Trang

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2020

21-09-2020 : THỨ HAI - TUẦN XXV THƯỜNG NIÊN - THÁNH MÁTTHÊU, TÔNG ĐỒ, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG - LỄ KÍNH

 

21/09/2020

 Thứ Hai tuần 25 thường niên

 THÁNH MÁTTHÊU, TÔNG ĐỒ, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG.

 Lễ kính



 

* Thánh nhân là một nhân vật quen thuộc trong số các Tông Đồ. Câu chuyện người thu thuế ở Ca-phác-na-um là một trong những đoạn văn quen thuộc nhất trong phần nói về sứ vụ của Đức Giêsu ở Galilê. Người đã biên soạn sách Tin Mừng bằng tiếng Híp-ri.

Sách Tin Mừng hiện nay mang tên thánh nhân cho thấy sự liên tục giữa Cựu và Tân Ước. Tương truyền người đã đi giảng ở Đông Phương.

 

BÀI ĐỌC I: Ep 4, 1-7. 11-13

“Chu toàn chức vụ, xây dựng thân thể Chúa Kitô”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, tôi là tù nhân trong Chúa, tôi khuyên anh em hãy ăn ở xứng đáng với ơn kêu gọi anh em đã lãnh nhận. Anh em hãy hết lòng khiêm nhượng, hiền hậu, nhẫn nại, chịu đựng nhau trong đức ái; hãy lo bảo vệ sự hợp nhất tinh thần, lấy bình an hoà thuận làm dây ràng buộc: Chỉ có một thân thể và một tinh thần, cũng như anh em đã được kêu gọi đến cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa là Cha hết mọi người, Đấng vượt trên hết mọi người, hoạt động nơi mọi người, và ở trong mọi người.

Nhưng mỗi người trong chúng ta đã được ban ơn tuỳ theo lượng Đức Kitô ban cho. Và chính Người đã ban cho kẻ làm Tông đồ, người làm Tiên tri, còn kẻ khác thì rao giảng Tin Mừng, kẻ khác nữa làm chủ chăn và thầy dạy, để tổ chức các thánh nhân nên hoàn bị hầu chu toàn chức vụ, xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi mọi người chúng ta hợp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, trở nên người trưởng thành, đạt đến tầm vóc của Đức Kitô viên mãn. Đó là lời Chúa.

 

ĐÁP CA: Tv 18, 2-3. 4-5

Đáp: Tiếng chúng đã vang cùng trái đất (c. 5a).

Xướng:

1) Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, thanh không kể ra sự nghiệp của Người. Ngày này nhắc nhủ cho ngày khác, đêm này truyền tụng cho đêm kia. – Đáp.

2) Đây không phải lời cũng không phải tiếng, mà âm thanh chúng không thể lọt tai. Nhưng tiếng chúng đã vang cùng trái đất, và lời chúng truyền ra khắp cõi địa cầu. – Đáp.

 

ALLELUIA:

Alleluia, alleluia! – Chúng con ca ngợi Chúa là Thiên Chúa; chúng con tuyên xưng Chúa là chúa tể. Lạy Chúa, ca đoàn vinh quang các Tông đồ ca ngợi Chúa. – Alleluia. 

 

PHÚC ÂM: Mt 9, 9-13

“Hãy theo Ta”. – Và ông ấy đứng dậy đi theo Người.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Matthêu. Người phán bảo ông: “Hãy theo Ta”. Ông ấy đứng dậy đi theo Người. Và xảy ra khi Người ngồi dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Những người biệt phái thấy vậy, liền nói với các môn đệ Người rằng: “Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như vậy?” Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo rằng: “Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu! Các ông hãy đi học xem lời này có ý nghĩa gì: Ta muốn lòng nhân từ, chớ không phải hy lễ. Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi”. Đó là lời Chúa.

 


SUY NIỆM : Kêu gọi người tội lỗi

Người làm công lau kiếng mà chỉ nhận lau những tấm kiếng sạch thì quả là một người đãng trí, một cơ quan từ thiện bác ái mà chỉ đi giúp cho những người giàu có thì quả là một trò hề đáng trách; một nhà thương mà chỉ nhận săn sóc cho người mạnh khỏe thì quả thật là một nhà thương không thể nào chấp nhận được.

Bài Phúc Âm hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu kêu gọi người thu thuế tội lỗi tên là Lêvi (sau này là tông đồ Mátthêu) theo Chúa nhắc chúng ta nhớ lại sự thật: Chúa Giêsu không còn là Chúa, là Ðấng cứu thế nữa, nếu Ngài chỉ muốn tiếp xúc với những con người tự phụ cho mình là công chính không cần đến Thiên Chúa.

Lời xác nhận của Chúa Giêsu không ngừng vang dội và mang lại hy vọng cho con người. Ai là kẻ công chính hoàn toàn vô tội trước nhan Thiên Chúa đến độ không cần tới ân sủng của Thiên Chúa, không cần đến Thiên Chúa. Thiên Chúa là Ðấng nhân từ hay thương xót, giàu lòng từ ái, chậm bất bình và hết sức khoan dung nhưng chúng ta đừng vì đó mà lạm dụng và ngồi lì trong tật xấu, trong những tội lỗi của mình.

Chúa Giêsu kêu gọi người tội lỗi để chữa lành, để đưa họ ra khỏi cảnh nô lệ tội lỗi, được sống trong tự do thật của những con cái Thiên Chúa. Chỉ mình Chúa là Ðấng yêu thương vô cùng và quyền năng vô biên mới có thể đối xử đại lượng được như vậy với những tật xấu, những tội lỗi của con người.

Lạy Chúa,

Con cảm tạ Chúa vì đã thương con, đã cho con nhiều dịp canh tân đời sống. Xin cho con khiêm tốn mở rộng tâm hồn đón nhận sự tha thứ của Chúa và cũng đừng có thái độ giả hình hẹp hòi muốn Chúa trừng phạt thẳng tay những tội lỗi của anh chị em chung quanh, không phải vì con sốt sắng muốn bảo vệ Chúa nhưng có thể là vì con ganh tị muốn trả thù anh chị em, không muốn anh chị em được ơn ăn năn trở lại và nhận sự tha thứ của Chúa. Xin cho con có tâm hồn quảng đại như Chúa, biết vui mừng với Chúa vì người anh chị em đã xa lìa Chúa nay ăn năn trở về.

Lạy Chúa,

Xin tình thương đầy sức mạnh tha thứ của Chúa tác động nơi con và nơi mọi anh chị em.

 

 


Lời Chúa Mỗi Ngày

Lễ Kính Thánh Matthew TĐ và Thánh Sử.

Bài đọcEph 4:1-7, 11-13; Mt 9:9-13.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy sống và làm cho mọi người trở thành con Thiên Chúa.

Nhiều người, tuy chẳng tốt lành gì, nhưng hay tìm cơ hội để phê bình và luận tội tha nhân. Họ muốn giam hãm tha nhân trong quá khứ tội lỗi, và không cho tha nhân một cơ hội để làm lại cuộc đời. Án tử hình là một ví dụ. Ngược lại, Thiên Chúa luôn tìm cách tha thứ, và cho con người nhiều cơ hội để làm lại cuộc đời như trường hợp của: Phaolô, Phêrô, Matthew, Mary Magdalene, Augustin, và hầu như tất cả mọi người. Lý do đơn giản, vì tất cả mọi người đều là con của Ngài.

Các Bài Đọc hôm nay cung cấp cho chúng ta niềm hy vọng làm lại cuộc đời. Trong Bài Đọc I, thánh Phaolô khuyên các tín hữu Ephesô hãy biết sống cho đúng với ơn gọi mà họ đã được kêu mời và trang bị. Họ cần biết bảo vệ sự hiệp nhất và xây dựng Nhiệm Thể của Đức Kitô, theo như quà tặng đã được Thánh Thần ban cho họ. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu chẳng những không kết tội và giam hãm Matthew trong ngục tù tội lỗi; Ngài còn cho ông cơ hội để làm lại cuộc đời và để trở thành môn đệ của Ngài. Khi bị chất vấn bởi các biệt-phái tại sao ngồi ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi, Chúa thẳng thắn tuyên bố mục đích khi xuống trần gian của Ngài: ”Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Hãy sống cho xứng đáng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em.

1.1/ Ơn gọi là Kitô hữu: Thánh Phaolô viết cho các tín hữu Ephesô từ nơi lao tù: “Hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy ăn ở thật khiêm nhường, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau.”

(1) Bốn đức tính cần thiết để sống ơn gọi Kitô hữu: Để có thể sống chung với nhau, một người cần tập luyện để có những đức tính như sau:

+ Khiêm nhường (tapeinofrosune): để biết mình trong mối tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân. Người không có đức tính này sẽ dễ dàng kiêu ngạo, khinh thường, và dễ dàng kết án anh chị em của mình.

+ Hiền từ (prauthe): để dễ dàng kiểm soát tính nóng giận của mình. Người tín hữu không tranh đua để dành phần thắng lợi cho mình; nhưng tìm mọi cách thích hợp để đưa mọi người về cho Thiên Chúa.

+ Kiên nhẫn (makrothumia): để chịu đựng những điều xảy ra trái với ý định của mình. Người kiên nhẫn không dễ nản chí khi gặp thử thách hay đòi phải nhìn thấy kết quả ngay; nhưng kiên trì chịu đựng trong gian khổ và cầu nguyện cho đến khi nhìn thấy kết quả.

+ Bác ái (agape): Đây là nhân đức đặc biệt chỉ có trong đời sống Kitô hữu. Với nhân đức này, người tín hữu có thể làm được những điều mà người ngoài Kitô Giáo không làm được, như: yêu thương và làm ơn cho kẻ thù, cầu nguyện cho những người bách hại mình, tha thứ không có giới hạn là bao nhiêu lần.

(2) Bảo vệ sự hiệp nhất: Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau.” Người Kitô hữu có rất nhiều lý do để bảo vệ sự hiệp nhất trong Giáo Hội: Họ chỉ có một thân thể là Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Kitô, một Chúa Thánh Thần, một niềm hy vọng là được sống đời đời. Họ chỉ có một Chúa và một niềm tin vào Đức Kitô, một phép rửa. Họ chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.

1.2/ Mỗi người được Thánh Thần ban cho quà tặng khác nhau để xây dựng Nhiệm Thể: Mỗi người tín hữu là chi thể của một thân thể là Đức Kitô, và lãnh nhận ân sủng khác nhau từ cùng một Thánh Thần, để cùng nhau xây dựng thân thể của Đức Kitô. Ơn gọi làm Kitô hữu là ơn gọi chung của tất cả các tín hữu; tuy nhiên, mỗi tín hữu còn có những ơn gọi riêng khác nhau như: kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ.

Nhờ những ơn gọi khác nhau này, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô.

2/ Phúc Âm: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.”

2.1/ Chúa Giêsu gọi Matthew: Bỏ nơi ấy, Đức Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Matthew đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” Ông đứng dậy đi theo Người.

(1) Lý do Chúa Giêsu gọi Matthew: Trước khi gọi, Chúa biết Matthew đang hành nghề thu thuế, một nghề mà người Do-thái xếp loại tội nhân công khai; vì làm tay sai cho ngoại bang để bóc lột dân chúng của mình bằng việc thu thuế. Chúa biết nguy hiểm của dư luận khi thu nhận ông vào hàng ngũ tông-đồ. Tuy nhiên, Chúa không giam ông trong ngục tù tội lỗi; nhưng muốn cho ông một cơ hội để mời gọi ông hướng tới tương lai. Hơn nữa, Chúa còn biết sẽ dùng ông vào việc gì trong việc rao giảng Tin Mừng: ghi nhận các sự kiện và viết Tin Mừng truyền lại cho mọi người.

(2) Phản ứng của Matthew: Lập tức, ông đứng dậy đi theo Ngài. Ông có lẽ rất ngạc nhiên vì không ngờ Chúa Giêsu không khinh thường ông như những người Do-thái khác, lại còn can đảm kêu gọi ông làm môn đệ. Phản ứng của Matthew cũng không kém can đảm: ông quyết định bỏ một nghề hái ra tiền để đi theo một người không có gì bảo đảm vật chất cho đời mình.

2.2/ Tranh luận giữa Chúa Giêsu với các người Pharisees: Đức Giêsu không chỉ gọi Matthew, Ngài còn chấp nhận dùng bữa công khai tại nhà ông ấy, cùng với nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ.

(1) Phản ứng của những người Pharisees: Thấy vậy, những người Pharisees nói với các môn đệ Người rằng: “Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy?”

Họ có lý do để chất vấn, như cha mẹ Việt-nam vẫn đề phòng con cái: “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Làm bạn với phường tội lỗi không sớm thì muộn cũng lây những tội lỗi của họ.

(2) Câu trả lời của Chúa Giêsu: Ngài nói với họ: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”” Hai điều chính Chúa muốn nhấn mạnh:

+ Sứ vụ của Ngài là đến chữa lành những tội nhân: Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi. Chúa có đủ bản lãnh để hoán cải những tâm hồn chai đá.

+ Tất cả mọi người đều có tội và đều cần đến Chúa, chứ không phải chỉ có Matthew và bạn bè của ông. Các biệt-phái không chịu cẩn thận xét mình, nên họ nghĩ họ không cần Chúa.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

– Chúng ta phải cố gắng sống đúng với ơn gọi là Kitô hữu và ơn gọi riêng của mỗi người. Là môn đệ của Đức Kitô, chúng ta có bổn phận bảo vệ sự hiệp nhất của mọi thành phần.

– Chúng ta phải có lòng thương xót mọi người. Đừng bao giờ giam hãm anh/chị/em trong ngục từ tội lỗi; nhưng luôn cho họ cơ hội và mời gọi họ hướng tới tương lai.

Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP

 

 

 

21/09/2020 – THỨ HAI TUẦN 25 TN

Th. Mát-thêu, tông đồ

Mt 9,9-13

 


CHỌN TÌNH YÊU HAY CỦA LỄ?

Chúa Giê-su nói: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” (Mt 9,13)

 

Suy niệm: Thường ngày ta có nhiều dịp cầu nguyện cho người tội lỗi ăn năn trở lại. Nhưng lắm khi chúng ta giống những người Do thái hôm nay: có một người nào trong cộng đoàn sống khô khan nay ăn năn trở lại, chúng ta xì xào y như thể ta chưa hết hoài nghi về việc người ấy có từ bỏ hành tung của mình hay không; có khi ta chưa thực sự chấp nhận người anh chị em chúng ta như là đối tượng của lòng Chúa thương xót. Ở điểm này, Chúa nói Ngài cần tình yêu bao dung của ta chứ không phải lễ vật.

Mời Bạn: Tiếng chào cao hơn mâm cỗ, tình yêu trọng hơn của lễ là lẽ thường. Thế nhưng đôi khi bạn và tôi lại thích của lễ hơn là tấm lòng, chúng ta đang đánh tráo các giá trị mà ta đang buộc phải giữ. Có của lễ đi kèm với lòng thống hối như thánh Mát-thêu thật đáng quí, nhưng giả như có đủ mọi thứ lễ vật lỉnh kỉnh mà lòng thống hối không có, liệu bạn thấy đã đủ phép chưa? Mà thực ra, Chúa không đòi hỏi ta lễ mễ nhiều thứ, chỉ cần ta chứng tỏ tình yêu bằng cách dứt khoát từ bỏ cuộc sống bất chính và đi theo Ngài là đủ.

Chia sẻ: Cộng đoàn tôi có thái độ nào có thể cản trở người tội lỗi hối cải không?

Sống Lời Chúa: Với tấm lòng chân thành, bạn âm thầm cầu nguyện cho một người đang sống trong tội lỗi.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa nhận thánh Mát-thêu vào hàng các tông đồ dù dưới mắt nhiều người Mát-thêu chẳng ra gì, bởi vì đối với Chúa, Chúa nhìn tấm lòng, chẳng cần lễ vật. Xin cho con sống quảng đại bao dung với anh chị em nhất là đối với những người bị coi là tội lỗi.

(5 Phút Lời Chúa)

 

 

SUY NIỆM : Đứng dậy đi theo

Suy niệm:


Thầy Giêsu gọi bốn môn đệ đầu tiên khi họ đang làm việc.

Người thì đang quăng lưới ngoài khơi,

kẻ thì đang vá lưới trong thuyền (Mt 4, 18-22).

Khi Thầy gọi Matthêô, anh cũng đang làm việc ở trạm thu thuế.

Anh đang ngồi, vững vàng trong nghề nghiệp của mình,

dù nghề của anh thường bị coi là nghề rất xấu.

Thầy Giêsu như tình cờ đi ngang qua bàn làm việc của anh.

Ngài chỉ nói một câu rất ngắn: “Anh hãy theo tôi!”

Matthêô không đáp lại, nhưng anh trả lời bằng hành động.

Từ vị thế đang ngồi, anh bỏ dở công việc để đứng lên và theo Thầy.

Từ vị thế vững vàng, anh bắt đầu bước vào cuộc phiêu lưu bấp bênh.

Từ vị thế của tội nhân, anh trở thành người môn đệ thân thiết.

Matthêô nằm trong danh sách nhóm Mười Hai (Mt 10, 3).

Thầy Giêsu không sợ mất tiếng khi nhận anh vào nhóm.

Nhóm của Thầy không chỉ gồm những người thánh thiện,

nhưng có cả những tội nhân giàu lòng hoán cải.

Matthêô có đóng góp gì cho nhóm Mười Hai không?

Nghề thu thuế với giấy bút có giúp gì cho các ngư phủ ít học không?

Hôm nay chúng ta mừng lễ Tông đồ Matthêô,

người thu thuế trở nên Tác giả sách Tin Mừng.

Matthêô làm nghề bị đồng bào của ông khinh miệt,

vì nghề này dễ dẫn người ta đến chỗ lạm thu, bỏ tiền vào túi riêng.

Nghề này còn là một sỉ nhục vì cộng tác với ngoại bang bóc lột dân,

đụng chạm đến đồng tiền ô uế và tiếp xúc với dân ngoại.

Khi trở nên môn đệ của Thầy, Matthêô đã trở nên người phục vụ đồng bào.

Ông dùng khả năng của mình mà viết sách Tin Mừng.

Đây là Tin Mừng lớn mà ông loan báo: Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia.

Không phải chờ gì nữa, Đấng Mêsia đã đến rồi!

Ngài làm trọn những lời đã được loan báo trong Cựu Ước.

Matthêô đã tìm ra ngôn ngữ để nói với Dân Chúa, sao cho họ hiểu được.

Ông đã trình bày dung mạo Đức Giêsu cho người cùng thời với ông.

Chúng ta cũng phải có khả năng giới thiệu Đức Giêsu cho người thời nay,

nghĩa là biết, hiểu và nói được ngôn ngữ của thế giới,

để thế giới nghe và hiểu được.

Chúng ta vẫn phải tiếp tục viết các sách Tin Mừng cho thời đại hôm nay,

phù hợp với não trạng và tâm thức của họ, với nền văn hóa đương đại.

Đâu là khuôn mặt Đấng Cứu độ mà con người hôm nay ngóng chờ?

Con người thời nay khỏe mạnh về nhiều mặt,

nhưng vẫn là người đau ốm cần đến thầy thuốc (c. 12).

Họ mong mình được giải phóng khỏi điều gì?

Đức Giêsu Kitô có thể đáp ứng được những khao khát đó không?

Lời rao giảng và cuộc sống của chúng ta phải cho thấy

Đức Giêsu có thể chữa lành và đem lại một thế giới hạnh phúc.

Ước gì chúng ta có lòng nhân và sự bao dung như Đức Giêsu,

dám đồng bàn với con người hôm nay để dẫn họ đến bàn tiệc thiên quốc.

 

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,

xin sai chúng con lên đường

nhẹ nhàng và thanh thoát,

không chút cậy dựa vào khả năng bản thân

hay vào những phương tiện trần thế.

Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm:

rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,

chữa lành những người ốm đau.

Xin cho chúng con biết chia sẻ Tin Mừng

với niềm vui của người tìm được viên ngọc quý,

biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân.

Xin ban cho chúng con khả năng

đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.

Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ

của bao người đau khổ thể xác tinh thần.

Lạy Chúa Giêsu,

thế giới thật bao la

mà vòng tay chúng con quá nhỏ.

Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau

mà tin tưởng lên đường,

nhẹ nhàng và thanh thoát. Amen.

(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

 

 

Hãy Nâng Tâm Hồn Lên

21 THÁNG CHÍN

Được Dìm Trong Cái Chết Của Đức Kitô

Qua Bí Tích Phép Rửa – là bí tích cứu độ đầu tiên do Đức Giêsu thiết lập – con người được tháp nhập với Đức Kitô và được liên kết vào trong gia đình của Thiên Chúa hằng sống. Thánh Phaolô lặp lại cho chúng ta điều ngài viết cho các Kitô hữu tại Rôma vào thời của ngài: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại” (Rm 6,3-5).

Tông đồ Phaolô dạy chúng ta rằng Phép Rửa là một hình ảnh diễn tả cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô. Thực vậy, trong Phép Rửa chúng ta được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô, được thanh tẩy những dấu vết tội lỗi, được đưa vào sự sống mới của Chúa Phục Sinh, và được trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần. Nhờ Phép Rửa chúng ta được hội nhập vào sự sống của Hội Thánh. Đây là cộng đoàn của Chúa Kitô, được thiết lập và được nuôi dưỡng bởi tình yêu. Đây là cộng đoàn của đức tin và của sự sống mới; cộng đoàn này đồng hành với chúng ta trong cuộc sống và nâng đỡ chúng ta vượt qua những sự yếu đuối của mình. Như vậy chúng ta không còn là nô lệ cho sự dữ ghê gớm nhất trong tất cả các sự dữ – là tội lỗi. Chúng ta có thể bắt đầu sống một cuộc sống hoàn toàn tự do của con cái Thiên Chúa.

– suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II –

Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác

LIFT UP YOUR HEARTS

Daily Meditations by Pope John Paul II

 

 

Lời Chúa Trong Gia Đình

NGÀY 21/9: Thánh Mátthêu, Tông Đồ

Tác giả Sách Tin Mừng

Ep 4, 1-7. 11-13; Mt 9, 9-13.



LỜI SUY NIỆM: “Đức Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mátthêu đang ngồi tại trạm, Người bảo ông: ‘Anh hãy theo tôi!’ Ông đứng dậy đi theo Người.”

          Trong mọi xã hội, người dân thường căm ghét người thu thuế. Bởi những người này, họ gian trá, chẳng những bóc lột đồng bào mình mà con dùng đủ mọi cách lừa gạt cả chính phủ; họ có lợi tức rất lớn bằng cách nhận hối lộ của những người giàu trốn thuế. Đặc biệt đối với Mátthêu còn mang tội phản quốc vì thu thuế cho ngoại bang. Nhưng đối với Chúa Giêsu khi Người tuyển chọn và kêu gọi Mátthêu trở thành Tông Đồ của Chúa; bởi vì Người không chỉ biết một người như thế nào mà Người còn thấy được họ sẽ trở nên như thế nào.

          Lạy Chúa Giêsu. Chưa ai từng dám tin về khả năng thay đổi bản chất con người cho bằng Chúa. Xin Chúa thương đến chúng con như Chúa đã thương đến Tông Đồ Mátthêu.

Mạnh Phương

 

 

Gương Thánh Nhân

NGÀY 21-09 THÁNH MATTHÊÔ – TÔNG ĐỒ THÁNH SỬ



Ít có ai chuộng người thu thuế. Vào thế kỷ thứ I tại Palestine điều này còn rõ hơn nữa, khi mà họ thủ lợi được nhờ dọa dẫm và gian dối. Nhưng dù có lương thiện đi nữa nhân viên thu thuế cũng không được cấp lãnh đạo Do thái chấp nhận vì họ làm việc cho lương dân. Họ là người nhơ uế theo luật pháp và bị loại khỏi xã hội. Khi nhận một người thu thuế vào môn đồ của Người, Chúa Giêsu quả đã khinh thường tiên kiến của dân chúng.

Điều cần ghi nhận là Matthêô không phải đi từ cửa nhà này tới cửa nhà khác để thu thuế. Ông có một văn phòng tại Capharnaum, thành phố quê hương của Phêrô và đại bản doanh của Chúa Giêsu khi thi hành sứ vụ tại Galilê.

Đi ngang qua, Ngài thấy Lêvi con của Alphê ngồi nơi sở thu thuế và Ngài nói: “Hãy theo Ta” và ông đứng dậy đi theo Ngài” ( Mc 2,14)

Đó là lời mời gọi làm tông đồ, rất giống lời gọi dành cho Simon và Anrê (Mc 1,16t). Dầu vậy Lêvi không có tên trong danh sách mười hai (Mc 3,16; Mt 10,3; Lc 6,14t; Cv 113). Ơn gọi người thu thuế được ghi lại trong Tin Mừng thứ nhất, trong đó ông được gọi là Matthêô (Mt 9,9t). Như vậy tông đồ đồng hoá mình với Mathêô có trong danh sách các tông đồ. Lời giải thích tự nhiên được tiếp nhận rộng rãi là Matthêo với Lêvi chỉ là một người với hai tên gọi khác nhau. (Chẳng hạn anh em Macabê, IMcb 2,2-5). Cũng có thể chính Chúa Giêsu đã đặt tên cho Matthêô như đã đặt tên Phêrô cho Simon (Mattai theo tiếng Aramêô có nghĩa là ấn bản của Thiên Chúa).

Từ đó Matthêô bỏ sổ sách và học theo hoa đồng và chim trời, những thứ không thể tính toán cho đời sống mình (Mt 6,25t). Chủ nhân của ông không còn là Antipas, con cáo gian xảo (Lc 13,32) mà là một Đấng khác hẳn loài cáo, lại chẳng có lấy một căn nhà (Mt 8,20). Sự thay đổi đã hủy diệt trọn tương lai trần gian của Matthêô. Simon và Andrê còn có thể trở lại với nghề chài lưới, còn Matthêô bị tống khứ khỏi nghề cũ và không thể trở lại được nữa. Trong cộng đoàn tông đồ không phải ông mà là Giuda giữ quĩ của nhóm (Ga 13,29).

Sau khi được gọi, Matthêô biến dạng khỏi Tân ước và chỉ còn để lại tên trong danh sách các vị tông đồ. Ngài đã ra thế nào ? Chúng ta có được một câu văn của giám mục Papias trong cuốn giải thích Lời Chúa (khoảng năm 125): “Matthêô viết một tường thuật có thứ tự về lời Chúa, theo năng khiếu của Ngài” (Eusebiô lịch sử Giáo hội III,39). Cuốn Tin Mừng Matthêô viết bằng tiếng Aramêô cho người Do thái trở lại. Khi thời thế đòi hỏi, con người Matthêô bị xã hội loại bỏ ấy đã cầm lấy viết để trước tác cuốn “Tin Mừng theo thánh Matthêô”.

Theo bản văn tiếng Hy lạp còn lại, chúng ta thấy tính khí theo toán học với những con số rõ rệt: 7 dụ ngôn về nước trời, 7 lời nguyền rủa bọn biệt phái, 7 lời cầu trong kinh Lạy Cha và có lẽ 7 mối phúc thật. Cả con số 5 nữa: 5 cuộc tranh luận với biệt phái, 5 chiếc bánh, 5 lượng vàng, nhất là 5 phần của cuốn sách. Sau cùng như chúng ta mong đợi có dấu chỉ về sự hiểu biết tinh tường về phương diện tài chánh như đồng bạc nộp thuế thay vì đồng “denarius” trong Mc và Lc hay như thuế đền thờ, với những loại thuế gián thu, thuế phân…

Như vậy Matthêô đã chuyển nghề nghiệp cũ vào một việc phụng sự mới, từ người kế toán thành người viết Tin Mừng. Thật không ngạc nhiên gì khi một mình Ngài ghi lại lời này của Chúa : – “Phàm ký lục nào đã được thụ giáo về nước Trời thì cũng giống như gia chủ biết rút từ trong kho của ông ra điều mới và điều cũ” (Mt 13,52).

Không có khí cụ hèn hạ nào của chúng ta mà lại không được dùng một cách hoàn hảo và xứng đáng vào việc phụng sự Chúa.

Cuốn Tin Mừng thứ nhất là một kỷ vật của thánh Matthêô được Giáo hội ưa chuộng. Nhưng công cuộc tông đồ sau này của Ngài lại bị mai một. Ngài đã rao giảng Tin Mừng cho người Do thái tại Palestina có lẽ trong 15 năm (Eusebiô, Lịch sử Giáo hội III, 24,265) nhưng sự lầm lẫn giữa tên Ngài với thánh Matthias (Cv 1,26) làm chúng ta luõng lự giữa những truyền thống khác nhau. Ethiopia, Parthia, Macedonia và cả những xứ của những kẻ ăn thịt người đều được ghi nhận là nơi thánh nhân đã làm việc tông đồ.

Thường người ta cho rằng : Ngài chịu tử đạo, nhưng ý kiến cũng không được đồng nhất. Điều chắc chắn là Ngài đã sống đời của một vị tử đạo và thế là đủ. Đối với chúng ta Ngài luôn luôn là một người đã biết được tiền của là gì, lẫn việc không có tiền của là gì.

(daminhvn.net)

 

 

21 Tháng Chín

Vị Thánh Là Ai?

Ngày kia một em bé được theo mẹ đi chợ. Từ nhà đến chợ, hai người phải đi qua một thánh đường nguy nga, to lớn. Em bé ngước mắt nhìn thánh đường, chợt em giơ tay chỉ cho mẹ và nói: “Mẹ xem kìa, những cửa kiếng màu bị đóng đầy bụi, xem thật dơ bẩn và không đẹp tí nào”.

Bà mẹ không nói không rằng về nhận xét của con, nhưng tiếp tục nắm lấy tay dẫn em tiến vào bên trong nhà thờ. Tại đây, những cửa kiếng bên ngoài xem ra dơ bẩn, xấu xí lại trở nên sáng chói và rực rỡ nhiều màu sắc lộng lẫy.

Em bé ngạc nhiên mở to đôi mắt nhìn những cửa kiếng màu diễn tả nhiều hình ảnh đẹp mắt. Bỗng mắt em dừng lại ở cửa kiếng sau bàn thờ diễn tả hình của bốn thánh sử viết Phúc Âm trong lúc ánh mặt trời đang chiếu rọi qua. Em bé hỏi mẹ đó là những thánh nào và được mẹ giải thích vắn tắt về từng vị thánh.

Vài ngày sau, trong một lớp giáo lý, tình cờ giáo lý viên hỏi các em: “Này, trong các em có ai trả lời được: một vị thánh là ai?” Trước một câu hỏi có vẻ không có ý nghĩa, cả lớp giáo lý thinh lặng, chỉ có em bé được mẹ dẫn vào bên trong nhà thờ để nhìn ngắm các cửa kiếng giơ tay xin trả lời. Em nói: “Vị thánh là một người để cho ánh sáng mặt trời chiếu thấu qua”.

Kinh nghiệm và câu trả lời của em bé trên có lẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn phần nào về cuộc đời của thánh Matthêu, vị thánh Giáo Hội mừng kính hôm nay, trước và sau khi được Ðức Giêsu kêu gọi, như được chính thánh nhân vắn tắt thuật lại như sau: Ði khỏi đấy, Ðức Giêsu thấy một người ngồiở bàn thâu thuế, tên là Matthêu. Chúa bảo ông rằng: “Hãy theo Ta”. Ông Matthêu liền đứng dậy và đi theo Chúa.

Một tiếng gọi và một hành động đáp trả được diễn tả vắn gọn trong những dòng trên đây có thể nói được chỉ là bề mặt của trận chiến nội tâm diễn ra từ lâu nơi ông Matthêu. Một trận chiến giằng co để suy tính thiệt hơn, để cân nhắc cái lợi và cái bất lợi, để đắn đo nhưng cái mình phải mất với những cái mình sẽ đạt được, khi ông bỏ mọi sự để theo Chúa:

– Ông phải mất một nghề hái ra bạc nhưng tìm được một số mệnh và sứ mệnh thật sự có giá trị vĩnh viễn.

– Ông phải mất một gia tài to lớn nhưng tìm lại được danh dự.

– Ông phải mất sự bảo đảm xây dựng trên của cải vật chất để đi theo Ðức Giêsu trong một cuộc hành trình dẫn đến sự sống mà trước đó ông chưa bao giờ mơ ước.

Về phần Ðức Giêsu, khi chọn lựa và kêu gọi ông Matthêu, một người hành nghề thâu thuế, bị các người đồng hương thời đó coi như là người phản quốc, nối giáo cho giặc, bóc lột đồng bào để làm lợi cho dân ngoại xâm, cũng như bị lên án là kẻ tội lỗi, biển thủ, gian lận và bị nhóm biệt phái kết án là kẻ tội lỗi, Ðức Giêsu không nhìn những lỗi lầm, những vết nhơ bên ngoài, nhưng Ngài nhìn sâu thẳm tận tâm hồn, nhìn tận bên trong và nhất là Ngài đã lấy ánh sáng của tình yêu thương, lòng nhân hậu, quảng đại và tha thứ của Thiên Chúa để chiếu sáng và chiếu thấu, biến ông Matthêu từ một người thâu thuế thành một tông đồ và một thánh sử viết Phúc Âm.

(Lẽ Sống)

 

 

 

Lectio Divina: Thánh Mátthêu Tông Đồ, Phúc Âm Thánh Sử – Mt 9:9-13

Thứ Hai 21 Tháng Chín, 2020

Lectio Divina

Thánh Mátthêu Tông Đồ, Phúc Âm Thánh Sử

Mùa Thường Niên                                              

 1.  Lời nguyện mở đầu


Lạy Cha,

Cha kêu gọi các con cái Cha

Bước đi trong ánh sáng của Đức Kitô.

Xin Cha hãy giải thoát chúng con khỏi sự tối tăm

Và gìn giữ chúng con trong ánh hào quang của chân lý Cha.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, Con Cha,

Đấng hằng sống hằng trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần,

Một Thiên Chúa, đến muôn thuở muôn đời.  Amen.

2.  Bài Đọc Tin Mừng – Mátthêu 9:9-13 

Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Mátthêu.  Người phán bảo ông:  “Hãy theo Ta.”  Ông ấy đứng dậy đi theo Người.

Và xảy ra khi Người ngồi dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người.

Những người Biệt Phái thấy vậy, liền nói với các môn đệ Người rằng:  “Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như vậy?”

Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo rằng:  “Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu!  Các ông hãy đi và học xem lời này có ý nghĩa gì:  Ta muốn lòng nhân từ, chớ không phải hy lễ.  Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi.”

3.  Suy Niệm

  Bài Giảng Trên Núi được viết trong các chương 5, 6, và 7 của sách Tin Mừng Mátthêu.  Mục đích phần tường thuật của các chương 8 và 9 là để cho thấy cách Chúa Giêsu đem vào thực hành những gì Người đã giảng dạy.  Trong Bài Giảng Trên Núi, Người dạy về lòng chấp nhận (Mt 5:23-25, 38-42, 43).  Bây giờ, Chúa đưa nó vào thực dụng là chấp nhận những người bị phong cùi (Mt 8:1-4), những khách ngoại kiều (Mt 8:5-13), các phụ nữ (Mt 8:14-15), người ốm đau (Mt 8:16-17), kẻ bị quỷ ám (Mt 8:28-34), kẻ bị bại liệt (Mt 9:1-8), người thu thuế (Mt 9:9-13), kẻ ô uế (Mt 9:20-22), v.v… Chúa Giêsu phá vỡ các quy tắc và phong tục đã chia rẽ và hắt hủi người ta, đó là vì sợ hãi và thiếu lòng tin (Mt 8:23-27) vì lề luật thanh sạch (Mt 9:14-17), và Người nói rõ ràng đó là những điều kiện cho những ai muốn đi theo Người.  Họ cần phải có can đảm để từ bỏ nhiều thứ (Mt 8:18-22).  Trong thái độ và cũng như trong cách thực hành của Chúa Giêsu, chúng ta nhìn thấy được những gì trong Vương Quốc Nước Trời và việc tuân giữ hoàn hảo Lề Luật Thiên Chúa gồm có những điều gì.

–  Mt 9:9:  Lời mời gọi đi theo Chúa Giêsu.  Những người đầu tiên được gọi đi theo Chúa Giêsu là bốn ngư dân, tất cả đều là người Do Thái (Mt 4:18-22).  Bây giờ, Đức Giêsu gọi một người thu thuế, kẻ bị coi như là tội lỗi và bị những người tuân giữ lề luật triệt để của nhóm Biệt Phái đối xử như kẻ ô uế.  Trong các sách Tin Mừng khác, người thu thuế này tên là Lêvi.  Ở đây, tên ông ấy là Mátthêu, có nghĩa là Ân Sủng của Thiên Chúa hay do Thiên Chúa ban cho.  Các cộng đoàn, thay vì hắt hủi kẻ thu thuế và xem ông ta là kẻ nhơ bẩn, mà phải nên xem người ấy như là một Ân Sủng của Thiên Chúa ban cho cộng đoàn, bởi vì sự hiện diện của ông làm cho cộng đoàn trở thành một dấu chỉ của ơn cứu rỗi cho tất cả mọi người!  Giống như bốn người đầu tiên được gọi, ông Mátthêu, kẻ thu thuế, cũng được gọi theo cùng một cách, bỏ lại tất cả mọi thứ ông sở hữu và đi theo Chúa Giêsu.  Việc đi theo Chúa Giêsu đòi hỏi phải lìa bỏ nhiều thứ.  Mátthêu rời khỏi phòng thu thuế, nguồn lợi tức của mình và đi theo Chúa Giêsu!

–  Mt 9:10:  Chúa Giêsu ngồi cùng bàn với người tội lỗi và kẻ thu thuế.  Vào thời ấy, người Do Thái sống tách biệt khỏi phường thu thuế và kẻ tội lỗi, và họ không ngồi ăn cùng bàn với những người ấy.  Người Kitô hữu Do Thái phải nên thoát khỏi lối sống cô lập này và ngồi chung bàn với những người thu thuế và tội lỗi, theo như giáo huấn của Chúa Giêsu trong Bài Giảng Trên Núi, diễn đạt tình yêu phổ quát của Chúa Cha (Mt 5:44-48).  Nhiệm vụ của cộng đoàn là cống hiến một nơi chốn cho những ai không có nó.  Thế nhưng lề luật mới này đã không được tất cả mọi người chấp nhận.  Trong một số cộng đoàn, người ta đến từ việc sùng bái các ngẫu tượng, ngay cả khi họ đã là Kitô hữu, đã không được chấp nhận cho ngồi cùng bàn (xem Cv 10:28; 11:3; Ga 2:12). Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã ngồi với người thu thuế và kẻ tội lỗi trong cùng một căn nhà, cùng một bàn ăn.

–  Mt 9:11:  Thắc mắc của người Biệt Phái.  Người Do Thái bị cấm ngồi chung bàn với những kẻ thu thuế và tội lỗi, nhưng Chúa Giêsu đã không tuân theo điều cấm kỵ này.  Thay vào đó Người còn trở nên bạn hữu của họ nữa.  Người Biệt Phái trông thấy thái độ của Chúa như thế, liền chất vấn các môn đệ của Người:  “Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như vậy?”  Câu hỏi này có thể được hiểu như là một biểu hiện lòng ước ao của họ để biết lý do tại sao Chúa Giêsu lại hành động theo cách ấy.  Những người khác giải thích câu hỏi ấy như lời chỉ trích về hành vi của Chúa Giêsu, bởi vì qua hơn năm trăm năm, từ thời gian lưu đày ở Babylon cho đến thời Chúa Giêsu, người Do Thái đã tuân giữ luật thanh sạch.  Giới răn thế tục này đã trở thành một dấu chỉ mạnh mẽ về bản sắc.  Đồng thời, đó là yếu tố phân cách họ giữa các dân tộc khác.  Như thế, bởi vì lề luật thanh sạch, họ đã không thể cũng như không được phép ngồi chung bàn để cùng ăn uống với những người thu thuế.  Ăn uống với những người thu thuế có nghĩa là sẽ bị nhiễm ô uế, trở nên không thanh sạch.  Các giới răn về luật thanh khiết đã được tuân giữ một cách triệt để, tại vùng Paléstine cũng như các cộng đồng Do Thái sống ngoài đất Israel.  Vào thời Chúa Giêsu, có hơn năm trăm giới luật về sự thanh sạch.  Vào những năm của thập niên 70, khi mà thánh Mátthêu đang viết sách Tin Mừng, cuộc xung đột này rất có thật.

–  Mt 9:12-13:  “Ta muốn lòng nhân từ, chớ không phải hy lễ.”  Chúa Giêsu nghe thấy câu hỏi của những người Biệt Phái nói với các môn đệ và Người trả lời với hai lời minh xác:  lời thứ nhất được chọn lọc từ ý thức thông thường:  “Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu!”  Lời minh xác thứ hai được trích từ Kinh Thánh:  “Các ông hãy đi và học xem lời này có ý nghĩa gì:  Ta muốn lòng nhân từ, chớ không phải hy lễ.”  Qua những lời minh xác này, Chúa Giêsu làm cho rõ ràng và minh định sứ vụ của Người ở giữa chư dân:  “Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi.”   Chúa Giêsu phủ nhận lời chỉ trích của người Biệt Phái; Người không chấp nhận lập luận của họ, bởi vì chúng xuất phát từ ý tưởng sai lầm về Lề Luật Thiên Chúa.  Chúa đã trích lời Kinh Thánh:  “Ta muốn lòng nhân từ, chớ không phải hy lễ.”  Đối với Chúa Giêsu, lòng nhân từ thì quan trọng hơn là sự thanh sạch theo đúng luật.  Chúa nhắc đến truyền thống tiên tri để nói rằng đối với Thiên Chúa lòng thương xót có giá trị hơn tất cả mọi hy lễ (Hs 6:6; Is 1:10-17).  Thiên Chúa có lòng thương xót thăm thẳm, và đã thổn thức bồi hồi trước những bội bạc của dân Người (Hs 11:8-9).

4.  Một vài câu hỏi gợi ý cho việc suy gẫm cá nhân

  Ngày nay, trong xã hội chúng ta, kẻ đang chịu thiệt thòi và bị khinh miệt là những ai?  Tại sao?  Trong cộng đoàn chúng ta, chúng ta có các định kiến hay thiên kiến không?  Các định kiến hay thiên kiến đó là gì?  Những thách đố mà Lời Chúa Giêsu trao cho cộng đoàn chúng ta là gì?

–  Chúa Giêsu đòi hỏi người ta đọc và hiểu lời Cựu Ước đã viết:  “Ta muốn lòng nhân từ, chớ không phải hy lễ.”  Qua điều này, Chúa Giêsu muốn nói gì với chúng ta ngày nay?

5.  Lời nguyện kết

Hạnh phúc thay kẻ tuân hành ý Chúa,

Hết lòng hết dạ kiếm tìm Người.

Họ không làm điều ác,

Nhưng cứ đường lối Chúa mà đi.

(Tv 119:2-3) 

https://dongcatminh.org/event/lectio-divina-thanh-mattheu-tong-do-phuc-am-thanh-su-mt-99-13/

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

SEPTEMBER 20, 2020 : TWENTY-FIFTH SUNDAY IN ORDINARY TIME

 

Twenty-fifth Sunday in Ordinary Time

Lectionary: 133



Reading 1

IS 55:6-9

Seek the LORD while he may be found,
call him while he is near.
Let the scoundrel forsake his way,
and the wicked his thoughts;
let him turn to the LORD for mercy;
to our God, who is generous in forgiving.
For my thoughts are not your thoughts,
nor are your ways my ways, says the LORD.
As high as the heavens are above the earth,
so high are my ways above your ways
and my thoughts above your thoughts.

Responsorial Psalm

PS 145:2-3, 8-9, 17-18

R. (18a) The Lord is near to all who call upon him.
Every day will I bless you,
and I will praise your name forever and ever.
Great is the LORD and highly to be praised;
his greatness is unsearchable.
R. The Lord is near to all who call upon him.
The LORD is gracious and merciful,
slow to anger and of great kindness.
The LORD is good to all
and compassionate toward all his works.
R. The Lord is near to all who call upon him.
The LORD is just in all his ways
and holy in all his works.
The LORD is near to all who call upon him,
to all who call upon him in truth.
R. The Lord is near to all who call upon him.

Reading 2

PHIL1:20C-24, 27A

Brothers and sisters:
Christ will be magnified in my body, whether by life or by death. 
For to me life is Christ, and death is gain. 
If I go on living in the flesh,
that means fruitful labor for me. 
And I do not know which I shall choose. 
I am caught between the two. 
I long to depart this life and be with Christ,
for that is far better. 
Yet that I remain in the flesh
is more necessary for your benefit.

Only, conduct yourselves in a way worthy of the gospel of Christ.

Alleluia

ACTS 16:14B

R. Alleluia, alleluia.
Open our hearts, O Lord,
to listen to the words of your Son.
R. Alleluia, alleluia.

Gospel

MT 20:1-16A

Jesus told his disciples this parable:
“The kingdom of heaven is like a landowner
who went out at dawn to hire laborers for his vineyard. 
After agreeing with them for the usual daily wage,
he sent them into his vineyard. 
Going out about nine o’clock,
the landowner saw others standing idle in the marketplace,
and he said to them, ‘You too go into my vineyard,
and I will give you what is just.’
So they went off. 
And he went out again around noon,
and around three o’clock, and did likewise. 
Going out about five o’clock,
the landowner found others standing around, and said to them,
‘Why do you stand here idle all day?’
They answered, ‘Because no one has hired us.’
He said to them, ‘You too go into my vineyard.’
When it was evening the owner of the vineyard said to his foreman,
‘Summon the laborers and give them their pay,
beginning with the last and ending with the first.’
When those who had started about five o’clock came,
each received the usual daily wage. 
So when the first came, they thought that they would receive more,
but each of them also got the usual wage. 
And on receiving it they grumbled against the landowner, saying,
‘These last ones worked only one hour,
and you have made them equal to us,
who bore the day’s burden and the heat.’
He said to one of them in reply,
‘My friend, I am not cheating you. 
Did you not agree with me for the usual daily wage? 
Take what is yours and go. 
What if I wish to give this last one the same as you? 
Or am I not free to do as I wish with my own money? 
Are you envious because I am generous?’
Thus, the last will be first, and the first will be last.”

https://bible.usccb.org/bible/readings/092020.cfm

 


 

Meditation: Do You Begrudge My Generosity?

What can work and wages, welfare and the unemployed tell us about the kingdom of God? In the parable of the laborers in the vineyard we see the extraordinary generosity and compassion of God (Matthew 20:1-16). There is great tragedy in unemployment, the loss of work, and the inability to earn enough to live and support oneself or one's family. In Jesus' times laborers had to wait each day in the marketplace until someone hired them for a day's job. No work that day usually meant no food on the family table. The laborers who worked all day and received their payment complain that the master pays the late afternoon laborers the same wage. The master, undoubtedly, hired them in the late afternoon so they wouldn't go home payless and hungry.

God is generous and gives us work for his kingdom
God is generous in opening the doors of his kingdom to all who will enter, both those who have labored a life-time for him and those who come at the last hour. While the reward is the same, the motive for one's labor can make all the difference. Some work only for reward. They will only put in as much effort as they think they will get back. Others labor out of love and joy for the opportunity to work and to serve others. The Lord Jesus calls each one of us to serve God and his kingdom with joy and zeal and to serve our neighbor with a generous spirit as well.

Empowered to serve with a joyful and generous spirit
The Lord Jesus wants to fill each one of us with the power and strength of the Holy Spirit so we can bear great fruit for God's kingdom (the fruit of peace, joy, righteousness, and love) and also bring the fruit of his kingdom to our neighbor as well. We labor for the Lord to bring him praise, honor, and glory. And we labor for our neighbor for their welfare with the same spirit of loving-kindness and compassion which the Lord has shown to us.

Paul the Apostle reminds us, "Whatever your task, work heartily, as serving the Lord and not others, knowing that from the Lord you will receive the inheritance as your reward - you are serving the Lord Christ" (Colossians 3:23-24). Do you perform your daily tasks and responsibilities with cheerfulness and diligence for the Lord's sake? And do you give generously to others, especially to those in need of your care and support?

Lord Jesus,fill me with your Holy Spirit that I may serve you joyfully and serve my neighbor willingly with a generous heart, not looking for how much I can get, but rather looking for how much I can give.

 

Daily Quote from the Early Church Fathers: Christ our householder, author unknown, from the 5th century A.D.

"The householder [in Matthew's parable - chapter 20] is Christ, to whom the heavens and the earth are like a single house; the family is as it were the multitude of creatures both angelic and earthly. It is as if he built a three-storied house: hell, heaven and earth, so that those struggling may live upon the earth, those conquered below the earth, those conquering in heaven. We too, set in the middle, should strive not to descend to those who are in hell but ascend to those who are in heaven. And in case perhaps you do not know which one you ought to shun or which one you ought to aspire to, he has given you as it were a little taste of both while you live between light and darkness: night as a taste of hell, daylight as a taste of heaven." (excerpt from an incomplete Commentary on the Gospel of Matthew, HOMILY 34)

https://www.dailyscripture.net/daily-meditation/?ds_year=2020&date=sep20

 

 

TWENTY-FIFTH DAY IN ORDINARY TIME
SUNDAY, SEPTEMBER 20, MATTHEW 20:1-16a

(Isaiah 55:6-9; Psalm 145; Philippians 1:20c-24, 27a)



KEY VERSE: "Thus, the last will be first, and the first will be last" (v. 16).
TO KNOW: The grape harvest in Israel ripened toward the end of September, and was soon followed by the rains. If the harvest was not gathered before the rain came, it was ruined. Any worker was welcome, even if he could give only an hour. The men who stood in the market-place were waiting for work. These men were hired laborers and were at the mercy of chance employment. The pay was a denarius or a drachma, the normal day's wage for a working man. Jesus told his disciples a parable about divine justice in which God was compared to a landowner who called forth workers for his vineyard. The first to respond were promised the expected day's wages. Those who came later were promised "what is just" (v. 4). When it was time to pay the workers, the owner began with the last and paid them a full day's wages. When those who worked all day were paid the same amount, they complained that they had been treated unfairly. The vineyard owner told them that he had done them no injustice. Jesus' parable put forth two great truths. First, the right of every person to work and to earn a living wage. And second, what God gives is not pay, but a gift; it is not a reward, but grace offered from the goodness of God's heart.
TO LOVE: In what ways do I work for justice in the marketplace?
TO SERVE: Lord Jesus, thank you for your generosity to all your children.

http://www.togetherwithgodsword.com/commentaries-on-the-daily-gospel-of-the-mass.html

 

 

Sunday 20 September 2020



25th Sunday in Ordinary Time

Isaiah 55:6-9. The Lord is near to all who call him – Psalm 144(145):2-3, 8-9, 17-18. Philippians 1:20-24, 27. Matthew 20:1-16.

Why be envious because I am generous?

Many may find the parable of the vineyard disconcerting. It describes a joyless world of work, where people are hired for the whole day as well as only one hour and paid equally. There is not much joy in their work, which in turn causes anger and tension.

Why did Jesus tell this story? What point was he trying to make? This parable bears a striking similarity to the parable of the Prodigal Son. They both tell of the unexpected generosity of the father to his wayward son, and the equal generosity of the landowner to those who worked only one hour. For us to be called to work in the Father’s Vineyard is a privilege.

Jesus reassures us that no matter how ‘late’ we arrive, there is work for us all to do and, in turn, be justly rewarded.

http://www.pray.com.au/gospel_reflection/sunday-20-september-2020/

 

 

Saints Andrew Kim Taegon, Paul Chong Hasang, and Companions

Saint of the Day for September 20

(August 21, 1821 – September 16, 1846; Companions d. between 1839 – 1867)

 

Saint Andrew Kim Taegon and Companions | CNS Photo

 

Saints Andrew Kim Taegon, Paul Chong Hasang, and Companions’ Story

The first native Korean priest, Andrew Kim Taegon was the son of Christian converts. Following his baptism at the age of 15, Andrew traveled 1,300 miles to the seminary in Macao, China. After six years, he managed to return to his country through Manchuria. That same year he crossed the Yellow Sea to Shanghai and was ordained a priest. Back home again, he was assigned to arrange for more missionaries to enter by a water route that would elude the border patrol. He was arrested, tortured, and finally beheaded at the Han River near Seoul, the capital.

Andrew’s father Ignatius Kim, was martyred during the persecution of 1839, and was beatified in 1925. Paul Chong Hasang, a lay apostle and married man, also died in 1839 at age 45.

Among the other martyrs in 1839 was Columba Kim, an unmarried woman of 26. She was put in prison, pierced with hot tools and seared with burning coals. She and her sister Agnes were disrobed and kept for two days in a cell with condemned criminals, but were not molested. After Columba complained about the indignity, no more women were subjected to it. The two were beheaded. Peter Ryou, a boy of 13, had his flesh so badly torn that he could pull off pieces and throw them at the judges. He was killed by strangulation. Protase Chong, a 41-year-old nobleman, apostatized under torture and was freed. Later he came back, confessed his faith and was tortured to death.

Christianity came to Korea during the Japanese invasion in 1592 when some Koreans were baptized, probably by Christian Japanese soldiers. Evangelization was difficult because Korea refused all contact with the outside world except for taking taxes to Beijing annually. On one of these occasions, around 1777, Christian literature obtained from Jesuits in China led educated Korean Christians to study. A home Church began. When a Chinese priest managed to enter secretly a dozen years later, he found 4,000 Catholics, none of whom had ever seen a priest. Seven years later there were 10,000 Catholics. Religious freedom came to Korea in 1883.

Besides Andrew and Paul, Pope John Paul II canonized 98 Koreans and three French missionaries who had been martyred between 1839 and 1867, when he visited Korea in 1984. Among them were bishops and priests, but for the most part they were lay persons: 47 women and 45 men.


Reflection

We marvel at the fact that the Korean Church was strictly a lay Church for a dozen years after its birth. How did the people survive without the Eucharist? It is no belittling of this and other sacraments to realize that there must be a living faith before there can be a truly beneficial celebration of the Eucharist. The sacraments are signs of God’s initiative and response to faith already present. The sacraments increase grace and faith, but only if there is something ready to be increased.

https://www.franciscanmedia.org/saints-andrew-kim-taegon-paul-chong-hasang-and-companions/

 

 

Lectio Divina: 25th Sunday in Ordinary Time (A)

Lectio Divina

Sunday, September 20, 2020



Parable of the laborers sent to the vineyard
The absolute gratuitousness of the love of God
Matthew 20: 1-16

1. Opening prayer

Oh Father, Your Son Jesus, whom You have given to us, is our kingdom, our richness, our Heaven; He is the Master of the house and of the earth in which we live and He goes out continuously to search for us, because He desires to call us, to pronounce our name, to offer us His infinite love. We will never be able to pay Him back, never repay the superabundance of His compassion and mercy for us; we can only tell Him our Yes, ours: “Here I am, I come”, or repeat with Isaiah: “Here I am Lord, send me!”. Lord, allow this word to enter into my heart, in my eyes, into my ears and that it changes me, transforms me, according to this surprising incomprehensible love that Jesus is offering me today also, even at this moment. Lead me to the last place, to mine, that which He has prepared for me, there where I can truly and fully be myself. Amen.

2. Reading

a) To insert the passage in its context:

This passage places us within the section of the Gospel of Matthew, which directly precedes the account of the Passion, death and Resurrection of Jesus. This section begins in 19:1, where it is said that Jesus definitively leaves the territory of Galilee to go to Judea, beginning in this way the path to get close to Jerusalem and this is concluded in 25:46, with the account on the coming and the judgment of the Son of God. In particular, chapter 20 places us also along the road of Jesus towards the holy city and its temple, in a context of teaching and of polemics with the wise and the powerful of the time, which He carries out through parables and encounters. 

b) To help in the reading of the passage:

20, 1a: with the first words of the parable, which are a formula of introduction, Jesus wants to accompany us into the most profound theme about which He intends to speak.  He wants to open before us the doors of the kingdom, which is He himself, and He presents Himself as the Master of the vineyard, which needs to be cultivated.
20: 1b-7: These verses constitute the first part of the parable; in it Jesus tells about the initiative of the Master of the vineyard to employ the laborers, describing the four times he went out to look for laborers, in which he establishes a contract and the last time he goes out is at the end of the day.
29, 8-15: This second part includes, instead, the description of the payment to the workers, with the protest of the first one and the Master’s answer.
20, 16: At the end is given the conclusive sentence, which is included with 19: 30 and which reveals the key of the passage and the its application: those who in the community are considered the last ones, in the perspective of the Kingdom and of God’s judgment, will be the first ones.

c) Text:

20, 1°: 1 'Now the kingdom of Heaven is like a landowner …..
20, 1b-7: .... going out at daybreak to hire workers for his vineyard. 2 He made an agreement with the workers for one denarius a day and sent them to his vineyard. 3 Going out at about the third hour he saw others standing idle in the market place 4 and said to them, "You go to my vineyard too and I will give you a fair wage." 5 So they went. At about the sixth hour and again at about the ninth hour, he went out and did the same. 6 Then at about the eleventh hour he went out and found more men standing around, and he said to them, "Why have you been standing here idle all day?" 7 "Because no one has hired us," they answered. He said to them, "You go into my vineyard too."
20, 8-15: 8 In the evening, the owner of the vineyard said to his bailiff, "Call the workers and pay them their wages, starting with the last arrivals and ending with the first." 9 So those who were hired at about the eleventh hour came forward and received one denarius each. 10 When the first came, they expected to get more, but they too received one denarius each. 11 They took it, but grumbled at the landowner saying, 12 "The men who came last have done only one hour, and you have treated them the same as us, though we have done a heavy day's work in all the heat." 13 He answered one of them and said, "My friend, I am not being unjust to you; did we not agree on one denarius? 14 Take your earnings and go. I choose to pay the latecomer as much as I pay you. 15 Have I no right to do what I like with my own? Why should you be envious because I am generous?"
20: 16: 16 Thus the last will be first, and the first, last.'

3. A moment of prayerful silence

so that the Word of God may penetrate and enlighten our life.

4. Some questions

to help us in our personal reflection

a) The passage opens with a connecting particle, “in fact”, which is very important, because it sends us to the preceding verse (Mt 19:30), where Jesus affirms that “the first will be the last and the last the first”, with the same words that He will repeat at the end of this parable. Therefore, these are words of utmost importance, fundamental, which indicate to me the direction which I should take. Jesus is the Kingdom of God, the Kingdom of Heaven; He is the new world, into which I am invited to enter. But His is an overturned world, where our logic of power, gain, reward, ability, effort, is defeated and replaced by another logic, that of absolute gratuitousness, of merciful and superabundant love. If I think that I am first, that I am strong and capable; if I have already placed myself in the first place at the table of the Lord, it is better that now I rise and go and take the last place. There the Lord will come to look for me and, calling me, He will raise me and take me towards Him.

b). Here, Jesus compares Himself to a landowner, the Master of the house, using a particular figure, which He repeats several times in the Gospel. I try to follow it, being attentive to the characteristics which it presents and trying to verify which is my relationship with Him. The Master of the house is the owner of the vineyard, who takes care of it, surrounding it by a wall, digging a press there, cultivating it with love and labor (Mt 21: 33 ff.), so that it can bear a better fruit. It is the Master of the house who offers a great supper, and invites many, calling to his table the most forlorn or forsaken, the cripple and the lame, the blind (Lk 14: 21ff). And the one who returns from the wedding and for whom we have to wait keeping watch, because we do not know the hour (Lk 12:36); is the Master of the house who left on a trip, who has ordered us to keep watch, so as to be ready to open the door for him, as soon as he returns and knocks, in the evening, or at midnight, or at the rooster’s crow, or in the morning (Mk 13:35). I understand then, that the Lord expects the good fruit from me; that He has chosen me as a guest to His table; that He will return and look for me and will knock at my door... Am I ready to respond to Him, to open the door for Him? To offer to Him the fruit of the love which He expects from me? Or rather, am I sleeping, weighed down by a thousand other interests, enslaved by other masters of the house, diverse and far away from Him?

c) The Lord Jesus, the Master of the house and of the vineyard, repeatedly goes out to call and to send; at dawn, at nine o’clock, at noon, at three o’clock in the afternoon, at five, when the day is almost ended. He does not get tired.  He comes to look for me, to offer me His love, His presence, to seal a pact with me. He desires to offer me His vineyard, its beauty. When we do meet, when He, looking at me fixedly, will love me (Mk 10:21), What will I answer? Will I be sad because I have many other goods belonging to me (Lk 18:23)? Will I ask Him to consider me justified, because I have already taken on other commitments? (Lk 14:18?). Will I flee, naked, losing also that small cloth of happiness that has remained in order to cover myself (Mk 14:52)? Or, rather, will I say, “Yes, yes”, and then I will not go (Mt 21: 29)? I feel that this word causes me to be in crisis, it peers into the depth of myself, it reveals to me who I am ... I remain dismayed, fearful for my freedom, but I decide, before the Lord who is speaking to me, to do as Mary did and also say, “Lord, may it be done to me according to Your word”, with humble availability and abandonment.

d) Now the Gospel places me before my relationship with others, the brothers and sisters who share with me the journey of following Jesus. We are all convoked to Him, in the evening, after the work of the day: He opens His treasure of love and begins to distribute it, to give grace, mercy, compassion, friendship, himself totally. He does not stop. The Lord continues only to overflow, to pour out, to give Himself to us, to each one. Matthew points out, at this point, that someone murmurs against the Master of the vineyard, against the Lord. Indignation springs up because He treats everyone equally, with the same intensity of love, with the same superabundance. Perhaps what is written in these lines also applies to me: the Gospel knows how to bring out and make evident my heart as it is, the most hidden part of myself. Perhaps the Lord is, precisely, addressing these words filled with sadness: “Perhaps you are jealous?” I should allow myself to be questioned. I have to allow Him to enter within me and to look at me with His penetrating eyes, because only if He looks at me, I will be able to be healed. Now I pray as follows: “Lord, I ask You, come to me, put Your word in my heart and let new life germinate, let love germinate”. 

5. A key for the reading

The Vineyard

In the image of the vineyard, apparently very simple and ordinary, Scripture condenses a very rich and profound reality, always more dense in significance, gradually as the texts get closer to the full revelation of Jesus. In the first book of Kings, chapter 21, we read of the violent attack against Naboth, a simple subject of the corrupt King Ahab, who possessed a vineyard, planted, unfortunately, precisely next the to palace of the King. This account makes us understand how important the vineyard was, an inviolable property: Naboth would not have given it up for anything in the world, as he says, “Yahweh forbid that I should give you my ancestral heritage!” (I Kings 21:3). Out of love for it, he lost his life. Therefore, the vineyard represents the most precious good, the family heritage, in a certain part, the identity itself of the person; he cannot sell it, cede it to others, barter or trade it for other goods, which would never equal it. It hides a vital, spiritual force.

Isaiah 5 tells us clearly that the vineyard  signifies the people of Israel, as it is written: “Now, the vineyard of Yahweh Sabaoth is the House of Israel; and the people of Judah the plant He cherished” (Isa 5: 7). The Lord has loved these people with an infinite and eternal love, sealed by an inviolable covenant; He takes care of it, just as a vine-dresser would do with his vineyard, doing everything possible so that it can bear more beautiful fruit. Each one of us is Israel, the whole Church: the Father has found us as dry, arid land, devastated, filled with rocks, and He has cultivated it, He has dug around it, fertilized it, watered it always; He has planted us as a chosen vineyard, all with genuine vines (Jer 2:21). What more could He have done for us, which He has not done? (Isa 5:4). In His infinite lowering, the Lord has become vineyard Himself; He has become the true Vine (Jn 15:1ff), of which we are the branches; He united Himself to us, just as the vine is united to its branches. The Father, who is the vine-dresser, continues His work of love in us, so that we may bear fruit and He waits patiently. He prunes, He cultivates, but then He sends us to work, to collect the fruits to offer to Him. We are sent to His people, to His sons, as sons that we are ourselves, as His disciples; we cannot draw back, refuse, because we have been created for this: that we may go and bear fruit and that our fruit may remain (Jn 15:16). Lord, turn to us; look down from Heaven and visit Your vineyard (Psalm 79:15).

The promise: one denarius

The Master of the vineyard establishes as the payment for the work of the day a denarius; a good sum, which allowed one to live with dignity. More or less it corresponds to the drachma agreed upon by the old Tobit with the one who accompanied his son Tobias towards the Media (Tob 5:15).

But in the evangelical account this denarius is immediately called by another name. The Master, in fact, says, “that which is just I will give you” (v4). Our inheritance, our salary is what is just, what is good: the Lord Jesus. He, in fact, does not give, does not promise other than Himself. Our reward is in Heaven (Mt 5:12), with our Father (Mt 6:1). It is not the money, the denarius which was used to pay the tax per-capita to the Romans, on which was the image and the inscription of King Tiberius Caesar (Mt 22: 20), but which is the face of Jesus, His name, His presence. He tells us, “I am with you not only today, but all days, until the end of the world. I myself will be your reward”.

The sending out

The text offers to our life a very strong energy, which springs from the verbs “to send, to order” to go”, repeated twice. Both concern us; they touch us deeply; they call us and put us in movement. It is the Lord Jesus who sends us, making of us His disciples: “Behold, I send you” (Mt 10:16). He calls us every day for his mission and repeats to us, “Go!” and our happiness is hidden precisely here, in the realization of this Word of His. Also where He sends us, in the way in which He indicates it, towards the reality and the persons whom He places before us.

The murmuring, the grumbling

These are words of utmost importance, true and very much present in our experience of daily life. We cannot deny this: they dwell in our heart, in our thoughts, sometimes they torment us, disfigure us, get us terribly tired, drive us away from ourselves, from others, from the Lord. Yes, we are also among those workers who complain and grumble, murmuring against the Master. The rumor of the murmuring comes from very far away, but it joins us and enters our heart. Israel in the desert murmured heavily against its Lord and we have received as inheritance those thoughts, those words: “The Lord hates us, that is why he brought us out of the land of Egypt to hand us over to the Amorites and to destroy us” (Deut 1:27) and we doubt His capacity to nourish us, to lead us ahead, to protect us: “Can God make a banquet in the desert?” (Ps 78:19). To murmur means not to listen to the voice of the Lord, not to believe anymore in His love for us: Therefore, we become scandalized, upset, strongly against the merciful Lord and we get angry against His way of acting and we wish to change it, to make it smaller according to our own schema: He went to the house of a sinner! He eats and drinks with tax collectors, with sinners!” (Lk 5:30; 15:2; 19:7). If we listen well this is the secret murmuring of our heart. How to heal it? Saint Peter suggests this way: “Practice hospitality with one another, without murmuring” (I Pet 4: 9); only hospitality, that is, acceptance can, little by little, change our heart and open it to be receptive, capable of bearing within it persons, situations, the reality which we find in life. “Accept one another” says Scripture. And it is precisely like that: we have to learn to accept, above all, the Lord Jesus, as He is, with His way of loving and of remaining, of speaking with us and of changing us, of waiting for us and of attracting us. To accept Him is to accept the one who is at our side, who comes to meet us; it is only this movement which can overcome the harshness of murmuring.

Murmuring is born from jealousy, from envy, from our evil eye, as the Master of the vineyard says, Jesus Himself. He knows how to keep us inside. He knows how to penetrate our look and reach our heart, in the spirit. He knows how we are, He knows us, loves us; And it is out of love that He brings out of us the evil within, takes off the veil from our evil eye. He helps us to become aware or conscious of how we are, of what is within us. At the moment when He says, “Perhaps your eye is evil?” as He is doing today in this Gospel, He heals us, He takes the balm and spreads it, takes the clay made with his saliva and puts it on our eyes, to the very depth. 

6. A moment of prayer: Psalm 135

Refrain: Your love for us is infinite!

Alleluia! Give thanks to Yahweh for He is good,
for His faithful love endures for ever.
Give thanks to the God of gods,
for His faithful love endures for ever.
Give thanks to the Lord of lords,
for His faithful love endures for ever.
He alone works wonders,
for His faithful love endures for ever.

He struck down the first-born of Egypt,
for His faithful love endures for ever.
He brought Israel out from among them,
for His faithful love endures for ever.
With mighty hand and outstretched arm,
for His faithful love endures for ever.
He split the Sea of Reeds in two,
for His faithful love endures for ever.
Let Israel pass through the middle,
for His faithful love endures for ever.
And drowned Pharaoh and all his army,
for His faithful love endures for ever.
He led His people through the desert,
for His faithful love endures for ever.

He kept us in mind when we were humbled,
for His faithful love endures for ever.
And rescued us from our enemies,
for His faithful love endures for ever.
He provides food for all living creatures,
for His faithful love endures for ever.
Give thanks to the God of heaven,
for His faithful love endures for ever.

7. Final Prayer

Thank you, O Father, for having revealed Your Son to me and for having made me enter into His inheritance, in His vineyard. You have rendered me a branch, have rendered me a grape: now I only need to remain in Him, in You and allow myself to be taken as good fruit, ripe, to be placed in the press. Yes, Lord, I know it: this is the way, I am not afraid, because You are with me. I know that the only way to happiness is the gift of self to You, the gift to the brothers. That I may be a branch, that I may be good grapes, to be squeezed, as You wish! Amen.

https://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-25th-sunday-ordinary-time-0