Trang

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2026

22.07.2026: THỨ TƯ TUẦN XVI THƯỜNG NIÊN - THÁNH NỮ MARIA MAĐALÊNA - LỄ KÍNH

 

22/07/2026

 Thứ Tư tuần 16 thường niên

THÁNH NỮ MARIA MADALENA.

 Lễ Kính

 


Vốn là người phụ nữ tội lỗi đã được Chúa Giêsu ban ơn tha thứ, Maria Mađalêna đã hết tình phục vụ Người. Trong cuộc thương khó, khi các Tông Đồ mạnh ai nấy chạy thì thánh nữ đã can đảm đứng dưới chân thập giá Đức Giêsu, cùng với Đức Maria, tông đồ Gioan và một số phụ nữ khác.

Đức Giêsu đã tưởng thưởng lòng trung thành đơn sơ của thánh nữ khi hiện ra với thánh nữ sáng ngày phục sinh và trao cho thánh nữ trách nhiệm loan báo Tin Mừng phục sinh cho các môn đệ của Người. Chẳng phải vô cớ mà phụng vụ Đông phương đã gọi thánh nữ là”tông đồ của các tông đồ”.

 

Bài Ðọc I: Dc 3, 1-4a

“Tôi đã gặp người tôi yêu”.

Trích sách Diễm Ca.

Suốt đêm trên giường ngủ, tôi đã tìm kiếm người tôi yêu: Tôi đã tìm kiếm chàng, nhưng tôi không gặp được chàng. Tôi chỗi dậy, và đi quanh thành phố, đi qua các phố xá và công trường, tôi tìm kiếm người tôi yêu. Tôi đã tìm kiếm chàng, nhưng tôi không gặp được chàng. Các người lính canh gác thành phố gặp tôi và tôi hỏi họ: “Các anh có thấy người tôi yêu không?” Tôi vừa đi qua khỏi họ, thì gặp ngay người tôi yêu.

Ðó là lời Chúa.

Hoặc: 2 Cr 5, 14-17

Từ nay chúng ta không biết Ðức Kitô theo xác thịt nữa”.

Trích thư thứ hai của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

Anh em thân mến, lòng mến của Ðức Ki-tô thúc bách chúng ta; chúng ta xác tín điều này là một người đã chết vì mọi người, vậy mọi người đều đã chết. Và Ðức Ki-tô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống, thì không còn sống cho chính mình nữa, mà là sống cho Ðấng đã chết và sống lại vì họ. Vì thế, từ nay chúng ta không còn biết ai theo xác thịt nữa. Mặc dù nếu chúng ta đã biết Ðức Ki-tô theo xác thịt, thì giờ đây chúng ta không còn biết như thế nữa. Vậy nếu ai đã trở nên một tạo vật mới trong Ðức Ki-tô, thì những gì cũ đã qua rồi, vì đây mọi sự đều được trở nên mới.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 62, 2. 3-4. 5-6. 8-9

Ðáp: Lạy Chúa là Thiên Chúa con, linh hồn con khao khát Chúa

Xướng: Ôi lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, con thao thức chạy kiếm Ngài. Linh hồn con khát khao, thể xác con mong đợi Chúa như đất héo khô, khát mong mà không gặp nước! 

Xướng: Con cũng mong được chiêm ngưỡng thiên nhan ở thánh đài, để nhìn thấy quyền năng và vinh quang của Chúa. Vì ân tình của Ngài đáng chuộng hơn mạng sống; miệng con sẽ xướng ca ngợi khen Ngài. 

Xướng: Con sẽ chúc tụng Ngài như thế trọn đời con, con sẽ giơ tay kêu cầu danh Chúa. Hồn con được no thoả dường như mỹ vị cao lương, và miệng con ca ngợi Chúa với cặp môi hoan hỉ. 

Xướng: Vì Chúa đã ra tay trợ phù con, để con được hoan hỉ núp trong bóng cánh của Ngài. Linh hồn con bám thân vào Chúa, và tay hữu Chúa nâng đỡ người con. 

 

Alleluia

Alleluia, alleluia! – Hỡi Ma-ri-a, hãy nói cho chúng tôi biết bà đã thấy gì trên đường? -Tôi đã thấy mộ của Ðức Ki-tô hằng sống và vinh quang của Ðấng sống lại. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 20, 1. 11-18

“Bà kia, sao mà khóc? Bà tìm ai?”

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Gio-an.

Ngày đầu tuần, Ma-ri-a Ma-đa-lê-na đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối, và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ.

(Bà liền chạy về tìm Si-mon Phê-rô và người môn đệ khác được Chúa Giê-su yêu mến, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta để Thầy ở đâu”.)

Bà Ma-ri-a đang còn đứng gần mồ Chúa mà than khóc, nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giê-su, một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: “Tại sao bà khóc?” Bà trả lời: “Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi, và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu?” Vừa nói xong, bà quay mặt lại, thì thấy Chúa Giê-su đã đứng đó. Nhưng bà chưa biết là Chúa Giê-su.

Chúa Giê-su hỏi: “Bà kia, sao mà khóc? Bà tìm ai?” Tưởng là người giữ vườn, Ma-ri-a thưa: “Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người”. Chúa Giê-su gọi: “Ma-ri-a”. Quay mặt lại, bà thưa Người: “Rabboni”, nghĩa là “Lạy Thầy”. Chúa Giê-su bảo bà: “Ðừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta. Nhưng hãy báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: “Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con”.

Ma-ri-a Ma-đa-lê-na đi báo tin cho các môn đệ rằng: “Tôi đã trông thấy Chúa, và Chúa đã phán với tôi những điều ấy”.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Diễm Ca 3,1-4 hoặc 2 Cô-rin-tô 5,14-17; Gioan 20,1-2. 11-18

Bài đọc Phúc Âm, từ sách Gioan, mô tả cuộc gặp gỡ của Ma-ri-a Ma-đa-lê-na với Chúa Giêsu Phục Sinh. Chúng ta được kể rằng Ma-ri-a đã đến mộ vào sáng sớm Chủ nhật, “khi trời còn tối”. Bóng tối không chỉ cho thấy đó là trước khi mặt trời mọc, mà còn thể hiện cảm xúc trong lòng Ma-ri-a. Bà đã mất đi Người Thầy yêu dấu của mình và đang vô cùng thương tiếc Người.

Bà thấy tảng đá lớn canh giữ lối vào mộ đã bị dời đi và bà rất buồn. Vì vậy, bà chạy về báo cho Phê-rô và môn đệ yêu dấu:

Họ đã lấy Chúa ra khỏi mộ, và chúng tôi không biết họ đã đặt Người ở đâu.

Việc dùng từ “chúng tôi” cho thấy rằng, như các sách Phúc Âm khác đã chỉ ra, có những người phụ nữ khác cùng với Ma-r-ai, nhưng họ không được Gioan nhắc đến.

Phê-rô và môn đệ yêu dấu sau đó chạy đến mộ để xác minh lời kể của những người phụ nữ. Họ nhìn thấy ngôi mộ trống và những tấm vải liệm, nhưng chỉ có Môn Đồ Yêu Dấu mới nhận ra ý nghĩa của sự sắp xếp đó và tin rằng lời kể của những người phụ nữ về việc Chúa Giê-su sống lại là sự thật.

Sau đó, họ quay lại báo cáo cho nhóm lớn hơn và Ma-ri-a Ma-đa-lê-na ở lại một mình bên ngoài ngôi mộ. Vẫn còn khóc, bà nhìn vào trong mộ và thấy hai thiên thần bên trong, một ở phía đầu và một ở phía chân nơi Chúa Giê-su đã nằm. Họ hỏi bà tại sao bà khóc. Từ “khóc” được dùng ba lần, cho thấy nỗi đau buồn sâu sắc của bà. Bà nói với các thiên thần:

Họ đã mang Chúa tôi đi, và tôi không biết họ đã đặt Ngài ở đâu.

Không rõ “họ” là ai.

Ngay lúc đó, bà quay lại và thấy Chúa Giê-su ở đó, ngoại trừ việc bà không nhận ra Ngài—một đặc điểm chung của tất cả các câu chuyện về sự phục sinh. Ngài hỏi bà:

Này người phụ nữ, tại sao bà khóc? Bà đang tìm ai?

Bà nghĩ Ngài chắc hẳn là người làm vườn. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì trước đó chúng ta đã được cho biết (Gioan 19,41) rằng mộ của Chúa Giê-su ở trong một khu vườn. Có một chút mỉa mai trong sách Gioan ở đây. Ngay từ đầu, sự chết đã đến với loài người trong một khu vườn, Vườn Ê-đen, nơi A-đam và vợ ông đã bất tuân Đức Chúa. Giờ đây, sự sống đang trở lại trong một khu vườn khác. Và, dĩ ​​nhiên, Chúa Giê-su quả thật là Người Làm Vườn.

Rồi Chúa Giê-su gọi bà: “Ma-ri-a!” Khi nói về mình là Người Chăn Chiên Tốt Lành, Chúa Giê-su đã phán rằng:

Ngài gọi chiên của mình bằng tên và dẫn chúng ra… và chiên theo Ngài vì chúng biết tiếng Ngài.

(Gioan 10,3-4)

Vậy nên ở đây, Ma-ri-a lập tức nhận ra giọng nói của Thầy mình; bà biết rằng chính Chúa Giê-su đang gọi bà. Và bà quay lại. Nhưng ngay lúc này, bà đã quay lại để đối diện với Ngài rồi. Đây là một sự quay khác—đó là một sự quay về bên trong hướng về Chúa của bà.

Chúa Giê-su sau đó bảo bà đừng bám víu vào Ngài nữa. Bà nghĩ rằng bà đang bám víu vào Chúa Giê-su mà bà đã biết trước đây. Nhưng đây là Chúa Giê-su Phục Sinh, đang trên đường đến hợp nhất với Cha. Từ nay trở đi, bà phải tìm kiếm Ngài theo một cách rất khác, nơi anh chị em mình. Vì vậy, bà được bảo phải đi nói với các môn đệ khác rằng Chúa Giê-su đang trên đường đến với Cha, đến với Thiên Chúa của Ngài và Thiên Chúa của họ.

Vậy là Maria đi báo tin vui cho các môn đệ:

Tôi đã thấy Chúa!

Có thể nói, Maria Magdalena là một môn đệ được yêu mến. Không ai thể hiện tình yêu mạnh mẽ hơn dành cho Chúa Giêsu hơn người phụ nữ này, người đã được giải thoát khỏi một cuộc sống đầy xáo trộn. Bà đã ở đó cùng với Mẹ của Chúa Giêsu và một số phụ nữ khác canh thức dưới chân thập tự giá, trong khi không một môn đệ nam nào có mặt. Sau khi Chúa Giêsu được chôn cất, bà đã canh thức bên mộ Ngài. Sáng sớm Chủ nhật, bà lại có mặt ở đó khi người ta phát hiện ra ngôi mộ trống không. Sau chuyến viếng thăm của Phê-rô và môn đệ được yêu mến, chỉ mình bà ở lại để than khóc.

Trong Phúc Âm này, bà là người đầu tiên mà Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra. Và bà là người đầu tiên trong số những người theo Ngài loan báo sự phục sinh của Chúa. Điều này mang lại cho bà một vị trí độc đáo trong câu chuyện Phúc Âm.

Có hai bài đọc thứ nhất để lựa chọn. Bài thứ nhất trích từ Bài Ca của Sa-lô-môn, diễn tả nỗi đau khổ của người yêu khi mất đi người mình yêu thương, rồi niềm vui sướng khi tìm thấy người ấy:

Tôi tìm người nhưng không thấy… Những người canh gác đã tìm thấy tôi… Các ngươi có thấy người mà linh hồn tôi yêu mến không?

Ngay lúc đó, bà gặp được người:

Tôi vừa đi qua họ xong,

thì tôi đã tìm thấy người mà linh hồn tôi yêu mến.

Tôi ôm lấy người và không chịu buông ra…

Sự tương đồng với câu chuyện trong Phúc Âm rất rõ rệt.

Bài đọc thứ nhất khác trích từ Thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô. Trong đó, Phao-lô nói:

…tình yêu của Chúa Kitô thúc giục chúng ta…

Chính tình yêu này đã thúc đẩy Ma-ri-a Ma-đa-lê-na. Và nó nói về một mối quan hệ mới với Chúa Kitô:

Từ nay trở đi, chúng ta không nhìn nhận ai theo quan điểm con người; dù trước kia chúng ta đã biết Chúa Kitô theo quan điểm con người, nhưng nay chúng ta không còn biết Ngài theo cách đó nữa.

Đây là điều mà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na phải học. Bà không thể bám víu vào Chúa Kitô mà bà đã biết trước đây nữa. Chúa Kitô mà chúng ta biết ngày nay hiện diện trong mỗi người và trong mọi trải nghiệm của cuộc sống. Chính ở đó, Ngài được yêu thương và phụng sự. Chúng ta sẽ cầu xin Maria Magdalena giúp chúng ta hiểu biết Chúa Giêsu hơn.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0722r/

 


Nồng Nhiệt Ði Tìm Chúa  

Maria Mađalêna là mẫu gương cho chúng ta, mẫu gương với tình yêu nồng nhiệt đi tìm Chúa, một tình yêu luôn thao thức muốn được sống gần bên Chúa. Và vì thế mà sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Maria vội vàng lên đường đi tìm Chúa. Ðây là quan tâm đầu tiên, quan tâm có ưu tiên trong cuộc sống của Maria, và khi chưa tìm được đối tượng là Chúa Giêsu trong ngôi mộ đã an táng Chúa, Maria đứng ngoài và khóc.

Chúa Giêsu phục sinh đã không để cho Maria gặp thử thách lâu. Chúa đến với Maria và gọi đích danh bà, rồi biến đổi cuộc đời từ bên trong để sai bà đi làm người chứng đầu tiên cho Ðấng phục sinh nơi các môn đệ Chúa. Trong biến cố được ghi lại trong đoạn Phúc Âm chúng ta vừa đọc lại trên đây, chúng ta thấy rằng để gặp được Chúa Giêsu, những cố gắng riêng của con người không mà thôi thì chưa đủ. Chính Chúa Giêsu phục sinh là người đi bước đầu, Chúa hiện ra và gọi: Maria. Chúa đáp lại thiện ý và cố gắng của Maria. Chúa luôn làm như vậy với tất cả những ai thành tâm tìm Chúa.

Chúng ta hãy noi gương Maria luôn đi tìm Chúa. Tìm Chúa trong lời cầu nguyện ngõ hầu cuối cùng chính Chúa mạc khải chính mình ra cho kẻ tìm Ngài, ngõ hầu chúng ta có thể nhận ra Ngài và loan báo cho anh chị em chung quanh: tôi đã gặp Chúa, tôi đã nhìn thấy Chúa.

Lạy Chúa,

Xin cho con được gặp Chúa. Xin đừng để con phải rời xa Chúa là Thiên Chúa mãi mãi.

 

‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’

 


22/7

Chân dung Thánh Nữ Maria Mađalêna

Thánh Maria Mađalêna (hoặc Maria Mácđala, Mai Đệ Liên) được cả Công giáo, Chính thống giáo, Anh giáo, và Tin lành Luther tôn kính là một vị thánh, lễ nhớ ngày 22-7 hằng năm. Các Giáo hội Tin lành khác tôn kính bà là nữ anh hùng đức tin. Chính thống giáo Đông phương cũng kính nhớ bà vào Chúa nhật Myrrh-bearers (người mang dầu thơm).

Tên”cúng cơm” của Thánh Maria Mađalêna là Μαρία (Maria), và người ta thường chấp nhận ở dạng Latin được viết là Μαριὰμ (Mariam). Tên Maria rất phổ biến trong thời Chúa Giêsu vì liên quan việc cai trị thời Hasmonea và các triều đại Hêrôđê.

Tuy nhiên, bà bị tai tiếng vì bà bị hiểu lầm là”người phụ nữ tội lỗi” đã khóc và xức dầu thơm chân Chúa Giêsu.

Thực ra Maria Mađalêna (Hy ngữ: Μαρία ἡ Μαγδαληνή) là một phụ nữ đạo đức và can đảm. Trong Tân ước, Thánh Maria Mađalêna được coi là người phụ nữ quan trọng thứ nhì sau Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Bà đồng hành với Chúa Giêsu cùng với các Tông đồ. Bà hiện diện trong hai thời điểm quan trọng nhất của Chúa Giêsu: Chịu đóng đinh và phục sinh. Trong 4 Phúc Âm, tài liệu lịch sử cổ xưa nhất nhắc đến tên bà, ít nhất 12 lần, hơn cả các Tông đồ khác. Phúc Âm diễn tả bà là người đủ can đảm nên mới có thể đứng bên Chúa Giêsu trong thời gian Ngài chịu khổ nạn, chịu chết và sau đó.

Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã trừ bảy quỷ và chữa bệnh cho bà (x. Lc 8:2; Mc 16:9), đôi khi được hiểu là các chứng bệnh phức tạp. Bà nổi bật nhất trong những ngày cuối đời của Chúa Giêsu trên thế gian. Khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh, bà có mặt ở đó với Ngài, trong giây phút khủng khiếp nhất, và bà đã than khóc Ngài. Sau khi các Tông đồ”bỏ của chạy lấy người”, trừ Thánh Gioan Tông đồ, bà vẫn ở bên Chúa Giêsu. Khi an táng Chúa Giêsu, bà là người duy nhất được kể tên trong cả 4 Phúc Âm khi biết Chúa Giêsu phục sinh và chính bà là nhân chứng đức tin. Ga 20:11-18 và Mc 16:9 xác nhận bà là người đầu tiên gặp Chúa Giêsu phục sinh. Bà có mặt vào ngay giây phút đầu tiên mà sau đó biến đổi Tây phương. Bà là”Tông đồ đối với các Tông đồ”, một cách nói kính cẩn mà thần học gia Augustine (Chính thống giáo, thế kỷ IV) đã dành cho bà, và những người thời Giáo hội sơ khai cũng nói về bà như vậy.

Mặc dù ngày xưa bà bị mang tai tiếng khi người ta mô tả trong tôn giáo, nghệ thuật, văn chương, và cả những cuốn sách và các bộ phim mới đây, như The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci), ngày nay người ta cũng đồng ý điều này:”Không có chứng cớ Kinh Thánh nào chứng tỏ bà là gái điếm, người vợ, người mẹ, hoặc người yêu bí mật”.

Trong cả 4 Phúc Âm, Thánh Maria Mađalêna hầu như luôn được phân biệt với các phụ nữ khác tên là Maria bằng cách thêm chữ Mađalêna vào tên bà. Theo truyền thống, điều này có nghĩa bà là người vùng Mađalêna, một thành phố thuộc Tây duyên hải Galilê. Lc 8:2 nói rằng bà thực sự được gọi là Mađalêna. Theo tiếng Do thái, Mađalêna (Migdal, מגדל) nghĩa là”tháp”,”thành lũy”; theo tiếng Aram, Mađalêna nghĩa là”tháp” hoặc”được nâng lên, cao cả, nguy nga”. Các bản văn truyền thống Do Thái nói:”Miriam, hamegadela se’ar nasha” – Maria, người bện tóc phụ nữ (Hagigah 4b; x. Shabbat 104b), có thể nói Maria Mađalêna phục vụ như một người thợ làm tóc (kiểu làm đầu, uốn tóc ngày nay).

Trong Phúc Âm theo Thánh Gioan, Thánh Maria Mađalêna cũng được nhắc tới bằng tên Maria ít nhất là 2 lần. Các văn bản không chính thức khác thì dùng tên Maria, Maria Mađalêna, hoặc Mađalêna.

Ngày nay, hầu như người ta đồng ý điểm quan trọng: Người ta cho rằng Thánh Maria Mađalêna là”gái điếm sám hối”, đó là vô căn cứ. Tuy nhiên, Thánh Maria Mađalêna vẫn bị lầm lẫn với các phụ nữ khác cũng tên Maria và vài phụ nữ nặc danh vẫn bị coi là phụ nữ phạm tội ngoại tình. Người ta đồng hóa Maria Mađalêna với nữ tội nhân vô danh nào đó (thường biết đến là phụ nữ ngoại tình) trong trình thuật Lc 7:36-50. Mặc dù Thánh Maria Mađalêna được nhắc tên trong cả 4 Phúc Âm, nhưng không lần nào nói bà là gái điếm hoặc tội nhân. Tân ước không hề có”gợi ý” nào nói bà là một cô gái làng chơi hoặc một phụ nữ trắc nết. Các học giả đương đại đã phục hồi”danh tiếng” cho Thánh Maria Mađalêna là người dẫn dắt quan trọng của Kitô giáo thời sơ khai.

Nhiều thế kỷ qua, Công giáo Tây phương dạy rằng Thánh Maria Mađalêna là người được nói tới trong các Phúc Âm vừa là Maria ở Bêthania vừa là”người đàn bà tội lỗi” xức dầu thơm chân Chúa Giêsu (Lc 7:36-50). Khái niệm về Thánh Maria Mađalêna là gái điếm sám hối đã phổ biến qua nhiều thế kỷ, ít là từ Ephraim người Syria (thế kỷ IV), Thánh GH Grêgôriô Cả (thế kỷ VI), nhiều họa sĩ, văn sĩ và các nhà chú giải Kinh Thánh cũng theo xu hướng đó. Từ thế kỷ XII, Abbot Hugh ở Semur (qua đời năm 1109), Peter Abelard (qua đời năm 1142), và Geoffrey ở Vendome (qua đời năm 1132) đều nhắc tới Thánh Maria Mađalêna là người tội lỗi và được tặng danh hiệu”apostolarum apostola” (Tông đồ đối với các Tông đồ), danh hiệu này trở thành phổ biến trong các thế kỷ XII và XIII.

Do đó, hình ảnh cô-gái-điếm-sám-hối trở thành”đặc điểm” bị gán cho Thánh Maria Mađalêna trong nghệ thuật và văn chương tôn giáo ở Tây phương. Vì hiểu sai về bà nên trong nghệ thuật, người ta thường vẽ bà mặc áo hở cổ, lả lơi, thậm chí có họa sĩ còn vẽ bà khỏa thân bên chiếc sọ đầu lâu với bình dầu thơm, và một tay cầm Thánh Giá, hoặc là một phụ nữ xa lánh mọi người để sám hối nơi hoang địa.

Sự đồng hóa đó là do Công giáo Tây phương, có trong bài giảng của Thánh GH Grêgôriô Cả vào khoảng năm 591. Thánh GH Grêgôriô Cả được coi là một trong những người ảnh hưởng nhất và trở thành giáo hoàng. Trong các bài giảng nổi tiếng của ngài về Thánh Maria Mađalêna, giảng tại Rôma, ngài đã xác định Mađalêna không chỉ là phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm theo Thánh Luca, mà còn là Maria ở Bêthania, chị của Matta và Ladarô; chính bảy quỷ được Chúa Giêsu trục xuất”đã tạo thành 7 tội trọng, và Maria Mađalêna bắt đầu bị kết án không chỉ vì tội dâm dục mà còn vì tội kiêu ngạo và tham lam”. Bài giảng của Thánh GH Grêgôriô Cả về Phúc Âm theo Thánh Luca đã tạo thành cách hiểu chính thức của Giáo hội về Thánh Maria Mađalêna, cho rằng bà là phụ nữ”alabaster jar” (gái điếm).

Trong bài giảng XXXIII, Thánh GH Grêgôriô Cả nói:”Bà [Maria Mađalêna] là người mà Thánh Luca gọi là phụ nữ tội lỗi, Thánh Gioan gọi là Maria, chúng ta tin là Maria được trừ bảy quỷ trong Phúc Âm theo Thánh Máccô. Bảy quỷ này biểu hiện điều gì, nếu không phải là các thói hư? Anh chị em thân mến, rõ ràng là phụ nữ này trước đó đã xức thơm thân xác cô bằng những hành động bị cấm. Do đó điều cô biểu hiện càng khiếm nhã hơn, nhưng nay cô dâng cho Chúa bằng động thái đáng khen. Cô đã ham muốn bằng con mắt trần tục, nhưng nay cô ăn năn bằng nước mắt. Cô đã xõa tóc che mặt, nhưng nay cô dùng tóc lau khô nước mắt. Miệng cô đã nói những điều kiêu ngạo, nhưng nay cô dùng miệng hôn chân Chúa, cô đặt miệng mình lên chân Đấng Cứu Thế. Do đó, đối với mỗi niềm vui, cô đã có trong lòng, nay cô hy sinh chính mình. Cô biến tội lỗi thành nhân đức để phục vụ Thiên Chúa hoàn toàn trong sự ăn năn”.

Với điều này, tác giả Susan Haskins viết trong cuốn”Mary Magdalene: Myth and Metaphor” (Maria Mađalêna: Huyền thoại và Ẩn dụ):”Cuối cùng, hình ảnh xung đột của Thánh Maria Mađalêna cũng được sáng tỏ… sau gần 140 năm”.

Năm 1969, trong triều đại giáo hoàng của Chân phước Phaolô VI, Tòa Thánh không phê bình về nhận xét của Thánh GH Grêgôriô Cả, mà chỉ bỏ điều đó bằng cách tách biệt người phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm theo Thánh Luca với bà Maria ở Bêthania và Maria Mađalêna qua Sách lễ Rôma.

Do đó, tai tiếng vẫn cứ”lờn vờn” bị gán cho Thánh Maria Mađalêna. Sau thời gian quá lâu, cách tin này trở thành”thâm căn cố đế” không chỉ trong Giáo hội Tây phương mà còn trong một số Giáo hội Tin lành đã từng theo truyền thống Công giáo Rôma.

Cách hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là cô-gái-điếm-sám-hối vẫn được nhiều văn sĩ và họa sĩ hồi thập niên 1990. Thậm chí ngay cả ngày nay, cách hiểu sai đó vẫn được truyền bá. Điều đó được phản ánh trong bộ phim của Martin Scorsese – phỏng theo tiểu thuyết”Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng của Đức Kitô” (The Last Temptation of Christ) của Nikos Kazantzakis, trong phim”Phúc Âm theo Chúa Giêsu Kitô” (The Gospel According to Jesus Christ) của José Saramago, trong”Siêu Sao Giêsu Kitô” của Andrew Lloyd Webber, trong”Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô” của Mel Gibson, trong”Màu Thập Giá” (Color of the Cross) của Jean-Claude La Marre và trong”Sách Sự Sống” (The Book of Life) của Hal Hartley.

Vì hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là gái điếm nên người ta mới chọn bà làm bổn mạng của”các phụ nữ hư hỏng”, vì có một truyền thuyết lâu đời trong Giáo hội nói rằng bà là người phụ nữ tội lỗi vô danh đã xức dầu chân Chúa Giêsu được thuật lại trong Lc 7:36-50, và Viện tế bần Mađalêna đã được thành lập để”cứu vớt” các chị em từ nhà thổ. Bà còn được coi là bổn mạng của những người bị vu khống.

Thánh sử Luca cho biết:”Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mađalêna, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ” (Lc 8:1-3).

Lúc Chúa Giêsu chịu khổ hình và phục sinh, Thánh Maria Mađalêna đã có mặt bên Chúa Giêsu. Trong số những người theo Chúa Giêsu chỉ có bà được nói rõ tên là nhân chứng 3 sự kiện quan trọng: Chúa Giêsu chịu khổ nạn, Chúa Giêsu chịu mai táng, và ngôi mộ trống. Mc 15:40, Mt 27:56 và Ga 19:25 nói đến Thánh Maria Mađalêna là nhân chứng khi Chúa Giêsu chịu khổ nạn, cùng với các phụ nữ khác. Thánh Luca không nêu tên nhân chứng, nhưng nói:”Đứng đàng xa, có tất cả những người quen biết Đức Giêsu cũng như những phụ nữ đã theo Người từ Galilê; các bà đã chứng kiến những việc ấy” (Lc 23:49). Thánh Máccô nói:”Còn bà Maria Mađalêna và bà Maria mẹ ông Giôxết, thì để ý nhìn xem chỗ họ mai táng Người” (Mc 15:47), và Thánh Matthêu nói:”Còn bà Maria Mađalêna và một bà khác cũng tên là Maria ở lại đó, quay mặt vào mồ” (Mt 27:61). Lc 23:55 cho biết:”Cùng đi với ông Giô-xếp, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào”. Ga 19:39-42 mô tả:”Ông Nicôđêmô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giêsu ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. Các ông lãnh thi hài Đức Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái. Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó”.

Thánh Máccô, Matthêu và Gioan đều nói Thánh Maria Mađalêna là nhân chứng đầu tiên đối với việc Chúa phục sinh. Ga 20:1 cho biết Thánh Maria Mađalêna mô tả việc thấy ngôi một trống. Mc 16:9 nói:”Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Mađalêna, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ”. Thánh sử Mátthêu cho biết:”Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Maria, đi viếng mộ” (Mt 28:1).

Sau khi thuật lại cho các Tông đồ biết Chúa Giêsu đã phục sinh, Thánh Maria Mađalêna không được nhắc đến trong Tân ước nữa. Bà cũng không được nhắc tên trong sách Công vụ, và”số phận” bà vẫn không được tài liệu ghi lại và không được”minh oan”. Có phải vì vậy mà bà cứ bị hiểu lầm là”người phụ nữ tội lỗi” chăng?

Đa số các học giả Kinh thánh ngày nay đều chứng tỏ rằng không có nền tảng Kinh thánh nào để lẫn lộn hai phụ nữ này. Maria Magđalêna, nghĩa là Maria ở Magđalêna, là người mà Chúa Giêsu đã đuổi”bảy quỷ” (Lc 8:2). Maria Mađalêna là một trong những người”giúp Chúa Giêsu và Nhóm Mười Hai”. Bà là một trong những người đứng bên Thánh giá với Đức Mẹ.

LM W.J. Harrington, Dòng Đa Minh, viết trong cuốn”Chú giải Công giáo mới” (New Catholic Commentary):”Bị bảy quỷ ám không có nghĩa là Thánh Maria Mađalêna đã sống cuộc đời vô luân, một kết luận chỉ đạt được bằng cách lầm lẫn với phụ nữ vô danh trong Lc 7:36”. LM Edward Mally, Dòng Tên, viết trong cuốn”Chú giải Kinh thánh của Thánh Giêrônimô” (Jerome Biblical Commentary):”Bà (Maria Mađalêna) KHÔNG là phụ nữ tội lỗi trong Lc 7:37, mặc dù có truyền thống lãng mạn Tây phương đã nói về bà”.

Hy vọng Thánh Maria Mađalêna sẽ không còn bị”mang tiếng” và không còn bị chúng ta hiểu lầm như xưa nay nữa!

Lạy Thánh nữ Maria Mađalêna, xin thương nguyện giúp cầu thay. Amen.

 Trầm Thiên Thu

(https://dongcong.us/)

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét