Trang

Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

Miến Điện không đơn giản

Miến Điện không đơn giản
Vũ Văn An
30/Sep/2017

Tháng Mười Một này, Đức Phanxicô sẽ chính thức thăm Miến Điện. Cuộc viếng thăm khá bất ngờ này, một lần nữa, chứng tỏ ngài sẵn sàng đi bất cứ đâu để mang sứ điệp Tin Mừng đến, nhất là những khu ngoại vi, như Azerbaijan năm 2016, nơi chỉ có 570 người địa phương là Công Giáo, và nay Miến Điện, nơi người Công Giáo tuy đông hơn (450,000 người) nhưng vẫn là một thiểu số nhỏ nhoi: 1 phần trăm tổng số dân số cả nước, chưa bằng một nửa số dân Rohingya đang trở thành đề tài nóng bỏng của thời sự thế giới, khiến chính phủ của bà Aung San Suu Kyi lao đao.

Ngay từ lúc chuyến viếng thăm này chưa được Tòa Thánh chính thức xác nhận, báo chí đã cho rằng Đức Phanxicô sẽ gặp thách thức lớn tại Miến Điện vì nhiều lần, ngài từng lớn tiếng phản đối sự đối xử với người Rohingya, vốn được dư luận quốc tế coi là nhóm thiểu số bị bách hại hơn hết trên thế giới.

Thực vậy, một phúc trình của Liên Hiệp Quốc hồi tháng Hai năm nay mô tả tình huống của họ gần như một cuộc diệt chủng. Họ chính thức bị xếp vào loại những “tên xâm phạm” đến từ Bengal, dù họ đã sống trên lãnh thổ này nhiều thế hệ. Theo các dữ kiện của Dự Án Arakan, một tổ chức nhân đạo chuyên bênh vưc quyền lợi của người Rohingya, thì từ năm 2010, khoảng 100,000 người của nhóm thiểu số này đã phải trốn khỏi Miến Điện bằng đường biển. Từ năm 2012, bạo động giữa người Phật giáo cực đoan và người Rohingya đã khiến hơn 200 người thiệt mạng và 140,000 người tản cư.

Trong bài giảng lễ tại Nhà Thánh Mácta ngày 19 tháng 5 năm 2015, Đức Phanxicô nói rằng “hôm nay, chúng ta nghĩ tới những người Rohingya khốn khổ của Miến Điện. Khi rời khỏi xứ sở để tránh các cuộc bách hại, họ không biết điều gì sẽ xẩy ra với họ. Và họ đã ở trên thuyền cả tháng nay… Họ tới một thị trấn kia, được cho nước uống và thực phẩm, nhưng người ta bảo họ “xéo đi!”… Và đó là việc đang diễn ra hôm nay”.

Hồi tháng 8 cùng năm, ngài nói: “Ta hãy nghĩ tới các anh em Rohingya: họ bị xua đuổi ra khỏi hết nước này đến nước nọ, và hết miền duyên hải này tới miền duyên hải nọ… Khi họ tới một hải cảng hay một bãi biển, họ nhận được nước uống và thực phẩm rồi bị đuổi ra biển trở lại. Đây là một cuộc tranh chấp chưa được giải quyết, và đó là chiến tranh, đó gọi là bạo lực, đó gọi là giết chóc”.

Tháng Hai vừa qua, Đức Phanxicô lớn tiếng tố cáo một lần nữa rằng người Rohingya “đã và đang chịu đau khổ, họ đang bị tra tấn và sát hại, chỉ vì họ duy trì đức tin Hồi Giáo”.

Có điều, cũng thời gian ấy, Đức Hồng Y Charles Bo, Tổng Giám Mục Yangon, người, năm 2015, mới được Đức Phanxicô nâng lên hàng Hồng Y, và lúc nào cũng biểu lộ một lòng tôn kính với Đức Đương Kim Giáo Hoàng, đã có một giọng nói không hẳn đi theo cung điệu của người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo bao nhiêu. Đức Hồng Y kêu gọi một cuộc điều tra “toàn diện và độc lập” các lời tố cáo chống lại chính phủ của Bà Suu Kyi. Ngài vẫn kỳ vọng nơi Bà:

“Thế giới nhìn Bà Aung San Suu Kyi bằng cùng một lăng kính mà họ đã nhìn Bà trong cuộc đấu tranh cho dân chủ. Nay Bà là thành phần của chính phủ, Bà là một nhà lãnh đạo chính trị. Dĩ nhiên bà nên lên tiếng”.

Tuy nhiên, theo ngài không nên “bêu xấu” nhà tranh đấu cho dân chủ, nếu không, lúc quân đội nắm quyền trở lại, thì chẳng còn giấc mơ dân chủ nào nữa. Ngài bảo: dù bà tri cảm không chính xác về tình huống ngừơi Rohingya, nhưng “sự liêm chính và dấn thân của Bà thì không thể hoài nghi được… Sự hy sinh suốt đời của Bà để phục sinh từ các đổ nát của chế độ quân phiệt kéo dài 60 năm là một thành tựu có tính lịch sử. Trong bàn tay liễu yếu đào tơ của Bà là giấc mơ của hàng triệu người dân Miến Điện”.

Mark Farmaner, giám đốc Chiến Dịch Miến Điện tại Vương Quốc Thống Nhất (Anh), một chiến dịch từng vận động thành công cho Bà Suu Kyi khỏi bị giam tại nhà, nhưng sau đó, không ngại chống lại các vi phạm nhân quyền của bà, cho rằng Đức Hồng Y Bo là tiếng nói cao cấp duy nhất tại Miến Điện tranh đấu cho quyền lợi của người Rohingya.

Vấn đề Miến Điện, vì thế, quả không đơn giản.

Tuy nhiên, Farmaner vẫn hy vọng Đức Phanxicô sẽ thuyết phục chính phủ Miến Điện chịu làm việc với ngài trong việc thi hành các chương trình nhằm cổ vũ lòng khoan dung tôn giáo, như Kế Hoạch Hành Động Rabat của Liên Hiệp Quốc về hận thù tôn giáo.

Kế hoạch công bố năm 2013 nói trên ngăn cấm việc cổ vũ lòng hận thù quốc gia, chủng tộc hay tôn giáo có thể xúi bẩy người ta đến chỗ kỳ thị, thù nghịch hay dùng bạo lực. Kế hoạch này tìm cách cân bằng hóa quyền tự do phát biểu của quốc tế và các ngăn cấm chống lại việc xúi bẩy.

Được lòng bên nọ mất lòng bên kia

Dù thế nào, Đức Phanxicô cũng sẽ lên tiếng chống lại các vi phạm nhân quyền, trong đó, có việc chống người Rohingya. Nhưng làm như thế, chắc chắn chính phủ của Bà Suu Kyi sẽ không hài lòng. Điều này dường như không quan trọng bằng mất cảm tình của khối đa số vốn theo Phật Giáo của Miến Điện. Người ta e ngại khối người này sẽ biểu tình phản đối ngài.

Thực vậy, mấy ngày gần đây, các nhóm Phật Giáo duy quốc gia đã lên tiếng cảnh cáo Đức Giáo Hoàng đừng sử dụng chuyến viêng thăm để bênh vực người Rohingya, những người họ coi là di dân từ Bangladesh.

Quả tình, người Rohingya vốn bị người Phật Giáo Miến Điện coi là “bọn chúng”, chứ không hẳn là người Miến Điện. Ngay chuyện xin việc làm, họ cũng đang gặp khó khăn. Ashin Wirathu, lãnh tụ phong trào Phật Giáo duy quốc gia Ma Ba Tha cho hay: “Làm gì có nhóm sắc tộc Rohingya ở nước chúng tôi, nhưng ông giáo hoàng tin là họ nguyên thủy phát xuất từ đây. Điều ấy sai”.

Nội tình chính trị trong chính phủ Miến Điện càng làm cho tình huống trên thêm trầm trọng. Theo Farmaner, khi quân đội rút khỏi quyền kiểm soát Miến Điện một cách trực tiếp vào năm 2011, họ đã dùng một chính đảng thụ ủy (proxy) để điều hành chính phủ, dưới quyền điều khiển của một vị cựu tướng lãnh, Thein Sein, người trở thành Tổng Thống. Đứng trước viễn ảnh bầu cử tương lai và việc nổi tiếng của Bà Aung San Suu Kyi và đảng của bà này, Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ (NLD), Thein Sein buộc phải dựa vào chủ nghĩa duy quốc gia Phật Giáo để ngầm phá sự ủng hộ dành cho Aung San Suu Kyi và xây dựng mạng lưới ủng hộ mình.

Ông để cho các người duy quốc gia tự do tổ chức, xúi giục và thực hiện các cuộc tấn công bạo lực vào người Hồi Giáo, sử dụng ngôn từ của họ, và thông qua các đạo luật do các người duy quốc gia Phật Giáo đề xuất. Họ ủng hộ đảng của ông trong cuộc bầu cử năm 2015, nhưng Đảng Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ vẫn đã thắng một cách “long trời lở đất”.

Tuy nhiên chính các lãnh tụ của Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ cũng chiều theo những người duy quốc gia và một số còn chia sẻ các quan điểm duy quốc gia nữa. Bà Aung San Suu Kyi không đưa ra bất cứ ứng cử viên Hồi Giáo nào, không đề cử bất cứ bộ trưởng Hồi Giáo nào và giữ nguyên các luật lệ do người duy quốc gia soạn thảo, trong đó có các chính sách và đạo luật kỳ thị người Rohingya.

Các biến chuyển gần đây

Trong hơn tháng qua, tình cảnh người Rohingya trở nên tồi tệ hơn nhiều với nhà cửa bị đốt cháy, phụ nữ bị hiếp dâm, khiến hàng trăm ngàn người Rohingya phải trốn khỏi Miến Điện, chạy tới vùng biên giới với Bangladesh, sống bờ sống bụi, bất cứ chỗ nào có thể ngả lưng.

Quân đội Miến Điện, do chính phủ của Bà Suu Kyi phái tới, bị tố cáo là thi hành nhiều vụ sát hại tại vùng Rakkhine của người Rohingya, không cần thủ tục pháp lý, họ bắn bừa bãi vào thường dân, thậm chí cả bé thơ.

Các cơ quan nhân đạo quốc tế cũng như của Liên Hiệp Quốc liên tục gặp khó khăn lớn về an ninh trong việc giúp đỡ người Rohingya ở Miến Điện cũng như ở Bangladesh. Thậm chí cả Bà Aung San Suu Kyi có lúc cũng đã tỏ ra bất bình với các cố gắng quốc tế trợ giúp người Rohingya. Văn Phòng của bà từng lên tiếng tố cáo các nhân viên cứu trợ là giúp đỡ các tên khủng bố.

Và cũng chính vì vậy, các viên chức nhân quyền cao cấp nhất của Liên Hiệp Quốc đã lên tiếng tố cáo Miến Điện cho thi hành một điển hình “thanh trừng sắc tộc (ethnic cleansing) y như trong sách giáo khoa” đối với người Rohingya. Đó là nhận định của Ông Zeid Ra’ad al-Hussein, Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về nhân quyền.

Ngày 27 tháng 8, 2017, trước khi đọc kinh Truyền Tin, Đức Phanxicô cho rằng ngài theo dõi “các tin đau buồn liên quan tới các cuộc bách hại tôn giáo các anh chị em Rohingya của chúng ta” và ngài lên tiếng đòi phải tôn trọng đầy đủ các nhân quyền của họ.

Không phải chỉ có Miến Điện đối xử tàn tệ với người Rohingya mà cả Bangladesh cũng không coi họ ra gì, thậm chí không chịu thừa nhận tư cách tỵ nạn của họ nữa, dù họ cùng thuộc nòi Indo-Aryan. Một là họ bị giam giữ tại Bangladesh hai là bị tống xuất trở lại Miến Điện. Ấn Độ cũng thế. Sau khi thăm Miến Điện trở về, Thủ Tướng Narendra Modi đã lặp lại kế hoạch trục xuất 40,000 người tỵ nạn Rohingya.

Các nhà lãnh đạo nổi tiếng khác cũng đang lên tiếng bênh vực người Rohingya và kêu gọi chính phủ của Bà Suu Kyi phải tôn trọng nhân quyền. Đức Dalai Lama, người cũng lãnh giải Nobel Hòa Bình như Bà Suu Kyi, tỏ ý lo ngại trước sự im lặng của Bà. Ngài thúc giục bà ra tay hành động vì người Rohingya. Ngài cũng khuyên người Phật Giáo Miến Điện nhớ đến Đức Phật, Đấng chắc chắn giúp người Rohingya khốn khổ, chứ đâu có đòi trục xuất họ khỏi Miến Điện như một số người Phật Giáo cực đoan Miến Điện.

Tổ Chức Hợp Tác Hồi Giáo, họp tại Kazakhstan, lên tiếng yêu cầu Miến Điện để một sứ bộ của Liên Hiệp Quốc tới điều tra sự kiện. Cho đến nay, Chính Phủ Miến Điện không chấp nhận đề nghị này.

Không hiểu rõ thực tế Miến Điện

Có nguồn tin cho rằng không phải chỉ chính phủ Miến Điện mà cả người Công Giáo Miến cũng không hỗ trợ các chỉ trích như trên. Đức Cha Raymond Sumlut Gam, giám mục Banmaw và là cựu chủ tịch của Caritas Miến, nói với Asia News rằng: “Chúng tôi sợ Đức Giáo Hoàng không có đủ thông tin chính xác và đang đưa ra các tuyên bố không phản ảnh thực tại. Quả quyết rằng người Rohingya đang bị ‘bách hại’ có thể tạo nên các căng thẳng nghiêm trọng tại Miến Điện”.

Còn Cha Mariano Soe Naing, phát ngôn viên của hội đồng giám mục Miến Điện thì nói rằng: “Nếu phải đưa Đức Thánh Cha đi gặp những người đau khổ hơn cả trong chúng tôi, chúng tôi sẽ đưa ngài tới các trại tỵ nạn ở Kachin [chủ yếu là người Công Giáo], nơi nhiều nạn nhân của nội chiến phải tản cư tới. Còn về việc sử dụng hạn từ Rohingya, ý kiến của tôi là: để tỏ lòng kính trọng nhân dân và chính phủ Miến Điện, ta nên dùng kiểu nói được các định chế chấp nhận là ‘Người Hồi Giáo vùng Rakkhine’. Nếu Đức Giáo Hoàng cứ dùng kiểu nói ‘Rohingya, chúng tôi sợ cho an ninh của ngài”.

Cha không cho biết lý do tại sao không nên dùng hạn từ Rohingya. Nhưng họ không phải là những người duy nhất ở Miến Điện bị bách hại về tôn giáo. Cả người Kitô Giáo ở vùng Kachin và các nhóm người Trung Hoa cũng đang bị bách hại.

Thực ra, đợt khủng hoảng mới một phần do chính người Rohingya gây ra: tổ chức Arakan Rohingya Salvation Army của họ, ngày 25 tháng 8, 2017 đã tấn công một đồn cảnh sát, giết chết khoảng 15 viên chức chính phủ. Phản ứng dữ dội đã đổ lên đầu thường dân vô tội không riêng từ phía quân đội mà cả từ phía người Phật Giáo cực đoan.

Hiện tình thực sự ở Miến Điện

Chính vì bối cảnh phức tạp trên, Đức Hồng Y Bo, trong cuộc phỏng vấn của Tạp Chí Time, tỏ ý hy vọng rằng lời lẽ của Đức Phanxicô trong chuyến viếng thăm tới sẽ “đem lại hàn gắn, chứ không phải hận thù”. Điều quan trọng là tháo ngòi căng thẳng và tức giận trong vùng, và sử dụng thứ ngôn từ “không chọc tức” bên nào. Thí dụ, nên tránh các từ “diệt chủng” hay “thanh trừng sắc tộc”.

Riêng về Bà Suu Kyi, ngài cho rằng bà “ở trong một vị thế khá lúng túng về chính trị” vì quân đội vẫn kiểm soát phần lớn guồng máy chính phủ và hiện không có ý chí chính trị nào trong nước hỗ trợ số phận của người Rohingya.

Theo ngài, người Phật Giáo và chính phủ Miến có hai quan tâm chính: việc xuất hiện các nhóm nổi loạn xuyên quốc gia và thế quân bình dân số ở Tiểu Bang Rakhine.

Theo ngài, chính phủ lo sợ dân số Rakhine sẽ bùng nổ nếu người Rohingya được cấp quyền công dân. Trước cuộc khủng hoảng hiện nay, có 1 triệu người Rohingya tại tiểu bang này, nhưng còn hơn 1 triệu người Rohingya nữa ở bên ngoài Miến Điện (Ấn Độ và cả Bangladesh đều không cấp quyền công dân cho họ), số người này có thể tìm cách trở lại Miến.

Ngoài ra, còn quyền lợi hầm mỏ nữa. Những nhóm này muốn khai thác Rakhine mà vì thiếu các cơ chế “sự thật và hòa giải” trong lúc quốc gia chuyển tiếp sang dân chủ, nên nhiều người sẽ trở thành con dê thế tội.

Chính vì vậy phải thông cảm với Bà Suu Kyi. Ngài hy vọng nếu còn tiếp tục cai trị, Bà có thể từ từ đẩy quân đội qua bên lề. Và do đó, các khách qúy nên nhìn nhận các áp lực nội bộ khác nhau của Bà khi tới thăm Bà tại Miến Điện.

Đức Hồng Y Bo giải thích thêm về việc sử dụng ngôn từ ở Miến Điện: "Ở Miến Điện, cái tên hết sức quan trọng. Chính đất nước cũng chưa nhất định về cái tên của mình. Myanmar/Burma là tên quốc tế. Myanmar là tên của Hội Đồng Quân Sự. Các nhà tranh đấu dân chủ, trong đó có Aung San Suu Kyi, từ khước không chấp nhận tên này và tiếp tục dùng tên Burma cho tới năm 2010. Nhiều nước Tây Phương tiếp tục dùng tên Burma”.

Ngài cho hay chữ “Rohingya” cũng gây tranh luận như thế. Nó là hạn từ nặc mùi chính trị. Không dùng nó sẽ làm các nhóm ủng hộ người Rohingya nổi sùng. Dùng nó sẽ bị người Miến Điện, quân đội và chính phủ Miến lên án.

Trong một văn thư gửi hãng thông tấn Fides, Đức Hồng Y cho biết thêm: vấn đề người Rohingya rất tế nhị. Bất cứ nhận định nào của Đức Giáo Hoàng về người Rohingya cũng có thể gây phẫn nộ cho những người duy quốc gia: đối với họ người Rohingya không phải là người Miến mà là người Bengal, không có quyền sống trên đất nước Miến Điện.

Chính vì thế, theo Đức Hồng Y, để tránh gây căng thẳng, Đức Phanxicô “không nên dùng hạn từ Rohingya” nhưng nên nói tới các quyền nhân đạo của những người Hồi Giáo tại Rakhine đang đau khổ”.


Trùm khủng bố Hồi Giáo Abu Bakr al-Baghdadi vẫn còn sống, kêu gọi tấn công Rôma

Trùm khủng bố Hồi Giáo Abu Bakr al-Baghdadi vẫn còn sống, kêu gọi tấn công Rôma
Đặng Tự Do
29/Sep/2017

Lãnh đạo của bọn khủng bố Hồi Giáo IS là Abu Bakr al-Baghdadi vẫn còn sống, và vừa lên tiếng kêu gọi những người Hồi Giáo quá khích trên thế giới tấn công vào các kẻ thù, và đặc biệt nhắm vào “các trung tâm truyền thông của những kẻ ngoại đạo”.

Abu Bakr al-Baghdadi đã nói như trên trong một băng ghi âm dài 46 phút được al-Furqan, là cơ quan truyền thông do bọn khủng bố IS điều hành, tung ra hôm thứ Năm 28 tháng 9.

Đại tá quân đội Hoa Kỳ Ryan Dillon, phát ngôn viên của Liên Quân tại Baghdad, cho biết giọng nói trong băng ghi âm nghe có vẻ giống như những bản thu âm trước đây của al-Baghdadi. Tên trùm khủng bố cũng đã lên tiếng trong một băng ghi âm được phát hành vào tháng 11, năm ngoái, khi kêu gọi quân khủng bố Hồi Giáo IS chiến đấu tới cùng tại Mosul.

Tháng Sáu vừa qua, các quan chức Nga nói họ tin là al-Baghdadi đã chết trong một cuộc không kích của Nga ở ngoại ô thành phố Raqqa của Syria.

Đại tá Ryan Dillon nói ông không có lý do gì để bác bỏ tính xác thực của băng ghi âm này. Hơn thế nữa, trong băng ghi âm Abu Bakr al-Baghdadi đã nói về những diễn biến mới nhất trên thế giới như những căng thẳng gần đây giữa Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên; trong khi chế riễu tổng thống Trump với một dụng ý rõ ràng là xúi giục Hoa Kỳ lao vào cuộc chiến với Bắc Triều Tiên. al-Baghdadi cũng nhìn nhận các thất bại quân sự gần đây và kêu gọi các thành phố Hồi Giáo cực đoan chiến đấu như “những con sói cô đơn”.

Cho nên, Đại tá Ryan Dillon tin rằng Abu Bakr al-Baghdadi vẫn còn sống, và hoàn toàn có thể gây ra nhiều vụ khủng bố nữa trên thế giới.

Trong băng ghi âm al-Baghdadi kêu gọi: “Các binh lính của nhà nước Hồi giáo, và những người ủng hộ sự cai trị của Hồi Giáo trên toàn cầu, hãy tăng cường các cuộc tấn công của các bạn và phải bao gồm cả các trung tâm truyền thông của những kẻ ngoại đạo và các trụ sở điều hành cuộc chiến tranh tâm lý.”

Tên trùm khủng bố dành một đoạn khích lệ người Hồi Giáo tấn công vào Rôma và không quên nhắc nhở những người theo hắn về những phần thưởng của sự tử đạo, bao gồm cả “72 người vợ” và cơ man “những nàng hầu xinh đẹp trên thiên đường”.


Indonesia's' first parish with Korean martyr as patron‎

Indonesia's' first parish with Korean martyr as patron
Pope Framcis (seated) at the birthplace of Saint Andrew Kim Tae-gon, in Dangjin on August 15, 2014.- AP

A parish in Jakarta has been dedicated to Korean martyr, St. Andrew Kim Tae-gon (1821-1846), becoming the first parish in Indonesia with a non-European patron saint.  St. Andrew Kim Tae-gon, the first Korean-born Catholic priest and patron saint of Korea, has been adopted as the patron of the parish church in Kelpa Gading in the Indonesian capital.
Under Korea’s Joseon Dynasty, Christians were persecuted and executed. Kim was one of several thousand Christians who were executed during this time.  In 1846, at the age of 25, he was tortured and beheaded near Seoul on the Han River.
John Paul II canonized 102 Korean martyrs
St. Pope John Paul II canonized Kim along with 102 other Korean Martyrs, including Paul Chong Hasang, during his trip to Korea on May 6, 1984.  Their memorial is observed on September 20.
Consecration ceremony
Archbishop Ignatius Suharyo of Jakarta presided over the consecration ceremony of St. Andrew Kim Tae-gon Church on Sept. 20, along with Auxiliary Bishop Benedictus Son Hee-song of Seoul. 
"So far, Indonesian churches have been dedicated only to European saints and I wished for saints near to us," said Archbishop Suharyo. "Finally, we decided St. Andrew Kim, the first Korean martyr priest."
Last year, Jakarta Archdiocese requested a relic of St. Kim from Cardinal Andrew Yeom Soo-jung, Archbishop of Seoul, which arrived last October.
The entrance of the 2,400 capacity St. Andrew Kim Tae-gon Church is adorned with 24 wooden reliefs featuring scenes from the life of St. Kim.  In front of the church stands a statue of the saint, holding a cross and wearing a traditional Korean hat made of bamboo and horsehair. 
Bishop Son found a link between Korea and Indonesia in St. Andrew Kim.  "The Independence Day of Indonesia,” he said, “is Aug. 17, 1945.”  “Exactly 100 years earlier on Aug. 17, 1845, Father Andrew Kim was ordained a priest," said Bishop Son. "We all are a family under the Catholic faith," he added.
Archbishop Suharyo said the history of martyrdom in Korea has much in common with Indonesia's history of persecution and martyrdom.  "I wish the passion of Korean laypeople who embraced Catholicism without any foreign missionary and fostered the saint-priest be a good model for Indonesian Catholics," Archbishop Suharyo said.   (Source: UCAN)


Pope meets Italian mayors, municipalities

Pope meets Italian mayors, municipalities
Pope Francis meeting members of the National Association of Italian Municipalities (ANCI) in the Vatican, Sepi.30, 2017.

(Vatican Radio)  The image of a city that the New Jerusalem evokes is one of a human society that is based on true solidarity, whereas where envy, unbridled ambitions and spirit of adversity grow, it condemns itself to the violence of chaos.
The common good
Pope Francis made the point on Saturday while addressing some 300 members of the National Association of Italian Municipalities (ANCI) in the Vatican.   The model of the city or town that the Pope proposed to them is one that “does not permit a one-way traffic of exasperated individualism,” that does not tolerate the “blind alleys of corruption” that breeds disintegration, and where there are no “walls of the privatization of public spaces, where the "us" is but a rhetoric ploy that “masks the interest of a few.”
The Pope urged the town and city officials to have “the passion for the common good” that grants each one and his family the possibility to realize themselves and open themselves in communion with others
Solidarity and human brotherhood
Speaking about areas that lack quality services he said it is here where new “pockets of poverty and marginalization” breed.  “This,” he said, “is where the city moves on a double lane.”  “On the one hand there is a highway of those who are overly cared for and on the other there are the “bottlenecks of the poor and unemployed, the numerous families and immigrants who have no one to count on.”  “We must not accept these plans that divide and make the life of one be the death of the other,” the Pope said, adding, “the struggle itself ends up destroying any sense of solidarity and human brotherhood.”
Learn from the poor
The Pope thus urged the city and town administrations to visit the urban, social and existential peripheries under them, saying the “point of view of the least is the best school that will make us understand the true needs”  and their solutions.  While making us feel the “pulse of injustice” they will also show us the way to eliminate it and create a community where each one is recognized as a person and citizen with rights and duties.   The Pope said that if a mayor is close to his people, things go well always.
Migrants, refugees
Speaking about Italy’s massive problem with migrants and refugees, the Pope said he can well understand the difficulties of the nation grappling with an economic crisis, local communities’ unpreparedness and inadequate measures to deal with the emergencies.  He said this difficulty can be overcome by offering spaces for personal encounter and knowledge of one another
He commended initiatives that “promote the culture of encounter, mutual exchange of artistic and cultural riches, and the knowledge of the places and communities of origin of the new arrivals.”  Pope Francis expressed satisfaction that many city and town administrations have adopted the “the good practice of welcome and integration, with encouraging results” which he said should be spread wide.


Pope Francis to New Evangelization: we are made for mission

Pope Francis to New Evangelization: we are made for mission
Pope Francis with the President of the Pontifical Council for Promoting New Evangelisation, Archbishop Rino Fisichella.

(Vatican Radio) Pope Francis received the participants in the Plenary Assembly of the Pontifical Council for Promoting New Evangelisation on Friday.
In remarks prepared for the occasion, and delivered to participants during the course of an audience that began shortly before noon in the Consistory Hall of the Apostolic Palace in the Vatican, Pope Francis reflected particularly on the Extraordinary Jubilee Year of Mercy that ran through 2016, under the direction of the Council, calling the Holy Year a “moment of grace that the entire Church lived with great faith and intense spirituality.”
The Holy Father went on to say that the present moment is one in which to harness the energy of that grace-filled year.
Harnessing the energy of the Year of Mercy
“We cannot permit,” he said, “that so much enthusiasm be diluted or forgotten,” noting also that the whole People of God felt the gift of mercy strongly, rediscovering in particular the Sacrament of Reconciliation as a privileged place in which to experience the goodness and tenderness of God, along with His boundless foregiveness.
Speaking specifically to the mission of evangelization, Pope Francis stressed that it is one, which belongs to the whole People of God and to each individual Christian, according to his or her state of life in the Church, and with special regard to the contribution that the individual peoples and the respective cultures offer to the journey of the People of God.
Power of the Gospel to transform and renew cultures
“From every people towards which we go there emerges a wealth that the Church is called to recognise and value to bring to fulfilment the unity of ‘all the human race’ of which it is a ‘sign’ and ‘sacrament’,” he said, invoking the Dogmatic Constitution of the II Vatican Council on the Church, Lumen Gentium.
Pope Francis also explained that the evangelising nature of the People of God – and of every people transformed and penetrated by the Gospel of Christ – brings with itself an awareness of an appeal that transcends individuals, who find themselves and the message of which they are carriers inserted in a complex weave of interpersonal relationships, “which enables the experience of the profound unity and humanity of the community of believers.”
“[T]his,” he said, “applies in a particular way in a period such as ours, in which we are forced to face a new culture, the fruit of technology that, while it fascinates us for the conquests it offers, it makes equally evident the lack of a true interpersonal relationship and interest in the other.”
Recovering missionary élan
The Holy Father concluded his remarks with a reflection on the urgency of the task of recovering the missionary élan in which the Church was founded.
“Dear brothers and sisters,” he said, “the new phase of evangelisation that we are called to journey through is certainly the work of all the Church, the people journeying towards God: rediscovering this horizon of meaning and concrete pastoral practice will be able to promote the impetus to evangelisation itself, without forgetting its social value, for a genuine integral human promotion.”


Kinh nghiệm thiêng liêng của Jeannie Gaffigan sau khi mổ khối u trong đầu

Kinh nghim thiêng liêng ca Jeannie Gaffigan sau khi m khi u trong đu

Jeannie Gaffigan là một nữ kịch sĩ, nhà sản xuất và viết kich bản nổi tiếng người Mỹ, và cũng là vợ của kịch sĩ Jim Gaffigan. Năm 2016, bà được nhận giải thưởng Christopher, là giải thưởng dành cho các nhà sản xuất, đạo diễn và tác giả các sách, hình ảnh, và chương trình truyền hình đặc biệt, khẳng định giá trị cao nhất của tinh thần con người. Hồi đầu năm nay (2017), trong một lần đưa 5 đứa con đi gặp bác sĩ nhi khoa, bà Jeannie đã khám phá ra mình có một khối u to bằng quả táo, bao quanh các tế bào não. Thay vì suy sụp hoàn toàn, bà Jeannie đã lập tức chạy đến với Chúa và thưa với Ngài: “Con đang cần Chúa giúp đỡ. Chúa phải hướng dẫn con qua khó khăn này vì con không biết mình phải làm gì … và con còn nhiều việc phải làm cho Chúa.” Từ lúc đó, bà tiếp tục sống với đức tin và niềm tín thác.
Bà Jeannie kể lại trong cuộc một phỏng vấn; bà đã chịu đựng những cơn đau đầu và chóng mặt, bị mất cân bằng và thậm chí mất thính giác. Bà tưởng đó là những triệu chứng dị ứng khi giao mùa. Khi biết một bên tai của bà Jeannie không thể nghe được, một bác sĩ nhi khoa đã khám cho bà, nhưng không thể tìm thấy cái gì rõ ràng. Bác sĩ này đã gửi Jeannie đến gặp chuyên gia Tai Mũi Họng, nhưng bác sĩ này cũng không tìm ra nguyên nhân khiến Jeannie bị điếc một bên tai. Bà Jeanni được khuyên đi chụp cắt lớp và cuối cùng họ khám phá ra bà có một khối u lớn trong đầu, có thể đã phát triển từ cả năm rồi. Dù khối u lớn, nhưng may mắn đó là khối u lành tính, nếu không, ung thư với cỡ lớn như thế có thể giết chết bà Jeannie ngay lập tức. Nhưng khối u đó vẫn cần được giải quyết, nếu không nó có thể khiến bà bị liệt vì đè chèn lên não của bà. Đó là lúc bà Jeannie xin Chúa hướng dẫn và bà đã tìm được hướng đi đúng đắn. Vào Tuần Thánh, tháng 4 năm nay (2017), bà Jeannie đã xin một người bà con, một chiến binh cầu nguyện thật sự, bắt đầu làm những tuần cầu nguyện cho mình.
Lúc đó, các bác sĩ giải phẫu thần kinh mà bà Jeannie liên hệ đều kín lịch hẹn cho mãi đến tháng 5. Bà Jeannie gọi cho một chuyên gia thần kinh, là người bạn thời thơ ấu của bà, để xin ý kiến. Sau khi nhận được các bản sao chụp não của bà, ông cho biết là bà cần đến phòng phẫu thuật sớm bao nhiêu có thể. Bà Jeannie và chồng đã đến khoa phẫu thuật thần kinh bệnh viện Mount Sinai và được bác sĩ nổi tiếng Joshua Bederson khám. Vào thứ sáu Tuần Thánh, Jeannie đã được chụp não; các bác sĩ đã có bản đồ não của bà và họ đã làm một cuộc giải phẫu ảo về cách xử lý khối u và các dây thần kinh xung quanh nó. Sau đó họ nói với bà Jeannie: “Bà có thứ bảy và Chúa nhật phục sinh với gia đình. Ngày thứ hai, bà sẽ được phẫu thuật.”
Cuộc phẫu thuật 9 tiếng đã kết thúc tốt đẹp, nhưng thời gian hồi phục xảy ra các khó khăn. Cổ họng của bà Jeannie bị liệt tạm thời và cần có ống ôxy để thở, cũng như ống nối đưa thức ăn vào bao tử. Bà phải hút nước bọt của chính mình vì cơ quan chức năng thở và nuốt không làm việc, vì vậy bà bị viêm phổi cấp đe dọa đến mạng sống. Sau đoạn đường hồi phục dài 4 tháng, bà Jeannie cảm nghiệm không gì khác hơn là một phép lạ. Bà chia sẻ: “Tôi đã có những người đạo đức mạnh mẽ nhất trên thế giới cầu nguyện cho tôi… Tôi đã thấy phần tích cực của nhân loại vào lúc mà tôi cảm thấy môi trường của đất nước chúng ta là thứ đang bị chia cắt. Tôi thấy những con ngươi có niềm tin khác nhau và ý hướng chính trị khác nhau là những người tốt và tôi đã có lại ý thức về sức mạnh của cầu nguyện chuyển cầu và ý thức lại mục đích của tôi sống trên trái đất này và cho các con của tôi. Tôi đã có nhiều cuộc gặp gỡ thiêng liêng với Chúa trong những ngày thực sự đen tối ở trong bệnh viện. Không có gì để nghi ngờ là bàn tay của Chúa ở với tôi trên mỗi bước đường.”
Jeannie cũng nhìn thấy sự hiện diện của Chúa qua những sự việc khác. Đức hồng y Dolan đã điện thoại thăm Jeanni khi ngài đang ở Lộ đức; Đức hồng y nói với Jeannie là ngài đã cầu nguyện cho bà, và điều này rất có ý nghĩa với bà vì bà. Vào ngày Jeanni dự định xuất việc, bác sĩ yêu cầu cần có một y tá đi cùng về nhà và sắp đặt các dụng cụ y khoa mà bà cần ở nhà. Các bác sĩ lo lắng hơn khi Jeanni bị một cơn họ vào ngày hôm trước và làm cho ống thở tụt ra khỏi cuống họng. Và thật may, sơ Mary Doolittle, một ý tá và cũng là một người bạn thân của Jeannie đến thăm bà và đã đồng ý làm các việc bác sĩ yêu cầu.
“Thắp lên một ngọn nến thì tốt hơn là nguyền rủa bóng đêm”, đó là những lời khắc trên huân chương Christopher bà Jeannie đã nhận được. Giờ đây những lời đó có một ý nghĩa mới với bà. Bà kết luận: “Tôi luôn biết là người được cho nhiều thì được chờ đợi phải sinh lợi nhiều hơn và nếu tôi được Chúa ban cho bất cứ món quà nào, tôi cần sử dụng nó. Tôi luôn biết điều đó trong công việc của tôi, nhưng bây giờ, cần phải thực hành những điều dường như nhỏ bé hơn, giống như là đốt lên một ngọn nến, tốt hơn là những mục đích tham vọng to lớn là làm để thay đổi thế giới. Ngay lúc này, tôi đang thấy rõ rằng các con của tôi, các công việc của tôi ngay trước mặt tôi. Việc nhìn thấy điều Chúa đặt trước mặt chúng ta và chọn lựa Ngài ban cho chúng ta là điều quan trọng. Mọi người cần nhận ra điều này bởi vì sẽ không cần có một khối u não thì mới nhận ra điều này. Chúng ta tất cả cần được chữa lành. Hãy tìm kiếm những cơ hội để đốt lên những ngọn nến đó, ngày cả khi nó không phải là điều to lớn đầy tham vọng. Tất cả chúng ta đều muốn đốt lên 1000 ngọn nến, nhưng có một ngọn nến ngay trước mặt bạn mà Chúa đưa cho bạn. Hãy mở mắt bạn, nhìn vào nó và thắp nó sáng lên.” (Aleteia 12/09/2017)
Hồng Thủy


Đức Thánh Cha kêu gọi đón tiếp và hội nhập di dân và tị nạn

Đc Thánh Cha kêu gi đón tiếp và hi nhp di dân và t nn

VATICAN. ĐTC cổ võ các thành thị và làng xã Italia trong việc tiếp đón và hội nhập nhưng người di dân.
 Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng ngày 30-9-2017 dành cho 300 thành viên Hiệp hội toàn quốc các thành thị và làng xã Italia. ĐTC nói:
 ”Tôi hiểu sự khó chịu của nhiều người dân tại các đơn vị của quí vị đứng trước làn sóng nhập cư ồ ạt của những người di dân và tị nạn. Sự khó chịu này có thể được giải thích là do sự sợ hãi bẩm sinh đối với ”người lạ”, sự sợ hãi ấy càng gia tăng do những vết thương vì khủng hoảng kinh tế, vì sự thiếu chuẩn bị của các cộng đoàn địa phương, vì sự không thích hợp của nhiều biện pháp được đưa ra trong bầu không khí khẩn cấp”
 Theo ĐTC, ”sự khó chịu đó có thể được khắc phục nhờ sự cống hiến những những không gian gặp gỡ và hiểu biết lẫn nhau. Cần chào đón tất cả những sáng kiến thăng tiến văn hóa gặp gỡ, trao đổi cho nhau những phong phú về nghệ thuật và văn hóa, sự hiểu biết những nơi chốn và các cộng đoàn nguyên quán của những người mới đến”.
 ĐTC cũng bày tỏ vui mừng vì tại nhiều đơn vị hành chánh có sự vị thị trưởng, xã trưởng hiện diện trong buổi tiếp kiến, có những đường lối tốt để tiếp đón và hội nhập những người di dân, với những kết quả đáng khích lệ và phổ biến rộng rãi sang các nơi khác” (Rei 30-9-2017)
 G. Trần Đức Anh OP