24/04/2026
Thứ Sáu tuần 3 Phục Sinh
Bài Ðọc I: Cv 9, 1-20
“Người
này là lợi khí Ta chọn, để mang danh Ta đến trước mặt các dân tộc”.
Trích sách
Tông đồ Công vụ.
Trong những
ngày ấy, Sao-lô còn mải say mê hăm dọa giết các môn đồ Chúa, ông đến thượng tế,
xin chứng minh thư gởi đến hội đường ở Ða-mát, để nếu gặp ai theo đạo ấy bất luận
nam nữ, ông trói đem về Giê-ru-sa-lem. Ðang khi đi đường lúc đến gần Ða-mát, bỗng
nhiên một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông, ông ngã xuống đất
và nghe tiếng phán rằng: “Sao-lô, Sao-lô, sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông thưa: “Lạy
Ngài, Ngài là ai?” Chúa đáp: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ; giơ chân đạp
mũi nhọn thì khổ cho ngươi”. Sao-lô run sợ và kinh hoàng hỏi rằng: “Lạy Chúa,
Chúa muốn con làm gì?” Chúa phán: “Hãy chỗi dậy, vào thành, và ở đó người ta sẽ
nói cho ngươi phải làm gì”. Những kẻ đồng hành với ông đứng lại, hoảng hốt; họ
nghe rõ tiếng mà không thấy ai. Sao-lô chỗi dậy khỏi đất, mắt ông vẫn mở, mà
không trông thấy gì. Người ta cầm tay dẫn ông vào thành Ða-mát; ông ở lại đấy
ba ngày mà không thấy, không ăn, cũng không uống.
Bấy giờ ở
Ða-mát, có một môn đồ tên là Kha-na-ni-a; trong một thị kiến, Chúa gọi ông rằng:
“Kha-na-ni-a”. Ông thưa: “Lạy Chúa, này con đây”. Chúa phán: “Hãy chỗi dậy và đến
phố kia gọi là phố “Thẳng”, và tìm tại nhà Giu-đa một người tên là Sao-lô, quê ở
Tarsê; ông ta đang cầu nguyện”. (Sao-lô cũng thấy một người tên Kha-na-ni-a bước
vào, và đặt tay trên ông để ông được sáng mắt). Kha-na-ni-a thưa: “Lạy Chúa,
con đã nghe nhiều người nói về người này rằng: ông đã gây nhiều tai ác cho các
thánh của Chúa tại Giê-ru-sa-lem; tại đây, ông đã được các vị thượng tế cho
phép bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa”. Nhưng Chúa phán: “Cứ đi, vì
người này là lợi khí Ta đã chọn, để mang danh Ta đến trước dân ngoại, vua quan
và con cái Ít-ra-en. Ta sẽ tỏ cho nó biết phải chịu nhiều đau khổ vì danh Ta”.
Kha-na-ni-a ra đi, bước vào nhà, và đặt tay trên Sao-lô mà nói: “Anh Sao-lô,
Chúa Giê-su, Ðấng hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến cùng anh,
để anh được thấy và được tràn đầy Thánh Thần”. Tức thì có thứ gì như những cái
vảy rơi khỏi mắt ông, và ông được sáng mắt; ông chỗi dậy chịu phép rửa, và sau
khi ăn uống, ông được lại sức. Ông ở lại ít ngày cùng với các môn đồ thành
Ða-mát. Và lập tức ông rao giảng trong các hội đường rằng: Ðức Giê-su là Con
Thiên Chúa.
Ðó là lời
Chúa.
Ðáp Ca: Tv 116, 1. 2
Ðáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế
gian (Mc 16, 15).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: Toàn thể chư dân, hãy khen ngợi
Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người.
Xướng: Vì tình thương Chúa dành cho chúng
tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời.
Alleluia: Ga 14, 16
Alleluia,
alleluia! – Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ
khác, để ở cùng các con luôn mãi. – Alleluia.
Phúc Âm: Ga 6, 52-59
“Thịt
Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống”.
Tin Mừng
Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Gio-an.
Khi ấy, những
người Do-thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình
mà cho chúng ta ăn được?”
Bấy giờ
Chúa Giê-su nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt
Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai
ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại
ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt
Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng
sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống
nhờ Ta. Ðây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn
man-na và đã chết. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời”.
Người giảng
dạy những điều này tại Hội đường Ca-phác-na-um.
Ðó là lời
Chúa.
Chú giải về Công vụ Tông Đồ 9,1-20
Bài đọc hôm nay đề cập đến một trong những bước ngoặt quan
trọng trong sự phát triển của cộng đồng Ki tô sơ khai và thực sự là cho tương lai của toàn thể Giáo hội
trong những thế kỷ tới. Lu-ca thuật lại sự kiện trọng đại này trong Công vụ Tông Đồ (9,1-20; 22,5-16; 26,10-18).
Hai đoạn thuật lại được chính Phao-lô ghi lại trong các bài giảng của ông.
Phao-lô cũng nói về kinh nghiệm này trong Thư gửi tín hữu Ga-lát (Ga-lát 1,12-17). Sự việc có lẽ đã xảy ra vào năm 36 sau Công nguyên,
khoảng 12 năm trước Công đồng Giê-ru-sa-lem, công đồng đã mở đường cho người
ngoại được hoàn toàn gia nhập cộng đồng Ki tô. Công đồng được tổ chức vào năm 49 sau Công nguyên.
Sao-lô,
theo như chúng ta được biết, đã:
…vẫn còn đe dọa và giết
hại các môn đồ của Chúa…
Chúng ta biết rằng ông ta trực tiếp liên quan đến việc giết
Stêphanô, nhưng chính Phao-lô cũng ám chỉ rằng những người khác đã chết hoặc
suýt chết vì hành động của ông ta (xem Công vụ Tông Đồ 22,4; 26,10).
Mục tiêu tiếp theo của ông ta là các tín đồ Ki tô ở Đa-mát. Để làm
điều này, ông ta đã nhận được giấy ủy quyền từ thầy tế lễ thượng phẩm, có lẽ là
Cai-pha. Hội đồng Sanhedrin có thẩm quyền đối với người Do Thái không chỉ ở Giu-đê
mà còn ở những nơi khác trong cộng đồng Do Thái hải ngoại. Người La Mã công nhận
quyền tài phán của thầy tế lễ thượng phẩm đối với các thành viên của cộng đồng
Do Thái ngay cả bên ngoài Palestine và, theo 1 Ma-ca-bê (15,21), điều này thậm
chí bao gồm cả quyền dẫn độ.
Damascus nằm trong tỉnh Syria của La Mã và là thành phố quan
trọng gần nhất bên ngoài Palestine. Nó cách Giê-ru-sa-lem khoảng 250 km về phía
bắc, và sẽ mất từ bốn đến sáu ngày để đến đó. Nơi đó có một cộng đồng người
Do Thái đông đảo.
Nhiệm vụ của Sao-lô là tìm những người nam và nữ “thuộc về Con Đường” và dẫn họ trở
lại Jerusalem trong xiềng xích, nơi họ có thể bị xét xử và thậm chí có thể bị kết
án tử hình. “Những người theo Con Đường” là tên gọi dành cho những tín đồ Ki tô đầu tiên, và đề cập đến lối sống
đặc trưng của các tín đồ Ki tô.
Thuật ngữ này xuất hiện một số lần trong sách Công Vụ Tông Đồ và chỉ ở đó. Tất nhiên, chúng ta nhớ
rằng Chúa Giê-su đã phán:
Ta là đường đi, là lẽ
thật và là sự sống. (Gioan 14,6)
Trên đường đi ,Sao-lô đột nhiên bị bao quanh bởi một
ánh sáng chói lọi và ngã xuống đất. (Công Vụ Tông Đồ 26,13 cho biết lúc đó khoảng giữa trưa.) Cùng lúc đó, ông
nghe thấy một giọng nói rằng:
Saul, Saul, tại sao
ngươi bắt bớ ta?
Mà Phao-lô đáp lại bằng một câu hỏi khác: “Ngài là ai, thưa
Chúa?” Theo truyền thống Do Thái giáo, một giọng nói không có thân xác như vậy
sẽ được hiểu là giọng nói của chính Đức Chúa Trời. Việc lặp đi lặp lại tên Saul
một cách trang trọng (“Saul, Saul…”) và ánh sáng rực rỡ khiến ông cảm nhận được
sự hiện diện của một vị thần, vì vậy ông đã dùng cách xưng hô “Chúa” (Kyrie).
Câu trả lời ông nhận được là:
Ta là Giê-su, Đấng mà
các ngươi đang bắt bớ.
Ở đây, chúng ta thấy Chúa Giê-su hoàn toàn đồng nhất mình với
những người theo Ngài.
Thật vậy, ta nói cùng
các ngươi, hễ các ngươi làm điều đó cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất
của ta, thì các ngươi làm điều đó cho ta. (Mát-thêu 25,40)
và
Ai tiếp đón các ngươi
thì tiếp đón ta, và ai tiếp đón ta thì tiếp đón Đấng đã sai ta đến. (Mát-thêu 10,40)
Trong các thư tín Tân Ước, chính Phao-lô là người sau này sẽ
nhắc nhở chúng ta rằng cộng đồng Ki
tô là Thân Thể của Đấng Ki tô
Phục Sinh. Tấn công Thân Thể là tấn công chính Đấng Ki tô.
Sao-lô được
lệnh đến Đa-mát, nơi ông sẽ
nhận được thêm chỉ thị. Các bạn đồng hành của Sao-lô có thể nghe thấy những gì đang được nói, nhưng không thể nhìn
thấy gì. Trong khi đó, Sao-lô
đứng dậy, dù mắt vẫn mở nhưng không thể nhìn thấy gì. Các bạn đồng hành dẫn Sao-lô, người đang mù lòa và bất lực,
trở lại thành phố. Vị quan chức quyền lực bậc nhất trước đây giờ đây gần như bất
lực. Suốt ba ngày liền, ông không thể nhìn thấy gì và nhịn ăn hoàn toàn. Ý
nghĩa biểu tượng dường như rất rõ ràng: Sao-lô, người tự tin rằng mình nắm giữ chân lý, giờ đây lại cho thấy
tầm nhìn về chân lý của ông rất hạn chế.
Trong khi đó, một người Kitô hữu tên là Ananias được lệnh đến
một ngôi nhà ở Damascus, nơi Sao-lô
đang cầu nguyện. Ông được bảo đến Phố Thẳng, có lẽ chính là con phố dài, thẳng
tắp vẫn chạy xuyên qua thành phố từ đông sang tây, và trái ngược hoàn toàn với
vô số những con phố quanh co khác trong thành phố. Không có gì đáng ngạc nhiên,
Ananias khá miễn cưỡng khi đến thăm người đàn ông đã bắt bớ các tín đồ Ki tô khắp nơi và nói:
Lạy Chúa, con đã nghe
nhiều người nói về người này, về những điều ác mà hắn đã gây ra cho các thánh của
Chúa ở Giê-ru-sa-lem…
Thuật ngữ “thánh” ban đầu được dùng để chỉ dân Ít-ra-en, nhưng sau này trở thành
thuật ngữ thông thường để chỉ các tín đồ Ki tô. Nó xuất hiện nhiều lần trong các thư của Phao-lô. Vì Đức Chúa
Trời là Đấng Thánh, nên những người được thánh hiến cho sự phục vụ của Ngài
cũng có thể được gọi là ‘thánh’.
Nhưng Chúa nhấn mạnh:
Hãy đi, vì người ấy là
một khí cụ mà Ta đã chọn để đem danh Ta đến trước mặt dân ngoại, các vua và dân
Ít-ra-en; chính Ta sẽ cho người ấy thấy người ấy phải chịu khổ nhiều
như thế nào vì danh Ta.
Thật là một bước ngoặt kỳ lạ! Đường lối của Đức Chúa Trời thật
kỳ lạ! Chúng thường đi ngược lại với tất cả những giả định và kỳ vọng của chúng
ta! Người đàn ông ấy, một người Pha-ri-sêu ngoan cố, người quyết tâm xóa sổ con
đường Ki tô giáo, lại trở
thành công cụ được Chúa Giê-su chọn để truyền bá danh Ngài giữa những người
không phải là người Do Thái, những người từ trước đến nay bị coi là những kẻ
ngoại đạo hoàn toàn. Ông sẽ trở thành một trong những trụ cột chính, cùng với Phê-rô, với tư cách là người sáng lập
Ki tô giáo. Thông qua các tác
phẩm của mình, ảnh hưởng của ông sẽ rất lớn trong những thế kỷ sau đó, cho đến
tận thời đại của chúng ta. Và, trong quá trình đó, ông sẽ phải trả giá đắt bằng
sự hy sinh và đau khổ cá nhân.
Ananias sau đó đến nhà. Ông nói với Sao-lô, người mà ông đã
rất miễn cưỡng gặp, là “anh em” của mình. Ông nói rằng ông đã được Chúa sai đến,
chính là Đấng đã hiện ra với Sao-lô trên đường. Chúa Giê-su Phục Sinh thực sự
đã hiện ra với Sao-lô; đó không chỉ là một ảo ảnh. Chính trên sự “nhìn thấy”
này mà Sao-lô dựa vào đó để đủ điều kiện trở thành một Sứ đồ.
Ananias sau đó đặt tay lên Sao-lô, ban cho ông ân tứ của
Thánh Linh Chúa Giê-su. Ngay lập tức, màn che mù lòa rơi khỏi mắt Sao-lô và ông
có thể nhìn thấy lại.
Sao-lô đứng
dậy—những dấu hiệu của sự phục sinh và cuộc sống mới—và được rửa tội. Ông bắt đầu
ăn uống trở lại và lấy lại sức lực. Và, gần như ngay lập tức, kẻ bách hại các
tín đồ Ki tô, người trước đó
đã buông lời đe dọa giết người, đã đến các hội đường Do Thái để tuyên bố Chúa
Giê-su là Con của Đức Chúa Trời.
Một lần nữa, chúng ta thấy những cách thức kỳ lạ của Đức
Chúa Trời. Ananias, người đã 'tiếp nhận' Phao-lô vào cộng đồng Ki tô, là người chỉ xuất hiện ở đây và không
bao giờ xuất hiện nữa. Về mọi mặt khác, ông là một thành viên rất không quan trọng
trong cộng đồng. Ông giống như hầu hết chúng ta về mặt đó, nhưng cũng giống như
ông, Đức Chúa Trời có thể gửi một Sao-lô/Phao-lô
vào cuộc đời chúng ta và yêu cầu chúng ta—mặc dù chúng ta cảm thấy mình không
quan trọng—hành động như một người trung gian để đưa người này đến với Đức Chúa
Trời. Trong cuộc đời của mỗi nhà lãnh đạo Giáo hội vĩ đại hoặc nhà tiên tri đều
có hàng trăm người vô danh đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành
nên con người họ.
Giờ đây, Phao-lô có thể nhìn thấy, không chỉ bằng mắt thường.
Ông có thể nhìn thấy sự thật về Chúa Giê-su và sự thiếu sót trong những ý tưởng
trước đây của chính mình, dù cho chúng có được giữ vững một cách chân thành đến
đâu. Giờ đây ông đã sẵn sàng chịu phép rửa tội và, lần đầu tiên kể từ trải nghiệm trên đường đến Đa-mát,
ông đã phá vỡ sự kiêng ăn của mình.
Một chương hoàn toàn mới trong sự phát triển của Giáo hội sơ
khai sắp bắt đầu. Rõ ràng ở đây có rất nhiều điều để chúng ta suy ngẫm trong cuộc
sống của chính mình, về cách chúng ta đối xử với người khác, về sự mù quáng và
nhu cầu hoán cải không ngừng của chúng ta, và về trách nhiệm chia sẻ đức tin của
chúng ta với người khác.
Chú giải về Gioan 6,52-59
Bài Phúc Âm hôm nay tiếp tục bàn về Chúa Giê-su là Bánh Sự Sống.
Có thể hiểu được rằng người Do Thái vô cùng kinh ngạc trước lời mời ăn thịt và
uống máu Ngài của Chúa Giê-su. Điều đó nghe giống như một công thức ăn thịt người
nguyên thủy. Nếu chúng ta đặt mình vào vị trí của họ và nghe những lời đó lần đầu
tiên, chúng ta cũng có thể thấy chúng rất kỳ lạ, nói một cách nhẹ nhàng.
Đối với người Do Thái, điều đó còn gây sốc hơn nữa vì họ rất
tôn kính, thậm chí sợ hãi máu. Đó là nguồn gốc của sự sống và không bao giờ được
chạm vào. Tiếp xúc với máu ngay lập tức trở nên ô uế về mặt nghi lễ.
Trong dụ ngôn về người Sa-ma-ri nhân hậu (Lu-ca 10,30-37), một
trong những lý do khiến thầy tế lễ và người Lê-vi không đến giúp người bị
thương nằm trên đường giữa Giê-ri-cô và Giê-ru-sa-lem gần như chắc chắn là vì
ông ta đang chảy máu và họ đang trên đường đến Đền thờ để cầu nguyện hoặc dâng
tế lễ. Người phụ nữ mắc bệnh chảy máu mãn tính (Mác-cô 5,25-34) không dám tiết lộ tình trạng của
mình cho đám đông hay thậm chí cho Chúa Giê-su vì bà không nên ở gần người khác
như vậy. Bà có thể bị hại nếu họ biết.
Cho đến ngày nay, người Do Thái chỉ ăn thịt đã được rút hết
máu (thịt kosher). Và ở đây, Chúa Giê-su mời gọi, thậm chí bảo mọi người uống
máu của chính Ngài! Chúng ta đã nghe những lời này quá nhiều lần đến nỗi chúng
mất đi sức ảnh hưởng. Tuy nhiên, Chúa Giê-su không hề xin lỗi về những gì Ngài
đã nói. Ngược lại, Ngài nói với những người nghe rằng nếu họ không ăn thịt Ngài
và uống máu Ngài, họ sẽ không có sự sống. Những ai ăn và uống thì được bảo đảm
sự sống. Bởi vì thịt của Chúa Giê-su là thức ăn thật và máu của Ngài là thức uống
thật:
…ai ăn ta sẽ sống nhờ
ta.
Chúng ta phải hiểu tất cả điều này như thế nào? Những lời
này có nghĩa là gì? Rõ ràng là chúng không nên được hiểu theo nghĩa đen. Thay
vào đó, ăn thịt Chúa Giêsu và uống máu Ngài là hoàn toàn đồng hóa vào chính bản
thể của chúng ta toàn bộ lối suy nghĩ và hành động của Chúa Giêsu, chính Ngôi vị
của Chúa Giêsu. Để có thể nói cùng với Thánh Phaolô:
…không còn phải là tôi
sống nữa, mà là Chúa Kitô sống trong tôi. Và đời sống tôi hiện đang sống trong
xác thịt, tôi sống bởi đức tin nơi Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và hiến
thân vì tôi. (Gl 2,20)
Và Mình và Máu Chúa Kitô không chỉ được hiểu trong bối cảnh
‘rước lễ’ trong Bí tích Thánh Thể. Chắc chắn có những điều Chúa Giêsu nói liên
quan đến Bí tích Thánh Thể, nhưng chúng ta cần hiểu Bí tích Thánh Thể như một
bí tích hay dấu hiệu của một mối quan hệ rộng lớn hơn nhiều với Chúa Giêsu.
Bí tích Thánh Thể chủ yếu là một lễ cử hành cộng đồng về bản
chất của chúng ta—anh chị em là Mình Chúa Kitô cho nhau và cho toàn thế giới.
Mình và Máu Chúa Giêsu đến với chúng ta qua Lời mà chúng ta nghe trong Phụng vụ
Thánh Thể, cũng như trong việc chia sẻ Bánh và Chén. Nhưng Chúa Giê-su cũng đến
với chúng ta qua mọi trải nghiệm yêu thương mà chúng ta có được trong cộng đồng.
Thánh Thể không chỉ là việc chúng ta ăn và uống Mình và Máu Chúa Kitô. Đó là
nghi thức cử hành bí tích hướng đến toàn bộ trải nghiệm gặp gỡ Chúa Giê-su
trong cuộc sống của chúng ta. Đó là điều nên diễn ra suốt cả ngày của chúng ta,
bất kể chúng ta ở đâu, đang làm gì.
https://livingspace.sacredspace.ie/e1036g/
Suy Niệm: Ăn thịt uống máu
Chúa ban
cho ta Thịt và Máu Chúa. Đó là bí tích Thánh Thể. Là Sự Sống Muôn Đời. “Ai
ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời”. Nhưng sự sống này không
phải là bùa chú tự nhiên thành. Cần phải ăn uống theo qui định. Hôm nay Chúa dạy
ta qui định đó.
Qui định
thứ nhất: “Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại
trong người ấy”. Cuộc trao đổi phải có hai chiều. Cho đi và nhận lãnh. Hai
động từ “ở lại” thuộc hai chiều trao đổi. Ta ở lại trong Chúa. Chúa ở lại
trong ta. Ở lại là biến đổi. Chúa ở lại trong ta nên đã biến đổi nên giống ta.
Chúa đã từ trời xuống thế. Thiên Chúa đã trở nên con người. Sống như con người.
Đói khát như con người. Đau khổ như con người. Chết như con người. Ta muốn ở lại
trong Chúa cũng phải biến đổi nên giống Chúa. Thánh thiện như Chúa. Yêu thương
như Chúa. Quảng đại như Chúa. Điều này được khẳng định bằng qui định thứ hai.
Qui định
thứ hai: “Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Tôi và Tôi sống nhờ Chúa Cha
thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy”. Chúa Giê-su
sống nhờ Chúa Cha. Từ suy nghĩ, lời nói đến hành động, Chúa Giê-su không nói gì
làm gì tự mình, theo ý riêng. Nhưng tất cả đều phát xuất từ Chúa Cha, theo ý
Chúa Cha. “Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta”(Ga 4,34). Thậm
chí đến cả cái chết. Chúa Giêsu “đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết
và chết trên thánh giá”(Pl 2,8). Ta cũng phải sống nhờ Chúa Giê-su như vậy.
Không nghĩ tưởng, nói năng, hành động gì theo ý riêng. Nhưng lời nói, tư tưởng
và hành động của ta phải là của Chúa Giê-su.
Để Chúa
Giê-su ở lại trong ta ta phải từ bỏ mình. Ta phải từ bỏ máu thịt hay chết, tội
lỗi, trần tục của mình để Máu Thịt hằng sống, thánh thiện, thần linh của Chúa
Giê-su Thánh Thể ở lại trong ta.
Thánh
Phao-lô được Chúa chuẩn bị cho cuộc kết hợp sâu xa với Chúa. Nên hôm nay Chúa bắt
ngài phải từ bỏ con người cũ. Phải ngã xuống con người cao ngạo. Phải đui mù
con người tự hào thông minh khôn ngoan. Phải đánh gục con người cứng cỏi. Thánh
Phao-lô đã ngoan ngoãn từ bỏ hết. Để Thiên Chúa chiếm đoạt. Để từ nay không còn
sống cho mình nữa. Mà sống cho Chúa. Ngài đã thay máu thay thịt mình bằng Máu
Thịt Chúa Giêsu. Ngài đã bắt đầu cuộc sống thần linh. Ngài đã bắt đầu cuộc sống
vĩnh cửu.
(TGM Giuse
Ngô Quang Kiệt)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét