29/04/2026
Thứ Tư tuần 4 Phục Sinh.
Thánh Catarina Siena, Trinh
nữ, Tiến sĩ Hội Thánh
Lễ Nhớ
Bài Ðọc I: Cv 12, 24 – 13, 5a
“Hãy dành Saolô và Barnaba riêng cho Ta”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, lời Chúa được lan rộng và tiến triển. Nhưng Barnaba
và Saolô, sau khi hoàn tất sứ mạng, đã rời Giêrusa-lem, đem theo Gioan cũng gọi
là Marcô.
Bấy giờ trong Hội Thánh Antiôkia có những tiên tri và tiến sĩ, trong số
đó có Barnaba, Simon cũng gọi là Nigê, Luxiô người thành Xyrênê, Manahê bạn của
vua Hêrôđê lúc còn thơ ấu, và Saolô. Ðang khi các ông làm việc thờ phượng Chúa
và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo các ông rằng: “Hãy để riêng Saolô và
Barnaba cho Ta, để làm công việc mà Ta đã chỉ định”. Vậy sau khi ăn chay cầu
nguyện, họ đặt tay trên hai ông và tiễn đưa hai ông lên đường.
Ðược Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêucia, rồi từ đó vượt biển sang
Cyprô. Khi đến Salamina, hai ông rao giảng lời Chúa trong các hội đường
Do-thái.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 66, 2-3. 5. 6 và 8
Ðáp: Chư dân,
hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài
Hoặc đọc:
Alleluia.
Xướng: Xin
Thiên Chúa xót thương và chúc phúc lành cho chúng con, xin chiếu giãi trên
chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối
của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ.
Xướng: Các dân
tộc hãy vui mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản
các nước địa cầu.
Xướng: Chư dân,
hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài. Xin Thiên
Chúa chúc phúc lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ
Ngài.
Alleluia
Alleluia, alleluia! – Chúa Kitô đã sống lại và chiếu soi chúng ta, là những
kẻ Người đã cứu chuộc bằng máu của Người. – Alleluia.
Phúc Âm: Ga 12, 44-50
“Ta là sự sáng đã đến thế gian”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu lớn tiếng nói rằng: “Ai tin vào Ta thì không phải là
tin vào Ta, nhưng là tin vào Ðấng đã sai Ta. Và ai thấy Ta là thấy Ðấng đã sai
Ta. Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở
trong sự tối tăm. Nếu ai nghe lời Ta mà không tuân giữ, thì không phải chính Ta
xét xử người ấy, vì Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu độ
thế gian. Ai khinh dể Ta, và không chấp nhận lời Ta, thì đã có người xét xử: lời
Ta đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. Bởi vì Ta đã không tự mình nói
ra, nhưng Cha là Ðấng sai Ta, chính Người đã ra lệnh cho Ta phải nói gì và phải
công bố gì. Và Ta biết rằng lệnh của Người là sự sống đời đời. Những điều Ta
nói, thì Ta nói theo như Cha đã dạy”.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về Công vụ Tông đồ 12,24 – 13,5
Sách Công vụ Tông đồ mô tả ba chuyến truyền giáo vĩ đại của
Phao-lô, và hôm nay chúng ta thấy sự khởi đầu của chuyến thứ nhất. (Nhân tiện, ở
giai đoạn này ông vẫn được gọi là ‘Sao-lô’. Việc đổi tên thành ‘Phao-lô’ được
ghi nhận vài câu sau khi kết thúc bài đọc hôm nay—xem Công vụ Tông Đồ 13,9.)
Sao-lô và Ba-na-ba vừa trở về An-ti-ô-khi-a từ
Giê-ru-sa-lem, nơi họ đã mang hàng cứu trợ đến cho anh chị em ở Giê-ru-sa-lem
đang chịu nạn đói. Sự tương trợ lẫn nhau giữa anh em trong lúc thiếu thốn là một
yếu tố thiết yếu của đời sống cộng đồng Ki Tô. Đây chắc chắn là điều Phúc Âm muốn nói khi Chúa Giê-su bảo
các Tông đồ rằng, sau khi bỏ mọi sự vì Ngài, họ sẽ tìm thấy gấp trăm lần mẹ,
anh em, chị em, nhà cửa… trong một cộng đồng Ki Tô đích thực, sẽ không ai thiếu thốn.
Họ mang theo Gioan Mác-cô. Có phải ông là chàng thanh niên đã chạy trốn trần truồng vào
đêm Chúa Giê-su bị bắt trong vườn Ghết-xê-ma-ni (Mác-cô 14,51-52) không? Việc viết Phúc Âm thứ
hai được cho là do ông thực hiện, và ông đã cùng Ba-na-ba và Sao-lô tham gia một phần chuyến
truyền giáo đầu tiên của họ.
Ngày nay, chúng ta cũng được biết đến một số người trong hội
thánh tại An-ti-ô-khi-a được
mô tả là “tiên tri” và “thầy dạy”.
Hai thuật ngữ này có ý nghĩa rất cụ thể trong Tân Ước và đề cập đến những “ân tứ”
(tiếng Hy Lạp, charis – nghĩa là những
ân tứ thiêng liêng cụ thể) mà một số người được ban cho. Nó không xác định rõ
trong nhóm nào là ai, mặc dù có thể có sự chồng chéo. Tuy nhiên, hai vai trò
này thường được coi là những ân tứ riêng biệt. Vai trò của tiên tri là có cái
nhìn sâu sắc hơn về nơi Chúa đang kêu gọi cộng đồng phục vụ. Tiên tri là người
có tầm nhìn và là người tiên phong, dẫn dắt con đường đến những cách thức mới để
rao giảng Phúc Âm.
Mặt khác, ân tứ của “thầy dạy” (tiếng Hy Lạp, didaskalos
– từ đó mà từ “didactic” được bắt nguồn)
là khả năng hướng dẫn người khác về các vấn đề đạo đức và giáo lý – sự hướng dẫn
thường dựa trên Kinh Thánh. Vai trò của người thầy là truyền đạt truyền thống
chung trong cộng đồng. Người thầy gìn giữ và truyền dạy. Phao-lô, theo một cách
nào đó, có cả hai ân tứ, nhưng ông đúng hơn là một nhà tiên tri theo nghĩa đã
được mô tả. Ông là người đổi mới vĩ đại, trái ngược với Phê-rô, người giữ gìn truyền thống.
Năm vị tiên tri và thầy dạy được nêu tên ở đây—Ba-na-ba, Si-mê-ôn gọi là Đen, Lu-ki-ô người xứ Ky-rê-nê,
Manaen (một người bạn của tiểu vương
Hê-rô-đê) và Sao-lô—hiện đại diện cho cơ quan lãnh đạo của Giáo hội
An-ti-ô-khi-a. Tất cả dường như đều là người Do Thái nói tiếng Hy Lạp, chịu ảnh
hưởng văn hóa Hy Lạp, và có thể các tên được liệt kê theo thứ tự quan trọng với
Ba-na-ba đứng đầu và Sao-lô ở
vị trí cuối cùng. Có vẻ như ông vẫn đang trong thời gian thử việc.
Đột nhiên, trong lời cầu nguyện và ăn chay chung, cộng đồng
nhận ra rằng Đức Chúa Trời đang kêu gọi Ba-na-ba và Sao-lô cho một công việc truyền giáo đặc biệt. Chuyến
hành trình truyền giáo đầu tiên của Phao-lô không xuất phát từ sáng kiến của
riêng ông, mà là sự đáp lại lời kêu gọi của Thánh Linh được bày tỏ khi cộng đồng
cầu nguyện và ăn chay. Sau đó, như một dấu hiệu của sứ mệnh, tất cả mọi người đặt
tay lên hai nhà truyền giáo. Họ phải đi rao giảng nhân danh cộng đồng đã phái họ
đi.
Về những chuyến đi sắp tới của Phao-lô và các bạn đồng hành,
nên trong những ngày tới, người ta khuyên nên tham khảo bản đồ, thường có trong
những cuốn Kinh Thánh tốt hoặc trên nhiều trang web Kinh Thánh, để theo dõi lộ
trình của ba chuyến truyền giáo và xem chính xác những địa điểm được đề cập nằm
ở đâu.
Họ khởi hành bằng cách đi xuống Xê-lêu-ki-a và từ đó đến Sýp (Ba-na-ba đến từ Sýp).
Xê-lêu-ki-a là cảng biển của An-ti-ô-khi-a, cách cửa sông
Orontes 27 km về phía tây và 8 km về phía thượng nguồn. Có rất nhiều người Do
Thái trên đảo và Phúc Âm đã được rao giảng ở đó.
Họ đổ bộ xuống Xa-la-min,
một thị trấn trên bờ biển phía đông của đồng bằng trung tâm Sýp, gần Famagusta ngày nay. (Không nên nhầm
lẫn thị trấn này với địa điểm nổi tiếng hơn ở Hy Lạp, nơi người Hy Lạp đã giành
được chiến thắng đáng kể trước người Ba Tư.)
Mục tiêu đầu tiên của hai nhà truyền giáo là các hội đường
Do Thái. Điều này sẽ trở thành khuôn mẫu cho tất cả các chuyến hành trình truyền
giáo. Ý tưởng luôn là tiếp cận người Do Thái trước tiên dựa trên nguyên tắc rằng
họ có quyền ưu tiên nghe Phúc Âm. Chỉ sau khi họ từ chối chấp nhận thông điệp,
Phaolô mới quay sang những người ngoại đạo địa phương. Từ những bài đọc hôm
nay, chúng ta có thể tự hỏi:
• Tôi đã giúp đỡ những người cần giúp đỡ trong cộng đồng của
mình về mặt tinh thần và vật chất đến mức nào?
• Tôi có phải là một người thầy hay một nhà tiên tri trong cộng
đồng của mình không? Hay tôi có ân tứ nào khác mà nhờ đó tôi đóng góp vào sự thịnh
vượng của cộng đồng?
• Tôi đã truyền bá Tin Mừng trong môi trường xung quanh mình
bằng những cách nào? Tôi có được biết đến là một Kitô hữu tận tâm và chu đáo
không?
Chú giải về Gioan 12,44-50
Hôm nay chúng ta đến phần cuối của “Sách các dấu lạ” (chương
1-12) trong Phúc Âm Gioan. Qua bảy dấu lạ này, Chúa Giê-su đã chỉ rõ Ngài là ai
và sứ mệnh của Ngài là gì.
Đoạn Kinh Thánh hôm nay là sự tóm tắt lại tất cả những gì đã
được nói trong “Sách các dấu lạ”. Kinh Thánh nói rằng Chúa Giê-su “kêu lớn” và
nói. Điều này nhấn mạnh thêm điều Chúa Giê-su đang rao giảng. Đó một lần nữa là
lời kêu gọi tin vào Chúa Giê-su, trong đó “tin vào” có nghĩa là nhiều hơn là chỉ
chấp nhận sự thật trong lời Ngài. Nó ngụ ý rằng cũng có một sự cam kết cá nhân
đối với Chúa Giê-su và sứ mệnh của Ngài.
Và tin vào Chúa Giê-su cũng có nghĩa là tin, là hoàn toàn
phó thác bản thân cho Đấng đã sai Ngài đến – Đức Chúa Cha. Xuyên suốt Phúc Âm
này, Chúa Giê-su nhấn mạnh sự không thể tách rời của Đức Chúa Cha và Đức Chúa
Con.
Ta đã đến thế gian như
ánh sáng, để ai tin Ta thì không còn ở trong tối tăm nữa.
Câu nói này hàm ý sự hiện hữu từ trước của Chúa Giê-su với
tư cách là Ngôi Lời Vĩnh Hằng, cũng như cho thấy Ngài đến với một sứ mệnh—mang
ánh sáng vào bóng tối.
Đặt niềm tin vào Chúa Giê-su là đặt niềm tin vào Đức Chúa
Cha, Đấng mà Ngài đến từ đó. Và bất cứ ai thực sự hiểu biết về Chúa Giê-su đều
biết rằng mình đang ở trong sự kết nối với chính Đức Chúa Trời. Như Ngài đã nói
trước đây, Chúa Giê-su là ánh sáng xua tan bóng tối bao quanh chúng ta. Ngài
cũng nói rõ hơn trước đây về điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta từ chối Ngài và
thích bóng tối hơn ánh sáng:
Ta không xét đoán ai
nghe lời Ta mà không giữ lấy, vì Ta đến không phải để xét đoán thế gian, nhưng
để cứu thế gian.
Chúa Giê-su đến để mang lại sự cứu rỗi, để mang lại sự trọn
vẹn cho thế gian chứ không phải để lên án nó. Nhưng Ngài nói:
Ai từ chối Ta và không
tiếp nhận lời Ta thì có một vị thẩm phán; trong ngày cuối cùng, lời Ta đã phán
sẽ làm thẩm phán…
Vai trò của mặt trời là chiếu sáng, nhưng khi có những vật cản
trở ánh sáng đó, chúng ta sẽ có bóng tối. Đó không phải là việc của mặt trời.
Chúa Giê-su cũng là Ánh sáng của thế gian. Nhưng vì một số hành vi của chúng
ta, nên có những bóng tối và thậm chí là sự tăm tối.
“Lời” của Chúa Giê-su là một thách thức. Nó mang đến cho
chúng ta một cách sống và cách tương quan với Chúa, với người khác và với chính
mình. Nếu chúng ta chọn một con đường khác, chúng ta chỉ có thể tự trách mình
khi cuộc sống đi xuống. Nhưng Chúa Giê-su luôn ở đó để nâng đỡ chúng ta. Chúng
ta chỉ cần đưa tay ra và Ngài sẽ nắm lấy tay chúng ta.
Chúa Giê-su nói với chúng ta rằng các điều răn của Cha
Ngài—mà Ngài cũng tuân giữ—có nghĩa là sự sống đời đời. Mọi điều Chúa Giê-su
làm đều là thực hiện ý muốn của Cha Ngài. Chúng ta được kêu gọi đi theo con đường
đó. Giá như chúng ta nhận ra rằng theo Chúa Giê-su không phải là tự nhốt mình
vào một chiếc áo bó, mà là con đường dẫn đến sự tự do hoàn toàn.
https://livingspace.sacredspace.ie/e1044g/
Suy Niệm: Ánh sáng sự sống
Chúa Giê-su đi từ hữu hình đến vô hình. Từ lời nói đến ý tưởng. Từ ngọn đến
nguồn. Nguồn sự sống. Nguồn sáng. Từ người được sai đi đến Đấng sai đi. Từ Chúa
Con đến Chúa Cha. Chúa Cha vô hình nhưng Chúa Con hữu hình. Chúa Con nói nhưng
là lời của Chúa Cha. “Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng
là tin vào Đấng đã sai tôi; ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi”.
Tất cả phát xuất từ Chúa Cha. Chúa Giê-su phát xuất từ Chúa Cha. Lời Chúa
nói, việc Chúa làm, đều phát xuất từ Chúa Cha. “Thật vậy, không phải tôi tự
mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải
nói gì, tuyên bố gì…Vậy những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói
với tôi”.
Mà lời Chúa Cha chính là lời sự sống: “Và tôi biết: mệnh lệnh của Người
là sự sống đời đời”. Sự sống là ánh sáng. Cái chết là bóng tối. Chúa Giê-su
đến đem lời Chúa Cha ban sự sống đời đời. Đem ánh sáng sự sống soi vào bóng tối
chết chóc cõi nhân gian. “Tôi là ánh sáng, tôi đã đến thế gian, để bất cứ ai
tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối”. Vì thế ai đón nhận Chúa
Giê-su là đón nhận Chúa Cha. Là đón nhận ánh sáng. Là đón nhận sự sống.
Cộng đoàn các môn đệ và các tín hữu đầu tiên đã tin nhận Chúa Giê-su là
Thiên Chúa. Vì thế các ngài đón nhận được ánh sáng và sự sống. Vì thế cộng đoàn
không ngừng phát triển mạnh mẽ. Khi làm cho lời lan tràn khắp nơi. Bác-na-ba
liên tục kêu gọi tăng cường nhân sự. Thoạt tiên là đi đón Phao-lô ở Tác-sô. Nay
lại cho vời Gio-an Mác-cô. Cho một sức sống bừng lên mạnh mẽ, tại An-ti-ô-khi-a
có một bộ khung hùng hậu: “có những ngôn sứ và thầy dạy, đó là các ông
Ba-na-ba, Si-mê-on biệt hiệu là Đen, Lu-ki-ô người Ky-rê-nê, Ma-na-en, bạn thời
thơ ấu của tiểu vương Hê-rô-đê, và Sao-lô”.
Vì phát triển mạnh mẽ, nên phải tách ra: “Một hôm, đang khi họ làm việc
thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo: “Hãy dành riêng Ba-na-ba
và Sao-lô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm”…Vậy được
Thánh Thần sai đi, …. Đến Xa-la-min, hai ông loan báo lời Thiên Chúa trong các
hội đường người Do thái”.
Đón nhận Lời Chúa là ánh sáng ban sự sống, các môn đệ lớn mạnh. Ra đi khắp
nơi. Rao giảng Lời Chúa không ngừng. Để soi sáng sự sống vào mọi chân trời trần
gian.
(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)
HẠNH CÁC THÁNH
Ngày 29/4: Thánh Catarina thành Siêna – Trinh nữ, tiến sĩ hội
thánh (1347-1380)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Ngày lễ nhớ Catherine de Sienne cũng là ngày kỷ niệm
thánh nữ qua đời tại Rô-ma 29.04.1380, ngay lúc bắt đầu cuộc đại ly khai tại
Tây Phương (1378–1417). Bà được phong thánh năm 1461 và được tôn làm Đấng Bảo
Trợ nước Ý năm 1939, cuối cùng được phong tiến sĩ Hội thánh năm 1970.
Catherine Benincasa là người con thứ hai mươi lăm và
là con út của một gia đình thợ thủ công. Người sinh tại Sienne vùng Toscane, có
lẽ vào ngày 25.03.1347. Thân phụ là thợ nhuộm và thân mẫu là con của một thi
sĩ. Bà có một tâm hồn thấm nhuần tinh thần thần bí sâu sắc và là “thần đồng
kỳ diệu”, được Chúa ban cho những cảm nghiệm siêu nhiên từ lúc lên sáu hoặc
bảy tuổi. Thánh nữ nói đã “nhìn thấy” Đức Kitô và Mẹ Maria và tự hiến
cho Thiên Chúa khi cử hành cuộc “hôn nhân thần bí” với Đức Giê-su lúc tám tuổi.
Năm hai mươi tuổi, Catherine say mê đời sống cô tịch,
khổ chế cùng kinh nguyện và được thâu nhận vào Dòng Ba Đa-minh ở Sienne, thường
được dân chúng gọi là “Mantellate”. Như thế, chị thực hiện được giấc mộng xưa của
mình: “Tôi muốn trở thành Nữ tu Đa-minh để rao giảng đạo Chúa và hoán cải những
người lạc giáo”.
– Với tâm hồn chiêm niệm đồng thời cũng thiên về hoạt
động, Catherine qui tụ quanh mình một nhóm môn đệ. Sau này, họ trở thành các
nhà truyền giáo lưu động, đi khắp nước Ý, đến tận vùng Provence và quận
Venaissin. Họ đọc Kinh thánh, cùng nhau suy niệm, nghiên cứu các nhà thần bí và
thần học của Tôma Aquinô cùng ngâm thơ trong tác phẩm “Hài kịch thần linh” của
Dante … Ba môn đệ làm “thư ký” cho người – trong đó có Raymond de Capoue. Họ
tuyển tập, sắp xếp và biên soạn tập nhật ký linh đạo của Catherine vì Bà không
biết viết.
– Giai đoạn lịch sử trong đời Catherine được đánh dấu
bởi việc các Giáo Hoàng sống lưu vong tại Avignon (1309 – 1376). Người ta gọi
giai đoạn đáng buồn này là “Cuộc lưu đày Babylon lần thứ hai”. Thế
nhưng, chính nhờ những lời nài nỉ của thánh Catherine de Sienne mà Đức Giáo
Hoàng Grégoire XI chấm dứt cuộc “lưu đày” này. Bà đã viết cho Đức Giáo Hoàng
vào năm 1371 như sau:
“Vậy xin Đức Thánh Cha hãy lắng nghe lời
Đức Giêsu Kitô nói với ngài: Triều đại ngươi ở trần thế làm hại đến Thiên triều
của Ta … Vì thế ngươi hãy trở lại Rôma, trở lại Giáo Tòa của ngươi càng sớm
càng tốt”. Rồi đến ngày 18 tháng 6 năm 1376, thánh nữ đến
Avignon với sự hộ tống của các tu sĩ thuộc “Gia đình” Dòng tu của mình. Ba
tháng sau, khoảng cuối năm, Đức Giáo Hoàng trở về Rôma.
– Vào ngày Đức Giáo Hoàng Grégoire XI (1378) qua đời
và dịp bầu cử Đức Urbain VI, cuộc đại ly giáo ở Tây Phương (1378 – 1417) bùng vỡ.
Đối lập với Giáo Hoàng hợp pháp Urbain VI ở tại Rôma, người ta đặt một Phản
Giáo Hoàng khác, Đức Clément VII (1378 – 1394). Vị này tổ chức giáo triều của
mình tại Avignon và được nước Pháp cùng vài nước đồng minh ủng hộ. Catherine de
Sienne công nhận Đức Giáo Hoàng hợp pháp Urbain VI, và tự hiến làm lễ hy sinh để
đem lại an bình. Song các hoạt động của Bà đã không chấm dứt được các mối phân
rẽ đang xâu xé Hội thánh và các dân tộc ở Châu Âu.
– Catherine de Sienne qua đời tại Rô-ma, lúc ba mươi
ba tuổi, trong khi phục vụ vị Giáo Hoàng mà Bà gọi là “Đức Ki-tô hiền
lành tại thế”. Với tư cách là người tư vấn cho các Giáo Hoàng, là
“dolcissima mamma” (mẹ rất hiền) cho “Gia đình” Tu sĩ lẫn giáo dân hằng tận tụy
với Bà để phục vụ Tin Mừng, Bà được đặc ân lãnh nhận 5 dấu thánh, thánh nữ đã
dâng hiến đời mình để chấm dứt cuộc đại ly giáo ấy.
– Ngoài vai trò chính trị và tôn giáo, Catherine de
Sienne còn ảnh hưởng rất lớn đến nền Linh đạo thần bí, đặc biệt nhờ các tác phẩm
của Bà: các Thư từ và cuốn Đối thoại được kể như là các tác phẩm cổ điển trong
nền văn học Ý.
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện nhắc đến tình yêu nồng nàn của thánh
Catherine khiến Bà tha thiết chiêm ngưỡng Đức Giêsu chịu khổ nạn và hăng say phục
vụ Hội thánh.
Catherine cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu rất nhân
lành và dịu dàng, Chúa đang ở nơi nào, trong khi hồn con đang phải chịu đựng
muôn vàn đau đớn như thế này ? – Đức Giêsu trả lời: Ta ở sâu thẳm trong lòng
con. Quả thật, Ta không bao giờ rời xa tâm hồn của các bạn bè Ta … Ta ngự trong
tâm hồn con cũng như Ta ở trên thập giá, trong một trạng thái đau đớn và hạnh
phúc”. Trong cuộc đối thoại liên tục với “Đấng yêu dấu” đã có lần
nói với thánh nữ: “Hãy nhớ đến Ta và Ta sẽ nhớ đến con”, thánh nữ
chỉ biết lặp lại mỗi câu này: “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Ngài ! Con chỉ
yêu một mình Ngài”. Những lời sau cùng của Catherine cho thấy cả cuộc
đời mình “tràn ngập tình yêu Thiên Chúa” nồng nàn: “Lạy Đấng con yêu mến,
Ngài đã gọi con, giờ đây con xin đến ! Con đến mà không mang theo công trạng gì
trong tay, nhưng chỉ trông chờ lòng nhân lành và quyền năng do Máu Thánh Chúa đổ
ra”.
Tình yêu nhiệt nồng của Catherine là nguồn của mọi
hoạt động khi Bà tiếp xúc với các Giáo Hoàng, các Hồng y, giám mục, vua Chúa,
các nhà quí tộc, thương gia và với các tầng lớp dân chúng ... “Tôi là
Catherine, đây là lời khai đề quen thuộc trong các thư của bà, là nữ tỳ và nô lệ
cho các tôi tớ của Đức Giêsu, tôi viết thư này cho các người nhân danh Máu
Thánh châu báu của Chúa chúng ta, với mong ước được thấy các người được đắm
mình trong Máu Thánh của Người...”
Một giáo thuyết chắc chắn và thâm sâu xuất phát từ
tâm hồn Catherine và được diễn tả bằng các hình ảnh và biểu tượng như
sau: “Đức Giêsu phán: Làm sao các tôi tớ của Ta ở đời này có được các vật
bảo chứng cho cuộc sống đời đời ? Quả thật, Ta nói với con: họ có được khi nhận
ra trong tâm hồn họ lòng nhân lành và chân lý của Ta. Sự nhận biết ấy là do Ta
soi sáng trí tuệ và do đức tin là đôi mắt của tâm hồn chiếu soi… Ánh sáng đức
tin khiến họ phân biệt, hiểu biết cùng noi theo con đường và giáo thuyết về
chân lý là Ngôi Lời nhập thể” (Đối thoại chương 45).
b. Qua một lá thư, Catherine cổ vũ Hồng y Lune như
sau: “Chính trong Máu châu báu của Đấng Cứu Thế mà chúng ta biết được
chân lý dưới ánh sáng của đức tin rất thánh thiện … Thưa Cha kính mến, xin Cha
hãy say mê chân lý. Như thế, Cha sẽ trở nên rường cột trong nhiệm thể Hội thánh”.
Catherine mong ước Hội thánh trở thành một vườn hoa xinh tươi, trong đó chỉ có
“Các bông hoa thơm ngát; vì các mục tử và các giám chức phải là những tôi tớ
chân chính của Đức Giêsu Kitô, hằng chuyên cần hoạt động để tôn vinh Thiên Chúa
và cứu rỗi các tâm hồn”. Vì thế, Catherine ý thức rằng mình “đến trần thế
để xóa mờ gương xấu to lớn gây nên bởi cuộc ly giáo” nên thánh nữ đã cổ vũ
Đức Giáo Hoàng Grégoire XI nhổ đi “Các bông hoa thối rữa, đó là các mục tử
và bề trên đang làm hoen ố Hội thánh”.
c. Vậy Catherine đã múc lấy biết bao nhiêu sự can đảm
và khôn ngoan từ đâu ? “Đức Giêsu nói với Bà: Hỡi con, hãy biết rằng chỉ
mình ta là Đấng hiện hữu, trong khi con, con chỉ là hư vô”. Do đó, mặc dù
không ngừng hoạt động, Bà vẫn dành cuộc đời mình để tìm kiếm sự thân tình với
Thiên Chúa. “Lạy Ba ngôi vĩnh cửu, Ngài ví tựa đại dương sâu thẳm, càng tìm
con càng thấy; càng thấy con càng tìm … Vì khi chính bản thân con được mặc lấy
Ngài, con đã thấy con là hình ảnh của Ngài … Chúa là tấm áo che cho con khỏi trần
trụi. Chúa lấy sự dịu ngọt của Chúa mà nuôi dưỡng chúng con là những kẻ đang
đói lả, vì Chúa ngọt ngào không chút đắng cay. Ôi lạy Ba Ngôi vĩnh cửu!”
(Bài đọc – Kinh sách).
– Bí quyết của sự khôn ngoan và nên thánh của
Catherine de Sienne, tiến sĩ Hội thánh, được bày tỏ trong lời kinh khi chấm dứt
cuộc Đối thoại của Bà với Cha muôn thuở: “Lạy Chúa là chân lý vĩnh cửu,
xin cho con được mặc lấy Ngài, để con được đi qua cuộc đời hay chết này bằng niềm
vâng phục đích thực đối với Chúa và dưới ánh sáng đức tin rất thánh thiện chiếu
soi. Đó là nguồn ánh sáng khiến lòng con say sưa chiêm ngắm Chúa. Tạ ơn Chúa.
A-men”
Enzo Lodi





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét