15/03/2026
CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY năm A
Bài Ðọc I: Sm 16, 1b.
6-7. 10-13a
“Ðavit
được xức dầu làm vua Israel”.
Trích sách
Samuel quyển thứ nhất.
Trong những
ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: “Hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường. Ta
sai ngươi đến nhà Isai dân thành Bêlem, vì Ta chọn một người con của ông ấy lên
làm vua”.
Khi (họ)
vào nhà, Samuel gặp ngay Eliab và nói: “Có phải người xức dầu của Chúa đang ở
trước mặt Chúa đây không?” Và Chúa phán cùng Samuel: “Ðừng nhìn xem diện mạo,
vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì
chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”. Isai
lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai:
“Chúa không chọn ai trong những người này”. Samuel nói tiếp: “Tất cả con ông có
bấy nhiêu đó phải không?” Isai đáp: “Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên”.
Samuel nói với Isai: “Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi
vào bàn ăn trước khi nó về”. Isai sai người đi tìm đứa con út. Ðứa út này có
mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: “Ngươi hãy chỗi dậy,
xức dầu lên nó, vì chính nó đó”. Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt
các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi.
Ðó là lời
Chúa.
Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a.
3b-4. 5. 6
Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu
thốn chi
Xướng: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu
thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ
ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
Xướng: Người dẫn tôi qua những con đường
đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Dù bước đi trong thung lũng tối, con
không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều
an ủi lòng con.
Xướng: Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay
trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy
tràn chan chứa.
Xướng: Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo
tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời
gian rất ư lâu dài.
Bài Ðọc II: Ep 5,
8-14
“Từ
trong cõi chết, ngươi hãy đứng lên và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.
Trích thư
Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em
thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong
Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất
cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật. Anh em hãy nhận biết điều
gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không
sinh lợi ích gì, nhưng phải tố cáo thì hơn. Vì chưng, việc chúng làm cách thầm
kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn. Nhưng tất cả những việc người ta tố cáo,
thì nhờ sự sáng mà được tỏ bày ra; vì mọi việc được tỏ bày, đều là sự sáng. Bởi
thế, thiên hạ nói: “Hỡi kẻ đang ngủ, hãy thức dậy, hãy vùng dậy ra khỏi cõi chết,
và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.
Ðó là lời
Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc
Âm
Chúa phán:
“Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống”.
PHÚC ÂM: Ga 9, 1-41
(bài dài)
“Hắn đi
rửa, rồi trở lại trông thấy rõ”.
Tin Mừng
Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy,
Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Môn đệ hỏi Người: “Thưa
Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?”
Chúa Giêsu đáp: “Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để
công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh. Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những
việc của Ðấng đã sai Ta. Ðêm đến không ai có thể làm việc được nữa. Bao lâu Ta
còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian”. Nói xong, Người nhổ xuống đất, lấy nước
miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôê
mà rửa” (chữ Silôê có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì
trông thấy được.
Những người
láng giềng và những kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Ðó chẳng phải
là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Ðúng hắn!” Lại có người bảo: “Không
phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”. Họ hỏi
anh: “Làm thế nào mắt anh được sáng?” Anh ta nói: “Người mà thiên hạ gọi là
Giêsu đã làm bùn xức mắt tôi và bảo: Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa. Bấy giờ tôi
đi, tôi rửa và tôi trông thấy”. Họ lại hỏi: “Ngài ở đâu?” Anh thưa: “Tôi không
biết”.
Họ liền dẫn
người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà
bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi
anh ta do đâu được sáng mắt? Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa
và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên
Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi
lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại
hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh
đáp: “Ðó là một tiên tri”.
Nhưng người
Do-thái không muốn tin anh đã mù và đã được khỏi trước khi đòi cha mẹ anh đến.
Họ hỏi hai ông bà: “Người này có phải là con hai ông bà mà ông bà bảo bị mù từ
khi mới sinh không? Do đâu mà bây giờ nó lại trông thấy?” Cha mẹ y thưa rằng:
“Chúng tôi xác nhận đây chính là con chúng tôi, và nó đã bị mù từ khi mới sinh.
Nhưng làm sao mà bây giờ nó trông thấy, và ai đã mở mắt cho nó thì chúng tôi
không biết. Nó khôn lớn rồi, các ông hãy hỏi nó, nó sẽ tự thưa lấy”. Cha mẹ anh
ta nói thế bởi sợ người Do-thái, vì người Do-thái đã bàn định trục xuất khỏi hội
đường bất cứ ai dám công nhận Chúa Giêsu là Ðấng Kitô. Chính vì lý do này mà
cha mẹ anh ta nói: “Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó”.
Lúc ấy người
Do-thái lại gọi người trước kia đã mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa!
Phần chúng ta, chúng ta biết người đó là một kẻ tội lỗi”. Anh ta trả lời: “Nếu
đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi
mù và bây giờ tôi trông thấy”. Họ hỏi anh: “Người đó đã làm gì cho anh? Người
đó đã mở mắt anh thế nào?” Anh thưa: “Tôi đã nói và các ông đã nghe, các ông
còn muốn nghe gì nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ Ngài chăng?” Họ liền
nguyền rủa anh ta và bảo: “Mày hãy làm môn đệ của người đó đi, còn chúng ta,
chúng ta là môn đệ của Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với Môsê, còn người
đó chúng ta không biết bởi đâu mà đến”. Anh đáp: “Ðó mới thật là điều lạ: người
đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng
ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên
Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng
nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên
Chúa thì đã không làm được gì”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày
dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.
Chúa Giêsu
hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin
Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?”
Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh
ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Chúa Giêsu
liền nói: “Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy,
thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù”. Những người biệt phái
có mặt ở đó liền nói với Người: “Thế ra chúng tôi mù cả ư?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu
các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói “Chúng tôi
xem thấy”, nên tội các ngươi vẫn còn”.
Ðó là lời
Chúa.
Hoặc đọc bài vắn này: Ga 9, 1. 6-9. 13-17. 34-38
Tin Mừng
Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy,
Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy
nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: “Anh hãy đến
hồ Silôe mà rửa” (chữ Silôe có nghĩa là được sai)”. Anh ta ra đi và rửa, rồi trở
lại thì trông thấy được.
Những người
láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Ðó chẳng phải là người
vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Ðúng hắn”. Lại có người bảo: “Không phải,
nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”.
Họ liền dẫn
người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn
và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh
ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và
tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên
Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi
lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại
hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh
đáp: “Ðó là một Tiên tri”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy
chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.
Chúa Giêsu
hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con
Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?”
Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh
ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người.
Ðó là lời
Chúa.
Chúa nhật tuần thứ 4
Mùa Chay – Chúa nhật Laetare (Năm A, B hoặc C)
Lưu ý: Vào Chúa nhật thứ tư Mùa
Chay này, chúng ta cử hành Thánh lễ cho nghi thức “Kiểm tra” thứ hai trong ba nghi
thức. Các nghi thức Kiểm tra là những nghi lễ đặc biệt giúp chuẩn bị cho những
người được chọn (những người tham gia vào Nghi thức Gia nhập Kitô giáo dành cho
người lớn) để gia nhập Giáo hội Công giáo. Các bài đọc được thảo luận trong phần
bình luận này, mặc dù “phù hợp” với Năm A, cũng có thể được sử dụng trong Năm B
và C khi có các dự tòng sẽ được rửa tội vào Lễ Phục Sinh. Nhấp vào các liên kết
bên dưới để xem bình luận về các bài đọc phù hợp với Năm B và C:
Bình luận Năm B
Bình luận Năm C
______________________________________________________
Chú giải về 1 Sa-mu-en
16,1.6-7.10-13; Ê-phê-sô 5,8-14; Gioan 9,1-41
Khi các dự
tòng có mặt tại Thánh lễ này để tham dự phần “Kiểm tra” thứ hai, họ được giới
thiệu với cộng đoàn mà họ sẽ sớm gia nhập với tư cách là thành viên chính thức,
và từ đó họ sẽ nhận được sự chấp nhận và hỗ trợ. Sau bài giảng và trước Kinh
Tin Kính, họ sẽ rời khỏi cộng đoàn, bởi vì họ chưa phải là thành viên chính thức
của cộng đồng đức tin. Chính trong bối cảnh này hôm nay, chúng ta có câu chuyện
kỳ diệu từ Tin Mừng Gioan về việc chữa lành một người mù bẩm sinh.
Khi Chúa
Giêsu đi ngang qua, Ngài thấy một người mù từ khi sinh ra. Người đàn ông này là
nhân vật chính của Tin Mừng hôm nay. Tin Mừng ở đây không chỉ là một câu chuyện
phép lạ về người đàn ông đó—mà còn là một câu chuyện về tất cả những ai trở
thành người theo Chúa Kitô.
Một lần nữa,
giống như Chúa nhật trước, khi chúng ta đọc về người Sa-ma-ri bên giếng Gia-cóp,
câu chuyện hôm nay có mối liên hệ mật thiết với bí tích rửa tội. Ngoài các dự
tòng có thể hiện diện, đây cũng là thời điểm để chúng ta hiểu được những cam kết
mà phép rửa tội của chính mình đòi hỏi.
Các môn đồ
hỏi Chúa Giê-su về lý do người đàn ông này bị mù:
Thưa Thầy, ai đã phạm tội, người
này hay cha mẹ người, mà người ấy sinh ra đã bị mù?
Chúa
Giê-su đáp:
Cả người này lẫn cha mẹ người đều
không phạm tội…
Lý do thực
sự là để “công việc của Đức Chúa Trời được bày tỏ”: bằng cách chữa lành cho người
ấy. Nói cách khác, đó là để vinh quang và quyền năng của Đức Chúa Trời được tỏ
lộ trước mắt họ, để chính sự mù lòa của họ cũng được chữa lành.
Suốt câu
chuyện, chúng ta nhấn mạnh rằng người đàn ông này bị mù từ khi sinh ra. Chữa
lành cho người ấy là giúp người ấy bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới mà trước
đây người ấy chưa từng trải nghiệm. Người ấy sẽ được trải nghiệm ánh sáng mà
Chúa Giê-su mang đến:
Ta là ánh sáng của thế gian. (Gioan 8,12)
Nhìn thấy
nghĩa là được tắm mình trong ánh sáng đó. Nếu chúng ta không biết Chúa Giê-su,
chúng ta đang sống trong bóng tối.
Ở đầu câu
chuyện:
• người
đàn ông bị mù—ông ta không thể nhìn thấy;
• ông ta
là một người ăn xin—ông ta không có gì;
• Ông ấy
là người ngoài cuộc—không ai chấp nhận ông;
• Ông ấy
là người không có Chúa Kitô trong đời sống.
Nhưng cuối
cùng, vì ông ấy có thể nhìn thấy, ông ấy trở thành môn đệ của Chúa Giê-su; đó
là kết quả tất yếu.
Ban đầu,
ông ấy mù lòa—ông ấy ở trong bóng tối. Cuối cùng, ông ấy ở trong ánh sáng,
không chỉ là ánh sáng thể chất, mà còn bởi vì sự hiểu biết sâu sắc hơn đã mở
lòng ông ấy ra với Chúa Giê-su, Đấng là Ánh sáng của thế gian.
Chữa lành
Chúa
Giê-su chữa lành mắt cho người đàn ông bằng bùn và nước bọt. Vào thời đó, người
ta tin rằng nước bọt có thể chữa bệnh và, ở một mức độ nào đó, họ đã đúng. Bằng
cách dùng bùn, Chúa Giê-su cũng giúp chúng ta nhớ lại việc Đức Chúa Trời dùng
bùn để tạo ra A-đam, người đàn ông đầu tiên. Ở đây, cũng có một sự sáng tạo mới—Chúa
Giê-su đang tạo ra một con người mới. Thánh Phaolô gọi người Kitô hữu đã chịu
phép rửa tội
là “một tạo vật mới”. Sau đó, Chúa Giê-su bảo người đàn ông tắm trong hồ
Si-lô-am. Đây, có thể nói, là phép rửa tội của ông.
Sau khi được
chữa lành, bạn bè và hàng xóm của ông bàn tán về danh tính của ông—liệu đó có
thực sự là ông không? Nhưng ông đã bị mù, còn người đàn ông này có thể nhìn thấy.
Bởi vì ông đã thay đổi, một số người không thể nhận ra ông. Khi chúng ta chịu
phép rửa tội,
khi chúng ta theo Chúa Kitô, chúng ta cũng nên thay đổi. Có lẽ một số người sẽ
nói, “Bạn không còn giống như trước nữa! Bạn hầu như không còn là người mà
chúng tôi từng biết.” Và đó là điều họ nên nói!
Những người bảo vệ chính thống giáo
Vì không
hài lòng, những người hàng xóm đưa người mù đến gặp các người Pha-ri-sêu, những
người bảo vệ tôn giáo chính thống. Chúa Giê-su đã chữa lành người đàn ông vào
ngày Sa-bát và phương pháp Ngài sử dụng trái với luật lệ. Điều khó hiểu là, nếu
Chúa Giê-su đến từ Đức Chúa Trời, Ngài sẽ không vi phạm luật. Và nếu Ngài là một
tội nhân, làm sao Ngài có thể làm những điều này? Tội nhân không thể làm công
việc của Đức Chúa Trời.
Đối với
người Pha-ri-sêu, tội lỗi là vi phạm luật lệ; đối với Chúa Giê-su, tội lỗi là
làm điều thiếu tình yêu thương, phá vỡ hoặc làm tổn thương một mối quan hệ. Đó
là một sự khác biệt mà chúng ta cần ghi nhớ. Vi phạm một trong các Điều răn là
một tội lỗi, không phải vì chúng ta vi phạm luật, mà vì chúng ta đã thất bại
trong tình yêu thương anh chị em mình. Và chúng ta có thể phạm tội ngay cả khi
chúng ta không làm gì cả cho người cần tình yêu thương của chúng ta.
Bây giờ,
người Pha-ri-sêu hỏi ý kiến của người mù. Đối với người đàn ông, tất cả đều
hoàn toàn rõ ràng: Chúa Giê-su là một nhà tiên tri, nghĩa là hành động của Ngài
đến từ Đức Chúa Trời. Ông đánh giá Chúa Giê-su bằng những việc Ngài làm, chứ
không phải bằng những gì luật pháp nói. Nhưng những người Pha-ri-si không thể
chấp nhận điều này. Nếu họ chấp nhận, họ cũng phải chấp nhận Chúa Giê-su và giáo
huấn của Ngài. Vì vậy, họ thậm chí không chấp nhận rằng người đàn ông đó sinh
ra đã bị mù! Thành kiến thậm chí có thể làm chúng ta mù quáng trước sự thật.
Gây áp lực lên cha mẹ
Sau đó, những
người Pha-ri-sêu cố gắng lôi kéo cha mẹ của người đàn ông về phía họ. Có lẽ họ
sẽ thừa nhận rằng sự mù lòa chỉ là tạm thời. Nhưng cha mẹ biết rất rõ rằng con
trai họ bị mù từ khi sinh ra, và họ không phủ nhận điều đó, nhưng họ sợ nói ra.
Họ biết rằng nếu ai đó nói rằng Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a, người đó sẽ bị đuổi khỏi hội đường
và sẽ không còn là một phần của cộng đồng nữa. Trong một xã hội gắn bó chặt chẽ
như vậy, đây không phải là cái giá mà họ sẵn lòng trả, ngay cả vì con trai của
họ. Nhiều người Do Thái cải đạo sang Ki-tô giáo chắc hẳn đã từng trải qua
kinh nghiệm bị cộng đồng của họ đuổi khỏi. Các tín đồ Ki-tô giáo, qua nhiều thế kỷ, và cho đến
ngày nay, cũng đã trải qua kinh nghiệm này.
Vì vậy,
cha mẹ nói rằng con trai họ đã trưởng thành. Anh ta có thể tự trả lời. Họ không
thể mạo hiểm tự nhận mình là người theo Chúa Giê-su khi đối đầu với chính quyền.
Nói sự thật
Những người
Pha-ri-sêu lại yêu cầu người đàn ông nói sự thật, nghĩa là nói những gì họ muốn
nghe. Họ nói với ông:
Chúng tôi biết người này là một tội
nhân… Làm sao ông ta mở mắt cho ông?
Sự đánh giá
của những người Pha-ri-sêu dựa trên cách giải thích Luật pháp của họ, mà họ coi
là tối cao. Theo suy nghĩ của họ, Chúa Giê-su không thể nào mở mắt cho ông.
Người đàn
ông nói:
Tôi không biết ông ta có phải là tội
nhân hay không. Tôi chỉ biết rằng trước đây tôi bị mù và bây giờ tôi có thể
nhìn thấy.
Những người
Pha-ri-sêu lại hỏi lần thứ n:
Ông ta đã làm gì cho ông? Làm sao
ông ta mở mắt cho ông?
Người đàn
ông nói:
Tôi đã nói với các ông rồi, mà các
ông không chịu nghe. Tại sao các ông muốn nghe lại lần nữa?
Người đàn
ông bắt đầu chế nhạo họ. Bây giờ ông ta táo bạo hơn, không còn sợ hãi nữa và
ông ta hỏi họ:
Các ông cũng muốn trở thành môn đệ
của ông ta sao?
Không tránh
khỏi việc những người Pha-ri-sêu nổi giận. Họ “chê bai” người đàn ông ấy, nói rằng:
Ông là môn đồ của ông ấy, nhưng
chúng tôi là môn đồ của Môi-se. Chúng tôi biết rằng Đức Chúa Trời đã phán với
Môi-se, nhưng về người này, chúng tôi không biết ông ta từ đâu đến.
Đây là một
ví dụ về sự mỉa mai trong sách Gioan, nơi người ta nói những điều mà họ không
nhận ra ý nghĩa của nó—vì quả thật không ai biết nguồn gốc của Chúa Giê-su.
Ngài là Ngôi Lời đã ở cùng Đức Chúa Trời từ ban đầu, và Ngài chính là Đức Chúa
Trời. Mặt khác, một phần chân lý này lại khá hiển nhiên đối với người đàn ông
chất phác, thiếu học thức, người đang là đối tượng của sự giận dữ của họ.
Người đàn
ông kêu lên:
Đây quả là một điều kỳ diệu! Các
ông không biết ông ấy từ đâu đến, vậy mà ông ấy đã mở mắt cho tôi. Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời
không nghe lời những kẻ tội lỗi, nhưng Ngài nghe lời người nào thờ phượng Ngài
và vâng phục ý muốn Ngài. Từ khi thế giới bắt đầu, chưa từng có ai nói rằng có
người nào mở mắt cho người mù bẩm sinh. Nếu người này không đến từ Đức Chúa Trời,
ông ta chẳng làm được gì cả.
Những người
Pha-ri-si liền nổi giận và nói với người đàn ông:
Ông sinh ra đã hoàn toàn trong tội
lỗi, mà lại muốn dạy dỗ chúng tôi sao?
Những lời
nói ấy thật tàn nhẫn và cho thấy sự từ chối chấp nhận rằng con người có thể
thay đổi và được biến đổi. Chúng ta thường có xu hướng lên án những kẻ làm điều
sai trái suốt đời. Nhưng may mắn thay cho mỗi người chúng ta, đó không phải là
cách của Đức Chúa Trời.
Sau đó, những
người Pha-ri-sêu đuổi người đàn ông ra khỏi hội đường. Đây là điều mà cha mẹ
ông lo sợ, nhưng con trai họ được tạo nên từ những chất liệu khác. Đây là kinh
nghiệm của nhiều người Do Thái đã trở thành Ki-tô hữu—và là kinh nghiệm của nhiều người
khác bị gia đình, người thân và xã hội ruồng bỏ vì đã chọn theo Chúa Kitô
Được Chúa Giê-su tìm thấy
Chúa
Giê-su nghe tin người đàn ông đó bị đuổi ra khỏi nhà và liền đi tìm ông. Chúa
Giê-su hỏi ông:
“Ngươi có tin Con Người [tức là Đấng
Mê-si-a]
không?”
Người đàn
ông đáp:
Thưa ngài, Ngài là ai? Xin hãy nói
cho tôi biết, để tôi tin Ngài.
Ông ta
không nhận ra Chúa Giê-su bằng xương bằng thịt ngay lập tức, vì đây là lần đầu
tiên ông ta nhìn thấy Ngài bằng thị lực mới của mình. Chúa Giê-su nói:
Ngươi đã thấy Ngài, và người đang
nói chuyện với ngươi chính là Ngài.
Người đàn
ông quỳ xuống và “thờ lạy Ngài”, nói rằng:
Lạy Chúa, con tin.
Bây giờ
ông ta cũng nhìn thấy bằng con mắt đức tin. Ông ta bây giờ là một môn đệ. Môn đệ
là người biết, có thể nhìn thấy và chấp nhận Chúa Giê-su là Chúa và Đấng Cứu Thế
của mình. Chúa Giê-su nói:
Ta đến thế gian này để phán xét, để
những ai không thấy được thấy, và những ai thấy được trở nên mù.
Những người
Pha-ri-sêu hỏi Chúa Giê-su:
Chắc chắn chúng tôi không mù, phải
không?
Chúa
Giê-su đáp:
Nếu các ngươi mù, thì các ngươi sẽ
không phạm tội. Nhưng bây giờ các ngươi nói: ‘Chúng tôi thấy,’ tội lỗi của các
ngươi vẫn còn.
Những người
phạm tội, những người không chịu lắng nghe, những người Những người kiêu ngạo,
họ mới thực sự là những người mù. Những người Pha-ri-sêu, những người nghĩ rằng
họ có thể nhìn thấy, mới là những kẻ tội lỗi thực sự. Và người mù bẩm sinh, người
chấp nhận Chúa Giê-su, mới là người thực sự có thể nhìn thấy.
Liên hệ với Bí tích Thánh tẩy
Như đã đề
cập ở trên, Phúc Âm này có mối liên hệ rõ ràng với bí tích Thánh tẩy. Hôm nay
chúng ta đọc Phúc Âm này cho những người dự tòng đang chuẩn bị chịu phép rửa tội.
Họ đang bắt đầu nhìn thấy Chúa Giê-su, nhận ra Ngài và đi theo Ngài. Nhưng chắc
chắn nó cũng dành cho chúng ta, những người đã được rửa tội.
Thoạt
nhìn, người ta có thể tự hỏi về sự liên quan của Bài đọc thứ nhất từ Sách
Sa-mu-en thứ nhất đến chủ đề chung của Thánh Lễ. Bài học trọng tâm là Thiên
Chúa chọn những người thuộc về Ngài và không phán xét theo vẻ bề ngoài. Sa-mu-en
nghĩ rằng con trai cả của Giê-sê, cao lớn và đẹp trai như vậy, hẳn là người được
Thiên Chúa chọn làm vua sau khi Sau-lê
bị thất sủng. Nhưng con trai cả không phải là người được Thiên Chúa chọn—Thiên
Chúa muốn người con út, chàng chăn chiên Đa-vít.
Trong Phúc
Âm, Chúa Giê-su nhìn thấy một môn đệ tương lai nơi người ăn xin mù, và bỏ qua
những người Pha-ri-sêu tự cho mình là công chính, những người bề ngoài có vẻ
như là vô cùng sùng đạo. Ngày nay, những người dự tòng cũng nên tự hỏi tại sao
họ lại được chọn để gia nhập cộng đồng của Chúa Kitô trong khi dường như có rất
nhiều người khác phù hợp hơn.
Và điều đó
cũng đúng với mỗi người chúng ta. Chúng ta không ban ơn cho Chúa bằng việc chịu
phép rửa tội. Chính chúng ta cần phải ngạc nhiên và tạ ơn vì con đường của Chúa
đã được bày tỏ cho chúng ta. Và chúng ta tạ ơn một cách hiệu quả nhất bằng cách
đáp lại Chúa tình yêu mà Ngài đã dành cho chúng ta qua tình yêu mà chúng ta
dành cho tất cả anh chị em mình, cả Kitô hữu và không phải Kitô hữu.
Bài đọc thứ
hai nhắc nhở chúng ta rằng trước đây chúng ta sống trong bóng tối, nhưng nhờ
phép rửa tội, giờ đây chúng ta đang sống trong ánh sáng. Vậy nên, chúng ta phải
là con cái của ánh sáng, để phản chiếu ánh sáng đã được ban cho chúng ta. Chúa Giê-su
đã phán trong Bài giảng trên núi:
Các con là ánh sáng của thế gian. (Mát-thêu 5,14)
Chúng ta
có thể nói rằng chúng ta chỉ sống trong ánh sáng khi ánh sáng của Chúa chiếu rọi
trong chúng ta và qua chúng ta, soi sáng cho người khác. Bài đọc thứ hai cho
chúng ta biết:
…hoa trái của ánh sáng được tìm thấy
trong mọi điều tốt lành, đúng đắn và chân thật.
Nhưng điều
tốt lành, đúng đắn và chân thật chỉ có thể được nhìn thấy khi con người tốt
lành, đúng đắn và chân thật. Vậy nên, chúng ta phải:
Không tham gia vào những việc làm
vô ích của bóng tối; trái lại, hãy vạch trần chúng.
Không nên
có góc tối nào trong cuộc sống của chúng ta.
Nếu chúng
ta là người của ánh sáng, người chính trực, chúng ta không sợ ánh sáng. Chúng
ta không có gì đáng xấu hổ để che giấu; chúng ta hoàn toàn minh bạch. Đối với hầu
hết chúng ta, đó là một vấn đề, nhưng chúng ta hãy tiếp tục nỗ lực để trở thành
những người được tràn đầy ánh sáng, ánh sáng của sự thật, lòng tốt và tình yêu
thương.
Để làm được
điều đó, chúng ta cần nhìn thấy Chúa Giê-su và Tin Mừng ngày càng rõ ràng hơn.
Vậy nên, hãy để đây là lời cầu nguyện của chúng ta hôm nay, cùng với lời cầu
nguyện của một người ăn xin trong Tin Mừng:
Lạy Chúa, xin cho con được thấy lại. (Lu-ca 18,41)
https://livingspace.sacredspace.ie/labc041/
Trong tập
truyện có tựa đề: “Một trăm lẻ một giai thoại về Thiền”, tác giả Xen-da-ki có
ghi lại câu chuyện sau đây:
Thời xa
xưa, mỗi lần ra khỏi nhà trong đêm tối, người Nhật Bản thường dùng những chiếc
lồng đèn. Một đêm kia, một người mù đến thăm một người bạn. Lúc ra về thấy người
mù đi hai tay không người bạn mới lấy một chiếc lồng đèn trao cho anh ta. Nhưng
người mù từ chối và hỏi:
- Đối với
một người mù như tôi thì cầm chiếc lồng đèn để làm gì? Bóng đêm hay ánh sáng đối
với tôi đều như nhau cả.
Người bạn
trả lời:
- Tôi vẫn
biết rằng anh không cần lồng đèn để soi đường. Nhưng nếu anh không cầm trong
tay thì kẻ khác sẽ không thấy anh và như vậy có thể sẽ đụng vào anh.
Nghe thế,
người mù đành cầm lấy lồng đèn ra về. Đi được một đoạn đường, người mù bị một kẻ
đi đường tông vào mình. Không tự chế được, người mù quát tháo inh ỏi:
- Bộ
đui sao? Không thầy chiếc lồng đèn tôi đang cầm đây sao?
Người
kia bình tĩnh phân trần:
- Này
ông bạn, ông bạn đang cầm lồng đèn. Nhưng ngọn đèn bên trong đã tắt rồi.
Thế là
người mù cầm đèn cũng không thấy đường. Còn người sáng mắt lại không thấy đèn của
người mù. Vậy ai mới thật là người mù?
Thưa anh
chị em,
Người mù
là người đáng thương nhất. Người ấy sáng trong tăm tối và như bị giam trong tù
ngục: không thấy đường đi, nơi ở, không thấy trời cao, cảnh đẹp, không thấy người
mình yêu thương… Nhưng khổ hơn nữa là mù tinh thần: Sống mà không biết cuộc sống
sẽ đi về đâu? Tại sao phải sống? Sống cho ai và sống để làm gì?
Chúa Giêsu
đã nói, sau khi người mù được thấy “Tôi đến thế gian để cho người không xem thấy
được thấy và kẻ thấy lại nên đui mù”. Chúa Giêsu đã làm cho người mù được thấy.
Ngài không chỉ tái lập người mù trong thế giới của giác quan mà còn đưa anh ta
vào thế giới của niềm tin. Anh không chỉ thấy bằng mắt mà còn thấy bằng cặp mắt
đức tin. Đức tin là một giác quan mới mà Thiên Chúa ban cho con người, nhờ đó
con người có thể thấy được những thực tại vô hình, thấy được Thiên Chúa trong Đức
Giêsu, thấy được sự sống, ánh sáng bên kia những mất mát, thất bại, khổ đau
trong cuộc sống.
Chúa Kitô
là ánh sáng cho trần gian. Ngài đến để soi sáng cho mọi người được nhận biết
Thiên Chúa là tình thương cứu độ. Ngài đem ánh sáng đến cho đôi mắt của anh mù,
đem ánh sáng đức tin đến cho anh để anh vừa được thấy Chúa và nhận được Ngài là
Đức Kitô, là Chúa Cứu Thế. Ngược lại, những người Biệt Phái Pharisiêu, mắt vẫn
mở và trông thấy Chúa Giêsu tỏ tường, nhưng lòng họ vẫn đóng kín, không nhận ra
Chúa trong tình thương cứu chữa. Họ đã từ khước ánh sáng, không tin nhận Đức
Kitô. Thì ra họ mở mắt mà không thấy. Thầy mà như mù. Được nghe lời Chúa giảng
dạy, được chứng kiến các việc Chúa làm mà vẫn cố chấp không tin Ngài, đó là một
tình trạng mù tinh thần, chính Chúa Giêsu đã lên tiếng cảnh cáo họ: “Nếu các
ông đui mù thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng chúng
tôi thấy, nên tội các ông vẫn còn!”.
Thưa anh
chị em,
Điều kiện
tiên quyết cho những ai muốn bước đi trong ánh sáng, đó là phải nhận biết bóng
tối mùa lòa của chính mình. Chỉ những ai biết mình mù tối mới khát khao sự sáng
và mới chân thành đón nhận ánh sáng. Ai đã thấy Chúa Kitô, đã biết Ngài mà
không đón nhận và hiệp thông với Ngài, thì thực sự là chưa thấy, chưa biết
Ngài. Do đó, vẫn đi trong tối tăm. Ngược lại, ai đã tin, đã đón nhận và hiệp
thông với Chúa Kitô là đã đi trong ánh sáng.
Trong bài
đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô đã nhắc chúng ta điều đó khi ngài nói: “Trước kia,
khi chưa lãnh nhận bí tích Rửa Tội, chúng ta chưa biết Chúa Kitô, chưa tin nhận
Chúa Kitô. Chúng ta còn tối tăm. Nhưng ngày nay, qua bí tích Rửa Tội trong Chúa
Kitô, chúng ta đã thuộc về ánh sáng, đã là ánh sáng rồi. Vì vậy chúng ta phải
đi trong ánh sáng, phải làm những việc tốt lành, công chính, chân thật, bác ái.
Ngài kêu gọi những ai còn ngủ mê trong tối tăm tội lỗi, hãy tỉnh thức, hãy ra
khỏi cõi chết để được ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh chiếu soi” (x. Ep
5,8-14).
Như thế, sống
tinh thần Mùa Chay là bước đi trong ánh sáng của Chúa Kitô, là làm bừng sáng
lên ánh sáng của Tin Mừng trong cuộc đời chúng ta bằng những hành động cụ thể
thiết thực, như Ngôn sứ Isaia đã kêu gọi chúng ta ngay từ đầu Mùa Chay: “Hãy
xóa bỏ xiềng xích bất công, tháo gỡ ách nặng, trả tự do cho người bị áp bức, đập
tan mọi thứ gông cùm, chia cơm bánh cho người đó, tiếp rước kẻ phiêu bạt không
nhà, cung cấp áo quần cho ai rách nát, không né tránh trước đồng bào cốt nhục…
Lúc đó, ánh sáng của anh em sẽ bừng lên như hừng đông” (Is 58,6-8).
Bởi vì,
thưa anh chị em,
Tin vào
Chúa Giêsu, như anh mù được chữa lành trong Tin Mừng hôm nay là phải gắn liền đời
mình với việc làm chứng cho Ngài, là phải đồng số phận với Ngài. Anh mù bị lôi
ra để điều tra xét hỏi, bị xỉ vả, nhục mạ, nhưng anh đã đứng về phía Chúa Giêsu
và trở thành người làm chứng cho Ngài, kể cả bị loại bỏ khỏi Hội đường Do Thái
giáo. Bằng mọi giá, anh luôn trung thực với lời chứng của anh, đó là: “Đức
Giêsu là người bởi Thiên Chúa mà đến”.
Cho thấy,
anh mù là người đã được thấy sự thật và làm chứng cho sự thật. Còn những người
Biệt Phái Pharisiêu là những người có mắt mà không thấy. Họ mới thật là những
người mù.
Anh chị em
thân mến,
Hãy cảm tạ
Chúa, vì Ngài đã ban cho chúng ta đôi mắt sáng suốt của đức tin, nhờ đó chúng
ta biết được ý nghĩa của cuộc đời, thấy được con đường chúng ta phải đi và những
việc chúng ta phải làm để đạt đến hạnh phúc thật. Vì Chúa Giêsu đã nói: “Thầy
là Ánh Sáng trần gian. Ai theo Thầy sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có Ánh
Sáng dẫn đến cõi trường sinh” (Ga 8,12).
‘Niềm Vui Chia Sẻ’--R.
Veritas




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét