Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

18-12-2016 : (phần II) CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG năm A

18/12/2016
Chúa Nhật tuần 4 mùa vọng năm A.
(phần II)


Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật 4 Mùa Vọng, năm A
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG A
(Is 7,10-14; Rm 1,1-7; Mt 1,18-24)
Chủ đề:
EMMANUEL, THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA
“Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20)
I. CÁC BÀI ĐỌC
Thiên Chúa hứa đến và ở với con người hầu kế hoạch yêu thương của Ngài được thực hiện. Lời hứa ấy đã được thực hiện từ xa xưa, nay ứng nghiệm qua Đức Giêsu Kitô, Đấng Emmanuel. Chúng ta được mời gọi đón nhận Đức Giêsu vào trong cuộc đời của mình để chúng ta được tham dự vào mầu nhiệm tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa.
1. Bài đọc I (Is 7,10-14)
Vương quốc Giuđa đang ở trong tình thế khó khăn trước sự đe dọa xâm chiếm của liên minh hai nước Aram và Israel. Acaz, vua Giuđa, muốn chạy sang cầu cứu với Assur. Ngôn sứ Isaia yêu cầu vua xin một dấu chỉ từ Thiên Chúa: “Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh”. Nhưng Acaz đã từ chối lời đề nghị của Thiên Chúa, bởi vì, Acaz đã tin tưởng vào Assur. Acaz đã dối lòng khi thưa với ngôn sứ: “Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa”. Quả thực, Acaz đã chạy theo Assur để tìm kiếm sự ổn định chính trị. Đứng trước sự chối từ của Acaz, Thiên Chúa vẫn không từ bỏ kế hoạch của Ngài. Ngài vẫn yêu thương dân mình và ban một dấu chỉ để minh chứng Ngài ở với họ: “Chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuel”. Thiên Chúa vẫn luôn can thiệp vào trong lịch sử vì phần rỗi con người. Ngài đi bước trước dù con người có chối từ kế hoạch của Ngài.
2. Bài đọc II (Rm 1,1-7)
Phaolô khẳng định với các tín hữu Rôma rằng ngài được Thiên Chúa kêu gọi để trở nên Tông Đồ rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa: “Tôi, Phaolô, tôi tớ của Đức Giêsu Kitô; tôi được gọi là Tông Đồ và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa”. Tin Mừng mà Phaolô loan báo chính là Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Người là Đấng mà Thiên Chúa đã hứa ban qua miệng các ngôn sứ. Người mang lấy và chia sẻ thân phận con người. Người là sự hiện hữu cụ thể của Thiên Chúa giữa con người; Người quả thật là “Emmanuel”. Người yêu thương con người cho đến cùng, bằng chính cái chết và phục sinh hầu đem ơn cứu độ cho nhân loại. Phaolô cảm nghiệm điều này và mời gọi các tín hữu hãy sống kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu Kitô, vì trong Người chúng ta tìm được nguồn bình an và hiệp nhất với Thiên Chúa.
3. Tin Mừng (Mt 1,18-24)
Tin Mừng Matthêu tường thuật cho chúng ta việc truyền tin cho thánh Giuse và qua đó tác giả Matthêu cho thấy lời hứa của Thiên Chúa nay được hiện thực hóa. Giuse đã thành hôn với Maria. Tuy nhiên, trước khi hai người về chung sống với nhau, Maria thụ thai bởi quyền năng của Thiên Chúa. Giuse là một người công chính. Ông không muốn hạ nhục Maria cách công khai, nên đã tìm cách lìa bỏ Maria. Có lẽ Giuse đã phải đau khổ, chiến đấu với những nỗi day dứt nội tâm trước sự việc của Maria. Cả Giuse và Maria đều có kế hoạch riêng cho mình, họ muốn xây dựng một tổ ấm gia đình như bao bạn trẻ cùng trang lứa. Thế nhưng, Thiên Chúa muốn họ cộng tác vào kế hoạch lớn lao của Ngài. Thiên Chúa đã mặc khải kế hoạch này qua giấc mộng cho Giuse: “Này Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. Những điều này là lời ứng nghiệm lời hứa của Thiên Chúa qua miệng ngôn sứ Isaia rằng Thiên Chúa yêu thương con người và muốn ở với họ. Giuse đón nhận kế hoạch của Thiên Chúa và mau mắn cộng tác: “Khi tỉnh giấc, Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”.
II. GỢI Ý MỤC VỤ
1. “Chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuel”. Thiên Chúa luôn luôn yêu thương con người và đi bước trước để thực thi kế hoạch cứu độ, dù con người có khước từ. Tôi có nhận ra tình yêu thương của Thiên Chúa, cách riêng qua đời sống của tôi? Tôi có đặt niềm tin trọn vẹn vào Đức Giêsu Kitô, Đấng Emmanuel?
2. “Tôi, Phaolô, tôi tớ của Đức Giêsu Kitô; tôi được gọi là Tông Đồ và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa”. Tôi có biết rằng tôi cũng được mời gọi trở nên vị tông đồ loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho những người khác? Tôi có là người tôi tớ trung thành của Đức Giêsu?
3. “Này Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. Giuse mau mắn đón nhận thánh ý Thiên Chúa khi được Ngài mặc khải. Tôi có can đảm và mau mắn cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa qua việc Ngài mời gọi tôi sống và thực thi sứ điệp của Ngài trong cuộc sống mình? Thái độ sống của tôi đáp trả thế nào trước những dấu chỉ, biến cố yêu thương mà Thiên Chúa trao ban cho tôi trong từng ngày sống?
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa đã đến và ở với nhân loại để thực hiện kế hoạch yêu thương của Người qua Đức Giêsu Kitô, Đấng Emmanuel. Tin tưởng vào tình thương cứu độ của Thiên Chúa, chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người biết sẵn sàng đón nhận ơn thánh:
1. “Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Hội Thánh biết mở lòng đón nhận ơn Chúa và cộng tác với Chúa Thánh Thần, tích cực đem Tin mừng cứu độ cho con người trong thế giới hôm nay.
2. “Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho những dân tộc chưa nhận biết Chúa, được nghe loan báo Tin mừng nước trời và khám phá nguồn hạnh phúc đích thực nơi Thiên Chúa.
3. “Chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho những ai đang lầm đường lạc lối, biết ý thức tình trạng tội lỗi của bản thân, nhận ra tình thương tha thứ của Thiên Chúa, và thành tâm quay về với Người để sống trong ân sủng và bình an.
4. “Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta, biết tìm kiếm và thực hiện ý Chúa trong cuộc sống hằng ngày, qua việc tận tâm chu toàn mọi bổn phận mà Chúa đã trao phó.
Chủ tế: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã yêu thương và ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện và giúp chúng con biết dấn thân cộng tác vào công trình yêu thương của Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.


ĐG KITÔ CHÍNH LÀ EMMANUEL "THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA"

"Giuse đón vợ về nhà" (Mt 1,24)

Sợi chỉ đỏ :

- Ngôn sứ Isaia báo cho vua Achaz về một nhân vật mệnh danh là Emmanuel (Bài đọc I)
- Tv 23 bày tỏ niềm tin tưởng Thiên Chúa sẽ đến như một vị Vua vinh hiển (Đáp ca)
- Đức Giêsu chính là Emmanuel mà Isaia đã tiên báo (Tin Mừng)
- Thánh Phaolô khẳng định Đức Giêsu thực hiện những lời tiên tri xưa (Bài đọc II)

Trong suốt Mùa Vọng, chúng ta mong chờ Đức Giêsu đến. Nhưng chúng ta mong chờ Ngài mang gì đến cho chúng ta : Tiền bạc chăng ? Thành công chăng ? Sức khoẻ chăng ?
Lời Chúa hôm nay trả lời rằng : Ngài mang đến cho chúng ta chính bản thân Ngài, bởi vì Ngài là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đó là điều quý báu nhất và bao gồm tất cả mọi điều báu.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy nguyện "ở với" Chúa cũng như Ngài đã "ở với" chúng ta.

- Đức Giêsu đã bỏ trời xuống thế để ở với loài người chúng ta. Nhưng lắm khi chúng ta quên mất Ngài, không hề nhớ tới Ngài.
- Đức Giêsu ngự trong Nhà Tạm để chúng ta dễ đến với Ngài. Nhưng rất ít khi chúng ta đến đó để gặp Ngài.
- Chúng ta không "cùng ăn, cùng ở, cùng làm" với Đức Giêsu trong cuộc sống hằng ngày.


Khi ấy vương quốc Giuđa đang bị đế quốc Assyria đe dọa. Ngôn sứ Isaia khuyên vua Achaz đừng sợ, hãy trông cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa. Nhưng vua Achaz hoài nghi. Để khuyến khích nhà vua thêm tin tưởng, Isaia cho nhà vua một dấu chỉ : "Này đây một phụ nữ sẽ thụ thai, sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở với chúng ta".
Lời tiên tri này trước tiên ứng vào hoàn cảnh của vua Achaz : Quả thực sau đó hoàng hậu vợ vua Achaz ("phụ nữ") đã thụ thai và sinh cho nhà vua một thái tử. Việc sinh ra thái tử là dấu chỉ chứng minh rằng Thiên Chúa sẵn sàng phù hộ cho vua Achaz nếu ông thực lòng trông cậy nơi Ngài ("Thiên Chúa ở cùng chúng ta").
Về sau người ta đã hiểu rộng hơn và coi đây là lời tiên tri về Đấng Messia sẽ đến. Người ta còn tin rằng Đấng Messia ấy sẽ do một trinh nữ sinh ra. Vì thế bản dịch 70 bằng tiếng hy lạp đã dùng chữ "trinh nữ" thay vì chữ "phụ nữ".

Tv 23 được dùng trong những cuộc hành hương lên đền thờ Giêrusalem. Người ta ý thức rằng Thiên Chúa chính là Vua vinh hiển ; và chỉ những ai có bàn tay vô tội và tâm hồn trong sạch mới xứng đáng đến trước nhan Ngài.
Quan niệm này đúng. Nhưng đến thời Tân Ước (như bài Tin Mừng sẽ cho ta thấy), Thiên Chúa sẽ ưu ái loài người đến nỗi bỏ qua đòi hỏi trên : chẳng những không đòi những người muốn đến với Ngài phải có tay sạch lòng thanh, Ngài còn hạ cố xuống với loài người để thành Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Đức Giêsu Ngôi Hai Thiên Chúa đã sinh ra, làm một con người như mọi người : có mẹ là một người nữ mang tên Maria, cha là một bác thợ mộc tên là Giuse.
Nhưng thiên thần Gabriel cho thánh Giuse biết những đặc tính thiêng linh của Đức Giêsu : Ngài được thụ thai là "bởi phép Chúa Thánh Thần", Ngài đến trần gian là "để cứu dân mình khỏi tội".
Thánh Matthêu hiểu rằng việc này làm ứng nghiệm lời tiên tri của ngôn sứ Isaia : Đức Giêsu chính là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Thánh Phaolô muốn tín hữu Rôma hiểu rõ về Đức Giêsu : Tuy Ngài đã sinh ra "theo huyết nhục", nhưng nguồn gốc của Ngài rất cao sang vì Ngài "bởi dòng Đavít", "đã được tiền định là Con Thiên Chúa", và "đã sống lại từ cõi chết".
Từ ý thức đó, Thánh Phaolô khuyên các tín hữu hãy sung sướng vì được thuộc về một Đấng cao sang như thế : "Đó chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta", đồng thời cũng hãy sung sướng với ơn gọi của mình : "Anh em là những người mà Chúa Giêsu Kitô đã kêu gọi".


Đức Giêsu là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Chỉ cần một so sánh rất tầm thường, chúng ta sẽ thấy đó là một ơn rất to lớn mà Thiên Chúa ban cho chúng ta :
Tôi có một người bạn vừa tốt vừa đa tài đa năng. Mỗi khi có chuyện gì cần, tôi gọi thì anh đến và anh giúp tôi giải quyết rất tốt đẹp. Tôi sung sướng lắm. Nhưng nhiều khi tôi đang cần mà anh lại đang đi vắng xa nên không giúp gì cho tôi được. Khi đó tôi ao ước : phải chi người bạn ấy luôn ở với tôi !
Chúa Giêsu hơn người bạn ấy rất nhiều : Ngài không chỉ là một con người mà còn là Thiên Chúa. Ngài không chỉ đa tài đa năng mà còn là toàn tài toàn năng. Ngài nói "Này Ta ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế". Ngài đúng là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Còn gì quý hơn !

Một tin chỉ là Tin Mừng khi nó đáp ứng một ước mong mà người ta chờ đợi. Thí dụ chén cơm là tin mừng cho người đang đói, mùa gặt bội thu là tin mừng cho người nông dân đã khổ công cấy cày. Nếu không ước mong đợi chờ thì chẳng có tin mừng : chén cơm không phải là tin mừng cho người đã no, mùa gặt cũng chẳng là tin mừng cho người không làm ruộng.
Thánh Phaolô nói với tín hữu Rôma rằng ngài mang đến cho họ một Tin Mừng, đó là Thiên Chúa đã ban Con của Ngài cho loài người. Và tín hữu Rôma đã vui mừng vì họ có được một Đức Chúa cao cả quyền năng hơn các thần thánh nhan nhãn trong các đền thờ ở Rôma.
Lẽ ra sống trong Mùa Vọng thì phải mong chờ Chúa. Nếu ta không mong chờ Chúa thì việc Chúa Giáng sinh không là Tin Mừng cho ta gì cả.


Lạy Chúa, tên Chúa là Emmanuel, Chúa ở cùng chúng con.
Nhưng đã có biết bao người lấy danh thánh Chúa khắc vào dây lưng, hùng hùng hổ hổ xông ra trận để chém giết anh em đồng loại ! Biết bao người đã đi tàn sát nhân danh Chúa, tuy họ không xâm tên Chúa vào ngực hay khắc vào dây nịt.
Chúa ở với chúng con để kéo chúng con ra khỏi tội lỗi, chứ không phải làm cớ cho chúng con bênh vực mình, bênh vực những hành vi tội lỗi của mình.
Chúa ở với chúng con để giúp chúng con vượt qua những chướng ngại trên con đường đi tìm công lý và tình huynh đệ, chứ không phải để dẫn chúng con đến những quần đảo thoát ly.
Chúa hãy ở với chúng con những khi vì sợ hãi, chúng con ngừng bước hay lui bước. Chúa hãy ở với chúng con khi vì lơ đễnh chúng con đi lạc đàng chính nẻo ngay.
Thân lạy Emmanuel, xin Chúa hãy luôn ở cùng chúng con ! (Trích Công giáo và Dân tộc, số đặc biệt giáng sinh 1998)

Ngày nay thói quen mừng lễ Giáng sinh có thể nói là rất phổ biến : hầu hết mọi người trên thế giới, dù là người có đạo hay không có đạo, cũng đều quen mừng lễ Giáng sinh. Tuy nhiên, hầu như ai ai cũng coi đây là một dịp lễ vui, có nhiều hoa đèn, nhiều tiếng thánh ca. Trong dịp lễ Giáng sinh người ta cũng sáng tác nhiều tiêu phẩm văn nghệ rất cảm động nhưng qua đó ta thấy được khía cạnh mỉa mai là lễ Giáng sinh đã không được mừng đúng ý nghĩa. Có một tiểu phẩm kể chuyện một em bé gái nghèo, đêm Giáng sinh phải co ro lặn lội trong sương tuyết để bán từng hộp que diêm, trong khi đó thì xa xa vọng lại tiếng hát thánh ca réo rắt ; một tiểu phẩm khác kể chuyện một tên ăn trộm coi lễ Giáng sinh là dịp tốt để hành nghề, nó biết đêm đó nhà giàu nào cũng có nhiều bánh trái, cho nên nó đợi đến lúc người ta di dự lễ ở nhà thờ để lẻn vào ăn trộm, và xa xa vọng lại cũng những hồi chuông giáng sinh rộn rã.
Cũng có một tác phẩm tuy không nói về lễ Giáng sinh nhưng cũng mang cùng một ý nghĩa. Đây là một chuyện phim tưởng tượng. Đạo diễn tưởng tượng có một Đức Giáo hoàng vì chán cảnh lễ nghi rườm rà trong Tòa Thánh Vatican nên nhân một dịp đi lạc khỏi Tòa Thánh, đã đi luôn vào sống ở một ngôi làng nghèo. Làng này đang bị bệnh dịch hoành hành nên bị cắt đứt mọi liên lạc với bên ngoài, lương thực khan hiếm. Trong làng có một cái cối dùng sức gió để cung cấp nước, nhưng cối gió đã hư và không ai sửa. Nếp sống quá khổ cực khiến người ta không đến nhà thờ nữa, nhà thờ bị hoang phế, và chính vị Linh mục coi sóc nhà thờ đó cũng chán nản hồi tục đi làm nghề chăn cừu. Đức Giáo hoàng đã cùng với dân làng đi moi đống rác, tiếp xúc với những trẻ em lang thang bụi đời, và động viên người ta cùng Ngài sửa lại cái cối xay nước. Sau một thời gian làm việc vất vả với rất nhiều khó khăn, cái cối xay gió ấy đã được sửa chữa và hoạt động lại. Cho tới lúc đó dân làng mới biết Ngài chính là Giáo hoàng. Và Ngài giã từ họ trở về Tòa Thánh. Cuốn phim kết thúc với cảnh Đức Giáo hoàng chủ tọa một Thánh lễ có rất đông người tham dự, đặc biệt trong số đó có dân chúng của cái làng nghèo khổ kia và cả vị Linh mục nữa, vị Linh mục này đã trở về với đoàn chiên giáo dân của mình. Chắc chúng ta hiểu được ngụ ý của đạo diễn : Nếu giáo hội chỉ thu mình trong các lễ nghi ở nhà thờ thì dần dần Giáo hội sẽ xa lìa quần chúng và quần chúng cũng xa lìa Giáo hội. Còn Giáo hội dấn thân phục vụ những nhu cầu thiết thực của quần chúng thì quần chúng sẽ đến vây quanh Giáo hội.
Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh là Emmanuel, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta". Giáo Hội cũng phải là Emmanuel. Và mỗi tín hữu cũng phải là Emmanuel.

CT : Sau lời truyền tin của sứ thần Gabriel và lời đáp "Xin vâng" của Trinh nữ Maria, Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm trong lòng Đức Mẹ. Tin tưởng vào tình thương của Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.
1- Hội Thánh là dấu chỉ tình thương cứu độ của Chúa đối với nhân loại. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phần trong Hội Thánh / biết luôn cố gắng sống bác ái yêu thương / để trở nên khí cụ Chúa dùng đem tình thương đến cho mọi người.
2- Hiện tại / sự xuất hiện của nhiều giáo phái kỳ bí là một thảm họa cho nhân loại / vì họ dạy những điều sai trái. / Nhưng đáng tiếc là có nhiều người gia nhập các giáo phái này / và bị khống chế chặt chẽ. / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho mọi người / cách riêng là những người kitô hữu trẻ / biết luôn cảnh giác trước những lời quyến rũ đường mật của các giáo phái này.
3- Khủng hoảng đức tin / đặc biệt trong giới trẻ / là một vấn đề lớn đang khiến các bậc mục tử lo âu nhiều nhất. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử / luôn tìm được những phương thế thích hợp / nhằm giúp giới trẻ học hỏi sâu rộng giáo lý của Chúa / nhờ đó giữ vững được đức tin của mình.
4- "Xin vâng theo Thánh ý Chúa" / Đây phải là câu tâm niệm / là lời nguyện tắt hằng ngày của người kitô hữu. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết mau mắn đáp "Xin vâng" trong mọi tình huống của cuộc sống / nhất là khi gặp khó khăn / đau khổ trong đời sống thường ngày.
CT : Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa hứa ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế. Xin luôn nâng đỡ chúng con trong mọi cơn thử thách, cùng đồng hành với chúng con trong cuộc sống, nhờ đó chúng con luôn tin yêu, gắn bó và dấn thân theo Chúa đến cùng dù gặp bao sóng gió phũ phàng trên đường đời. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

- Kinh nguyện Thánh Thể : Nên dùng mẫu số 4, nhấn mạnh đến vai trò Đức Maria :
. (Đoạn 3) : "Lạy Cha chí thánh, Cha quá yêu thương thế gian… Người đã nhập thể bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, và được Đức Trinh nữ sinh ra, đã sống trọn thân phận con người như chúng con…"
- Trước kinh Lạy Cha : Hợp ý với Đức Giêsu, Đấng là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, chúng ta hãy dâng lên Thiên Chúa Cha lời kinh Lạy Cha.
- Trước lúc Rước lễ : "Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng Emmanuel đến ở với loài người chúng ta để xóa tội trần gian. Phúc cho ai…"

Chúa Giêsu là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúng ta cũng hãy nhớ luôn ở cùng Ngài trong mọi việc làm, lời nói và ý tưởng.

Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI

Lectio Divina: Chúa Nhật IV Mùa Vọng (A)
Chúa Nhật, 18 Tháng 12, 2016


Sự công chính của thánh Giuse đã cứu mạng Mẹ Maria
Mt 1:18-24 

1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy sai Thần Khí Chúa đến giúp chúng con đọc Kinh Thánh với cùng tâm tình mà Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường Emmau.   Trong ánh sáng của Lời Chúa, được viết trong Kinh Thánh, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi đau buồn về bản án và cái chết của Chúa.  Vì thế, cây thập giá tưởng như là sự kết thúc của mọi niềm hy vọng, đã trở nên nguồn mạch của sự sống và sự sống lại.
Xin hãy tạo trong chúng con sự thinh lặng để chúng con có thể lắng nghe tiếng Chúa trong sự Tạo Dựng và trong Kinh Thánh, trong các sự kiện của đời sống hằng ngày và trong những người chung quanh, nhất là những người nghèo khó và đau khổ.  Nguyện xin Lời Chúa hướng dẫn chúng con để, giống như hai môn đệ từ Emmau, chúng con cũng sẽ được hưởng quyền năng sự phục sinh của Chúa và làm chứng cho những người khác rằng Chúa đang sống hiện hữu giữa chúng con như nguồn mạch của tình anh em, công lý và hòa bình.  Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu, con Đức Maria, Đấng đã mặc khải cho chúng con về Chúa Cha và đã sai Chúa Thánh Thần đến với chúng con.  Amen.

2.  Bài Đọc 
a)  Chìa khóa dẫn đến bài đọc:

Đa số các thành viên của các Cộng Đoàn Kitô hữu tại Pa-lét-tin và Syria, những người mà tác giả Mátthêu đã viết sách Tin Mừng cho, là những người Do Thái cải đạo.  Họ chấp nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế và tin tưởng vào Người.  Họ đã bị bách hại vì đức tin của họ.  Những người anh em Do-thái của họ đã nói với họ rằng:  “Các bạn Kitô hữu đang bị lừa dối!  Ông Giêsu không phải, và cũng không thể là Đấng Cứu Thế!”  Trong đoạn Phúc Âm mà chúng ta đang suy gẫm trong Chúa Nhật tuần này, cho thấy hiển nhiên mối quan tâm của Mátthêu, ông muốn khẳng định niềm tin của cộng đoàn.  Cũng như thể ông muốn nói với chúng ta rằng:  “Các bạn không hề bị lừa dối!  Đức Giêsu chính thật là Đấng Cứu Thế!”  Mục đích của Mátthêu trong các chương một và hai của sách Tin Mừng của ông là để thông báo cho người đọc về những điều liên quan đến Chúa Giêsu, Đấng mà hoạt động của Người sẽ được mô tả bắt đầu từ chương ba.  Trong hai chương đầu, Mátthêu giới thiệu về thân thế Chúa Giêsu, về Lề Luật mới, về một ông Môisen mới.  Trong phần gia phả (Mt 1:1-17) Mátthêu đã cho thấy rằng Chúa Giêsu thuộc dòng dõi vua Đavít và dòng dõi ông Abraham (Mt 1:1).  Trong những câu này (Mt 1:18-25), Mátthêu tiếp tục giới thiệu Đức Giêsu với chúng ta qua câu chuyện giáng sinh của Người.  Ông kể lại chuyện ông thánh Giuse được cho biết tin về việc Đức Maria đã thụ thai như thế nào và các lời tiên tri sẽ được ứng nghiệm với sự ra đời của Đức Giêsu, cho thấy rằng Người là Đấng Cứu Thế đang được mong đợi.  Trong khi đọc, chúng ta nên chú ý đến những gì đoạn Phúc Âm cho chúng ta biết về con người của Chúa Giêsu, đặc biệt là trong những gì liên quan đến ý nghĩa của hai cái tên mà Người nhận được.
   
b)  Phân đoạn bài Tin Mừng để trợ giúp cho bài đọc:

Mt 1:18:  Một điều trái với lễ giáo phong tục trong cuộc đời Đức Maria
Mt 1:19:  Sự công chính của thánh Giuse
Mt 1:20-21:  Lời giải thích hoặc lời làm sáng tỏ bởi thiên thần Chúa
Mt 1:22-23:  Giai điệu trong Tin Mừng của thánh Mátthêu
Mt 1:24-25:  Sự vâng lời của thánh Giuse.

c)  Phúc Âm:

18 Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây:  Mẹ Người là Maria, đính hôn với Giuse; trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. 19 Giuse, bạn của bà, là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà một cách kín đáo. 20 Nhưng đang khi định tâm như vậy thì thiên thần Chúa hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo:  “Hỡi Giuse, con vua Đavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội.”
22 Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng tiên tri phán xưa rằng: 23 Này đây!  Một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. 24 Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền: ông tiếp nhận bạn mình; 25 nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu.

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện


Để cho Lời Chúa có thể thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta.

4.  Một vài câu hỏi gợi ý

Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.

i)  Điều nào trong bài Tin Mừng này đã đánh động bạn nhất?  Tại sao?    
ii)  Theo lời Sứ Thần, Con Thiên Chúa sẽ được sinh bởi Đức Maria là ai?    
iii)  Theo Phúc Âm của Mátthêu, lời tiên tri nào trong Cựu Ước được thực hiện trên Chúa Giêsu?
iv)  Hai tên mà Con Trẻ Giêsu nhận lãnh là gì, và Thiên Chúa có ẩn chứa dự án gì trong những tên này?
v)  Thái độ của thánh Giuse được hiểu ra sao?  Thái độ này dạy cho chúng ta điều gì?
vi)  “Sự công chính” của thánh Giuse một cách chính xác bao gồm những điều gì?
vii)  Sự công chính của chúng ta ra sao, khi được so sánh với sự công chính của thánh Giuse?

5.  Dành cho những ai muốn đào sâu vào chủ đề

a)  Bối cảnh của bài Phúc Âm:

Dựa theo gia phả của Chúa Giêsu (Mt 1:1-17) để lại cho chúng ta một câu hỏi.  Bên cạnh tên của bốn mươi hai tổ phụ của Chúa Giêsu (Mt 1:17), Mátthêu chỉ đưa ra tên bốn tổ mẫu: bà Tamar (Mt 1:3), bà Ra-kháp, bà Rút (Mt 1:4) và vợ ông Uria (Mt 1:6).  Bốn người phụ nữ thụ thai các con trai của họ bên ngoài phạm trù của sự tinh khiết hoặc ngoài vòng lễ giáo thời bấy giờ.  Vì thế, tình trạng của bốn người phụ nữ này thì bất thường trước Lề Luật Do-Thái.  Sự bất thường của bốn người tổ mẫu này thì hiển nhiên.  Chỉ cần đọc các văn bản của Cựu Ước nơi mà câu chuyện của họ được kể là đã đủ.  Và do đó, tại cuối phần gia phả dấy lên một câu hỏi:  “Và Đức Maria, hiền thê của thánh Giuse, người sinh ra Chúa Giêsu (Mt 1:16), có lẽ cũng phải chịu một số điều bất thường pháp lý chăng?  Đoạn Phúc Âm mà chúng ta suy gẫm trong Chúa Nhật tuần này nói về điều này.

b)  Lời bình giải về đoạn Phúc Âm:

Mt 1:18: Sự không đúng lễ giáo theo pháp luật trong Đức Maria
Đức Maria đã thụ thai trước khi về chung sống với ông Giuse, vị hôn phu của bà.  Người ngoài nhìn vào sự việc thì hẳn nhận biết được có điều bất thường và sẽ nói:  “Bà Maria, thật là quá quắt!”  Chiếu theo lề luật của Môisen, thì những tội này đáng bị ném đá cho chết (Đnl 22:20).  Để tránh điều lý giải sai lầm về các sự kiện này, Mátthêu đã giúp người đọc thấy một khía cạnh khác của việc thụ thai của Đức Maria:  “Bà đã thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần”.  Dưới con mắt thế gian, điều này dường như là một sự vi phạm Lề Luật, nhưng trong mắt của Thiên Chúa điều này thì hoàn toàn trái ngược lại!

Mt 1:19:  Sự công chính của thánh Giuse
Việc mang thai của Đức Maria xảy ra trước khi bà về sống với ông Giuse, không phải vì một lỡ lầm của con người, mà là vì thánh ý Thiên Chúa.  Thiên Chúa đã trêu ngươi về lề luật khiết tịnh trong cách để cho Đấng Cứu Thế được sinh ra giữa chúng ta!  Nếu thánh Giuse hành động theo như những ràng buộc của lề luật thời bấy giờ, thì ông đã phải tố cáo Đức Maria và có lẽ bà đã bị ném đá.  Mang thai trước hôn nhân là điều không đúng lễ giáo và không theo luật khiết tịnh, thì bà phải bị trừng phạt với bản án tử hình (Đnl 22:20).  Tuy nhiên, thánh Giuse, bởi vì ông là người công chính, đã không tuân theo những ràng buộc của luật khiết tịnh.  Sự công chính của ông thì cao cả hơn.  Thay vì đi tố cáo, ông muốn tôn trọng điều bí ẩn mà ông không hiểu và quyết định lìa bỏ Đức Maria trong sự kín đáo.  Sự công chính cao cả nhất của thánh Giuse đã cứu mạng Đức Maria và cả mạng sống của Chúa Giêsu.
Vì thế, Mátthêu gửi một sứ điệp quan trọng cho các cộng đoàn tại Pa-lét-tin và Syria.  Như thể nói rằng:  “Hỡi anh em, điều gì sẽ xảy ra nếu việc tuân giữ nghiêm nhặt lề luật được thực hiện, điều mà những người Biệt Phái đòi hỏi nơi anh em!  Chúng sẽ giết chết Đấng Cứu Thế!”  Sau đó Chúa Giêsu sẽ nói:  “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn những người Kinh-sư và Biệt Phái, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 5:20).

Mt 1:20-21:  Lời giải nghĩa hoặc giải thích rõ của Thiên Thần Chúa và hai tên được đặt cho Con Trẻ của Đức Maria:  Giêsu và Emmanuel
“Thiên thần của Chúa” giúp khám phá ra chiều kích sâu thẳm nhất của đời sống và của các sự kiện.  Người giúp nhìn thấu suốt các sự kiện và nhận thức được ơn gọi của Thiên Chúa mà với con mắt phàm trần của chúng ta không thể nhận biết được.  Thiên thần khiến cho thánh Giuse hiểu được rằng việc thụ thai của Đức Maria là kết quả việc làm của Chúa Thánh Thần.  Chính Thiên Chúa, trong ngày tác tạo trời đất, đã thổi hơi qua các vùng biển và đổ đầy với sức mạnh Lời Tạo Dựng của Chúa (St 1:2).  Việc sáng tạo mới được thực hiện trong Đức Maria.  Đó là sự khởi đầu của trời mới và đất mới, được loan báo bởi ngôn sứ Isaia (Is 65:17).  Con của Đức Maria nhận được hai tên: Giêsu và Emmanuel.  Giêsu có nghĩa là “Cứu-Chúa”.  Ơn cứu rỗi không xuất phát từ những gì chúng ta làm mà là từ Thiên Chúa, đúng ra là từ những gì Thiên Chúa làm cho chúng ta.  Emmanuel có nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.  Trong sách Xuất Hành, khi giải thoát dân Do-Thái khỏi đất Ai-Cập, Thiên Chúa hiện xuống với những người dân bị áp bức (Xh 3:8) và phán bảo cùng ông Môisen:  “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh 3:12) và từ giây phút đó Chúa không bao giờ lìa bỏ dân Người.  Hai tên, Giêsu và Emmanuel, đưa ra sự chứng thực, và thậm chí vượt qua hẳn những hy vọng của người ta.

Mt 1:22-23:  Giai điệu Tin Mừng của Mátthêu
“Tất cả điều này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ”.  Câu này hoặc những câu tương tự khác giống như một giai điệu, những lời được lặp lại nhiều lần trong Tin Mừng của Mátthêu (Mt 1:23; 2:5,15,17,23; 4:14; 8:17; 12:17; 13:14,35; v.v.).  Điều này cho thấy mục đích mà tác giả đã có trong lòng: để xác nhận với các độc giả gốc Do-Thái của ông sự thật rằng Chúa Giêsu chính thực là Đấng Mêssia đã được hứa xưa kia.  Trong Người, mọi lời hứa từ các ngôn sứ đã được ứng nghiệm.
Ở đây Mátthêu trích lời ngôn sứ Isaia:  “Người trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên trẻ là Emmanuel” (Is 7:14).  Danh hiệu Emmanuel không chỉ đơn thuần là một tên gọi cho chúng ta thấy ý nghĩa tên gọi của Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu là bằng chứng rằng Thiên Chúa vẫn tiếp tục ở với chúng ta.  Tên của Con Trẻ là Giêsu (Mt 1:25).

Mt 1:24-25:  Sự vâng lời của thánh Giuse
Khi tỉnh dậy, thánh Giuse đã thực hiện như lời Thiên Thần Chúa truyền và tiếp nhận Đức Maria vào nhà ông.  Và thánh Mátthêu tiếp tục nói rằng ông Giuse đã không ăn ở với Đức Maria, để xác nhận rằng Chúa Giêsu được sinh ra từ Chúa Thánh Thần.

c)  Phần phụ chú:

Chìa khóa cho sách Tin Mừng của Mátthêu – Phúc Âm của Mátthêu được gửi tới cho cộng đoàn người Do Thái cải đạo, những người sống trong một cuộc khủng hoảng sâu xa về căn tính liên quan đến quá khứ là người Do Thái của họ.  Vào năm 65 sau Công Nguyên khi cuộc nổi dậy chống lại người Rôma bùng nổ, các Kitô hữu gốc Do-Thái đã không tham gia và họ lìa bỏ Giêrusalem.  Những người Biệt Phái cũng làm như vậy.  Sau khi thành Giêrusalem bị tàn phá vào năm 70, những người Biệt Phái tái tổ chức những người đã ở lại và họ lập thành hàng ngũ, trong một cách quả quyết hơn, chống lại các Kitô hữu, những người mà sau cùng họ đã ra vạ tuyệt thông.  Vạ tuyệt thông này đã làm cho vấn đề về căn tính thậm chí còn tồi tệ hơn.  Bấy giờ, chính thức bị vạ tuyệt thông, họ không còn có thể đi đến đi đến Hội Đường của họ, hay đến các Giáo-sĩ rabbi của họ.  Và một vấn nạn đã dấy lên trong số họ:  Những lời hứa được thuộc về ai: chúng thuộc về Hội Đường hay thuộc về Giáo Hội?  Ai chính là Dân của Chúa, họ hay là chúng ta?  Đức Giêsu có thật là Đấng Cứu Thế không?  Mátthêu viết quyển Tin Mừng của ông cho cộng đoàn này.  Tin Mừng của Mátthêu có thể được định rõ bởi ba chữ sau đây:
i)  Tin Mừng của sự an ủi cho những ai bị vạ tuyệt thông và bị ngược đãi bởi người Do-Thái anh em của họ là những người không chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai (Chúa Kitô); nó giúp họ vượt qua cơn chấn thương hoặc kích động của sự chia lìa.
ii)  Tin Mừng của sự mặc khải: Nó cho thấy Chúa Giêsu là Đấng Mêssia thật sự, Đấng Mêssia mới, Đấng mà trong đó hội đủ tất cả mọi lịch sử của Cựu Ước với những lời hứa của nó.
iii)  Tin Mừng của sự thực hành mới: trong đó mô tả sự thực hành của Chúa Giêsu, và cho thấy làm thế nào để đạt được một nền công lý mới, cao cả hơn so với công lý của những người Biệt Phái.

Điều này xảy ra để nó có thể được thực hiện – bằng ý nghĩa của những chữ này được lặp lại nhiều lần trong quyển Tin Mừng của ông, Mátthêu đã đụng chạm đến điểm căng thẳng lớn nhất giữa các Kitô hữu và người Do Thái.  Bắt đầu từ Kinh Thánh, họ nói rằng:  “Ông Giêsu không phải và không thể nào là Đấng Mêssia!”  Cũng bắt đầu từ Kinh Thánh, Mátthêu đã trả lời và khẳng định:  “Đức Giêsu chính thực là Đấng Mêssia!”

Việc mang thai của Đức Maria – Mátthêu cũng như Luca dẫn trích lời ngôn sứ Isaia “Một trinh nữ sẽ mang thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên con trẻ là Emmanuel” (Is 7:14).  Nhưng có một sự khác biệt.  Thánh Luca đặt Đức Maria tại tâm điểm và cho dấu hiệu của sự trinh tiết thì quan trọng hơn (Lc 1:31).  Mátthêu đặt thánh Giuse làm trung tâm và chú ý đến tầm quan trọng ý nghĩa của tên Emmanuel hơn.

Giấc mộng của thánh Giuse – Thiên Thần Chúa hiện đến cùng thánh Giuse trong giấc mơ và giúp ông hiểu thấu.  Với sự trợ giúp của Thiên Thần Chúa, thánh Giuse thành công trong việc khám phá ra việc làm của Thiên Chúa trong sự kiện này, mà theo định kiến của thời bấy giờ, dường như chỉ là hoa trái của sự lầm đường và của tội lỗi.  Thiên thần có nghĩa người đưa tin.  Thiên Thần Chúa mang tin đến và mang sự trợ giúp đến để nhận thức được công việc của Thiên Chúa trong đời sống.  Ngày nay có nhiều Thiên Thần Chúa hướng dẫn chúng ta trong cuộc sống. Có khi họ làm việc trong lúc chúng ta ngủ, trong các giấc chiêm bao của chúng ta, những lúc khác trong các buổi họp, trong các cuộc đàm luận và trong các cuộc học hỏi Kinh Thánh, trong các sự việc, v.v.  Có rất nhiều Thiên Thần, rất nhiều Thiên Thần!

6.  Cầu Nguyện:  Thánh Vịnh 72 (71): 

Danh Thánh Người tồn tại đến muôn đời!
Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,
để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

Núi đem lại cảnh hoà bình trăm họ,
đồi rước về nền công lý vạn dân.
Người sẽ bảo toàn quyền lợi dân cùng khổ,
ra tay cứu độ kẻ khó nghèo,
đập tan lũ cường hào ác bá.
Nguyện chúc Người tuổi thọ sánh vầng ô,
như bóng nguyệt đến muôn đời muôn kiếp!

Mong Người xuống tựa mưa sa nội cỏ,
ơn vũ lộ thấm nhuần cả đất đai.
Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.
Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.

Dân vùng sa mạc khúm núm quy hàng,
tất cả đối phương nhục nhằn cắn cỏ.
Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống.
Cả những vua Ả-rập, và Saba,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật.
Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự.

Người giải thoát bần dân kêu khổ
và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,
chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ,
giải thoát cho khỏi áp bức bạo tàn,
từng giọt máu họ, Người đều coi là quý.

Tân Vương vạn vạn tuế!
Thiên hạ sẽ đem vàng Ả-rập tiến dâng lên,
và cầu xin cho Người luôn mãi,
ngày lại ngày chúc phúc cho Người.
Mong cho xứ sở đầy dư gạo thóc,
đỉnh non cao sóng lúa rì rào,
trổ bông vàng đẹp tựa núi Li-băng,
thâu lượm được nhiều như cỏ dại.

Danh thơm Người sẽ trường tồn vạn kỷ,
nức tiếng gần xa dưới ánh mặt trời.
Ước gì mọi sắc tộc trần gian, nhờ Người được chúc lành,
và muôn dân thiên hạ ngợi khen Người có phúc.
Chúc tụng ĐỨC CHÚA
là Thiên Chúa Israel,
chỉ có Ngài làm nên những công trình kỳ diệu.
Muôn muôn đời xin chúc tụng danh Chúa hiển vinh,
ước gì vinh quang Chúa chiếu toả khắp hoàn cầu!
Amen! Amen!

7.  Lời nguyện kết

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin cảm tạ Chúa về Lời Chúa đã giúp chúng con hiểu rõ hơn ý muốn của Chúa Cha.  Nguyện xin Thần Khí Chúa soi sáng các việc làm của chúng con và ban cho chúng con sức mạnh để thực thi Lời Chúa đã mặc khải cho chúng con.  Nguyện xin cho chúng con, được trở nên giống như Đức Maria, thân mẫu Chúa, không những chỉ lắng nghe mà còn thực hành Lời Chúa.  Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Đức Chúa Cha trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  Amen.