Trang

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

24.04.2026: THỨ SÁU TUẦN III PHỤC SINH

 24/04/2026

 Thứ Sáu tuần 3 Phục Sinh

 


Bài Ðọc I: Cv 9, 1-20

“Người này là lợi khí Ta chọn, để mang danh Ta đến trước mặt các dân tộc”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Sao-lô còn mải say mê hăm dọa giết các môn đồ Chúa, ông đến thượng tế, xin chứng minh thư gởi đến hội đường ở Ða-mát, để nếu gặp ai theo đạo ấy bất luận nam nữ, ông trói đem về Giê-ru-sa-lem. Ðang khi đi đường lúc đến gần Ða-mát, bỗng nhiên một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông, ông ngã xuống đất và nghe tiếng phán rằng: “Sao-lô, Sao-lô, sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông thưa: “Lạy Ngài, Ngài là ai?” Chúa đáp: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ; giơ chân đạp mũi nhọn thì khổ cho ngươi”. Sao-lô run sợ và kinh hoàng hỏi rằng: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Chúa phán: “Hãy chỗi dậy, vào thành, và ở đó người ta sẽ nói cho ngươi phải làm gì”. Những kẻ đồng hành với ông đứng lại, hoảng hốt; họ nghe rõ tiếng mà không thấy ai. Sao-lô chỗi dậy khỏi đất, mắt ông vẫn mở, mà không trông thấy gì. Người ta cầm tay dẫn ông vào thành Ða-mát; ông ở lại đấy ba ngày mà không thấy, không ăn, cũng không uống.

Bấy giờ ở Ða-mát, có một môn đồ tên là Kha-na-ni-a; trong một thị kiến, Chúa gọi ông rằng: “Kha-na-ni-a”. Ông thưa: “Lạy Chúa, này con đây”. Chúa phán: “Hãy chỗi dậy và đến phố kia gọi là phố “Thẳng”, và tìm tại nhà Giu-đa một người tên là Sao-lô, quê ở Tarsê; ông ta đang cầu nguyện”. (Sao-lô cũng thấy một người tên Kha-na-ni-a bước vào, và đặt tay trên ông để ông được sáng mắt). Kha-na-ni-a thưa: “Lạy Chúa, con đã nghe nhiều người nói về người này rằng: ông đã gây nhiều tai ác cho các thánh của Chúa tại Giê-ru-sa-lem; tại đây, ông đã được các vị thượng tế cho phép bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa”. Nhưng Chúa phán: “Cứ đi, vì người này là lợi khí Ta đã chọn, để mang danh Ta đến trước dân ngoại, vua quan và con cái Ít-ra-en. Ta sẽ tỏ cho nó biết phải chịu nhiều đau khổ vì danh Ta”. Kha-na-ni-a ra đi, bước vào nhà, và đặt tay trên Sao-lô mà nói: “Anh Sao-lô, Chúa Giê-su, Ðấng hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến cùng anh, để anh được thấy và được tràn đầy Thánh Thần”. Tức thì có thứ gì như những cái vảy rơi khỏi mắt ông, và ông được sáng mắt; ông chỗi dậy chịu phép rửa, và sau khi ăn uống, ông được lại sức. Ông ở lại ít ngày cùng với các môn đồ thành Ða-mát. Và lập tức ông rao giảng trong các hội đường rằng: Ðức Giê-su là Con Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 116, 1. 2

Ðáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Toàn thể chư dân, hãy khen ngợi Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người.

Xướng: Vì tình thương Chúa dành cho chúng tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời.

 

Alleluia: Ga 14, 16

Alleluia, alleluia! – Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác, để ở cùng các con luôn mãi. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 52-59

“Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống”.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Gio-an.

Khi ấy, những người Do-thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình mà cho chúng ta ăn được?”

Bấy giờ Chúa Giê-su nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Ðây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn man-na và đã chết. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời”.

Người giảng dạy những điều này tại Hội đường Ca-phác-na-um.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Công vụ Tông Đồ 9,1-20

Bài đọc hôm nay đề cập đến một trong những bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của cộng đồng Ki tô sơ khai và thực sự là cho tương lai của toàn thể Giáo hội trong những thế kỷ tới. Lu-ca thuật lại sự kiện trọng đại này trong Công vụ Tông Đồ (9,1-20; 22,5-16; 26,10-18). Hai đoạn thuật lại được chính Phao-lô ghi lại trong các bài giảng của ông. Phao-lô cũng nói về kinh nghiệm này trong Thư gửi tín hữu Ga-lát (Ga-lát 1,12-17). Sự việc có lẽ đã xảy ra vào năm 36 sau Công nguyên, khoảng 12 năm trước Công đồng Giê-ru-sa-lem, công đồng đã mở đường cho người ngoại được hoàn toàn gia nhập cộng đồng Ki tô. Công đồng được tổ chức vào năm 49 sau Công nguyên.

Sao-lô, theo như chúng ta được biết, đã:

…vẫn còn đe dọa và giết hại các môn đồ của Chúa…

Chúng ta biết rằng ông ta trực tiếp liên quan đến việc giết Stêphanô, nhưng chính Phao-lô cũng ám chỉ rằng những người khác đã chết hoặc suýt chết vì hành động của ông ta (xem Công vụ Tông Đồ 22,4; 26,10).

Mục tiêu tiếp theo của ông ta là các tín đồ Ki tô ở Đa-mát. Để làm điều này, ông ta đã nhận được giấy ủy quyền từ thầy tế lễ thượng phẩm, có lẽ là Cai-pha. Hội đồng Sanhedrin có thẩm quyền đối với người Do Thái không chỉ ở Giu-đê mà còn ở những nơi khác trong cộng đồng Do Thái hải ngoại. Người La Mã công nhận quyền tài phán của thầy tế lễ thượng phẩm đối với các thành viên của cộng đồng Do Thái ngay cả bên ngoài Palestine và, theo 1 Ma-ca-bê (15,21), điều này thậm chí bao gồm cả quyền dẫn độ.

Damascus nằm trong tỉnh Syria của La Mã và là thành phố quan trọng gần nhất bên ngoài Palestine. Nó cách Giê-ru-sa-lem khoảng 250 km về phía bắc, và sẽ mất từ ​​bốn đến sáu ngày để đến đó. Nơi đó có một cộng đồng người Do Thái đông đảo.

Nhiệm vụ của Sao-lô là tìm những người nam và nữ “thuộc về Con Đường” và dẫn họ trở lại Jerusalem trong xiềng xích, nơi họ có thể bị xét xử và thậm chí có thể bị kết án tử hình. “Những người theo Con Đường” là tên gọi dành cho những tín đồ Ki tô đầu tiên, và đề cập đến lối sống đặc trưng của các tín đồ Ki tô. Thuật ngữ này xuất hiện một số lần trong sách Công Vụ Tông Đồ và chỉ ở đó. Tất nhiên, chúng ta nhớ rằng Chúa Giê-su đã phán:

Ta là đường đi, là lẽ thật và là sự sống. (Gioan 14,6)

Trên đường đi ,Sao-lô đột nhiên bị bao quanh bởi một ánh sáng chói lọi và ngã xuống đất. (Công Vụ Tông Đồ 26,13 cho biết lúc đó khoảng giữa trưa.) Cùng lúc đó, ông nghe thấy một giọng nói rằng:

Saul, Saul, tại sao ngươi bắt bớ ta?

Mà Phao-lô đáp lại bằng một câu hỏi khác: “Ngài là ai, thưa Chúa?” Theo truyền thống Do Thái giáo, một giọng nói không có thân xác như vậy sẽ được hiểu là giọng nói của chính Đức Chúa Trời. Việc lặp đi lặp lại tên Saul một cách trang trọng (“Saul, Saul…”) và ánh sáng rực rỡ khiến ông cảm nhận được sự hiện diện của một vị thần, vì vậy ông đã dùng cách xưng hô “Chúa” (Kyrie).

Câu trả lời ông nhận được là:

Ta là Giê-su, Đấng mà các ngươi đang bắt bớ.

Ở đây, chúng ta thấy Chúa Giê-su hoàn toàn đồng nhất mình với những người theo Ngài.

Thật vậy, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi làm điều đó cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của ta, thì các ngươi làm điều đó cho ta. (Mát-thêu 25,40)

Ai tiếp đón các ngươi thì tiếp đón ta, và ai tiếp đón ta thì tiếp đón Đấng đã sai ta đến. (Mát-thêu 10,40)

Trong các thư tín Tân Ước, chính Phao-lô là người sau này sẽ nhắc nhở chúng ta rằng cộng đồng Ki tô là Thân Thể của Đấng Ki tô Phục Sinh. Tấn công Thân Thể là tấn công chính Đấng Ki tô.

Sao-lô được lệnh đến Đa-mát, nơi ông sẽ nhận được thêm chỉ thị. Các bạn đồng hành của Sao-lô có thể nghe thấy những gì đang được nói, nhưng không thể nhìn thấy gì. Trong khi đó, Sao-lô đứng dậy, dù mắt vẫn mở nhưng không thể nhìn thấy gì. Các bạn đồng hành dẫn Sao-lô, người đang mù lòa và bất lực, trở lại thành phố. Vị quan chức quyền lực bậc nhất trước đây giờ đây gần như bất lực. Suốt ba ngày liền, ông không thể nhìn thấy gì và nhịn ăn hoàn toàn. Ý nghĩa biểu tượng dường như rất rõ ràng: Sao-lô, người tự tin rằng mình nắm giữ chân lý, giờ đây lại cho thấy tầm nhìn về chân lý của ông rất hạn chế.

Trong khi đó, một người Kitô hữu tên là Ananias được lệnh đến một ngôi nhà ở Damascus, nơi Sao-lô đang cầu nguyện. Ông được bảo đến Phố Thẳng, có lẽ chính là con phố dài, thẳng tắp vẫn chạy xuyên qua thành phố từ đông sang tây, và trái ngược hoàn toàn với vô số những con phố quanh co khác trong thành phố. Không có gì đáng ngạc nhiên, Ananias khá miễn cưỡng khi đến thăm người đàn ông đã bắt bớ các tín đồ Ki tô khắp nơi và nói:

Lạy Chúa, con đã nghe nhiều người nói về người này, về những điều ác mà hắn đã gây ra cho các thánh của Chúa ở Giê-ru-sa-lem…

Thuật ngữ “thánh” ban đầu được dùng để chỉ dân Ít-ra-en, nhưng sau này trở thành thuật ngữ thông thường để chỉ các tín đồ Ki tô. Nó xuất hiện nhiều lần trong các thư của Phao-lô. Vì Đức Chúa Trời là Đấng Thánh, nên những người được thánh hiến cho sự phục vụ của Ngài cũng có thể được gọi là ‘thánh’.

Nhưng Chúa nhấn mạnh:

Hãy đi, vì người ấy là một khí cụ mà Ta đã chọn để đem danh Ta đến trước mặt dân ngoại, các vua và dân Ít-ra-en; chính Ta sẽ cho người ấy thấy người ấy phải chịu khổ nhiều như thế nào vì danh Ta.

Thật là một bước ngoặt kỳ lạ! Đường lối của Đức Chúa Trời thật kỳ lạ! Chúng thường đi ngược lại với tất cả những giả định và kỳ vọng của chúng ta! Người đàn ông ấy, một người Pha-ri-sêu ngoan cố, người quyết tâm xóa sổ con đường Ki tô giáo, lại trở thành công cụ được Chúa Giê-su chọn để truyền bá danh Ngài giữa những người không phải là người Do Thái, những người từ trước đến nay bị coi là những kẻ ngoại đạo hoàn toàn. Ông sẽ trở thành một trong những trụ cột chính, cùng với Phê-rô, với tư cách là người sáng lập Ki tô giáo. Thông qua các tác phẩm của mình, ảnh hưởng của ông sẽ rất lớn trong những thế kỷ sau đó, cho đến tận thời đại của chúng ta. Và, trong quá trình đó, ông sẽ phải trả giá đắt bằng sự hy sinh và đau khổ cá nhân.

Ananias sau đó đến nhà. Ông nói với Sao-lô, người mà ông đã rất miễn cưỡng gặp, là “anh em” của mình. Ông nói rằng ông đã được Chúa sai đến, chính là Đấng đã hiện ra với Sao-lô trên đường. Chúa Giê-su Phục Sinh thực sự đã hiện ra với Sao-lô; đó không chỉ là một ảo ảnh. Chính trên sự “nhìn thấy” này mà Sao-lô dựa vào đó để đủ điều kiện trở thành một Sứ đồ.

Ananias sau đó đặt tay lên Sao-lô, ban cho ông ân tứ của Thánh Linh Chúa Giê-su. Ngay lập tức, màn che mù lòa rơi khỏi mắt Sao-lô và ông có thể nhìn thấy lại.

Sao-lô đứng dậy—những dấu hiệu của sự phục sinh và cuộc sống mới—và được rửa tội. Ông bắt đầu ăn uống trở lại và lấy lại sức lực. Và, gần như ngay lập tức, kẻ bách hại các tín đồ Ki tô, người trước đó đã buông lời đe dọa giết người, đã đến các hội đường Do Thái để tuyên bố Chúa Giê-su là Con của Đức Chúa Trời.

Một lần nữa, chúng ta thấy những cách thức kỳ lạ của Đức Chúa Trời. Ananias, người đã 'tiếp nhận' Phao-lô vào cộng đồng Ki tô, là người chỉ xuất hiện ở đây và không bao giờ xuất hiện nữa. Về mọi mặt khác, ông là một thành viên rất không quan trọng trong cộng đồng. Ông giống như hầu hết chúng ta về mặt đó, nhưng cũng giống như ông, Đức Chúa Trời có thể gửi một Sao-lô/Phao-lô vào cuộc đời chúng ta và yêu cầu chúng ta—mặc dù chúng ta cảm thấy mình không quan trọng—hành động như một người trung gian để đưa người này đến với Đức Chúa Trời. Trong cuộc đời của mỗi nhà lãnh đạo Giáo hội vĩ đại hoặc nhà tiên tri đều có hàng trăm người vô danh đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nên con người họ.

Giờ đây, Phao-lô có thể nhìn thấy, không chỉ bằng mắt thường. Ông có thể nhìn thấy sự thật về Chúa Giê-su và sự thiếu sót trong những ý tưởng trước đây của chính mình, dù cho chúng có được giữ vững một cách chân thành đến đâu. Giờ đây ông đã sẵn sàng chịu phép rửa tội và, lần đầu tiên kể từ trải nghiệm trên đường đến Đa-mát, ông đã phá vỡ sự kiêng ăn của mình.

Một chương hoàn toàn mới trong sự phát triển của Giáo hội sơ khai sắp bắt đầu. Rõ ràng ở đây có rất nhiều điều để chúng ta suy ngẫm trong cuộc sống của chính mình, về cách chúng ta đối xử với người khác, về sự mù quáng và nhu cầu hoán cải không ngừng của chúng ta, và về trách nhiệm chia sẻ đức tin của chúng ta với người khác.

 

 


Chú giải về Gioan 6,52-59

Bài Phúc Âm hôm nay tiếp tục bàn về Chúa Giê-su là Bánh Sự Sống. Có thể hiểu được rằng người Do Thái vô cùng kinh ngạc trước lời mời ăn thịt và uống máu Ngài của Chúa Giê-su. Điều đó nghe giống như một công thức ăn thịt người nguyên thủy. Nếu chúng ta đặt mình vào vị trí của họ và nghe những lời đó lần đầu tiên, chúng ta cũng có thể thấy chúng rất kỳ lạ, nói một cách nhẹ nhàng.

Đối với người Do Thái, điều đó còn gây sốc hơn nữa vì họ rất tôn kính, thậm chí sợ hãi máu. Đó là nguồn gốc của sự sống và không bao giờ được chạm vào. Tiếp xúc với máu ngay lập tức trở nên ô uế về mặt nghi lễ.

Trong dụ ngôn về người Sa-ma-ri nhân hậu (Lu-ca 10,30-37), một trong những lý do khiến thầy tế lễ và người Lê-vi không đến giúp người bị thương nằm trên đường giữa Giê-ri-cô và Giê-ru-sa-lem gần như chắc chắn là vì ông ta đang chảy máu và họ đang trên đường đến Đền thờ để cầu nguyện hoặc dâng tế lễ. Người phụ nữ mắc bệnh chảy máu mãn tính (Mác-cô 5,25-34) không dám tiết lộ tình trạng của mình cho đám đông hay thậm chí cho Chúa Giê-su vì bà không nên ở gần người khác như vậy. Bà có thể bị hại nếu họ biết.

Cho đến ngày nay, người Do Thái chỉ ăn thịt đã được rút hết máu (thịt kosher). Và ở đây, Chúa Giê-su mời gọi, thậm chí bảo mọi người uống máu của chính Ngài! Chúng ta đã nghe những lời này quá nhiều lần đến nỗi chúng mất đi sức ảnh hưởng. Tuy nhiên, Chúa Giê-su không hề xin lỗi về những gì Ngài đã nói. Ngược lại, Ngài nói với những người nghe rằng nếu họ không ăn thịt Ngài và uống máu Ngài, họ sẽ không có sự sống. Những ai ăn và uống thì được bảo đảm sự sống. Bởi vì thịt của Chúa Giê-su là thức ăn thật và máu của Ngài là thức uống thật:

…ai ăn ta sẽ sống nhờ ta.

Chúng ta phải hiểu tất cả điều này như thế nào? Những lời này có nghĩa là gì? Rõ ràng là chúng không nên được hiểu theo nghĩa đen. Thay vào đó, ăn thịt Chúa Giêsu và uống máu Ngài là hoàn toàn đồng hóa vào chính bản thể của chúng ta toàn bộ lối suy nghĩ và hành động của Chúa Giêsu, chính Ngôi vị của Chúa Giêsu. Để có thể nói cùng với Thánh Phaolô:

…không còn phải là tôi sống nữa, mà là Chúa Kitô sống trong tôi. Và đời sống tôi hiện đang sống trong xác thịt, tôi sống bởi đức tin nơi Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và hiến thân vì tôi. (Gl 2,20)

Và Mình và Máu Chúa Kitô không chỉ được hiểu trong bối cảnh ‘rước lễ’ trong Bí tích Thánh Thể. Chắc chắn có những điều Chúa Giêsu nói liên quan đến Bí tích Thánh Thể, nhưng chúng ta cần hiểu Bí tích Thánh Thể như một bí tích hay dấu hiệu của một mối quan hệ rộng lớn hơn nhiều với Chúa Giêsu.

Bí tích Thánh Thể chủ yếu là một lễ cử hành cộng đồng về bản chất của chúng ta—anh chị em là Mình Chúa Kitô cho nhau và cho toàn thế giới. Mình và Máu Chúa Giêsu đến với chúng ta qua Lời mà chúng ta nghe trong Phụng vụ Thánh Thể, cũng như trong việc chia sẻ Bánh và Chén. Nhưng Chúa Giê-su cũng đến với chúng ta qua mọi trải nghiệm yêu thương mà chúng ta có được trong cộng đồng. Thánh Thể không chỉ là việc chúng ta ăn và uống Mình và Máu Chúa Kitô. Đó là nghi thức cử hành bí tích hướng đến toàn bộ trải nghiệm gặp gỡ Chúa Giê-su trong cuộc sống của chúng ta. Đó là điều nên diễn ra suốt cả ngày của chúng ta, bất kể chúng ta ở đâu, đang làm gì.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/e1036g/

 


 

Suy Niệm: Ăn thịt uống máu

Chúa ban cho ta Thịt và Máu Chúa. Đó là bí tích Thánh Thể. Là Sự Sống Muôn Đời. “Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời”. Nhưng sự sống này không phải là bùa chú tự nhiên thành. Cần phải ăn uống theo qui định. Hôm nay Chúa dạy ta qui định đó.

Qui định thứ nhất: “Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy”. Cuộc trao đổi phải có hai chiều. Cho đi và nhận lãnh. Hai động từ “ở lại” thuộc hai chiều trao đổi. Ta ở lại trong Chúa. Chúa ở lại trong ta. Ở lại là biến đổi. Chúa ở lại trong ta nên đã biến đổi nên giống ta. Chúa đã từ trời xuống thế. Thiên Chúa đã trở nên con người. Sống như con người. Đói khát như con người. Đau khổ như con người. Chết như con người. Ta muốn ở lại trong Chúa cũng phải biến đổi nên giống Chúa. Thánh thiện như Chúa. Yêu thương như Chúa. Quảng đại như Chúa. Điều này được khẳng định bằng qui định thứ hai.

Qui định thứ hai: “Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Tôi và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy”. Chúa Giê-su sống nhờ Chúa Cha. Từ suy nghĩ, lời nói đến hành động, Chúa Giê-su không nói gì làm gì tự mình, theo ý riêng. Nhưng tất cả đều phát xuất từ Chúa Cha, theo ý Chúa Cha. “Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta”(Ga 4,34). Thậm chí đến cả cái chết. Chúa Giêsu “đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thánh giá”(Pl 2,8). Ta cũng phải sống nhờ Chúa Giê-su như vậy. Không nghĩ tưởng, nói năng, hành động gì theo ý riêng. Nhưng lời nói, tư tưởng và hành động của ta phải là của Chúa Giê-su.

Để Chúa Giê-su ở lại trong ta ta phải từ bỏ mình. Ta phải từ bỏ máu thịt hay chết, tội lỗi, trần tục của mình để Máu Thịt hằng sống, thánh thiện, thần linh của Chúa Giê-su Thánh Thể ở lại trong ta.

Thánh Phao-lô được Chúa chuẩn bị cho cuộc kết hợp sâu xa với Chúa. Nên hôm nay Chúa bắt ngài phải từ bỏ con người cũ. Phải ngã xuống con người cao ngạo. Phải đui mù con người tự hào thông minh khôn ngoan. Phải đánh gục con người cứng cỏi. Thánh Phao-lô đã ngoan ngoãn từ bỏ hết. Để Thiên Chúa chiếm đoạt. Để từ nay không còn sống cho mình nữa. Mà sống cho Chúa. Ngài đã thay máu thay thịt mình bằng Máu Thịt Chúa Giêsu. Ngài đã bắt đầu cuộc sống thần linh. Ngài đã bắt đầu cuộc sống vĩnh cửu.

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét