Trang

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

02-05-2014 : THỨ SÁU TUẦN II MÙA PHỤC SINH

02/05/2014
Thứ Sáu Tuần II Mùa Phục Sinh Năm A

BÀI ĐỌC I: Cv 5, 34-42
"Các ngài hân hoan ra về, vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì danh Đức Giêsu".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Bấy giờ, có người biệt phái tên là Gamaliel, cũng là luật sĩ, có thế giá trong dân, đứng lên giữa công nghị, truyền dẫn các tông đồ ra ngoài trong giây lát, rồi nói với các người trong công nghị rằng: "Hỡi chư vị Israel, xin hãy thận trọng về việc chư vị định làm đối với những người này. Vì trước đây ít ngày, có tên Thêôđa nổi lên, tự xưng là một nhân vật, có độ bốn trăm người theo mình, y đã bị giết, và nhóm người theo y đều tan rã và không còn gì nữa. Sau y, lại có tên Giuđa người Galilêa, cũng nổi lên trong những ngày kiểm tra dân số, lôi kéo dân chúng theo mình, rồi chính hắn cũng chết, mọi kẻ theo hắn đều tan rã. Và bây giờ, tôi xin chư vị đừng can dự gì đến những người này, cứ để mặc họ: vì nếu một mưu toan hay việc này là do loài người, thì sẽ tự tan rã; nhược bằng bởi Thiên Chúa, thì chư vị không thể phá tan được, kẻo lỡ ra mang tội chống đối Thiên Chúa". Họ đồng ý. Họ cho gọi các tông đồ vào, ra lệnh đánh đòn các ngài, và cấm tuyệt đối không được nhân danh Đức Giêsu mà giảng dạy nữa, đoạn tha các ngài về. Vậy các ngài ra khỏi công nghị, lòng hân hoan, vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì Danh Đức Giêsu. Và hằng ngày, tại đền thờ hay tại tư gia, các ngài cứ tiếp tục giảng dạy, và loan truyền Tin Mừng Đức Giêsu Kitô. Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 26, 1. 4. 13-14
Đáp: Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi (c. 4ab).
Hoặc đọc: Alleluia.
1) Chúa là sự sáng, là Đấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Đấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? - Đáp.
2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Ngài. - Đáp.
3) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa. - Đáp.
ALLELUIA: Cl 3, 1
Alleluia, alleluia! - Nếu anh em sống lại làm một với Đức Kitô, thì anh em hãy kiếm những sự cao siêu trên trời, nơi Đức Kitô, đang ngự bên hữu Thiên Chúa. - Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 6, 1-15
"Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi sang bên kia biển Galilêa, cũng gọi là Tibêria. Có đám đông dân chúng theo Người, vì họ đã thấy những phép lạ Người làm cho những kẻ bệnh tật. Chúa Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái đã gần tới. Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đám rất đông dân chúng đến với Người. Người hỏi Philipphê: "Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?" Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm. Philipphê thưa: "Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút".

Một trong những môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: "Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người". Chúa Giêsu nói: "Cứ bảo người ta ngồi xuống". Nơi đó có nhiều cỏ, người ta ngồi xuống, số đàn ông độ năm ngàn. Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích. Khi họ đã no nê, Người bảo các môn đệ: "Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi". Họ thu lại mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư.

Thấy phép lạ Chúa Giêsu đã làm, người ta đều nói rằng: "Thật ông này là Đấng Tiên tri phải đến trong thế gian". Vì Chúa Giêsu biết rằng người ta sẽ đến bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình. Đó là lời Chúa.
(thanhlinh.net)

Suy niệm : Ăn bao nhiêu tùy ý
Có người coi tôn giáo như một thứ duy tâm, duy linh,
chỉ để ý đến chuyện linh hồn, chuyện đời  sau,
mà hững hờ với cái đói cái no của thân xác, với chuyện áo cơm thường nhật.
Kitô giáo hẳn không phải là thế.
Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã khai mở Nước Thiên Chúa trên trần gian
không phải chỉ bằng việc rao giảng như một thầy dạy,
mà còn bằng việc chữa bệnh thân xác như một thầy thuốc.
Ơn cứu độ do Ngài mang lại có tính toàn diện, cả xác lẫn hồn,
và ơn cứu độ ấy đã bắt đầu ngay từ đời này rồi.
Trong Mùa Phục sinh, Giáo hội cho ta nghe đọc chương 6 của Tin Mừng Gioan,
bởi lẽ chương này nói về Đức Giêsu là Bánh hằng sống, Bánh ban sự sống.
Chương này khởi đầu bằng phép lạ hóa bánh ra nhiều.
Phép lạ diễn ra ở bên kia hồ Galilê, vào mùa xuân, cỏ mọc xanh mướt.
Đám đông đến với Đức Giêsu đang ở trên núi với các môn đệ.
Tất cả bắt đầu bằng câu hỏi bất ngờ của Thầy Giêsu :
“Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?”
Các câu trả lời của hai ông Philípphê và Anrê thật đáng thất vọng.
Hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ mỗi người một chút (c. 7).
Năm cái bánh lúa mạch và hai con cá khô thì thấm vào đâu (c. 9).
Nhưng Đức Giêsu lại cần năm cái bánh và hai con cá đó.
Ngài đón nhận sự đóng góp của con người, dù là rất nhỏ mọn.
Nhỏ mọn nhưng là tất cả những gì tìm được ở chốn hoang vu này.
Không có sự đóng góp của một em bé, không chắc phép lạ đã xảy ra.
Khi mọi người đã ngồi xuống trên cỏ theo lệnh các tông đồ,
Đức Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn và phân phát cho họ.
Chắc các tông đồ đã giúp Ngài phân phát đến tay dân.
Chính khi bẻ ra để phân phát thì bánh và cá hóa nhiều.
Chúng ta không hiểu được điều gì đang diễn ra.
Mầu nhiệm chia sẻ vẫn làm chúng ta ngỡ ngàng, sửng sốt.
Chia sẻ là biến điều ít ỏi ta đang có trở thành kho báu vô tận cho mọi người.
Chia sẻ làm chúng ta chẳng vơi đi, nhưng còn mãi.
Hơn năm ngàn con người đã được ăn tùy ý, được no nê, được dư thừa.
Gần một tỷ con người sống trên trái đất hôm nay cũng mong được như vậy.
Đức Thánh Cha coi việc liên đới chia sẻ
như một cách thức để thoát ra khỏi nạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Ước gì việc chúng ta chia sẻ Tấm Bánh thánh trong nhà thờ
giúp chúng ta tiếp tục chia sẻ những tấm bánh vật chất ngoài cuộc sống.
LỜI NGUYỆN
Lạy Chúa, đây là ước mơ của con về thế giới :
Con mơ ước tài nguyên của cả trái đất này
là thuộc về mọi người, mọi dân tộc.
Con mơ ước
không còn những La-da-rô đói ngồi ngoài cổng,
bên trong là người giàu yến tiệc linh đình.
Con mơ ước mọi người đều có việc làm tốt đẹp,
không còn những cô gái đứng đường
hay những người ăn xin.
Con mơ ước
những ngưòi thợ được hưởng lương xứng đáng,
các ông chủ coi công nhân như anh em.
Con mơ ước
tiếng cười trẻ thơ đầy ắp các gia đình,
các công viên và bãi biển đầy người đi nghỉ.
Lạy Chúa của con,
con ước mơ một thế giới đầy màu xanh,
xanh của rừng, xanh của trời, xanh của biển,
và xanh của bao niềm hy vọng
nơi lòng những ai ham sống và ham dựng xây.
Nếu Chúa đã gieo vào lòng con những ước mơ,
thì xin giúp con thực hiện những ước mơ đó.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.


Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Sáu Tuần II PS
Bài đọc: Acts 5:34-42; Jn 6:1-15.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Nếu quả thật là việc do Thiên Chúa, quý vị không thể nào phá huỷ được.
Thời gian là một trong những yếu tố quan trọng để xác định điều gì là thật. Một vài ví dụ sẽ chứng tỏ điều này: cần thời gian để biết chiếc đồng hồ đeo tay làm ở Thụy-sĩ hay ở Trung-hoa;
cần thời gian để biết đâu là tình yêu chân thật và tình yêu qua đường; cần thời gian để biết đạo nào là đạo thật. Thông thường, khi muốn dẹp loạn, người ta chỉ cần giết người cầm đầu, như Chúa Giêsu cũng đã nhận định: “Họ sẽ đánh chủ chăn và đàn chiên sẽ tan tác.” Nhưng đã hơn 2,000 năm qua, mặc dù người ta đã giết Đức Kitô; nhưng đàn chiên của Kitô giáo đã không tan tác, mà còn phát triển thêm dân số mỗi ngày. Sự hiện hữu của Kitô Giáo cho đến ngày nay là một bằng chứng hùng hồn nữa cho sự phục sinh của Đức Kitô: Ngài vẫn đang hoạt động trong Giáo Hội.
Các Bài Đọc hôm nay muốn chứng minh uy quyền của Thiên Chúa: khi Ngài muốn, Ngài sẽ hoàn thành; không một khó khăn hay quyền lực nào có thể ngăn cản ý định của Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, kinh-sư Gamaliel đề nghị Thượng Hội Đồng hãy cẩn thận trong việc bắt bớ các môn đệ của Thiên Chúa. Theo kinh nghiệm của ông, hãy cứ để cho thời gian gạn lọc: nếu đó không phải là việc của Thiên Chúa, sớm muộn gì rồi điều đó cũng tan; nhưng nếu việc đó do ý định của Thiên Chúa, quý vị không thể nào phá huỷ được. Trong Phúc Âm, khi Chúa Giêsu muốn nuôi dân, Ngài tìm cách cho dân có của ăn, mặc dù các tông đồ đưa ra những khó khăn. Khi Ngài không muốn dân chúng tôn làm vua, Ngài đi lên núi một mình.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Hãy để cho thời gian gạn lọc sự sai trái.
1.1/ Thái độ khôn ngoan của ông Gamaliel: Ông là một người Pharisee được toàn dân kính trọng và là Thầy của thánh Phaolô trước khi trở lại (Acts 22:3). Ông truyền đưa các Tông-đồ ra ngoài một lát, và ông trình bày ý kiến với Thượng Hội Đồng: "Thưa quý vị là người Israel, xin quý vị coi chừng điều quý vị sắp làm cho những người này: Thời gian trước đây, có Theudas nổi lên, xưng mình là một nhân vật quan trọng và kết nạp được khoảng bốn trăm người; ông ta đã bị giết, và mọi kẻ theo ông cũng tan rã, không còn gì hết. Sau ông, có Judah người Galilee nổi lên vào thời kiểm tra dân số, và lôi cuốn dân đi với mình; cả ông này cũng bị diệt, và tất cả những người theo ông ta đều bị tan tác. Vậy giờ đây, tôi xin nói với quý vị: hãy để mặc những người này. Cứ cho họ về, vì nếu ý định hay công việc này là do người phàm, tất sẽ bị phá huỷ; còn nếu quả thật là do Thiên Chúa, thì quý vị không thể nào phá huỷ được; không khéo quý vị lại thành những kẻ chống Thiên Chúa." Họ tán thành ý kiến của ông vì đây là một ý kiến khôn ngoan dựa trên kinh nghiệm và lịch sử.
1.2/ Các Tông-đồ tiếp tục làm chứng cho Chúa Giêsu: Tuy đã tán thành ý kiến của ông Gamaliel, Thượng Hội Đồng vẫn dùng sức mạnh để dọa nạt các Tông-đồ. Họ cho gọi các ông lại mà đánh đòn và cấm các ông không được nói đến danh Đức Giêsu, rồi thả các ông ra.
Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu. Mỗi ngày, trong Đền Thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô.
2/ Phúc Âm: “Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi.”
2.1/ Chúa Giêsu muốn nuôi ăn dân chúng: Đức Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lúc ấy, sắp đến Lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái. Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Philíp: "Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?"
(1) Các môn đệ muốn Chúa thay đổi ý định: Có lẽ các ông quan niệm Chúa Giêsu cũng giống như một Rabbi, chỉ có bổn phận lo dạy dỗ và cắt nghĩa Lề Luật cho dân chúng, chứ không có bổn phận phải cho dân chúng ăn.
- Ông Philíp nại lý do không có tiền: "Thưa Thầy, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút."
- Ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, nại lý do không đủ thực phẩm: "Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!"
(2) Chúa Giêsu biết những gì Ngài sắp làm: Tuy gặp sự can ngăn của các Tông-đồ và nỗi khó khăn phải tìm lương thực trong nơi hoang dã, Chúa Giêsu vẫn bảo các ông: "Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi." Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. Ngài dùng uy quyền làm bánh hóa ra nhiều: “Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý.”
Khi họ đã ăn no nê rồi, Người bảo các môn đệ: "Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi." Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng.
Đây là hình ảnh của Bí-tích Thánh Thể trong Tin Mừng Gioan, tuy Gioan không tường thuật sự kiện Chúa Giêsu lập BT Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly, nhưng Gioan dùng công thức truyền phép và diễn từ về sự quan trọng của Bí-tích này trong Chương 6. Chúa Giêsu muốn lập Bí-tích Thánh Thể để ở lại và cho dân chúng ăn Ngài mỗi ngày. Giống như thái độ của các Tông-đồ, con người ở mọi thời tiếp tục cho đây là điều không thể, hay chỉ là biểu tượng …, và nghi ngờ sự hiện diện đích thực của Chúa trong Bí-tích. Họ quên đi rằng: chẳng có gì là không thể đối với Thiên Chúa; một khi Ngài muốn, Ngài sẽ có cách để thực hiện.
2.2/ Dân chúng muốn tôn Chúa Giêsu làm vua: Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giêsu làm, họ nói: "Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!" Lý do họ muốn tôn Ngài làm vua là để Ngài lo cho họ có bánh ăn; nhưng Chúa Giêsu muốn họ phải làm mới có bánh ăn. Khi Ngài cho họ ăn, Ngài không chỉ nuôi dưỡng phần xác; nhưng còn tăng nghị lực cho phần hồn của họ, để họ có sức mạnh vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Khi Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, Người lánh mặt và đi lên núi một mình. Ngài không muốn làm vua họ như một ông vua thế gian vì họ đã có rồi; Ngài chỉ muốn làm vua trong tâm hồn của họ và trên Nước Trời.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Khi làm việc tông đồ mà gặp khó khăn, chúng ta cần tin tưởng: “Nếu quả thật là việc do Thiên Chúa, không ai có thể phá huỷ được.” Nói cách khác: nếu là việc Thiên Chúa muốn, Ngài sẽ làm cho thành; nếu không phải là việc Thiên Chúa muốn, hãy để chúng tiêu tan, đừng quá bận tâm lo lắng. Không ai có thể chống lại ý Thiên Chúa muốn.
- Chúng ta cần để cho thời gian gạn lọc sự giả tạo và sai trá trong cuộc đời. Đừng vội chạy theo những giáo lý mới hay những trào lưu mới, mà gạt bỏ những giá trị nền tảng của đạo và những truyền thống tốt đẹp của Giáo Hội, của quê hương, hay của gia đình.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP


HẠT GIỐNG NẨY MẦM TUẦN 2 PHỤC SINH


Từ Tuần 2 Phục sinh đến hết Mùa Phục sinh, tất cả các bài Tin Mừng ngày trong tuần đều được chọn từ Tin Mừng theo thánh Gioan. Đây là những bài giáo lý dạy cho người tân tòng (vừa mới được Rửa Tội trong Lễ Vọng Phục sinh) nhằm giúp họ hiểu sâu hơn về các Bí tích căn bản trong đời sống kitô hữu : Bí tích Rửa Tội, Bí tích Thánh Thể, cuộc sống mới trong Chúa Giêsu Kitô v.v. Việc suy gẫm những đoạn Tin Mừng này có thể giúp chúng ta làm mới lại cuộc sống kitô hữu của mình.
Ga 6,1-15

A. Hạt giống...
Từ hôm nay sáng bài giáo lý thứ hai về Bí tích Thánh Thể, dựa trên đơn vị Phép lạ hóa bánh ra nhiều.
Đoạn Tin Mừng hôm nay tường thuật phép lạ ấy. Phép lạ này được cả 4 quyển Tin Mừng tường thuật. Nhưng bài tường thuật của Ga có những chi tiết riêng biệt như sau :
- Xác định rõ nơi xảy ra là phía đông hồ Galilê, tức là vùng đất của lương dân. Tại vùng đất này mà "dân chúng theo Ngài đông lắm", chứng tỏ lúc này uy tín và ảnh hưởng của Chúa Giêsu đang lên cao.
- Nhưng Ga còn ghi thêm "vì thấy các dấu lạ Ngài làm", chứng tỏ dân theo Ngài vì lòng vụ lợi chứ không phải do đức tin thật.
- Trong các Tin Mừng nhất lãm, các môn đệ nói cho Chúa Giêsu biết dân chúng đói bụng. Còn trong Ga, chính Chúa Giêsu hỏi các môn đệ làm sao có bánh cho dân ăn.
- Trong nhất lãm, Chúa Giêsu bảo các môn đệ phân phát bánh và cá cho dân. Còn trong Ga, chính Chúa Giêsu phân phát.
- Khác biệt quan trọng nhất là Ga coi phép lạ này là dấu chỉ giúp người ta hiểu về mầu nhiệm bản thân Chúa Giêsu : Ngài chính là Bánh nuôi dưỡng sự sống trường sinh.

B.... nẩy mầm.
1. "Philípphê thưa : hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút" : trước sứ mạng Chúa giao, ai cũng thấy rằng mình không đủ khả năng. Không bao giờ chúng ta ngang tầm để có thể đáp ứng ý muốn của Chúa. Nhưng, cũng như Philipphê và các môn đệ xưa, chúng ta cứ bắt đầu, rồi Chúa sẽ tiếp tay cho đến hoàn thành. Thực ra, Chúa không đòi ta làm điều ta không thể, Ngài chỉ muốn chúng ta để Ngài hành động trong và qua chúng ta.
2. Đám đông dân chúng ngày nay vẫn còn đói khát : đói khát lương thực, đói khát áo quần, đói khát thuốc men, và sâu xa hơn, họ còn đói khát lẽ sống, đói khát khác chính sự sống thật mà chỉ có Chúa mới ban cho được.
3. Một lời cầu nguyện :
Lạy Chúa, trong tay chúng con, Chúa là bánh
Trong tay chúng con, Chúa là sự sống.
Xin hãy mở rộng tay chúng con, để ban bánh cho người khác
Xin hãy mở rộng tay chúng con, để ban sự sống cho người khác
4. "Ở đây có một em bé có 5 chiếc bánh và hai con cá, nhưng với bằng ấy người thì thấm vào đâu"
Hồi nhỏ, mỗi khi nghe đoạn Tin Mừng này tôi thường tự hỏi : nếu em bé kia cứ khư khư giữ lấy phần thức ăn ít ỏi của mình thì chuyện gì sẽ xảy ra ? Chợt tôi nghe như có tiếng đáp lại : "Điều ta muốn là tấm lòng quảng đại của con :.
Từ đó trở đi tôi mới thực sự cảm nhận được rằng : nếu tôi trao ban mà còn so đo tính toán thiệt hơn, nếu tôi không  trao ban với tất cả tấm lòng quảng đại của mình, thì hành vi kia thật là vô nghĩa.
Em bé trong Tin Mừng Luca hôm nay lại một lần nữa nhắc nhở tôi nhìn lại bản thân và cách trao ban cho người anh em khác.
Lạy Chúa, xin dạy con biết sống quảng đại. (Epphata)
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI – Gp. Cần Thơ

02/05/14 THỨ SÁU ĐẦU THÁNG TUẦN 2 PS
Th. A-tha-na-xi-ô, giám mục, tiến sĩ HT
Ga 6,1-15

DẤU CHỈ NHẬN RA NGƯỜI
“Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó.” (Ga 6,11)
Suy niệm: Cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát” là hành động rất quen thuộc của Chúa Giê-su. Các Phúc Âm kể lại ít nhất năm lần Ngài thực hiện cử chỉ này: hai lần hoá bánh ra nhiều (Mc 6,32-44; 8,1-10); trong Bữa Tiệc Ly (Lc 22,19-20); hai lần sau Phục sinh (Lc 24,13-35;Ga 21,1-14). Ai ăn bánh đều phải cầm lấy bánh; nhưng Đức Giê-su cầm lấy bánh là để “dâng lời tạ ơn rồi phân phát”. Chính hành động này đã làm nên sự khác biệt giữa Chúa Giê-su và mọi người. Chứng kiến việc “Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát”, dân chúng phải thừa nhận “Hẳn ông này là vị ngôn sứ phải đến thế gian” (c.14). Tuy họ hiểu sai về ý nghĩa ngôn sứ nơi Đức Giê-su (nên Ngài đã lánh đi), để rồi mãi về sau, ý nghĩa trọn vẹn mới được mạc khải qua việc Ngài tự hiến để trở thành Tấm Bánh bẻ ra trao cho mọi người: “Ngài cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: ‘Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em’” (Lc 22,19).
Mời Bạn: Hành động bẻ bánh của Chúa Giê-su là dấu chỉ để các môn đệ nhận ra Chúa Phục sinh. Và hằng ngày Bánh vẫn tiếp tục được bẻ ra và trao cho chúng ta trong mỗi Thánh lễ. Hãy khám phá nét đặc trưng này để nhận ra ý nghĩa trọn vẹn của việc Bẻ Bánh.
Chia sẻ về những lần rước lễ mà bạn cảm thấy xúc động nhất.
Sống Lời Chúa: Đặt Thánh lễ làm trung tâm và chóp đỉnh đời sống tôi.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su là Tấm Bánh chấp nhận bị bẻ ra để trao ban, hầu giúp chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho con đừng thờ ơ với nghĩa cử cao đẹp này của Chúa. Amen.


Suy niệm

Đức Giêsu đã làm phép lạ bánh hóa nhiều để nuôi đám đông, cho thấy Ngài quan tâm đến nhu cầu của thân xác của con người. Nhưng Ngài không dừng lại ở việc thỏa mãn nhu cầu cơ bản là “đói cho ăn, khát cho uống”. Cơm bánh chỉ là thứ lương thực mau qua dành cho thân xác, chứ không phải là thứ lương thực đem lại sự sống đời đời. Do đó Ngài muốn ban cho con người thứ lương thực trường tồn đem lại sự sống vĩnh cửu.
Để có được của ăn mau qua, nuôi dưỡng thân xác, con người phải ra công làm việc vất v “đổ mồ hôi sôi nước mắt ”, cũng như biết nhường cơm xẻ áo cho nhau.
 Để có của ăn vĩnh cửu, nuôi dưỡng tinh thần và tâm linh, con người chỉ cần làm hai việc: Đến với Chúa Giêsu và Tin vào Ngài.
Cái đói của thân xác không cồn cào bằng cái đói tinh thần.
Con người đói công bằng và hạnh phúc, đói yêu thương và kính trọng.
Con người khát niềm vui và bình an, cảm thông và sự thật.
Trong nơi sâu thẳm, con người đói khát Ai đó để mình yêu mến tôn thờ.
Đức Giêsu mời ta hãy tin vào Ngài là Đấng được Thiên Chúa sai đến.
Hãy đến với Giêsu để bắt đầu được nếm thử tấm bánh của Ngài, vì chính Ngài là Tình yêu, Sự thật và Bình an.
Xin cho chúng ta biết siêng năng đến với Chúa Giêsu với niềm tin yêu, để chúng ta được chính Chúa nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Bánh Thánh, là thứ lương thực không hư nát và đem lại sự sống đời đời cho chúng ta.



Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
2 THÁNG NĂM
Viên Đá Góc
Đức Kitô là viên đá góc: “Người là viên đá mà quí vị là thợ xây loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường” (Cv 4, 11). Những người không đón nhận lời chứng của Tin Mừng và xử tử Đức Kitô trên Thập Giá là những người đã loại bỏ viên đá này. Những người cố sức tổ chức thế giới và đời sống xã hội không cần đến Đức Kitô và chống lại Người, chẳng phải họ đang loại bỏ Người một lần nữa đó sao? Thế nhưng, viên đá bị loại bỏ – và bị loại bỏ quá nhiều lần này – chính là viên đá góc.
Công trình cứu độ con người chỉ có thể đứng được trên nền móng duy nhất là Đức Kitô. Chỉ nơi Người mới có nền tảng vững chắc để xây dựng trật tự và hòa bình đích thực giữa con người với con người. Chỉ nhờ Người, chúng ta mới có thể được đổi mới tâm linh và triển nở đến mức sung mãn theo sự tiền định từ đời đời dành sẵn cho mình. Chỉ qua Người, thế giới con người chúng ta mới có thể trở thành ‘người’ đích thực hơn.
- suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II -
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II


Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 02-5
THÁNH ATHANASIÔ, GIÁM MỤC, TIẾN SĨ HỘI THÁNH
Cv 5, 34-42; Ga 6, 1-15.

LỜI SUY NIỆM“Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian! Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.”
Sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ bánh hóa nên nhiều, nuôi dân ăn một cách no nê, mà vẫn còn dư thừa. Qua dấu lạ này Chúa Giêsu biết lòng dân chúng đã muôn tôn Chúa lên làm vua; nhưng Chúa thấy là chưa đúng lúc, và cũng chưa hiểu được sứ vụ Vua của Chúa, Nên Chúa lánh mặt lên núi một mình, để đón nhận thánh ý Chúa Cha.
Lạy Chúa Giêsu. Thói thường của người đời, sau mỗi thành công của mình, thường muốn lưu lại tại nơi chốn ấy để hãnh diện với những lời khen chúc tụng của những người đã chứng kiến. Xin Chúa cho mọi thành viên trong gia đình chúng con sau mỗi thành công cũng như thất bại đều biết đến với Chúa, để tạ ơn và xin ơn, để tiếp tục sống là người con thảo của Chúa.
Mạnh Phương


Gương Thánh Nhân
Ngày 02-05: Thánh ATHANASIÔ
Giám mục Tiến Sĩ Hội Thánh (295 - 373)

Thánh Athanasiô sinh khoảng năm 295 có lẽ tại Alexandria. Gia đình Ngài rõ ràng là khá giả vì sau này Ngài có dịp trốn ở phần mộ của gia đình, Ngài đã theo môn cổ học và sau này thường trích dẫn các tác giả cổ. Có lẽ Ngài cùng theo học tại một trường Giáo lý ở Caêsarêa nên tư tưởng của Ngài thấm nhuần Kinh thánh, cả những chú giải Kinh thánh và cũng theo truyền thống các giáo phụ nữa.
Vào khoảng 25 tuổi Athanasiô đã có một thời sống với thánh Antôn ẩn tu. Bốn mươi năm sau, Ngài đã mời thánh An tôn ẩn tu về Alexandria để góp phần bảo vệ đức tin. Khi qua đời thánh ẩn tu đã nhường lại cho Athanasiô cái áo choàng Ngài vẫn dùng đắp mình khi ngủ và tấm da chiên để dùng sưởi ấm lúc tuổi già. Những năm chung sống nơi sa mạc với vị thánh ẩn tu này đã tạo nên nét thánh thiện và nhân cách của Athanasiô.
Vào năm 320, Athanasiô mới bắt đầu góp phần vào lịch sử. Khi ấy Đức Cha Alexander Giám mục Alexandria cảm phục và triều vời Athanasiô từ sa mạc về, đặt làm phó tế. Khi ấy Ariô là cha sở Boucalis. Ong ta là một nhà giảng thuyết danh tiếng, có một cuộc sống khắc khổ và hướng dẫn các trinh nữ hiến mình cho Thiên Chúa. Ariô đã sáng nghĩ và rao giảng những ý tưởng lầm lạc cho rằng: "Ngôi Lời Thiên Chúa không có từ đời đời, không cùng bản tính với Chúa Cha mà chỉ là một thụ tạo được mang danh hiệu Con Thiên Chúa". Athanasiô đã bảo bỏ những sai lầm này. Bút pháp và nội dung của bức thông điệp Đức Giám mục Alexander ban hành năm 322 cho thấy tác giả chính là Athanasiô.
Tại công đồng Nicea, thánh Athanassiô tháp tùng Đức Giám mục Alaxander và đã góp phần vào bản văn chung quyết của cộng đồng, trong đó định tín rằng: Chúa Con đồng bản tính với Chúa Cha. Ngài đã trở thành mục tiêu cho bọn lạc giáo ghen ghét.
Mùa hạ năm 328, Đức Giám mục Alexander qua đời và đặt Athanasiô lên kế vị. Nhận thấy mình bất xứng, Athanasiô đã bỏ trốn, nhưng rồi bị ép buộc lãnh nhận trách nhiệm. Ngài đã tỏ ra có nhân cách khôn sánh, có ý chí bất khuất và rất thông minh. Rảo quanh khắp giáo phận rộng lớn, Ngài gặp thánh Dachômiô từ trong sa mạc, là Đấng đã nghe Chúa nói với mình rằng: - Ta đã đặt Athanasiô làm cột trụ Giáo hội, nhưng Ngài sẽ bị đau khổ nhiều.
Nhưng Athanasiô không sợ đau khổ. Nhiều lần Ngài đã bị trục xuất khỏi giáo phận. Trước hết, dưới ảnh hửơng của những người theo phái Ariô, năm 335 thánh Athanasiô bị vua Constantinô đầy đi Trier ở biên thùy nước Đức. Tại đây Ngài trước tác một số tác phẩm nay vẫn còn danh tiếng.
Nhưng rồi nămsau. Ariô chết cách khốn khổ. Vua Constantinô cho thánh nhân được trở về giáo phận, Ngài chỉ trở lại hai năm sau tức năm 337 khi thấy nhà vua mới Constance ngả về phía lạc giáo. Cuộc trở về của thánh nhân diễn ra như một cuộc khải hoàn. Tuy nhiên từ năm 337 đến năm 366, cuộc đời Ngài là một cuộc chiến đấu liên tục với nhóm người ngả theo Ariô có, bảo thủ có, buông thả để an phận có. Chính hoàng đế cũng muốn can thiệp để sửa đổi giáo thuyết Hội Thánh khiến các thù dịch tỏ ra độc ác và tìm cách tiêu diệt vị giám mục. Lần kia đang lúc thánh Athanasiô dâng lễ, bọn lính xâm nhập thánh đường. Thánh nhân trốn thoát được và ẩn mình trong sa mạc. Sợ những người chứa chấp bị liên lụy Ngài ẩn mình trong một hang đá. Và không ngừng trung thành với đức tin chân chính.
Hoàng đế Constance qua đời, Juliano người sẽ mang biệt danh là kẻ bội giáo, lên kế vị và cho phép những kẻ lưu đày trở về. Đức Giám mục Athanasiô trở lại giáo phận và thiết lập trật tự trong giáo đoàn cũng như lo truyền bá đức tin sang Ethiopie và Ả Rập.
Ngài chống lại các mê tín dị đoan khiến các lương dân tức giận. Họ quyết sát hại thánh nhân. Lần này, Ngài lại phải chạy trốn theo lệnh của nhà vua, bội giáo chèo thuyền dọc sông Nil, Ngài bị quân lính đuổi theo sát nút. Nguy ngập Ngài quay thuyền lại để gặp họ. Bọn lính hung hăng hỏi thăm xem còn cách vị giám mục bao xa. Ngài trả lời : - Chèo mạnh lên, ông không ở xa đâu.
Bọn lính vội vã làm theo và thánh nhân thoát nạn, Ngài lang thang đây đó cho tới khi Vua Julianô qua đời, vào năm sau. Jovianô, vị tân hoàng đế rất kính phục đức giám mục và thích đàm luận với Ngài. Nhưng triều đại của ông lại quá vắn vỏi. Khi Valens lên nắm quyền cai trị, lại một cuộc bách hại mới mở ra. Một lần nữa thánh Athanasiô lại phải trốn đi. Trong bốn tháng liền, Ngài ẩn mình trong phần mộ của gia đình.
Sau cùng Valens vì hiểu được lòng kính phục của dân Ai cập đối với vị giám mục của họ, và không muốn xa rời dân chúng nên chịu cho Ngài trở về. Những năm cuối đời, thánh nhân được sống trong yên ổn phần nào, bởi vì lúc ấy cuộc tranh chấp thực sự chưa ngã ngũ, Ngài qua đời ngày 02 tháng 5 năm 373. Phải đợi năm năm sau, cuộc tranh luận của cộng đồng Nicêa mới toàn thắng với cái chết của Valens.
Thánh Athanasiô đã viết những tác phẩm vĩ đại nhất trong 30 năm xáo trộn. Cuốn Uncarnatione Verbi hoàn thành năm 337, cuốn Virginitate và Orationes khoảng năm 357, cuốn Contra Arianô có thể sau năm 362. Ngài đã viết rất nhiều và mọi tư tưởng Ngài cũng như cuộc sống Ngài tập trung vào hai ý niệm: Chúa Con là sự bày tỏ của Chúa Cha, và Giáo hội là sự bày tỏ của Chúa Con. Giáo hội Tây phương kính nhớ Ngài như thánh tiến sĩ Chúa Ba Ngôi, nhưng trước hết, Ngài là Thánh Tiến sĩ về mầu nhiệm nhập thể và về Ơn thánh .
(daminhvn.net)


02 Tháng Năm

Ðức Mẹ Guadalupe
Dạo tháng 5/1990, Ðức Gioan Phaolô II đã tôn phong chân phước cho một người thổ dân Mehico tên là Juan Diego, người được Ðức mẹ hiện ra tại Guadalupe...
Juan Diego là một người thổ dân nghèo sống với người cậu tại làng Telpetlao thuộc ngoại ô thủ đô Mehico vào khoảng thế kỷ 16. Một buổi sáng thứ bảy nọ, trên đường đi đến thánh đường để dự thánh lễ, Juan Diego bỗng nghe có tiếng hát du dương từ trên một ngọn đồi. Anh tiến lại gần và thấy một thiếu nữ xinh đẹp tự xưng là Trinh Nữ Maria. Ðức Mẹ nói với người thổ dân nghèo như sau: "Ta muốn có một đền thờ được dựng lên tại đây để Ta dùng tình thương, niềm cảm thông, sự giúp đỡ và bảo vệ của Ta mà bày tỏ Thiên Chúa cho loài người. Con hãy đi gặp vị giám mục Mehico và nói với Ngài rằng Ta sai con đến gặp Ngài để bày tỏ ý muốn của Ta. Con hãy tin tưởng rằng Ta sẽ biết ơn con và ân thưởng cho con. Ta sẽ làm cho con được giàu có và tôn vinh con".
Juan đến gặp vị giám mục, nhưng anh ta buồn bã trở về làng, vì giám mục không tin lời của anh. Ðức mẹ lại hiện ra cho anh một lần nữa và cũng sai anh mang một sứ điệp như thế đến cho vị giám mục. Nhưng lần thứ hai, dù cho anh có van nài khóc lóc, vị giám mục vẫn một mực không tin. Vị giám mục nói với người thổ dân nghèo rằng: "Nếu Ðức Mẹ thực sự muốn điều đó thì xin Ngài hãybày tỏ một dấu lạ". Và ngài bí mật cho người theo dõi. Lần thứ ba, Ðức Mẹ lại hiện ra cho Juan Diego, nhưng Ngài bảo anh: "Hãy trở lại vào ngày mai và Ngài sẽ cho vị giám mục một dấu lạ".
Ngày hôm sau, Juan Diego không thể đến điểm hẹn với Ðức Mẹ được vì anh còn phải đi tìm thầy thuốc cho người cậu đang mắc bệnh. Nhưng khi đi qua ngọn đồi, Juan vẫn được Ðức Mẹ hiện ra. Ngài bảo đảm với anh rằng người cậu của anh sẽ được lành bệnh và thay vì để Juan tiếp tục lên đường đi Mehico để tìm thầy thuốc, Ðức Mẹ đã sai anh đến nơi Ngài hiện ra cho anh lần đầu tiên. Tại đây, Ngài sẽ cho anh những cánh hoa thật đẹp và dấu lạ để mang đến cho vị giám mục... Lúc bấy giờ đang là mùa đông và ngọn đồi nơi Juan được Ðức Mẹ hiện ra thường chỉ có những cây cỏ của sa mạc như các loại gai và xương rồng. Thế nhưng, hôm đó, hoa bỗng nở rộ trong sa mạc. Juan hái lấy dâng cho Ðức Mẹ, Ðức Mẹ sờ đến những cánh hoa và bảo anh lấy chiếc áo choàng để đựng hoa mang đến cho vị giám mục...
Khi Juan vừa mở chiếc áo choàng ra để lấy hoa cho vị giám mục xem thì lạ lùng thay, hình ảnh Ðức Mẹ đã được in trên chiếc áo của anh... Tin ở lời Ðức Mẹ, vị giám mục đã tức tốc lên đường đến làng Ðức Mẹ đã hiện ra cho anh Juan. Ngài nhận thấy người cậu của anh đã được lành bệnh. Các cuộc lành bệnh lạ lùng đã diễn ra từ đó... Một đền thánh dâng kính Ðức Mẹ đã được xây cất để rồi cuối cùng trở thành Vương cung thánh đường Guadalupe như chúng ta vẫn quen gọi.
Trong thánh lễ tôn phong chân phước cho Juan Diego tại đền thánh Guadalupe ngay buổi chiều chủ nhật khi vừa đến Mehico, Ðức Gioan Phaolô II đã kêu gọi người dân Mehico hâm nóng lại tinh thần truyền giáo. Truyền giáo theo đúng nghĩa là được sai đi để mang sứ điệp đến cho người khác. Cũng giống như tất cả những ai được diễm phúc gặp Ðức Mẹ, chân phước Juan Diego đã được sai đi... Phải vất vả nhiều lần và dĩ nhiên, với sự giúp đỡ của Ðức mẹ, Juan Diego mới có thể thuyết phục được vị giám mục...
Người Kitô, từ bản chất là người được sai đi và sứ điệp của họ chính là sứ điệp của yêu thương... Cùng với những cánh hoa dâng tiến Mẹ trong tháng Năm này, chúng ta được mời gọi để mang những cánh hoa yêu thương đến cho mọi người. Tình thương, sự giúp đỡ của Mẹ dành cho chúng ta cũng phải được chúng ta diễn đạt, cao rao qua cuộc sống dạt dào Tình Mến đối với mọi người.
(Lẽ Sống)


Làm chứng cho Chúa

Làm chứng cho Chúa

Các bạn trẻ thân mến,
Đang khi các tông đồ đang lẫn trốn trong một căn phòng kín vì sợ người Do Thái, Đức Giêsu đã hiện ra vào trao bao cho các ông bình an. Các ông vừa mừng vừa sợ, không biết những gì đang xảy ra trước mắt mình đây là thực hay mơ. Để chứng minh cho các ông thấy mình đã sống lại, Đức Giêsu cho các ông xem tay và cạnh sườn của Người. Thấy các ông vẫn chưa tin, Người còn xin các ông chút bánh và cá, rồi ăn trước mặt các ông. Sự xuất hiện lần đầu tiên của Đức Giêsu với các ông ví tựa như ngọn gió mát thổi tan đi những bức bối và buồn phiền trong các ông. Tưởng là tương lai đã khép lối, ai ngờ Chúa đến và mở toang một con đường. Vậy là hy vọng vẫn còn chút le lói. Cuộc sống chưa đến nỗi phải nếm trải đường cùng.
Tiếc là trong buổi hiện ra ấy, ông Tôma không có mặt. Khi ông trở về thì Giêsu đã biến mất rồi. Các tông đồ khác thi nhau kể cho ông nghe về Thầy Giêsu, rằng Người vẫn còn sống, rằng Người vẫn bình an, Người đã cho họ xem những vết thương, thậm chí đã ăn uống cùng với họ. Nhưng ông Tôma nhất quyết không tin. Ông đòi phải có bằng chứng cụ thể mà chính ông là người kiểm chứng. Các tông đồ khác cũng không thể làm được gì hơn. Tám ngày sau, Tôma vẫn chưa tin những gì các tông đồ khác nói với ông. Thầy Giêsu lại hiện đến, thỏa mãn những đòi hỏi của Tôma. Lúc đó, không mới tuyên xưng niềm tin của mình.
Các bạn trẻ thân mến,
Không biết có bao giờ các bạn thắc mắc là tại sao Giêsu không hiện ra ngay để chứng thực với Tôma, khiến ông phải bẽ bàng trước các tông đồ, nhưng lại đợi đến tám ngày sau? Hay tại sao Giêsu không hiện ra trước tiên với các môn đệ ngay khi sống lại, mà lại hiện ra với bà Maria Madalena rồi nhờ bà chuyển lời đến các ông? Hay tại sao Ngài lại không tỏ lộ cho những môn đệ thân tín trước, mà lại tỏ mình ra cho hai môn đệ vô danh khi hai người này buồn bã cất bước về quê? Hay tại sao khi Ngài trỗi dậy, Ngài không tiếp tục dong duổi khắp nơi, rao giảng tin vui, làm các phép lạ như trước để biểu uy quyền năng của Người? Hẳn là nếu Ngài làm như vậy, số người theo Chúa sẽ tăng vọt lên và đám cường quyền sẽ chẳng dám làm khó dễ với Ngài nữa. Giêsu đã không chọn lối hành xử nào trong số các cách vừa nói. Điều Ngài muốn là: chính anh em hãy làm chứng cho Thầy.
Có thể Chúa muốn dùng khoảng thời gian tám ngày để những vị tông đồ đã thấy Chúa làm chứng cho Tôma về sự phục sinh của Chúa bằng chính lối sống của mình. Tiếc là sau khi đã biết là Chúa phục sinh từ cõi chết, các ông vẫn cứ u buồn, cứ thất vọng, cứ lo lắng và giam mình trong căn phòng tối, làm sao Tôma có thể tin là các ông đã thấy Chúa. Một người khi gặp được Chúa sẽ ngay lập tức biến đổi cuôc đời mình, sẽ không còn mang trong những điều tiêu cực nhưng sẽ sống một lối sống mới đầy can đảm và nhiệt thành hơn. Một đời sống ủ rũ không thể là một đời sống có Chúa Phục Sinh trong mình.
Giêsu đã không còn hiện diện nơi trần thế này cách nhãn tiền như 2000 năm trước. Những người môn đệ của Ngài như chúng ta đây phải là những chứng nhân cho sự phục sinh của Ngài nơi lòng nhân thế. Còn quá nhiều người trên thế giới này sống trong đau khổ và lầm than, vì mất đi niềm hy vọng và ánh sáng tương lại. Có nhiều người đã bước theo Giêsu trong âm thầm và tín thác, nhưng họ chỉ mới dừng lại bên mộ để khóc than, chứ chưa cảm nếm được niềm vui phục sinh của Người. Ta phải làm sao đây để họ tin rằng Giêsu đã sống lại, rằng cái chết không còn chế ngự được Người nữa, rằng thần chết và bè lũ của nó đã bị Ngài đánh bại? Ta phải làm gì đây để họ có thể bỏ đi bộ mặt u ám, gạt đi những giọt nước mắt buồn thương mà đứng dậy, cười vui, và sống một đời sống mới?
Chính chúng ta phải là những người cảm nghiệm được sự phục sinh của Chúa trong tâm hồn mình trước. Bởi nếu ta chưa sống được kinh nghiệm phục sinh, ta cũng sẽ không thể nào trao ban niềm vui phục sinh ấy. Dấu chỉ của phục sinh là một sự can đảm dám thay đổi lối sống ích kỷ và biếng nhác của mình, dám hy sinh những lợi ích của mình để mưu cầu hạnh phúc cho người khác, dám trải rộng vòng tay, vươn xa đến những ai túng thiếu. Đó phải là một cuộc sống lạc quan, vui tươi trong bỏ mình và phục vụ mà không đòi đền đáp hay trả công. Cảm nghiệm được sự phục sinh của Chúa cũng là hăng hái lên đường, chẳng từ nan, chia sẻ về Chúa và tình thương của Người cho những ai ta gặp gỡ, khơi dậy trong họ niềm hy vọng đang ẩn khuất  trong tim. Có như vậy, người ta mới có thể tin rằng Chúa đã phục sinh từ cõi chết.
Các bạn đã có kinh nghiệm phục sinh như vậy chưa? Các bạn đã có thể khiến cho hàng tỷ tỷ Tôma trên đời này tin là Chúa của mình đã phục sinh chưa? Nếu chưa, các bạn hãy bắt đầu đi nhé, vì Giêsu đang chờ đợi điều đó nơi các bạn rất nhiều.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ


Chúa Giêsu có thực sự phục sinh không?

Chúa Giêsu có thực sự phục sinh không?

Nhiều người khẳng định rằng Chúa Giêsu không phục sinh mà chỉ là do chết ngất mà thôi, thậm chí BBC còn làm một bộ phim tài liệu chứng minh điều này và cho rằng sau biến cố đóng đinh, Chúa Giêsu đã trốn đi và trở thành một tu sĩ Phật giáo. Là người Kitô hữu, với niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh làm sao bạn trả lời cho họ được thỏa lòng. Xin được trích dịch lập luận trong cuốn Pocket Handbook of Christian Apologetics của Peter Kreeft, Ronald K. Tacelli, với hy vọng giúp ích ít nhiều.
Mọi bài giảng mà Kitô hữu rao giảng trong Tân Ước tập trung vào sự phục sinh. Phúc âm hoặc “tin mừng” có nghĩa cơ bản là tin vào sự phục sinh của Chúa Kitô. Thông điệp này chiếu tỏa trên toàn thế giới trung cổ, làm cho bao trái tim bừng cháy, thay đổi bao cuộc đời và xoay chuyển một thế giới không mấy “nhân đạo.” Mọi người khôn ngoan đạo đức biết rằng; đó không phải là tin tức bình thường mà là tin về một con người, người mà đã khẳng định mình là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ thế giới, đã trỗi dậy từ cõi chết.
Một thách thức hợp lẽ dành cho những người hoài nghi là: nếu có thể chứng minh được rằng Chúa Giêsu thực sự đã trỗi dậy từ cõi chết, thì liệu bạn có tin vào Ngài không? Vì nếu Ngài thực sự trỗi dậy, điều đó xác nhận khẳng định Ngài là Thiên Chúa và không đơn thuần chỉ là con người, vì sự phục sinh từ cõi chết thì ngoài sức con người; và thiên tính của Ngài xác nhận chân lý của tất cả mọi sự khác Ngài đã nói, vì Thiên Chúa không thể nói dối.
Phục sinh có tầm quan trọng thực tiễn quyết định bởi vì nó hoàn tất việc cứu rỗi của chúng ta. Chúa Giêsu đến để cứu chúng ta khỏi tội lỗi và hậu quả của nó là cái chết Rm 6:23).
Phục sinh cũng làm nên sự khác biệt mạnh mẽ giữa Chúa Giêsu với tất cả các vị sáng lập tôn giáo khác. Xương của Abraham, Muhammad, Đức Phật, Khổng Tử, Lão Tử và Zoroaster tất cả vẫn còn trên trái đất này. Còn mộ Chúa Giêsu thì trống rỗng.
Những hệ quả hiện sinh của phục sinh có thể được thấy bằng cách so sánh các môn đệ trước và sau phục sinh. Trước, họ co cụm với nhau sau cánh cửa bị khóa chặt trong sợ hãi và hoang mang. Sau, họ được biến đổi từ những kẻ nhát đảm thành những vị thánh tự tin, những người truyền giáo làm thay đổi thế giới và là những vị tử đạo anh dũng.
Điều quan trọng nhất của phục sinh không phải là trong quá khứ-”Chúa Kitô đã phục sinh”, nhưng trong hiện tại, “Chúa Kitô đang phục sinh.” Vị Thiên Thần tại ngôi mộ đã hỏi các người phụ nữ, “Sao các bạn tìm người sống nơi kẻ chết?” (Lc 24:5). Ngày hôm nay, các nhà sử học và các học giả có thể được hỏi cùng câu hỏi đó. Nếu chúng ta đã không giữ Chúa Kitô nằm trong một quan tài được gán nhãn “lịch sử” hay “hộ giáo,” thì Ngài đã làm cho cuộc sống của chúng ta và thế giới bừng cháy ngọn lửa mạnh mẽ như Ngài đã làm hai thiên niên kỷ trước. Đó là việc nhập thân hiện sinh của sự phục sinh.

Chiến lược của Lập luân cho Phục sinh: Năm lý thuyết khả dĩ
Chúng ta tin rằng sự phục sinh của Chúa Kitô có thể được chứng minh ít là cũng rất chắc chắn như bất kỳ sự kiện nào được tin tưởng phổ biến và được ghi lại trong lịch sử cổ đại. Để chứng minh điều này, chúng ta không cần phải tiền giả định bất cứ điều gì có thể gây ra tranh luận (ví dụ, là phép lạ xảy ra). Nhưng những người hoài nghi cũng không phải tiền giả định bất cứ điều gì (ví dụ, là phép lạ không xảy ra). Chúng ta không cần phải giả thiết rằng Tân Ước là tuyệt đối đáng tin cậy hay được khởi hứng bởi Thiên Chúa hoặc thậm chí là chân lý. Chúng ta không cần phải tiền giả định rằng thực sự có một ngôi mộ trống rỗng, hoặc những lần hiện ra hậu phục sinh, như được ghi chép. Chúng ta cần tiền giả định chỉ hai điều, cả hai đều là dữ liệu thô, dữ liệu thực nghiệm, mà không ai phủ nhận: sự tồn tại của những bản văn Tân Ước như chúng ta có và sự tồn tại (nhưng không tất yếu là chân lý) của Kitô giáo như chúng ta thấy ngày hôm nay.
Câu hỏi đặt ra là: Giả thiết nào về điều thực sự đã xảy ra ở Giêrusalem vào ngày Chúa nhật Phục Sinh đầu tiên có thể giải thích cho nguồn dữ liệu?
Có năm giả thiết có thể có: Kitô giáo, ảo giác, huyền thoại, âm mưu và bất tỉnh.
Chúa Giêsu đã chết — Chúa Giêsu đã sống lại ——– (1) Kitô giáo
Chúa Giêsu không sống lại–các tông đồ đã bị đánh lừa –(2) Ảo giác
Các tông đồ là những người tạo nên huyền thoại—– (3) Huyền thoại
Các tông đồ là những người lừa đảo —-(4)Âm mưu
Chúa Giêsu đã không chết ———— – (5) Sự bất tỉnh

Phản bác giả thiết bất tỉnh: chín luận chứng. Phải chăng Chúa Giêsu đã không thực sự chết trong khi đóng đinh nhưng chỉ ngất đi? Chín chứng cứ phản bác giả thuyết bất tỉnh:
1. Chúa Giêsu đã không thể sống sót bởi việc đóng đinh. Cách thức thi hành việc đóng đinh của người La Mã là rất cẩn thận để loại trừ khả năng trên. Luật La Mã thậm chí đặt án tử hình cho bất kỳ người lính nào để cho một tù nhân trốn thoát vốn bằng cách nào đi nữa, kể cả việc làm hỏng một cuộc đóng đinh.
2. Việc người lính La Mã đã không đánh vỡ chân Chúa Giêsu, như anh ta đã làm với hai tội phạm bị đóng đinh khác (Ga 19:31-33), cho thấy người lính đã chắc chắn Chúa Giêsu đã chết. Đánh gãy chân làm cho chết nhanh hơn để có thể đưa xác xuống trước ngày sa-bát (Ga 19:31).
3. Gioan, một chứng nhân tận mắt, đã xác nhận rằng ông đã thấy máu và nước chảy ra từ cạnh sượn bị đâm của Chúa Giêsu (Ga 19:34-35). Điều này cho thấy phổi của Chúa Giêsu đã ép lại và Ngài đã chết vì ngạt thở. Bất kỳ chuyên gia y học nào cũng có thể xác minh cho điều này.
4. Cơ thể hoàn toàn được bọc trong những tấm vải liệm và được chôn (Ga 19:38-42).
5. Những lần hiện ra hậu phục sinh đã thuyết phục các môn đệ, thậm chí cả “Tôma nghi ngờ,” rằng Chúa Giêsu đang sống vinh hiển (Ga 20:19-29). Xét về mặt tâm lý, đó là điều không thể đối với các môn đệ để có được sự biến chuyển và tự tin lớn lao nếu Chúa Giêsu đơn thuần đã vượt qua cơn bất tỉnh nhờ đến một bác sĩ nào đó. Một người thương tật loạng choạng dở sống dở chết, người mà vừa trốn thoát một cách ngặt nghèo thì không thể được tôn thờ cách mạnh mẽ như là Thiên Chúa và là đấng chinh phục cái chết.
6. Làm thế nào những người lính bảo vệ La Mã tại ngôi mộ bị khuất phục bởi một cái xác bất tỉnh? Hoặc bởi những môn đệ không vũ trang? Và nếu các môn đệ đã làm điều đó, thì họ đã cố ý dối trá khi họ viết Phúc Âm, và chúng ta đi vào giả thuyết âm mưu, mà chúng ta sẽ phản bác ngay sau đây.
7. Làm thế nào một người dở sống dở chết đang bị ngất có thể dịch chuyển tảng đá lớn tại cửa mộ? Ai đã dời tảng đá nếu không phải là một thiên thần? Không có ai trả lời cho câu hỏi này bao giờ cả.
8. Nếu Chúa Giêsu tỉnh dậy sau cơn ngất, thì Ngài đã đi đâu? Hãy suy nghĩ điều này cho kỹ: bây giờ, bạn có một cơ thể sống để bàn luận, không phải là một cơ thể chết. Tại sao nó đã biến mất? Một người như vậy, với một quá khứ như vậy, sẽ để lại các dấu vết.
9. Một cách đơn giản nhất, giả thuyết bất tỉnh tất yếu biến thành giả thuyết âm mưu hoặc giả thuyết ảo giác, vì các môn đệ đã làm chứng rằng Chúa Giêsu đã không chết ngất nhưng thực sự đã chết và thực sự đã phục sinh.

Bác bỏ giả thuyết âm mưu: bảy luận chứng. Tại sao các môn đệ đã không thể tạo nên toàn bộ câu chuyện?
1. Pascal đưa ra một bằng chứng, đơn giản có cơ sở vững chắc về mặt tâm lý cho lý do tại sao giả thuyết này là không thể nghĩ ra được:
Giả thuyết cho rằng các tông đồ là những kẻ dối trá là hoàn toàn vô lý. Hãy theo điều này cho đến cuối, và hãy tưởng tượng mười hai người này gặp nhau sau cái chết của Chúa Giêsu và âm mưu để nói rằng Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết. Điều này có nghĩa là chống lại tất cả các thế lực lúc bấy giờ. Lòng người thì rất dễ bị ảnh hưởng bởi những sự thất thường, bởi những thay đổi, bởi những lời hứa hẹn, hay bởi sự mua chuộc. Chỉ cần một trong số họ phủ nhận câu chuyện của mình bởi những xui khiến đó, hoặc hơn thế khi sợ bị cầm tù, tra tấn và chết, và như thế tất cả họ sẽ bị tiêu vong. Hãy kiên định như thế (322 Tư tưởng, 310)
2. Nếu họ tạo ra câu chuyện đó thì họ là những nhà viết chuyện viễn tưởng sáng tạo, tài tình, thông minh nhất trong lịch sử, vượt xa Shakespeare hay Dante hoặc Tolkien. “Những câu chuyện cá” của những ngư phủ không bao giờ tỉ mỷ, có sức thuyết phục, làm thay đổi cuộc sống và bền bỉ như thế.
3. Về phần các môn đệ, tính cách của họ cho thấy những lý do chống lại mạnh mẽ một âm mưu như thế, mà không ai có thể chống đối được. Họ là những người đơn sơ, trung thực, là những nông dân bình thường, không phải là những kẻ nói dối xảo quyệt, khôn ranh. Họ thậm chí không phải là luật sư. Lòng chân thành của họ được chứng minh bởi lời nói và hành động của họ. Họ rao giảng một Chúa Kitô phục sinh và họ sống một Chúa Kitô phục sinh. Họ sẵn sàng chết cho “âm mưu” của họ. Không gì chứng minh lòng kiên trung như việc tử đạo.
4. Không có thể có một động cơ cho một lời nói dối như thế. Lời nói dối luôn luôn được nói chỉ vì những lợi ích vị kỷ. Đâu là lợi ích mà “những kẻ âm mưu” có được từ “chuyện dối trá” của họ? Họ bị ghét bỏ, khinh miệt, bách hại, xua đuổi, giam cầm, tra tấn, lưu đày, chịu đóng đinh, luộc sống, nướng, chặt đầu, moi ruột và làm mồi cho sư tử – khó lòng mà đưa ra được một bảng liệt kê những lợi ích.
5. Nếu sự phục sinh là một lời nói dối, người Do Thái đã có thể đưa ra cái xác và bóp chết sự mê tín đáng sợ này ngay từ trong trứng nước. Mọi điều họ phải làm là đi đến ngôi mộ và tìm lại cái xác đó. Các binh sĩ La Mã và các nhà lãnh đạo của họ đứng về một phía, không phải là Kitô hữu. Và nếu người Do Thái không thể có được cái xác vì các môn đệ đã lấy trộm nó, thì làm thế nào mà các môn đệ thực hiện được điều đó? Những lập luận chống lại giả thuyết bất tỉnh cũng có hiệu lực ở đây: những kẻ quê mùa không vũ trang không thể chế ngự được những người lính La Mã hay lăn đi một tảng đá lớn, trong lúc lính canh ngủ khi làm nhiệm vụ.
6. Các môn đệ không thể tránh được những hậu quả do việc loan báo sự phục sinh ở Giêrusalem-cùng một thời gian, cùng một nơi chốn và đầy những nhân chứng – nếu đó là một lời dối trá. “Nếu có một âm mưu, chắc chắn nó sẽ bị phơi bày bởi các kẻ thù của các môn đệ, những kẻ có cả tiền tài và quyền lực để vạch trần bất cứ sự gian lận nào. Kinh nghiệm chung cho thấy rằng những mưu đồ như thế thì chắc chắn bị lột trần”. (Craig, Tìm hiều sự thật về sự Phục sinh, chương 6).

Phản bác giả thuyết ảo giác: mười ba luận chứng. Nếu bạn nghĩ rằng bạn thấy một người chết đi lại và nói chuyện, thì bạn không nghĩ rằng có nhiều khả năng là bạn bị ảo giác hơn là điều bạn đang nhìn thấy thật sự đấy chứ? Thế thì tại sao không nghĩ rằng cùng một điều về sự phục sinh của Chúa Kitô?
1. Có quá nhiều nhân chứng. Ảo giác là riêng tư, cá nhân và chủ quan. Chúa Kitô hiện với Maria Mađalêna, với các môn đệ trừ Tôma, với các đệ tử gồm cả Tôma, với hai môn đệ ở Emmaus, với các ngư phủ trên bờ biển, với Giacôbê (“anh em” hay anh em họ của Ngài) và ngay cả với năm trăm người cùng một lúc (1 Cr 15:3-8). Chỉ ba nhân chứng khác nhau là đủ cho một loại so sánh tam diện về tâm lý; hơn năm trăm người thì cũng là công khai như bạn có thể muốn. Và Thánh Phaolô nói trong đoạn văn này (câu 6) là hầu hết năm trăm người này vẫn còn sống, điều này mời gọi bất cứ độc giả nào kiểm tra tính chân thực của câu chuyện bằng cách tra vấn những người chứng kiến. Nếu đó không phải là sự thật, thì Ngài không bao giờ có thể mời gọi độc giả như thế và có lẽ đã từ bỏ việc mời gọi đó, và ngài cũng có thể bị quy phục bởi quyền lực, sức mạnh và số đông các địch thù.
2. Các nhân chứng là đủ điều kiện. Họ là những người đơn sơ, trung thực, đạo đức, là những người trực tiếp biết các sự kiện.
3. Các nhân chứng cùng thấy Chúa Kitô, tại cùng một thời gian và địa điểm.
4. Ảo giác thường kéo dài một vài giây hoặc vài phút; hiếm khi vài giờ. Còn điều này thì kéo dài trong khoảng bốn mươi ngày (Cv 1:3).
5. Ảo giác thường xảy ra chỉ một lần, ngoại trừ với người điên. Điều này trở lại nhiều lần, với những con người bình dân (Ga 20:19-21:14; Cv 1:3).
6. Ảo giác đến từ bên trong, từ những gì chúng ta đã biết, ít nhất là vô thức. Chúa Giêsu đã nói và làm những điều đáng ngạc nhiên và bất ngờ (1:4 Cv, 9) – như một con người thực và không giống như một giấc mơ.
7. Không chỉ các môn đệ không mong đợi sự phục sinh, lúc đầu họ thậm chí không tin – Phêrô, hay các phụ nữ, Tôma, cũng như mười một môn đệ. Họ nghĩ rằng Ngài là ma; Ngài đã phải ăn cái gì đó để chứng minh mình không phải ma (Lc 24:36-43).
8. Ảo giác không ăn uống. Chúa Kitô phục sinh đã ăn, ít nhất hai lần (Lc 24:42-43; Ga 21:1-14).
9. Các môn đệ đụng chạm Ngài (Mt 28:9; Lc 24:39; Ga 20:27).
10. Các môn đệ cũng đã nói chuyện với Ngài, và Ngài đã nói lại. Trí tưởng tượng của bạn không giữ những cuộc đối thoại sâu sắc, kéo dài, trừ khi bạn có các rối loạn tâm thần cô lập bạn. Nhưng “ảo giác” này nói chuyện với ít nhất mười một người cùng một lúc, trong bốn mươi ngày (Cv 1:3).
11. Các tông đồ không thể tin vào “ảo giác” nếu xác Chúa Giêsu vẫn còn trong mộ. Đây là điểm rất cơ bản và có hiệu lực; vì nếu là một ảo giác, thì xác chết ở đâu? Họ có thể kiểm định điều này, nếu nó ở đó, thì họ không thể tin.
12. Nếu các tông đồ bị ảo giác và sau đó loan truyền câu chuyện ảo giác của họ, thì người Do Thái đã có thể ngăn chặn nó bằng cách trưng ra xác chết, trừ khi các môn đệ đánh cắp nó, trong trường hợp này chúng ta trở lại với giả thuyết âm mưu với tất cả các khó khăn của nó.
13. Một ảo giác giải thích chỉ với các lần hiện ra hậu phục sinh; nó không giải thích ngôi mộ trống được, tảng đá bị lăn ra hoặc không có khả năng tìm ra xác chết. Không có giả thuyết nào có thể giải thích tất cả những dữ kiện này, ngoại trừ một sự phục sinh thực sự.

Phản bác giả thuyết huyền thoại: sáu luận chứng. Làm thế nào để chúng ta biết sự phục sinh của Chúa Giêsu không là một huyền thoại?
1. Văn phong của Phúc âm thì khác căn bản và rõ rệt với văn phong của tất cả thể loại huyền thoại. Bất kỳ học giả văn học nào biết và đánh giá đúng về huyền thoại có thể xác minh điều này. Không có sự kiện nào là rỗng tuếch, ngoạn mục, hay phóng đại kiểu trẻ con. Không có gì là tùy tiện. Tất cả mọi thứ ăn khớp với nhau. Mọi thứ là có ý nghĩa.
Bàn tay của một bậc thầy làm việc ở đây.
Chiều sâu tâm lý là ở một mức cực đại. Trong huyền thoại chiều sâu đó là ở mức cực tiểu. Trong thần thoại, những sự kiện ngoạn mục bên ngoài như thế xảy ra, sẽ trở nên sao nhãng nếu thêm chiều sâu bên trong của tính cách. Đó là lý do tại sao chính những người bình thường như Alice, nhân vật chính của những cuộc phiêu lưu phi thường như Miền đất kỳ diệu. Chiều sâu tính cách và sự phát triển của mọi người trong Phúc Âm, dĩ nhiên, đặc biệt là Chúa Giêsu-là đáng lưu tâm.
Phúc Âm cũng được thực hiện với một sự kiệm lời khó tin. Thần thoại thì dông dài; Phúc Âm thì súc tích.
Cũng có những dấu hiệu mang ý nghĩa của sự mô tả của chứng nhân, như chi tiết nhỏ về việc Chúa Giêsu viết trên đất khi được hỏi liệu có được ném đá người phụ nữ ngoại tình hay không (Ga 8:6). Không ai biết tại sao điều này được đưa vào, nó chẳng mang lại điều gì. Lời giải thích duy nhất là tác giả đã thấy điều đó. Nếu chi tiết này và những chi tiết khác tương tự xuyên suốt trong cả bốn Phúc âm đã được phát minh ra, thì một người thuế thu (Matthêu), một “người trẻ tuổi” (Maccô), một bác sĩ (Luca) và một ngư dân (Gioan) thuộc thế kỷ thứ nhất, tất cả đã phát minh một cách độc lập một thể loại siêu tưởng hiện thực mười chín thế kỷ trước khi nó được tái tạo lại trong thế kỷ thứ hai mươi này.
2. Một vấn đề thứ hai là không có đủ thời gian cho huyền thoại phát triển. Các nhà chống huyền thoại nguyên thủy đã giữ lập trường của họ rằng các bản văn Phúc Âm được viết vào ngày cuối thế kỷ thứ hai; phải mất nhiều thế hệ trôi qua trước khi các yếu tố thần thoại được thêm vào mới có thể được tin một cách sai lầm là hiện thực.
Julius Muller thách thức những người thế kỷ mười chín cùng thời với ông đưa ra một dẫn chứng đơn lẻ bất cứ nơi nào trong lịch sử về một huyền thoại lớn hoặc truyền thuyết phát sinh xung quanh một nhân vật lịch sử và được tin một cách đại thể trong vòng ba mươi năm sau cái chết của nhân vật đó. Không một ai đã trả lời ông.
3. Giả thuyết huyền thoại thiết lập hai lớp. Lớp đầu tiên là Chúa Giêsu lịch sử, người không phải là thần thánh, không xác nhận thiên tính, không thực hiện phép lạ và không sống lại từ cõi chết. Thứ hai, lớp huyền thoại là Phúc Âm như chúng ta có, với một Chúa Giêsu đã tuyên bố mình là Thiên Chúa, đã thực hiện phép lạ và sống lại từ cõi chết. Vấn đề với giả thuyết này chỉ đơn giản rằng không có bất cứ một tí bằng chứng gì về sự tồn tại của lớp đầu tiên như thế. Giả thuyết hai lớp có lớp đầu tiên đã làm nên toàn bộ diện mạo.
4. Một chi tiết nhỏ, ít khi được nhận thấy, là sự phân biệt đáng kể giữa Phúc Âm với huyền thoại: các nhân chứng đầu tiên của sự phục sinh là những người phụ nữ. Trong Do Thái giáo thế kỷ thứ nhất, phụ nữ có địa vị xã hội thấp và không có quyền pháp lý để làm nhân chứng. Nếu ngôi mộ trống là một truyền thuyết được phát minh, thì người sáng chế chắc chắn sẽ không để cho các phụ nữ khám phá ra ngôi mộ, lời chứng của họ được coi là vô giá trị. Mặt khác, nếu các tác giả viết lại một cách đơn giản những gì họ đã thấy, thì họ phải nói sự thật, dù khó khăn về mặt xã hội và pháp lý.
5. Tân Ước không thể là huyền thoại đã bị giải thích sai và nhầm lẫn với thực tế, bởi vì cần phân biệt rõ hai điều sau và loại trừ việc giải thích mang tính thần thoại (2 Pr 1:16). Vì nói một cách rõ ràng rằng nó không phải là huyền thoại, nếu nó là huyền thoại, thì đúng hơn phải nói là một lời nói dối có chủ ý chứ không phải là huyền thoại. Lưỡng đề vẫn đứng vững: hoặc là sự thật hoặc là lời nói dối, hoặc cố ý (âm mưu) hay vô tình (ảo giác). Không thoát khỏi thế lưỡng đao luận này. Khi một đứa trẻ hỏi ông già Noel là có thật không, câu trả lời “có” của bạn trở thành một lời nói dối, không phải là huyền thoại, nếu ông ta không có thật hiểu theo nghĩa đen. Khi Tân Ước phân biệt giữa huyền thoại với thực tế, nó sẽ trở thành một lời nói dối nếu sự phục sinh không phải là sự thực. R. L. Purtill tóm tắt trường hợp văn bản chết như sau:
Nhiều sự kiện được coi là vững chắc được chấp nhận về mặt lịch sử (1) có chứng cứ tài liệu ít hơn nhiều những sự kiện trong Kinh Thánh, (2) và những bản văn mà các nhà sử học dựa vào đối với lịch sử nhân loại được viết sau rất nhiều những sự kiện ghi trong Kinh Thánh. (3) Hơn nữa, chúng ta có rất nhiều bản sao của những trình thuật trong Kinh Thánh hơn những bản sao của lịch sử nhân loại, và (4) các bản sao còn tồn tại thì có sớm hơn nhiều so với những bằng chứng của chúng ta đối với lịch sử nhân loại dựa vào. Nếu những trình thuật trong Kinh Thánh không chứa các sự kiện lạ lùng … thì lịch sử Kinh Thánh rất có thể sẽ được coi là vững chắc hơn nhiều so với hầu hết những sự kiện lịch sử đã được xác nhận, nói theo Hy Lạp và La Mã cổ điển. (Suy tư về Tôn giáo, tr. 84-85)
Nếu tất cả những gì chúng ta đã nói cho đến nay là đúng, thì một hệ quả đáng ngạc nhiên tất yếu như sau: chỉ có hai điều cần thiết cho bất cứ ai được hoán cải trở về với Đức Kitô. (Tất nhiên, ân sủng Thiên Chúa là cần thiết, nhưng Thiên Chúa cũng sẵn sàng ban ân sủng của mình cho bất kỳ ai sẵn sàng tìm kiếm và đón nhận nó.) Hai điều nay là nhận thức về dữ kiện, và tính trung thực hợp đạo đức và khôn ngoan. Đây là chính thái độ đối với những người vô tín cần có: lòng chân thực không cảm tính, có tính hoài nghi, có tính khoa học, và hợp logic. Vâng, nếu họ thực sự có điều đó, nó sẽ dẫn họ tới Chúa Kitô.


Cầu nguyện với thánh Giuse

Cầu nguyện với thánh Giuse

Chúng ta chỉ biết một chút ít về Giuse khi các tác giả Tin Mừng thuật lại những biến cố xảy ra trước và sau khi Đức Giêsu giáng lâm. Ta biết về gốc gác của Giuse, về hôn ước giữa ông và Maria, biết về những trằn trọc trăm mối tơ vò để tìm ra giải pháp tối ưu cho chuyện vị hôn thê sắp cưới của mình có mang, rồi chuyện truyền tin trong giấc mơ và những chuyến hành trình lắm chông gai và mệt mỏi. Qua những tình tiết nhỏ nhặt đó, ta thấy Giuse hẳn phải là một con người có tinh thần trách nhiệm rất cao. Giuse đã không hành xử theo cảm tính hay chỉ làm mọi chuyện cho qua. Đã có lúc Giuse phân vân không biết rời bỏ Maria hay tiếp tục cuộc hôn nhân này. Nhưng khi nhận được lệnh của Chúa là hãy rước Maria về, ông đã thực thi mệnh lệnh như thể đó là sứ mạng của mình, như là chọn lựa của mình, không một lời oán than hay một đòi hỏi xin giải thích.
Khi Maria lâm bồn, hẳn là ông đã phải chạy vạy khắp nơi để tìm kiếm chỗ tươm tất. Khi không tìm thấy một nơi ấm êm và đường hoàng, hẳn là ông cũng buồn phiền lo lắng biết bao cho sức khỏe của vợ và hài nhi vừa mới sinh. Giữa đêm khuya giá lạnh, đang tựa đầu để nghỉ ngơi một chút thì đã phải vội vàng thức giấc để đưa vợ và con băng đường dài, trốn đi tị nạn ở nơi xa. Khi được lệnh trở về, ông cũng nghe ngóng tình hình, để quyết định xem nên cư trú ở đâu để vợ con có thể được an toàn, không bị những ganh ghét của thế lực trần gian làm hại. Và khi đã tìm được chỗ tốt nhất, ông tiếp tục hành nghề thợ mộc để kiếm cơm nuôi sống gia đình. Giuse đã hoàn toàn dành hết tâm huyết để chăm lo cho gia đình nhỏ bé, cùng với vợ giáo dưỡng Giêsu, cả thể chất lẫn tinh thần, với hết tất cả tình yêu và trách nhiệm của một người đàn ông cột trụ nơi tổ ấm.
Giêsu càng lớn lên, bình an và khỏe mạnh thì hình ảnh của Giuse cũng dần dần mờ nhạt đi. Đến một lúc, ta chẳng còn thấy Tin Mừng nhắc gì đến ông nữa. Ông qua đời khi nào, lúc bao nhiêu tuổi… ta cũng chẳng hay biết. Giuse đã hoàn toàn để cho Chúa lớn lên, bằng cách để mình nhỏ bé đi. Những gì làm cho Chúa, ông kể như chẳng là gì to tát. Có chăng là trọn một niềm hạnh phúc vì cảm thấy vinh dự được Chúa cho cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài mà thôi.
Chỉ cần nghĩ đến chuyện Giuse hy sinh thế nào cho Thiên Chúa và cho gia đình nhỏ bé của mình cũng đủ để chúng ta cũng mường tượng được công trạng của ngài to lớn như thế nào trong công trình cứu độ của Thiên Chúa. Vậy cớ gì ngài không hô hào lên tiếng cho người ta biết về những hy sinh của mình? Làm như thế cũng đáng chứ, cũng là điều hợp tình hợp lý mà bấy lâu nay chúng ta vẫn hay làm đấy thôi. Nhưng dường như đối với Giuse, được phục vụ Chúa là một niềm vinh hạnh, được hy sinh cho người khác điều ta nên làm. Nó hiển nhiên như ta hít thở, chứ chẳng phải là điều gì đó ghê gớm đến độ đáng được nêu danh. Chính cái tính cách khoan khai, khiêm nhường và lặng lẽ ấy của Giuse đã giúp cho thánh nhân sống một đời mà không đau khổ dằn dặt chi, không hụt hẫng, nhưng lúc nào cũng bình an, hạnh phúc.
Giuse không cần chi người ta biết đến và ca tụng, có lẽ bởi vì Giuse đã có được phần thường cho chính mình rồi. Ông là một trong những người đầu tiên thấy được tận mắt, sờ được bằng tay hình hài của Con Thiên Chúa. Một quãng thời gian dài, ông có Chúa kề bên, được tập cho Chúa nói, được mớm cho Chúa ăn, được vui cười với Chúa. Rồi bỗng một ngày, niềm hạnh phúc như ngập tràn khóe mắt khi tai ông nghe chính Thiên Chúa gọi mình hai chữ “bố ơi” thật ngọt ngào và êm ái. Ông là ai mà được diễm phúc trở thành người được Con Thiên Chúa gọi là cha? Cả một huyền nhiệm cao vời đang hiển lộ trước mặt ông: một Thiên Chúa làm người mà ông đang ẵm bồng đây, đang gặp gỡ từng giây phút đây, được ôm lấy từng ngày đây. Có Giêsu rồi, ông đâu cần tìm kiếm điều gì nữa. Có nguồn hạnh phúc ở đây rồi, cần gì phải theo đuổi điều gì nữa.
Giuse có lẽ đã tạ thế trước khi Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai. Ông không được nghe những lời giáo huấn vàng ngọc của Giêsu, người con yêu của mình, dành cho dân chúng. Nhưng biết đâu, khi căn dặn các môn đệ hãy biết phó thác mọi sự cho Chúa Cha, hãy vác thập giá hàng ngày, hãy sống khiêm nhường nhỏ bé, Đức Giêsu đã nghĩ đến vị dưỡng phụ yêu quý của mình. Giuse đã biến cuộc đời mình thành một lời nguyện ca tuyệt vời dâng lên Chúa.
Hôm nay, chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện với Thánh Giuse. Chúng ta hãy xin ngài chuyển cầu cùng Đức Giêsu con ngài, cho chúng ta cũng biết sống khiêm nhu, âm thầm và lặng lẽ, suốt cuộc đời chỉ đi tìm một mình Chúa mà thôi, và dám can đảm để Chúa lớn lên, để mình nhỏ lại. Ước gì đó là niềm vui lớn nhất trong cuộc đời Kitô hữu của chúng ta.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ


ANH CHỊ EM THUỘC VỀ THIÊN CHÚA VÀ ĐẤNG Ở TRONG ANH CHỊ EM MẠNH HƠN KẺ Ở TRONG THẾ GIAN!

ANH CHỊ EM THUỘC VỀ THIÊN CHÚA VÀ ĐẤNG Ở TRONG ANH CHỊ EM MẠNH HƠN KẺ Ở TRONG THẾ GIAN!

... Chứng từ Đức Tin của ông Olivier 43 tuổi, đại úy phục vụ trong Quân Đoàn Công Binh Nhảy Dù 17 (RGP) của Quân Lực Cộng Hòa Pháp. Ông sinh trưởng tại thành phố Montauban thuộc miền Tây Nam nước Pháp.

Chiều nay tôi lên đường đi thi hành sứ vụ bên Cộng Hòa Trung Phi. Sáng nay tôi đã nói lời từ biệt ái nữ tôi. Lại thêm một lần từ biệt nữa. Mỗi cuộc chia tay là một xúc động tràn bờ, nhưng lần này tôi biết THIÊN CHÚA đang hiện diện. Ngài có mặt bên trong tôi và bên cạnh tôi. Tôi cảm thấy thanh thản, điềm tĩnh, tin tưởng và anh dũng.

Lần này quả thật khác hẳn với lần trước. Tôi xin đoan chắc với quý vị như thế! Lần trước là vào năm 2011, khi nhận sứ-vụ sang Afghanistan, tôi vô cùng kinh hãi vì sợ rằng tôi sẽ ở lâu bên đó mà không được lãnh nhận bí tích đầu tiên của Kitô Giáo là bí tích Rửa Tội!

Năm ấy, vào một buổi sáng, khi đi bộ đến căn cứ, tôi bỗng nhận được một luồng sáng đặc biệt. Tôi nhớ rõ đã nhận được một ánh chớp nội tâm, một điều chắc chắn, một tiếng nói vang lên: ”Mình phải xin lãnh bí tích Rửa Tội!”.

Người ta có thể nghĩ rằng điều này xuất hiện như một áp-lực bởi lẽ có quá nhiều binh sĩ gục ngã nơi chiến trường. Nhưng đối với tôi, điều này lại đến từ chính tôi, từ hoa trái của cuộc trưởng thành dài đăng đẳng. Chính Linh Mục Tuyên Úy Công Giáo cũng khẳng định với tôi: ”Đại Úy đã sẵn sàng từ lâu lắm rồi!”.

Cha Tuyên Úy nơi chiến tuyến là vị Linh Mục luôn luôn hiện diện, sống động, uy dũng, sâu sắc và đầy tình người. Chính với Cha Tuyên Úy mà tôi giãi bày tâm sự sau khi trở về từ một sứ-vụ. Cha đã hướng dẫn tôi, chuẩn bị cho tôi và qua tác động này, Cha đã lấp đầy khoảng trống thiêng liêng luôn chế ngự trong nội tâm tôi.

6 tháng sau, nơi Trung Tâm Thánh Mẫu Lộ Đức, nhân chuyến hành hương của các quân nhân quốc tế vào tháng 5 năm 2013, tôi đã lãnh bí tích Rửa Tội.

Cùng với biến cố lãnh bí tích Rửa Tội tôi đọc lại trọn lộ trình của tôi: từ thời thơ ấu vô thần đến thời niên thiếu bị lôi cuốn quyến dũ bởi nền văn hóa Nga với các văn sĩ trong đó có nhà đại văn hào Aleksej Nikolaevic Tolstoj (1883-1945). Đặc biệt chuyện các vị tử-vì-đạo của Kitô Giáo gây xúc động nơi tôi rất nhiều: sức mạnh anh dũng của các vị khiến tôi kinh ngạc và tràn đầy ngưỡng mộ. Nhưng nhất là tôi bị chinh phục bởi các ảnh thánh vẽ trên gỗ (icônes) bởi ánh sáng của các ảnh thánh. Tôi đã làm một bộ sưu tập các ảnh thánh icônes.

Giờ đây, với tư cách tín hữu Công Giáo, cuộc sống của tôi hướng đến tha nhân. Tôi không còn ích kỷ chỉ sống cho riêng tôi, theo chủ nghĩa cá nhân và cô đơn thui thủi một mình. Không. Tôi cố gắng sống gần gũi người khác và kiên nhẫn hơn. Kể từ ngày lãnh bí tích Rửa Tội tôi khám phá ra rằng mỗi một con người đều có thể là người yếu-nhược nhưng không hẳn hoàn toàn là người xấu. Trở thành tín hữu Công Giáo có nghĩa là phải sẵn sàng tuân hành mệnh lệnh, sẵn sàng thưa vâng!

Sứ mệnh của chúng tôi nơi đại lục Phi Châu, tôi thi hành như một cuộc sai đi, được gởi tới bên cạnh các dân tộc đang cần sự trợ giúp của chúng tôi, một công tác hoàn toàn có tính cách nhân đạo. Tôi mong rằng khi có dịp tiếp xúc với tôi, người dân tìm được lý do để hy vọng, tìm được ý nghĩa cho cuộc sống. Tôi muốn họ phải thèm thuồng mong ước lối sống Kitô! Tôi cảm thấy mình thuộc về một đại gia đình: cộng đoàn các Kitô-hữu. Đây chính là nguồn suối tuyệt vời cho sức lực và cho đà tiến.

... ”Anh chị em thân mến, anh chị em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi THIÊN CHÚA hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian. Căn cứ vào điều này, anh chị em nhận ra thần khí của THIÊN CHÚA: thần khí nào tuyên xưng Đức Chúa GIÊSU KITÔ là Đấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi THIÊN CHÚA; còn thần khí nào không tuyên xưng Đức Chúa GIÊSU KITÔ, thì không bởi THIÊN CHÚA; đó là thần khí của tên phản Kitô. Anh chị em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi. Hỡi anh chị em là những người con bé nhỏ, anh chị em thuộc về THIÊN CHÚA, và anh chị em đã thắng được các ngôn sứ giả đó, vì Đấng ở trong anh chị em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian. Các ngôn sứ giả đó thuộc về thế gian; vì thế, chúng nó nói theo thế gian, và thế gian nghe chúng. Còn chúng ta, chúng ta thuộc về THIÊN CHÚA. Ai biết THIÊN CHÚA thì nghe chúng ta. Ai không thuộc về THIÊN CHÚA thì không nghe chúng ta. Chúng ta cứ dựa vào đó mà nhận ra thần khí nào dẫn đếnsự thật và thần khí nào làm cho sai lầm” (1Gioan 4,1-6).

(”Prier”, l'aventure spirituelle, n.359, Mars 2014, trang 7)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt



Ơn thông hiểu của Chúa Thánh Thần

Ơn thông hiểu của Chúa Thánh Thần

Ơn thông hiểu Chúa Thánh Thần ban giúp chúng ta hiểu Lời Chúa, chương trình cứu độ và mọi sự trong chiều sâu như Thiên Chúa hiểu.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 30-4-2014. Dưới bầu trời mùa xuân Roma trong xanh với nắng ấm đã có khoảng 100.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi gặp gỡ chung với Đức Thánh Cha. Hàng ngàn người khác tới trễ đã phải theo dõi buổi tiếp kiến ngoài quảng trường Pio XII. Sở dĩ tín hữu đông vì có nhiều đoàn hành hương về Roma tham dự lễ phong Hiển Thánh cho Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II vẫn còn đang viếng thăm Roma.

Đã có hàng chục trẻ em được các cận vệ bế lên để cho Đức Thánh Cha hôn, có em mới chỉ được mấy tháng tuổi. Đó là niềm vui lớn của các bà mẹ. Có nhiều người tặng mũ ”calốt” cho Đức Thánh Cha, ngài lấy đội, rồi trao lại cho họ làm kỷ niệm. Cũng có nhiều người tặng khăn và áo thun cho ngài và ném vào xe díp. Hễ ngài quay qua bên phải lâu quá, thì tín hữu đứng bên trái lại réo gọi. Ngài đã dành hơn 45 phút để chào các tín hữu.

Trong bài giáo lý Đức Thánh Cha đã tiếp tục giải thích các ơn Chúa Thánh Thần ban cho tín hữu. Sau ơn khôn ngoan là ơn đầu tiên, ơn thứ hai là ơn thông hiểu. Ngài khẳng định ngay như sau:

Đây không phải là sự thông minh của con người, khả năng hiểu biết mà chúng ta ít nhiều có được. Trái lại, nó là một ơn mà chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể đổ vào trong chúng ta và dấy lên nơi kitô hữu khả năng đi xa hơn khía cạnh bề ngoài của thực tại và thăm dò các sự sâu thẳm nơi tư tưởng của Thiên Chúa và chương trình cứu độ của Người.

Khi nói với cộng đoàn Côrintô, tông đồ Phaolô miêu tả đúng các hiệu qủa của ơn này, nghĩa là điều ơn thông hiểu của Chúa Thánh Thần làm nơi chúng ta. Thánh nhân nói như sau: ”Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người”. Còn chúng ta chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí” (1 Cr 2,9-10).

Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là một tín hữu kitô có thể hiểu biết mọi sự và tràn đầy các chương trình của Thiên Chúa: tất cả những điều đó còn chờ được tỏ lộ ra trong tất cả sự trong sáng của chúng, khi chúng ta sẽ ở bên Thiên Chúa và thực sự là một với Người. Tuy nhiên, như từ hiểu biết gợi ý, hiểu biết intelletto cho phép ”đọc bên trong” ”intus - leggere”. Ơn này khiến cho chúng ta hiểu các sự vật như Thiên Chúa hiểu, với sự thông minh của Thiên Chúa. Bởi vì một người có thể hiểu một tình trạng với trí thông minh của con người, với sự thận trọng, thì tốt thôi. Nhưng hiểu một tình trạng trong chiều sâu, như Thiên Chúa hiểu, là hiệu quả của ơn ấy. Và Chúa Giêsu đã muốn gửi Chúa Thánh Thần cho chúng ta để chúng ta có ơn ấy, để chúng ta tất cả có thể hiểu các sự vật như Thiên Chúa hiểu chúng, với sự thông hiểu của Thiên Chúa. Đây là một món qùa đẹp mà Chúa đã ban cho tất cả chúng ta.

Đó là ơn, qua đó Chúa Thánh Thần dẫn đưa chúng ta vào trong sự thân tình với Thiên Chúa và khiến cho chúng ta được tham dự vào chương trình tình yêu mà Người có đối với chúng ta. Khi đó thật rõ ràng là ơn thông hiểu gắn liền mật thiết với đức tin.

Khi Chúa Thánh Thần ở trong tim chúng ta và soi sáng trí khôn chúng ta, Người làm cho chúng ta lớn lên mỗi ngày trong sự thông hiểu điều mà Chúa đã nói và đã làm. Chính Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ Người: Thầy sẽ gửi Thánh Thần cho anh em và Người sẽ làm cho anh em hiểu tất cả những gì

Thầy đã dậy anh em. Hiểu các giáo huấn của Chúa Giêsu, hiểu Lời Người, hiểu Tin Mừng, hiểu Lời của Thiên Chúa. Một người có thể đọc Phúc Âm và hiểu điều gì đó, nhưng nếu chúng ta đọc Phúc Âm với ơn của Chúa Thánh Thần chúng ta có thể hiểu chiều sâu các lời của Thiên Chúa. Và đây là một ơn lớn, một ơn vĩ đại mà tất cả chúng ta phải xin và xin cùng nhau: Lậy Chúa xin ban cho chúng con ơn thông hiểu.

Trong Phúc Âm thánh Luca có một chuyện diễn tả rất rõ sự sâu thẳm và sức mạnh của ơn đó. Đó là câu chuyện hai môn đệ trên đường về làng Emmaus. Sau khi chứng kiến cái chết trên thập giá và việc chôn cất Đức Giêsu, hai môn đệ tuyệt vọng và tan nát bỏ thành Giêrusalem và trở về làng tên là Emmaus.

Trong khi họ đi đường Chúa Giêsu phục sinh đến đi bên cạnh và bắt đầu nói chuyện với họ, nhưng mắt họ bị che mờ bởi sự buồn đau và nỗi tuyệt vọng nên không nhận ra Người. Chúa Giêsu đi với họ, nhưng họ buồn sầu, họ tuyệt vọng tới nỗi họ không nhận ra Người.

Nhưng khi Chúa giải thích Thánh Kinh, để họ hiểu rằng Người phải đau khổ và chết đi để rồi sống lại, trí khôn họ mở ra và niềm hy vọng tái nhóm trong con tim của họ (x. Lc 24,13-27).

Và đây chính là điều Chúa Thánh Thần làm với chúng ta: Người mở tâm trí chúng ta, Người mở chúng ta ra để hiểu các điều của Thiên Chúa hơn, hiểu các điều của con người, các tình trạng, tất cả mọi sự. Ơn thông hiểu thật là quan trọng đối với cuộc sống kitô. Chúng ta hãy xin Chúa ơn đó, xin Người ban cho chúng ta, ban cho tất cả chúng ta ơn này để hiểu như Người hiểu, hiểu các sự vật xảy ra, và nhất là hiểu Lời Chúa trong Phúc Âm.

Đức Thánh Cha đã chào tín hữu đến từ các nước Bắc Mỹ và Tây Âu, cũng như các phái đoàn đến từ các nước: Benin, Uganda, Nam Phi, Philippines, Đài Loan, Malaysia, hay các đoàn hành hương đến từ các nước châu Mỹ Latinh như Honduras, Uruguay, Argentina, Mêhicô, Brasil. Ngài cầu mong tín hữu để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc sống.

Chào các tín hữu Ba Lan về Roma tham dự lễ phong Hiển Thánh cho Đức Gioan Phaolô II, Đức Thánh Cha cầu mong chứng tá đức tin, đức cậy, đức mến và sự tín thác nơi Lòng Chúa Thương Xót của thánh Gioan Phaolô II đặc biệt sống động trong những ngày này, sự bầu cử của người nâng đỡ cuộc sống và các ý hướng tốt lành của từng người, cũng như các âu lo và niềm vui của người thân, sự phát triển và tương lai an bình của Giáo Hội tại Ba Lan và trong toàn quê hương của họ.

Trong số các nhóm nói tiếng Ý được chào có đoàn các trẻ em chịu phép Thêm Sức do Đức Cha Antonio De Luca Giám Mục giáo phận Teggiano-Policastro hướng dẫn; nhóm các nữ tu Salésiennes Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria; các chủng sinh giáo phận Catania và Caltagirone; các tham dự viên cuộc hội học do Đại học Santa Croce tổ chức; tín hữu giáo xứ Montecchio hành hương Roma nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập giáo xứ. Đức Thánh Cha cầu mong chuyến viếng thăm mộ các thánh Tông Đồ và các Giáo Hoàng, dịp phong hiển thánh cho Đức Gioan XXIII và Gioan Phaolô II giúp họ đào sâu đức tin và việc tùy thuộc dân thánh Chúa.

Chào các bạn trẻ, người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới, ngài nhắc cho mọi người biết Giáo Hội mới mừng kính thánh nữ Catarina thành Siena Bổn Mạng Italia và Âu châu. Ngài khuyên các bạn trẻ noi gương thánh nữ sống với lương tâm ngay thẳng không nhượng bộ các giàn xếp nhân loại. Ngài nhắn nhủ các bệnh nhân noi gương mạnh mẽ của thánh nữ trong những lúc khổ đau, và khích lệ các cặp vợ chồng mới cưới noi gương đức tin vững vàng của người biết tín thác nơi Chúa.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải