Trang

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

GIÁO HỘI HÀN QUỐC VÀ PHILIPPINES CAM KẾT CẦU NGUYỆN VÀ CỨU TRỢ CHO MYANMAR

 



Động đất tại Myanmar   (ANSA)

 

Giáo hội Hàn Quốc và Philippines cam kết cầu nguyện và cứu trợ cho Myanmar

Các lãnh đạo Giáo hội Hàn Quốc và Philippines đã bày tỏ sự đau buồn và liên đới, cam kết hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi trận động đất mạnh xảy ra ở Myanmar và một số vùng của Thái Lan vào ngày 28/3/2025.

Hồng Thủy - Vatican News

Lời chia buồn của Tổng giám mục của Seoul 

Trong một tuyên bố đưa ra vài ngày sau trận động đất mạnh 7,7 độ richter tàn phá các thị trấn ở Myanmar, Đức Tổng giám mục Chung Soon-taick của Seoul đã gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đến Myanmar.

Ngài nói: “Tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất tới người dân Myanmar, những người hẳn đang cảm thấy vô cùng sợ hãi và đau buồn sau khi mất đi những người thân yêu và nhà cửa chỉ sau một đêm. Tôi cầu xin Chúa chữa lành những người bị thương và một lần nữa chiếu rọi ánh sáng hy vọng vào đống đổ nát của cuộc sống họ”.

Cam kết hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần

Cam kết hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần, Đức Tổng giám mục Chung khẳng định cam kết của Giáo hội trong việc liên đới với người dân Myanmar khi họ phải chịu đựng nỗi đau và mất mát do thảm họa gây ra. Ngài bày tỏ hy vọng rằng sự đóng góp của Giáo hội, mặc dù khiêm tốn, sẽ mang lại sự an ủi và giúp những người sống sót tìm thấy sức mạnh để phục hồi.

Ngài cũng đảm bảo sẽ tiếp tục cầu nguyện cho những người bị ảnh hưởng cũng như những người ứng cứu đầu tiên và các nhóm nhân đạo quốc tế.

Trong một thông tư chính thức đề ngày 31/3/2025, Giáo hội tại Hàn Quốc đã kêu gọi các tín hữu “cầu nguyện cho những anh chị em đang đau khổ ở Myanmar do trận động đất và tiến hành đợt quyên góp thứ hai vào ngày 20/4/2025 (Chúa Nhật Phục sinh)”.

Trong khi đó, Phong trào Một Thân thể Một Tinh thần của Tổng giáo phận đã cam kết một quỹ cứu trợ khẩn cấp trị giá 100.000 đô la Mỹ cho tổ chức bác ái Caritas Internationalis của Giáo hội.

Các khoản quyên góp bổ sung sẽ được đón nhận cho đến ngày 30/4/2025 thông qua chiến dịch gây quỹ của tổng giáo phận, “Quỹ cứu trợ khẩn cấp cho nạn nhân động đất ở Myanmar”.

Lời chia buồn và kêu gọi cầu nguyện và liên đới của Giám mục của Antipolo

Tại Philippines, Đức Cha Ruperto Cruz Santos của Antipolo cũng đã cầu nguyện và gửi lời an ủi, nhấn mạnh đến nhu cầu về lòng trắc ẩn và tình đoàn kết.

Ngài viết: “Với trái tim nặng trĩu nhưng kiên định trong đức tin, chúng tôi xin gửi lời chia buồn và lời cầu nguyện sâu sắc nhất đến tất cả những người bị ảnh hưởng bởi trận động đất tàn khốc xảy ra ở Myanmar và Thái Lan. Trái tim chúng tôi hướng về những người Philippines đồng hương của chúng tôi, những người có thể đang phải đối mặt với nỗi sợ hãi, mất mát và bất ổn ở nơi xa quê hương của họ”.

Đức Cha kêu gọi hành động hiệp nhất và liên đới không chỉ trong lời cầu nguyện mà còn trong hành động - cung cấp sự hỗ trợ, an ủi và hỗ trợ cho những người đang gặp khó khăn. Ngài kêu gọi các tín hữu cầu nguyện cho các nạn nhân, cầu xin Chúa “mang đến sự chữa lành cho nỗi đau của họ” và ban bình an “lấp đầy trái tim họ giữa sự hỗn loạn”. Ngài cũng xin tình yêu của Chúa gắn kết chúng ta lại với nhau như một gia đình trong đức tin, vươn tới sự chăm sóc và hỗ trợ. (LiCas 01/04/2025)

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2025-04/giao-hoi-han-quoc-philippines-cam-ket-cau-nguyen-cuu-tro-myanmar.html

 

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAN-XI-CÔ VẪN TRONG TÌNH TRẠNG ỔN ĐỊNH

 

Đức Giáo Hoàng Phanxicô vẫn trong tình trạng ổn định

Vũ Văn An  01/Apr/2025

 


Christopher Wells của Vatican News, trong bản tin ngày 1 tháng 4, cho hay: Đức Giáo Hoàng Phanxicô vẫn đang hồi phục sau căn bệnh viêm phổi ở cả hai bên tại dinh thự Casa Santa Marta của Vatican, theo thông tin cập nhật do Văn phòng Báo chí Tòa thánh cung cấp.

Theo thông tin mới nhất do Văn phòng Báo chí Tòa thánh cung cấp, Đức Giáo Hoàng Phanxicô vẫn giữ được tinh thần tốt và tình trạng sức khỏe tổng thể của ngài vẫn ổn định.

Cập nhật mới nhất về sức khỏe của Đức Giáo Hoàng, do Giám đốc Văn phòng Báo chí Tòa thánh, Matteo Bruni, trình bày, cho biết xét nghiệm máu của ngài bình thường, trong khi chụp X-quang ngực gần đây cho thấy phổi của ngài đã cải thiện.

Đức Giáo Hoàng đang tiếp tục áp dụng các liệu pháp khác nhau do bác sĩ kê đơn, ông Bruni cho biết. Các kỹ năng vận động, hơi thở và khả năng sử dụng giọng nói của ngài vẫn tiếp tục cho thấy sự cải thiện. Phương pháp oxy hóa lưu lượng cao chủ yếu được sử dụng vào ban đêm và khi cần thiết.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô vẫn tiếp tục làm việc tại bàn làm việc của mình.

Đức Thánh Cha đồng tế Thánh lễ mỗi sáng tại nhà nguyện ở tầng hai của dinh thự Casa Santa Marta, nơi ngài vẫn đang trong quá trình hồi phục.

Văn phòng Báo chí cho biết không có chuyến thăm đặc biệt nào tới Đức Giáo Hoàng, nhưng lưu ý rằng ngài vẫn tiếp tục gặp gỡ nhân viên y tế cũng như những cộng sự thân cận nhất của mình.

Ông Bruni thông báo sẽ không có Buổi tiếp kiến chung vào thứ Tư; tuy nhiên, giống như những tuần qua, Vatican sẽ công bố văn bản giáo lý được chuẩn bị cho Buổi tiếp kiến.

Đức Thánh Cha cũng sẽ chuẩn bị bài giảng cho Thánh lễ Chúa Nhật mừng Năm Thánh của Người bệnh và Nhân viên chăm sóc sức khỏe, và các sắp xếp cho Buổi đọc kinh Truyền tin vào Chúa Nhật dự kiến sẽ được thảo luận trong buổi họp báo tiếp theo, dự kiến diễn ra vào thứ Sáu, ngày 4 tháng 4.

Văn phòng Báo chí cho biết, hiện vẫn còn quá sớm để suy đoán về sự tham gia của Đức Giáo Hoàng vào các nghi lễ của Tuần Thánh.

 

http://vietcatholic.net/News/Html/294998.htm

CHÂN PHƯỚC CARLO?

 

Chân phước Carlo?

Vũ Văn An  01/Apr/2025

 

 


Lăng mộ của Chân phước Carlo Acutis. Nguồn: Vatican Media.

 

JD. Flynn, chủ bút The Pillar, ngày 1 tháng 4, cho hay: Tuần này, tờ The Economist đã khơi dậy một cuộc trò chuyện giữa những người Công Giáo về Chân phước Carlo Acutis và quá trình phong thánh của Giáo hội, sau khi nhà báo John Phipps nói chuyện với một số người bạn của Acutis, những người cho biết trải nghiệm của họ với Carlo giống "đứa trẻ bình thường" hơn là "vị thánh ngoan đạo".

Trước lễ phong thánh cho Acutis vào tháng này, tiểu luận dường như đặt câu hỏi về tính xác thực của quá trình phong thánh của Giáo hội, cho rằng động lực sau khi chết, chứ không phải sự thánh thiện thực sự, đã thúc đẩy Carlos tiến tới việc tôn vinh trên bàn thờ.

Bài báo cáo có thu phí, nhưng bạn có thể đọc phiên bản lưu trữ tại đây.

Tôi không sùng kính Carlo Acutis, và không tham gia vào cuộc chiến này, nhưng tôi có một vài suy nghĩ:

Hôm nọ, tôi đã nói chuyện với một người bạn về một người bạn chung của chúng tôi, một vị linh mục thánh thiện. Người bạn của tôi đã mô tả vị linh mục như thế này: "Ông ấy là người hòa nhập nhất mà tôi biết".

Tôi nghĩ đó là một cách tuyệt vời để mô tả sự thánh thiện — sự hòa nhập của Ki-tô giáo — theo đó chúng ta thực sự và thực sự là chính mình — là con trai và con gái của Chúa Cha — mọi lúc. Chúng ta sống như chính mình trong mọi khoảnh khắc. Và chúng ta làm điều đó bằng ân sủng.

Tuổi vị thành niên có lẽ là thời kỳ phát triển tan rã nhất trong cuộc đời của một người. Tôi không phải là thánh nhân — và nếu tôi chết ngày hôm nay thì sẽ không có lý do hay sự sùng bái nào — nhưng chắc chắn đó là trải nghiệm thời trẻ của riêng tôi khi hành động theo những cách khác nhau với những người khác nhau. Tôi đã sống như một Ki-tô hữu trong hầu hết cuộc đời mình. Nhưng trong số những người bạn trung học mà tôi đã uống Southern Comfort cùng vào tối thứ Sáu, khía cạnh đó trong bản sắc của tôi đã giảm đi phần nào — mặc dù, tạ ơn Chúa, không vượt quá sự ăn năn hay cải cách. Tuy nhiên, tôi đã không mở đầu bằng lời mời học Kinh thánh hoặc (giống như một đứa trẻ Tin lành ngoan đạo) nghe nhạc “rock” Ki-tô giáo của mình.

Tôi biết những thanh thiếu niên hòa nhập phi thường, và bạn cũng có thể, nhưng tôi nghĩ hầu hết trẻ em đều trải qua giai đoạn thử nghiệm những bản sắc khác nhau, hoặc ít nhất là những sắc thái hơi khác, cho đến khi chúng tìm ra chính xác mình là ai và mình muốn trở thành ai. Điều đó... bình thường. Vì vậy, nếu Carlos không có vẻ ngoài sùng đạo hoặc ngoan đạo giữa những người bạn thời trung học như khi ở bên gia đình, thì điều đó chắc chắn không có nghĩa là anh không có đức tin sống động và tích cực - hoặc anh có một "cuộc sống bí mật", như tờ Economist đã nói.

Lên khung như vậy là giật gân, và theo quan điểm của tôi, không tính đến sự phát triển cơ bản của con người, chứ đừng nói đến sự trưởng thành của Ki-tô giáo.

Nhưng "sự bình thường" của Carlos giữa những người bạn của anh có làm suy yếu tuyên bố về sự thánh thiện không?

À

Tường trình dường như không tính đến cái chết của Carlos. Khi tôi đọc câu chuyện của anh, Acutis, được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu nguyên bào tủy, đã trải qua 11 ngày cuối đời trong đau khổ phi thường, trong thời gian đó, anh ường như đã thể hiện sự thánh thiện thực sự — một cái chết khác thường, theo lời chứng của những người chăm sóc y tế của anh.

Đối với tôi, có vẻ như bạn không thể thực sự hiểu Acutis nếu không hiểu cách anh sống những ngày cuối đời. Rằng anh là một đứa trẻ Công Giáo có vẻ trung thành nhưng vẫn bình thường, người đã thể hiện đức tính anh hùng trong những ngày đau khổ và cái chết của mình, và đó là điều khiến anh xứng đáng được tôn kính và noi theo.

NHƯNG

Nếu tôi đúng về điều đó, tôi nghĩ điều đó cũng có nghĩa là mọi người không phải lúc nào cũng kể câu chuyện của anh một cách chính xác. Acutis thường được miêu tả như một kiểu thiên thần cầm máy chơi game, đối với anh, mỗi lời nói ra đều là một viên ngọc khôn ngoan tâm linh, người đã thực hiện các vụ trở lại ở mọi ngã rẽ và người dành mọi khoảnh khắc trên internet để cứu rỗi các linh hồn bằng cách lập danh mục các phép lạ Thánh Thể.

Câu chuyện đó đôi khi được kể với lòng đạo đức giả tạo đến mức khó tin. Về phần mình, tác giả bài viết trên tờ The Economist có xu hướng đổ lỗi cho mẹ của Acutis. Và thực sự, tôi đã nghe bà nói, bà có vẻ như có lòng tận tụy, lòng tự hào và tình cảm vô bờ bến của một người mẹ dành cho con trai mình. Không có gì sai với điều đó, nhưng tôi nghĩ rằng một lời kể thực tế hơn về cuộc đời của Carlo Acutis sẽ nhấn mạnh rằng anh dường như đã đi sâu hơn vào sự thánh thiện và trưởng thành của người Ki-tô hữu khi anh chuẩn bị và trải qua một cái chết tốt đẹp và thánh thiện.

CÙNG LÚC

Trước đây, phải mất nhiều thời gian hơn để được tuyên bố là một vị thánh, và tôi nghĩ điều đó là tốt. Thử nghiệm sức chịu đựng của một việc sùng kính mộ đạo là một điều tốt, và nó cho phép câu chuyện về cuộc đời của một vị thánh tương lai kết tinh và trưởng thành hơn một chút, để có thể nhìn nhận một cách tỉnh táo và trưởng thành. Nó cũng đảm bảo rằng một số ít người có nguồn lực tài chính (như gia đình Acutis) không thể thúc đẩy một nguyên nhân phong thánh một cách đơn lẻ, khi bản thân quá trình này kéo dài hơn một chút so với sự gia tăng năng lực sùng đạo giữa những người bạn và người thân của một vị thánh tiềm năng. Tóm lại, Carlo không biến mất, và Bộ có thể cân nhắc lý do thúc đẩy sự vội vã này.

VỚI TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU ĐÃ NÓI

Quy trình tại Bộ Phong thánh có tính toàn diện, và tôi không nghĩ là dễ dàng bị tiếp quản hoặc bị cưỡng ép — bất chấp những bất ổn về mặt hành chính và chính trị khác nhau xung quanh bộ. Những người bạn đã nói chuyện với The Economist cũng đã nói chuyện với thánh bộ. Những người chăm sóc y tế, giáo viên và có lẽ là cả cha xứ của ngài cũng vậy. Với tất cả những thông tin đó — không chỉ là sự nhiệt tình của một người mẹ yêu thương — thánh bộ đã tiến hành việc làm của họ. Điều đó không nên bị loại trừ hoàn toàn.

Hơn nữa, việc tuyên bố một vị thánh là một hành động của thẩm quyền giáo hoàng liên quan đến đức tin và đạo đức — và các nhà thần học đồng thuận rằng đó là một hành động ràng buộc lương tâm của người Công Giáo bằng đức tin. Vì vậy, tôi có xu hướng tin rằng hành động tuyên bố được Chúa Thánh Thần bảo vệ khỏi sai lầm, ngay cả khi có những câu hỏi hợp lý về sự thận trọng, quy trình hoặc thời điểm mà Giáo hội có thể đặt ra — những câu hỏi mà chính các tín hữu có thể đặt ra, theo tinh thần tính đồng nghị.

Một lần nữa, tôi không thực sự là người của Acutis. Và nếu cuộc trò chuyện tiếp tục, chúng tôi sẽ đưa tin nhiều hơn về ngài. Tôi không nghĩ có một loại "bằng chứng rõ ràng" nào trong tường trình của The Economist. Nhưng có thể hữu ích nếu nó giúp chúng ta suy nghĩ tỉnh táo hơn về việc Acutis là ai, và cách Chúa có thể đã hành động để bày tỏ chính mình trong cái chết tốt lành, thánh thiện và trung thành của chàng trai trẻ.

Một lưu ý cuối cùng về điều này: Tôi thấy thích thú khi thấy sự hiện diện của Đức ông Anthony Figueiredo, từng là một linh mục ở Newark, hiện đang được thụ phong trong một giáo phận nhỏ của Ý, trong câu chuyện về Carlo Acutis.

Theo tờ The Economist — dường như đã lấy thông tin từ chính Figueiredo — thì vài năm trước, Figueiredo dường như đã trở thành nhân vật trung tâm trong việc thúc đẩy sự sùng bái lòng sùng kính của Acutis.

Điều đó thật đáng chú ý đối với tôi, bởi vì trước đây Figueiredo đã tự nhận mình có mối quan hệ cá nhân thân thiết với Thánh Teresa thành Calcutta và là cộng sự thân cận của Đức Giáo Hoàng Thánh Gioan Phaolô II. Sau đó, khi vụ bê bối McCarrick nổ ra, ông đã trở thành tiêu đề khi nói rằng ông đã từng là người của McCarrick ở Rome, "thư ký riêng của Rome" của cựu Hồng Y - một sự thật mà trước đây ông chưa từng tiết lộ theo bất cứ cách nào.

Tôi hơi ngạc nhiên khi Figueiredo được The Economist ghi nhận công lao trong việc thúc đẩy và phổ biến việc sùng kính Acutis, vì Acutis đã được phong chân phước vào năm 2020, cùng năm vị linh mục chuyển đến Assisi và có liên lụy.

Trong cả hai trường hợp, Figueiredo hoặc có bình diện "Bước nhảy vọt" của chức linh mục may mắn tình cờ, hoặc đã bị người ta nói chuyện về trong suốt chặng đường. Vì vậy, khi The Economist dựa vào ông để làm nguồn tin, đủ để tôi cho rằng có lẽ cần đưa tin nhiều hơn.

 

http://vietcatholic.net/News/Html/294993.htm

 

"TINH THẦN CỦA TEILHARD DE CHARDIN' LƠ LỬNG TRÊN CUỘC HỌP TẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG LATERANO

 


‘Tinh thần của Teilhard de Chardin’ lơ lửng trên cuộc họp tại Vương cung thánh đường Lateranô

Vũ Văn An  01/Apr/2025

 

Theo Catholic World News trong bản tin ngày 31 tháng 3 năm 2025, “Tinh thần của Teilhard de Chardin, tu sĩ Dòng Tên đa tài, mà lễ kỷ niệm 70 năm ngày mất đang diễn ra trong những ngày này, đã lơ lửng trên cuộc họp diễn ra sáng nay tại Vương cung thánh đường Thánh Gioan Lateranô, từ đầu đến cuối,” L’Osservatore Romano đưa tin trong ấn bản ngày 29 tháng 3.

Bài viết của nhà báo Guglielmo Gallone theo sau bài tri ân dài hai trang, gồm sáu bài viết dành cho nhà triết học và nhà cổ sinh vật học người Pháp trong ấn bản ngày 27 tháng 3 của tờ báo Vatican, bao gồm lời tựa cuốn sách của Hồng Y José Tolentino de Mendonça, Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Giáo dục. Giống như các bài viết trước đó, bài viết của Gallone không đề cập đến quan điểm của Cha Teilhard về chủng tộc và thuyết ưu sinh, vốn đã thu hút sự chú ý ngày càng tăng của giới học giả trong thập niên qua.

Sự kiện ngày 29 tháng 3 tại Vương cung thánh đường Lateranô được tổ chức bởi CENSIS, một cơ quan nghiên cứu của Ý. Các diễn giả—bao gồm Hồng Y Baldassare Reina, tổng đại diện của Giáo phận Rome, và Cha Antonio Spadaro, SJ, phó thư ký của Bộ Văn hóa và Giáo dục—đã thảo luận về một phân tích của CENSIS về việc thực hành Công Giáo đang suy giảm ở Ý. Gallone báo cáo rằng Vương cung thánh đường, nhà thờ chính tòa của Giáo hoàng, đã chật kín người.

Nhắc đến Cha Teilhard (1881-1955)—người có những bài viết là chủ đề của một cảnh cáo của Văn phòng Thánh năm 1962—Gallone đã viết rằng “tài liệu CENSIS, cơ sở của cuộc thảo luận, báo cáo đáng kể về sự khẳng định của nhà thần học người Pháp, người có quan điểm ‘Giáo hội sẽ diệt vong nếu không thoát khỏi chủ nghĩa bí tích định lượng, để tái sinh trong những khát vọng cụ thể của con người.’”

“Người Công Giáo phải giúp thế giới ‘tiến lên và hướng lên’, như Teilhard đã nói,” Giuseppe De Rita, người sáng lập CENSIS 92 tuổi, nói với những người tham gia.

Cha Spadaro nói rằng người ta không nên “tạo ra sự phân cực giữa Chúa và thế giới, mà phải yêu thương và theo Chúa trên thế giới”—“nhận thức rằng, như Teilhard đã nhớ lại, ‘Mọi thứ vươn lên đều hội tụ’”, theo bản tóm tắt của Gallone về những nhận xét của Spadaro.

 

http://vietcatholic.net/News/Html/294994.htm

APRIL 3, 2025: THURSDAY OF THE FOURTH WEEK OF LENT

 

April 3, 2025


 

Thursday of the Fourth Week of Lent

Lectionary: 247

 

Reading 1

Exodus 32:7-14

The LORD said to Moses,
"Go down at once to your people
whom you brought out of the land of Egypt,
for they have become depraved.
They have soon turned aside from the way I pointed out to them,
making for themselves a molten calf and worshiping it,
sacrificing to it and crying out,
'This is your God, O Israel,
who brought you out of the land of Egypt!'
The LORD said to Moses,
"I see how stiff-necked this people is.
Let me alone, then,
that my wrath may blaze up against them to consume them.
Then I will make of you a great nation."

But Moses implored the LORD, his God, saying,
"Why, O LORD, should your wrath blaze up against your own people,
whom you brought out of the land of Egypt
with such great power and with so strong a hand?
Why should the Egyptians say,
'With evil intent he brought them out,
that he might kill them in the mountains
and exterminate them from the face of the earth'?
Let your blazing wrath die down;
relent in punishing your people.
Remember your servants Abraham, Isaac and Israel,
and how you swore to them by your own self, saying,
'I will make your descendants as numerous as the stars in the sky;
and all this land that I promised,
I will give your descendants as their perpetual heritage.'"
So the LORD relented in the punishment
he had threatened to inflict on his people.

 

Responsorial Psalm 

Psalm 106:19-20, 21-22, 23

R. (4a)  Remember us, O Lord, as you favor your people.
Our fathers made a calf in Horeb
and adored a molten image;
They exchanged their glory
for the image of a grass-eating bullock.
R. Remember us, O Lord, as you favor your people.
They forgot the God who had saved them,
who had done great deeds in Egypt,
Wondrous deeds in the land of Ham,
terrible things at the Red Sea.
R. Remember us, O Lord, as you favor your people.
Then he spoke of exterminating them,
but Moses, his chosen one,
Withstood him in the breach
to turn back his destructive wrath.
R. Remember us, O Lord, as you favor your people.

 

Verse Before the Gospel

John 3:16

God so loved the world that he gave his only-begotten Son,
so that everyone who believes in him might have eternal life.

 

Gospel

John 5:31-47

Jesus said to the Jews:
"If I testify on my own behalf, my testimony is not true.
But there is another who testifies on my behalf,
and I know that the testimony he gives on my behalf is true.
You sent emissaries to John, and he testified to the truth.
I do not accept human testimony,
but I say this so that you may be saved.
He was a burning and shining lamp,
and for a while you were content to rejoice in his light.
But I have testimony greater than John's.
The works that the Father gave me to accomplish,
these works that I perform testify on my behalf
that the Father has sent me.
Moreover, the Father who sent me has testified on my behalf.
But you have never heard his voice nor seen his form,
and you do not have his word remaining in you,
because you do not believe in the one whom he has sent.
You search the Scriptures,
because you think you have eternal life through them;
even they testify on my behalf.
But you do not want to come to me to have life.

"I do not accept human praise;
moreover, I know that you do not have the love of God in you.
I came in the name of my Father,
but you do not accept me;
yet if another comes in his own name,
you will accept him.
How can you believe, when you accept praise from one another
and do not seek the praise that comes from the only God?
Do not think that I will accuse you before the Father:
the one who will accuse you is Moses,
in whom you have placed your hope.
For if you had believed Moses,
you would have believed me,
because he wrote about me.
But if you do not believe his writings,
how will you believe my words?"

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/040325.cfm

 


Commentary on Exodus 32:7-14

While Moses was up on the mountain conversing with God and receiving the law from him, the people below became impatient. “That Moses, the man who brought us here from Egypt—we do not know what has become of him.” Aaron, the brother of Moses, then collected all the gold that the women and children wore and melted it down to make a ‘golden calf’.

The word ‘calf’ is somewhat derisive because it was in fact the statue of a bull, a common symbol of divinity in the ancient East. It seems that a group in competition with Moses’ followers (or perhaps a dissident faction within Moses’ group) wished to have the figure of a bull symbolise the presence of God. However, the God being worshipped was still Yahweh, who had brought them out of Egypt. The dissidents would also likely have viewed the Ark of the Covenant simply as a symbol of Yahweh, rather than recognize that the actual presence of God resided in it. So, they would have no problem substituting the familiar symbol of the golden bull for the Ark.

In paying worship to the bull, they saw the saviour who brought them out of slavery in Egypt. But they were worshipping a god of their own making—something people in all ages, including our own, tend to do.

God is portrayed as reacting very angrily to this and asks Moses, who is still in his presence, not to stand in his way:

Now let me alone so that my wrath may burn hot against them and I may consume them…

But Moses, while not denying their sin, pleads on behalf of his people. Later, he will plead on behalf of his sister, Miriam, and frequently on behalf of the people all during their journey through the desert. His intercession foreshadows that of Christ, who on the Cross won forgiveness for our sin.

Moses’ argument is that, if God destroys his people, he will become a laughing stock among the pagans for rescuing his people and then destroying them in the wilderness. In addition, Moses reminds God of the promises he made to Abraham, Isaac and Jacob of the great and unending future of their descendants. So God, seen here in very human terms, relents and withdraws his promise of vengeance.

Of course, this is not at all the kind of God the New Testament asks us to believe in. We should be careful about speaking of our God in such anthropomorphic terms. God does not get angry; he does not take revenge. Our sinfulness brings its own punishment because every sin is a denial of what we are meant to be and become.

As with most passages of Scripture, what we need to look at here is not what is being said and done, but at the underlying meaning of the passage. The emphasis here is on the thanklessness of God’s people and on God’s readiness to forgive again and give them another chance.

We are constantly in the same situation. Let us be aware at this time of the countless gifts God has given us and continues to shower on us. At the same time, we know that, when we fail, his mercy and compassion are there for us always. But let that compassion draw us closer to him and to Jesus, and help us to leave behind every lack of love in our lives.

Comments Off

 


Commentary on John 5:31-47

Today we continue with yesterday’s words of Jesus to the Jewish religious leaders. In four ways, John’s Gospel reaffirms that God himself is the witness to the truth of all that Jesus says:

  1. The testimony of John the Baptist gives witness, although that was only human testimony (vv 33-34).
  2. The works of Jesus give clear testimony of the divine origin of all that Jesus does:

The works that the Father has given me to complete, the very works that I am doing, testify on my behalf that the Father has sent me.

The leaders could not see this, but the crowds often testified to it with enthusiasm (v36).

  1. The Father himself has given testimony, although that has not been seen directly by some of the Jews:

And the Father who sent me has himself testified on my behalf. You have never heard his voice or seen his form…

Perhaps this is a reference to Jesus’ baptism or to the Transfiguration (vv 37-38).

  1. A careful reading of the Scriptures will show they give testimony to Jesus.

You search the Scriptures because you think that in them you have eternal life, and it is they that testify on my behalf. Yet you refuse to come to me to have life.

This is clearly shown later on by Jesus when explaining the Scriptures to the two disciples on the way to Emmaus (vv 39-40).

Although Jesus clearly comes in the name of his Father, he is not accepted or believed in. Yet some other individual will come in his own name, and they will accept him. Further, they keep looking to their own traditions, rather than looking further to someone who clearly comes from God.

Jesus will not accuse them before his Father. Moses, in whom they claim to believe, will be their accuser.

If you believed Moses, you would believe me, for he wrote about me. But if you do not believe what he wrote, how will you believe what I say?

By “Moses” is meant the first five books of the Bible, known as the Pentateuch. Their authorship is attributed to Moses, although we know now by the dating of the various parts that this could not be possible. It was common in ancient times to attribute the authorship of a work to a well-known personality.

How much of all this applies to us? Where do we ultimately put our faith—in the Christ of the New Testament, or in a Jesus we have tailored to our own wants? How familiar are we with the Word of God in the New (and Old) Testament? Where do we clearly see the Risen Jesus bringing God into our lives every single day?

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/l1045g/

 


Thursday, April 3, 2025

Season of Lent

Opening Prayer

Lord our God, we know, perhaps more in theory than in practice, that You are with us, that You are our God and we Your people. Forgive us, Lord, when we fashion our own gods made in our own image—honor, power, prestige, things to which we are attached and enslaved. 

Remind us again and again that You are our loyal God, who made us in Your own indelible image and who shows us Your perfect likeness in Jesus Christ, Your Son and our Lord.

Gospel Reading - John 5: 31-47

Jesus said to the Jews: "If I testify on my own behalf, my testimony is not true. But there is another who testifies on my behalf, and I know that the testimony he gives on my behalf is true. You sent emissaries to John, and he testified to the truth. I do not accept human testimony, but I say this so that you may be saved. He was a burning and shining lamp, and for a while you were content to rejoice in his light. But I have testimony greater than John's. The works that the Father gave me to accomplish, these works that I perform testify on my behalf that the Father has sent me. Moreover, the Father who sent me has testified on my behalf. But you have never heard his voice nor seen his form, and you do not have his word remaining in you, because you do not believe in the one whom he has sent. You search the Scriptures, because you think you have eternal life through them; even they testify on my behalf. But you do not want to come to me to have life. "I do not accept human praise; moreover, I know that you do not have the love of God in you. I came in the name of my Father, but you do not accept me; yet if another comes in his own name, you will accept him. How can you believe, when you accept praise from one another and do not seek the praise that comes from the only God? Do not think that I will accuse you before the Father: the one who will accuse you is Moses, in whom you have placed your hope. For if you had believed Moses, you would have believed me, because he wrote about me. But if you do not believe his writings, how will you believe my words?"

Reflection

John, interpreter of Jesus. John is a good interpreter of the words of Jesus. A good interpreter must have two-fold fidelity: fidelity to the words of the one who speaks, and fidelity to the language of the one who listens. In John’s Gospel, the words of Jesus are not transmitted materially or literally; rather they are translated and transferred to the language of the people of the Christian communities of the first century in Asia Minor. For this reason, the reflections in the Gospel of John are not always easy to understand, because in them are mixed the words of God and the words of the Evangelist himself, who mirrors the language of faith of the communities of Asia Minor. The scholarly or scientific study of Jesus is not sufficient for this. It is also necessary that we have the lived experience of faith in the community. Today’s Gospel is a typical example of the spiritual and mystical depth of the Gospel of the Beloved Disciple.

Reciprocal enlightenment between life and faith. Here it is well to repeat what John Cassian says regarding the discovery of the full and profound sense of the psalms: “Instructed by that which we ourselves feel, let us not consider the text as something which we have only heard, but rather like something which we have experienced and which we touch with our hands; not like a strange and unheard of story, but rather like something that we bring out to light from the deepest part of our heart, as if these were sentiments which form part of our being. Let us repeat them; it is not the reading (the study) what makes us penetrate into the sense or meaning of the words, but rather our own experience which has previously been acquired in the life of every day.”

(Collationes X, 11). Life enlightens the text; the text enlightens life. If, at times, the text says nothing, it is not because of lack of study or because of lack of prayer, but simply because of lack of depth in one’s own life.

           John 31-32: The value of the witness of Jesus. The witness of Jesus is true because He does not promote or exalt Himself. “There is another witness who speaks on My behalf,” that is,  the Father. And His witness is true and deserves to be believed.

           John 5: 33-36: The value of the witness of John the Baptist and of the works of Jesus. John the Baptist also gave witness to Jesus and presents Him to the people as the One sent by God who has to come to this world (cf. Jn 1: 29, 3334; 3: 28-34). For this reason, even if the witness of John the Baptist is very important, Jesus does not depend on him. He has a witness in His favor who is greater than the witness of John, that is, the works which the Father carries out through Him (Jn 14: 10-11).

           John 5: 37-38: The Father bears witness to Jesus. Previously, Jesus had said, “Whoever is from God listens to the words of God” (Jn 8: 47). The Jews who accused Jesus did not have a mind open to God. And for this reason, they do not  perceive the witness of the Father which reaches them through Jesus.

           John 5: 39-41: Scripture itself gives testimony of Jesus. The Jews say that they have faith in the Scriptures, but, in reality, they do not understand Scripture, because the Scripture speaks of Jesus (cf. Jn 5: 46; 12: 16, 41; 20:  9).

           John 5: 42-47: The Father does not judge but entrusts His judgment to the Son. The Jews say that they are faithful to the Scripture of Moses and, because of this, they condemn Jesus. In reality, Moses and the Scripture speak about Jesus and ask us to believe in Him.

Personal Questions

           Life enlightens the text; the text enlightens life. How does one use this to gain an authentic understanding of each?

           The Jews of the time were following their hardened beliefs and not open to Jesus’ teaching. What is the proper balance between keeping old beliefs and accepting new ones? How does one discern what to keep and what to adopt, and how does this apply to Church doctrine and ritual?

Concluding Prayer

Yahweh, Your kingship is a kingship forever; Your reign lasts from age to age. Yahweh is trustworthy in all His words, and upright in all His deeds. Yahweh supports all who stumble, lifts up those who are bowed down. (Ps 145: 13-14)

www.ocarm.org

 

03.04.2025: THỨ NĂM TUẦN IV MÙA CHAY

 

03/04/2025

Thứ Năm tuần 4 Mùa Chay


 

Bài Ðọc I: Xh 32, 7-14

“Xin Chúa tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa”.

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Mô-sê rằng: “Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội. Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: “Hỡi Ít-ra-en, này là Thiên Chúa ngươi, Ðấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập”. Chúa phán cùng Mô-sê: “Ta thấy rõ dân này là một dân cứng cổ. Ngươi hãy để Ta làm, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với chúng và sẽ huỷ diệt chúng, rồi Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ một dân tộc vĩ đại”.

Mô-sê van xin Chúa là Thiên Chúa của ông rằng: “Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa đừng để cho người Ai-cập nói rằng: “Người đã khéo dẫn họ đến đây, để giết họ trên núi và hủy diệt họ khỏi mặt đất”. Xin Chúa nguôi cơn giận và tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa. Xin Chúa nhớ đến Áp-ra-ham, I-sa ác, và Ít-ra-en tôi tớ Chúa, vì chính Chúa đã thề hứa rằng: “Ta sẽ làm cho con cháu các ngươi sinh sản ra nhiều như sao trên trời, Ta sẽ ban cho con cháu các ngươi toàn cõi xứ này như lời Ta đã hứa, và các ngươi sẽ chiếm hữu xứ này mãi mãi”. Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe dọa phạt dân Người.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 105, 19-20. 21-22. 23

Ðáp: Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài

Xướng:  Họ đã đúc con bò tại Horeb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ.

Xướng: Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ.

Xướng: Chúa đã nghĩ tới chuyện tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là người Chúa chọn, không đứng ra cầu khẩn với Ngài, để Ngài nguôi giận và đừng tiêu diệt họ.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm

Chúa phán: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống”.

 

Phúc Âm: Ga 5, 31-47

“Có người tố cáo các ngươi, đó là Môsê, người mà các ngươi vẫn tin tưởng”.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Gio-an.

Khi ấy, Chúa Giê-su nói với dân Do-thái rằng: “Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực. Có một Ðấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực. Các ngươi đã sai người đi hỏi Gio-an, và Gio-an đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gio-an là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian. Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gio-an: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta. Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Ðấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống.

Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được? Các ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ngươi là Mô-sê, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng. Vì nếu các ngươi tin Mô-sê, thì có lẽ các ngươi cũng đã tin Ta, bởi vì chính Mô-sê đã viết về Ta. Nhưng mà nếu các ngươi không tin điều Mô-sê đã viết, thì làm sao các ngươi tin lời Ta được?”

Ðó là lời Chúa.

 


Chú giải về Xuất Hành 32,7-14

Trong khi Mô-sê đang ở trên núi trò chuyện với Chúa và nhận luật pháp từ Người, thì những người ở dưới trở nên mất kiên nhẫn. “Mô-sê, người đã đưa chúng ta đến đây từ Ai Cập—chúng ta không biết chuyện gì đã xảy ra với ông ấy.” Aaron, anh trai của Mô-sê, sau đó đã thu thập tất cả vàng mà phụ nữ và trẻ em đeo và nấu chảy chúng để làm một ‘con bê vàng’.

Từ ‘con bê’ có phần chế giễu vì thực tế đó là bức tượng con bò đực, một biểu tượng phổ biến của thần thánh ở phương Đông cổ đại. Có vẻ như một nhóm cạnh tranh với những người theo Mô-sê (hoặc có lẽ là một phe bất đồng chính kiến ​​trong nhóm của Mô-sê) muốn có hình con bò đực tượng trưng cho sự hiện diện của Chúa. Tuy nhiên, Chúa được tôn thờ vẫn là Gia-vê, người đã đưa họ ra khỏi Ai Cập. Những người bất đồng chính kiến ​​cũng có thể coi Hòm Giao ước chỉ đơn giản là biểu tượng của Gia-vê, thay vì thừa nhận rằng sự hiện diện thực sự của Chúa ngự trong đó. Vì vậy, họ sẽ không gặp vấn đề gì khi thay thế biểu tượng quen thuộc là con bò vàng cho Hòm Giao Ước.

Khi thờ con bò, họ đã nhìn thấy vị cứu tinh đã đưa họ ra khỏi chế độ nô lệ ở Ai Cập. Nhưng họ đang thờ một vị thần do chính họ tạo ra—điều mà mọi người ở mọi thời đại, bao gồm cả thời đại của chúng ta, có xu hướng làm.

Chúa được miêu tả là phản ứng rất tức giận với điều này và yêu cầu Mô-sê, người vẫn đang ở trước mặt Người, không được cản đường Người:

Bây giờ hãy để Ta một mình để cơn thịnh nộ của Ta bùng cháy dữ dội chống lại chúng và Ta sẽ tiêu diệt chúng…

Nhưng Mô-sê, mặc dù không phủ nhận tội lỗi của họ, đã cầu xin thay mặt cho dân tộc mình. Sau đó, ông sẽ cầu xin thay mặt cho chị gái mình, Miriam, và thường xuyên thay mặt cho dân tộc trong suốt hành trình qua sa mạc. Sự chuyển cầu của ông báo trước sự chuyển cầu của Chúa Kitô, người đã giành được sự tha thứ cho tội lỗi của chúng ta trên Thập tự giá.

Lập luận của Mô-sê là, nếu Chúa hủy diệt dân tộc mình, thì Người sẽ trở thành trò cười giữa những người ngoại đạo vì đã giải cứu dân tộc mình rồi sau đó lại hủy diệt họ trong sa mạc. Ngoài ra, Mô-sê nhắc nhở Chúa về những lời hứa mà Ngài đã hứa với Áp-ra-ham, I-sa ác, và Ít-ra-en về tương lai vĩ đại và bất tận của con cháu họ. Vì vậy, Chúa, được nhìn thấy ở đây theo cách rất con người, đã nhượng bộ và rút lại lời hứa báo thù của mình.

Tất nhiên, đây hoàn toàn không phải là loại Chúa mà Tân Ước yêu cầu chúng ta tin vào. Chúng ta nên cẩn thận khi nói về Chúa của chúng ta theo cách nhân cách hóa như vậy. Chúa không tức giận; Ngài không trả thù. Tội lỗi của chúng ta mang đến hình phạt riêng của nó vì mọi tội lỗi đều là sự phủ nhận con người mà chúng ta được định sẵn để trở thành.

Cũng như hầu hết các đoạn Kinh thánh, điều chúng ta cần xem xét ở đây không phải là những gì đang được nói và làm, mà là ý nghĩa cơ bản của đoạn văn. Sự nhấn mạnh ở đây là lòng vô ơn của dân Chúa và sự sẵn sàng tha thứ của Chúa một lần nữa và cho họ một cơ hội khác.

Chúng ta liên tục ở trong cùng một tình huống. Hãy nhận thức vào thời điểm này về vô số món quà mà Chúa đã ban cho chúng ta và tiếp tục ban tặng cho chúng ta. Đồng thời, chúng ta biết rằng, khi chúng ta thất bại, lòng thương xót và lòng trắc ẩn của Ngài luôn ở đó dành cho chúng ta. Nhưng hãy để lòng trắc ẩn đó đưa chúng ta đến gần Ngài và Chúa Giêsu hơn, và giúp chúng ta từ bỏ mọi sự thiếu thốn tình yêu trong cuộc sống.

 


Chú giải về Gio-an 5,31-47

Hôm nay chúng ta tiếp tục với những lời của Chúa Giê-su nói với các nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái ngày hôm qua. Theo bốn cách, Phúc âm Gio-an tái khẳng định rằng chính Đức Chúa Trời là nhân chứng cho sự thật của mọi điều Chúa Giê-su nói:

1. Lời chứng của Gio-an Tẩy Giả làm chứng, mặc dù đó chỉ là lời chứng của con người (câu 33-34).

2. Các công việc của Chúa Giê-su làm chứng rõ ràng về nguồn gốc thiêng liêng của mọi điều Chúa Giê-su làm:

Các công việc mà Cha đã giao cho tôi để hoàn thành, chính các công việc mà tôi đang làm, làm chứng cho tôi rằng Cha đã sai tôi.

Các nhà lãnh đạo không thể thấy điều này, nhưng đám đông thường làm chứng về điều đó với sự nhiệt tình (câu 36).

3. Chính Chúa Cha đã làm chứng, mặc dù điều đó không được một số người Do Thái nhìn thấy trực tiếp:

Và Chúa Cha đã sai tôi đã tự mình làm chứng cho tôi. Các ngươi chưa bao giờ nghe tiếng Ngài hoặc thấy hình dạng của Ngài…

Có lẽ đây là một sự ám chỉ đến phép rửa của Chúa Giê-su hoặc đến Sự biến hình (câu 37-38).

 

4. Đọc Kinh Thánh cẩn thận sẽ thấy chúng làm chứng về Chúa Giêsu.

Các ngươi tra cứu Kinh Thánh vì nghĩ rằng trong đó các ngươi có sự sống đời đời, và chính Kinh Thánh làm chứng về Ta. Nhưng các ngươi từ chối đến với Ta để có sự sống.

Điều này được Chúa Giêsu thể hiện rõ ràng sau đó khi giải thích Kinh Thánh cho hai môn đồ trên đường đến Emmaus (các câu 39-40).

Mặc dù Chúa Giê-su rõ ràng đến nhân danh Cha Ngài, nhưng Ngài không được chấp nhận hoặc tin tưởng. Tuy nhiên, một cá nhân khác sẽ đến nhân danh chính Ngài, và họ sẽ chấp nhận Ngài. Hơn nữa, họ vẫn tiếp tục tìm kiếm truyền thống của riêng họ, thay vì tìm kiếm xa hơn một người rõ ràng đến từ Chúa.

Chúa Giê-su sẽ không buộc tội họ trước Cha Ngài. Mô-sê, người mà họ tuyên bố tin tưởng, sẽ là người buộc tội họ.

Nếu các ngươi tin Mô-sê, các ngươi sẽ tin Ta, vì ông ấy đã viết về Ta. Nhưng nếu các ngươi không tin những gì ông ấy đã viết, thì làm sao các ngươi tin những gì Ta nói?

“Mô-sê” có nghĩa là năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh, được gọi là Ngũ Kinh. Tác giả của chúng được cho là Mô-sê, mặc dù hiện nay chúng ta biết rằng điều này không thể xảy ra thông qua niên đại của các phần khác nhau. Vào thời cổ đại, người ta thường quy tác giả của một tác phẩm cho một nhân vật nổi tiếng.

Bao nhiêu trong số tất cả những điều này áp dụng cho chúng ta? Cuối cùng, chúng ta đặt đức tin của mình vào đâu—vào Chúa Kitô của Tân Ước, hay vào một Chúa Giêsu mà chúng ta đã điều chỉnh theo ý muốn của riêng mình? Chúng ta quen thuộc với Lời Chúa trong Tân Ước (và Cựu Ước) như thế nào? Chúng ta thấy rõ Chúa Giêsu Phục sinh đưa Thiên Chúa vào cuộc sống của chúng ta mỗi ngày ở đâu?

 

https://livingspace.sacredspace.ie/l1045g/

 


Suy Niệm: Cứng đầu, cứng cổ, cứng lòng

Dân Do Thái thời Mô-sê bị Chúa trách mắng vì cứng đầu, cứng cổ. Người thời Chúa Giê-su thì cứng lòng. Họ đã thấy những dấu lạ lẫy lừng. Mười tai ương cho người Ai-cập. Vượt qua Biển Đỏ khô chân. Thấy vinh quang Thiên Chúa hiển hiện trên đỉnh núi. Sấm chớp ầm ầm. Khói lửa nghi ngút. Tiếng Chúa phán ầm ầm như tiếng sấm động. Chúa Giê-su cũng làm biết bao phép lạ. Nói những lời khôn ngoan. Nhưng họ vẫn không tin.

Ngoài ra Chúa Giê-su có biết bao chứng nhân. Khi gần qua đời, Mô-sê đã tiên báo: “Từ giữa anh (em), trong số các anh em của anh (em), ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi để giúp anh (em); anh (em) hãy nghe vị ấy…Kẻ nào không nghe những lời của Ta, những lời người ấy nói nhân danh Ta, thì chính ta sẽ hạch tội nó”( Đnl 18,15.19). Thánh Gio-an là chứng nhân trổi vượt. Đã công khai giới thiệu Chúa Giê-su: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Chúa Giê-su cho biết chính Thánh Kinh làm chứng về Người: “Hôm nay lời các ngươi vừa nghe đã ứng nghiệm”. Vậy tại sao người Do Thái từ xưa đến nay vẫn không tin?

Vì tuy họ thấy những điềm thiêng dấu lạ. Nghe những lời khôn ngoan. Nhưng họ chưa tiến vào mối tương giao thân tình với Thiên Chúa. Chưa có đời sống tôn giáo đích thực. Họ còn bề ngoài. Cư xử theo thói đời. Dừng lại ở ngưỡng cửa phàm tục. Chưa tiến vào thâm cung nhiệm mầu của tôn giáo thực sự để gặp gỡ và sống với Thiên Chúa.

Chúa Giê-su xuống thế làm người để dậy cho ta biết sống đạo đích thực. Là đi vào mối tương giao thân tình với Thiên Chúa. Là tin và yêu. Tin là phó thác trọn cuộc đời cho Thiên Chúa. Mô-sê đã nêu gương. Suốt đời chỉ sống cho Thiên Chúa. Yêu thương dân chúng đến dám chết vì dân. Chúa Giê-su là Mô-sê mới. Trổi vượt hơn. HIến toàn thân cho Chúa Cha. Chỉ làm công việc của Chúa Cha. Không màng đến vinh danh và sự chấp nhận của người đời. Chỉ cần làm đẹp lòng Thiên Chúa. Người đã tiến đến mối tương giao thật thân thiết với Chúa Cha. Nên một với Chúa Cha. Sẵn sàng chết vì vâng phục thánh ý Chúa Cha. Đó là sống đạo đích thực.

Mùa Chay là mùa cao điểm để ta noi gương Chúa Giê-su. Sống đức tin và tình yêu với Thiên Chúa. Không tìm thành công nơi trần gian. Không trông cậy vào những thế lực trần gian. Hoàn toàn hiến mình cho Chúa. Hoàn toàn quên mình. Chỉ tìm thi hành thánh ý Thiên Chúa. Chỉ tìm vinh danh nơi Thiên Chúa. Đó là ăn chay đích thực.

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

 

ỦY BAN PHỤNG TỰ (HĐGMVN) LƯU Ý KHI CỬ HÀNH NHIỀU LẦN NGHI THỨC TAM NHẬT VƯỢT QUA TẠI MỘT NHÀ THỜ

 

Ủy ban Phụng Tự lưu ý khi cử hành nhiều lần nghi thức Tam Nhật Vượt Qua tại một nhà thờ

Khi cử hành các nghi thức Tam nhật Vượt Qua hai lần tại một nơi thánh, cần lưu ý về thời gian và cách thức thực hiện

 


I. Thẩm quyền cho phép cử hành nhiều lần

Qua sắc lệnh Prot. N. 105/25 của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích ban hành ngày 22/02/2025, theo cách thức ngoại lệ, việc “cử hành nhiều lần Nghi thức Tưởng niệm Cuộc Thương Khó của Chúa và Canh thức Vượt Qua” trong cùng một nhà thờ hoặc cùng một nhà nguyện thuộc thẩm quyền cho phép của Bản quyền địa phương tại Việt Nam.

Về việc cử hành Thánh lễ Tiệc Ly vào chiều thứ Năm Tuần Thánh, luật hiện hành đã quy định: do nhu cầu mục vụ, Bản quyền địa phương có thể cho phép cử hành một lễ khác tại cùng một nhà thờ hoặc nhà nguyện, vào giờ ban chiều, và trong trường hợp hết sức cần thiết, cũng có thể cho cử hành vào buổi sáng (x. Sách lễ Rôma [1992], “Thánh Lễ Tiệc Ly”, số 1; x. Thư Luân lưu về việc Chuẩn bị và Cử hành Đại Lễ Phục Sinh [1988], số 47).

Như thế, các Giám mục giáo phận có thể cho phép chung hoặc từng trường hợp cụ thể việc cử hành nhiều lần các nghi thức Tam nhật Vượt Qua tại một nhà thờ trong giáo phận.

 

II. Những điều cần lưu ý khi cử hành

Khi cử hành các nghi thức Tam nhật Vượt Qua hai lần tại một nơi thánh, cần lưu ý về thời gian và cách thức thực hiện:

1. Các Thánh lễ Tiệc Ly được cử hành vào ban chiều hoặc vào buổi sáng khi được phép.

Việc kiệu và chầu Mình Thánh Chúa chỉ nên thực hiện sau Thánh lễ cử hành lần thứ hai.

2. Nghi thức Tưởng niệm Cuộc Thương Khó của Chúa có thể cử hành vào giờ thuận tiện cho việc qui tụ giáo dân, từ sau 12 giờ trưa hay vào ban tối nhưng đừng trễ hơn 9 giờ đêm (x. Thư Luân lưu, số 63).

Chỉ dùng một Thánh giá duy nhất trong nghi thức kính thờ nhằm diễn tả được trọn vẹn ý nghĩa biểu tượng của nghi thức (x. Thư Luân lưu, số 70).

3. Tất cả cử hành Canh thức Vượt Qua được cử hành về đêm, nên phải bắt đầu lúc chập tối; và phải kết thúc trước rạng đông ngày Chúa Nhật (x. Sách Lễ Rôma, “Canh Thức Vượt Qua”, số 3).

Trong nghi thức Thắp nến Phục sinh, chỉ một cây nến mới và đủ lớn được sử dụng để diễn tả Chúa Kitô là Ánh Sáng soi chiếu thế gian (x. Thư Luân lưu, số 82).

 

III. Cử hành Canh thức Vượt Qua hai lần

Ý nghĩa viên mãn của Đêm Canh thức Vượt Qua mang tính chất đợi trông cuộc quang lâm cánh chung của Chúa (x. Thư Luân lưu, số 80). Nghi thức gồm bốn phần với nhiều yếu tố khác nhau mang tính biểu tượng. Khi cử hành cần tuân giữ diễn tiến của các phần theo sách phụng vụ ấn định, không được theo sáng kiến riêng mà thay đổi tùy tiện (x. Thư Luân lưu, số 81).

Khi đã có phép của Tông Tòa, theo cách thức ngoại lệ, Canh thức Vượt Qua được cử hành nhiều lần tại một nơi thánh nhưng cho cộng đoàn tham dự khác nhau, nên việc lập lại các nghi lễ quan trọng với một chút điều chỉnh là cần thiết nhằm bảo toàn vẻ đẹp và tính chân thật của các dấu chỉ cũng như tính toàn vẹn của Đêm Canh Thức.

Hướng dẫn cụ thể:

- Phần “Phụng vụ Lời Chúa” và “Phụng vụ Thánh Thể” không có gì thay đổi trong cả hai lần cử hành.

- Phần “Phụng vụ Ánh sáng” và “Phụng vụ Thánh tẩy” có thay đổi một chút giữa hai lần cử hành, trong phạm vi phụng vụ cho phép như sau:

1. Phụng vụ Ánh sáng (x. SLRM [1992], “Canh Thức Vượt Qua”, số 7-19):

a) Trong cử hành lần thứ nhất: giữ toàn bộ các nghi thức từ số 7-19 như thường lệ.

b) Trong cử hành lần thứ hai:

i- Nếu có một cây nến mới sẽ sử dụng trong mùa Phục sinh cho một nhà thờ hay nhà nguyện không cử hành Đêm Canh Thức thì cũng có thể thực hiện đầy đủ theo các số từ 7-19.

ii- Nếu nến Phục sinh đã được chuẩn bị và làm phép trong cử hành thứ nhất thì bỏ qua các số 10-12, nghĩa là thắp sáng và kiệu nến Phục sinh ngay sau khi làm phép lửa như ở số 9.

 

Lưu ý: Trong cả hai trường hợp nêu trên, theo Nghi thức của Sách lễ Rôma 2002, linh mục chủ sự thắp sáng nến của mình từ lửa Nến Phục sinh ngay sau lời tung hô “Ánh sáng Chúa Kitô” và lời đáp của cộng đoàn “Tạ ơn Chúa” lần thứ nhất.

2. Phụng vụ Thánh tẩy (x. SLRM [1992], “Canh Thức Vượt Qua”, số 37-47): Nghi thức làm phép giếng rửa tội (hoặc làm phép nước rửa tội) và nếu có nghi thức khai tâm Kitô giáo nên được sắp xếp trong lần cử hành muộn hơn.

Phụng vụ Thánh tẩy được thực hiện cụ thể như sau:

a) Trong cử hành lần thứ nhất (phần lớn dành cho thiếu nhi): cử hành ngay các nghi thức từ số 45-47: tức là tiến hành làm phép nước (số 45), mọi người đứng với nến sáng trong tay, lặp lại lời tuyên xưng đức tin khi lãnh nhận bí tích Thánh tẩy (số 46), rồi linh mục rảy nước thánh cho cộng đoàn (số 47).

b) Trong cử hành lần thứ hai: Tại các nhà thờ giáo xứ, nếu không có giếng rửa tội thì nên đặt một bình nước trên cung thánh và làm phép nước rửa tội để dùng cho bí tích Thánh tẩy trong mùa Phục sinh (x. số 37).

Việc làm phép giếng rửa tội (hoặc làm phép nước rửa tội) và nếu có rửa tội được thực hiện đầy đủ theo các nghi thức từ số 37-44.

Sau nghi thức rửa tội (và thêm sức), hoặc nếu không, thì sau khi làm phép nước rửa tội, mọi người đứng và cầm nến cháy trong tay, lặp lại lời tuyên xưng đức tin khi lãnh nhận bí tích Thánh tẩy (số 46), rồi chủ tế đi rảy nước thánh trên dân chúng (số 47).

Ủy ban Phụng tự Hội đồng Giám mục Việt Nam