được hành vi của
con người đang dẫn họ đến đâu. Ông đưa ra những lời cảnh báo, nhưng chúng không
được lắng nghe. Tệ hơn nữa, chúng bị bác bỏ và nhà tiên tri bị coi là kẻ thù cần
phải loại bỏ. Nhưng nhà tiên tri không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục
lên tiếng.
Điều khiến vấn đề trở nên phức tạp hơn là sẽ có sự nhầm lẫn
giữa các nhà tiên tri chân chính và giả mạo, và thường thì những thông điệp quyến
rũ của những người giả mạo sẽ được lắng nghe. Cần có sự phân định cẩn thận để
phân biệt nhà tiên tri chân chính với những người hoặc ru ngủ chúng ta vào sự tự
mãn, hoặc ngược lại, nói với chúng ta rằng “ngày tận thế sắp đến”.
Chú giải về Mát-thêu 13,54-58
Ngay sau bài giảng về các dụ ngôn về Nước Trời, chúng ta thấy
Chúa Giê-su đến quê hương của Ngài là Na-da-rét. Bản dịch Kinh Thánh Tân Mỹ đánh dấu đây là sự khởi đầu của một phần mới
trong Phúc Âm Mát-thêu, được
gọi là “Chúa Giê-su, Nước Trời và Hội Thánh”. Phần này kết thúc ở chương 18, chứa
đựng bài giảng thứ tư trong năm bài giảng đặc trưng của Mát-thêu.
Như quyền của mình, Chúa Giê-su đã dành một thời gian giảng
dạy trong hội đường ở Na-da-rét. Dân chúng rất kinh ngạc khi nghe con trai của
người thợ mộc địa phương nói như vậy:
Người này lấy đâu ra sự
khôn ngoan và những phép lạ này?
Bản dịch Kinh Thánh Quốc
tế Mới cho rằng từ thường được dịch là “thợ mộc” cũng có thể có nghĩa là
“thợ xây đá”. Cả gia đình ông đều được dân chúng biết đến và họ biết ông không
thể học được điều đó từ họ (“Chẳng phải đây là con trai của người thợ mộc sao?”),
nhưng họ đã không hiểu được nguồn gốc thực sự của những điều ông nói và làm.
Và, trái ngược với bản chất con người, họ đã quá ấn tượng đến nỗi từ chối Ngài!
Ngài quá khác biệt so với họ. Một ví dụ hoàn hảo về sự quen thuộc sinh ra khinh
thường và làm mờ mắt trước điều hiển nhiên. Và Chúa Giê-su buồn bã nhận xét rằng
một nhà tiên tri có thể được lắng nghe ở khắp mọi nơi trừ những người cùng dân
tộc với mình. Có lẽ tất cả chúng ta đều đã từng trải qua điều này, trực tiếp hoặc
gián tiếp! Người Ireland chúng ta, đặc biệt, nổi tiếng với tính “thiếu thiện
chí”!
Có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta xem xét mình đã phạm phải hành
vi này bao nhiêu lần và ở đâu. Chúng ta đã bao nhiêu lần gạt bỏ những lời đề
nghị của những người mà chúng ta biết rất rõ, hoặc nghĩ rằng mình biết rất rõ?
Điều quan trọng là chúng ta phải nhận ra rằng Chúa có thể giao tiếp với chúng
ta thông qua bất kỳ ai, và chúng ta không bao giờ được quyết định trước ai sẽ
là người phát ngôn của Ngài.
Cuối cùng, chúng ta được cho biết rằng Chúa Giê-su không thể
làm ở Na-da-rét bất kỳ điều kỳ diệu nào mà Ngài đã làm ở những nơi khác “vì sự
thiếu đức tin của họ”. Tay Ngài bị trói buộc. Chúa Giê-su chỉ có thể giúp đỡ những
người sẵn sàng được giúp đỡ, những người mở lòng với Ngài. Tôi mở lòng đến mức
nào?
https://livingspace.sacredspace.ie/o2176g/
Suy Niệm: Tâm Thức Thời Ðại
Dư luận trong giới trí thức Âu Mỹ hiện nay đang nhắc nhiều
đến cuốn sách bàn về tương lai nhân loại với tựa đề: "Ngỡ Ngàng Trước
Tương Lai", trong đó tác giả nói về những thay đổi nhanh chóng hiện nay
trên đời sống con người khiến ông cảm thấy ngỡ ngàng. Theo tác giả thì tâm lý
thường tình của con người thích những khuôn sẵn có cho cuộc sống của mình nhờ
đó con người dễ ổn định và dự liệu cho những gì xảy ra. Tắt một lời, dù có
khuynh hướng sống thay đổi nhưng tận thâm tâm,con người sống và suy tưởng theo
những khung sẵn có, và tệ hại hơn theo điều mà chúng ta gọi là thành kiến.
Tâm thức trên đây giúp chúng ta hiểu phần nào biến cố được
trình thuật trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu trở về giảng dạy tại quê hương của
Ngài là Nazareth, nhưng dân chúng tại đây không tin nhận Chúa, bởi vì họ suy tưởng
và hành động theo thói quen, theo thành kiến. Họ đã quen với Chúa Giêsu như là
con bác thợ mộc Giuse sống giữa họ từ bao năm nay, do đó giờ đây phải nhìn Chúa
và đón nhận giáo huấn của Ngài với một tâm thức mới thì họ bị vấp phạm. Quả thật,
như lời cụ già Simêon đã nói trong biến cố dâng Chúa vào Ðền thánh: Chúa Giêsu
luôn luôn là dấu gợi lên chống đối; trực diện với Ngài, con người phải chọn lựa
hoặc tin nhận, hoặc chối từ.
Chúng ta hãy xét lại xem đức tin của chúng ta hiện nay đối với
Chúa Giêsu có còn sống động hay đã trở thành một thói quen khô khan, nguội lạnh,
chỉ vì quá quen thuộc như dân làng Nazareth ngày xưa? Phải chăng cuộc sống của
chúng ta đã trở thành mù quáng hoặc nô lệ cho những thành kiến đến độ không còn
tin nhận Chúa và không còn bén nhạy trước tác động của ơn Chúa?
Xin Chúa tha thứ cho thái độ lạnh nhạt của chúng ta. Xin ban
Thánh Thần để chúng ta nhìn thấy những dấu chỉ Chúa thực hiện trong đời sống và
trong những biến cố hằng ngày để chúng ta luôn tin nhận Chúa.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Ngày 31/7: Thánh I-nha-xi-ô
Lo-yo-la – Linh mục (1491 – 1556)
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh Inhaxiô Loyola qua đời tại Roma ngày 31 tháng Bảy năm
1556 và được phong thánh năm 1622. Ngài đã sống trong một thời kỳ nổi bật chủ
nghĩa lạc quan nhân bản và chủ trương sức mạnh cá nhân vốn là đặc trưng của
phong trào baroque.
Inigo Lopez de Loyola sinh năm 1491, là con thứ mười một
trong một gia đình hiệp sĩ nổi tiếng vùng Basque, Tây Ban Nha. Sau một thời
gian sống tại triều đình ở Castille và một thời thanh xuân không mấy đáng khích
lệ, Inigo gia nhập quân ngũ. Bị thương nặng trong cuộc vây hãm Pampelune (1521)
do François IV tấn công, Inigo đành phải chịu đựng một giai đoạn dưỡng thương
dài tại lâu đài gia đình. Trong thời gian dưỡng thương bắt buộc, cậu mê say đọc
các tiểu thuyết hiệp sĩ và cả một số tác phẩm về cuộc đời Chúa Giêsu và các
thánh. Được Ơn Chúa thúc đẩy, Inigo de Loyola trở lại vào chính năm Luther bị
khủng hoảng, rút lui về lâu đài Wartburg ở Đức. Từ đây cuộc đời Inigo bước qua
nhiều chặng đường khác nhau. Trước tiên là Catalogne, tại đây Inigo dừng chân
trong một buổi canh thức theo tập tục người hiệp sĩ, trước tượng Đức Mẹ ở
Montserrat. Tiếp đến, tại Manrèse, trong một hang đá, ngài bắt đầu ghi những điểm
đầu tiên trong cuốn Linh thao sẽ là cơ bản cho linh đạo của Dòng Tên. Năm 1523,
ngài hành hương sang Jérusalem. Từ 1524 đến 1527, theo học ở Tây Ban Nha, buổi
đầu ở Barcelone, về sau ở Salamanque. Tại Barcelone, bị coi là “người ảo tưởng”,
Inigo bị bỏ tù, cũng như sau này ở Salamanque bị tố cáo là “tâm thần”.
Năm 1528, Inigo đến Paris, ở đó đến 1535, ban đầu là sinh
viên, về sau là “tiến sĩ nghệ thuật” (maýtre ès arts) (dạy triết học). Chính tại
Paris năm 1534, Thánh Inhaxiô thâu nhận các người bạn đầu tiên, trong đó có
Thánh Phanxicô Xavie, để chia sẻ lý tưởng với mình. Tại Montmartre, trong nhà
nguyện các thánh tử đạo, các ngài tuyên khấn ba lời khấn dòng thông thường,
ngoài ra còn thêm lời khấn đi truyền giáo cho lương dân tại Đất Thánh và nếu dự
tính không thể thực hiện thì sẵn sàng tuân theo ý Đức Giáo Hoàng. Năm 1537, sau
khi thụ phong linh mục, Thánh Inhaxiô cùng các bạn sang Roma, nhưng không thể
sang Palestine vì đang có chiến tranh giữa Venise với quốc vương Hồi Giáo, Đức
Phaolô III sai các ngài đến các điểm truyền giáo ở Italia, và năm 1540, Đức
Giáo Hoàng phê chuẩn luật Dòng Chúa Giêsu. Thánh Inhaxiô Loyola là bề trên tổng
quyền đầu tiên của dòng. Hiến pháp cố định của dòng được phê chuẩn năm 1550.
Thánh Inhaxiô qua đời tại Roma, thọ 65 tuổi, sau thời gian
làm bề trên tổng quyền mười lăm năm.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện trong ngày lấy tư tưởng từ bài đọc thứ nhất trong
Thánh Lễ (1 Co 10, 31), nhắc lại châm ngôn lừng danh của Dòng Tên: “Ad
majorem Dei gloriam – AMDG – Để Chúa được vinh danh hơn”: “Lạy Chúa, để danh
Chúa được tôn vinh hơn, Ngài đã cho xuất hiện trong Giáo Hội Thánh Inhaxiô
Loyola…”. Vị bề trên tổng quyền dòng tu này đã “sẵn sàng cho những công
việc phục vụ ánh sáng” và “cho việc loan báo cứu rỗi trên khắp thế
giới” (Ca vãn trong Phụng vụ Bài đọc). Để đạt mục tiêu trong cuộc chiến
đấu vì Phúc Âm này, cần có kỷ luật, và việc thực tập nó được thực hiện là nhờ
các bài đọc trong cuốn Linh thao, lấy theo tinh thần của bài Phúc Âm trong
Thánh Lễ (Lc 14, 25-33) là: triệt để bước theo Đức Kitô bằng cách từ bỏ tất cả,
sau khi đã nghiên cứu vấn đề một cách chính chắn trước; suy nghĩ về mục đích của
con người, về tội lỗi, suy niệm các mầu nhiệm trong cuộc đời Đức Kitô, kiếm tìm
và nhìn thấy Chúa trong mọi sự, trở thành những nhà chiêm niệm trong khi vẫn hoạt
động và tập phân biệt các loại tinh thần khác nhau…”
Lời nguyện trên lễ vật xin Chúa cho chúng ta cũng được
“thánh hóa trong sự thật”, nhờ Thánh Thể là “nguồn mạch mọi sự thánh thiện”.
Trong cuốn Nhật ký tinh thần, Thánh Inhaxiô trình bày Đức Kitô của Phúc Âm
trong cái chết cũng như phục sinh, là mẫu gương cho cuộc sống tu đức Kitô Giáo.
Việc bắt chước Chúa trước tiên phải được thực hiện bằng vâng phục vốn là nhân đức
căn bản, sau đó bằng khó nghèo và sau hết bằng khiêm tốn, là điều kiện của đời
sống thánh thiện đích thực.
Trong lời nguyện tạ lễ, chúng ta xin Chúa dẫn chúng ta tới
chốn “ca tụng vinh quang Chúa không ngừng”. Thánh Inhaxiô từng là một con người
chiêm niệm đồng thời là một con người hoạt động. Quả thế, ở Roma, Ngài đã không
ngừng truyền giáo, giảng dạy, cứu giúp người nghèo khổ, kẻ mồ côi, thậm chí còn
lập một trường dự tòng cho người Do thái Giáo và Hồi Giáo cải đạo và một nhà
cho các phụ nữ hoàn lương …
Vậy nên Thánh Inhaxiô Loyola vẫn mãi mãi là gương mẫu diệu kỳ
để bắt chước bởi tình yêu của Ngài đối với Đức Kitô, bởi sự quân bình trong đời
sống và tư tưởng của Ngài, bởi tình yêu say đắm đối với Giáo Hội, bởi tình gắn
bó của Ngài với Đức Giáo Hoàng. Dòng Tên do Ngài sáng lập qua bao thế kỷ sẽ là
một hoạt động do sự quan phòng của Chúa trong việc Phục hưng công giáo, huấn
luyện giới trẻ và phát triển Giáo Hội Chúa sang vùng truyền giáo.
Enzo Lodi

.jpg)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét