Trang

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2017

02-12-2017 : THỨ BẢY - TUẦN XXXIV THƯỜNG NIÊN

02/12/2017
Thứ Bảy đầu tháng, tuần 34 thường niên.


Bài Ðọc I: (Năm I) Ðn 7, 15-27
"Sẽ trao quốc gia và quyền hành cho dân thánh của Ðấng Tối Cao".
Trích sách Tiên tri Ðaniel.
Tôi là Ðaniel, lòng tôi kinh khiếp, tôi run sợ vì những sự đã thấy, các thị kiến trong đầu óc tôi khiến tôi bối rối. Tôi tiến lại gần một vị hầu cận, hỏi người ý nghĩa thật về những sự đó. Người liền giải thích cho tôi và bảo rằng: "Bốn con thú to lớn đó là bốn quốc gia sẽ dấy lên trên địa cầu. Nhưng các thánh của Thiên Chúa Tối Cao sẽ lên ngôi và sẽ nắm giữ quốc gia đến muôn muôn ngàn đời".
Sau đó, tôi muốn tìm hiểu cặn kẽ về con vật thứ tư, nó khác xa mọi con thú kia và rất dữ tợn: nanh móng nó bằng sắt, nó cắn nuốt nhai nghiến, và lấy chân giày đạp những gì còn sót lại. Tôi cũng muốn biết rõ về mười cái sừng trên đầu nó, và một cái sừng mới mọc lên, trước khi ba cái sừng kia bị nhổ đi: cái sừng mới mọc lên lại có mắt và miệng, nó nói lên những điều trọng đại, và nó lớn hơn các sừng khác. Tôi nhìn xem chiếc sừng ấy giao chiến với các thánh và nó toàn thắng, cho tới khi vị Bô Lão đến trao quyền xét xử cho các thánh của Ðấng Cao Cả, tức là tới thời kỳ các thánh chiếm đoạt quốc gia.
Người lại bảo như thế này: "Con vật thứ tư là quốc gia thứ tư trên địa cầu, nó rộng lớn hơn mọi quốc gia, thôn tính cả hoàn cầu và giày đạp phá huỷ địa cầu. Còn mười chiếc sừng là mười vua trong nước đó. Sau mười vua ấy, thì một vua khác dấy lên, có quyền thế hơn các vua trước, và đánh đổ được ba vua. Ông ta nói những lời phạm đến Ðấng Chí Tôn, tàn sát các thánh của Ðấng Tối Cao, ông tưởng mình có thể thay đổi cả thời gian và luật pháp, và người ta sẽ trao vào tay ông một thời kỳ, hai thời kỳ và nửa thời kỳ.
"Ðoạn sẽ có phán quyết để truất phế, tiêu diệt và huỷ hoại ông ta cho tận tuyệt. Còn quốc gia, quyền hành và sự cao sang dưới các tầng trời, sẽ trao cho dân thánh của Ðấng Tối Cao: nước Người là nước hằng hữu, mọi vua chúa sẽ suy phục vâng lời Người".
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Ðn 3, 82. 83. 84. 85. 86. 87
Ðáp: Hãy ngợi khen và tán tạ Chúa tới muôn đời (c. 57b).
Xướng: 1) Hãy chúc tụng Chúa đi, con người ta hỡi. - Ðáp.
2) Chúc tụng Chúa đi, hỡi Israel. - Ðáp.
3) Chúc tụng Chúa đi, các thầy tư tế của Chúa. - Ðáp.
4) Chúc tụng Chúa đi, mọi người tôi tớ Chúa. - Ðáp.
5) Chúc tụng Chúa đi, thần hồn các vị hiền nhân. - Ðáp.
6) Chúc tụng Chúa đi, người thánh và lòng khiêm nhượng. - Ðáp.

Alleluia: Lc 21, 36
Alleluia, alleluia! - Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể xứng đáng đứng vững trước mặt Con Người. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 21, 34-36
"Các con hãy tỉnh thức, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề bởi chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất. Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!"
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm: Tỉnh Thức Cầu Nguyện
Kết thúc diễn từ về ngày tận thế, Chúa Giêsu đưa ra hai thái độ sống cụ thể trong khi chờ ngày của Chúa. Thứ nhất là thái độ sống thanh thoát: "Các con phải đề phòng, chớ để lòng mình đắm say tửu sắc, đa mang sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu các con, vì ngày ấy sẽ ập tới mọi dân cư trên khắp mặt đất". Nói khác đi, Chúa muốn chúng ta sống sứ điệp và giá trị Tin Mừng, không để mình bị mê hoặc chạy theo các chủ trương duy vật, hưởng thụ, qua lo thu tích của cải như một bảo đảm an toàn cho cuộc sống mà lãng quên những nhu cầu tâm linh và các giá trị siêu việt của cuộc sống.
Ðể khỏi rơi vào tình trạng thiếu chuẩn bị trong ngày của Chúa, Chúa Giêsu nêu ra điều kiện tiên quyết, đó là tỉnh thức và cầu nguyện: "Các con phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có đủ sức thoát khỏi những điều sắp xẩy đến và đứng vững trước mặt Con Người". Cầu nguyện là nhìn nhận Chúa là tất cả, là đặt thánh ý Chúa trên hết. Ðồng thời, cầu nguyện là nhận biết mình yếu đuối và cậy trông vào ơn Chúa. Nhờ cầu nguyện, chúng ta sẽ có thái độ tỉnh thức trong đời sống thường ngày, sẽ nhạy bén với tiếng gọi của Chúa qua những biến cố cuộc sống để luôn tìm đẹp lòng Chúa.
Ngày mai chúng ta không biết sẽ ra sao, ngày cuối đời lại càng mù tịt. Xin Chúa cho chúng ta biết sống từng giây phút hiện tại, sao cho luôn được Chúa chúc lành và được tình thương Chúa che chở, để ngày Chúa đến sẽ là ngày hạnh phúc cho chúng ta.
Veritas Asia



LỜI CHÚA MỖI NGÀY
Thứ Bảy Tuần 34 TN1.
Bài đọcDan 7:15-27; Lk 21:34-36.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn!
Con người cần ý thức cuộc đời là một cuộc giao tranh liên tục với ba thù: ma quỉ, thế gian và xác thịt. Kẻ thù nào cũng nguy hiểm và sức mạnh của chúng mạnh hơn sức lực con người. Làm sao để chiến đấu với ba thù mạnh sức như thế? Vũ khí của con người là tỉnh thức đề phòng và cầu nguyện.
Các Bài Đọc hôm nay muốn nêu bật cuộc giao tranh với những quyền lực của thế gian và cách thức để chiến thắng. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Daniel được giải thích về những thị kiến ông nhìn thấy về 4 con thú, đặc biệt về con thú thứ tư, và cuộc chiến thắng của các chư thánh của Thiên Chúa sau triều đại của 4 con thú này. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đề phòng các môn đệ về sự bất ngờ của những gì sẽ xảy ra trong cuộc đời mỗi người và ngày Ngài đến lần thứ hai. Để đối phó với những bất ngờ này, mọi người cần tỉnh thức đề phòng và cầu nguyện không ngừng.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Các vương quốc khắp thiên hạ sẽ được trao cho dân thánh của Đấng Tối Cao.

1.1/ Giải thích thị kiến bốn con thú: Daniel hoang mang vì những điều ấy, và những thị kiến trong đầu làm ông xao xuyến. Ông đến gần một trong những vị đứng túc trực và xin vị ấy cho biết sự thực chắc chắn về tất cả những điều ấy. Người đã nói với ông và giải thích cho tôi ý nghĩa các sự việc: "Bốn con thú to lớn ấy tức là bốn ông vua, từ đất trỗi dậy. Rồi chư thánh của Đấng Tối Cao sẽ lãnh nhận vương quyền và nắm giữ vương quyền ấy mãi mãi muôn đời."
Bốn con thú tượng trưng cho bốn vương quốc cai trị vùng Cận Đông trong thời đó, là: Assyria, Babylon, Ba-tư, và Hy-lạp. Mỗi biểu tượng trong người của con vật tượng trưng cho các vị vua cai trị trong vương quốc ấy. Hai cánh của con thú thứ nhất tượng trưng cho 2 vua Assyria. Ba miếng sườn của con thú thứ hai là 3 vua Babylon: Nebuchadnezzar, Evilmerodach, và Belshazzar. Con thú thứ ba tượng trưng cho vương quốc Ba-tư, với 4 cánh là biểu tượng của 4 vua: Cyrus, Ahasuerus, Artaxerxes, và Darius người Ba-tư.

1.2/ Con thú thứ tư tượng trưng cho vương quốc Hy-lạp.
(1) Thị kiến về con thú thứ tư: "Bấy giờ tôi muốn biết chắc chắn về con thú thứ tư là con thú khác hẳn với tất cả các con khác, nó rất đáng sợ, có răng bằng sắt và vuốt bằng đồng. Nó ăn, nó nghiền, rồi lấy chân chà đạp những gì còn sót lại. Tôi cũng muốn biết chắc về mười cái sừng trên đầu nó và về cái sừng khác đã mọc lên, và ba cái đã rụng đi trước mặt cái sừng ấy; cái sừng này là cái sừng có mắt, và mồm nói những lời quái gở; nó có vẻ lớn hơn các sừng khác. Tôi đang nhìn, thì cái sừng này đã giao chiến với chư thánh và đã thắng được các ngài, cho tới khi Đấng Lão Thành đến và có cuộc xét xử nhằm bênh vực chư thánh của Đấng Tối Cao, cho tới khi thời đến, thời mà chư thánh nắm được vương quyền."
(2) Giải thích về con thú thứ tư: Vị đứng túc trực ấy lại nói với tôi thế này: "Con thú thứ tư là vương quốc thứ tư sẽ xuất hiện trên mặt đất, khác hẳn với mọi vương quốc. Nó sẽ ăn hết toàn cõi đất, sẽ dẫm nát và nghiền tan. Còn mười cái sừng kia là mười ông vua từ vương quốc ấy trỗi dậy." Con thú thứ tư tượng trưng cho vương quốc Hy-lạp. Mười cái sừng tượng trưng cho 10 vị vua cai trị vương quốc Hy-lạp.
Sau đó, "một ông vua khác sẽ trỗi dậy sau mười ông kia. Vua này sẽ khác hẳn các vua trước và sẽ hạ ba vua. Vua này sẽ thốt ra những lời phạm đến Đấng Tối Cao và ngược đãi chư thánh của Người. Vua định thay đổi lịch và Lề Luật. Chư thánh sẽ bị nộp vào tay vua một thời, hai thời và nửa thời." Đây là lời tiên-tri nói về vua Antiochus IV Epiphanes. Ông là người rất ác độc đối với người Do-thái, bắt họ phải theo đạo của nhà vua, hủy bỏ Lề Luật, ngày Sabbath và các ngày lễ, và trừng trị những người không chịu tuân hành (x/c I Mac 1:41-64). Nhưng triều đại của ông chỉ tạm thời qua con số 3 ½ là phân nửa của con số 7. Đây là thời gian thử thách và thanh luyện của dân tộc Do-thái trước khi họ có thể đạt được chiến thắng.
1.3/ Thời kỳ của Đấng Thiên Sai: Sau thời kỳ của bốn vương quốc trần gian là thời kỳ của Đấng Thiên Sai, mà Daniel đã nói tới trong (Dan 7:9-14). Đấng Thiên Sai có hình dáng như Con Người, nhưng có nguồn gốc từ trời và lãnh quyền cai trị từ Đấng Lão Thành; và vương quốc của Ngài sẽ tồn tại muôn đời. Trình thuật hôm nay củng cố thị kiến đó: "Rồi sẽ có cuộc xét xử và người ta sẽ tước quyền thống trị của vua nhằm vĩnh viễn huỷ bỏ và tiêu diệt quyền ấy. Còn vương quốc với quyền thống trị cũng như địa vị cao cả của các vương quốc khắp thiên hạ sẽ được trao cho dân thánh của Đấng Tối Cao. Vương quyền của dân ấy là vương quyền vĩnh cửu, và mọi quyền thống trị sẽ phụng sự và vâng phục dân ấy."
2/ Phúc Âm: Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.

2.1/ Những cám dỗ của thế gian: Chúa Giêsu cảnh cáo các môn đệ 2 điều có thể làm các ông xao lãng việc chuẩn bị cho Ngày Phán Xét:
(1) Vì chè chén say sưa: Ăn quá độ làm thân xác con người ra nặng nề và chỉ muốn ngủ. Một thân xác ù lỳ như thế sẽ không có nghị lực làm bất cứ việc gì. Uống quá độ làm con người say xỉn và con người không còn trí khôn sáng suốt để làm theo những điều hay lẽ phải. Con người phải ăn uống điều độ mới có thể giữ cho tinh thần minh mẫn nhận ra và làm những gì Chúa dạy.
(2) Vì lo lắng sự đời: Con người không thể làm tôi hai chủ: cả Thiên Chúa lẫn tiền bạc. Dĩ nhiên con người phải biết lo lắng làm việc bao lâu còn sống trong thế gian để có phương tiện sinh sống, nhưng không được dành hết thời giờ để lo lắng sự đời. Chúa Giêsu đã từng khuyên dân chúng: “Đừng làm việc để kiếm cho mình những lương thực sẽ hư nát, nhưng cho lương thực sẽ đem lại cuộc sống đời đời” (Jn 6:27).
Nếu không biết chuẩn bị sẵn sàng, “Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, và Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất.” Lúc ấy, có muốn vùng vẫy thóat ra cũng muộn rồi.

2.2/ Sự quan trọng của việc cầu nguyện: Chúa Giêsu ý thức được tầm quan trọng của việc cầu nguyện. Ngài đã nhiều lần cầu nguyện với Chúa Cha, và đã từng dạy các môn đệ cầu nguyện. Một lần nữa, Ngài khuyên các ông điều phải làm trong khi chuẩn bị cho Ngày Tận Thế: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn: hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.” Cầu nguyện còn làm tăng trưởng mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa. Khi mối liên hệ càng mật thiết bao nhiêu, con người càng hăng hái nhiệt thành cho Ngày Chúa đến.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta cần học hỏi để biết về cuộc sống tương lai đời đời với Thiên Chúa, vì “vô tri bất mộ.” Những hấp dẫn của cuộc sống bất tử sẽ là động lực thúc đẩy chúng ta chuẩn bị ngay từ đời này. Nếu không, những lười biếng và cám dỗ của cuộc sống thế gian sẽ làm lòng trí chúng ta ra nặng nề, không còn tấm lòng nhiệt thành đi đón Chúa, và chúng ta sẽ hối hận khi Ngày ấy tới.
- Để giữ lòng nhiệt thành và hăng hái chuẩn bị, chúng ta cần để cho Lời Chúa thấm nhập và làm chủ cuộc đời. Một nếp sống cầu nguyện mật thiết với Thiên Chúa không thể thiếu vì nó sẽ giúp chúng ta khao khát được gặp người chúng ta yêu thương và quí mến. 
Lm. Anthony ĐINH MINH TIÊN, OP.


02/12/2017
THỨ BẢY TUẦN 34 TN
Lc 21,34-36

CHIẾC LƯỚI TỬ THẦN

“Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em.” (Lc 21,34)

Suy niệm: Trong những ngày cuối cùng của năm phụng vụ, Lời Chúa mời gọi ta tỉnh thức và cầu nguyện để không bị hụt hẫng khi Ngày của Chúa đến. Tin Mừng hôm nay với hình ảnh chiếc lưới bất thần chụp xuống không phải là lời đe dọa kiểu “ngáo ộp” đối với con nít, mà là những lời cảnh tỉnh, bởi ngày của Chúa là có thật, sẽ đến “vào lúc không ai ngờ, vào giờ không ai biết.” Thay vì gieo rắc nỗi sợ hãi thì những Lời Chúa về ngày thế mạt ươm trong ta niềm hy vọng, không thất đảm, cũng chẳng để các nỗi ưu tư đè bẹp mình. Nếu có một điều chắc chắn nhất sẽ xảy ra cho ta, thì đó chính là cái chết, sẽ đến vào lúc chính ta không ngờ.

Mời Bạn: Chúa Giê-su dạy ta để sẵn sàng trong ngày Chúa đến thì phải “tỉnh thức và cầu nguyện.” Tỉnh thức ở đây không có nghĩa là không ngủ, mà là biết sáng suốt để nhận định đâu là thánh ý Chúa và đâu là những mưu ma chước quỷ cám dỗ ta. Việc tỉnh thức như thế phải thực hiện trong bầu khí cầu nguyện, kết hiệp thân tình với Chúa.

Chia sẻ: Trình thuật Chúa Giê-su trong vườn Cây Dầu trước khi chịu nạn dạy ta điều gì về việc tỉnh thức và cầu nguyện?

Sống Lời Chúa: Nhớ rằng các linh hồn trong luyện ngục đang cần lời cầu nguyện của bạn mỗi ngày.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin giúp chúng con hiểu được rằng cuộc đời chúng con mong manh lắm, như hoa sớm nở chiều tàn để chúng con không cố bám víu vào cuộc sống đời này, nhưng luôn ngóng đợi ngày Chúa đến. Để chúng con luôn sẵn sàng cho ngày đó, xin giúp chúng con luôn tỉnh thức và cầu nguyện. Amen.
(5 phút Lời Chúa)


Phi đ phòng (2.12.2017 – Th by Tun 34 Thường niên)
Ngày Chúa đến như mt bt ng, như mt cái by sp xung... Bi đó thái đ cn có mi ngày ca người môn đ là luôn luôn thc tnh và cu nguyn.


Suy nim:
Tháng 9-2009, Tổng Thống Nga Medvedev
gọi nạn nghiện rượu là quốc nạn.
Mỗi năm tính bình quân mỗi người dân uống khoảng 18 lít,
gấp đôi lượng rượu được coi là nguy hiểm cho sức khỏe.
Nửa số người Nga chết giữa khoảng 15-54 tuổi là do hậu quả của rượu.
Trẻ em và phụ nữ cũng nghiện.
Tuổi thọ trung bình của đàn ông chỉ còn là 59.
Vì nhiều người chết nên dân số Nga sụt giảm mỗi năm.
Làm gì để cai nghiện cho hơn hai triệu người Nga,
đó là chuyện nhức đầu cho các nhà lãnh đạo.
Nhưng tại sao người ta lại bị nặng nề bởi rượu Vodka?
Bài Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta
về những thứ nặng nề đè trên trái tim người Kitô hữu.
Trong khi chờ đợi Chúa đến vào thời điểm không đoán trước được,
chúng ta có thể bị vướng vào những thú vui buông thả.
Sống bừa bãi, phóng túng, nhậu nhẹt, say sưa,
đó vẫn là cám dỗ muôn thuở của thân xác.
Chỉ cần đi một vòng thành phố hay các vùng quê vào ban đêm,
chúng ta thấy ngay cả một thế giới của ăn uống, hưởng thụ.
Nhưng trái tim con người còn có thể trở nên nặng nề
bởi những lo âu trần thế (x. Lc 8, 14).
Làm sao nhà cửa có thêm tiện nghi? làm sao thêm lương và lên chức?
Những nỗi lo toan về cuộc sống vật chất vắt kiệt con người,
khiến con người không còn khả năng mở ra trước Chúa và tha nhân.
Con người giàu lên, nhưng lại thấy mình bất hạnh và gia đình đổ vỡ.
Mỗi năm ba mươi ngàn người chết vì tự tử ở Nhật.
Trái tim nặng nề nên nhiều người mắc bệnh tim mạch.
Trái tim bị kéo xuống cái thực dụng tầm thường ở trên mặt đất,
nên con người bị còng xuống, không ngước lên được điều trên cao.
Ngày Chúa đến như một bất ngờ, như một cái bẫy sập xuống,
không phải chỉ trên người Do Thái,
nhưng trên mọi dân cư ở khắp mặt địa cầu (c. 35).
Cả thế giới phải chịu phán xét chẳng trừ ai.
Bởi đó thái độ cần có mỗi ngày của người môn đệ
là luôn luôn thức tỉnh và cầu nguyện,
để có sức mà thoát khỏi mọi điều sắp xảy ra (c. 36).
Để chuẩn bị cho cái chung cục, thì phải sống đều đặn cái hàng ngày.
Làm sao để khi Con Người là Đức Giêsu trở lại trên mây trời,
Ngài thấy chúng ta đang ở tư thế đứng thẳng,
không phải xấu hổ cúi đầu, không bị ràng buộc bởi đam mê,
nhưng vui sướng vì mình đã không uổng công chờ đợi.
Có những lo âu vẫn chi phối tôi làm tôi nặng lòng.
Có những mê đắm kéo ghì tôi xuống và bắt tôi làm nô lệ.
Mùa Vọng sắp đến mời tôi tỉnh thức và cầu nguyện, để đứng lên.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa quang lâm,
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.
Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang,
còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt,
Chúa đâu muốn mất một người nào...
Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa
xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng,
vui tươi và hạnh phúc,
để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn
cho mọi người và cho cả vũ trụ.
Xin nuôi dưỡng nơi chúng con
niềm tin vững vàng
và niềm hy vọng nồng cháy,
để tất cả những gì chúng con làm
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.

Lm Antôn Nguyn Cao Siêu, SJ


Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
2 THÁNG MƯỜI HAI
Gặp Gỡ Chính Thiên Chúa
“Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán,
điều Chúa phán là lời chúc bình an
cho dân Người, cho kẻ trung hiếu
và những ai hướng lòng trí về Người.
Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ
cho ai kính sợ Chúa,
để vinh quang của Người
hằng chiếu tỏa trên đất nước chúng ta” (Tv 85, 9-10).
Chúng ta cầu nguyện bằng những lời ấy của Thánh Vịnh. Và những lời ấy được hoàn thành khi Đức Trinh Nữ ở Na-da-rét nghe lời Thiên Chúa nói qua sứ thần: “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao … Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,31-35).
Đức Trinh Nữ ở Na-da-rét đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa dành cho ngài. Ngài lắng nghe Thiên Chúa với toàn tâm. Ngài không chỉ đón nhận Lời trở thành xác phàm. Ngài vâng theo Lời và đáp: “Này tôi đây là nữ tì của Chúa, xin hãy thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Mùa Vọng đã được hoàn thành như thế, Mùa Vọng đầu tiên của loài người.
Mùa Vọng, đó là sự đến gần ơn cứu độ. Mùa Vọng hướng chỉ vinh quang của Thiên Chúa trên trái đất. Mùa Vọng là một cuộc gặp gỡ với chính Thiên Chúa – như lời Thánh Vịnh:
“Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ,
hòa bình công lý đã giao duyên” (Tv 85,11).
Và, Lời trở thành xác thịt trong cung lòng Đức Trinh Nữ. Công lý đến từ Thiên Chúa. Công lý đến trong tư cách là phúc ân và an bình, là sự giao hòa với Thiên Chúa và với người Con vĩnh cửu.
Công lý được ban cho con người trong Đức Kitô như thế đòi hỏi con người phải đáp lại như thế nào? Con người phải mang lấy gì trong lòng mình? Con người phải mang lấy lòng trung thành, vì
“Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp,
công lý nhìn xuống tự trời cao” (Tv 85,12).
Đó đúng là điều đã xảy ra trong tâm hồn Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm. Quả thật, chính trong tâm hồn ngài, Mùa Vọng đầu tiên của nhân loại đã được hoàn tất. Ngài trở thành mẫu thức của Giáo Hội qua lời đáp trả đầy niềm tin của mình. Và biến cố Truyền Tin đã trở thành biến cố Chúa đến cách dứt khoát.



Hạnh Các Thánh
2 Tháng Mười Hai

Thánh Edmund Campion
(c. 1581)


Thánh Edmund sống trong thế kỷ mười sáu. Ngài là một sinh viên người Anh rất nổi tiếng về khoa hùng biện. Thật vậy, Edmund được chọn làm người đọc diễn văn chào mừng Nữ Hoàng Elizabeth khi bà đến thăm trường. Các sinh viên vì mến mộ tài năng cũng như tư cách của ngài nên bầu ngài làm thủ lãnh. Ngay cả nữ hoàng và tổng trưởng nội các cũng yêu quý người thanh niên duyên dáng này. Nhưng Edmund gặp khó khăn về vấn đề tôn giáo. Ngài luôn nghĩ rằng Giáo Hội Công Giáo là một giáo hội đích thật và ngài không giấu giếm tâm tình này. Bởi đó, nhà cầm quyền, hiện đang bách hại người Công Giáo, rất nghi ngờ ngài. Edmund biết rằng ngài sẽ mất sự yêu quý của nữ hoàng cũng như mọi cơ hội để có một sự nghiệp vĩ đại nếu trở lại Công Giáo. Tuy vậy, sau thời gian cầu nguyện ngài đã trở thành người Công Giáo.

 Sau khi trốn khỏi nước Anh, Edmund học làm linh mục. Ngài gia nhập dòng Tên. Khi Ðức Thánh Cha quyết định gửi một số linh mục dòng Tên sang nước Anh, Cha Edmund Campion là một trong những người đầu tiên ra đi. Ðêm trước khi lên đường, một trong những linh mục bạn cảm thấy có sựï thôi thúc để viết lên cửa phòng ngài hàng chữ: "Cha Edmund Campion, tử đạo." Mặc dù ngài biết sự nguy hiểm đang chờ trước mặt, vị linh mục thánh thiện này đã vui vẻ ra đi. Thật vậy, ngài đã khiến nhiều người mỉm cười khi giả làm người buôn bán nữ trang. Ở Anh, ngài đã thành công khi rao giảng cách bí mật cho những người Công Giáo. Trong khi đó, các mật vụ của nữ hoàng ở khắp nơi để rình bắt ngài. Cha Campion viết: "Tôi không thể trốn thoát họ lâu hơn nữa. Ðôi khi tôi đọc được lá thư viết rằng 'Campion đã bị bắt!'" Sau cùng, chính vì một kẻ phản bội mà cha đã bị bắt. Khi ở tù, ngài được các viên chức chính phủ đến thăm vì sự mến mộ ngài trước đây. Dường như ngay cả Nữ Hoàng Elizabeth cũng đến. Nhưng không một lời đe dọa nào hay dụ dỗ nào có thể làm ngài chối bỏ đức tin Công Giáo. Ngay cả sự tra tấn cũng không lay chuyển lòng tin của ngài. Bất kể sự đau khổ, ngài vẫn bảo vệ ngài và các linh mục bạn bằng những lời lẽ mà không ai có thể bắt bẻ được. Sau cùng, ngài bị kết án tử hình. Trước khi chết, ngài đã tha thứ cho kẻ phản bội ngài. Cha Edmund Campion từ trần năm 1581, lúc ấy khoảng bốn mươi mốt tuổi.

Trích từ NguoiTinHuu.com


2 Tháng Mười Hai

Mòn Mỏi Ðợi Trông


Ngày kia, một hoàng đế nọ tập trung lại tất cả các nghệ sĩ trong mọi lãnh thổ của đế quốc, để tổ chức một cuộc thi đua. Ðề tài của cuộc thi đua là: mô tả dung mạo của hoàng đế...

Các nghệ sĩ Ấn Ðộ đến với đầy đủ dụng cụ và các thứ đá hoa cương qúy giá. Các nghệ sĩ người Armêni mang đến một thứ đất sét mà chỉ có họ mới biết được giá trị của nó. Những người Ai Cập thì mang đến đủ thứ dụng cụ và một khối cẩm thạch qúy giá.

Sau cùng, người ta thấy xuất hiện một phái đoàn Hy Lạp. Mọi người đều ngạc nhiên, bởi vì họ chỉ mang đến vỏn vẹn một gói thuốc đánh bóng...

Người ta giam các nghệ sĩ vào trong các khu nội cấm trong cung điện. Khi thời hạn ấn định đã đến, hoàng đế cho trưng bày tất cả các tác phẩm của các nghệ sĩ. Ông trầm trồ ca ngợi bức chân dung của chính mình do các họa sĩ Ấn Ðộ vẽ. Sang đến các pho tượng của người Ai Cập và các mô hình của người Armêni, ông càng tỏ ra thán phục hơn.

Sau cùng, khi đến gian hàng của người Hy Lạp, ông chỉ thấy vỏn vẹn bức tường bằng cẩm thạch của phòng khách, nhưng mặt tường được đánh bóng đến độ khi nhìn vào ông thấy nguyên khuôn mặt của mình hiện ra từng nét...

Và dĩ nhiên, phái đoàn đã đoạt giải chính là những người Hy Lạp, bởi vì họ đã hiểu rằng chỉ có hoàng đế mới họa được chính khuôn mặt của mình.

Họa lại khuôn mặt của Ðức Kitô: đó là mục đích của Giáo Hội. Và nói như danh họa kiêm điêu khắc gia Michelangelo: "Ðể tạc một bức tượng, điều quan trọng chính là những gì phải được gọt bỏ".

Muốn họa lại khuôn mặt của Ðức Kitô, Giáo hội phải đánh bóng bức tường khuôn mặt của mình bằng cách gọt bỏ, đục đẽo tất cả những gì còn sần sùi, thừa thãi...

Mùa Vọng là mùa của mong đợi... Hai chữ mong đợi trong ngôn ngữ Việt Nam thường được đi kèm với hai chữ khác: mòn mỏi. Mong đợi nào cũng làm cho con người ta mòn mỏi. Nhưng chính sự hao mòn đó càng làm cho giây phút gặp nhau thêm đậm đà, thắm thiết hơn.

Mùa Vọng là trường dạy chúng ta mong đợi. Ðức Kitô đến với chúng ta qua từng biến cố, từng phút giây trong cuộc sống. Ngài chỉ đựơc nhận diện, Ngài chỉ được họa lên nguyên hình nếu chúng ta chấp nhận đánh bóng bức tường thành rong rêu hoặc sần sùi của con người chúng ta. Càng mòn mỏi, càng được gọt đẽo, chúng ta càng thấy được Ðức Kitô và càng họa lại được Ðức Kitô cho người khác...

Thật ra, không phải chúng ta là người họa lại khuôn mặt của Ðức Kitô, mà chính Ngài đến với chúng ta với những đường nét mà chỉ có Ngài mới biết đích thực là của Ngài. Bổn phận của người Kitô chính là chấp nhận cho Ðức Kitô dùng con người của mình để nhìn thấy khuôn mặt của Ngài. Phiến đá cẩm thạch của con người chúng ta càng bóng láng, khuôn mặt của Ðức Kitô càng hiện rõ...

Trích sách Lẽ Sống


Tông Du Bangladesh: Đức Phanxicô nhìn nhận Rohingya, tuy không dùng danh xưng này.

Tông Du Bangladesh: Đức Phanxicô nhìn nhận Rohingya, tuy không dùng danh xưng này.

Vũ Văn An
30/Nov/2017

Tin của tập san Crux từ Dhaka, Bangladesh, cho hay Đức Phanxicô, hôm thứ Năm, đã từ Miến Điện qua Bangladesh và, lần đầu tiên, trong bốn ngày qua, đã nhìn nhận “có con voi lớn ở trong phòng” (nhưng không ai muốn thấy) đó là cuộc khủng hoảng của người Hồi Giáo Rohingya, bị cưỡng bức phải trốn chạy qua Bangladesh và nhiều nước lân cận.

Thế nhưng, một lần nữa, ngài lại tránh không minh nhiên sử dụng danh xưng “Rohingya”. Ngài nói: “Trong mấy tháng gần đây, tinh thần đại lượng và liên đới, một tinh thần vốn là đặc điểm rõ nét của xã hội Bangladesh, đã được chứng tỏ môt cách sống động nhất trong việc họ nối vòng tay lớn nhân đạo với đoàn lũ đông đảo người tỵ nạn từ Tiểu Bang Rakhine, bằng cách cung cấp cho họ nơi trú ẩn tạm thời và các nhu cầu căn bản của cuộc sống”.

Miến Điện vốn không nhìn nhận người Rohingya là cư dân hợp pháp của xứ sở, chính thức gọi họ là “những tên Bengal xâm lấn”, trong khi, trong nhiều năm qua, Bangladesh đã mở cửa cho hơn 1 triệu người Rohingya (nội trong 3 tháng qua là 600,000 người).

Thế nhưng, trong diễn văn nghinh đón Đức Phanxicô, Tổng Thống Abdul Harmid đã sử dụng danh xưng Rohingya. Ông nói rằng Bangladesh dành nơi trú ẩn cho “những người Rohingya bị buộc phải tản cư khỏi quê hương của tổ tiên họ ở Tiểu Bang Rakhine của Miến Điện”.

Nhiều người Rohingya đã bị giết, và trong số các phụ nữ, hàng ngàn người bị hiếp dâm. Nhà cửa họ bị thiêu rụi, và như Tổng Thống Harmid nói, họ đã phải “tìm nơi ẩn náu tại Bangladesh để tránh thoát các hành động tàn ác hết sức nhẫn tâm của quân đội Miến Điện”.

Vị tổng thống này cũng cho rằng sau khi nhân dân Bangladesh chấp nhận “sự bất tiện” vì đã nghinh đón họ, nay trách nhiệm chung là bào đảm cho họ một “việc hồi cư an toàn, lâu dài và tôn trọng phẩm giá trở lại quê hương họ và được hội nhập vào đời sống xã hội, kinh tế và chính trị của Miến Điện”.

Tổng Thống Harmid cũng hoan nghinh chủ trương “rất đáng ca ngợi” của Đức Phanxicô khi ủng hộ người Rohingya; ông nói rằng lời Đức Giáo Hoàng kêu gọi thế giới đến giúp đỡ họ đã đem đến cho cộng đồng quốc tế một trách nhiệm tinh thần phải hành động nhanh chóng và thành thực”

Trong các nhận định của mình, Tổng Thống Harmid cũng đã đưa ra một lời kết án mạnh mẽ chủ nghĩa khủng bố; ông cho rằng đối với chủ nghĩa cực đoan bạo lực và nguyên nhân gốc rễ của chủ nghĩa khủng bố, không thể có bất cứ thứ dung tha nào. Ông nói rằng: “Cùng một lúc, giống các nước đa số theo Hồi Giáo khác, chúng tôi luôn quan tâm tới sự gia tăng của chủ nghĩa thù ghét Hồi Giáo và tội ác thù hận ở nhiều xã hội Tây Phương, một chủ nghĩa đang tác động tiêu cực đối với đời sống hàng triệu tín hữu ưa chuộng hòa bình”.

Theo yêu cầu của Đức Hồng Y Charles Bo, Đức Phanxiicô đã tránh sử dụng danh xưng Rohingya xuốt trong thời gian ở Miến Điện, và cả ở đây, cho tới nay, ngài vẫn tránh việc này, dù ca ngợi người Bangladesh đã nghinh đón họ “với không ít hy sinh”.

Trước khi thúc giục cộng đồng quốc tế giúp giải quyết các vấn đề chính trị từng dẫn đến việc sơ tán ồ ạt cũng như trợ giúp vật chất cho khối người này, Đức Phanxicô nói rằng: “Không ai trong chúng ta lại có thể không biết đến sự trầm trọng của tình thế, số lượng khổng lồ các đau khổ của con người, và điều kiện sinh sống bấp bênh của rất nhiều anh chị em chúng ta, mà đa phần là phụ nữ và trẻ em, chen chúc nhau trong các trại tị nạn”.

Có khoảng 600,000 người đã rời Miến Điện chạy qua Bangladesh từ cuối tháng Tám, để định cư ở một nơi mà cho tới tháng 7 chỉ là những cánh đồng trống ít được cày cấy. Các quan sát viên mô tả các trại tỵ nạn này là lớn nhất trong lịch sử gần đây, so sánh chúng với các trại tỵ nạn ở Kenya trong cuộc diệt chủng Rwandan.

Lời lẽ của Đức Phanxicô được gióng lên ở Dinh Tổng Thống Bangabhaban, khi ngài ngỏ lời với khoảng 400 đại diện các nhà cầm quyền dân sự, ngoại giao đoàn và thành viên xã hội dân sự.

Khi đặt chân tới Bangladesh, đầu tiên Đức Phanxicô tới viếng “Đài Tưởng Niệm Tử Đạo Quốc Gia”, cách Dhaka cừng 20 dặm. Đài này được dựng lên để tưởng nhớ tất cả những người đã hiến mạng sống mình trong Chiến Tranh Giải Phóng Bangladesh khỏi Pakistan, một cuộc chiến tranh đã đem lại độc lập và tách Bangladesh ra khỏi Pakistan.

Sau đó, ngài tới viếng Bảo Tàng Viện Tưởng Niệm Bangbandhu để tôn kính Sheikh Mujibur Rahman, tổng thống đầu tiên của Bangladesh, được coi như cha già dân tộc. Cùng với 31 thành viên của gia đình, Rahman bị sát hại năm 1975, trong cuộc chiến tranh giành độc lập cho xứ sở.

Đức Phanxicô nhắc đến Rahman trong bài diễn văn đầu tiên của ngài trên đất Bangladesh. Ngài nói rằng Ông hiểu rõ, “là thành viên của gia đình nhân loại duy nhất”, người ta cần đến nhau.

Ngài cho hay, các nhà lập quốc Bangladesh “có viễn kiến về một xã hội hiện đại, đa nguyên và bao gồm mọi người” trong đó, người ta có thể sống tự do và hòa bình, với phẩm giá bẩm sinh được tôn trọng và là nơi mọi người có các quyền bình đẳng nhau.

“Tương lai của nền dân chủ trẻ trung này và sự lành mạnh của đời sống chính trị của nó, trong yếu tính, vốn liên kết với sự trung thành đối với viễn kiến lập quốc đó”. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói thế khi cho biết thêm rằng cuộc đối thoại chân thực được xây dựng trên việc phục vụ ích chung, với sự lưu ý đặc biệt tới người nghèo và người không có tiếng nói.

Bangladesh là một nước đa số theo Hồi Giáo, nơi người Công Giáo chỉ là 350,000 người, nghĩa là chiếm 0.2% tổng dân số, với 400 linh mục. Đây là nước đông dân hàng thứ 8 của thế giới và là một trong những nước nghèo nhất: khoảng 30% dân chúng sống dưới mức nghèo tức kiếm được dưới 2 dollars một ngày.

Chuyến thăm viếng Bangladesh của Đức Phanxicô diễn ra sau chuyến viếng thăm năm 1986 của Đức Gioan Phaolô II. Đức Phaolô VI có dừng chân ở đây năm 1970 lúc nước này còn có tên là Đông Pakistan.

Trong chuyến tông du từ 30 tháng 11 tới 2 tháng 12, Đức Phanxicô sẽ có cuộc gặp gỡ liên tôn, gặp người Hồi Giáo Rohingya, cử hành Thánh Lễ với sự tham dự của 100,000 người, trong đó, ngài sẽ tấn phong 16 linh mục. Sau cùng, ngài sẽ gặp gỡ giới trẻ như ngài đã làm tại Miến Điện.

Trong bài diễn văn với các nhà cầm quyền, Đức Phanxicô trình bầy Bangladesh như một đất nước nổi danh về sự hài hòa giữa các tín hữu của các tôn giáo khác nhau; ngài nói rằng một chứng tá như thế “càng cần thiết hơn” trong một thế giới nơi tôn giáo “thường bị lạm dụng một cách tai tiếng để xúi giục chia rẽ”.

Về mặt chính thức, Bangladesh là một quốc gia thế tục nơi tự do tôn giáo được hiến pháp bảo đảm. Ước lượng có đến 86 phần trăm dân chúng theo Hồi Giáo, hơn 10 phần trăm theo Ấn Giáo và phần còn lại theo Phật Giáo, Kitô Giáo và duy linh (animist).

Open Doors International, một tổ chức bất vụ lợi ở Hoa Kỳ chuyên theo dõi việc bách hại Kitô hữu khắp thế giới, đã ấn định mức bách hại đối với cộng đồng Kitô Giáo bé nhỏ của quốc gia này là “rất cao” không phải trong tay chính phủ mà là các nhóm cực đoan Hồi Giáo.

Mấy ngày trước chuyến tông du, một linh mục thuộc số những người sẽ gặp Đức Giáo Hoàng hôm thứ Bẩy, đã bị bắt cóc, và nhiều người ở đây tin rằng ISIS đứng đàng sau vụ này.

Qũy giáo hoàng hoàn cầu “Giúp Đỡ Giáo Hội Túng Thiếu”, một tổ chức giúp đỡ các Kitô hữu bị bách hại, đã viết một bài trên trang mạng của họ với hàng chữ: “Các Kitô Hữu Bị Áp Bức ở Bangladesh Đang Chờ Mong Chuyến Viếng Thăm của Đức Giáo Hoàng”. Một trong mười hai giám mục trong nước, Đức Cha Bejoy Nicephorus D’Cruze, thuộc giáo phận Sylhet, phía đông bắc, nói rằng bất chấp luật lệ, các Kitô hữu đối phó với việc bị kỳ thị hàng ngày và không có cùng một cơ hội giáo dục và việc làm như những người khác.

Cha Adam Pereira, thuộc Đại Học Notre Dame ở Bangladesh, nói rằng tình thế các Kitô hữu ở đây “tốt hơn ở Pakistan”, một đất nước luôn đứng hàng thứ năm tệ nhất đối với Kitô hữu, sau Bắc Hàn và Afghanistan.

Cha nói với tập san Crux, lúc Đức Phanxicô đặt chân tới Bangladesh, rằng “Chúng tôi có sự hỗ trợ của thủ tướng và chính phủ, họ đứng sau lưng chúng tôi và các cộng đồng tôn giáo thiểu số khác”. Chủ nghĩa cực đoan, theo ngài, “không phải là qui luật” nhưng diễn ra khá thường xuyên khiến nhiều người lo sợ, từ đó, muốn có “nhiều tự do hơn”. Chắc chắn ý thức được bối cảnh này, và giữ đúng thái độ dè dặt trong việc đưa ra các nhận đỉnh nẩy lửa trong chuyến tông du Á Châu lần này, nên Đức Phanxicô đã nhỏ nhẹ nói rằng Giáo Hội ở Bangladesh đánh giá cao “quyền tự do thực hành đức tin của mình và theo đuổi các việc bác ái, mang lợi ích lại cho toàn thể quốc gia”.

Ngài liệt kê một số việc làm trên và nhắc các chính trị gia địa phương nhớ rằng bất chấp con số nhỏ nhoi, người Công Giáo vẫn “đóng một vai trò xây dựng trong việc phát triền đất nước” đặc biệt qua các trường học, bệnh xá và phòng phát thuốc.

Ngài nhận định: “Quả thực, tuyệt đại đa số học sinh và thầy cô trong các trường này không theo Kitô Giáo, nhưng thuộc các truyền thống tôn giáo khác. Tôi xác tín rằng, phù hợp với chữ nghĩa và tinh thần của hiến pháp, cộng đồng Kitô hữu sẽ tiếp tục được hưởng tự do để thi hành các việc làm tốt này như một biểu thức nói lên cam kết của họ đối với ích chung”.

Trong một cuộc phỏng vấn tại Dinh Tổng Thống sau bài diễn văn, Marcia Bernicat, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Bangladesh, nói rằng các nhận định của Đức Giáo Hoàng về hợp nhất và đa dạng “rất, rất được hoan nghinh”

Khi được hỏi liệu Đức Giáo Hoàng có nên minh nhiên nhắc đến danh xưng Rohingya hay không, Đại Sứ Bernicat nói: Đức Phanxicô đã diễn tả “bằng các hạn từ minh nhiên thảm kịch đã diễn ra tại Miến Điện”. Bà cũng cho biết bà đánh giá cao việc ngài nhìn nhận những gì Bangladesh đã làm để tiếp đón người Rohungya trốn chạy khỏi Miến Điện. Bà nói “Tôi từng nghe người Rohingya được mô tả như những người bị hoàn toàn tước hết mọi sự. Nhưng họ có cái tên của họ. Tuy nhiên, theo tôi, điều quan trọng nhất là liệu họ có một tiếng nói hay không và đối với mọi người từng làm chứng cho nỗi đau khổ mà họ vốn chịu xưa nay, chúng ta giúp họ, và chúng ta giúp khuếch đại tiếng nói của họ”.






Tông du Bangladesh: Diễn văn của Đức Phanxicô trước Tổng Thống, các nhà cầm quyền dân sự, các nhà lãnh đạo xã hội dân sự và ngoại giao đoàn

Tông du Bangladesh: Diễn văn của Đức Phanxicô trước Tổng Thống, các nhà cầm quyền dân sự, các nhà lãnh đạo xã hội dân sự và ngoại giao đoàn

Vũ Văn An
01/Dec/2017

Phòng Báo Chí của Tòa Thánh công bố các chi tiết sau đây về ngày đầu tiên, 30 tháng 11, Đức Phanxicô có mặt tại Bangladesh: hội kiến với Tổng Thống Hamid, gặp gỡ các nhà cầm quyền, đại biểu xã hội dân sự và ngoại giao đoàn tại Dinh Tổng Thống ở Dhaka.

Hồi 17 giờ 30, giờ địa phương, Đức Thánh Cha đã đến viếng xã giao Tổng Thống Cộng Hòa Bangladesh, Ông Abdul Hamid. Tới nơi, ngài được nghinh đón bởi Thư Ký Quân Đội; viên chức này tháp tùng ngài tới cửa danh dự, nơi Tổng Thống đứng sẵn chờ đợi. Cuộc hội kiến riêng diễn ra tại Phòng Quốc Thư, kết thúc với việc giới thiệu các thành viên trong gia đình và trao đổi quà tặng. Cuối cùng, Đức Giáo Hoàng và Tổng Thống tiến ra đại sảnh nơi diễn ra cuộc gặp gỡ với các nhà cầm quyền và giới ngoại giao.

Đúng 18 giờ 00, tại Dinh Tổng Thống ở Dhaka, cuộc gặp gỡ đã diễn ra với các nhà cầm quyền chính trị và tôn giáo, thành viên ngoại giao đoàn và đại diện xã hội dân sự. Sau lời phát biểu của Tổng Thống Hamid, Đức Giáo Hoàng đã đọc bài diễn văn sau đây:

Kính thưa Tổng Thống
Qúy Nhà Cầm Quyền Chính Phủ và Dân Sự
Kính thưa Đức Hồng Y, các hiền huynh giám mục,
Kính thưa qúy thành viên ngoại giao đoàn
Kính thưa qúy bà và qúy ông

Lúc bắt đầu những ngày ngụ tại Bangladesh, tôi muốn được cám ơn ngài, thưa Tổng Thống, về lời mời nhân ái tới viếng thăm xứ sở này và về những lời nghinh đón khả ái. Tôi tới đây theo dấu chân của hai vị tiền nhiệm là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, để cầu nguyện với các anh chị em Công Giáo của tôi, và để đem đến cho họ một thông điệp của tình âu yếm và khích lệ. Bangladesh là một quốc gia trẻ trung, nhưng luôn có một vị trí đặc biệt trong trái tim các vị giáo hoàng, những vị từ đầu vẫn luôn bầy tỏ tình liên đới với nhân dân của nó, tìm cách đồng hành với họ trong việc vượt qua các nghịch cảnh buổi đầu, và hỗ trợ họ trong trách vụ đòi hỏi là xây dựng và phát triển quốc gia. Tôi biết ơn vì có dịp được ngỏ lời với cuộc tụ tập này, một cuộc tụ tập đem lại với nhau các người nam nữ có những trách nhiệm đặc thù trong việc lên khuôn tương lai của xã hội Bangladesh.

Trong chuyến bay tới đây, tôi được nhắc nhở rằng Bangladesh – tức “Bengal Vàng” – là một nước được thống nhất nhờ một hệ thống sông ngòi lớn nhỏ. Vẻ đẹp tự nhiên này, theo tôi, tượng trưng cho bản sắc đặc thù của qúy vị trong tư cách một dân tộc. Bangladesh là một quốc gia đang cố gắng kết hợp sự thống nhất về ngôn ngữ và văn hóa với việc tôn trọng các truyền thống và cộng đồng khác nhau, vốn là những thứ, giống như những dòng suối, từng rút tỉa và ngược lại đã phong phú hóa những luồng chẩy vĩ đại của đời sống chính trị và xã hội của đất nước.

Trong thế giới ngày nay, không một cộng đồng, một quốc gia hay một nhà nước đơn lẻ nào có thể tồn tại và tiến bộ trong cô lập. Là các thành viên của một gia đình nhân loại duy nhất, chúng ta cần đến nhau và tùy thuộc lẫn nhau. Tổng Thống Sheikh Mujibur Rahman hiểu và tìm cách hiện thân nguyên tắc này trong Hiến Pháp quốc gia. Ông có viễn kiến về một xã hội hiện đại, đa nguyên và bao gồm mọi người, trong đó, mỗi ngưởi và mỗi cộng đồng có thể sống trong tự do, hòa bình và an ninh, với lòng tôn trọng phẩm giá bẩm sinh và các quyền bình đẳng của mọi người. Tương lai của nền dân chủ trẻ trung này và sự lành mạnh trong đời sống chính trị của nó, từ trong yếu tính, vốn liên kết với sự trung thành đối với viễn kiến lập quốc này. Vì chỉ nhờ việc thành thực đối thoại và tôn trọng tính đa dạng hợp pháp một dân tộc mới có thể hoà giải được các chia rẽ, thắng vượt các lối nhìn một chiều, và nhìn nhận giá trị của các quan điểm dị biệt. Vì cuộc đối thoại đích thực biết nhìn về tương lai, nó xây dựng sự thống nhất để phục vụ ích chung và quan tâm tới các nhu cầu của mọi công dân, nhất là người nghèo, người kém thế và tất cả những người không có tiếng nói.

Trong mấy tháng gần đây, tinh thần đại lượng và liên đới, một tinh thần vốn là đặc điểm rõ nét của xã hội Bangladesh, đã được chứng tỏ một cách sống động nhất trong việc họ nối vòng tay lớn nhân đạo với đoàn lũ đông đảo người tỵ nạn từ Tiểu Bang Rakhine, bằng cách cung cấp cho họ nơi trú ẩn tạm thời và các nhu cầu căn bản của cuộc sống. Điều này được thực hiện với không ít sự hy sinh. Nó cũng được thực hiện dưới con mắt của toàn thế giới. Không ai trong chúng ta lại có thể không biết đến sự trầm trọng của tình thế, số lượng khổng lồ các đau khổ của con người, và điều kiện sinh sống bấp bênh của rất nhiều anh chị em chúng ta, mà đa phần là phụ nữ và trẻ em, chen chúc nhau trong các trại tị nạn. Điều bắt buộc là cộng đồng quốc tế phải đưa ra các biện pháp có tính quyết định nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng trầm trọng này không nguyên bằng cách giải quyết các vấn đề chính trị, tức các vấn đề từng dẫn đến việc tản cư hàng loạt người dân, mà còn phải trợ giúp tức khắc về vật chất cho Bangladesh trong cố gắng của họ nhằm đáp ứng hữu hiệu các nhu cầu cấp bách của con người.

Dù chuyến viếng thăm của tôi chủ yếu nhằm nói với cộng đồng Công Giáo, nhưng một khoảnh khắc đặc ân sẽ là cuộc gặp gỡ của tôi với các nhà lãnh đạo đại kết và liên tôn. Cùng nhau, chúng tôi sẽ cầu nguyện cho hòa bình và tái khẳng định sự dấn thân của chúng tôi làm việc cho hòa bình. Bangladesh nổi tiếng vì sự hài hòa mà theo truyền thống vốn hiện hữu giữa các tín đồ của các tôn giáo đa dạng. Bầu khí tôn trọng lẫn nhau, và bầu khí đối thoại liên tôn mỗi ngày một gia tăng, sẽ giúp các tín hữu tự do biểu lộ các xác tín sâu sắc của họ về ý nghĩa và mục đích đời người. Nhờ cách này, họ có thể đóng góp vào việc cổ vũ các giá trị tâm linh vốn là nền tảng vững chãi cho một xã hội công chính và ưa chuộng hòa bình. Trong một thế giới tôn giáo thường bị lạm dụng một cách đầy tai tiếng để xúi giục chia rẽ, một chứng tá đối với sức mạnh hòa giải và thống nhất như thế càng cần thiết hơn nữa. Điều này được thấy một cách đặc biệt hùng hồn trong phản ứng bất bình chung tiếp theo cuộc tấn công khủng bố dã man tại Dhaka vào năm ngoái, và trong sứ điệp rõ ràng của các nhà lãnh đạo tôn giáo của quốc gia, sứ điệp này nói rằng danh rất thánh của Thiên Chúa không bao giờ được kêu tới để biện minh cho thù hận và bạo lực chống lại các đồng loại nhân bản của chúng ta.

Các người Công Giáo của Bangladesh, dù tương đối ít về số lượng, nhưng đã cố gắng đóng một vai trò xây dựng trong việc phát triển quốc gia, nhất là qua các trường học, bệnh xá và phòng phát thuốc của họ. Giáo Hội đánh giá cao quyền tự do thực hành đức tin của mình và theo đuổi các việc bác ái, vốn mang lợi ích cho toàn thể quốc gia, bằng cách ít nhất cũng cung cấp cho giới trẻ, vốn đại diện cho tương lai của xã hội, một nền giáo dục có phẩm chất và một nền đào tạo về các giá trị đạo đức và nhân bản lành mạnh. Trong các trường học của mình, Giáo Hội tìm cách cổ vũ nền văn hóa gặp gỡ, một nền văn hóa giúp học sinh khả năng biết lãnh lấy trách nhiệm của họ trong đời sống xã hội. Quả vậy, đại đa số các học sinh và nhiều thầy cô trong các trường này không phải là Kitô hữu, mà xuất thân từ các truyền thống tôn giáo khác. Tôi tin tưởng rằng, phù hợp với chữ nghĩa và tinh thần của Hiến Pháp quốc gia, cộng đồng Công Giáo sẽ tiếp tục được hưởng quyền tự do thực hiện các việc làm tốt đẹp này như một cách nói lên cam kết của họ đối với ích chung.

Kính thưa Tổng Thống, qúy bạn thân mến:

Tôi xin cám ơn qúi vị đã chú ý và tôi xin bảo đảm với qúy vị tôi sẽ cầu nguyện để, trong các trách nhiệm cao qúy của qúy vị, qúy vị sẽ luôn được gợi hứng bởi các lý tưởng cao cả về công lý và phục vụ các đồng công dân của qúy vị. Tôi sẵn lòng xin Đấng Toàn Năng ban xuống qúy vị và mọi người dân Bangladesh ơn hài hòa và bình an.





Myanmar Bishops' spokesman on papal voyage

Myanmar Bishops' spokesman on papal voyage
Pope Francis as he bids farewell to the people of Myanmar.- AFP

(Vatican Radio) Pope Francis concluded his visit to Myanmar, and continued onto Bangladesh for the second leg of his 21st Apostolic Journey outside of Italy.
As the Holy Father’s time in Myanmar drew to a close, our correspondent, Philippa Hitchen, spoke with those involved in organizing the papal voyage. Among them was Father Mariano Soe Naing, spokesman for the Bishops’ Conference of Myanmar.
Fr Mariano spoke about the cooperation offered by the people of Yangon for the somewhat hastily organized trip. He also expressed his appreciation for the hospitality of Buddhist groups who welcomed Catholic pilgrims from around the country.
Asked about concerns of rising nationalist among some Buddhist groups, Fr Mariano noted that this kind of nationalism was only found among a small minority. “First of all,” he said, “we need to understand that this is not shared by the majority of the Buddhists, neither monks nor the ordinary people.” He said many people feel that such nationalism is motivated primarily by politics.
Father Mariano was also asked about the Pope’s meeting with Aung San Suu Kyi. “I think that from the messages we heard in Nay Pyi Taw, [it] is very much affirming to her, very positive on the efforts she is making to build this nation.” He expressed his hope that “if the international community wants to be really sincere and open to the message of the Holy Father… it is time that they have another view of the crisis, and to the effort Aung San Suu Kyi is making.”
Finally, Philippa asked Fr Mariano about what he considered the most important part of the Pope’s visit. He pointed to the Pope’s concern for young people, and the need “to give authentic education to the young people.”  He mentioned in particular the Pope’s call “to really care for the future of the young people, not to rob them of the future, of their hope, not to steal the constructive idealism that they have.”