Trang

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

19.04.2026: CHÚA NHẬT III PHỤC SINH năm A

 19/04/2026

 CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH năm A

 


Bài Ðọc I: Cv 2, 14. 22-28

“Không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong cõi chết”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: “Hỡi các người Do-thái và tất cả những ai ở Giêrusalem, xin hãy biết điều này và lắng nghe lời tôi! Hỡi những người Israel, hãy nghe những lời này: Ðức Giêsu Nadarét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và những phép lạ mà Thiên Chúa đã dùng Người để thực hiện giữa anh em, như chính anh em đã biết. Theo như Thiên Chúa đã định và biết trước, Người đã bị nộp, và anh em đã dùng tay những kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Sau khi bẻ gãy xiềng xích tử thần, Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó. Vì chưng Ðavít đã nói về Người rằng: ‘Tôi hằng chiêm ngưỡng Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu tôi, để tôi không nao núng. Vì thế, lòng tôi hân hoan, miệng lưỡi tôi hát mừng, và xác tôi yên nghỉ trong niềm cậy trông: vì Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Ðấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát. Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống và cho tôi đầy hân hoan tận hưởng nhan thánh Chúa'”.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 15, 1-2a và 5. 7-8. 9-10. 11

Ðáp: Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng:  Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa. Con thưa cùng Chúa: “Ngài là chúa tể con, Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con”. 

Xướng: Con chúc tụng Chúa vì đã ban cho con lời khuyên bảo, đó là điều lòng con tự nhủ, cả những lúc đêm khuya. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng.

Xướng:  Bởi thế lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong Âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy sự hư nát.

Xướng: Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! – Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1 Pr 1, 17-21

“Anh em được cứu độ bằng Máu châu báu của Ðức Kitô, Con Chiên tinh tuyền”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, nếu anh em gọi Người là Cha, Ðấng không thiên vị ai khi xét đoán mỗi người theo việc họ làm, thì anh em hãy sống trong sự kính sợ suốt thời anh em còn lưu trên đất khách. Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã được cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, nhưng bằng máu châu báu của Ðức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố. Người đã được tiền định trước khi tác thành vũ trụ và được tỏ bày trong thời sau hết vì anh em. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Ðấng làm cho Người sống lại từ cõi chết, và ban vinh quang cho Người để anh em đặt cả lòng tin và niềm hy vọng nơi Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia 

Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa Giêsu, xin giải thích cho chúng con những lời Thánh Kinh; xin làm cho tâm hồn chúng con sốt sắng khi nghe Chúa nói với chúng con. – Alleluia.

 

PHÚC ÂM: Lc 24, 13-35

“Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Ðang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: “Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?” Một người tên là Clêophas trả lời: “Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay”. Chúa hỏi: “Việc gì thế?” Các ông thưa: “Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật, đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp”.

Bấy giờ Người bảo họ: “Ôi kẻ khờ dại chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Ðấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?” Ðoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn”. Người liền vào với các ông.

Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: “Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta, khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?” Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Họ bảo hai ông: “Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon”. Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Công vụ Tông Đồ 2,14. 22-33; 1 Phê-rô 1,17-21

Chúng ta tiếp tục đọc sách Công vụ các Tông đồ, và cho đến Lễ Ngũ Tuần, tất cả các bài đọc thứ nhất trong ngày thường và Chúa nhật đều trích từ sách Công vụ.

 

Bài đọc hôm nay tiếp nối ngay sau câu chuyện về kinh nghiệm Lễ Ngũ Tuần. Kết quả của kinh nghiệm đó là Phê-rô, giờ đây được đầy dẫy Thánh Linh và là người lãnh đạo cộng đồng mới, bắt đầu rao giảng sứ điệp về Chúa Giêsu Ki-tô là Đấng Cứu Thế cho dân chúng tụ họp tại Giê-ru-sa-lem dự lễ Ngũ Tuần của người Do Thái.

Đây là lời rao giảng đầu tiên trong sáu lời rao giảng (từ tiếng Hy Lạp kerux, nghĩa là ‘người loan báo’) hoặc lời loan báo trong sách Công vụ Tông Đồ về Chúa Giêsu là Chúa Phục Sinh và là Vua Mê-si-a. Năm lời rao giảng được cho là của Phê-rô và lời cuối cùng là của Phao-lô (cho người Do Thái tại An-ti-ô-ki-a thuộc xứ Pi-si-đi, Công vụ Tông Đồ 13,16-41). Bài diễn thuyết của Phê-rô theo một khuôn mẫu đã trở nên phổ biến trong Giáo hội sơ khai:

1. giải thích những gì đang xảy ra;

2. Việc rao giảng về sự chết, sự phục sinh và sự vinh hiển của Chúa Giê-su Ki-tô;

3. Lời khuyên nhủ về sự ăn năn, thay đổi đời sống và phép rửa tội.

Phê-rô đứng trước đám đông, được mười một tông đồ (bao gồm cả Ma-thi-át, người mới được chọn để thay thế Giu-đa làm chứng nhân đã ở cùng Chúa Giê-su “trong suốt thời gian Chúa Giê-su đi lại giữa chúng ta”) vây quanh. Phê-rô nói, không chỉ nhân danh riêng mình, mà còn nhân danh toàn thể “nhóm” Tông đồ. Ngay từ đầu, vị trí đặc biệt của ông trong nhóm đã được công nhận.

Và ông có “tin mừng” (tức là phúc âm, tiếng Anh cổ là god-spell; tiếng Hy Lạp là euanggelion) để truyền đạt cho họ. Lời của ông phản ánh nội dung của những lời rao giảng đầu tiên của các tông đồ. Trước hết, ông làm chứng về sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô và việc Ngài được sống lại trong vinh quang.

Thứ hai, có một số chi tiết tổng quát về chức vụ của Chúa Kitô và cách mà chức vụ đó đã Gioan Tẩy Giả loan báo trước, được khai mạc bằng những lời giảng dạy và phép lạ, được hoàn thành bằng sự hiện ra của Chúa Kitô Phục Sinh và việc ban Thánh Linh cho các môn đồ của Ngài.

Và thứ ba, câu chuyện về Chúa Giê-su được đặt trong bối cảnh rộng hơn của các lời tiên tri trong Cựu Ước, đồng thời hướng tới thời đại Đấng Mê-si-a. Mọi người, cả người Do Thái lẫn người ngoại bang, đều được kêu gọi thay đổi cuộc sống một cách triệt để để sẵn sàng cho sự trở lại vinh hiển của Đấng Kitô (lúc đó được tin là sẽ xảy ra trong tương lai gần).

Phê-rô nhắc nhở họ rằng Chúa Giê-su đã hiện ra giữa dân chúng—như nhiều người nghe Ngài đã biết rõ—và đã thực hiện các dấu kỳ phép lạ như bằng chứng về danh tính thực sự của Ngài. Nhưng trong kế hoạch không thể hiểu nổi của Đức Chúa Trời, Ngài đã bị “giao nộp” (lại một lần nữa chúng ta thấy thuật ngữ này lặp đi lặp lại xuyên suốt Tân Ước).

Đáng buồn thay, những người giao nộp Chúa Giê-su lại chính là những người trong dân tộc của Ngài, có lẽ bao gồm cả một số người đang nghe Phê-rô giảng dạy, và họ thậm chí còn giao Ngài vào tay người La Mã (“những kẻ ngoài vòng pháp luật”) để đóng đinh trên thập tự giá. Chắc hẳn đã có những cảm xúc bất an trong đám đông khi Ngài nói điều đó.

Nhưng Chúa Giê-su đã được giải thoát khỏi nỗi đau đớn của cái chết, vì cái chết không có quyền lực gì trên Ngài. Phê-rô thấy trong lời vua Đa-vít nói sự ứng nghiệm nơi Chúa Giê-su, hậu duệ của ông. Sau đó, ông diễn giải lại lời nói về Đa-vít trong Thánh Vịnh 16,10:

Người không bị bỏ mặc trong âm phủ [nơi của người chết],

và thân xác người cũng không bị hư nát.

Ông thấy những lời này áp dụng thích hợp hơn cho Chúa Giê-su vì Đa-vít đã chết, được chôn cất và nơi mộ của ông được những người nghe biết đến. Nhưng Chúa Giê-su không trải qua sự hư nát của cái chết. Thay vào đó:

Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Giê-su sống lại, và tất cả chúng tôi đều là chứng nhân về điều đó.

 

Bài đọc thứ hai hôm nay thừa nhận rằng nhờ cái chết và sự phục sinh của Ngài, Chúa Giê-su đã chết để chúng ta được cứu rỗi. Phê-rô nói:

Anh em biết rằng anh em đã được chuộc khỏi lối sống vô ích thừa hưởng từ tổ tiên mình, không phải bằng những của cải hư nát như bạc hay vàng, nhưng bằng huyết quý báu của Đấng Ki tô, như huyết của chiên con không tỳ vết.

Chúng ta cũng được kêu gọi trở thành những chứng nhân cho sự phục sinh của Chúa Giê-su và sự hiện diện sống động của Ngài giữa chúng ta bằng cách sống của mỗi cá nhân và trong cộng đồng.

 

 


Chú giải về Lu-ca 24,13-35

Bài Phúc Âm hôm nay là một trong những đoạn Kinh Thánh tuyệt vời của Tân Ước. Chỉ trong hơn 20 câu, nó gói gọn toàn bộ đời sống Kitô giáo. Khi đoạn Kinh Thánh bắt đầu, vẫn là Chúa Nhật Phục Sinh. Trong sách Lu-ca, tất cả các sự hiện ra của Chúa Giê-su sau khi phục sinh đều diễn ra ở vùng lân cận Giê-ru-sa-lem và vào Chúa Nhật Phục Sinh.

Nó bắt đầu với hai môn đệ đang trên đường rời khỏi Giê-ru-sa-lem. Đối với Lu-ca, trọng tâm sứ mệnh của Chúa Giê-su là Giê-ru-sa-lem. Đó là mục tiêu mà toàn bộ cuộc đời công khai của Chúa Giê-su hướng tới, và từ đó, cộng đồng mới sẽ mang Sứ điệp của Ngài đến phần còn lại của thế giới.

Họ đang trên đường đến một nơi gọi là Emmaus, cách Giê-ru-sa-lem khoảng 11 km. Mặc dù vị trí chính xác hiện nay không được biết, nhưng điều đó không thực sự quan trọng—và đó chính là điểm mấu chốt. Họ đang ở trên ‘con đường’—họ là những người hành hương trên con đường đời. Chúa Giê-su là Đường đi. Vấn đề là vào lúc này, họ đang đi sai hướng.

Chúa Giê-su Phục Sinh đến cùng họ như một người bạn đồng hành:

…nhưng mắt họ không nhận ra Ngài.

Tại sao vậy? Có phải họ cho rằng Ngài đã chết? Có phải họ đã có sẵn hình dung về hình ảnh của Chúa Giê-su?

Thấy vẻ chán nản và thất vọng rõ rệt của họ, Chúa Giê-su hỏi họ đang nói về điều gì. Với một sự mỉa mai đầy thú vị, họ nói:

Ông có phải là người lạ duy nhất ở Giê-ru-sa-lem không biết những điều đã xảy ra ở đó trong những ngày này không?

Chúa Giê-su tiếp tục hỏi họ một cách hoàn toàn vô tư: “Những điều gì?” Ngài muốn nghe phiên bản của họ về những gì đã xảy ra. Đối với họ, cái chết là sự thất bại trong sứ mệnh của Chúa Giê-su. Họ gọi Ngài là một “tiên tri” như thể, sau thảm kịch cái chết của Ngài, họ không thể thấy trong Chúa Giê-su, Đấng Mê-si-a mà họ đã thừa nhận trước đó.

…chúng tôi đã hy vọng [tiếng Hy Lạp, elpizomen, sperabamus] rằng Ngài là người sẽ cứu chuộc ít-ra-en.

Một lần nữa, sự mỉa mai thú vị trong chính lời nói của họ lại không được họ nhận ra. Đối với họ, “giải cứu Israel” có nghĩa là giải phóng khỏi ách thống trị của ngoại quốc, và có lẽ là sự khai mở Vương quốc của Đức Chúa Trời theo cách họ hiểu.

Họ cũng bối rối trước những câu chuyện về những người phụ nữ mô tả ngôi mộ trống và các thiên thần—nhưng vẫn không có dấu hiệu nào của Chúa Giê-su. Trớ trêu thay—họ lại đang nói chính những lời này với Chúa Giê-su!

Sau đó, Chúa Giê-su dạy họ cách đọc Kinh Thánh, và cho họ thấy rằng tất cả những gì đã xảy ra với Ngài—bao gồm cả sự đau khổ và cái chết của Ngài—không phải là một bi kịch, mà hoàn toàn đã được tiền định. Lu-ca là tác giả duy nhất nói rõ ràng về một Đấng Mê-si-a chịu đau khổ. Ý tưởng về một Đấng Mê-si-a chịu đau khổ không được tìm thấy như vậy trong Cựu Ước. Sau này, Giáo hội sẽ thấy một điềm báo về Đấng Mê-si-a chịu đau khổ trong các đoạn văn về Người Tôi Tớ Chịu Đau Khổ trong sách I-sai-a.

Câu chuyện này nhấn mạnh rằng tất cả những gì đã xảy ra với Chúa Giê-su là sự hoàn thành những lời hứa trong Cựu Ước và những hy vọng của người Do Thái. Xuyên suốt sách Công Vụ Các Tông Đồ, Lu-ca sẽ lập luận rằng Ki-tô giáo là sự hoàn thành những hy vọng của Do Thái giáo Pha-ri-sêu và sự phát triển hợp lý của nó. Về nhiều mặt, Phúc Âm Mátthêu có chủ đề tương tự.

 

Khi đến nơi, Chúa Giê-su giả vờ như muốn tiếp tục cuộc hành trình. Tuy nhiên, họ đã tiếp đón người lạ. Họ nói:

Hãy ở lại với chúng tôi, vì trời đã gần tối và ngày cũng sắp tàn rồi.

Điều này vang vọng trong Phúc Âm Mátthêu:

…Ta là người lạ, các ngươi đã tiếp đón Ta… (Mt 25,35)

Vậy là Chúa Giê-su vào ở với họ—những lời tuyệt vời. Nhưng điều đó sẽ không xảy ra nếu họ không mở cửa nhà đón Ngài.

Khi họ ngồi xuống dùng bữa, Chúa Giê-su, vị khách bất ngờ đóng vai trò chủ nhà, cầm lấy bánh, chúc phúc, bẻ ra và trao cho họ. Và chính trong hành động đó, họ đã nhận ra Ngài. Đây là Bí tích Thánh Thể, nơi chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa Giê-su giữa chúng ta trong việc bẻ bánh. Không chỉ trong bánh, mà còn trong việc bẻ và chia sẻ bánh, và trong những người chia sẻ bánh đã bẻ.

Rồi Chúa Giê-su biến mất, nhưng họ vẫn còn đắm mình trong dư âm của sự hiện diện ấy.

Chẳng phải lòng chúng ta đã bừng cháy khi Ngài nói chuyện với chúng ta trên đường, khi Ngài giải thích Kinh Thánh cho chúng ta sao?

Trong ánh sáng của những kinh nghiệm này, họ quay lại (trở nên ngoan đạo!) và đi ngược lại con đường đến Giê-ru-sa-lem mà họ đã từng chạy trốn. Tại đó, họ gặp các môn đệ khác, hân hoan vì Chúa đã sống lại và hiện ra với Si-môn. Và họ kể lại câu chuyện kỳ ​​diệu của mình và:

…làm thế nào mà họ đã được nhận biết Ngài trong việc bẻ bánh.

Tất cả các yếu tố của đời sống Kitô giáo đều có ở đây:

• Chạy trốn khỏi nơi có thể tìm thấy Chúa Kitô—chúng ta vẫn thường làm điều đó.

• Gặp gỡ Chúa Giêsu ở nơi, người hoặc hoàn cảnh bất ngờ. Điều này xảy ra bao nhiêu lần mà chúng ta không nhận ra Ngài, hoặc tệ hơn, đối xử tệ bạc với Ngài?

• Tìm thấy ý nghĩa và danh tính thực sự của Chúa Giêsu và sứ mệnh của Ngài trong việc hiểu rõ Kinh Thánh. Không có Kinh Thánh, chúng ta không thể nói rằng mình biết Chúa Giêsu. Tuy nhiên, có bao nhiêu người Công giáo sống cả đời mà hầu như không bao giờ mở Kinh Thánh?

• Nhận ra Chúa Giêsu trong việc bẻ bánh, trong việc cử hành Thánh Thể của chúng ta. Việc bẻ và chia sẻ bánh cho thấy chiều kích cộng đồng thiết yếu của lễ cử hành đó, làm cho nó trở thành một sự “hiệp thông” thực sự với tất cả những người hiện diện.

• Đáp lại kinh nghiệm trọng tâm của Kinh Thánh và Phụng vụ bằng cách tham gia vào công việc rao giảng sứ điệp của Chúa Kitô và chia sẻ kinh nghiệm của chúng ta về sứ điệp đó với người khác, để họ cũng có thể chia sẻ.

• Nhận ra tầm quan trọng của lòng hiếu khách và lòng tốt đối với người lạ. “Ta đói… và các ngươi đã/đã không cho ta ăn…” Chúa Giêsu hiện diện đặc biệt và được tìm thấy và yêu thương trong những người anh chị em bé nhỏ nhất của ta.

Cảnh tượng này cũng là một hình mẫu của Thánh Lễ:

Những người cùng nhau bước đi trên Đường quy tụ lại và gặp gỡ Chúa Giêsu. Trước hết, họ gặp Ngài trong Phụng vụ Lời Chúa khi Kinh Thánh được mở ra và giải thích. Thứ hai, Ngài hiện diện trong Phụng vụ Thánh Thể, nơi những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta qua sự đau khổ, cái chết và sự phục sinh của Ngài được tưởng nhớ với lòng biết ơn. Bánh nay là Mình Thánh Chúa, và rượu nay là Máu Thánh Chúa, được chia sẻ giữa những người là Chi thể của Mình Thánh Chúa để củng cố sự hiệp nhất và cam kết của họ trong việc tiếp tục công việc của Chúa Giêsu.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/ea031g/

 

 


Chúa Đã Sống Lại  

Trên đường về làng Emmau có hai kẻ song hành. Họ âm thầm bước đi bên nhau, mỗi người một suy nghĩ nhưng có cùng một mẫu số chung là tuyệt vọng. Và tuyệt vọng cũng là điều dễ hiểu vì Thầy họ, một người đầy uy quyền mà phải đầu hàng trước hội đường Do Thái, phải gục ngã trước uy quyền của thần chết.

Bởi thế, dù bước đi bên nhau mà tưởng chừng như độc hành. Cùng trên đoạn đường đi ấy, một người thứ ba xuất hiện đi cùng và đối thoại trao đổi cách thân tình. Vì thế, lòng họ ấm áp lại và rồi tâm hồn họ đã hồi sinh thực sự khi Ngài bẻ bánh trao cho họ. "Trao bánh" là ban một cử chỉ thông hiệp thân mật và là mối dây thông cảm thân tình giữa Thầy và Trò.

Thế giới hôm nay cũng không thiếu những tâm hồn cô độc tuyệt vọng. Tuyệt vọng vì mất niềm tin, vì không thấy ý nghĩa cuộc đời. Tuyệt vọng vì chiến tranh bạo lực, vì những cấu xé tranh giành giữa con người cùng chung một dòng máu. Tuyệt vọng vì nghèo đói, bị khinh bỉ, bị đặt ra ngoài lề xã hội.

Giữa những cảnh tuyệt vọng ấy, bổn phận người Kitô hữu là gì nếu không phải là đốt lên ngọn lửa yêu thương để sưởi ấm tâm hồn. Bổn phận này không đòi hỏi phải có những tổ chức rộng lớn, nhưng phương tiện tân kỳ hoặc những khả năng phi thường, nhưng chỉ cần những đối thoại trao đổi đơn sơ nhưng đầy tình Chúa và tình người cũng mang lại những giá trị của nó: "Phải chăng trong lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong khi Ngài đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?"

Một cử chỉ cầm tay và ngồi bên giường bệnh nhân hàng giờ của người nữ y tá chẳng là gì, nhưng nếu không có cử chỉ ấy thì giá trị của cuộc giải phẫu sẽ chẳng lường trước được.

Lạy Chúa, nếu cuộc sống đã làm cho con đau lòng tuyệt vọng thì xin Chúa cho con biết tìm về Lời Chúa và Mình Chúa để lấy lại sức mạnh cho tâm hồn. Vì Lời Chúa sẽ hâm nóng tâm hồn giá lạnh của con; và bàn tiệc Thánh Thể sẽ cho con được hồi sinh. Để như hai môn đệ trên đường Emmau, một khi đã được hồi sinh, con sẽ đến với người anh em để nói cho họ về niềm tin vui Phục Sinh, về tình thương của Chúa. Amen.

‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’--Radio Veritas Asia

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét