Trang

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2015

01-11-2015 : (phần II) LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ - LỄ TRỌNG

Ngày 1 tháng 11
Lễ Các Thánh Nam Nữ
Lễ Trọng
(phần II)


Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật XXXI Thường Niên - năm B
CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN B
TRỌNG KÍNH CÁC THÁNH NAM NỮ
(Kh 7,2-4. 9-14, 1Ga 3,1-3, Mt 5,1-12a)
TÔN KÍNH VÀ NOI GƯƠNG CÁC THÁNH
LÀ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HẾT LÒNG SỐNG THEO THÁNH Ý CHÚA
“Anh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao

(Mt 5,12a).
Trong năm phụng vụ, Hội Thánh kính nhớ các vị Thánh đã được tuyên phong để chúng ta tôn vinh và noi gương các ngài. Hôm nay, Hội Thánh dành kính nhớ tất cả các Thánh Nam Nữ, dù chưa được Hội Thánh tôn phong, nhưng đang được hưởng vinh quang với Thiên Chúa trong Nước Trời. Các vị là các Kitô hữu đã chết trong ơn nghĩa của Thiên Chúa, kể cả những ai đã sống tốt dựa theo luật tự nhiên và lương tâm ngay thẳng, cũng như những ai đã theo đuổi chân-thiện-mỹ của Thiên Chúa mà chưa có cơ hội trực tiếp nhận biết Người. Các vị có thể là những người bình thường như chúng ta, là thân bằng quyến thuộc, bạn hữu hay đồng nghiệp với chúng ta, nhưng họ đã sống lành thánh theo ý Thiên Chúa khi còn ở tại thế. Việc kính nhớ các Thánh Nam Nữ hôm nay giúp chúng ta ý thức rằng với ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta cũng có thể nên thánh trong đời thường, nếu chúng ta sống theo các huấn lệnh Chúa truyền và giáo huấn Hội Thánh dạy.
I. CÁC BÀI ĐỌC                                                        
1. Bài đọc I (Kh 7,2-4.9-14)
Bài đọc I trích sách Khải Huyền mô tả thị kiến về cảnh khải hoàn của các Thánh Nam Nữ trong Nước Trời. Những người được Thiên Chúa tuyển chọn vào hàng ngũ các Thánh sẽ được “đóng ấn trên trán”. Việc đóng ấn này ám chỉ việc viết Danh Thiên Chúa trên trán của các tín hữu, như được mô tả tại một số nơi khác trong sách Khải Huyền (x. Kh 3,12; 14,1; 22,4). Biểu tượng ấn đóng trên trán được rút ra từ Ed 9: thiên sứ đóng dấu trên trán của những người đã không thờ lạy ngẫu tượng, ấn này giúp họ thoát khỏi cái chết. Dầu vậy, ấn trong Sách Khải Huyền không tượng trưng cho sự bảo vệ họ “khỏi” gian truân và chết chóc, nhưng bảo vệ họ “trong và qua” gian truân và chết chóc, tức gìn giữ họ trong mọi đau khổ để họ kiên vững bền đỗ đến cùng. Nhờ đó, những người được đóng ấn ở trong thị kiến này được gọi “là tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta” vì họ luôn trung thành với Thiên Chúa trong mọi cảnh huống của cuộc sống.
Bài đọc hôm nay còn thuật rằng có “một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn, thuộc mọi chi tộc con cái Israel”. Đây không phải là con số giới hạn, nhưng là tượng trưng. Theo nghĩa hẹp, đây là số người công chính còn sót lại trong mỗi chi tộc Israel, nhưng theo nghĩa rộng, con số này nói lên toàn thể và hoàn hảo. Cụ thể hơn, con số 144.000 người được đóng ấn là tổng 12.000 thuộc mỗi chi tộc con cái Israel, nhân với 12 chi tộc. Toàn thể mọi người thuộc mọi chi tộc ở đây là của Israel mới, tức là Hội Thánh, không phân biệt nguồn gốc Do Thái hay Hy Lạp (x.Kh 2,9; 3,9).
Kế đến sách Khải Huyền trình bày một thị kiến khác để mô tả sự cứu độ cánh chung dành cho những người công chính. Đó là “Một đoàn người đông đảo không ai nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ”. Dù không được nhấn mạnh đến các chi tiết, nhưng sách muốn ám chỉ rằng nhóm này gồm tất cả các tín hữu trung thành đến cùng trong cuộc sống đời này, làm thành một nhiệm thể phổ quát, đó chính là Hội Thánh Kitô giáo. Họ “mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế”. “Áo trắng” tượng trưng cho sự thanh sạch vì đã được tinh luyện “sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao”, và “họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 2,14);  còn “nhành lá thiên tuế tượng trưng cho sự chiến thắng”. Lúc này, đoàn người đông đảo đến sấp mặt xuống phủ phục thờ lạy Thiên Chúa. Họ hát bài ca chiến thắng và tung hô: “Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta” (Kh 2,10).  Đoàn người này chính là các Thánh Nam Nữ mà chúng ta lễ hôm nay. Họ là những những người “tìm kiếm thánh nhan Thiên Chúa” (Tv đáp ca) nên họ đã hết lòng thực thi Thánh ý Người và trung thành mãi đến cùng nên họ được ân thưởng xứng đáng trong Nước Trời.
2. Bài đọc II (1Ga 3,1-3)
Thư 1Ga nói chung đã cố ý làm nổi bật sự tương phản về lối sống giữa “con cái Thiên Chúa” và “con cái Satan”, đồng thời đề cập đến phần thưởng hoặc hình phạt thích đáng dành cho họ. Theo ý hướng đó, đoạn trích trong bài đọc II hôm nay làm cho thấy rằng các Kitô hữu đã có kinh nghiệm về sự tốt lành của Thiên Chúa trong khi trở nên con cái của Người. Với các Kitô hữu, tình yêu của Thiên Chúa đã làm cho họ trở thành “con cái của Thiên Chúa”. Điều này dẫn đến ba hệ quả mà truyền thống Gioan đã triển khai:
- Các Kitô hữu không thuộc về thế gian, vì thế gian là những kẻ không đón nhận Đức Giêsu (Ga 5,18-19; 17,14-16).
- Các Kitô hữu được hướng tới đời sống thánh thiện (được hiến thánh) giống Chúa Kitô (Ga 17,17-19).
- Các Kitô hữu tin tưởng vào nguồn ơn cứu độ lớn lao hơn trong tương lai (Ga17,24).
Thư 1Ga nhấn mạnh rằng là Kitô hữu, chúng ta được “biết” Thiên Chúa, tức là được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa; còn thế gian không “biết” Thiên Chúa (x. 1Ga3,1). Theo truyền thống Gioan, chúng ta “biết” được Thiên Chúa qua trung gian Đức Giêsu. Đức Giêsu biết “Danh Cha” và Người đã cho chúng ta biết Danh Cha (Ga17,6.26). Vì được “biết” Thiên Chúa nên “chúng ta sẽ giống Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Ga 3,2). Tư tưởng này dựa theo một quan niệm phổ biến trong các tôn giáo Hylạp là “biết cái gì như thế nào thì sẽ được giống như thế”; từ đó rút ra hệ luận: chúng ta biết Thiên Chúa thì sẽ được giống Thiên Chúa. Nhờ đó, chúng ta sẽ được chia sẻ vinh quang của Người (Ga 17,24). Đó là phần thưởng xứng đáng mà các Thánh Nam Nữ đã được ban thưởng khi các vị kết thúc hành trình cuộc đời và sứ vụ của một người sống tư cách “con cái Thiên Chúa” ở trần gian để bước vào cõi sống muôn đời trong Nước Trời.
3. Bài Tin Mừng (Mt 5,1-12a)
Một trong những chủ đích của Tin Mừng Mátthêu là trình bày các giáo huấn của Đức Giêsu cách rõ ràng thành năm bài giảng lớn, ngầm đối chiếu với Ngũ Thư, vì tác giả có chủ đích làm nổi bật chân dung Đức Giêsu như là một Môsê mới. Bài giảng đầu tiên và dài nhất thường được gọi là “Bài Giảng Trên Núi” ở Mt 5‒7. Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe được trích từ bài giảng này. Bài Tin Mừng thuật rằng khi đám đông lũ lượt kéo đến với Đức Giêsu, Người lên núi để giảng dạy. Nếu Môsê cũ đã lên núi để đón nhận mạc khải của Thiên Chúa qua Mười Điều Răn ở núi Sinai, được xem là kim chỉ nam cho toàn bộ đời sống của Israel, thì Đức Giêsu lên núi để mạc khải Thánh ý của Thiên Chúa qua việc công bố Hiến chương Nước Trời, như là quy luật cho đời sống Kitô hữu và được xem như là chìa khóa để các Kitô hữu vào Nước Trời.
Hiến chương này được diễn tả trong các mối phúc. Đó thực sự là những lời hứa vào thời tương lai ở đời sau, trong một “tình trạng” viên mãn, liên quan đến mọi mặt trong cuộc sống của người được chúc phúc. Thông thường, người đời thường chúc nhau thành đạt và hạnh phúc: không gặp cảnh nghèo khó, không sầu khổ, không gặp cảnh thương tâm, không bị bách hại, có phúc, lộc, thọ, khang, ninh…Không ai chúc nhau những tình trạng hoặc hoàn cảnh được đề cập trong tám mối phúc này. Thế nhưng, ở đây các đối tượng gặp tình trạng hoặc hoàn cảnh như thế lại được Đức Giêsu chúc phúc. Vì vậy, những lời chúc phúc này là hoa trái cứu độ do chính Đức Giêsu mang lại.
Thật vậy, theo Mátthêu, Tin Mừng được loan báo cho người nghèo và bị áp bức, cho kẻ đau khổ và khiêm nhường,… Đây là những người bị xem là “bất hạnh” và “vô phúc” trước mặt người đời, nên họ đang rất khao khát Thiên Chúa chúc phúc cho họ. Những người lâm vào tình cảnh như thế chỉ biết cậy dựa vào Thiên Chúa, vì thế họ được “chúc phúc”. Tuy nhiên, họ được “chúc phúc” không phải trong hoàn cảnh hiện tại (nghèo khổ, khóc lóc, sầu khổ,…), nhưng vì qua hoàn cảnh hiện tại đó, họ sẽ được “hạnh phúc” trong tương lai (được Nước Trời; được ủi an, được thỏa lòng,…). Nước Trời bao trùm lên những lời chúc phúc này. Vì thế, “Nước Trời” được đặt ở đầu (mối phúc thứ nhất) và cuối (mối phúc thứ tám) của tám mối phúc này. Quả thật, Nước Trời với niềm hạnh phúc vô biên và tuyệt hảo của Nước Trời là phần thưởng cao quý nhất dành cho những ai có tâm hồn nghèo khó, hiền lành, khao khát sự công chính, xây dựng hòa bình, có tâm hồn trong sạch, và bị bách hại về sự công chính… Nói cách khác, Nước Trời dành cho những ai khao khát sống theo thánh ý Thiên Chúa và hoàn toàn tùy thuộc vào Người.
Theo Mátthêu, Nước Trời đã bắt đầu ngay ở thời hiện tại. Do đó, những ai được chúc phúc có thể bắt đầu được cảm nếm trước phần nào, ngay trong cuộc sống trần gian này, các niềm hạnh phúc lớn lao mai sau: đó là niềm vui của người được làm “con cái Thiên Chúa”. Khi Nước Trời hiển trị trong ngày Chúa Quang lâm, họ sẽ được hưởng hạnh phúc tròn đầy như đã được hứa ban.
II. GỢI Ý MỤC VỤ
1. “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên.” Các thánh cũng là những con người rất giống chúng ta: được sinh ra và lớn lên trong những gia đình nhân loại, thuộc mọi thành phần giai cấp trong xã hội: giàu sang phú quý hay nghèo đói túng cực cũng có, trí thức uyên thâm hay dốt nát quê mùa cũng nhiều, khỏe mạnh giỏi giang hay yếu đuối bệnh tật cũng lắm. Các vị có thể là những người sống một đời đạo hạnh nhưng vì mang thân phận mỏng dòn của con người cát bụi nên có thể vẫn mang nơi mình nhiều thói hư tật xấu, đầy yếu đuối dục vọng, lắm tham sân si, cũng hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc dục, …Tuy nhiên, các Thánh lại là những con người khác chúng ta: biết sống hoán cải, vượt lên trên con người yếu đuối của mình để mà sống vâng theo lời Chúa dạy, đi đúng đường lối của Người để được cứu độ, được nên thánh. Tôi có dám để lời của thánh Augustinô thách thức: “ông kia bà nọ nên thánh được, sao tôi lại không?”
2. “Chúng ta được gọi là con cái Thiên Chúa, mà thực sự chúng ta là con cái Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người”. Chúng ta diễm phúc được “biết” Thiên Chúa, nhờ được đón nhận đức tin từ cộng đoàn giáo xứ và từ gia đình của chúng ta. Gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong việc gieo trồng, nuôi dưỡng và giáo dục đức tin của mỗi người. Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình tổ chức ở Rôma từ ngày 4 đến 25 tháng 10 năm 2015 vừa qua đã nhận định trong phúc trình chung kết rằng gia đình là Hội Thánh tại gia, là tế bào cơ bản của xã hội mà Hội Thánh góp phần làm tăng trưởng, là bến cảng chắc chắn cho những tâm tình sâu xa nhất, là điểm duy nhất liên kết, trong một thời đại bị phân hóa. Chúng ta có ý thức rằng gia đình thế nào thì xã hội và Hội Thánh thế ấy, để mỗi thành viên nỗ lực góp phần mình làm cho gia đình mình thành trường học đào tạo những con người biết cách xây dựng xã hội và Hội Thánh tốt đẹp?
3. “Phúc thay… Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” Có nhiều phương thế để nên thánh, và có nhiều cách thức để vào trong Nước Trời, nhưng Đức Giêsu đã chỉ cho chúng ta con đường có “tám làn đường” tức là “tám mối phúc” để chúng ta theo chân Người mà đi vào Nước Trời.Các Thánh Nam Nữ là những người đã đi trên những làn đường khác nhau trong cùng con đường “tám mối phúc” với Đức Giêsu. Các vị là những người yêu mến tinh thần nghèo khó, sống hiền lành, trải qua sầu khổ, khao khát sự công chính, xót thương người, có tâm hồn trong sạch, biết xây dựng hòa bình, và sống quên mình vì Chúa và vì anh chị em, thậm chí hy sinh mạng sống mình vì sự công chính… Các Thánh Nam Nữ đã đi trên con đường này và đạt tới đích Nước Trời để có cuộc sống đời đời hạnh phúc bên Chúa. Chúng ta đang chọn đi trên con đường nào, sao không chọn đi trên con đường chắc chắn dẫn chúng ta tới đích Nước Trời, mà Đức Giêsu đã chỉ cho và các Thánh đã đi qua?
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tếAnh chị em thân mến! Các thánh là những người đã chiến thắng và đang được hưởng vinh quang nước Trời sau khi đã kết thúc hành trình trần thế theo con đường của Đức Giêsu và các mối phúc. Mừng kính các Thánh Nam Nữ hôm nay, cộng đoàn chúng ta cùng hiệp với các ngài dâng lời tạ ơn Chúa và sốt sắng cầu xin:
1. “Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh luôn gắn bó mật thiết với Đức Kitô qua việc thực thi lời Chúa và sống các Bí tích, để được chung hưởng hạnh phúc Nước Trời cùng các thánh.
2. “Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho những người không tin hay chưa tin biết Chúa cảm nhận được sự hiện diện và lòng thương xót của Người qua chính đời sống chứng tá của các Kitô hữu.
3. “Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho các Kitô hữu ở khắp nơi trên thế giới đang phải đối diện với ngược đãi và bách hại được ơn can đảm và sức mạnh để luôn kiên trì đi theo Chúa.
4. Tám mối phúc là con đường chắc chắn đưa con người vào Nước Trời. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn hăng hái trong các hoạt động tôn giáo cũng như xã hội theo tinh thần Tin Mừng, để xứng đáng là công dân Nước Trời.
Chủ tếLạy Chúa là Đấng chí thánh, Chúa muốn tất cả chúng con nên hoàn thiện như Chúa mỗi ngày theo gương các Thánh Nam Nữ. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện và ban Thánh Thần giúp chúng con luôn vững bước trên đường nên thánh theo các mối phúc thật. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Lectio Divina: Lễ Các Thánh – Mátthêu 5:1-12a
Chúa Nhật, 1 Tháng 11, 2015
Tám Mối Phúc Thật
Mt 5:1-12 


1.  Bài Đọc

a)  Lời nguyện mở đầu:  

Lạy Chúa, ý nghĩa của cuộc đời chúng con là đi tìm kiếm Lời Chúa, là Lời đến với chúng con trong con người của Đức Kitô.  Xin Chúa hãy ban cho con có khả năng đón nhận những gì mới mẻ trong Tin Mừng của Tám Mối Phúc Thật, để cho con có thể thay đổi đời sống mình. Con sẽ không biết gì về Chúa nếu không nhờ vào ánh sáng những Lời được phán ra bởi Đức Giêsu, Con Một Chúa, Đấng đã đến cho chúng con biết về những sự kỳ diệu của Chúa.  Khi con yếu đuối, nếu con đến với Người, Lời của Chúa, thì con sẽ trở nên mạnh mẽ.  Khi con hành xử cách dại khờ, sự khôn ngoan của Tin Mừng Chúa sẽ khôi phục con để thưởng thức Thiên Chúa và tình yêu lân tuất của Người. Người hướng dẫn con đến lối đi của đời sống.  Khi một vài biến dạng xuất hiện trong con, con suy niệm Lời Chúa thì hình ảnh về tư cách của con trở nên xinh đẹp.  Khi sự cô đơn dễ khiến cho con trở nên khô khan, thì hôn ước tâm linh của con với Người làm cho đời sống con thăng hoa kết quả.  Khi con khám phá ra nỗi buồn hay sự đau khổ trong con, thì ý nghĩ về Chúa, là phương cách tốt đẹp duy nhất của con dẫn đến niềm hân hoan.  Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu có nói rằng gom lại tất cả những ước ao được nên thánh là sự tìm kiếm Thiên Chúa mãnh liệt và việc lắng nghe tha nhân:  “Nếu em không là gì cả, thì hãy nhớ rằng Chúa Giêsu là tất cả.  Vì vậy, em phải đánh mất điều bé nhỏ không là gì của mình vào trong sự vô hạn của Người và không nghĩ đến một điều gì khác ngoại trừ điều duy nhất đáng yêu hơn hết này…” (trích Những Lá Thư, 87, gửi cho Marie Guérin).

b)  Bài Phúc Âm
1 Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. 2 Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:
3 "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
4 Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp.
5 Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an.
6 Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả.
7 Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương.
8 Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa.
9 Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10 Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.
11 "Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. 12 Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời; quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước các con cũng bị người ta bách hại như thế".

c)  Giây phút thinh lặng cầu nguyện:

Điều quan trọng để có thể lắng nghe trong sự im lặng chìm lắng là để cho Lời của Chúa Kitô có thể nói với chúng ta và do đó Ngôi Lời nhập thể làm người có thể ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Người.  Chỉ có sự im lặng trong lòng thì Lời Chúa mới có thể bén rễ và, trong ngày lễ Các Thánh trọng thể này, trở thành xác thịt trong chúng ta.
2.  Ánh sáng tỏa trên Lời Chúa (Suy Gẫm)

a)  Bối cảnh:

Lời của Chúa Giêsu về Tám Mối Phúc Thật mà thánh Mátthêu rút ra từ các nguồn tài liệu của mình, đã được cô đọng trong những câu ngắn và tách rời, Thánh Sử đã đặt chúng trong một bối cảnh rộng lớn hơn, mà các học giả Kinh Thánh gọi là “bài giảng trên núi” (các chương 5-7).  Bài giảng này được coi như những quy luật hoặc bản Hiến Chương (Magna Carta) mà Chúa Giêsu đã ban cho cộng đoàn như một chuẩn mực và lời ràng buộc định nghĩa cho một Kitô hữu.

Nhiều chủ đề được chứa đựng trong bài giảng dài này không nên coi là một bộ sưu tập các lời hô hào, mà là một chỉ dấu rõ ràng và triệt để về thái độ mới của các môn đệ đối với Thiên Chúa, với chính bản thân và các anh chị em.  Một số thành ngữ được xử dụng bởi Chúa Giêsu dường như có vẻ được cường điệu, nhưng chúng được dùng để nhấn mạnh đến thực tại và do đó chúng thực tiễn trong bối cảnh mặc dù không mang một ý nghĩa văn học như thế:  ví dụ các câu 29-30:  “Nếu mắt phải của các con làm cớ cho các con sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục.  Và nếu tay phải của các con làm cớ cho các con sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hỏa ngục”.  Cách nói này cho thấy hiệu quả mong muốn có được trong người đọc, là những người phải hiểu một cách chính xác Lời của Chúa Giêsu mà không làm sai lệch ý nghĩa của chúng.

Vì lý do phụng vụ, sự chú tâm của chúng ta sẽ là phần đầu của “bài giảng trên núi”, đó là phần nói về việc công bố Tám Mối Phúc Thật (Mt 5:1-12).

b)  Một vài chi tiết:

Thánh Mátthêu mời gọi người đọc lắng nghe Chúa Giêsu công bố Tám Mối Phúc Thật với một sự cô đọng phong phú các chi tiết.  Đầu tiên, tác giả cho biết nơi Chúa Giêsu công bố bài giảng của Người:  “Chúa Giêsu đi lên núi” (5:1).  Đó là lý do tại sao các nhà chú giải gọi đây là “bài giảng trên núi”, dù rằng thánh sử Luca đặt bài giảng này trên chỗ đất bằng (Lc 6:20-26).  Vị trí địa lý của “ngọn núi” có thể là một ám chỉ nhắc đến câu chuyện trong Cựu Ước khá giống như câu chuyện của chúng ta:  đó là, khi ông Môisen công bố Mười Điều Răn trên núi Sinai.  Có thể là thánh Mátthêu muốn giới thiệu Đức Giêsu như một Môisen mới, Đấng công bố lề luật mới.

Một chi tiết khác làm chúng ta chú ý là tư thế của Chúa Giêsu khi Người công bố bài giảng của mình:  “khi Người ngồi xuống”.  Tư thế này hàm ý một chi tiết là Người có thẩm quyền theo ý nghĩa pháp lý.  Các môn đệ và “đám đông dân chúng” tụ tập chung quanh Người:  chi tiết này cho thấy những gì Chúa Giêsu đã phải nói là để cho tất cả mọi người đều nghe.  Chúng ta lưu ý rằng Lời của Chúa Giêsu không đưa ra những chuyện không thể, cũng không được để dành riêng cho một nhóm người đặc biệt nào, cũng không có nghĩa là những lời ấy được dùng để thiết lập một quy tắc đạo đức dành riêng cho những môn đệ thân thiết của mình.  Lời đòi hỏi của Chúa Giêsu thì rành rẽ, ràng buộc và triệt để dứt khoát.

Có người đã khắc sâu bài giảng của Chúa Giêsu như sau:  “Đối với tôi, đây là văn bản quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại.  Nó được gửi đến cho tất cả mọi người, các tín hữu và cả những người không tin, và sau hai mươi thế kỷ nó vẫn là ánh sáng duy nhất còn tỏa sáng trong bóng tối của bạo lực, nỗi sợ hãi và cô đơn trong đó Phương Tây tự tìm thấy vì niềm kiêu hãnh và sự ích kỷ của mình” (Gilbert Cesbron).

Từ ngữ “có phúc” (chữ Hy Lạp là makarioi) trong bối cảnh của chúng ta không nói “cách nhẹ nhàng” mà là kêu to lên sự hạnh phúc được tìm thấy trong suốt bộ Kinh Thánh.  Ví dụ, trong Cựu Ước, những người được gọi là “có phúc” là những người sống theo giềng mối của sách Khôn Ngoan (Hc 25:7-10).  Người cầu nguyện Thánh Vịnh định nghĩa “có phúc” là những ai “kính sợ”, hay nói chính xác hơn những ai yêu mến Chúa, thể hiện tình yêu này trong việc tuân giữ những giáo huấn được chứa đựng trong Lời Chúa (Tv 1:1; 128:1).

Sự độc đáo của Tin Mừng Mátthêu nằm ở chỗ thêm vào câu thứ hai xác định rõ mỗi mối phúc thật:  ví dụ, câu khẳng định chính “phúc thay cho ai có tâm hồn nghèo khó” được làm sáng tỏ bởi câu bổ sung “vì Nước Trời là của họ”.  Một khác biệt đối với Cựu Ước là lời của Chúa Giêsu công bố mối phúc thật cứu rỗi ở đây, bây giờ và không có bất kỳ giới hạn nào.  Đối với Chúa Giêsu, tất cả mọi người đều có thể đạt được hạnh phúc với điều kiện là họ tiếp tục hiệp nhất với Chúa.

c)  Ba mối phúc thật đầu tiên:


i)  Câu công bố đầu tiên liên quan đến người nghèo:  “phúc biết bao cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”.  Người đọc có thể bị kích động:  làm thế nào mà người nghèo khó lại có thể hạnh phúc được?  Trong Kinh Thánh, người nghèo khó là những kẻ không có gì trong tay và hơn hết cả là từ bỏ giả định việc chính bản thân họ xây dựng hiện tại và tương lai của họ, và vì thế để còn có thì giờ và tập trung vào công việc nhà Chúa và Lời của Ngài.  Người nghèo khó, theo nghĩa Kinh Thánh, luôn không phải là một ai đó sống khép kín với chính mình, đau khổ, tiêu cực, mà là một người luôn mở lòng ra mới Thiên Chúa và với tha nhân. Thiên Chúa là tất cả kho tàng của người ấy.  Chúng ta có thể nói đến thánh Têrêsa thành Avila:  Hạnh phúc là những ai có được kinh nghiệm rằng “chỉ có một mình Thiên Chúa là quá đủ!”, có nghĩa là họ rất giàu có trong Thiên Chúa.
Một tác giả lớn về tâm linh hiện đại đã mô tả sự nghèo khó như sau:  “Khi người ta không hoàn toàn dốc sạch trái tim mình, thì Thiên Chúa không thể đổ đầy nó với chính Ngài.  Khi bạn dọn trống trái tim mình, thì Chúa sẽ đổ đầy nó.  Nghèo khó là sự trống rỗng, không chỉ ở những gì liên quan đến tương lai mà cũng còn đến quá khứ.  Không phải là một hối tiếc cũng chẳng là một hoài niệm, không phải là một ưu tư cũng chẳng là một ước mơ!  Thiên Chúa không thuộc về quá khứ, Thiên Chúa không thuộc về tương lai:  Người ở trong hiện tại!  Hãy để quá khứ của bạn lại với Thiên Chúa, hãy lìa bỏ quá khứ của bạn lại cho Thiên Chúa.  Sự nghèo khó của bạn là sống với hiện tại, sự Hiện Tại của Thiên Chúa thì vĩnh cửu” (Divo Barsotti).
Đây là mối phúc thật thứ nhất, không chỉ vì nó là mối phúc thật đầu tiên trong nhiều mối phúc thật, mà bởi vì nó dường như tóm gọn tất cả những mối phúc thật khác trong sự đa dạng của chúng.

ii)  “Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an.”  Người ta có thể than khóc vì quá đau đớn hay thống khổ.  Điều này nhấn mạnh một sự thật rằng chúng ta đang đối phó với một tình huống nghiêm trọng mặc dù các động cơ hay lý do không được nhắc đến.  Nếu chúng ta muốn xác định ngày hôm nay “những ai đau buồn” chúng ta có thể nghĩ đến tất cả các Kitô hữu đã gìn giữ các đòi hỏi của Nước Trời và chịu đau khổ bởi vì nhiều khía cạnh tiêu cực trong Giáo Hội; thay vì tập trung vào sự thánh thiên, Giáo Hội lại cho thấy những chia rẽ và bất toàn.  Họ cũng có thể là những kẻ chịu đau khổ bởi vì tội lỗi và mâu thuẫn của họ và những kẻ, trong một cách nào đó, đã trì hoãn việc cải đổi của họ.  Đối với những người này, chỉ có Thiên Chúa mới có thể mang đến tin tức về “Đấng an ủi”.

iii)  “Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp”.  Mối phúc thật thứ ba nói về sự hiền lành.  Đây là đức tính không còn được phổ biến hiện nay.  Thay vào đó, đối với nhiều người, nó có một ý nghĩa tiêu cực và bị xem như là một yếu kém hoặc một tính bình tĩnh biết cách kiềm chế cảm xúc của mình. Chữ “hiền lành” trong Kinh Thánh có nghĩa là gì?  Sự hiền lành được nhớ đến như những người vui hưởng sự an lạc (Tv 37:10), vui vẻ, được Thiên Chúa chúc phúc và yêu thương.  Họ cũng tương phản với những kẻ làm ác, vô thần và tội lỗi.  Vì vậy, Cựu Ước cho chúng ta sự phong phú về ý nghĩa mà không đưa ra một định nghĩa duy nhất nào.
Trong Tân Ước, chúng ta gặp chữ này lần đầu tiên là trong sách Tin Mừng theo Mátthêu 11:29:  “Hãy học cùng Ta vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhu”.  Lần thứ hai là ở trong câu Mt 21:5, khi thánh Mátthêu mô tả lại việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem và trích dẫn sách tiên tri Giacaria 2:9:  “Hãy bảo thiếu nữ Xion: Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với người hiền hậu”.  Thật ra, Tin Mừng Mátthêu có thể được coi như là Tin Mừng của sự hiền lành.
Thánh Phaolô cũng nói rằng sự hiền lành là một căn tính tốt của người Kitô hữu. Trong thư gửi các tín hữu Côrintô 2Cr 10:1 ông khuyên các tín hữu “tôi xin dựa vào lòng nhân từ và khoan dung của Đức Kitô mà khuyên nhủ anh em”.  Trong thư gửi các tín hữu Galát 5:22, sự hiền hòa được coi là một trong những hoa quả của Chúa Thánh Thần trong trái tim của các tín hữu và bao gồm việc hiền lành, tiết độ, chậm bất bình, tử tế và kiên nhẫn đối với những người khác.  Một lần nữa trong thư gửi tín hữu Êphêsô 4:32 và Côlôssê 3:12, thái độ hiền hòa là một phần của người Kitô hữu và là dấu hiệu của con người mới trong Đức Kitô.
Cuối cùng, một lời chứng hùng hồn trích từ thư của thánh Phêrô 1Pr 3:3-4:  “Ước chi vẻ duyên dáng của chị em không hệ tại cái mã bên ngoài như kết tóc, đeo vòng vàng, hay ăn mặc xa hoa; nhưng là con người nội tâm thầm kín, với đồ trang sức không bao giờ hư hỏng là tính thùy mị, hiền hòa:  đó chính là điều quý giá trước mặt Thiên Chúa”.
Chúa Giêsu dùng chữ “hiền hòa” như thế nào?  Một định nghĩa làm sáng tỏ thực sự là định nghĩa về người hiền lành được đưa ra bởi Đức Hồng Y Carlo Maria Martini“người hiền lành, theo ý nghĩa của các mối phúc thật, là người mà mặc dù sự nhiệt thành của các cảm xúc của mình, vẫn giữ được sự bình tĩnh và nhu mì, không chiếm hữu, nội tâm thảnh thơi, luôn rất tôn trọng mầu niệm của sự tự do, bắt chước Thiên Chúa trong khía cạnh này, Đấng làm tất cả mọi việc liên quan đến người khác và khuyên người ta vâng lời mà không bao giờ dùng bạo lực.  Tính hiền lành thì trái ngược lại với tất cả các hình thức kiêu căng vể luân lý hay vật chất, nó sẽ chiến thắng bằng hòa bình thay vì chiến tranh, bằng đối thoại thay vì áp đặt”.
Đối với lời giải thích khôn ngoan này, chúng ta thêm vào lời của một nhà chú giải nổi tiếng khác:  “Sự hiền lành được nói đến trong các mối phúc thật thì không có gì khác hơn là khía cạnh của sự khiêm nhu mà tự nó thể hiện trong sự niềm nở hòa nhã cách thực tế trong việc người ấy cư xử với tha nhân.  Sự hiền lành như thể tìm thấy được trong hình ảnh và tấm gương hoàn hảo trong con người của Đức Giêsu, hiền lành và khiêm nhường trong lòng.  Quả thật, sự hiền lành như thế đối với chúng ta dường như giống như một hình thức từ thiện, kiên nhẫn và chu đáo tế nhị đối với người khác” (Jacques Dupont).

3.  Suy niệm để Lời Chúa soi sáng chúng ta

a)  Tôi có thể chấp nhận những dấu hiệu về sự nghèo khó nhỏ bé trong đời sống của tôi không?  Ví dụ, khi sức khỏe yếu kém và hơi se mình? Tôi có tạo ra những đòi hỏi quá đáng không?
b)  Tôi có thể chấp nhận an phận về sự nghèo nàn và mỏng dòn của tôi không?
c)  Tôi có cầu nguyện như một người nghèo khó, như một người cầu xin ân sủng của Thiên Chúa với lòng khiêm nhường, cầu xin lòng thương xót và tha thứ của Người không?
d)  Được linh ứng từ sứ điệp của Chúa Giêsu về sự hiền lành, tôi có từ bỏ bạo lực, sự trả thù và ý tưởng báo thù không?
e)  Tôi có khuyến khích, trong gia đình và nơi làm việc, một tinh thần nhân ái, dịu dàng và hòa hoãn không?
f)   Tôi có trả thù với ác ý, bóng gió hoặc ám chỉ gây hấn với ác ý không?
g)  Tôi có chăm sóc đến người yếu đuối nhất, những kẻ không thể tự vệ không? Tôi có kiên nhẫn với người già cả không?  Tôi có đón tiếp khách lạ bơ vơ, những kẻ thường bị bóc lột nơi làm việc không?

4.  Cầu nguyện

a)   Thánh Vịnh 23:

Bài Thánh Vịnh dường như xoay quanh đề tài “Chúa là mục tử của tôi”.  Các thánh là hình ảnh đoàn chiên trên đường đi:  họ được chăn dắt bởi lòng nhân từ và trung kiên của Thiên Chúa, cho đến khi cuối cùng họ đến được nhà Chúa Cha (L. Alonso Schökel, Thánh Vịnh Tín Thác, sách Dehoniana, Bologna 2006, 54)

CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.

Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.

Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.

Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.

Lòng nhân hậu và tình thương CHÚA
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên. 

b)  Lời nguyện kết

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chỉ cho chúng con con đường của các mối phúc thật để cho chúng con có thể đến với nó rằng hạnh phúc đó là sự viên mãn của đời sống và vì thế thánh thiện.  Tất cả chúng con đều được kêu gọi nên thánh, nhưng kho báu duy nhất của các thánh là Thiên Chúa.  Lạy Chúa, Lời của Chúa, lời kêu gọi nên thánh đến tất cả những ai trong phép rửa đã được chọn bởi tình yêu của Chúa Cha, để nên giống Đức Giêsu Kitô.  Chúng con cảm tạ Chúa, vì các thánh Chúa đã đặt trên đường đi của chúng con và những người thể hiện tình yêu của Chúa. Chúng con xin lòng tha thứ của Chúa nếu chúng con đã làm hoen ố khuôn mặt Chúa trong chúng con và đã từ chối lời kêu gọi trở nên thánh của chúng con.


01-11-2015 : (phần I) LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ - LỄ TRỌNG

Ngày 1 tháng 11
Lễ Các Thánh Nam Nữ
Lễ Trọng
(phần I)


Bài Ðọc I: Kh 7, 2-4, 9-14
"Tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng".
Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.
Tôi là Gioan đã nhìn thấy một thiên thần khác từ phía mặt trời mọc đi lên, tay cầm ấn Thiên Chúa hằng sống, và lớn tiếng kêu gọi bốn thiên thần được lệnh tàn phá đất và biển mà rằng: "Chớ có tàn phá đất, biển và cây cối trước khi ta đóng ấn trên trán những tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta". Và tôi đã nghe biết số người được đóng ấn là một trăm bốn mươi bốn ngàn người, thuộc mọi chi tộc Israel.
Sau đó, tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: "Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Ðấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên".
Rồi tất cả các thiên thần đến đứng chung quanh ngai vàng, và các trưởng lão cùng bốn con vật sấp mình xuống trước ngai mà thờ lạy Thiên Chúa rằng: "Amen! Chúc tụng, vinh hiển, khôn ngoan, cảm tạ, vinh dự, uy quyền và dũng lực cho Thiên Chúa chúng tôi muôn đời. Amen". Rồi một trong các trưởng lão lên tiếng hỏi rằng: "Những người mặc áo trắng này là ai vậy? Và họ từ đâu mà đến?" Tôi đáp lại rằng: "Thưa ngài, hẳn ngài đã rõ". Và người bảo tôi rằng: "Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên".
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 23, 1-2. 3-4ab. 5-6
Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa (c. 6a).
Xướng: 1) Trái đất và muôn loài trên mặt đất là của Chúa, hoàn cầu và muôn vật trên địa cầu. Vì chưng Chúa đã xây dựng nền móng trái đất trên biển cả, và Người đã tạo dựng nó trên các sông ngòi. - Ðáp.
2) Ai sẽ được trèo lên núi Chúa? Ai sẽ được dừng bước trong thánh điện? Ðó là người có bàn tay vô tội và tâm hồn trong sạch, không để lòng xuôi theo sự giả trá. - Ðáp.
3) Người đó sẽ hưởng phúc lành của Chúa và lượng từ bi của Chúa, Ðấng giải thoát họ. Ðấy là dòng dõi của những kẻ tìm Người, những kẻ tìm tôn nhan Thiên Chúa của Giacóp. - Ðáp.

Bài Ðọc II: 1 Ga 3, 1-3
"Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy".
Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.
Các con thân mến, các con hãy coi: Tình yêu của Thiên Chúa Cha đối với chúng ta thế nào, khiến chúng ta được gọi là con Thiên Chúa và thực sự là thế. Vì đó mà thế gian không nhận biết chúng ta, vì thế gian không biết Người. Các con thân mến, hiện nay, chúng ta là con Thiên Chúa, còn chúng ta sẽ ra sao thì vẫn chưa được tỏ ra. Chúng ta biết rằng: khi được tỏ ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy. Và bất cứ ai đặt hy vọng nơi Người, thì tự thánh hoá mình cũng như Người là Ðấng Thánh.
Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Mc 11, 28
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các con". - Alleluia.


Phúc Âm: Mt 5, 1-12a
"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:
"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. - Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. - Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. - Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. - Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. - Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. - Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. - Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.
"Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời".
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm:
Ngày 1 Tháng 11
Lễ Các Thánh Nam Nữ
(Kh 7,2-4.9-14; 1Yn 3,1-3; Mt 5,1-12a)
Việc dùng một ngày để kính nhớ chung mọi thánh đã khởi sự từ thế kỷ IV. Dĩ nhiên thời đó người ta mới chỉ nói đến các thánh tử đạo. Thoạt đầu người ta mừng vào ngày Chúa nhật đầu tiên sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, coi đó là kết quả của việc các Tông đồ được sai đi giảng đạo. Ở Rôma ngày lễ ấy lúc đầu được cử hành vào ngày 13/5 - ngày cung hiến điện Pantheon, tức là điện chư thần của dân ngoại, thành một vương cung thánh đường - Thay vào chỗ các tượng thần của các dân tộc mà đoàn quân chiến thắng Lamã đã đem về Rôma, người ta kiệu xương các Tử đạo về đó để tôn kính. Ðiện Pantheon, trở thành nhà thờ các Tử đạo và ngày thay đổi ấy trở thành ngày lễ các Tử đạo. Về sau vì lý do hành hương muốn tạo điều kiện dễ dàng cho các khách ở xa, Rôma đã dời lễ đó vào ngày 1 tháng 11. Và thay vì kính riêng các Tử đạo, người ta mừng chung tất cả các thánh nam nữ.
Dù sao, ngày nay mừng lễ này vào khoảng cuối năm Phụng vụ cũng là điều hợp lý: các thánh không phải là kết quả của Lịch sử ơn cứu độ sao? Kế hoạch của Thiên Chúa khởi sự từ mùa Vọng phải đưa chúng ta tới thiên cung đầy các thánh, để chúng ta tham dự Tiệc cưới của Chiên Con... Và như vậy, việc chọn sách Khải huyền làm bài đọc I hôm nay cũng là điều dễ hiểu.

A. Thế Giới Của Các Thánh
Yoan được thị kiến. Ông thấy trời mở ra. Và này ông thấy bốn thần sứ đang ở tứ phương giữa bốn luồng gió lại; chờ lệnh thả ra quét sạch mặt đất. Nhưng rồi lại có một thần sứ khác hiện ra ở phương Ðông, tay cầm ấn ngọc của Thiên Chúa, bảo bốn thần sứ kia rằng: không được thả gió ra cho tới khi người đóng ấn xong vào trán các kẻ được chọn.
Bằng những lời mạc khải trên, Yoan ngụ ý muốn nói rằng: mặt đất này có ngày sẽ bị quét sạch. Nhưng trước khi ngày ấy xảy đến, thần sứ của Chúa sẽ làm việc để chọn những người được cứu độ. Người sẽ ghi ấn tích của Thiên Chúa trên trán họ như ngày xưa người ta quen đóng ấn trên trán những người nô lệ. Và như thế, những người được chọn chính là những người tôi tớ của Thiên Chúa. Còn ấn tín kia, chúng ta có thể hiểu là ấn tín của phép Rửa làm cho người ta thuộc về Thiên Chúa và trở nên Dân Thánh của Người. Thế nên, cho đến ngày chung thẩm, lịch sử loài người chỉ có một nhiệm vụ: đào tạo những tôi tớ Thiên Chúa, tập họp những kẻ được chọn hoàn thành số các thánh nam nữ ở trên trời.
Theo Yoan, con số này lớn lắm, nên phải là con số "tròn", con số lý tưởng. Ông tựa vào số 12 chi tộc Israel ngày mới thành lập nơi sa mạc. Ông nhân con số đó với 1,000 để bảo mỗi chi tộc kia phải lớn thêm mãi hầu phủ đầy mặt đất. 12 chi tộc phát triển như vậy để làm thành Dân Chúa, đến nỗi vào ngày chung thẩm, ngày có Tiệc cưới Chiên Con, không ai còn có sức đếm được nữa. Khi ấy sẽ đủ mọi dân tộc, đủ mọi tiếng nói, đủ mọi nền văn minh. Thế giới các thánh thật đông đúc, thật phong phú, thật ngoạn mục! Tất cả đều mặc áo trắng dài, áo của thầy tư tế, chứng tỏ toàn Dân Thánh của Chúa là dân tư tế, dân linh mục. Tay họ cầm cành vạn tuế. Có lẽ không phải là cành lá chiến thắng và tử đạo đâu; nhưng là cành lá của dân Do Thái khi dự lễ "Trại".
Chúng ta biết dân Israel vẫn cử hành lễ "Trại" vào mùa thu, khi gặt hái xong. Thoạt đầu đó là một lễ nông nghiệp. Người ta đóng trại bằng những cành cây ở ngoài đồng nho khi nho chín để canh giữ và làm việc. Ðời sống bất thường ấy, ở giữa một khung cảnh thiên nhiên và trong niềm hân hoan hái trái nho chính, làm cho người ta sung sướng như trong ngày lễ. Về sau, gán cho ngày ấy một ý nghĩa tôn giáo và cử hành trong đền thờ, người ta nhớ tới thời Dân Chúa đã "cắm trại" nơi sa mạc... Và thế là lễ ấy trở thành "lễ tập họp Dân"; Dân cầm lá đến, tung hô hát xướng khi kiệu nước từ suối Siloam lên đổ trên tế vật đặt trên bàn thờ. Chính Ðức Yêsu đã tham dự lễ này. Và Người tuyên bố mình có nước hằng sống của Thánh Thần để ban cho kẻ tin Người. Và câu chúc tụng trong bài Khải huyền hôm nay cũng lấy lại lời tung hô trong lễ Trại. Như vậy rõ ràng thánh Yoan muốn dùng hình ảnh lễ này để gợi lên cộng đoàn phụng vụ các thánh ở trên trời.
Các người là Dân đông đảo của Thiên Chúa. Là dân toàn thiện, phát xuất từ 12 chi tộc Israel nhưng sẽ bao trùm toàn thể mọi dân tộc. Ðó là Dân đã được đóng ấn bằng phép Rửa, và là Dân tư tế. Cộng đồng Dân thánh ấy được triệu tập đến trước tòa Chúa có Chiên Con đứng đàng trước, để cử hành phụng vụ tạ ơn, tung hô các công cuộc kỳ diệu của Thiên Chúa và của Chiên Con.
Lập tức các thiên thần, các trưởng lão và bốn con vật đã đứng sẵn ở chung quanh ngai tòa Thiên Chúa, liền sấp mình thờ lạy. Thánh Yoan không muốn nói dài về các chi tiết này. Người ta có thể đưa ra những ý kiến khác nhau về các nhân vật kia. Nhưng tất cả đều đồng ý rằng ở đây thánh Yoan chỉ muốn nói đến thụ tạo, tức là thế giới tạo vật có thiên thần, loài người và động vật. Và ý của người là: tuy tạo vật vẫn thờ phượng Chúa, nhưng phải chờ đến khi có phụng vụ của các thánh và của Dân thánh Chúa, thì những lời tung hô thờ lạy của tạo vật mới được hoàn toàn. Tạo vật đang chờ đợi ngày xuất hiện của con cái Thiên Chúa để niềm hân hoan của chúng được trọn vẹn. "Phụng vụ tự nhiên" phải chờ đợi phụng vụ của các thánh để được phong phú. Thế giới các thánh sẽ hoàn thành thế giới tạo vật vậy.
Nhưng làm thế nào để có thế giới các thánh đó? Các thánh đó được đào tạo từ đâu? Các người từ đâu đến? Thưa họ đều đến từ đau khổ lớn lao, từ mặt đất nhiều thử thách. Họ đã giặt áo cho trắng ở trong Máu Chiên, tức là đã phải đi qua mầu nhiệm thập giá Ðức Kitô để có áo ân sủng và tư tế. Chính cuộc sống kết hợp với Ðức Kitô đã tôi luyện họ thành những tâm hồn trong trắng thánh thiện. Và như vậy họ thật là các Tử đạo và là các thánh mà chúng ta mừng lễ hôm nay. Phụng vụ không thể dùng đoạn Thánh Kinh nào thích hợp hơn để giúp chúng ta hiểu về thế giới các thánh. Nhưng khi dừng lại ở điểm nói về nguồn gốc của các ngài, phụng vụ lại muốn đưa chúng ta trở về thế giới ở mặt đất này, để xem chúng ta phải làm gì hầu mai ngày đạt tới quê hương các thánh.

B. Tin Mừng Cho Những Người Muốn Vào Nước Trời
Chúng ta không gặp khó khăn nào khi muốn biết con đường dẫn đến thế giới các thánh. Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Ðức Yêsu đang dạy dỗ những ai muốn vào Nước Trời. Người trèo lên núi để có thể đứng trên nơi cao nói với tất cả các dân tộc và các thời đại. Các môn đồ ngồi ở gần Người để cho mọi người thấy phải trở thành môn đệ. Người lên tiếng một cách trịnh trọng khi dùng lối văn khôn ngoan của thời bấy giờ, bắt đầu bằng hai chữ "phúc thay" hay "phúc cho", để nói rằng ai muốn được hạnh phúc trường cửu phải nghe theo lời Người.
Rồi theo thánh Matthêô, Người kể ra tám hạng người hạnh phúc, vì câu hạnh phúc thứ chín cũng chỉ nói về hạng người bị bắt bớ như câu thứ tám, nhưng ở thể văn cụ thể và trực tiếp hơn. Ðứng đầu tám hạng người được phúc là những người nghèo khó, mà Matthêô gọi là những người có lòng nghèo khó hoặc nghèo khó thật ở trong lòng hoặc có tinh thần nghèo khó. Người muốn chúng ta hiểu rằng: đây không phải là vấn đề nghèo khó về của cải, nhưng là nghèo khó tại lòng mình và nơi tâm hồn, thấy mình cô thế cô phương, không biết cậy dựa vào đâu trong cuộc đời đầy những thiếu thốn bất lực và hiểm nguy về mọi mặt, đến nỗi chỉ còn biết trông cậy vào ơn Chúa cứu độ. Chính họ là những người khao khát Thiên Chúa hơn hết, vì họ thấy mình nghèo nàn, hèn mọn hoàn toàn. Họ không có gì để tựa hoặc không thấy gì đáng tựa trong cuộc đời đầy phấn đấu nên đặt tất cả tin tưởng vào Chúa. Họ là những người nghèo khó ở trước mặt Chúa. Họ là "dân nghèo của Yavê" như từ ngữ Kinh Thánh thường nói.
Tổ phụ của họ là Abraham, một người đã từ bỏ tất cả những sự đáng cậy dựa ở đời này để trở thành con người vô gia cư, vô địa táng, lang thang hết nơi này qua nơi khác, gặp rất nhiều khó khăn phấn đấu, nhưng đặt tất cả niềm tin vào Lời Chúa và sống từng ngày, từng phút tựa vào sự quan phòng của Chúa. Chính ông đã được hứa ban có đất làm gia nghiệp, có xứ sở làm quê hương, thì những người nghèo khó của Yavê cũng sẽ được Nước Trời làm sản nghiệp.
Chúng ta tưởng danh từ Nước Trời không cụ thể như hứa địa đã được dành cho Abraham. Nhưng nếu chúng ta biết rằng quan niệm Nước Trời đã bắt nguồn từ quan niệm Hứa địa và đã được các thế hệ tiên tri làm thêm phong phú, thì chúng ta phải hiểu rằng trong quan niệm Nước Trời có tất cả mọi lời hứa dành cho Abraham và cho tất cả Dân Chúa trải qua mọi thời đại. Nước Trời là danh từ tổng quát gồm hết thảy mọi sự lành mà Thiên Chúa có thể ban cho loài người và cuối cùng là chính sự sống và hạnh phúc của Thiên Chúa. Nếu thế thì phúc thật thứ I này đã bao hàm 7 mối phúc thật sau, khiến chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản như thế này:
* Con người hiền lành ở phúc thứ II là con người khó nghèo bình tĩnh trước lối sống phù vân của người khác vì vẫn tin tưởng vào Chúa. Họ nghèo nhưng vẫn êm ái đang khi kẻ giàu lại hay nổi nóng. Họ được hứa sẽ có đất làm cơ nghiệp. Như vậy họ thật là người nghèo khó.
* Con người ưu phiền khóc lóc cũng vậy. Họ được hứa sẽ được an ủi, khiến chúng ta phải khẳng định họ là thành phần những người đang chờ đợi sự "an ủi của Israel". Ðó là những người nghèo bị bóc lột trong dân, những người thấp cổ bé họng bị oan ức, là toàn Dân Chúa trong cảnh lưu đày, là những người đang trông chờ ơn cứu độ. Nói tắt họ cũng là những người nghèo của Ðức Yavê.
* Con người đói khát mà Ðức Yêsu bảo sẽ được no đầy, thoạt tiên là con người thiếu ăn thiếu mặc. Họ sẽ được no đầy ở trong bàn tiệc Nước Trời. Và như vậy họ cũng là những con người nghèo khó. Nhưng khi thánh Matthêô viết bản Phúc Âm này, người thấy Chúa Yêsu đã mở tiệc trong Hội Thánh rồi. Kẻ muốn được no đầy trong bàn tiệc của Chúa phải có sự thánh thiện, công chính. Do đó thánh Matthêô đã thêm hai chữ "công chính" vào sau chữ "đói khát" để hàm ý rằng người nghèo của Ðức Yavê là người phải lấy việc đói khát sự công chính thánh thiện làm cơ sở. Nhưng dù đói khát thứ gì người ta cũng là thành phần nghèo khó.
* Và khi có kinh nghiệm về nếp sống khó nghèo, người ta mới dễ có lòng thương xót; và có xót thương kẻ khác người ta mới được Chúa xót thương. Phúc thật thứ V vì thế cũng chỉ dành cho người có căn bản nghèo khó.
* Chúng ta biết Do thái giáo ngày xưa chú trọng nhiều đến vấn đề sạch và không sạch. Nhưng ai chú trọng đến vấn đề ấy, nếu không phải là hạng giàu sang, trưởng giả; như tục ngữ viết: phú quý sinh lễ nghĩa. Các tiên tri cực lực phản đối thứ lễ nghĩa này và hô hào phải có sự trong sạch đạo đức trong lòng mới được xem thấy Chúa, tức là được vào Ðền thờ để xem thấy Người, tức là được vào Nước Chúa vậy. Do đó câu phúc thật thứ VI cũng phản đối kẻ giàu sang, và đề cao kẻ khó nghèo.
* Người nghèo khó lại là người hay bị bóc lội, bắt bớ; nên phúc thật thứ VIII cũng dành cho họ. Thánh Matthêô trong cả bài Tin Mừng hôm nay muốn nhấn mạnh đến tính cách tinh thần đạo đức của người nghèo khó, nên ở đây người cũng nói đến kẻ bị bắt bớ vì sự công chính, tức là vì Chúa, vì Ðức Kitô và giáo lý của Người. Nhưng ai bị bóc lột một cách bất công mà không phải là nạn nhân của sức mạnh thù địch với Thiên Chúa là Ðấng công chính? Họ trở nên nghèo khó; và như vậy họ được hứa ban Nước Trời.

C. Nối Liền Ðất Với Trời
Chúng ta hết thảy đều là những thành phần nghèo khó. Chúa Yêsu đã rao giảng Tin Mừng của Người cho chúng ta. Người hứa ban các phúc thật cho chúng ta. Chúng ta cứ ngồi yên như thế này rồi sẽ được hạnh phúc sao?
Chắc chắn không thể như vậy! Thế nên thánh Matthêô đã muốn giúp đỡ các tín hữu là những thành phần khó nghèo biết sống thân phận của mình thế nào cho được phúc. Người thêm chữ "tinh thần" vào câu "phúc cho người nghèo khó" và viết: "phúc cho người có tinh thần (hay có lòng) nghèo khó" để nhấn mạnh rằng người ta phải có tinh thần những người nghèo của Ðức Yavê. Ðó là tinh thần của những người thiếu thốn, đau khổ, bị bắt bớ mà vẫn không mất niềm tin, không trở nên gây hấn, không bớt tình người. Ngược lại, vì tin tưởng ở Chúa và tuân giữ Lời Người, họ luôn hòa dịu, xót thương và gieo rắc bình an. Thái độ nhân đạo hoàn toàn của họ tựa vào niềm tin đạo đức sâu xa. Nó đòi hỏi một nhân cách mạnh mẽ. Và vì thế nó cũng chỉ có thể gặp được ở nơi những tâm hồn cương nghị, không bao giờ chịu khuất phục trước bất công bóc lột.
Cứ xem các tiên tri của Chúa thì rõ. Các ngài thuộc thành phần những người nghèo của Ðức Yavê hơn ai hết. Nhưng ai mạnh mẽ chống bất công bóc lột bằng các ngài. Ngay lúc chết, và chính cái chết của các ngài cũng còn nói lên tinh thần ấy. Và đó là tinh thần của những người nghèo của Ðức Yavê, tinh thần của những người đã thấm đầy Thần trí của Thiên Chúa. Cương quyết tiêu diệt sự dữ cho đến cùng, mặc dầu biết mình yếu đuối nhưng hoàn toàn tin tưởng vào Chúa, đó là tinh thần nghèo khó Phúc Âm. Ði vào con đường ấy là giặt áo mình trong Máu Chiên Con, tức là phó sự sống mình trong mầu nhiệm phấn đấu của Chúa Kitô, và như vậy sẽ đạt tới thế giới các thánh mà chúng ta mừng lễ hôm nay.
Sống cuộc đời như chúng ta vừa nói có thể không xuất sắc. Nhưng lời thư Yoan hôm nay viết khi nào đến lúc tỏ hiện thì bấy giờ mới rõ được hết nếp sống của con cái Chúa. Bấy giờ mới thấy hàng ngũ những người nghèo của Ðức Yavê như là hàng ngũ những chiến sĩ vô danh. Hôm nay Hội Thánh tưởng niệm họ và kêu gọi chúng ta hãy nối liền đất với trời bằng nếp sống theo tinh thần nghèo khó Phúc Âm.
Chúng ta hãy tham dự thánh lễ này như được vây quanh bởi hàng ngũ đông đảo các thánh. Các ngài không những hiện diện với chúng ta hôm nay ở nơi bàn thờ này, nhưng còn muốn ở bên chúng ta hầu thôi thúc chúng ta hãy cùng với các ngài tham dự vào Tiệc của Chiên Con. Các ngài đã giặt áo mình trong Máu Chiên Con, tức là đã đi vào đường lối của Ðức Kitô tử nạn - phục sinh, thể hiện hình ảnh người tôi tớ khó nghèo của Thiên Chúa. Các ngài khuyến khích chúng ta luôn giữ tinh thần nghèo khó nhưng phải phấn đấu không ngừng chống sự dữ nơi đời sống của mình. Có như vậy áo của chúng ta mới được giặt trong Máu Chiên Con và trở nên trắng sạch hầu được nhập đoàn cùng các thánh nam nữ trong Nước Trời vinh phúc.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)


Lời Chúa Mỗi Ngày
Lễ Các Thánh Nam Nữ
Bài đọc: Rev 7:2-4, 9-14; I Jn 3:1-3; Mt 5:1-12

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Bát Phúc là con đường nên thánh.
- Có một chú sư tử con, vì mẹ mất sớm, nên ở chung với một đàn dê. Chú thích nghi với hòan cảnh và sinh sống như một con dê. Cho tới một hôm, Chúa Sơn Lâm đi ngang qua cánh đồng; bầy dê bỏ chạy tán lọan, chú sư tử con cũng cắm đầu chạy theo chúng. Chúa Sơn Lâm lấy làm lạ về hành động của chú sư tử con, nên vội chạy theo bắt lấy. Khi bắt kịp chú, Chúa Sơn Lâm đưa chú sư tử con ra bờ suối và bảo nó: Hãy nhìn xuống suối coi, mày cũng là con của Chúa Sơn Lâm, tại sao mày hốt hỏang bỏ chạy như những con dê nhút nhát đó?
- Chúng ta đã được tạo dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, và là người nhà của tất cả các thánh chúng ta mừng hôm nay. Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh. Đây là dịp thuận tiện để chúng ta xét mình soi gương xem chúng ta đã nên giống hình ảnh Thiên Chúa và các thánh chưa. Các Bài đọc hôm nay giúp chúng ta xét mình.
- Bài đọc I nhắc nhở chúng ta: Các thánh là những người trung thành với Thiên Chúa sau khi đã trải qua những cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên. Bài đọc II nhắc nhở chúng ta ơn gọi làm con Chúa mà chúng ta đã lãnh nhận trong Ngày Rửa Tội. Chúng ta đã làm vinh danh Cha thế nào trong cuộc sống? Phúc Âm dạy chúng ta con đường chắc chắn để nên thánh: sống theo Bát Phúc.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao.
1.1/ Thị kiến thứ nhất: Những người được đóng ấn. Trước khi các thiên thần tàn phá thế giới, các tôi tớ của Thiên Chúa còn sống được đóng ấn. Thị kiến tường thuật một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn, thuộc mọi chi tộc con cái Israel. Đây chỉ là con số biểu tượng, không phải chỉ có bấy nhiêu người được cứu thóat.
1.2/ Thị kiến thứ hai: Một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi. Họ thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Hai điều những người này tuyên xưng:
(1) Thiên Chúa Cha: "Chính Thiên Chúa chúng ta là Đấng ngự trên ngai.”
(2) Con Chiên là Đức Giêsu Kitô: “Chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta.”
Tất cả các thiên thần đều đứng chung quanh ngai, chung quanh các Kỳ-mục và bốn Con Vật. Họ đều sấp mặt xuống, phủ phục trước ngai và thờ lạy Thiên Chúa mà tung hô rằng: "A-men! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời! A-men!"
1.3/ Các Thánh là đòan người áo trắng: Một trong các Kỳ-mục lên tiếng hỏi tôi: "Những người mặc áo trắng kia là ai vậy? Họ từ đâu đến?" Tôi trả lời: "Thưa Ngài, Ngài biết đó." Vị ấy bảo tôi: "Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên.” Các thánh là những người đã sống một cuộc đời như Chúa dạy. Họ đã từ bỏ lối sống ích kỷ của bản thân, hy sinh chấp nhận mọi gian khổ ngay cả cái chết để làm chứng cho Thiên Chúa.
2/ Bài đọc II:
(1)  Ơn gọi làm con Thiên Chúa: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Người Con Một của mình, để những ai tin vào Người Con thì được làm con Thiên Chúa (Jn 1:13), và được ơn Cứu Độ (Jn 3:16). Chúng ta không phải là con của thế gian: “Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người.”
(2) Phần thưởng của những người con Chúa: Đã là con thì cũng là những người thừa kế gia tài. Phần thưởng cho những người con Chúa là cuộc sống đời đời mai sau và mọi vinh quang mà Đức Kitô được thưởng từ Thiên Chúa Cha. “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.”
(3) Bổn phận của những người con Chúa: Nếu đã có quyền thì cũng phải chu tòan bổn phận. Thánh Gioan tuyên bố: “Phàm ai đặt hy vọng như thế vào Đức Kitô thì làm cho mình nên thanh sạch như Người là Đấng thanh sạch.”
3/ Phúc Âm: Bát Phúc là con đường nên thánh.
Chúng ta sẽ dùng Bát Phúc như tiêu chuẩn để so sánh 3 lối sống: của Chúa Giêsu, của các thánh, và của theo thế gian.
(1) “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” Khi được các môn đệ hỏi: “Thưa Thầy! Thầy ở đâu?” Chúa Giêsu trả lời: “Cáo có hang, chim có tổ, Con Người không có chỗ dựa đầu.” Thánh Phanxicô Khó Khăn, mặc dù là con một thương gia giàu có ở Assissi, noi gương Chúa Giêsu, tuột quần áo trả lại cho cha để đi theo Đức Kitô sống cuộc đời khó nghèo. Trước mắt thế gian đó là điều dại dột, vì ai cũng muốn sống sung túc giấu có.
(2) “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.” Người xưa dạy: “Mắt đền mắt, răng đền răng; còn Ta, Ta dạy: Ai tát má bên này thì đưa cả má bên kia nữa.” Trong Cuộc Thương Khó, Chúa đã trở nên như con chiên hiền lành bị đem đi giết. Thánh Phanxicô Salêsiô, mặc dù mang bản tính nóng như lửa trong người, đã noi gương Đức Kitô trở thành người hiền lành và khiêm nhường. Trước mắt thế gian, hiền lành đồng nghĩa với khù khờ để người khác lợi dụng.
(3) “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.” Trong Vườn Cây Dầu, Đức Kitô đau buồn kêu lên: “Linh hồn Thầy buồn sầu đến nỗi chết; anh em hãy tỉnh thức cầu nguyện với Thầy.” Mẹ Thánh Augustin, Monica, cả cuộc đời đổ bao nhiêu nước mắt khóc thương chồng và con. Sau cùng, Chúa đã cho chồng trở lại đạo trên giường bệnh, Chúa đã cho Augustin ăn năn trở lại và làm thánh. Người đời cho những ai muốn chịu đau khổ là điên, vì ai cũng tìm các trốn tránh các đau khổ cả.
(4) “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.” Chúa Giêsu thẳng thắn tuyên bố: “Ta đến từ Trời, không phải để làm theo ý Ta, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Ta.” Cả cuộc đời của Ngài là cuộc đời làm theo ý Thiên Chúa. Thánh Thomas More, khi bị bắt phải nói dối đã khẳng khái tuyên bố: “Chết thì chết chứ không nói sai thành đúng.” Người đời cho sống công chính là “sĩ diện hão,” vì ai cũng phải sống luồn lách quanh co để đạt những gì mình muốn.
(5) “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” Chúa Giêsu xót xa khi nhìn các bệnh nhân, và Ngài chữa lành họ. Ngài thương dân thành Giêrusalem, muốn che chở họ như gà mẹ che chở đàn con dưới cánh, nhưng họ đã khước từ tình yêu của Ngài. Thánh Martinô đã thương bệnh nhân đến độ đem về phòng cho nằm trên giường mình mà chăm sóc. Mẹ Têrêxa thành Calcutta đã dành cả cuộc đời để săn sóc người nghèo. Thế gian cổ võ việc phải lo cho bản thân mình trước hết với câu chữa mình: “Tôi thương xót người rồi ai thương tôi?”
(6) “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.” Chúa Giêsu đã thách thức các đối phương trong Cuộc Thương Khó: “Ai trong các ngươi có thể buộc Ta về tội gì?” Thánh Maria Goretti đã thề chết chứ không để người anh họ hãm hiếp. Giới trẻ hôm nay cho truyện ăn ở trước hôn nhân là chuyện bình thường, và chế nhạo những trẻ nào giữ mình trinh khiết là “homeboy, homegirl.” Mấy người mẹ hôm nay dám khuyên con: “Mẹ chẳng thà thấy con chết trước mặt mẹ hơn là phạm tội trọng mất lòng Thiên Chúa!”
(7) “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” Chúa Giêsu đã dùng cái chết của Ngài trên Thập Giá để hòa giải người Do-Thái và Dân Ngọai nên một; đồng thời hòa giải con người với Thiên Chúa. Thánh Bernadino thành Sienna cũng noi gương Chúa làm cho con người hòa giải với nhau. Thế gian cho thái độ tha thứ thuận hòa là ngu dốt vì để người khác lợi dụng mình; được đàng chân họ sẽ leo lên cả đầu! Hậu quả là nạn ly thân, ly dị, và chiến tranh dưới mọi hình thức lan tràn.
(8) “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” Chúa đi trước vác Thập Giá lên đồi Canvê để chết thay cho con người. Biết bao các thánh tử đạo thuộc mọi thời đại cũng anh dũng tiến lên hy sinh vì tình yêu; trong số đó có 118 vị tử đạo của quê hương Việt-Nam chúng ta. Thánh Anrê Phú Yên, trước khi chết, đã khuyên giáo dân: “Chúng ta phải lấy tình yêu đáp trả lại tình yêu và lấy mạng sống đáp trả lại mạng sống.” Trong khi đó, cũng có biết bao người phản bội và không dám đổ máu đào để làm chứng cho Chúa. Họ vịn cớ: chỉ cần tin Chúa trong lòng là đủ.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Đau khổ trong cuộc đời không thể thiếu để thanh luyện chúng ta như lửa thử vàng. Chỉ khi nào biết chấp nhận gian khổ để làm chứng cho Thiên Chúa, chúng ta mới chứng tỏ đức tin và tình yêu của chúng ta dành cho Ngài.
- Trở lại câu truyện chú sư tử con, chúng ta là thiên tử, là con cái Chúa. Hãy sống xứng đáng với ơn gọi của mình; đừng chốn chui chốn nhủi như những con của bóng tối, của thế gian và ma quỉ. Chúng ta được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, và cuộc sống thánh thiện làm chúng ta càng ngày càng trở nên giống Chúa hơn.
- Ơn gọi nên thánh là của tất cả mọi người. Bát Phúc là con đường nên thánh tuyệt hảo. Mọi người phải cố gắng sống cả Bát Phúc; tuy nhiên, sống một phúc cũng đủ để chúng ta nên thánh rồi.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP

01/11/15 CHÚA NHẬT TUẦN 31 TN - B
Lễ Các Thánh Nam Nữ
Mt 5,1-12a

Suy niệm: Nhà thần học nổi tiếng H. Von Balthasar nhận định: "Vị thánh là người hộ giáo cho Ki-tô giáo. Tuy nhiên, ngài là thánh vì để cho Đức Ki-tô sống nơi mình và chính trong Đức Ki-tô, ngài được vinh hiển." Con đường các thánh đã chọn trong hành trình trần thế là con đường hạnh phúc của Đức Giê-su: con đường của Tám Mối Phúc Thật, hay còn gọi là các giá trị của Tin Mừng. Con đường ấy, như Tin Mừng hôm nay phác họa, gồm tám mối phúc: khó nghèo, sầu khổ, hiền lành, khát khao công chính, xót thương, trong sạch, xây dựng hòa bình, bị bách hại vì sống công chính. Đó cũng chính là con đường Đức Giê-su đã đi cho đến cùng: đến cái chết. Vì thế, ai sống theo Tám Mối Phúc ấy, họ nên giống Đức Giê-su, và được gọi là thánh.
 Mời Bạn: Lý do sâu xa khiến Hội Thánh yếu kém và thế giới hấp hối là vì không đủ các vị thánh. Thật ra, điều ấy cũng chưa đúng. Lý do là vì chúng ta chưa là thánh” (P. Kreeft). Hôm nay Chúa Giê-su lập lại lời mời gọi bạn nỗ lực nên thánh, như bao vị thánh nam nữ bạn mừng kính hôm nay. 
Sống Lời Chúa: Xem xét trong Tám Mối Phúc, mối phúc nào thích hợp với mình hơn cả, tôi sẽ bắt đầu tập sống mối phúc ấy, như một cách nên thánh trong đời thường của mình.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, con đường Tám Mối Phúc rốt cuộc không đưa Chúa đến với nấm mồ, nhưng đến vinh quang phục sinh. Khi nhìn vào mẫu gương ấy, xin cho chúng con tin tưởng hơn vào hạnh phúc thật Chúa hứa. Vì lời cầu thay nguyện giúp của các thánh, xin cho chúng con cũng quyết tâm nên thánh từ hôm nay. Amen.

NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ
Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa tặng trao, là để cho Chúa yêu mình, nắm tay mình, dắt mình vào thế giới riêng tư của Chúa.


Suy nim:
Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh,
hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng.
Các thánh không phải chỉ là những vị được tôn phong,
mà là tất cả những ai đang hưởng hạnh phúc trên trời.
Các thánh thật khác nhau về nhiều mặt:
giới tính, tuổi tác, màu da, tiếng nói, nghề nghiệp,
hoàn cảnh, thời đại, bậc sống, khả năng, tính tình...
Có người không biết viết như thánh nữ Catarina Siêna.
Có người đậu tiến sĩ triết hạng tối ưu như thánh Edith Stein.
Có người làm bao phép lạ phi thường như ngôn sứ Êlia.
Có người sống âm thầm như chị Têrêsa nhỏ.
Nói chung chẳng gì có thể ngăn cản chúng ta nên thánh,
vì Thiên Chúa muốn mọi người nên thánh chẳng trừ ai.
Các mối phúc là con đường nên thánh.
Con đường này chính Ðức Kitô đã đi và mời ta cùng đi.
Ngài mời ta có tâm hồn nghèo khó, hiền lành,
nghĩa là hoàn toàn tín thác vào một mình Thiên Chúa,
có lòng khát khao sự công chính, chỉ mong làm trọn ý Ngài.
Trong tương quan với tha nhân, Ðức Kitô mời ta
có lòng thương xót, biết đau nỗi đau của người khác,
có tâm hồn trong sạch, nghĩa là sống ngay thẳng, chân thành,
có tinh thần xây dựng hòa bình và công bằng xã hội,
nghĩa là chăm lo phát triển toàn diện từng người và mọi người.
Sống các mối phúc trên là chấp nhận mối phúc bị bách hại.
Mỗi vị thánh đều sống nổi bật trong một số mối phúc.
Họ đã nếm phần nào hạnh phúc từ đời này
trước khi hưởng hạnh phúc trọn vẹn bền vững trên trời.
Chúng ta thường nghĩ nên thánh là chuyện cao siêu
dành cho một thiểu số hết sức đặc biệt.
Thật ra mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh.
“Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời.”
Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn mọi sự thánh thiện.
Ngài mời chúng ta chia sẻ sự thánh thiện của Ngài.
Nên thánh là đáp trả lời mời đó.
Khi chiêm ngắm các thánh, ta có thể hiểu nên thánh là gì.
Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống,
là ra khỏi cái tôi hẹp hòi của mình
để sống hết tình cho Thiên Chúa và tha nhân.
Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa
và trung thành đáp lại trong giây phút hiện tại.
Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa tặng trao,
là để cho Chúa yêu mình, nắm tay mình,
dắt mình vào thế giới riêng tư của Chúa.
Nên thánh là thuộc trọn về Chúa và về anh em,
là để Chúa dần dần chiếm lấy mọi chỗ của đời mình.
Chúa mời tôi nên thánh với con người và hoàn cảnh riêng.
với sa ngã của quá khứ và mỏng giòn của hiện tại,
với cái dằm vẫn thường xuyên làm tôi nhức nhối.
Chúa muốn tôi nên thánh với mặt mạnh, mặt yếu của tôi.
Ước gì đời tôi vén mở một nét nào đó của Chúa.
Cầu nguyn:

Lạy Cha,
con phó mặc con cho Cha,
xin dùng con tùy sở thích Cha.
Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.
Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.
Miễn là ý Cha thực hiện nơi con
và nơi mọi loài Cha tạo dựng,
thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.
Con trao linh hồn con về tay Cha.
Con dâng linh hồn con cho Cha,
lạy Chúa Trời của con,
với tất cả tình yêu của lòng con,
Vì con yêu mến Cha,
vì lòng yêu mến
thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,
thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,
không so đo,
với một lòng tin cậy vô biên,
vì Cha là Cha của con.
(Chân phước Charles de Foucauld)

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
1 THÁNG MƯỜI MỘT
Các Thánh Của Chiên Con
“Tôi nghe nói đến con số những người được đóng ấn” (Kh 7,14). Những lời này trong Sách Khải Huyền của Thánh Gioan Tông đồ được trích đọc trong phụng vụ hôm nay. Ngày Lễ Các Thánh, Giáo Hội trên khắp hoàn cầu tôn vinh tất cả những ai đã được hưởng trọn vẹn ơn cứu độ. Họ là những người – theo cách nói của Sách Khải Huyền – ’đã tung hô lớn tiếng: “Chính Thiên Chúa chúng ta… và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta” (Kh 7,10).
Quả vậy, những người này đã được đóng ấn bằng Máu Con Chiên. Họ mang trong mình dấu ấn ơn cứu chuộc, là nguồn sự sống và sự thánh thiện: “Phàm ai đặt hy vọng nơi Đức Kitô thì làm cho mình nên thanh sạch như Người là Đấng thanh sạch” (1Ga 3,3).
Thiên Chúa là Đấng thánh, Đấng cực thánh, và Ngài mời gọi con người nên thánh. Hôm nay, Giáo Hội chan hòa niềm hân hoan nơi tất cả những ai đã đáp trả trọn vẹn tiếng gọi này, những ai đã thông dự vĩnh viễn vào sự thánh thiện của Thiên Chúa. Vì thế, một lần nữa, lời cầu nguyện vang lên từ đáy tâm hồn chúng ta, vang lên tới tận thiên đình trong ngày lễ trọng đại này:
“Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, trong ngày đại lễ hôm nay, Chúa cho Hội Thánh được mừng công phúc và vinh quang của toàn thể chư thánh. Xin ban cho dân Chúa, nhờ lời chuyển cầu của các thánh trên trời, được hưởng dồi dào lòng Chúa xót thương …”
Với Kinh Truyền Tin, chúng ta đặc biệt nói với Đấng mà Giáo Hội tôn dương là Nữ Vương Các Thánh: “Bà được chúc phúc giữa các phụ nữ”, "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà” (Lc 1, 35).
Lạy Mẹ Maria,
nơi Mẹ, chúng con khát khao tôn thờ Thiên Chúa,
vì món quà thánh thiện được trao ban cho nhân loại
là Đức Giêsu Kitô.
Chúng con xin Mẹ thương
chuyển cầu cho các tín hữu đã qua đời,
nhờ đó Giáo Hội được trọn vẹn niềm vui
trong ngày đại lễ mừng kính Chư Thánh hôm nay.
- suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II -
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II


Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 01-11
Chúa Nhật XXXI Thường Niên
Các Thánh Nam Nữ
Kh 7, 2-4.9-11; 1Ga 3, 1-3; Mt 5, 1-12a.

LỜI SUY NIỆM: “Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi, Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ rằng: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì nước trời là của họ.”
Chúa Giêsu là một ngôn sứ, là một thầy dạy và là Thiên Chúa thật. Người biết mọi con người sống trên cõi đời này, ai ai cũng ao ước tìm cho ra, ý nghĩa cuộc sống của đời người; để được hưởng hạnh phúc ở đời này lẫn đời sau.. Chúa Giêsu thấu hiểu mọi cõi lòng. Nên Chúa đã công bố Tám Mối Phúc thật. Để những ai đón nhận và sống một trong Tám Mối Phúc ấy, thì sẽ được hưởng phúc Nước Trời đời đời. Đặc biệt trong ngày Giáo Hội mừng kính các Thánh Nam Nữ  trên Trời. Là những người đã sống trọn một trong tám mối phúc ấy. Nên Giáo Hội mời gọi tất cả chúng ta nghe lại Tám Mối Phúc Thật. Điều này giúp chúng ta vừa chiêm ngắm, vừa học biết những điều mà các ngài đã sống, để mỗi người trong chúng ta biết tu sửa đời sống của mình. Và tập sống đạo đức; một trong những lời mà Chúa Giêsu đã chúc phúc, để mai sau được chung hưởng hạnh phúc cùng các thánh Nam nữ trên trời.
Lạy Chúa Giêsu. Xin ban cho mọi thành viên trong gia đình chúng con luôn có tâm hồn nghèo khó, biết giữ mình trong sạch, khát vọng điều công chính, đem lại sự an hòa trong tình huynh đệ với nhau, để ngày sau cùng được sum họp trong Nhà Chúa.
Mạnh Phương


Gương Thánh Nhân
Ngày 01-11
CÁC THÁNH NAM NỮ

Trước hết đây là lễ các Thánh tử đạo. Vào đầu thế kỷ V, Đức giáo hoàng Bonifaciô IV đã nhận từ tay hoàng đế một đền thờ ngoại giáo, đền Panthéon. Được dựng để tôn vinh các thần. Ngài đã biến thành đền thờ dâng kính Đức Trinh Nữ Maria và các thánh tử đạo. Xác các thánh an nghỉ trong các hang toại đạo được chuyển về nhà thờ trong một cuộc lễ huy hoàng. Mỗi năm các tu viện đều nhắc lại kỷ niệm này.
400 năm sau, Đức Giáo hoàng Grêgôriô IV quyết định rằng việc tôn kính long trọng này phải hướng về các thánh nam nữ đã được tôn phong hay chưa được biết đến vì không có sự đặc biệt nào của các Ngài chói sáng trên trần thế, nhưng ý chí và việc làm lành thánh của các Ngài được Thiên Chúa thấu suốt cõi lòng biết đến.
Trong thánh lễ hôm nay, Phúc âm kể ra những người chiếm hữu được hạnh phúc chân thật, những người có tinh thần nghèo khó hiền lành biết thương xót, có lòng trong sạch ăn ở thuận hòa, sẵn sàng bách hại vì sự công chính. Tất cả đều vui sướng vì phần thưởng bội hậu chời đón họ trên trời. Lễ các thánh là lễ của người muốn nên lành thánh.
* LỊCH SỬ
Lễ các thánh nam nữ đã có từ thế kỷ thứ IV. Thánh Ephraim người Syrie và thánh Gioan Kim Khẩu đều biết đến một ngày lễ mừng các thánh tử đạo vào ngày 13.5 hằng năm. hay rõ hơn là Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Chúa Thánh Thần iện xuống. Lễ này vẫn còn trong lịch sử phụng vụ của Giáo Hội Hy Lạp và được gọi là Chúa nhật chư thánh.
Trong Giáo Hội Tây Phương cũng có một thánh lễ từ thế kỷ thứ VII, lễ toàn thể các thánh tử đạo mừng vào ngày 13.5. Đó là ngày lễ thánh hiến đền Panthéon của Rôma, để Kính Đức Trinh Nữ Maria và toàn thể các thánh tử đạo vào ngày 13.5.609.
Lễ chư thánh (toàn thể các thánh, chứ không dành riêng cho các thánh tử đạo) được mừng vào ngày 1.11 hằng năm, chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ VIII do các thầy Dòng Irland, và Anh Quốc, khi sang truyền giáo ở Âu Châu đã đem theo và trong thời gian ngắn đã phổ biến rộng khắp Âu Châu. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)
(daminhvn.net)


01 Tháng Mười Một
Giòng Giống Vĩ Nhân
Cách đây mười năm, một người Pháp tên là Alfred de Pierrecourt để lại gia tài của ông là 2 triệu Mỹ kim với lời di chúc là phải sử dụng số tiền ấy để gây giống cho những người khổng lồ. Người thi hành di chúc của ông đã trích ra 1/4 số tiền để tìm và mang những người cao lớn vượt tầm mức về sống ở gần thành phố Rouen, khuyến khích họ lập gia đình với nhau. Nhưng chương trình gây giống những người khổng lồ này bị thất bại vài năm sau đó.
Cách đây non hai ngàn năm có một người cũng để lại một di chúc, một chương trình, nhưng không phải để gây giống cho những người khổng lồ về phương diện hình vóc mà là về phương diện tinh thần. Chương trình quen được gọi là "8 mối phúc thật" do Chúa Giêsu biên thảo. Trải qua bao thế hệ mãi cho đến thời đại chúng ta, vô số những tín hữu Kitô nhờ áp dụng chương trình này mà trở thành vĩ nhân.
Mừng kính những vĩ nhân ấy trong ngày lễ các thánh nam nữ hôm nay, chúng ta hãy noi gương các ngài đem ra thực hành mỗi mối phúc thật trong cuộc sống, để càng sống chúng ta càng phát triển, tiến bộ trên con đường thánh thiện mà Chúa Giêsu đã vạch ra cho mỗi người chúng ta.
(Lẽ Sống)