08/04/2026
Thứ Tư tuần BÁT NHẬT PHỤC SINH
Bài Ðọc I: Cv 3, 1-10
“Có cái
này tôi cho anh, là nhân danh Ðức Giê-su, anh hãy đứng dậy mà đi”.
Trích sách
Tông đồ Công vụ.
Trong những
ngày ấy, vào giờ thứ chín, là giờ cầu nguyện, Phê-rô và Gio-an lên đền thờ. Lúc
bấy giờ có một anh què từ lúc mới sinh, hằng ngày được người ta khiêng đến cửa
đền thờ, gọi là Cửa Ðẹp, để xin những người vào đền thờ bố thí cho. Khi thấy
Phê-rô và Gio-an tiến vào đền thờ, anh liền xin bố thí. Phê-rô và Gio-an nhìn
anh và nói: “Anh hãy nhìn chúng tôi”. Anh ngước mắt chăm chú nhìn hai ngài,
mong sẽ được hai ngài cho cái gì. Nhưng Phê-rô nói: “Vàng bạc thì tôi không có,
nhưng có cái này tôi cho anh, là: nhân danh Ðức Giê-su Ki-tô Na-da-rét, anh hãy
đứng dậy mà đi!” Rồi Phê-rô nắm tay mặt anh mà kéo dậy, tức thì mắt cá và bàn
chân anh trở nên cứng cát; anh nhảy ngay lên mà đứng và đi được; anh cùng hai
ngài tiến vào đền thờ, anh vừa đi vừa nhảy nhót và ngợi khen Thiên Chúa, và dân
chúng đều thấy anh đi và ngợi khen Chúa. Họ nhận ra anh chính là kẻ ngồi ăn xin
ở Cửa Ðẹp đền thờ, nên họ bỡ ngỡ sửng sốt về việc xảy đến cho anh.
Ðó là lời
Chúa.
Ðáp Ca: Tv 104, 1-2.
3-4. 6-7. 8-9
Ðáp: Tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng
vui
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan hô danh
Ngài, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát mừng Ngài,
hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa.
Xướng: Hãy tự hào vì danh thánh của Ngài,
tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui. Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của
Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn.
Xướng: Hỡi miêu duệ Áp-ra-ham là tôi tớ của
Ngài, hỡi con cháu Gia-cóp, những người được Ngài kén chọn. Chính Chúa là Thiên
Chúa chúng ta, quyền cai trị của Ngài bao trùm khắp cả địa cầu.
Xướng: Tới muôn đời Ngài vẫn nhớ lời minh
ước, lời hứa mà Ngài đã an bài tới muôn thế hệ, lời minh ước Ngài đã ký cùng
Áp-ra-ham, lời thề hứa Ngài đã thề với I-sa-ác.
Alleluia
Alleluia,
alleluia! – Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về
ngày đó. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 24, 13-35
“Hai
ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh”.
Tin Mừng
Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Lu-ca.
Cùng ngày
thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Em-mau, cách
Giê-ru-sa-lem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa
xảy ra. Ðang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa
Giê-su tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người.
Người hỏi: “Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?”
Một người tên là Cờ-lê-ô-pát trả lời: “Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở
Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày
nay”. Chúa hỏi: “Việc gì thế?” Các ông thưa: “Sự việc liên can đến ông Giê-su
quê thành Na-da-rét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và
ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và
thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập
giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Ít-ra-en. Các việc ấy
đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả
thật đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ
trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người
trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã
nói; còn Người thì họ không gặp”.
Bấy giờ
Người bảo họ: “Ôi kẻ khờ dại, chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Ðấng
Ki-tô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?” Ðoạn Người
bắt đầu từ Mô-sê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời
Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn
đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng
tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn”. Người liền vào với các ông.
Ðang khi
cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai
ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: “Phải
chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta khi Người đi đường đàm đạo
và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?” Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về
Giê-ru-sa-lem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Các vị đó bảo
hai ông: “Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Si-mon”. Hai ông cũng thuật
lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế
nào.
Ðó là lời
Chúa.
Chú giải về Công vụ Tông Đồ 3,1-10
Hôm nay
chúng ta thấy phép chữa lành đầu tiên được thực hiện bởi Phê-rô và Gioan. Qua đó, họ cho thấy công
việc của Chúa Giê-su vẫn đang tiếp diễn trong họ. Việc hai người cùng tham gia
chữa lành cũng cho thấy công việc của Chúa Giê-su đang được thực hiện, không phải
chủ yếu bởi các cá nhân (mặc dù điều đó cũng có thể xảy ra), mà bởi cộng đồng
mà Ngài đã để lại để tiếp tục sứ mệnh của mình.
Đoạn Kinh
Thánh chúng ta đang đọc là phần mở đầu của một đoạn dài hơn với một phép chữa
lành công khai đầy kịch tính, dẫn đến việc một nhóm lớn người tụ tập để nghe Phê-rô rao giảng Tin Mừng. Một số người
Sa-đốc, phản đối những điều được nói về sự sống lại của Chúa Giê-su (người Sa-đốc
phủ nhận bất kỳ sự sống nào sau khi chết), sẽ bắt giữ Phê-rô và Gioan (và dường như cả người được chữa
lành nữa) và đưa ra trước Tòa Công luận. Ngoài ra còn có vấn đề Phê-rô và Gioan giảng dạy công khai trong
Đền thờ—điều mà họ không có thẩm quyền làm. Khi Phê-rô từ chối lùi bước với lý do ông
đang nói với tư cách là một nhà tiên tri, ông và Gioan đáng lẽ phải bị bỏ tù.
Nhưng vì đã chữa lành người đàn ông nổi tiếng là “tật què từ khi sinh ra”—một
phép chữa lành được nhiều người chứng kiến—nên chính quyền chỉ đưa ra lời cảnh
cáo rồi rút lui.
Chúng ta
được biết rằng Phê-rô và Gioan đang trên đường vào Đền thờ ở Giê-ru-sa-lem để dự
lễ cầu nguyện buổi chiều. Ba thời điểm cầu nguyện được quy định trong Do Thái
giáo là giữa buổi sáng (giờ thứ ba, tức 9 giờ sáng), giờ dâng lễ tế buổi tối
(giờ thứ chín, tức 3 giờ chiều), và lúc hoàng hôn. Ở giai đoạn đầu này trong đời
sống của Giáo hội, các môn đệ vẫn duy trì nhiều phong tục và tập quán Do Thái
trước đây của họ. Họ không coi mình là đang đoạn tuyệt với quá khứ, càng không
coi việc thiết lập một tôn giáo mới là điều đáng bàn.
Phê-rô và
Gioan là những người nổi bật nhất trong số các Tông đồ. Cùng với anh trai của
Gioan, Gia-cô-bê, họ tạo thành một nhóm thân cận với Chúa Giê-su (tham dự việc
chữa lành con gái của Giai-a,
chứng kiến Biến hình, được đưa đến để an ủi Chúa Giê-su trong cơn hấp hối của
Ngài trong vườn Ghết-xê-ma-ni). Phê-rô và Gioan sẽ bị bắt cùng nhau, và sau đó
chúng ta sẽ thấy họ truyền giáo ở Sa-ma-ri.
Đối với họ,
Chúa Giê-su là sự tiếp nối và sự hoàn thành những lời hứa của Đức Chúa Trời
dành cho dân Ngài. Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a mà dân Do Thái đã mong đợi từ lâu.
Sau này, chúng ta sẽ thấy họ bắt đầu nhận ra rằng Chúa Giê-su đến không chỉ vì
người Do Thái mà còn vì mọi người ở khắp mọi nơi.
Khi Phê-rô và Gioan vào Đền thờ, họ thấy một
người đàn ông không thể đi lại được đang được bạn bè khiêng vào. Có vẻ như họ
đưa ông đến đây mỗi ngày để ông có thể ngồi ở “Cổng Đẹp” và xin ăn từ những người
qua đường. Cổng này là lối vào ưa thích của sân Đền thờ. Có lẽ đó là cổng bằng
đồng được gọi là Cổng Ni-ca-nô ở nơi khác. Nó dường như dẫn từ Sân Dân Ngoại (mở
cửa cho tất cả mọi người) đến Sân Phụ Nữ, nằm trên bức tường phía đông của tòa
nhà Đền thờ.
Khi người
đàn ông nhìn thấy Phê-rô
và Gioan, ông xin họ tiền. Phê-rô
và Gioan
đều nhìn chằm chằm vào người đàn ông (như Chúa Giê-su thường làm) và Phê-rô nói:
Tôi không có bạc hay vàng, nhưng những
gì tôi có, tôi cho anh; Nhân danh Chúa Giêsu Kitô thành Na-da-rét, hãy đứng dậy
và đi.
Và Phê-rô đỡ ông đứng dậy (một biểu tượng của
sự phục sinh và sự sống mới, cũng được thấy trong các phép chữa bệnh trong Phúc
Âm). Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng việc chữa bệnh không phải do chính Phê-rô thực hiện, mà là nhân danh Chúa
Giêsu. Chính Chúa Giêsu chỉ chữa bệnh nhân danh Ngài.
Người đàn
ông cẩn thận thử đôi chân “mới” của mình, và sau đó được thấy ông chạy vào Đền
thờ, ca ngợi và tạ ơn Chúa vì sự chữa lành của mình. Những người chứng kiến,
nhiều người trong số họ quen biết người đàn ông này, đã sững sờ trước những gì
họ thấy. Phép lạ này có tác động mạnh mẽ: nó tượng trưng cho quyền năng cứu rỗi
của Chúa Kitô và dẫn dắt người đàn ông đã được chữa lành vào Đền thờ, nơi ông
nghe Phê-rô
rao giảng về sự cứu rỗi qua Chúa Giêsu.
Câu chuyện
chỉ rõ rằng quyền năng của Chúa Giêsu, như đã hứa, đã được chuyển giao cho những
người theo Ngài.
Thật vậy, ta nói cùng các ngươi, ai
tin ta cũng sẽ làm những việc ta làm, và thực ra, sẽ làm những việc lớn hơn nữa,
vì ta đi về cùng Cha.
(Gioan 14,12)
Người đàn
ông được chữa lành này cũng có thể được xem như trong những câu chuyện Phúc Âm
khác, tượng trưng cho mỗi người chúng ta. Tất cả chúng ta đều luôn cần sự giúp
đỡ của Chúa, và chúng ta vấp ngã trong nỗ lực bước theo Ngài. Nhưng một khi được
chữa lành, chúng ta lập tức cùng Ngài bước đi trên Con đường của Ngài.
Chú giải về Lu-ca 24,13-35
Bài Phúc
Âm hôm nay là một trong những đoạn Kinh Thánh tuyệt vời của Tân Ước. Chỉ trong
hơn 20 câu, nó gói gọn toàn bộ đời sống Kitô giáo. Khi đoạn Kinh Thánh bắt đầu,
vẫn là Chúa Nhật Phục Sinh. Trong sách Lu-ca, tất cả các sự hiện ra của Chúa
Giê-su sau khi phục sinh đều diễn ra ở vùng lân cận Giê-ru-sa-lem và vào Chúa
Nhật Phục Sinh.
Nó bắt đầu
với hai môn đệ đang trên đường rời khỏi Giê-ru-sa-lem. Đối với Lu-ca, trọng tâm
sứ mệnh của Chúa Giê-su là Giê-ru-sa-lem. Đó là mục tiêu mà toàn bộ cuộc đời
công khai của Chúa Giê-su hướng tới, và từ đó, cộng đồng mới sẽ mang Sứ điệp của
Ngài đến phần còn lại của thế giới.
Họ đang
trên đường đến một nơi gọi là Emmaus, cách Giê-ru-sa-lem khoảng 11 km. Mặc dù vị
trí chính xác hiện nay không được biết, nhưng điều đó không thực sự quan trọng—và
đó chính là điểm mấu chốt. Họ đang ở trên ‘con đường’—họ là những người hành
hương trên con đường đời. Chúa Giê-su là Đường đi. Vấn đề là vào lúc này, họ
đang đi sai hướng.
Chúa
Giê-su Phục Sinh đến cùng họ như một người bạn đồng hành:
…nhưng mắt họ không nhận ra Ngài.
Tại sao vậy?
Có phải họ cho rằng Ngài đã chết? Có phải họ đã có sẵn hình dung về hình ảnh của
Chúa Giê-su?
Thấy vẻ
chán nản và thất vọng rõ rệt của họ, Chúa Giê-su hỏi họ đang nói về điều gì. Với
một sự mỉa mai đầy thú vị, họ nói:
Ông có phải là người lạ duy nhất ở
Giê-ru-sa-lem không biết những điều đã xảy ra ở đó trong những ngày này không?
Chúa
Giê-su tiếp tục hỏi họ một cách hoàn toàn vô tư: “Những điều gì?” Ngài muốn
nghe phiên bản của họ về những gì đã xảy ra. Đối với họ, cái chết là sự thất bại
trong sứ mệnh của Chúa Giê-su. Họ gọi Ngài là một “tiên tri” như thể, sau thảm
kịch cái chết của Ngài, họ không thể thấy trong Chúa Giê-su, Đấng Mê-si-a mà họ đã thừa nhận trước đó.
…chúng tôi đã hy vọng [tiếng Hy Lạp, elpizomen, sperabamus] rằng
Ngài là người sẽ cứu chuộc Ít-ra-en.
Một lần nữa,
sự mỉa mai thú vị trong chính lời nói của họ lại không được họ nhận ra. Đối với
họ, “giải cứu Israel” có nghĩa là giải phóng khỏi ách thống trị của ngoại quốc,
và có lẽ là sự khai mở Vương quốc của Đức Chúa Trời theo cách họ hiểu.
Họ cũng bối
rối trước những câu chuyện về những người phụ nữ mô tả ngôi mộ trống và các
thiên thần—nhưng vẫn không có dấu hiệu nào của Chúa Giê-su. Trớ trêu thay—họ lại
đang nói chính những lời này với Chúa Giê-su!
Sau đó,
Chúa Giê-su dạy họ cách đọc Kinh Thánh, và cho họ thấy rằng tất cả những gì đã
xảy ra với Ngài—bao gồm cả sự đau khổ và cái chết của Ngài—không phải là một bi
kịch, mà hoàn toàn đã được tiền định. Lu-ca là tác giả duy nhất nói rõ ràng về
một Đấng Mêsia
chịu đau khổ. Ý tưởng về một Đấng Mê-si-a chịu đau khổ không được tìm thấy như vậy trong Cựu Ước.
Sau này, Giáo hội sẽ thấy một điềm báo về Đấng Mê-si-a chịu đau khổ trong các đoạn văn về
Người Tôi Tớ Chịu Đau Khổ trong sách I-sai-a.
Câu chuyện
này nhấn mạnh rằng tất cả những gì đã xảy ra với Chúa Giê-su là sự hoàn thành
những lời hứa trong Cựu Ước và những hy vọng của người Do Thái. Xuyên suốt sách
Công Vụ Các Tông Đồ, Lu-ca sẽ lập luận rằng Ki-tô giáo là sự hoàn thành những hy vọng
của Do Thái giáo Pha-ri-sêu và sự phát triển hợp lý của nó. Về nhiều mặt, Phúc
Âm Mátthêu có chủ đề tương tự.
Khi đến
nơi, Chúa Giê-su giả vờ như muốn tiếp tục cuộc hành trình. Tuy nhiên, họ đã tiếp
đón người lạ. Họ nói:
Hãy ở lại với chúng tôi, vì trời đã
gần tối và ngày sắp tàn.
Điều này
vang vọng trong Phúc Âm Mátthêu:
…Ta là người lạ, và các ngươi đã tiếp
đón Ta… (Mt 25,35)
Vậy là
Chúa Giê-su vào ở lại với họ—những lời thật tuyệt vời. Nhưng điều đó sẽ không xảy
ra nếu họ không mở cửa nhà đón Ngài.
Khi họ ngồi
xuống dùng bữa, Chúa Giê-su, vị khách bất ngờ đóng vai trò chủ nhà, cầm lấy
bánh, chúc phúc, bẻ ra và trao cho họ. Và chính trong hành động đó, họ đã nhận
ra Ngài. Đây là Bí tích Thánh Thể, nơi chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa
Giê-su giữa chúng ta trong việc bẻ bánh. Không chỉ trong bánh, mà còn trong việc
bẻ và chia sẻ bánh, và trong những người chia sẻ bánh đã bẻ.
Rồi Chúa
Giê-su biến mất, nhưng họ vẫn còn đắm mình trong dư âm của sự hiện diện đó. Chẳng
phải lòng chúng ta đã bừng cháy khi Ngài nói chuyện với chúng ta trên đường,
khi Ngài giải thích Kinh Thánh cho chúng ta sao?
Dựa trên
những kinh nghiệm đó, họ quay lại (trở nên ngoan đạo!) và quay lại con đường dẫn
đến Giê-ru-sa-lem mà họ đã từng chạy trốn. Ở đó, họ gặp lại các môn đệ của
mình, vui mừng vì Chúa đã sống lại và hiện ra với Si-môn. Và họ kể lại câu chuyện
kỳ diệu của mình và:
…làm thế nào Ngài đã được tỏ ra cho
họ trong việc bẻ bánh.
Tất cả các
yếu tố của đời sống Kitô giáo đều có ở đây:
• Chạy trốn
khỏi nơi có thể tìm thấy Chúa Kitô—chúng ta làm điều đó mọi lúc.
• Gặp Chúa
Giê-su ở nơi, người hoặc hoàn cảnh bất ngờ. Điều này xảy ra bao nhiêu lần và
chúng ta không nhận ra Ngài, hoặc tệ hơn, đối xử tệ bạc với Ngài?
• Tìm thấy
ý nghĩa và danh tính thực sự của Chúa Giê-su và sứ mệnh của Ngài trong việc hiểu
rõ Kinh Thánh. Không có Kinh Thánh, chúng ta không thể nói rằng mình biết Chúa
Giê-su. Tuy nhiên, có bao nhiêu người Công giáo sống cả đời mà hầu như không
bao giờ mở Kinh Thánh ra?
• Nhận biết
Chúa Giêsu trong việc bẻ bánh, trong việc cử hành Thánh Thể. Việc bẻ và chia sẻ
bánh thể hiện chiều kích cộng đồng thiết yếu của chúng ta.
• Buổi lễ đó, biến nó thành một sự “hiệp thông” thực sự với
tất cả những người hiện diện.
• Đáp lại kinh nghiệm trọng tâm của Kinh Thánh và Phụng vụ
bằng cách tham gia vào công việc rao giảng sứ điệp của Chúa Kitô và chia sẻ
kinh nghiệm của chúng ta về điều đó với người khác, để họ cũng có thể chia sẻ
điều đó.
• Nhận ra tầm quan trọng của lòng hiếu khách và lòng tốt
đối với người lạ. “Ta đói… và các ngươi đã/đã không cho ta ăn…” Chúa Giêsu hiện
diện đặc biệt và được tìm thấy và yêu thương trong những người anh chị em bé nhỏ
nhất của ta.
Cảnh tượng này cũng là một hình mẫu của Thánh Lễ:
Những người cùng nhau bước đi trên Đường quy tụ lại và gặp
gỡ Chúa Giêsu. Trước hết, họ gặp Ngài trong Phụng vụ Lời Chúa khi Kinh Thánh được
mở ra và giải thích. Thứ hai, Ngài hiện diện trong Phụng vụ Thánh Thể, nơi những
gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta qua sự đau khổ, cái chết và sự phục sinh của
Ngài được tưởng nhớ với lòng biết ơn. Bánh nay là Mình Thánh Chúa, và rượu nay
là Máu Thánh Chúa, được chia sẻ giữa những người là Chi thể của Mình Thánh Chúa
để củng cố sự hiệp nhất và cam kết của họ trong việc tiếp tục công việc của
Chúa Giêsu.
https://livingspace.sacredspace.ie/e1014g/
Suy Niệm: Trở nên khác biệt
Thiên Chúa
là Đấng Khác, Hoàn Toàn Khác. Vượt mọi tầm hiểu biết của con người. Vượt mọi định
nghĩa, công thức của con người. Vượt mọi ý định thâu tóm của con người. Đó là
kinh nghiệm của các môn đệ sau ngày Chúa Phục Sinh. Đặc biệt với các môn đệ đi
đường Em-maus hôm nay. Quả thật Thiên Chúa Khác Biệt làm nên những khác biệt.
Ai được gặp gỡ với Chúa cũng đều trở nên khác biệt. Hai môn đệ Em-maus gặp được
Chúa đã trở nên khác. Bản thân đổi khác. Buồn bã bỗng biến thành mừng vui. Ê chề
thất vọng bỗng trở thành tràn trề hi vọng. Âm thầm trốn chạy bỗng công khai
quay về.
Bài sách
Công vụ Tông đồ trình bày một Phê-rô hoàn toàn đổi khác. Một người nhút nhát chối
Thầy, nay bỗng công khai rao giảng trong hội đường. Một người trốn tránh nay
thành một chứng nhân kiên cường. Một bác thuyền chài dốt nát nay thành một nhà
giảng thuyết hùng hồn. Nghe ngài nói xong hàng ngàn người xin rửa tội.
Thực ra
Chúa Phục Sinh vẫn hiện diện bên ta. Nhưng làm sao cho sự hiện diện của Chúa trở
nên sống động và cụ thể? Lời Chúa hôm nay hướng dẫn cho ta 3 cách.
Thứ nhất:
Biến hiện diện của Chúa thành sống động và cụ thể bằng cách sốt sắng dâng thánh
lễ. Trình thuật Em-maus chính là một cử hành Thánh Thể. Chúa giải nghĩa Thánh
Kinh. Chúa làm phép và bẻ bánh.
Thứ hai:
Làm cho Chúa hiện diện bằng thực hành bác ái. Chính lòng hiếu khách, sự chia sẻ
huynh đệ, đã giữ chân Chúa ở lại. Nhờ đó các ngài đã thấy Chúa hiển hiện cụ thể
sống động trước mặt các ngài.
Thứ ba:
Thánh Phê-rô, siêu thoát tất cả những giá trị trần gian, để chỉ có Chúa Phục
Sinh ngự trong ta như thánh nhân nói: Tình, tiền, tài thì tôi không có. Nhưng
tôi chỉ có Chúa Giê-su trong tôi. Khi ngài không có gì hết, sức mạnh của Chúa
hoạt đông, chữa lành người què bẩm sinh.
Xin cho tất
cả chúng ta được Chúa Phục Sinh làm cho nên khác biệt. Cho chúng ta biết dâng
thánh lễ sốt sắng như chính Chúa Giê-su dâng lễ. Biết có lòng hiếu khách, bác
ái chia sẻ như hai môn đệ Em-maus. Biết siêu thoát của cải danh vọng chức quyền
như thánh Phê-rô. Để biến sự hiện diện của Chúa Phục Sinh thành cụ thể và sống
động. Thế giới hôm nay như người què đang cần Chúa Phục Sinh đến chữa lành để
có thể bước đi trên con đường ngay chính và hạnh phúc.
(TGM Giuse
Ngô Quang Kiệt)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét