08/03/2026
CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY năm A
Bài Ðọc I: Xh 17, 3-7
“Xin
cho chúng tôi nước để chúng tôi uống”.
Trích sách
Xuất Hành.
Trong những
ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môsê rằng: “Tại sao ông dẫn
dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật
chúng tôi phải chết khát như vầy”. Môsê kêu lên cùng Chúa rằng: “Con sẽ phải
làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi”. Chúa liền phán bảo
Môsê: “Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi
theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ
đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá
nước sẽ chảy ra cho dân uống”. Môsê làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ
lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là “Thử Thách”, vì con cái Israel đã phàn nàn và
thách thức Chúa mà rằng: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?”
Ðó là lời
Chúa.
Ðáp Ca: Tv 94, 1-2.
6-7. 8-9
Ðáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng
Người: “Các ngươi đừng cứng lòng!”
Xướng: Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng
Chúa, hãy hoan hô Ðá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi,
chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người!
Xướng: Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp
lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Ðấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên
Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người.
Xướng:Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng
Người: “Ðừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi
mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của
Ta”.
Bài Ðọc II: Rm 5,
1-2. 5-8
“Lòng mến
Chúa đổ xuống lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta”.
Trích thư
Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em
thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ
Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Ðấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng,
đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái
Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta
nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu
hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết
thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng
Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc
chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.
Ðó là lời
Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc
Âm
Lạy Chúa,
Chúa thật là Ðấng cứu chuộc thế gian; xin ban cho con nước hằng sống, để con
không còn khát nữa.
PHÚC ÂM: Ga 4,5-42
(Bài dài)
“Mạch
nước vọt đến sự sống đời đời”.
Tin Mừng
Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy,
Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã
cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi
nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
Một người
đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước”
(lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại:
“Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ
Samaria?” (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria).
Chúa Giêsu
đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà:
“Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng
sống”.
Người đàn
bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu
ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng
tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và
đoàn súc vật của người?”
Chúa Giêsu
trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì
không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch
nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước
đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”. Chúa Giêsu bảo:
“Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”.
Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói “tôi không có chồng” là phải, vì bà có năm đời chồng
rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà
đã nói đúng đó”.
Người đàn
bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ
trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”.
Chúa Giêsu
đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không
phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết,
còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến.
Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa
Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn.
Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần
và trong chân lý”.
Người đàn
bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người
sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người
đang nói với bà đây”.
Vừa lúc đó
các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn
bà. Nhưng không ai dám hỏi: “Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói
truyện với người đó?” Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi
người rằng: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm.
Phải chăng ông đó là Ðấng Kitô?” Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng
Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: “Xin mời Thầy ăn”. Nhưng Ngài
đáp: “Thầy có của ăn mà các con không biết”. Môn đệ hỏi nhau: “Ai đã mang đến
cho Thầy ăn rồi chăng?” Chúa Giêsu nói: “Của Thầy ăn là làm theo ý Ðấng đã sai
Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến
mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng
đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy
kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Ðúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt.
Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã
khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ”.
Một số
đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng:
“Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm”. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại
với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số
những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải
vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời
Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.
Ðó là lời
Chúa.
Hoặc đọc bài ngắn này: Ga 4, 5-15. 19b-26. 39a. 40-42
Tin Mừng
Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy,
Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã
cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi
nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
Một người
đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước”
(lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại:
“Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ
Samaria?” (vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Samaria).
Chúa Giêsu
đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà:
“Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng
sống”.
Người đàn
bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu
ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng
tôi giếng này, và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và
đoàn súc vật của người?”
Chúa Giêsu
trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì
không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch
nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước
đó để tôi chẳng còn khát, và khỏi phải đến đây xách nước nữa”.
Và người
đàn bà nói với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha
ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở
Giêrusalem”. Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ
phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng
mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ
dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ
đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người
tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người,
phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.
Người đàn
bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người
sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người
đang nói với bà đây”.
Một số
đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng. Khi gặp
Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe
chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người
đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính
chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.
Ðó là lời
Chúa.
Chúa nhật tuần thứ 3 Mùa Chay (Năm A, B hoặc C)
Lưu ý: Vào Chúa
nhật thứ ba Mùa Chay này, chúng ta cử hành Thánh lễ cho nghi thức “Kiểm tra” đầu
tiên trong ba nghi thức. Các nghi thức Kiểm tra là những nghi lễ đặc biệt giúp
chuẩn bị cho những người được chọn (những người tham gia Nghi thức Gia nhập
Kitô giáo dành cho người lớn) gia nhập Giáo hội Công giáo. Các bài đọc được thảo
luận trong phần bình luận này, mặc dù “phù hợp” với Năm A, cũng có thể được sử
dụng trong Năm B và C khi có các dự tòng sẽ được rửa tội vào Lễ Phục Sinh. Nhấp
vào các liên kết bên dưới để xem bình luận về các bài đọc phù hợp với Năm B và
C:
Bình luận Năm B
Bình luận Năm C
______________________________________________________
Bình luận về Xuất Hành 17,3-7; Rô-ma 5,1-2,5-8;
Gioan 4,5-42
Chủ đề của các bài đọc hôm nay xoay quanh nước, và mối liên
hệ với Bí tích Rửa tội rất rõ ràng. Nước là nguồn gốc của sự sống, nhưng cũng
là nguồn gốc của sự hủy diệt. Chúng ta có câu chuyện về trận Đại Hồng Thủy,
mang lại sự cứu rỗi cho Nô-ê và gia đình ông, nhưng lại mang đến cái chết cho một
thế giới tội lỗi; việc vượt Biển Đỏ, mang lại sự sống và tự do cho dân Ít-ra-en, nhưng lại mang đến cái chết
cho quân đội của Pha-ra-ôn; và nước từ tảng đá cho dân Ít-ra-en trong sự khô hạn của sa mạc. Chúng
ta sẽ nghe thêm về những điều này trong Đêm Canh Thức Phục Sinh trong nghi thức
chúc phúc nước phép rửa tội.
Bài Phúc Âm nói về người phụ nữ Sa-ma-ri bên giếng, và cũng
tập trung vào chủ đề nước và sự sống.
Các nhóm bị gạt ra
ngoài lề xã hội
Nói chung, người phụ nữ Sa-ma-ri có thể được coi là đại diện
cho ba nhóm người bị áp bức:
• phụ nữ nói chung,
• gái mại dâm và những người vô đạo đức về tình dục, và
• tất cả các loại người ngoài lề xã hội, bao gồm những người
ô uế, vô thần hoặc người nước ngoài.
Câu chuyện bắt đầu với việc Chúa Giê-su thể hiện mình là một
người cần giúp đỡ: mệt mỏi, đói khát. Chúng ta phải luôn nhắc nhở bản thân mình
rằng Chúa Giê-su thực sự là một con người. Như đã nêu trong Kinh nguyện Thánh
Thể thứ tư, Ngài:
…giống chúng ta trong
mọi sự trừ tội lỗi.
Ngài cầu
xin sự giúp đỡ từ một người mà lẽ ra Ngài phải tránh (một người phụ nữ lạ mặt sống một mình), và cũng là
người mà Ngài phải ghét – một
người Samari. Bà ta rất ngạc nhiên trước sự tiếp cận của Ngài, nhưng sự ngạc nhiên đó đã cho phép Chúa
Giê-su đảo ngược tình thế và ban cho bà “nước hằng sống”. Bà ta hiểu theo nghĩa
đen, hỏi làm sao Ngài có thể
ban cho nước đó khi Ngài
không có xô. Nhưng nước mà Chúa Giê-su sẽ ban cho thì khác. Ngài phán:
Ai uống nước này [tức
là nước giếng] sẽ khát lại, còn ai uống nước mà Ta ban cho thì sẽ không bao giờ
khát nữa.
Một lần nữa và theo nghĩa đen, người phụ nữ muốn thứ nước hằng
sống này, nghĩ rằng khi đó bà sẽ không bao giờ phải vất vả đến giếng nữa.
Nước mà Chúa Giê-su nói đến là gì? Đó là Thánh Linh của Đức
Chúa Trời đến với chúng ta trong phép Rửa Tội. Bí tích Rửa Tội
không chỉ là một nghi thức tạo ra những hiệu ứng kỳ diệu. Đó là dấu hiệu bên
ngoài, mang tính biểu tượng của một thực tại sâu sắc, sự hiện diện của Đức Chúa
Trời như một sức mạnh thâm nhập vào mọi khía cạnh trong cuộc sống của một người.
Điều này xảy ra thông qua việc chúng ta được tiếp xúc với Chúa Giê-su và tầm
nhìn Tin Mừng về cuộc sống, và thông qua việc chúng ta hoàn toàn được hoán cải
theo tầm nhìn đó. Điều này chỉ có thể xảy ra thông qua tác nhân của một cộng đồng
Kitô giáo mà chúng ta được mời gọi gia nhập. Như Bài đọc thứ hai hôm nay nói:
…Tình yêu của Thiên
Chúa đã được đổ đầy vào lòng chúng ta qua Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng
ta.
Đây không chỉ là vấn đề về nghi thức rửa tội hay nhúng mình
và nói những lời thần chú, mà là việc thực sự đón nhận Chúa Thánh Thần. Chúa
Thánh Thần làm dịu cơn khát của chúng ta, không phải bằng cách xóa bỏ khát vọng
về sự hiện diện của Thiên Chúa, mà bằng cách liên tục thỏa mãn nó.
Năm người chồng cộng
thêm
Chúa Giê-su mời người phụ nữ trở lại giếng một lần nữa cùng
với chồng mình. Sứ mệnh của Chúa Giê-su bắt đầu bằng việc tiếp cận một gia
đình. Nhưng bà nói rằng bà không có chồng. Thật vậy, như Chúa Giê-su đã tiết lộ
tình trạng thực sự của bà: bà đã có năm người chồng và người đàn ông bà đang ở
cùng hiện tại không phải là chồng bà. Bà bị coi là một người phụ nữ “lẳng lơ”,
chắc hẳn đã bị những người xung quanh khinh miệt sâu sắc. Không có gì lạ khi bà
đến giếng một mình!
Nước mà Chúa Giê-su hứa có liên quan mật thiết đến sự hoán cải
và tha thứ tội lỗi. Chúa Giê-su là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất đi tội
lỗi của thế gian. Nhưng trước hết, tội lỗi phải được phơi bày và thừa nhận. Và
trọng tâm chú ý của Chúa Giê-su không chỉ là tội lỗi của người phụ nữ, mà còn
là tội lỗi của tất cả mọi người trong toàn thị trấn nơi bà đến. Là một người tội
lỗi, bà sẽ trở thành người mang lại sự cứu rỗi và hoán cải cho những người lân
cận.
Thay đổi chủ đề
Người phụ nữ sững sờ trước sự thấu hiểu của Chúa Giê-su về
cuộc đời bà. Bà xấu hổ, và vì vậy, chủ đề đột ngột chuyển sang một điều gì đó
mang tính lý thuyết và “an toàn”. Chúng ta thường làm điều đó như thế nào?
Câu hỏi mà người phụ nữ đặt ra là về những nơi thờ phượng của
người Do Thái và người Samaria: Giê-ru-sa-lem, thánh của người Do Thái, hay núi
Ghê-ri-xim, thánh của người Samaria, hay giếng Gia-cóp nơi họ đang ở. Nhưng điều
đó cho Chúa Giê-su cơ hội để nêu lên một điểm quan trọng khác. Giếng “thánh”
nơi họ đang ở sẽ trở nên không còn ý nghĩa gì nữa—cũng như Đền thờ
Giê-ru-sa-lem và núi của người Samaria. Sự thờ phượng chân chính sẽ được thực
hiện “trong Thánh Linh và trong lẽ thật”. Sẽ không còn đền thờ nào nữa. Không
phải nơi chốn là thánh, mà là những người sử dụng chúng. Chính chúng ta là Đền
thờ của Đức Chúa Trời và là nơi ở của Đấng Ki-tô.
Người phụ nữ tiếp tục nói rằng bà biết khi Đấng Mê-si-a đến, Ngài sẽ kể cho bà nghe tất
cả về điều này. Lúc đó, Chúa Giê-su nói với bà rằng Ngài chính là Đấng Mê-si-a. Thật phi thường! Một người ngoại
đạo, và là một kẻ ngoại tình nhiều lần, lại là người đầu tiên trong Phúc Âm
Gioan nghe được sự mặc khải này! Và, chính xác là vì những người tội lỗi (giống
như mỗi người trong chúng ta!) cần phải nghe điều này. Người khỏe mạnh không cần
bác sĩ, chỉ người bệnh mới cần.
Sự kinh ngạc
Ngay lúc đó, các môn đồ trở về. Là những người sống trong thời
đại và nền văn hóa của họ, họ kinh ngạc khi thấy Chúa Giê-su nói chuyện riêng với
người phụ nữ này, một người bị khinh miệt và là người ngoài cuộc. Họ không biết
phải nói gì. Họ dâng thức ăn cho Chúa Giê-su, nhưng Ngài nói với họ rằng Ngài
có thức ăn mà họ không hề biết đến:
Người ta không chỉ sống
nhờ bánh mà thôi,
nhưng nhờ mọi lời từ
miệng Đức Chúa Trời phán ra.
(Mát-thêu
4,4)
Thức ăn của Chúa Giê-su là sự đồng nhất hoàn toàn của Ngài với
ý muốn của Cha và làm công việc của Ngài:
Phước cho những người
nghe lời Đức Chúa Trời và vâng giữ lời ấy. (Lu-ca 11,28)
Liên quan đến ý tưởng về bánh và việc nuôi dưỡng, Chúa
Giê-su nói với họ rằng mùa gặt rất lớn và đã chín muồi. Và mùa gặt bây giờ bao
gồm người Sa-ma-ri (bao gồm cả người phụ nữ này) và tất cả những người ngoại
bang, người lạ, người không tin và tất cả những người tội lỗi. Đó là một mùa gặt
đã được người khác chuẩn bị.
“Hãy ở lại với chúng
tôi”
Nhiều người Samari đã tin vào Chúa Giê-su nhờ lời chứng của
người phụ nữ. Họ xin Ngài ở lại với họ, vì nếu không, Ngài đã tiếp tục cuộc
hành trình của mình. Chúa Giê-su thường cần được mời ở lại. Hãy nhớ đến hai người
đàn ông đang đi đến Emmaus? Ngài sẽ không dừng lại nếu họ không mời Ngài ở lại
qua đêm. Ngài đứng ở cửa và gõ, nhưng Ngài sẽ không vào nếu không được mời.
Kết quả là, nhiều người trong làng Samari đó đã tin vào Chúa
Giê-su. Và họ nói:
Chúng tôi không còn
tin vì lời bà [người phụ nữ] nói nữa, vì chúng tôi đã tự mình nghe thấy, và
chúng tôi biết rằng đây thật sự là Đấng Cứu Thế của thế giới.
Đối với những người dự tòng, và đối với tất cả chúng ta, đức
tin được truyền lại phải trở thành đức tin của chính chúng ta. Để rồi, ngay cả
khi mọi người xung quanh chúng ta từ bỏ Chúa Giê-su, tôi cũng sẽ không. Cuối
cùng, đức tin hoàn toàn mang tính cá nhân:
…không còn phải là tôi
sống nữa, mà là Chúa Kitô sống trong tôi.
(Gl 2,20)
Hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện để tất cả những ai đang chuẩn
bị chịu phép Rửa tội vào dịp
Phục Sinh đều tìm thấy đức tin làm phong phú thêm cuộc sống của mình.
https://livingspace.sacredspace.ie/labc031/
Quí ông
bà, cô bác và anh chị em thân mến!
Có lẽ
chúng ta không còn cần câu chuyện nào khác để dẫn chứng cho chúng ta đối với đoạn
Phúc Âm hôm nay. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người đàn bà xứ Samaria được mô
tả một cách thật là hay, với nhiều chi tiết gợi ý và có thể thu hút sức chú ý của
chúng ta. Tác giả Phúc Âm không nhắc đến tên của người đàn bà này, mà chúng ta
có thể giả thuyết là Chúa và các tông đồ, dĩ nhiên trong số các tông đồ có cả
tác giả Phúc Âm tức thánh Gioan, biết tên người đàn bà này, vì Chúa đã lưu lại
nơi cộng đồng trong vùng hai ngày sau đó để giảng dạy. Người đàn bà không được
nhắc đến tên, có lẽ vì hai lý do sau đây:
Trước hết
là sự tế nhị không muốn nêu danh tánh của một người đàn bà đã có năm đời chồng
và hiện đang sống với người không phải là chồng của mình.
Lý do thứ
hai quan trọng hơn, là vì tác giả Phúc Âm thánh Gioan muốn trình bày nơi đây
không phải lịch sử cuộc đời của một người đàn bà tội lỗi, nhưng trình bày cho
chúng ta có thể nói là con đường đức tin của mỗi người chúng ta.
Nói cách
khác, chúng ta không cần biết danh tánh người đàn bà đó là ai. Vì có thể nói,
người đàn bà đó là mỗi người chúng ta đây trước mặt Thiên Chúa. Con đường đức
tin của chúng ta, chúng ta hãy quan sát xem người đàn bà này đã gặp Chúa Giêsu
như thế nào. Hay nói cách khác, Chúa Giêsu đã gặp bà và hướng dẫn bà từ một
thái độ đối nghịch sang thái độ kính trọng, cuối cùng tin nhận và làm chứng cho
Chúa như thế nào.
Trước hết,
dung mạo tinh thần của người đàn bà đó là ai? Mặc dù chúng ta không biết tên và
không cần biết tên, đây là người xứ Samaria, con cháu của những người Do Thái
mang dòng máu Adam. Chúng ta biết vào năm 700 trước Chúa Giêsu sinh ra thì những
người Do Thái bị bắt đi lưu đày sang Babilon và vùng đất Samari này được người
khác đến cư ngụ. Năm 500 trước Chúa Giêsu sinh ra thì những người Do Thái được
trở về lập quốc và vùng đất Samari này là vùng đất mà những người Do Thái sống
với những người ngoại quốc, họ lập gia đình với nhau, cưới hỏi nhau. Từ đó những
người Samari này có thể nói là những người Do Thái mang dòng máu lai người ngoại
quốc, không còn là Do Thái chính tông trong sạch như những người Do Thái ở vùng
Giuđêa, quanh thành Giêrusalem và đền thờ Giêrusalem.
Đây là những
người bị người Do Thái coi như là kẻ thù theo cả hai nghĩa, kẻ thù của dân tộc
Do Thái đã kết thân lập gia đình với những người ngoại quốc, và cũng là kẻ thù
coi thường Luật Chúa, Luật Môsê, không xứng đáng lãnh nhận hồng ân cứu rỗi của
Thiên Chúa nữa. Hơn thế nữa, người đàn bà đã có năm đời chồng và đang sống với
một người không phải là chồng của mình. Một người tội lỗi công khai, bị kẻ khác
xét xử như là kẻ ngoan cố trong tội lỗi, vui lòng với tội lỗi của mình, mà theo
quan điểm con người của chúng ta thì có lẽ đây là trường hợp hết thuốc chữa.
Người đàn
bà Samari mà Chúa Giêsu gặp không còn xứng đáng với ơn cứu rỗi của Chúa, đó là
nhìn theo quan điểm con người chúng ta, nhưng không hẳn như vậy, vì trong thâm
tâm của bà vẫn còn có một thắc mắc, một khát khao vượt ra khỏi tình trạng hiện
tại của mình. Chúng ta có thể ghi nhận bà còn một chút hiểu biết giáo lý, còn đang
mong chờ Đấng Thiên Sai đến để ban ơn cứu rỗi. Do đó bà đã hỏi Chúa Giêsu:
"Chúng tôi phải thờ Thiên Chúa ở đâu? Tại Giêrusalem hay trên núi này? Tôi
biết rằng Đấng Thiên Sai sẽ đến để dạy cho chúng tôi mọi sự". Đó là khao
khát từ trong thâm tâm của bà hướng về Đấng Cứu Rỗi, và hơn nữa nơi con người
bà còn có một điều tốt là can đảm nói sự về cuộc đời mình ra trước mặt Chúa. Bà
đã dám nhìn nhận tôi không có chồng, bà ý thức về tội lỗi của mình, và có chút
khao khát hướng về sự giải thoát, về ơn cứu rỗi.
Chúa Giêsu
đã hành động như thế nào đối với bà? Chúa đến với bà trước hết trong dung mạo của
người Do Thái, tức là kẻ thù của người Samari. Chúa vượt qua hai định kiến xấu
đối với bà, người Samari và người đàn bà. Người vùng Samari như đã nói là những
người Do Thái mang dòng máu lai ngoại quốc, không còn trung thành, không còn là
Do Thái chính cống trong sạch với Luật Môsê nữa.
Một vị thầy
của người Do Thái không bao giờ nói chuyện với người đàn bà nơi công cộng,
nhưng Chúa Giêsu vượt qua hai định kiến xấu này và khơi dậy thiện cảm của người
đàn bà khi mở miệng xin nước uống: "Xin bà cho tôi nước uống". Chúa tạo
dịp cho người đàn bà làm một việc thiện, làm một điều tốt cho một người mà mình
không thích để từ đó nâng dậy người đàn bà sa ngã.
Hành động
và lời nói của Chúa Giêsu đã phá tan thành kiến nơi người đàn bà: "Sao ông
là người Do Thái mà lại xin nước uống với tôi là người Samari?" Hành động
và những lời nói của Chúa làm cho người đàn bà có một thái độ kính trọng hơn,
bà đã đổi cách xưng hô từ việc ngay từ đầu gọi Chúa là ông một cách xa lạ, thì
giờ đây biến thành: "Thưa Ngài, xin hãy cho tôi nước uống". Một lời
thưa nói lên thái độ kính trọng, bà đã sẵn sàng lắng nghe Chúa nói với bà.
Chúa dùng
hình ảnh nước uống để mạc khải về mầu nhiệm ân sủng Thần Linh từ Thiên Chúa muốn
ban cho con người. Chúa không có thái độ khinh thị, Chúa sử dụng ngôn ngữ người
đàn bà dễ hiểu và cuối cùng dẫn bà đến thực tại sâu xa nhất trong tâm hồn của
bà. Đó là Chúa cho bà biết là bà đang khao khát một cái gì cao siêu hơn, không
phải nước uống vật chất, không phải tình thương nhục dục, nhưng khao khát ơn cứu
rỗi, khao khát gặp được Đấng Thiên Sai, trong lúc đó Chúa Giêsu đã mạc khải rõ
ràng hơn cho bà Đấng Thiên Sai đó chính là Thiên Chúa, là người đang nói với bà
đây. Con đường đức tin của bà đã bắt đầu, bà đón nhận và trở thành người chứng
đầu tiên cho Chúa, bà chạy về làng kêu mời những người khác đến gặp Chúa Giêsu.
Tin và làm chứng cho Chúa luôn đi đôi với nhau.
Tác giả
Phúc Âm thánh Gioan không kể thêm chi tiết khác nữa, vì đó có thể là những chi
tiết để thỏa mãn tính tò mò của mỗi người chúng ta hôm nay khi đọc đoạn Phúc Âm
này, nhưng ngài muốn nói đầy đủ trong đoạn Phúc Âm này những chi tiết khác thuộc
phạm vi riêng tư giữa Chúa và người đàn bà, giữa Chúa và mỗi người chúng ta, giữa
Chúa và mỗi người mà chúng ta không cần biết đến.
Những gì
đã được kể ra trong đoạn Phúc Âm hôm nay là để giúp cho mỗi người chúng ta nhìn
lại con đường đức tin của mình: tôi đã gặp được Chúa như thế nào? Tôi đã gặp
Chúa hay chưa? Để mỗi người chúng ta biết trở về nhìn nhận giây phút ân sủng mà
Chúa đến thăm mỗi người, Chúa thực hiện một dấu lạ, một điều gì đó kể cả Chúa
dùng tội lỗi của chúng ta như Chúa dùng trường hợp tội lỗi của người đàn bà để
mạc khải một thực tại cao siêu hơn, để kêu gọi người đàn bà trở về, bà đã có
năm đời chồng, bà nói đúng sự thật về người mà bà đang sống, bà biết người đang
sống với bà không phải là chồng của mình. Chúa có thể dùng những tật xấu, những
tội lỗi của chúng ta để thức tỉnh chúng ta và mời gọi chúng ta trở về với Chúa.
Xin Chúa
giúp mỗi người chúng ta được thức tỉnh để nhìn nhận tình trạng tội lỗi của
mình, nhất là nhìn nhận nơi chính thâm tâm của mỗi người chúng ta có một khao
khát hướng về Chúa, có một khao khát được ơn Chúa cứu rỗi. Xin Chúa đến và củng
cố đức tin của chúng ta.
‘Sống Tin Mừng’--R. Veritas



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét