Trang

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

12.04.2026: CHÚA NHẬT II PHỤC SINH năm A - KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

 12/04/2026

 CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH năm A.

 KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA.

 


Bài Ðọc I: Cv 2, 42-47

“Tất cả mọi kẻ tin, đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi ấy, các anh em bền bỉ tham dự những buổi giáo lý của các Tông đồ, việc thông hiệp huynh đệ, việc bẻ bánh và cầu nguyện. Mọi người đều có lòng kính sợ. Vì các Tông đồ làm nhiều việc phi thường và nhiều phép lạ tại Giêrusalem, nên mọi người đều sợ hãi. Tất cả mọi kẻ tin đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ bán tài sản gia nghiệp, rồi phân phát cho mọi người tuỳ nhu cầu từng người. Hằng ngày họ hợp nhất một lòng một ý cùng nhau ở trong đền thờ, bẻ bánh ở nhà, họ dùng bữa cách vui vẻ đơn sơ; họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân mến chuộng. Hằng ngày Chúa cho gia tăng số người được cứu rỗi.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 117, 2-4. 13-15. 22-24

Ðáp: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”. Hỡi nhà Aaron, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”. Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”.

Xướng: Tôi đã bị đẩy, bị xô cho ngã xuống, nhưng Chúa đã phù trợ tôi. Chúa là sức mạnh, là dũng lực của tôi, và Người trở nên Ðấng cứu độ tôi. Tiếng reo mừng và chiến thắng vang lên trong cư xá những kẻ hiền nhân. Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt.

Xướng: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó.

 

Bài Ðọc II: 1 Pr 1, 3-9

“Nhờ việc Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả, nhờ việc Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống, được hưởng gia nghiệp không hư nát, tinh tuyền, không suy tàn, dành để cho anh em trên trời. Anh em được bảo vệ trong quyền năng của Thiên Chúa, nhờ tin vào sự cứu độ đã được mạc khải trong thời sau hết. Lúc đó anh em sẽ vui mừng, tuy bây giờ anh em phải sầu khổ một ít lâu giữa trăm chiều thử thách, để đức tin anh em được tôi luyện, nên quý hơn vàng được thử lửa bội phần, nhờ đó, anh em được ngợi khen, vinh quang và vinh dự khi Ðức Giêsu Kitô hiện đến. Anh em yêu mến Ngài, dù không thấy Ngài, và anh em tin Ngài, dù bây giờ anh em cũng không thấy Ngài; bởi anh em tin, anh em sẽ được vui mừng vinh quang khôn tả, vì chắc rằng anh em đạt tới cứu cánh của đức tin là phần rỗi linh hồn.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”. – Alleluia.

 

PHÚC ÂM: Ga 20, 19-31

“Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: “Bình an cho các con”. Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: “Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”. Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ðiđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa”. Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin”.

Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: “Bình an cho các con”. Ðoạn Người nói với Tôma: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”. Tôma thưa rằng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Chúa Giêsu nói với ông: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”.

Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Công vụ Tông Đồ 2,42-47; 1 Phê-rô 1,3-9; Gioan 20,19-31

Trong Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa này—Chúa nhật đầu tiên sau lễ Phục Sinh—trọng tâm là đức tin vào sự hiện diện và quyền năng của Chúa Giêsu hằng sống giữa chúng ta. Về Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói:

Đây là thời điểm chúng ta được chúc phúc bởi lòng thương xót của Chúa khi lòng thương xót ấy đến với chúng ta qua trái tim của Chúa Kitô chịu đóng đinh.

Chúa Giêsu Phục Sinh giờ đây sống trong cộng đồng tin vào Ngài. Các Tông đồ được ban cho cùng những quyền năng mà Chúa Giêsu đã có trong suốt cuộc đời Ngài trên trần gian:

Mọi người đều kinh sợ vì nhiều phép lạ và dấu kỳ được thực hiện bởi các tông đồ.

 

Công việc của Chúa Giêsu vẫn tiếp tục

Bài đọc thứ nhất cho chúng ta biết cộng đồng các môn đệ đã sống như thế nào:

Hàng ngày, họ dành nhiều thời gian cùng nhau trong đền thờ, họ bẻ bánh tại nhà và ăn uống với lòng vui vẻ và quảng đại, ca ngợi Chúa và được mọi người yêu mến. Và hàng ngày, Chúa thêm vào số họ những người được cứu rỗi.

Người dân từ các thị trấn xung quanh Giê-ru-sa-lem kéo đến ồ ạt, mang theo những người bệnh và những người bị quỷ ám—và tất cả đều được chữa lành. Đây là bằng chứng sống động cho thấy Chúa Giê-su đang hoạt động và tiếp tục công việc cứu rỗi và chữa lành của Ngài giữa chúng ta, vì các môn đệ làm những việc này—không phải nhân danh chính mình, mà nhân danh Chúa Giê-su, Chúa của họ.

Bài đọc thứ hai cho thấy sức mạnh của đức tin các Tông đồ khi họ rao giảng sứ điệp về Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế và mời gọi mọi người gia nhập cùng họ. Như chúng ta sẽ học được từ các bài đọc sau trong tuần này, chúng ta biết rằng quả thật đã có nhiều người đến. Nhưng cũng có câu nói đáng chú ý này:

Không ai trong số những người còn lại dám gia nhập cùng họ, nhưng dân chúng rất kính trọng họ. (Công vụ Tông Đồ 5,13)

Có lẽ đây là một gợi ý về sự phản bác của các tín hữu Kitô giáo thời kỳ đầu khi họ đã bị các nhà chức trách tôn giáo và dân sự nghi ngờ và khi việc bị nhận diện là thuộc về họ trở nên nguy hiểm? Họ là một nhóm người đáng ngưỡng mộ, nhưng từ một khoảng cách an toàn. Đó là một dấu hiệu khác cho thấy những người theo Chúa thời kỳ đầu có thể sẽ chung số phận với chính Chúa Giê-su. Những phản ứng trái chiều—điều dễ hiểu

Mọi thứ không thay đổi nhiều trong thời đại chúng ta. Bởi vì chính qua cộng đồng Kitô giáo và lời chứng của cộng đồng mà mọi người biết đến Chúa Giê-su và được dẫn đến đức tin vào thông điệp chân lý và sự sống của Ngài. Đó là lời chứng đặt trên vai mỗi người theo Chúa Giê-su và chúng ta làm điều đó không chỉ bằng những hành động tôn giáo rõ ràng, mà còn bằng chính khuôn mẫu và tác động của cuộc sống hằng ngày. Một tác động khơi dậy cả những phản ứng tích cực và tiêu cực.

Tuy nhiên, Phúc Âm đưa chúng ta trở lại giai đoạn trước đó khi các môn đệ chưa hoàn toàn nhận ra rằng Chúa Giê-su, người mà họ đã thấy bị đóng đinh, chết và chôn cất, nay đã sống lại. Khi Phúc Âm bắt đầu, chúng ta thấy họ tụm lại trong căn phòng đó với những cánh cửa khóa chặt “vì sợ người Do Thái”. Bất cứ lúc nào họ cũng lo sợ cảnh sát sẽ đến bắt giữ họ vì tội đồng lõa với kẻ lật đổ nguy hiểm đã bị hành quyết trên đồi Golgotha ​​vào thứ Sáu tuần trước.

 

Bình an thay vì sợ hãi

Và rồi, đột nhiên, Chúa Giê-su mà họ cho là đã chết đang đứng giữa họ. Ngài phán:

Bình an cho các con.

Lời chào đó có thể được hiểu như một lời chúc phúc, vang vọng lời chào thông thường của người Do Thái, Shalom. Hoặc nó có thể được hiểu như một lời khẳng định sự thật—sự hiện diện của Ngài giữa họ mang lại sự bình an sâu sắc trong tâm hồn. Đó là sự bình an giống như khi Chúa Giê-su làm dịu những cơn bão xung quanh trong các câu chuyện Phúc Âm. Và đối với họ cũng có một niềm vui khôn tả khi được nhìn thấy Chúa (‘Chúa’ là danh hiệu dành cho Chúa Giê-su Phục Sinh).

Nhưng đó không chỉ là một cuộc hội ngộ hạnh phúc. Còn có công việc phải làm, công việc mà Chúa Giê-su đã bắt đầu và họ phải tiếp tục.

Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con.

Họ đang được giao một sứ mệnh. Từ ‘sứ mệnh’ xuất phát từ tiếng Latinh ‘sai đi’ (mittere). Tất cả những người theo Chúa Giê-su đều có một sứ mệnh và là những nhà truyền giáo.

 

Truyền ban Thánh Thần

Ngài hà hơi trên họ, phán rằng:

Hãy nhận lấy Thánh Thần.

Trong Phúc Âm Gioan, đây là kinh nghiệm Lễ Ngũ Tuần khi Thánh Linh giáng xuống trên các môn đệ. Trong sách Công Vụ Các Tông Đồ của Lu-ca, Lễ Ngũ Tuần diễn ra 50 ngày sau khi Chúa phục sinh; đối với Gioan, nó diễn ra vào ngày Lễ Phục Sinh. Sự khác biệt rõ ràng này không tạo ra sự khác biệt—ý nghĩa vẫn như nhau.

Những gì Chúa Giê-su làm gợi nhớ đến câu chuyện Sáng Tạo khi Đức Chúa Trời “hà hơi” trên mặt nước và mang lại sự sống và trật tự cho sự hỗn loạn. Ngài “hà hơi” một lần nữa và A-đam, con người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, đã sống lại. Giờ đây, Chúa Giê-su “hà hơi” Thánh Linh của Đường Lối, của Chân Lý và Sự Sống của Ngài, làm cho các môn đệ (theo cách nói của Phao-lô) trở thành “những con người mới”, đầy dẫy Thánh Linh của Cha và của Chúa Giê-su.

 

Ý nghĩa của sự tha thứ

Quyền năng đầy quyền năng của Chúa Giê-su được truyền cho họ:

Nếu các ngươi tha tội cho ai, thì tội ấy được tha; nếu các ngươi giữ lại tội của ai, thì tội ấy bị giữ lại.

Khi họ cùng nhau hành động nhân danh Chúa Giê-su, họ có thẩm quyền của Ngài. Và trên hết, nhiệm vụ của họ là ‘tha tội’, nghĩa là mang lại sự hòa giải sâu sắc giữa con người và Thiên Chúa, giữa con người với nhau, để làm cho tất cả trở nên một trong Ngài.

Phúc cho những người kiến ​​tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa. (Mát-thêu 5,9)

Ở đây chúng ta không chỉ nói về ‘sự xưng tội’, việc thiết lập Bí tích Hòa giải, mặc dù nguồn gốc của nó có thể được truy tìm đến cuộc gặp gỡ này. Tha tội không chỉ là một hành động pháp lý tuyên bố rằng tội lỗi không còn chống lại ai đó nữa. Nó bao gồm việc chữa lành những vết thương và sự chia rẽ giữa Thiên Chúa và con người, và giữa con người với nhau như anh chị em trong một gia đình dựa trên chân lý, tình yêu và công lý. Đó là công việc của Nước Trời. Đó là công việc của mỗi cộng đồng Kitô giáo và mỗi thành viên trong đó.

 

Người nghi ngờ

Nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc:

Tô-ma (người được gọi là người song sinh), một trong mười hai môn đồ, đã không ở cùng họ khi Chúa Giê-su đến.

Tôma đại diện cho người hoài nghi trong mỗi chúng ta, và nói:

Nếu tôi không thấy… tôi sẽ không tin.

Nhìn chung trong câu chuyện Phúc Âm, Tôma có vẻ là một người hay càu nhàu. Ông thích chỉ trích, phản đối, gây khó khăn, đặt câu hỏi. Giờ đây, ông muốn có bằng chứng thuyết phục.

Nếu tôi không thấy dấu đinh trên tay Ngài và đặt ngón tay vào dấu đinh đó, và đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài, tôi sẽ không tin.

Chủ nhật tuần sau—Chủ nhật mà chúng ta đang cử hành hôm nay—các cánh cửa lại được đóng lại. Có lẽ lần này không phải vì sợ hãi, mà là một dấu hiệu cho thấy Chúa Giêsu Phục Sinh đang hiện diện. Một lần nữa, có lời chào hỏi trấn an “Bình An”, và Tôma được nói trực tiếp:

Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây và xem tay Ta. Hãy đưa tay ngươi ra và đặt vào cạnh sườn Ta. Đừng nghi ngờ mà hãy tin.

 

Lời tuyên xưng đức tin phi thường

Tiếp theo là lời tuyên xưng đức tin vĩ đại nhất trong tất cả các Phúc Âm khi Tôma nói:

Lạy Chúa tôi và Thiên Chúa của tôi!

Tô-ma đã được mời chạm vào các vết thương, nhưng dường như ông đã không làm vậy. Và tiếng kêu nhận biết của ông không chỉ dựa trên bằng chứng từ các giác quan. Ông không nói, “Chúa Giê-su, chính Ngài!”, mà là, “Chúa tôi và Đức Chúa Trời của tôi!”. Thực tế, đó là một hành động đức tin sâu sắc vào sự hiện hữu và danh tính của Đấng đang đứng trước mặt ông. Và đó là điều ông không thể nhìn thấy chỉ bằng các giác quan vật lý. Chỉ có con mắt đức tin mới có thể dẫn ông đến lời nói như vậy.

Tuy nhiên, một lời khích lệ nữa được dành cho những người trong chúng ta chưa có được kinh nghiệm đặc ân như Tô-ma:

Phúc cho những người không thấy mà vẫn tin.

Dĩ nhiên, mọi niềm tin vào Chúa Giê-su đều bao gồm một yếu tố nhìn thấy, của sự thấu hiểu. Nhưng chúng ta chưa có kinh nghiệm nhìn thấy và biết Chúa Giê-su trong đời sống công khai của Ngài—Chúa Giê-su trước khi bị đóng đinh.

Tuy nhiên, đức tin của chúng ta cho phép chúng ta nhìn thấy Ngài trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là trong những người tràn đầy Thánh Linh của Ngài và mang Ngài vào cuộc sống của chúng ta. Và chúng ta cũng thấy và tìm thấy Ngài trong tất cả những người bệnh tật, yếu đuối, bị áp bức, nghèo khổ xung quanh chúng ta, những người mang đến cho chúng ta cơ hội để biết, yêu thương và bày tỏ lòng thương xót đối với Chúa Giê-su. Chúng ta thậm chí còn phải thấy Ngài trong những người thù địch hoặc làm hại chúng ta, theo nghĩa là chúng ta được thách thức phải trở thành hiện thân của Chúa Kitô đối với họ bằng tình yêu thương vô điều kiện và sự quan tâm đến hạnh phúc của họ.

 

Phá vỡ rào cản

Để thấy và biết Chúa Giê-su trong cuộc sống của chúng ta, đồng thời, cũng là để nhận ra Ngài đến với chúng ta ở đâu, và sau đó sẵn sàng cho những cơ hội hàng ngày khi chúng ta có thể mang Ngài vào cuộc sống của người khác. Trên hết, liệu chúng ta có thể trung thành với sứ mệnh mà Chúa Giê-su đã giao cho các môn đệ của Ngài là trở thành những công cụ hòa giải, là những người kiến ​​tạo hòa bình, phá bỏ những bức tường của hận thù, định kiến ​​và sợ hãi? Chúng ta làm điều này bằng cách sống một cuộc sống chính trực, yêu thương và thương xót, công lý thực sự cho tất cả mọi người. Bất cứ khi nào chúng ta làm điều đó, Lễ Phục Sinh được cử hành và Chúa Giê-su sống động giữa chúng ta.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/ea021/

 

 


.Dấu chứng Phục Sinh  

“Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài, tôi chẳng có tin”. Đó là thách thức của tông đồ Tôma. Đó cũng là đòi hỏi của con người khoa học thực nghiệm ngày nay: phải thấy, phải đụng chạm, phải kiểm nghiệm được mới tin.

Ngày 23 thánh 9 năm 1968, cha Piô, linh mục nổi tiếng dòng Capucinô đã qua đời trong một tu viện tại Italia. Suốt 50 năm cha Piô mang năm dấu thánh, nghĩa là trên hai tay, hai chân và ngực ngài được in năm vết thương của Chua Giêsu. Những vết thương mà Chúa Phục Sinh đã tỏ cho ông Tôma tông đồ trong Tin Mừng hôm nay. Nhiều người trên khắp thế giới đã đến xưng tội với vị linh mục thánh thiện này và tham dự thánh lễ cha cử hành. Khi cha Piô dâng lễ, cả ngài và dân chúng đều nhận thức rõ ràng ngài mang trên thân thể ngài những dấu thương tích mà Chúa đã chịu trên thập giá, những vết thương làm cha đau đớn khôn tả. Thỉnh thoảng những giọt máu rỉ ra trên tay cua cha, hai tay chỉ để trần khi dâng lễ. Lúc khác, hai tay ngài được bao lại trong đôi gang tay màu nâu. Khi dâng lễ, ngài thường gồng như một người vác thập giá. Ngài thường khóc khi nhìn thánh Thể, mặt ngài như thiên thần, nhưng người có mặt cảm thấy bình an.

Với một số người, câu chuyện của cha Piô coi như chuyện đạo đức giả tưởng ở thời Trung cổ. Nhưng thực ra đây là một con người của Chúa sống trong thế kỷ của chúng ta. Hằng trăm ngàn người thuộc đủ mọi tín ngưỡng hay không tín ngưỡng đã thấy tận mắt, đã đến thăm viếng ngài. Ngài cũng chịu đủ mọi khám nghiệm y khoa cũng như khoa học. Tất cả đều chứng minh rằng không có lối giải thích tự nhiên nào đối với các vết thương trên cơ thể ngài. Và cũng không có cách nào chữa trị được.

Chúa chọn vị linh mục thánh thiện này để chia sẻ nỗi khổ thể xác của Con Chúa. Để làm cho sự chia sẻ này hiển nhiên hơn, xúc động hơn, Chúa đã để cho xuất hiện những vết thương trên thân xác cha Piô. Và trong lịch sử đã có hàng trăm người khác cũng đã được in dấu thánh, đặc biệt là cha Thánh Phanxicô thành Assisi, để họ trở nên những nhân chứng sống động cho cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Đức Ktô.

Chúa Kitô Phục Sinh là một Tin Mừng, nhưng là một Tin Mừng không dễ tin, đặc biệt đối với những người theo Chúa, như các tông đồ. Nguyên sự kiện ngôi mồ trống không đủ bằng chưng để họ tin. Cần phải có những lần hiện ra của Chúa Giêsu mới củng cố được lòng tin của các ông. Thánh Gioan đã ghi lại câu chuyện Chúa hiện ra cho các tông đồ và cho Tôma là để chúng ta tin. Thế nhưng, trong những lan hiện ra đó, cái gì đã giúp cho những người thân của Chúa Giêsu nhận ra Ngài? Có thể là một tiếng gọi (với Maria), một cử chỉ bẻ bánh (với hai môn đệ Emmau) hoặc cũng có thể là một phép lạ xẩy ra theo lệnh truyền của Chúa (như mẻ cá đầy ở biển hồ Tibêria), nhưng đặc biệt là những thương tích nơi tay chân và cạnh sườn của Ngài. Ông Tôma đã thưa cùng với Chúa: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con” khi Chúa Giêsu cho ông thấy những dấu đinh của cuộc khổ nạn trên thân thể Ngài và nói với ông những lời không thể ngờ được: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin!”.

Như thế, dấu chỉ để người nhận ra Chúa Phục Sinh không phải là vinh quang chói lọi hay cái gì khác, mà là chính dấu đinh. Nếu chính Đứng Phục Sinh vinh hiển đã không muốn dùng vinh quang và sức mạnh chiến thắng của mình mà khuất phục thế gian, thì phương chi là chúng ta. và nếu Chúa đã muốn dùng những dấu đinh nơi chân tay và cạnh sườn làm những dấu chứng phục sinh, thì mỗi người chúng ta cũng không có dấu chỉ nào ý nghĩa hơn là những vết thương của các cuộc khổ nạn mà chúng ta có thể đã, đang và sẽ còn chia sẻ với Chúa. Chính với những dấu chỉ này mà chúng ta có thể làm chứng cho Chuá Phục Sinh một cách sống động nhất. Từ hơn 2000 năm nay, Thánh giá mới thực sư là biểu hiện vinh quang, và dấu đinh mới là dấu chỉ của Chúa Phục Sinh. Hãy nhận ra Chúa nơi năm dấu thánh, chứ không phải trong ánh hào quang. Chúa Kitô thực sự là “người” khi “đầu đội vòng gai, mình mặc áo đỏ” (Ga 19,5) nghĩa là khi Ngài bị đánh đập sỉ vả; Ngài thực sự là “Chúa” khi bị đóng đinh trên thập giá. Ngày nay Ngài cũng vẫn đang hiện diện giữa chúng ta như là “người” và là “Chúa” trong những người anh em bị đau khổ, bị ngược đãi, sỉ nhục, bị tù đày, tra tấn, bị đói khát, trần truồng, bị chối bỏ, bị giết vì tình yêu Thiên Chúa và tình yêu nhân loại.

Nhưng thưa anh chị em,

Giáo hội nói chung và mỗi người tín hữu chúng ta nói riêng có sẵn sàng mang dấu tích của Chúa Phục Sinh, có sẵn sàng trở nên khí cụ bình an của Chúa hay không? Nói khác đi, chúng ta có sẵn sàng chịu đau khổ, chịu đóng đinh để làm chứng cho Chúa Phục Sinh không? Có sẵn sàng hoà giải nhân loại với Chua, hoà giải nhân loại với nhau, bằng những hy sinh và cả giá máu mà chúng ta phải sẵn sàng đổ ra hay không?

Con người ngày nay không dễ tin. Họ cũng đòi hỏi như ông Tôma, phải được trông thấy, phải được kiểm nghiệm, phải có dấu chứng khả giác mới chịu tin. Chúng ta có nghiệm vụ trình bày cho họ thấy rõ khuôn mặt thật của Chúa Phục Sinh. Làm sao họ có thể nhận ra khuôn mặt của Chúa Giêsu, nếu họ không nhìn thấy những vết thương, những chứng tích của Chúa Kitô đóng đinh nơi tay chân, nơi thân xác, nơi cuộc sống cuả người Kitô hữu? Làm sao họ có thể tin được, nếu họ không thấy chứng tích của những bàn tay chai cứng vì lao động, của những khuôn mặt đẫm mo hôi vì phục vụ, của những cuộc đời xả thân hy sinh cho tha nhân? Làm sao có thể tin được, nếu họ không thấy dấu chứng của cộng đoàn Kitô hữu tương tự như cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi ở Giêrusalem sau ngày Chúa Phục Sinh theo sách Công vụ mô tả: “Những kẻ tin, muôn người như một, chuyện cần với lời giảng dạy của các tông đồ, hiệp nhất và cùng chung lo cho người nghèo khó bằng cách để chung tiền của, họ đồng tâm nhất trí chia sẻ bánh thánh và cầu nguyện”. Đời sống chứng tá đó đã thu hút những người không tin, nên “số những người tin Chúa mỗi ngày càng thêm đông” (X. Cv 4,32-35; 2,42-47). Đó chính là chứng tích của tình yêu. Con người ngày nay cũng đang đòi kiểm nghiệm những chứng tích tình yêu của cộng đoàn Kitô hữu chúng ta. Đạo của anh là đạo tình yêu ư? Xin đừng nói nhiều, hãy cho tôi xem những chững chứng tích tình yêu của anh đi!

Ước gì mỗi người chúng ta đều mang những chứng tích tình yêu của Chúa Kitô đóng đinh trên tay chân, trên thân xác, trong cuộc sống… để chia sẻ với Chúa Giêsu những vết thương của các cuộc khổ nạn đang diễn ra trên thế giới ngày nay, nhờ đó chúng ta mới có the làm chứng cho chiến thắng vinh quang của Chúa Kitô Phục Sinh.

‘Niềm Vui Chia Sẻ’

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét