15/07/2026
Thứ Tư tuần 15 thường
niên.
Thánh Bonaventura,
Giám mục, TS Hội thánh
Lễ nhớ
* Chào đời khoảng năm 1218 ở Ba-nho-rê-gi-ô, tỉnh
Vitécbô, Bônaventura theo học triết lý rồi thần học ở Paris, sau đó dạy các tu
sĩ dòng Anh Em Hèn Mọn. Khi được chọn làm tổng phục vụ, người đã chu toàn nhiệm
vụ một cách khôn ngoan, đã soạn thảo hiến chương nhằm giúp anh em sống luật
dòng thánh Phanxicô. Là một nhà thần học sâu sắc, theo trường phái thánh
Augustinô, người nghiên cứu và giảng dạy lộ trình đưa linh hồn về với Thiên
Chúa. Được đặt làm hồng y giám mục Anbanô.
Người qua đời năm 1274 giữa lúc Công Đồng Lyon đang họp.
Bài Ðọc I: (Năm
II) Is 10, 5-7. 13-16
“Cái cưa có thể tự cao tự đại đối với thợ cưa sao?”
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ðây Chúa phán: “Khốn cho Assur, là cây roi cơn giận của Ta.
Cây gậy trong tay nó là cơn thịnh nộ của Ta. Ta sẽ sai nó chống lại dân ngoại dối
trá, và truyền lệnh cho nó đi chống lại dân chọc giận Ta, để nó cướp bóc, mang
chiến lợi phẩm về chà đạp dưới chân như bùn ngoài đường phố. Nhưng chính nó
không đồng quan điểm như vậy, và lòng nó không tưởng nghĩ như thế. Trái lại,
lòng nó ưa thích phá hoại, và huỷ diệt nhiều dân tộc. Vì chưng, nó nói rằng: ‘Tôi
đã dùng sức mạnh cánh tay tôi, và dùng sự khôn ngoan của tôi mà làm việc ấy, vì
tôi thông minh. Tôi đã dời đổi biên giới các dân, đã cướp lấy kho tàng các vua
quan, và như người hùng, tôi lật đổ truất phế các thủ lãnh. Tay tôi lấy của cải
các dân như bắt tổ chim. Tôi vơ vét cả hoàn cầu như lượm các trứng rơi, không một
ai đập cánh hoặc mở miệng kêu la’.
“Lẽ nào cái rìu lại khoe mình với kẻ cầm rìu sao? Lẽ nào cái
cưa lại tự cao tự đại với thợ cưa sao? Lẽ nào cây roi có thể chống lại người cầm
roi, và cây gậy có thể nâng tay người cầm gậy sao, vì nó chỉ là gỗ cây? Bởi đó
Chúa tể là Thiên Chúa các đạo binh sẽ gửi sự điêu tàn đến giữa cảnh mầu mỡ của
nó; và từ dưới cảnh vinh quang của nó, một ngọn lửa sẽ bốc cháy lên như ngọn lửa
của một đám cháy”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 93, 5-6. 7-8. 9-10. 14-15
Ðáp: Chúa sẽ
không loại trừ dân tộc của Chúa (c. 14a).
Xướng: Lạy Chúa,
chúng chà đạp dân riêng Chúa, và làm khổ gia nghiệp của Ngài. Chúng bóp cổ
khách kiều cư, người quả phụ, và chúng sát hại những kẻ mồ côi. – Ðáp.
Xướng: Chúng nói
rằng: “Chúa không nhìn thấy, và Thiên Chúa nhà Giacóp cũng chẳng hay”. Ðồ ngu
xuẩn trong dân, các ngươi nên hiểu biết; lũ dại khờ, bao giờ các ngươi mới nhận
ra? – Ðáp.
Xướng: Ðấng làm
ra tai, há chẳng biết nghe? Ðấng nặn ra mắt, há không nhìn thấy? Ðấng giáo dục
chư dân, há không sửa lỗi? Ðấng dạy bảo thiên hạ, há chẳng thông minh? – Ðáp.
Xướng: Vì Chúa sẽ
không loại trừ dân tộc, và không bỏ rơi gia nghiệp của Người. Nhưng sự xét xử sẽ
trở lại đường công chính, và mọi người lòng ngay sẽ thuận tình theo. – Ðáp.
Alleluia: Tv 94, 8ab
Alleluia, alleluia! – Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng
Chúa và đừng cứng lòng. – Alleluia.
Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! – Lạy Cha là Chúa Tể trời đất,
con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mạc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người
bé mọn. – Alleluia
Phúc Âm: Mt 11, 25-27
“Chúa đã giấu không cho những người khôn ngoan biết những
điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu thưa rằng: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con
xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết
những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn
như vậy. Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con trừ ra
Cha; và cũng không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho”.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về I-sai-a 10,5-7. 13-16
Hôm nay chúng ta có một đoạn Kinh Thánh mạnh mẽ từ sách I-sai-a, đầy những hình ảnh thơ mộng
hùng hồn, nhưng mang một thông điệp rất đơn giản: Đức Chúa Trời là chủ tể của mọi
sự. Thoạt nhìn, những cuộc chinh phục Át-sua (và sau này là Babylon) dường như là công việc của một đế chế
hùng mạnh. Tuy nhiên, trên thực tế, Át-sua, dù hùng mạnh đến đâu, trong mắt nhà tiên tri chỉ là công cụ
vô tình của Đức Chúa Trời.
Vì vậy, nhà tiên tri kêu lên nhân danh Đức Chúa Trời:
Khốn cho Át-sua,
cây gậy giận dữ của ta— cây gậy trong tay chúng là cơn thịnh nộ của ta!
Ông nói điều này bởi vì những gì Át-sua làm là độc ác và xấu xa. I-sai-a có lẽ đang đề cập đến Xan-khê-ríp vào thời điểm ông ta
xâm lược vào năm 701 trước Công nguyên. Nó là “cây gậy giận dữ của [Đức Chúa Trời]”
bởi vì nó là một công cụ vô tình làm công việc của Đức Chúa Trời mà nó không
tin. Sau này, Babylon cũng sẽ đóng vai trò tương tự.
Át-sua được
phái đến “chống lại một dân tộc vô thần”, cụ thể là chính dân của Chúa ở
Giu-đa, những người đã quay lưng lại với Chúa để sa vào thờ thần tượng và vô
luân. Chính với sự cho phép của Chúa mà người Át-sua dưới sự chỉ huy của Xan-khê-ríp:
…cướp bóc và chiếm đoạt
của cải,
và…giẫm đạp họ như bùn
lầy trên đường phố.
Có lẽ Xan-khê-ríp
tin rằng đây là chiến lược của riêng ông ta—nhưng không:
…đây không phải là điều
ông ta dự định,
và ông ta cũng không
có ý định này…
Mục đích của người Át-sua là:
…tiêu diệt
và tiêu diệt không ít
quốc gia.
Nhưng trên thực tế, ông ta đang mang đến hình phạt cho
Giu-đa mà tội lỗi của họ đáng phải nhận.
Không nhận thức được vai trò hỗ trợ mà mình đang đóng trong
một vở kịch lớn hơn, ông ta khoe khoang (trong một câu bị lược bỏ):
Chẳng phải tất cả các
tướng lĩnh của ta đều là vua sao? (I-sai-a 10,8)
Khi chinh phục hết vùng này đến vùng khác, ông ta đặt các tướng
lĩnh của mình làm người cai trị các vùng đất bị chinh phục:
Chẳng phải Can-nô
giống như Các-cơ-mít sao sao?
Chẳng phải Kha-mát
giống như Ác-pát sao?
Chẳng phải Sa-ma-ri giống
như Đa-mát sao? (I-sai-a
10,9)
Trong câu này, ông ta liệt kê các thành phố đã trở thành một
phần lãnh thổ của Át-sua.
Và những gì ông ta đã làm cho các vùng đất thờ thần tượng
khác, chẳng lẽ ông ta lại không làm điều tương tự cho Giê-ru-sa-lem và các hình
tượng thần tượng của nó sao? Và cứ thế, ông ta tiếp tục khoe khoang hết lần này
đến lần khác:
Ta đã xóa bỏ ranh giới
của các dân tộc
và đã cướp đoạt kho
báu của họ;
…Ta đã hạ bệ những kẻ
ngồi trên ngai vàng.
Với ngôn ngữ đầy khinh miệt đối với đối thủ, ông ta khoe
khoang:
…như người ta nhặt những
quả trứng bị bỏ rơi,
ta đã gom hết đất lại,
và chẳng có một con
nào cất cánh bay lên
hay mở miệng hay hót
lên.
Tổng cộng trong lời tuyên bố của mình, Xan-khê-ríp tự nhắc đến mình chín lần. Ông
ta thực sự tin rằng tất cả những gì đã xảy ra đều là do chính mình gây ra:
Nhờ sức mạnh của bàn
tay tôi mà tôi đã làm được điều đó,
và nhờ sự khôn ngoan của
tôi, vì tôi có sự hiểu biết…
Tuy nhiên, với tư cách là một dân tộc vô thần, số phận của Át-sua sẽ chẳng khá hơn những dân tộc
mà họ đang cố gắng tiêu diệt (điều này dường như gợi nhớ đến sự kiêu ngạo của
Hitler ở đỉnh cao của chế độ Đức Quốc xã).
Quyền lực của Xan-khê-ríp
chỉ là ảo ảnh. Nhà tiên tri nói:
Liệu cái rìu có tự hào
về mình trước người cầm nó?
Hay cái cưa có tự tôn
mình chống lại người sử dụng nó?
Xan-khê-ríp
nằm trong tay Đức Chúa Trời. Và vì vậy, sự bất lực cuối cùng của ông được bộc lộ
khi một loại bệnh tật nào đó, có lẽ là một loại dịch bệnh lây lan nhanh chóng,
đã cướp đi sinh mạng của 185.000 quân lính của ông vào năm 701 trước Công
nguyên khi họ chuẩn bị vây hãm Jerusalem, buộc ông phải rút lui (2 Vua 19,35).
Một lần nữa, chúng ta phải đọc đoạn Kinh Thánh này một cách
cẩn thận. Ở một khía cạnh nào đó, có những lời giải thích tự nhiên cho tất cả
những gì đã xảy ra với cả người Át-sua
và dân Chúa. Chúng ta cần tránh hình ảnh một Đức Chúa Trời đầy thù hận, người
trả đũa dân Ngài bất phục tùng bằng cách giáng những tai họa khủng khiếp xuống
họ. Thông điệp chính là cuối cùng mọi thứ đều đến từ Chúa và chúng ta – như
Phao-lô thường nói – giống như đất sét trong tay Ngài.
Thông điệp dành cho dân Chúa là, nếu quay lưng lại với Ngài,
họ sẽ chẳng được gì và mất tất cả. Điều này áp dụng cho cả những kẻ chinh phục Át-sua và dân Giu-đa bại trận. Ngay
cả những người quyền lực nhất trong xã hội chúng ta cuối cùng cũng có “chân đất
sét” và có thể bị đánh bại bởi những điều đơn giản nhất (như một loại virus vô
hình). Tuy nhiên, có bao nhiêu người trong chúng ta, đôi khi bằng những cách nhỏ
nhặt và ngớ ngẩn, lại nghĩ rằng mình có thể nắm giữ quyền lực và tìm cách có
quyền lực trên người khác?
Cuộc sống đích thực và hạnh phúc đích thực nằm ở việc chúng
ta luôn luôn là những công cụ dễ uốn nắn trong tay Chúa, mang lại sự sống và hạnh
phúc cho người khác.
Chú giải về Mát-thêu 11,25-27
Hôm qua, chúng ta đã thấy Chúa Giê-su nghiêm khắc quở trách
dân chúng của ba thành phố, nơi Ngài đã tỏ ra nhiều dấu hiệu về nguồn gốc thần
thánh của mình, vì sự chậm tin và chấp nhận Ngài. Hôm nay, Ngài nói với lòng ấm
áp và lời khen ngợi dành cho những người đã trở thành môn đệ của Ngài.
Trong lời cầu nguyện với Cha, Ngài nhận xét rằng không phải
những người học thức và thông minh, các thầy dạy luật và người Pha-ri-sêu, các
chuyên gia tôn giáo, mà là “những trẻ thơ”, các môn đệ của Ngài, mới được ban
ơn hiểu biết những bí mật của Nước Trời. Họ là những trẻ thơ không chỉ vì thiếu
học thức và sự tinh tế, mà còn vì sự cởi mở để nghe và học hỏi, một đức tính mà
những người tự cho mình là trí thức lại thiếu.
Đây thực chất là sự phản ánh về sự phát triển thực tế của
Giáo hội sơ khai. Đó là một phong trào quần chúng lan rộng nhất trong các tầng
lớp thấp hơn của xã hội và trong số những người nô lệ. Mãi đến sau này, Ki-tô giáo mới lan rộng đến các tầng
lớp cao hơn và trở thành đức tin của cả giới cầm quyền và tầng lớp trí thức.
Như Chúa Giê-su nói hôm nay:
…vâng, Cha ơi, vì đó
là ý muốn tốt lành của Cha.
Trong quá trình phát triển và lan rộng như vậy, Kitô giáo đã
chứng tỏ, trước hết, rằng đó thực sự là công việc của Thiên Chúa. Nó đã chống lại
những thế lực hùng mạnh cố gắng xóa sổ nó, nhưng cuối cùng sức mạnh của chân lý
và tình yêu quá lớn đối với cả những kẻ thù mạnh nhất.
Thứ hai, nó đã tiết lộ bản chất phổ quát thực sự của đức tin
Kitô giáo. Nó chưa bao giờ là một lĩnh vực độc quyền của giới tinh hoa chính trị
hay học thức. Nó đã thu hút, và tiếp tục thu hút, mọi người ở mọi tầng lớp xã hội,
từ những người khổng lồ trí thức như Augustine, Thomas Aquinas và John Henry
Newman đến những người hoàn toàn mù chữ. Cả hai đều có thể ngồi cạnh nhau và
cùng nhau nghe Tin Mừng và cử hành Thánh Thể.
Cuối cùng, Chúa Giê-su gợi ý rằng việc biết Ngài và, qua
Ngài, biết Chúa Cha, là một món quà mà Ngài ban tặng. Tất nhiên, tất cả chúng
ta đều có thể mở lòng đón nhận món quà đó. Tại sao một số người làm vậy và những
người khác thì không là điều chúng ta không thể hiểu được trong cuộc sống này.
Đó là một món quà được ban tặng, không bao giờ bị áp đặt, và một lần nữa, không
ai có thể biết những người đã được ban tặng món quà đó và từ chối là ai. Hôm
nay, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì chúng ta nằm trong số những người đã lắng nghe,
đón nhận và được ân điển. Nhưng chúng ta biết rằng mình còn phải lắng nghe và
đón nhận nhiều hơn nữa. Chúa Giê-su đang đứng trước cửa nhà chúng ta và gõ cửa
hôm nay và mỗi ngày. Quyết định mở cửa đến mức nào và cho Ngài bước vào là tùy
thuộc vào tôi.
https://livingspace.sacredspace.ie/o2154g/
Suy Niệm: Cần Trở Nên Bé Mọn
Con người có thể khước từ Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa thì
không bao giờ từ bỏ con người; Ngài luôn mời gọi con người trở về để lãnh nhận
ân sủng và sự thật của Ngài. Thiên Chúa mời gọi mọi người, không phân biệt,
nhưng từ phía con người có thể có một trong hai thái độ: thái độ của những kẻ
bé mọn khiêm tốn để cho Chúa dạy dỗ; và thái độ của những kẻ thông thái, tự
cao, cho mình thuộc một nhóm nhỏ tách rời khỏi đại đa số dân chúng.
Những kẻ thông thái được Chúa Giêsu trực tiếp nhắm đến trong
Tin Mừng hôm nay là nhóm Biệt Phái đang đứng trong hành lãnh đạo sinh hoạt tôn
giáo và chống đối Chúa. Họ đến với Chúa bằng con đường của sự thông hiểu về luật
Môsê; họ cho rằng chỉ cần am tường lề luật Môsê trong Kinh Thánh cũng như trong
truyền khẩu là con người có thể đến với Chúa: họ tự phụ mình biết Thiên Chúa,
nhưng thực ra họ lìa xa Ngài.
Con đường Chúa Giêsu mạc khải để giúp con người đến với
Thiên Chúa chính là Ngài, mà mỗi người chúng ta được mời gọi đón nhận với tâm hồn
đơn sơ khiêm tốn: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến
được với Cha mà không qua Thầy". Nếu cậy dựa vào sự khôn ngoan của mình,
con người sẽ không gặp được Thiên Chúa, nhưng nếu để Chúa Thánh Thần hướng dẫn
và nhờ qua Chúa Giêsu Kitô, con người có thể đạt tới sự thông hiệp với Thiên
Chúa và được cứu rỗi: "Lạy Cha, con chúc tụng Cha, vì điều Cha đã giấu
không cho bậc khôn ngoan thông thái biết, thì Cha lại mạc khải cho những người
bé mọn".
Chúng ta cần trở nên những người bé mọn theo tinh thần Phúc
Âm, để cảm nếm và sống hòa hiệp với Thiên Chúa. Ðức tin Kitô giáo hướng dẫn
chúng ta đến một con người cụ thể, một vị Thiên Chúa chấp nhận sống với con người,
chứ không phải những lý lẽ thần học cao siêu. Một con người khiêm tốn có thể có
đức tin sâu xa hơn một nhà thông thái. Ðức tin là một hồng ân cần được lãnh nhận
hơn là kết quả của sưu tầm trí thức của con người.
Thánh Têrêsa Avila, tuy không học hành nhiều, nhưng đã có
kinh nghiệm sống động về Thiên Chúa và đã trình bày kinh nghiệm thiêng liêng của
mình một cách tốt đẹp, đến nỗi đã được đặt làm tiến sĩ Hội Thánh, vì giáo huấn
của thánh nữ để lại là kho tàng thiêng liêng quý báu giúp mọi thành phần Giáo Hội
đến với mầu nhiệm Thiên Chúa.
Dĩ nhiên, Chúa Giêsu không có ý loại bỏ những bậc thông
thái, nhưng chỉ có ý cảnh tỉnh những ai cậy dựa vào sự thông thái rằng họ sẽ
không đến được với Chúa, không có đủ điều kiện để lãnh nhận mạc khải của Chúa.
Tuy nhiên, không thiếu những trường hợp có sự hòa hợp giữa thông thái và đức
tin Kitô giáo. Thánh Tôma Tiến sĩ là một điển hình. Nói chung, thái độ khiêm tốn
để Chúa soi sáng hướng dẫn là điều căn bản cần phải có luôn.
Xin Chúa mở rộng tâm hồn chúng ta để lắng nghe Lời Chúa với
tâm hồn khiêm tốn, mến yêu. Xin cho chúng ta biết sống theo sự soi sáng của
Thánh Thần để đến với Chúa và anh em.
(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Ngày 15/7: Thánh Bô-na-ven-tu-ra – Giám mục – Tiến sĩ Hội
Thánh (1221
– 1274)
1. Tiểu sử – Phụng vụ
Thánh Bônaventura
qua đời trong nhà dòng Phan Sinh, ngày 15 tháng Bảy năm 1274, ở tuổi năm mươi
ba. Được phong thánh năm 1482, Ngài được tuyên bố là “vị tiến sĩ thiên
thần” (docteur séraphique) năm 1588. Tên thật của Ngài là Gioan, nhưng
người ta quen gọi Ngài là Bônaventura, vì theo một giai thoại, Thánh
Phanxicô Assise vừa trông thấy Ngài, đã buộc miệng la lên: “O bona
ventura !”.
Thánh Bônaventura
sinh năm 1221, tại Bagnorea gần Viterbe nước Ý. Nhập dòng Phanxicô, Bônaventura
sang Paris để học triết lý và thần học. Là đồ đệ của Alexandre de Halès, vị “tiến
sĩ không thể phủ nhận”, Ngài cũng đã trở thành đại sư (maýtre) vào năm 1253 và
đã xuất bản cuốn Sách về các châm ngôn của Pierre Lombard.
Dòng Phanxicô năm
mươi năm sau ngày thành lập đã có gần hai mươi ngàn thành viên và đã nhận được
từ Thánh Bônaventura một cách tổ chức vững chãi dung hòa những khuynh hướng
chia rẽ đã bộc lộ nơi các tu huynh. Được chọn làm bề trên tổng quyền dòng
Phanxicô từ năm 1257 đến năm 1274, Thánh Bônaventura có ảnh hưởng lớn lao trên
toàn dòng đến nỗi người ta xem Ngài như Đấng sáng lập thứ hai; tại tổng công hội
ở Narbonne năm 1260, Ngài đã công bố bản Hiến Pháp của Dòng.
Vừa khước từ chức tổng
giám mục York, Ngài buộc phải chấp nhận tước vụ hồng y giám mục Albano. Sau đó
trong tư cách sứ thần, Ngài được sai sang dự Công đồng chung ở Lyon. Công đồng
được triệu tập nhằm mục đích hiệp nhất hai Giáo Hội Hy Lạp và La Tinh. Ngài vui
mừng thấy sự đoàn kết được thực hiện tại Lyon ngày 28 tháng Sáu năm 1274, nhưng
chỉ chóng vánh, vì mười bảy ngày sau, Ngài qua đời trong yên ủi trước sự hiện
diện của Đức Giáo Hoàng.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện của ngày
nhấn mạnh “những sự phong phú trong giáo huấn” của Thánh Bônaventura và “đức ái
nồng nhiệt” của Ngài. Quả thế Ngài từng là một nhà thần học sâu xa, đã xây dựng
một sự tổng hợp về khoa học dưới ánh sáng Phúc Âm. Châm ngôn của Ngài là:
“Vinh quang và danh dự chỉ dâng lên Thiên Chúa”. Là đồ đệ Thánh Augustinô
và Thánh Phanxicô Assise, Thánh Bônaventura trước tiên là một nhà thần bí.
Trong cuốn Đường tâm hồn hướng về Chúa, trong đó giải thích rằng khoa sư phạm của
tình yêu muốn đạt tới Thiên Chúa, phải dựa trên triết lý và thần học, Ngài
tuyên bố: “Trên chặng đường này, nếu muốn nên trọn hảo …, hãy hỏi nơi ân sủng
chứ không phải nơi kiến thức, hỏi hứng khởi sâu xa nơi cõi lòng chứ không phải
hỏi trí tuệ, nghe tiếng rên rỉ của lời cầu nguyện chứ không phải niềm đam mê đọc
sách; hãy hỏi Đấng Phu Quân chứ không phải hỏi giáo sư …”. (Xem Phụng vụ
Bài đọc).
Các tác phẩm khác của
Thánh Bônaventura, như cuốn Cây trường sinh hoặc Năm đại lễ của Hài Nhi Giêsu vốn
tạo nhiều thích thú ở thời Trung Cổ, thì dựa trên học thuyết cao siêu đặt ước vọng
trên trí tuệ. Ở Paris, năm 1269, Ngài viết cuốn Biện minh cho người nghèo, nhằm
chống lại những kẻ phản bác tinh thần khó nghèo Phan Sinh và năm 1273, Ngài có
một loạt các bài Thuyết trình về Hexanméron nhằm chống lại thuyết Averoes La
Tinh vốn chủ trương xây dựng nền triết lý thành môn học độc lập với Thánh Kinh.
Cuốn Tiểu sử Thánh
Phanxicô do Ngài viết nhằm thúc đẩy sự thống nhất nơi các tu sĩ Phan Sinh, cho
chúng ta thấy tinh thần hòa giải của vị “tiến sĩ thiên thần” chủ ý hòa hợp các
khuynh hướng khác nhau nơi các môn đệ Thánh Phanxicô, lo lắng về việc trung
thành với tinh thần hơn với chữ viết của Đấng sáng lập Dòng.
Trong cuốn Divina
Comedia, Dante đặt Thánh Bônaventura trong số các vị thánh Thiên Đình (XII,
127), vì Ngài đã coi trọng tinh thần hơn vật chất.
Enzo Lodi





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét