Trang

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2025

"TỰ ĐIỂN BỎ TÚI" NGÔN TỪ GEN Z (tt.)

 "TỰ ĐIỂN BỎ TÚI" NGÔN TỪ  GEN Z (tt.)

Nguồn gốc:

Do hiện tượng mạng Võ Minh Hiếu thường xuyên nói “xu cà na” trên livestream khoảng năm 2019, cụm từ độc lạ này nhanh chóng lan khắp cõi mạng Việt Nam. “Xu cà na” trở thành từ lóng để cảm thán vận xui một cách dí dỏm.

Facebook, TikTok (phổ biến từ ~2019 đến nay mỗi khi người trẻ than vắn thẳng về chuyện xui xẻo)

 

Nguồn gốc:

Biến âm từ từ lóng tiếng Anh “weeaboo” (tiền thân là “Wapanese” – ghép “wannabe + Japanese”). Khi du nhập vào Việt Nam, “weeaboo” được viết ngắn thành “Wibu”. Thuật ngữ này phổ biến trong giới trẻ yêu thích anime từ những năm 2010s đến nay.

Cộng đồng fan anime/manga và giới trẻ trên Facebook (như cách gọi đùa ai đó quá mê văn hóa Nhật).

 

Nguồn gốc:

Do rapper Double2T (Rap Việt 2023) thường xuyên thốt ra cụm này với chất giọng độc đáo; sự thú vị của cách phát âm đã giúp “à lôi” viral mạnh (trên TikTok đạt >52 triệu view) . Giới trẻ sau đó dùng “à lôi” như câu đệm hài hước cuối câu nói.

TikTok, YouTube (giữa 2023); trào lưu từ Rap Việt mùa 3.

 

Nguồn gốc:

Khẩu hiệu đội của HLV Kỳ Duyên – Minh Triệu tại The Face Vietnam 2023; sự đáng yêu và “ngây thơ” của câu nói này (cùng việc cặp đôi HLV được fan “đẩy thuyền”) đã khiến nó gây bão trên MXH năm 2023 . Từ đó, giới trẻ hay dùng câu này để đùa về tình bạn, tình yêu thân thiết.

TV (The Face 2023), sau đó lan truyền trên Facebook, TikTok.


Nguồn gốc:

Lấy cảm hứng từ thuật ngữ bóng đá “pressing”.
Cụm này thịnh hành khi một ký giả thể thao thường xuyên “thoát pressing” trước câu hỏi hóc búa – cư dân mạng còn lập fanpage chia sẻ những pha xử lý mượt mà ấy . Dần dần, “thoát pressing” thành meme chỉ kỹ năng ứng biến tài tình.

Facebook, TikTok (năm 2023); nổi từ các màn đối đáp “thoát pressing” hài hước.

 


Nguồn gốc:

Nguồn từ đoạn clip Hoa hậu Trần Tiểu Vy hát lệch tông câu này; chính biểu cảm và giọng hát “lạc quẻ” của cô khiến cụm từ thành viral. Hễ nhắc “lửa hận thù” là cư dân mạng nhớ ngay tới Tiểu Vy và dùng câu này để đùa trong tình huống trái ngang.

TikTok, Facebook (cuối 2023); được dùng làm meme cho các tình huống drama, thất tình.

 

Nguồn gốc:

Bắt nguồn từ loạt biểu cảm “cứng ngắc” (như bị dán keo) của người mẫu Mai Ngô khi làm HLV trên show thực tế, viral vào tháng 10/2023 . Từ đó, “xịt keo” thành trào lưu miêu tả phản ứng ngỡ ngàng, đơ người trước tình huống éo le.

TikTok, Facebook (bùng nổ 10/2023); meme biểu cảm “sượng trân” khi quá ngạc nhiên.

 

Nguồn gốc:

Do HLV Thái VG (Rap Việt 2023) hay nói “over hợp” khi nhận xét thí sinh; cách nói nửa Anh nửa Việt vui nhộn này nhanh chóng viral trên MXH . Giới trẻ sau đó sử dụng “over hợp” để tán dương
những cặp đôi, sự phối hợp “ăn ý” một cách hài hước.

TikTok, Facebook (giữa 2023); rộ lên từ Rap Việt mùa 3.


Nguồn gốc:

Xuất phát từ bài quảng cáo mì tôm thanh long với phong cách hơi hướng bolero xưa. Sự “lạcquẻ” của giai điệu và hình ảnh trong MV lại tạo sự thích thú, khiến cụm này lan truyền mạnh . Gen Z thi nhau cover, chế ảnh, thậm chí cài làm nhạc chuông vì độ hot của “trái thanh long” thời điểm đó.

TikTok, Facebook (cuối 2023); nhiều clip dùng nhạc nền câu hát này để tạo nội dung hài.

 (còn tiếp)

HỌC HỎI PHÚC ÂM: CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN năm C

 Học hỏi Phúc Âm: Chúa nhật 14 năm C - 2025


 

 

Lời Chúa: Lc 10,1-12.17-20

1 Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. 2 Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. 3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. 5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!” 6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. 8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. 10 Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: 11 “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”. 12 Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó”.

17 Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. 18 Đức Giê-su bảo các ông: “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. 19 Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. 20 Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”.

 


Câu hỏi:

1. Đọc Lc 10, 1; 9, 1-6. Ngoài Tin Mừng Luca, có Tin Mừng nào nói đến việc Đức Giêsu sai 72 môn đệ không? Việc sai 72 môn đệ có ‎‎ý nghĩa gì đối với người giáo dân không? Đọc Dân số 11, 16-17.

2. Đọc Lc 10, 2. Đức Giêsu so sánh việc rao giảng Nước Thiên Chúa với việc gì? Còn ở Lc 5, 10-11, Đức Giêsu lại so sánh với hình ảnh gì?

3. Chúa (=chủ) của mùa gặt ở Lc 10, 2 là ai? Chúa của mùa gặt ở đây có khác với Chúa ở Lc 10, 1.17 không? Tại sao phải cầu xin Chúa sai thợ gặt đến? ‎

4. Thái độ của người môn đệ khi được tiếp đón vào nhà (Lc 10, 5-7) và vào thành (Lc 10, 8-12) có những điểm nào giống nhau? Cử chỉ phủi bụi chân lại mang ý nghĩa gì?

5. Đọc Lc 10, 17. Các môn đệ trừ được ma quỷ nhờ ai? Đọc Lc 9, 49; Cv 3, 6; 4, 10; 16, 18.

6. Đọc Lc 10, 18. Khi nào thì Xa-tan từ trời rơi (ngã) xuống? Khi nào Nước Thiên Chúa thắng được nước của Xa-tan? Đọc Lc 11, 18-20.

7. Cho biết ý nghĩa của các đoạn sau đây: Lc 10, 19; Mc 16, 18; Cv 28, 3-5.

9. "Tên được ghi trên trời" nghĩa là gì? Đọc Xh 32, 32-33; Đn 12, 1; Tv 69, 29; Kh 3, 5; Pl 4, 3. Đâu là niềm vui đích thực của người môn đệ?

 

GỢI Ý CẦU NGUYỆN: Đọc Lc 10, 3-4. Theo bạn, người đi rao giảng Tin Mừng ngày nay đều cần đem theo điều gì? Đâu là thái độ cần có đối với một người đi rao giảng Tin Mừng cho thế giới hôm nay?

 

PHẦN TRẢ LỜI

1/ Luca 9, 1-6 kể cho ta việc Thầy Giêsu sai Nhóm Mười Hai đi rao giảng và chữa bệnh cho dân chúng. Sau đó còn thuật chuyện các ông trở về gặp lại Thầy và kể cho Thầy nghe những trải nghiệm trong chuyến đi vừa qua (Lc 9, 10). Còn Lc 10, 1-20 lại thuật chuyện Chúa Giêsu sai bảy mươi (hay bảy mươi hai) môn đệ đi làm những việc giống như Nhóm Mười Hai. Sau đó họ cũng trở về, báo cho Chúa biết thành công của họ trong việc xua đuổi quỷ thần (Lc 10, 17-20). Chỉ Tin Mừng Luca mới kể chuyện về nhóm Bảy Mươi Hai được sai đến mọi nơi mà Chúa Giêsu sẽ đến, để chuẩn bị cho Chúa như ông Gioan Tẩy giả đã làm trước đây (Lc 3, 1-18). Trong Cựu Ước, ông Môsê chỉ định 70 kỳ mục làm phụ tá cho mình để lãnh đạo dân. Các ông này cũng được hưởng một phần Thần Khí của Môsê (Ds 11, 16-17). Sau đó, có 2 ông khác là En-đát và Mê-đát cũng nhận được Thần Khí (Ds 11, 26). Bởi đó có 70 hay 72 người phụ tá cho ông Môsê nhận được Thần Khí. Trong bài Tin Mừng này, nhóm 70 hay 72 môn đệ sẽ cùng làm việc với Nhóm Mười Hai cho sứ vụ ở Israel và cho “mọi dân tộc” (Lc 24, 47). Có tác giả cho rằng Nhóm 70 hay 72 là đại diện cho các giáo dân đang làm việc tông đồ trên toàn thế giới.

2/ Trước khi sai họ lên đường, Chúa Giêsu đã ban cho họ những lời huấn dụ (Lc 10, 2-12). Ngài ví Nhóm 72 với những người thợ gặt lúa. Họ được sai đi gặt ở cánh đồng lúa đã chín vàng (Lc 10, 2). Họ không phải làm ruộng cực khổ, họ chỉ đến để thu hoạch thôi (x. Ga 4, 35-38). Còn ở Lc 5, 1-11, trong bối cảnh ở hồ Galilê, Chúa Giêsu lại mời gọi các môn đệ đầu tiên làm những kẻ “đánh bắt con người” như đánh bắt cá. Làm ngư phủ hay làm thợ gặt, là những hình ảnh cho thấy công việc của các môn đệ khi được sai vào thế giới.

3/ Cách đây hai ngàn năm, Chúa Giêsu đã phải than: “ thợ gặt lại ít”. Cánh đồng lúa sẽ bị hư hoại nếu không có đủ thợ đến gặt đúng lúc. Sau đó chính Chúa Giêsu (kurios) lại chỉ cách để có đủ thợ gặt: “Vậy hãy xin Chúa (kurios) của mùa gặt sai thợ ra gặt lúa.” Chúa của mùa gặt ở đây phải hiểu là Thiên Chúa Cha (x. Lc 10, 21.27); tuy trong Tin Mừng Luca, Đức Giêsu cũng được gọi là Chúa (Lc 10, 1.17), và Chúa Giêsu là Đấng đã sai các môn đệ đi (Lc 10, 1). Chúa Cha là Đấng sai thợ đi gặt trên những cánh đồng lúa chín. Để có thợ, cần phải xin Chúa Cha là Ông Chủ ruộng sai đi. Đây là một ơn ban của Ông Chủ, tự sức con người không làm được.

4/ Trong bài Tin mừng này, Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ cung cách cư xử khi họ đến một nhà (Lc 10, 5-7) hay một thành (Lc 10, 8-12). Có một điểm giống nhau khi đến một nhà hay một thành. Đó là thái độ khiêm tốn đón nhận sự tiếp đón mà nhà đó hay thành đó dành cho mình, không đòi hỏi, không tìm kiếm nhà khác hay thành khác có tiện nghi vật chất hơn. Lc 10, 7: “Hãy ở lại nhà ấy, và ăn uống những gì người ta cho anh em…Đừng đi hết nhà nọ sang nhà kia.” Lc 10, 8: “Vào bất cứ thành nào mà người ta đón tiếp, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.” Một điểm khác giống nhau nữa, đó là thái độ tích cực trao ban. Vào nhà thì trước tiên là chúc bình an, không cần để ý xem nhà đó có ai xứng đáng với ơn bình an không (Lc 10, 6). Vào thành thì chữa lành những người đau yếu, và loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa (Lc 10, 9). Ngay cả khi không được đón tiếp thì cũng không có phản ứng bạo động (Lc 10, 10-11). Cử chỉ phủi bụi chân là dấu hiệu cho thấy mình không muốn liên can gì nữa, ngay cả bụi chân cũng không giữ lại.

5/ Bảy mươi hai môn đệ trở về gặp Chúa, quá đỗi vui mừng vì họ làm được điều chưa từng thấy, đó là trừ quỷ. Các ông lần đầu tiên có kinh nghiệm về sức mạnh của Danh Chúa Giêsu. “Nhân danh Ngài, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con” (Lc 10, 17). Tên của Đức Giêsu trừ được quỷ và chữa lành anh què (Lc 9, 49; x. Cv 3, 6.16; 4, 10; 16, 18).

6/ Khi các ông đang nói về trải nghiệm trừ quỷ của mình thì Đức Giêsu, như trong một thị kiến về tương lai, nhìn thấy sự sụp đổ của Xatan. Xatan từ trời ngã xuống như một tia chớp (Lc 10, 18). Nước của Xatan là có thật và mạnh (Lc 11, 18.21). Tuy cuộc chiến với Xatan còn kéo dài, và nước của Xatan chỉ sụp đổ hoàn toàn vào ngày tận thế, nhưng qua việc trừ quỷ, Đức Giêsu đã khai mở Nước Thiên Chúa (Lc 11, 20). Chiến thắng chung cục đã được bảo đảm bởi những gì Đức Giêsu và các môn đệ đã và đang làm trên thế giới (x. Ga 12, 31; 14, 30; 16, 11; Rm 16, 20).

7/ Khi sai các môn đệ lên đường, Chúa Giêsu biết họ sẽ gặp nhiều nguy hiểm, như chiên ở giữa sói, mà lại không có gì bảo đảm (Lc 10, 3-4). Nhưng Ngài đã trang bị cho họ uy quyền trên mọi thứ kẻ thù nên không gì làm hại họ. Điều đó được nói đến trong Lc 10, 19; Mc 16, 18 và Cv 28, 3-5.

8/ Niềm vui đích thực của người môn đệ không phải là trừ được quỷ, nhưng là thấy tên mình được ghi trên trời, nghĩa là được cứu độ (Lc 10, 20). Thánh Kinh có dùng hình ảnh về “cuốn sách sự sống”, trong đó ghi tên những người được cứu độ (Xh 32, 32-33; Đn 12, 1; Tv 69, 29; Kh 3, 5; Pl 4, 3).

Lm. An-tôn Nguyễn Cao Siêu SJ.

JULY 2, 2025: WEDNESDAY OF THE THIRTEENTH WEEK IN ORDINARY TIME

 July 2, 2025


 

Wednesday of the Thirteenth Week in Ordinary Time

Lectionary: 379

 

Reading 1

Genesis 21:5, 8-20a

Abraham was a hundred years old when his son Isaac was born to him.
Isaac grew, and on the day of the child's weaning
Abraham held a great feast.

Sarah noticed the son whom Hagar the Egyptian
had borne to Abraham
playing with her son Isaac;
so she demanded of Abraham:
"Drive out that slave and her son!
No son of that slave is going to share the inheritance
with my son Isaac!"
Abraham was greatly distressed,
especially on account of his son Ishmael.
But God said to Abraham: "Do not be distressed about the boy
or about your slave woman.
Heed the demands of Sarah, no matter what she is asking of you;
for it is through Isaac that descendants shall bear your name.
As for the son of the slave woman,
I will make a great nation of him also,
since he too is your offspring."

Early the next morning Abraham got some bread and a skin of water
and gave them to Hagar.
Then, placing the child on her back, he sent her away.
As she roamed aimlessly in the wilderness of Beer-sheba,
the water in the skin was used up.
So she put the child down under a shrub,
and then went and sat down opposite him, about a bowshot away;
for she said to herself, "Let me not watch to see the child die."
As she sat opposite Ishmael, he began to cry.
God heard the boy's cry,
and God's messenger called to Hagar from heaven:
"What is the matter, Hagar?
Don't be afraid; God has heard the boy's cry in this plight of his.
Arise, lift up the boy and hold him by the hand;
for I will make of him a great nation."
Then God opened her eyes, and she saw a well of water.
She went and filled the skin with water, and then let the boy drink.

God was with the boy as he grew up.

 

Responsorial Psalm

Psalm 34:7-8, 10-11, 12-13

R. (7a) The Lord hears the cry of the poor.
When the poor one called out, the LORD heard,
and from all his distress he saved him.
The angel of the LORD encamps
around those who fear him, and delivers them.
R. The Lord hears the cry of the poor.
Fear the LORD, you his holy ones,
for nought is lacking to those who fear him.
The great grow poor and hungry;
but those who seek the LORD want for no good thing.
R. The Lord hears the cry of the poor.
Come, children, hear me;
I will teach you the fear of the LORD.
Which of you desires life,
and takes delight in prosperous days?
R. The Lord hears the cry of the poor.

 

Alleluia

James 1:18

R. Alleluia, alleluia.
The Father willed to give us birth by the word of truth
that we may be a kind of firstfruits of his creatures.
R. Alleluia, alleluia.

 

Gospel

Matthew 8:28-34

When Jesus came to the territory of the Gadarenes,
two demoniacs who were coming from the tombs met him.
They were so savage that no one could travel by that road.
They cried out, "What have you to do with us, Son of God?
Have you come here to torment us before the appointed time?"
Some distance away a herd of many swine was feeding.
The demons pleaded with him,
"If you drive us out, send us into the herd of swine."
And he said to them, "Go then!"
They came out and entered the swine,
and the whole herd rushed down the steep bank into the sea
where they drowned.
The swineherds ran away,
and when they came to the town they reported everything,
including what had happened to the demoniacs.
Thereupon the whole town came out to meet Jesus,
and when they saw him they begged him to leave their district.

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/070225.cfm

 


Commentary on Genesis 21:5,8-20

At last God keeps his promise and Sarah, old though she is, bears her one and only son, the son through whom the promises to Abraham and his descendants will be kept. Abraham himself is exactly 100 years old.

The child Isaac grew and on the day that he was weaned Abraham threw a large feast. Weaning took place in the ancient Near East between the ages of two and three. However, when Sarah saw her son Isaac playing with his half-brother, Ishmael, the son of Hagar, the maidservant, she became very angry (while there is an impression in the story that Isaac and Ishmael are the same age, Ishmael would have been in his mid teens by this time). Sarah had not forgotten how Hagar had mocked her for sterility and not being able to give Abraham a son. She was also afraid that, if the brothers got too close, it would affect Isaac’s share of the inheritance. In fact, Isaac will get everything.

The word ‘playing’ here is another allusion to Isaac’s name, where the verb means ‘to laugh’ or ‘to play’. She tells Abraham to get rid of both Ishmael and Hagar. She does not want Ishmael to share any of the family inheritance with Isaac.

Abraham was very unhappy with this because he saw Ishmael as a real son whom he loved. But also according to law and the customs of the day the arbitrary expulsion of a servant girl’s son was forbidden and, especially as in this case, where the father is the head of the household. However, God tells Abraham to follow Sarah’s demands because Isaac and only Isaac is to be the father of future descendants.

At the same time, Ishmael, the son of the slave woman, will become a patriarch in his own right as a token of honour for Abraham, his father. God tells Abraham:

As for the son of the slave woman, I will make a nation of him also, because he is your offspring.

On the following day, Abraham sent Hagar off with her son and a supply of bread and water—in view of Abraham’s wealth only minimal provisions. She left with her boy and wandered in the wilderness of Beer-sheba. When the water ran out, she put her son in the shade of some bushes and then went to sit down some distance off. She prays:

Do not let me look on the death of the child.

And she wept. It was the second time she had received this treatment. The boy too must have been crying because an angel spoke to Hagar from heaven:

Do not be afraid, for God has heard the voice of the boy….Come, lift up the boy and hold him fast with your hand, for I will make a great nation of him.

‘God has heard’ is a play on the meaning of Ishmael’s name. When Hagar opened her eyes, there nearby was a well. She filled her waterskin and gave the boy to drink. And now, says Genesis:

God was with the boy, and he grew up; he lived in the wilderness and became an expert with the bow [i.e. an excellent huntsman].

In the next verse, not part of the reading, we are told that Hagar found an Egyptian wife for Ishmael. We remember that Hagar too had been brought from Egypt by Abraham. But this marriage only confirms Ishmael and his descendants as outsiders and leaving the field to Isaac.

We are seeing here, of course, the evolution of the Israelite people told through the eyes of the sacred authors. Certainly not everything in this story would meet with our approval today, neither the mockery of Sarah’s barrenness nor the sending away of Hagar. We are dealing with a much earlier society where many of the values which we take for granted had not yet developed in people’s consciousness.

But we also have to acknowledge that these values have not been appropriated by everyone in our own societies. We have only to think of the millions of people who have been driven from their homes and are without even the basic necessities of living. Most of these situations are the result of human (inhuman) behaviour.

Comments Off

 


Commentary on Matthew 8:28-34

Matthew’s version of this strange story is quite different from and much shorter than that told in Mark’s Gospel. It is usual for Matthew to pare down stories to just the essential details, while Mark tends to give a more dramatic presentation. In Matthew’s version, there are two possessed people instead of just one (as in Mark’s Gospel). This is similar to the version of the Bartimaeus story told by Mark (10:46-52) where Matthew (20:29-34) also has two blind men instead of one.

In the previous story about the calming of the storm, we saw that Jesus and disciples were crossing the lake. They now come to their destination, a place known as the Gadarenes. It got its name from the town of Gadara on the south-east side of the lake.

Here Jesus was met by two people possessed by demons who completely controlled them. Unlike many of the ordinary people, the demons in these two men have an insight into Jesus’ identity although they may not recognise it fully:

What have you to do with us, Son of God?

Jesus usually refers to himself as Son of Man and never as Son of God.

The two men continue shouting:

Have you come here to torment us before the time?

There was a belief that demons would be free to roam the earth until the Judgment Day came. They did this by taking possession of people. This possession was often associated with disease, because disease was the consequence of sin and a sign of being in Satan’s power. That is why when Jesus expels a demon there is often a cure as well. By driving out these evil spirits, Jesus inaugurates the Messianic age which many of the people do not recognise, but which the demons do. Later Jesus will hand over this exorcising power, together with the ability to effect cures, to his disciples. We will see that in the discourse in chapter 10.

The demons then begged Jesus to let them go into a nearby herd of pigs. Jesus consented to this. As soon as they had entered the pigs, the whole herd rushed headlong over a cliff and into the water below. The swineherds rushed off to the nearest town to tell what had happened.

The townspeople immediately came out in search of Jesus and, not surprisingly, begged him to go somewhere else. It might seem rather high-handed of Jesus to destroy a whole herd of pigs in this way. We have to remember, however, that in Jewish eyes these pigs were abominably unclean. There was not a better place to put demons, and it was they who really brought about the destruction of the animals. But understandably, the owners of the pigs found it difficult to see things in the same way.

The purpose of the story, of course, is to focus on Jesus’ power to liberate people from evil influences which were destroying their lives. What these men were suffering could not be compared to the loss of the pigs’ lives and the pigs would have ended up in a cooking pot anyway! We, too, need to ask Jesus to liberate us from any evil influences or addictions which enslave us and prevent us from being the kind of persons he wants us to be.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o1134g/

 

 


Wednesday, July 2, 2025

Ordinary Time

Opening Prayer

Father,

You call Your children to walk in the light of Christ.

Free us from darkness and keep us in the radiance of Your truth.

We ask this through our Lord Jesus Christ, Your Son, who lives and reigns with You and the Holy Spirit, one God, forever and ever. Amen.

Gospel Reading - Matthew 8: 28-34

When Jesus came to the territory of the Gadarenes, two demoniacs who were coming from the tombs met him. They were so savage that no one could travel by that road. They cried out, "What have you to do with us, Son of God? Have you come here to torment us before the appointed time?" Some distance away a herd of many swine was feeding. The demons pleaded with him, "If you drive us out, send us into the herd of swine." And he said to them, "Go then!" They came out and entered the swine, and the whole herd rushed down the steep bank into the sea where they drowned. The swineherds ran away, and when they came to the town they reported everything, including what had happened to the demoniacs. Thereupon the whole town came out to meet Jesus, and when they saw him they begged him to leave their district.

Reflection

Today’s Gospel stresses the power of Jesus over the devil. In our text, the devil and the power of evil is associated with three things: 

1) the cemetery, the place of the dead. The death which kills life!

2) The pig, which was considered an impure animal.  The impurity which separates from God!

3) The sea, which was considered the symbol of chaos before creation. The chaos which destroys nature.

The Gospel of Mark, from which Matthew takes his information, associates the power of evil with a fourth element which is the word Legion (Mk 5: 9), the name of the army of the Roman Empire.  The Empire oppressed and exploited the people.  Thus, it is understood that the victory of Jesus over the Devil had an enormous importance for the life of the communities of the years 70’s, the time when Matthew wrote his Gospel. The communities lived oppressed and marginalized, because of the official ideology of the Roman Empire and of the Pharisees, which was renewed. The same significance and the same importance continue to be valid today.

           Matthew 8: 28: The force of evil oppresses, ill-treats and alienates people. This first verse describes the situation of the people before the coming of Jesus. In describing the behavior of the two demoniacs, the Evangelist associates the force of evil with the cemetery and with death. It is a deadly power, without a goal, without direction, without control and a destructive power, which causes everyone to fear.  It deprives people of their conscience, self-control, and autonomy.

           Matthew 8: 29: Before the simple presence of Jesus the force of evil breaks up and disintegrates. Here is described the first contact between Jesus and the two possessed men.  We see that there is total disproportion. The power, that at first seemed to be so strong, melts and disintegrates before Jesus.  They shouted, “What do you want with us, Son of God? Have you come to torture us before the time?” They become aware that they are losing their power.

           Matthew 8: 30-32: The power of evil is impure and has no autonomy, nor consistency.  The Devil does not have power over his movements.  It only gets the power to enter into the pigs with the permission of Jesus! Once they entered into the pigs, the whole herd charged down the cliff into the sea and perished in the water. In the opinion of the people, the pig was a symbol of impurity, which prevented the human being from relating with God and from feeling accepted by Him.  The sea was the symbol of the existing chaos before creation and which, according to the belief of that time, continued to threaten life.  This episode of the pigs which threw themselves into the sea is strange and difficult to understand. But the message is very clear: before Jesus, the power of evil has no autonomy, no consistency.  Anyone who believes in Jesus has already conquered the power of evil and should not fear!

           Matthew 8: 33-34: The reaction of the people of that place. The herdsmen of the pigs went to the city and told the story to the people, and they all set out to meet Jesus. Mark says that they saw the “possessed” man sitting down, dressed and in his right mind” (Mk 5: 15). But the pigs were still gone!  This is why they asked Jesus to leave their neighborhood. For them, the pigs were more important than the person who recovered his senses.  

The expulsion of the demons.  At the time of Jesus, the words Devil or Satan were used to indicate the power of evil which drew persons away from the right path. For example, when Peter tried to divert Jesus from His mission, he was Satan for Jesus (Mk 8: 33).  Other times, those same words were used to indicate the political power of the Roman Empire which oppressed and exploited people.  For example, in the Apocalypse, the Roman Empire is identified with “Devil or Satan” (Rev 12: 9).  While at other times, people used the same words to designate evils and illnesses.  They spoke of devil, dumb spirit, deaf spirit, impure or unclean spirit, etc.  There was great fear! In the time of Matthew, in the second half of the first century, the fear of demons increased.  Some religions from the East taught worship of spirits.  They taught that some of our mistaken gestures could irritate the spirits, and these, out of revenge, could prevent us from having access to God and deprive us of divine benefits.  For this reason, through rites and writings, intense prayer and complicated ceremonies, people sought to appease these spirits or demons in such a way that they would not cause harm to life.  These religions, instead of liberating people, nourished fear and anguish. Now, one of the objectives of the Good News of Jesus was to help people to liberate themselves from this fear.  The coming of the Kingdom of God meant the coming of a stronger power.  Jesus is “the strongest man” who can conquer Satan, the power of evil, snatching away from its hands a humanity imprisoned by fear (cf. Mk 3: 27).  For this reason the Gospels insist on the victory of Jesus over the power of evil, over the devil, over Satan, over sin and over death.  The Gospels encourage communities to overcome this fear of the devil!  Today, who can say “I am completely free?” Nobody!  Then, if I am not totally free, there is some part of me which is possessed by other powers.  How can these forces be cast away?  The message of today’s Gospel continues to be valid for us.

Personal Questions

                    What oppresses and ill-treats people today? Why is it that so much is said about casting out the Devil today?  Is it good to insist so much on the Devil?

                    How is the meaning of a statement different when we use the term “evil” or “evil forces” versus “Evil One” or Satan or the Devil? How does modern society try to downplay the existence of Satan? Is this important?

                    Who can say that he/she is completely free or liberated? Nobody! And then, we are all somewhat possessed by other forces which occupy some space within us. What can we do to expel this power from within us and from society?

                    What is freedom? What is free-will? What is choice? If I go along with the crowd, am I free? Have I freely decided or have I acquiesced? Others, including Satan, cannot force us, but we can “go along.” We may not say “yes,” but did we really say “no” to evil today?

Concluding Prayer

Yahweh is tenderness and pity, slow to anger, full of faithful love.

Yahweh is generous to all; His tenderness embraces all His creatures. (Ps 145: 8-9)

www.ocarm.org

 

02.07.2025: THỨ TƯ TUẦN XIII THƯỜNG NIÊN

 02/07/2025

 Thứ Tư tuần 13 thường niên


 

Bài Ðọc I: (Năm I) St 21, 5.8-20

“Con của người nữ tỳ không được thừa hưởng gia tài cùng với con tôi”.

Trích sách Sáng Thế.

Khi Abraham được một trăm tuổi, thì Isaac sinh ra.

Ðứa trẻ lớn lên và thôi bú.

Ngày Isaac thôi bú, Abraham thết tiệc linh đình.

Bà Sara thấy con của Agar, người đàn bà Ai Cập, chơi với Isaac, con của bà, liền nói với Abraham rằng: “Hãy đuổi mẹ con người tì nữ này đi, vì con của người đầy tớ không được thừa hưởng gia tài cùng với con tôi là Isaac”.

Abraham lấy sự ấy làm đau lòng cho con mình.

Chúa phán cùng Abraham rằng: “Người đừng buồn vì con trẻ, và con của nữ tì ngươi. Bất cứ Sara nói gì, ngươi hãy nghe theo vì nhờ Isaac, sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi. Nhưng Ta cũng sẽ cho con trai của nữ tì trở thành một dân tộc lớn, vì nó thuộc dòng dõi của ngươi”.

Sáng sớm, Abraham chỗi dậy,lấy bánh mì và bầu nước, đặt lên vai người nữ tì, trao con trẻ cho nàng rồi bảo nàng đi.

Sau khi ra đi, nàng đến rừng Bersabê.

Và khi đã uống hết bầu nước, nàng bỏ con trẻ dưới gốc cây trong rừng.

Nàng ra ngồi cách xa đó khoảng tầm một tên bắn.

Vì nàng nói: “Tôi chẵng nỡ thấy con tôi chết”, và nàng ngồi đó, thì bên trong đứa bé cất tiếng khóc.

Chúa đã nghe tiếng khóc của đứa trẻ, và thiên thần Chúa từ trời gọi Agar mà rằng: “Agar, ngươi làm gì thế? Ngươi đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nghe tiếng đứa trẻ khóc từ chỗ nó đang nằm kia.

Ngươi hãy chỗi dậy, ẵm con đi, và giữ chặt tay nó, vì Ta sẽ cho nó trở thành một dân tộc vĩ đại”.

Và Thiên Chúa mở mắt cho Agar, nàng thấy một giếng nước và đến múc đầy bầu nước cho đứa trẻ uống.

Chúa phù trợ đứa trẻ; nó lớn lên, cư ngụ trong rừng vắng, và trở thành người có tài bắn cung tên.

Ðó là Lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 33,7-8.10-11,12-13

Ðáp: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe.

Xướng: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. Thiên thần Chúa hạ trại đồn binh, chung quanh những người sợ Chúa, và bênh chữa họ.

Xướng: Các thánh nhân của Chúa hãy tôn sợ Chúa, vì người tôn sợ Chúa chẳng thiếu thốn chi. Bọn sang giàu đã sa cơ nghèo đói, nhưng người tìm Chúa chẳng thiếu chi thiện hảo.

Xướng: Các đệ tử ơi, hãy lại đây, hãy nghe ta, ta sẽ dạy các con biết tôn sợ Chúa. Ai là người yêu quý cuộc đời, mong sống lâu để hưởng nhiều phúc lộc.

 

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia. – Ước gì hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 8,28-34

“Ông đến lúc này để hành hạ các quỷ”.

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu lên thuyền sang bờ bên kia, đến miền Giêrasa, thì gặp hai người bị quỷ ám từ các mồ mả đi ra, chúng hung dữ đến nỗi không ai dám qua đường ấy.

Và chúng kêu lên rằng: “Lạy Ông Giêsu, Con Thiên Chúa, chúng tôi có can chi đến ông? Ông đến đây để hành hạ chúng tôi trước hạn định sao?”

Cách đó không xa có một đàn heo lớn đang ăn.

Các quỷ nài xin Người rằng: “Nếu ông đuổi chúng tôi ra khỏi đây, thì xin cho chúng tôi nhập vào đàn heo”.

Người bảo chúng rằng: “Cứ đi”.

Chúng liền ra khỏi đi nhập vào đàn heo.

Tức thì cả đàn heo, từ bờ dốc thẳng, nhào xuống biển và chết chìm dưới nước.

Các người chăn heo chạy trốn về thành, báo tin ấy và nói về các người bị quỷ ám. Thế là cả thành kéo ra đón Chúa Giêsu. Khi gặp Người, Họ xin Người rời khỏi vùng của họ.

Ðó là Lời Chúa.

 


Chú giải về Sáng thế  21,5.8-20

Cuối cùng, Chúa đã giữ lời hứa và Sarah, mặc dù đã già, vẫn sinh ra đứa con trai duy nhất, đứa con mà qua đó lời hứa với Abraham và con cháu của ông sẽ được thực hiện. Bản thân Abraham đã đúng 100 tuổi.

Đứa trẻ Isaac lớn lên và vào ngày cai sữa, Abraham đã tổ chức một bữa tiệc lớn. Cai sữa diễn ra ở vùng Cận Đông cổ đại khi Isaac ở độ tuổi từ hai đến ba. Tuy nhiên, khi Sarah nhìn thấy con trai mình là Isaac chơi với người anh cùng cha khác mẹ, Ishmael, con trai của Hagar, người hầu gái, bà đã trở nên rất tức giận (mặc dù có ấn tượng trong câu chuyện rằng Isaac và Ishmael bằng tuổi nhau, nhưng Ishmael sẽ ở độ tuổi giữa thiếu niên vào thời điểm này). Sarah không quên cách Hagar chế giễu bà vì vô sinh và không thể sinh con trai cho Abraham. Bà cũng sợ rằng nếu những người anh em quá thân thiết, điều đó sẽ ảnh hưởng đến phần thừa kế của Isaac. Trên thực tế, Isaac sẽ có tất cả.

Từ ‘chơi’ ở đây là một ám chỉ khác đến tên của Isaac, trong đó động từ có nghĩa là ‘cười’ hoặc ‘chơi’. Bà bảo Abraham loại bỏ cả Ishmael và Hagar. Bà không muốn Ishmael chia sẻ bất kỳ tài sản thừa kế nào của gia đình với Isaac.

Abraham rất không vui với điều này vì ông coi Ishmael là một người con trai thực sự mà ông yêu thương. Nhưng theo luật pháp và phong tục thời bấy giờ, việc trục xuất tùy tiện con trai của một người hầu gái là điều bị cấm và đặc biệt là trong trường hợp này, khi người cha là chủ gia đình. Tuy nhiên, Chúa bảo Abraham làm theo yêu cầu của Sarah vì Isaac và chỉ Isaac mới là cha của những người con cháu trong tương lai.

Cùng lúc đó, Ishmael, con trai của người nữ nô lệ, sẽ trở thành tộc trưởng theo đúng nghĩa của mình như một dấu hiệu danh dự cho Abraham, cha của ông. Chúa nói với Abraham:

Còn về đứa con trai của người nữ nô lệ, ta cũng sẽ làm cho nó trở thành một quốc gia, vì nó là dòng dõi của ngươi.

Vào ngày hôm sau, Abraham đã gửi Hagar đi cùng đứa con trai của bà và một ít bánh mì và nước—vì Abraham chỉ có rất ít lương thực. Bà rời đi cùng đứa con trai của mình và lang thang trong vùng hoang dã của Beer-sheba. Khi nước cạn, bà đặt đứa con trai mình dưới bóng râm của một số bụi cây rồi đi ngồi xuống một khoảng cách xa. Bà cầu nguyện:

Xin đừng để tôi nhìn thấy đứa trẻ chết.

Và bà khóc. Đó là lần thứ hai bà nhận được sự đối xử này. Cậu bé hẳn cũng đã khóc vì một thiên thần đã nói với Hagar từ trên trời:

Đừng sợ, vì Chúa đã nghe thấy tiếng nói của đứa trẻ…. Hãy đến, nâng đứa trẻ lên và giữ chặt nó bằng tay của ngươi, vì ta sẽ làm cho nó trở thành một quốc gia vĩ đại.

‘God has hear’ là một cách chơi chữ về ý nghĩa tên của Ishmael. Khi Hagar mở mắt ra, gần đó có một cái giếng. Bà đổ đầy nước vào bầu da và cho cậu bé uống. Và bây giờ, Sách Sáng Thế nói:

Thiên Chúa ở cùng cậu bé, và cậu lớn lên; cậu sống trong sa mạc và trở thành một chuyên gia bắn cung [tức là một thợ săn xuất sắc].

Trong câu tiếp theo, không phải là một phần của bài đọc, chúng ta được kể rằng Hagar đã tìm được một người vợ Ai Cập cho Ishmael. Chúng ta nhớ rằng Hagar cũng được Abraham đưa từ Ai Cập về. Nhưng cuộc hôn nhân này chỉ xác nhận Ishmael và con cháu của ông là những người ngoài cuộc và để lại cánh đồng cho Isaac.

Tất nhiên, chúng ta đang thấy ở đây sự tiến hóa của người Israel được kể qua con mắt của các tác giả thiêng liêng. Chắc chắn không phải mọi thứ trong câu chuyện này đều được chúng ta chấp thuận ngày nay, không phải sự chế giễu về tình trạng hiếm muộn của Sarah hay việc đuổi Hagar đi. Chúng ta đang nói đến một xã hội sơ khai hơn nhiều, nơi nhiều giá trị mà chúng ta coi là hiển nhiên vẫn chưa phát triển trong ý thức của mọi người.

Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng những giá trị này không được mọi người trong xã hội của chúng ta tiếp thu. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến hàng triệu người đã bị đuổi khỏi nhà và thậm chí không có những nhu cầu cơ bản để sống. Hầu hết những tình huống này là kết quả của hành vi của con người (vô nhân đạo).

 


Chú giải về Mát-thêu 8,28-34

Phiên bản của Mát-thêu về câu chuyện kỳ ​​lạ này khá khác biệt và ngắn hơn nhiều so với phiên bản được kể trong Phúc âm của Mác-cô. Mát-thêu thường lược bỏ các câu chuyện chỉ còn những chi tiết cần thiết, trong khi Mác-cô có xu hướng trình bày một cách kịch tính hơn. Trong phiên bản của Mát-thêu, có hai người bị quỷ ám thay vì chỉ một (như trong Phúc âm của Mác-cô). Điều này tương tự như phiên bản câu chuyện Bạc-ti-mê được kể bởi Mác-cô (10,46-52), trong đó Mát-thêu (20,29-34) cũng có hai người mù thay vì một.

Trong câu chuyện trước về việc cơn bão lắng dịu, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu và các môn đồ đang băng qua hồ. Bây giờ họ đến đích, một nơi được gọi là Gadarenes. Nơi này có tên bắt nguồn từ thị trấn Gadara ở phía đông nam của hồ.

Tại đây, Chúa Jesus đã gặp hai người bị quỷ ám và họ đã hoàn toàn bị quỷ ám. Không giống như nhiều người bình thường, những con quỷ trong hai người đàn ông này có cái nhìn sâu sắc về danh tính của Chúa Giêsu mặc dù chúng có thể không nhận ra hoàn toàn:

Hỡi Con Đức Chúa Trời, ngươi có liên quan gì đến chúng ta?

Chúa Jesus thường tự gọi mình là Con Người chứ không bao giờ gọi là Con Đức Chúa Trời.

Hai người đàn ông tiếp tục hét lên:

Ngươi đến đây để hành hạ chúng ta trước thời hạn sao?

Người ta tin rằng ma quỷ sẽ được tự do lang thang trên trái đất cho đến khi Ngày phán xét đến. Chúng làm điều này bằng cách chiếm hữu con người. Sự chiếm hữu này thường gắn liền với bệnh tật, vì bệnh tật là hậu quả của tội lỗi và là dấu hiệu của việc nằm trong quyền lực của Satan. Đó là lý do tại sao khi Chúa Giêsu trục xuất một con quỷ, thường cũng có cách chữa trị. Bằng cách trục xuất những linh hồn ma quỷ này, Chúa Giêsu đã khai mạc thời đại Đấng Messia mà nhiều người không nhận ra, nhưng ma quỷ thì nhận ra. Sau đó, Chúa Giêsu sẽ trao quyền trừ tà này, cùng với khả năng chữa lành bệnh, cho các môn đồ của mình. Chúng ta sẽ thấy điều đó trong bài giảng ở chương 10.

Sau đó, những con quỷ cầu xin Chúa Giêsu cho chúng nhập vào một bầy lợn gần đó. Chúa Giêsu đã chấp thuận điều này. Ngay khi họ nhập vào đàn lợn, cả đàn lao đầu xuống vách đá và xuống nước bên dưới. Những người chăn lợn vội vã chạy đến thị trấn gần nhất để kể lại chuyện gì đã xảy ra.

Dân thị trấn ngay lập tức đi tìm Chúa Giêsu và không có gì ngạc nhiên khi cầu xin Người đi nơi khác. Có vẻ hơi ngạo mạn khi Chúa Giêsu tiêu diệt cả một đàn lợn theo cách này. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng trong mắt người Do Thái, những con lợn này vô cùng ô uế. Không có nơi nào tốt hơn để nhốt quỷ, và chính chúng thực sự đã gây ra sự hủy diệt cho những con vật. Nhưng dễ hiểu là những người chủ của đàn lợn thấy khó có thể nhìn nhận mọi thứ theo cùng một cách.

Tất nhiên, mục đích của câu chuyện là tập trung vào sức mạnh của Chúa Giêsu trong việc giải thoát mọi người khỏi những ảnh hưởng xấu xa đang hủy hoại cuộc sống của họ. Những gì những người đàn ông này phải chịu đựng không thể so sánh với việc mất mạng của những con lợn và dù sao thì những con lợn cũng sẽ bị đưa vào nồi nấu! Chúng ta cũng cần cầu xin Chúa Giêsu giải thoát chúng ta khỏi mọi ảnh hưởng xấu xa hay nghiện ngập đang giam cầm chúng ta và ngăn cản chúng ta trở thành con người như Người mong muốn.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o1134g/

 


Suy Niệm: Hai mẫu người

Chúa Giêsu đã đến với con người.

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy hai mẫu người, hai cách thức Chúa đến với họ.

Mẫu người thứ nhất có thể thấy được nơi hai người bị quỷ ám. Họ là những con người bị đẩy ra bên lề xã hội và chính họ cũng không làm chủ được trí khôn của mình nữa, họ không còn sống như một người bình thường và bị người ta xa lánh. Chúa Giêsu đến với họ một cách bất ngờ, họ chưa kịp xin Chúa chữa lành; vả lại họ cũng không thể xin, vì lúc đó họ đang bị quỷ ám. Thế nhưng, Chúa đã chữa lành họ, Ngài cho phép quỷ nhập vào đàn heo gần đó. Một phép lạ xẩy ra làm rúng động những người dân trong thành.

Mẫu người thứ hai là dân cư miền Gađara. Những người này có đời sống vật chất đầy đủ và tiện nghi, nhưng dường như không có sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúa đến với họ qua dấu lạ chữa lành hai người bị quỷ ám mà từ lâu họ đã chối từ, và sự kiện đàn heo bị quỷ nhập lao xuống biển chết chìm. Chúa Giêsu đã thực hiện dấu lạ để kéo chú ý của người dân trong thành về việc Chúa đến, nhưng họ đã bỏ mất cơ hội để tiếp xúc với Chúa và đón nhận ơn cứu độ. Bởi vì, như Tin Mừng kể lại, sau khi gặp Ngài, họ xin Ngài rời khỏi vùng đất của họ. Họ làm thế vì sợ phải gánh chịu những thiệt hại vật chất do sự hiện diện của con người lạ lùng này. Những lợi lộc hay những thiệt thòi vật chất có thể làm cho con người khép kín tâm hồn, trở nên mù quáng trước sự hiện diện yêu thương, bình an và cứu rỗi của Chúa.

Xin Chúa cho chúng ta một tâm hồn thanh thoát, biết mở rộng để đón nhận những dấu chỉ sự hiện diện của Chúa, để sẵn sàng đến gặp Chúa, sống với Chúa và trở thành dụng cụ hữu hiệu của Chúa cho những người xung quanh.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

ĐỨC GIÁO HOÀNG LÊ-Ô XIV CẢNH BÁO CÁC TÂN TỔNG GIÁM MỤC VỀ CÁC KẾ HOẠCH MỤC VỤ LẶP LẠI MÀ KHÔNG ĐỔI MỚI

 Đức Giáo Hoàng Leo XIV cảnh cáo các tân tổng giám mục, trong đó, có Đức TGM Giuse Đặng Đức Ngân, về các kế hoạch mục vụ lặp lại mà không đổi mới

Vũ Văn An  29/Jun/2025

 


Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã nói về sự hiệp nhất vào Chủ Nhật, ngày 29 tháng 6, sau khi trao dây pallium cho 54 tân tổng giám mục vào Lễ trọng kính Thánh Phêrô và Phaolô, bổn mạng của thành phố Rome. | Tín dụng: Vatican Media

 

Victoria Cardiel của Phòng tin CNA ở Rome ngày 29 tháng 6 năm 2025, cho hay: Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã cảnh cáo các tân tổng giám mục vào hôm Chúa Nhật về việc tuân theo "các kế hoạch mục vụ cũ mà không trải nghiệm sự đổi mới nội tâm và sẵn sàng ứng phó với những thách thức mới".

Phát biểu vào Lễ trọng kính hai Thánh Phêrô và Phaolô — các vị thánh được Giáo Hội Công Giáo công nhận là trụ cột của đức tin và được tôn kính là bổn mạng của thành phố Rome — Đức Giáo Hoàng cũng kêu gọi duy trì sự hiệp nhất của giáo hội trong khi tôn trọng sự đa dạng.

“Các vị thánh bổn mạng của chúng ta đã đi theo những con đường khác nhau, có những ý tưởng khác nhau và đôi khi tranh luận với nhau một cách thẳng thắn theo tinh thần truyền giáo. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản các ngài... một sự hiệp thông sống động trong Chúa Thánh Thần, một sự hòa hợp hiệu quả trong sự đa dạng”, Đức Giáo Hoàng nói.

Trong Thánh lễ tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, nơi ngài trao tặng dây pallium cho 54 vị tân tổng giám mục, trong đó có tám vị đến từ Hoa Kỳ và một vị đến từ Việt Nam, Đức TGM Giuse Đặng Đức Ngân, Đức Leo đã thúc giục các ngài “tìm ra những con đường mới và những cách tiếp cận mới để rao giảng Tin Mừng” bắt nguồn từ “những vấn đề và khó khăn” phát sinh từ cộng đồng đức tin của họ.

“Hai vị tông đồ... truyền cảm hứng cho chúng ta bằng tấm gương cởi mở với sự thay đổi, với những sự kiện, cuộc gặp gỡ và tình huống cụ thể mới trong đời sống cộng đồng của các ngài, và bằng sự sẵn sàng xem xét những cách tiếp cận mới để truyền giáo nhằm ứng phó với những vấn đề và khó khăn do anh chị em chúng ta trong đức tin nêu ra”.

Sau bài giảng, các phó tế đã xuống mộ của Thánh Tông đồ Phêrô, nằm bên dưới Bàn thờ Ngai Tòa, để lấy những dây pallium mà Đức Giáo Hoàng đã ban phép.

Tránh thói quen và chủ nghĩa duy nghi lễ

Trong bài giảng của ngài, Đức Giáo Hoàng đã ca ngợi tấm gương của hai Thánh Phêrô và Phaolô, nhấn mạnh đến “sự hiệp thông trong giáo hội và sức sống của đức tin”. Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học cách sống hiệp thông như “sự hiệp nhất trong đa dạng — để các ân sủng khác nhau, hiệp nhất trong một lời tuyên xưng đức tin, có thể thúc đẩy việc rao giảng Tin Mừng”.

Đối với Đức Giáo Hoàng Leo, con đường hiệp thông trong giáo hội “được đánh thức bởi sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, hiệp nhất những khác biệt và xây dựng những cây cầu hiệp nhất nhờ vào sự đa dạng phong phú của các đặc sủng, ân sủng và thừa tác vụ”.

'Biến những khác biệt của chúng ta thành một xưởng hiệp nhất'

Đức Giáo Hoàng kêu gọi nuôi dưỡng “tình huynh đệ” và thúc giục những người nghe của ngài “sau đó, hãy nỗ lực biến những khác biệt của chúng ta thành một xưởng hiệp nhất và hiệp thông, của tình huynh đệ và hòa giải, để mọi người trong Giáo hội, mỗi người với lịch sử cá nhân của mình, có thể học cách bước đi bên nhau”.

“Toàn thể Giáo hội cần tình huynh đệ, điều này phải hiện diện trong mọi mối quan hệ của chúng ta, dù là giữa giáo dân và linh mục, linh mục và giám mục, giám mục và giáo hoàng. Tình huynh đệ cũng cần thiết trong việc chăm sóc mục vụ, đối thoại đại kết và các mối quan hệ hữu nghị mà Giáo hội mong muốn duy trì với thế giới”, Đức Giáo Hoàng nói.

Ngài cũng mời gọi suy gẫm về việc liệu hành trình đức tin của chúng ta có “giữ được năng lực và sức sống của nó hay không, và liệu ngọn lửa trong mối quan hệ của chúng ta với Chúa có còn cháy sáng hay không”.

“Nếu chúng ta muốn giữ cho bản sắc của mình như các Kitô hữu không bị thu hẹp thành tàn tích của quá khứ, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô thường nhắc nhở chúng ta, thì điều quan trọng là phải vượt qua đức tin mệt mỏi và trì trệ. Chúng ta cần tự hỏi: Chúa Giêsu Kitô là ai đối với chúng ta ngày nay? Người chiếm vị trí nào trong cuộc sống của chúng ta và trong cuộc sống của Giáo hội?”

Những con đường và thực hành mới cho Tin Mừng

Do đó, Đức Leo đã khuyến khích một quá trình phân định phát sinh từ những câu hỏi này, cho phép đức tin và Giáo hội “được đổi mới liên tục và tìm ra những con đường mới và cách tiếp cận mới để rao giảng Tin Mừng”.

“Điều này, cùng với sự hiệp thông, phải là mong muốn lớn nhất của chúng ta.”

Vào cuối buổi lễ, Đức Giáo Hoàng đã xuống cầu thang đến mộ của Thánh tông đồ Phêrô và cầu nguyện một lúc trước mộ đó, cùng với Đức Tổng Giám Mục Emmanuel của Chalcedon, người đứng đầu Phái đoàn của Tòa Thượng phụ Đại kết.

Lễ trọng kính hai Thánh Phêrô và Phaolô đặc biệt quan trọng đối với phong trào đại kết vì hai vị thánh được tôn vinh bởi tất cả các truyền thống tông đồ, và Tòa Thượng phụ Đại kết đã cử một phái đoàn đến Rome để tham dự lễ này hàng năm kể từ những năm 1960.

Quay trở lại với truyền thống cổ xưa

Trong buổi lễ, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã khôi phục lại truyền thống cổ xưa là đích thân trao dây pallium cho các tân tổng giám mục.

Nghi lễ tượng trưng này đã được Đức Giáo Hoàng Phanxicô sửa đổi vào năm 2015, khi ngài quyết định trao pallium — một dải len trắng giống như khăn choàng với sáu cây thánh giá bằng lụa đen — cho các tổng giám mục tại Vatican, trong khi để cho sứ thần tại mỗi quốc gia của tổng giám mục trao pallium trong một buổi lễ địa phương.

Vào thời điểm đó, Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích rằng sự thay đổi này nhằm mục đích mang lại sự nổi bật hơn cho các giáo hội địa phương, để làm cho buổi lễ mang tính mục vụ và có sự tham gia hơn, và để củng cố mối liên hệ giữa các tổng giám mục và giáo dân của họ, mà không làm suy yếu sự hiệp thông với Rome.

 

https://vietcatholic.net/News/Html/296650.htm

 

VIỆT NAM - ÁN TỬ HÌNH ĐƯỢC BÃI BỎ ĐỐI VỚI TÁM TỘI DANH: ĐỐI VỚI NGƯỜI CÔNG GIÁO, ĐÂY LÀ BƯỚC TIẾN MANG LẠI HY VỌNG

 VIỆT NAM - Án tử hình được bãi bỏ đối với tám tội danh: đối với người Công Giáo, đây là bước tiến mang lại hy vọng

Vũ Văn An  29/Jun/2025

 


Hãng thông tấn Fides, Thứ năm, ngày 26 tháng 6 năm 2025 loan tin: Việt Nam đã bãi bỏ án tử hình đối với tám tội danh, bao gồm hối lộ, tham ô và các hoạt động lật đổ chính quyền. Theo hãng thông tấn chính thức của Việt Nam, Quốc hội đã nhất trí thông qua việc sửa đổi Bộ luật Hình sự, không còn quy định án tử hình đối với một số tội danh nhất định. Bao gồm phá hoại tài sản nhà nước, sản xuất thuốc giả, kích động chiến tranh, gián điệp và buôn lậu ma túy. Tính đến tháng 7, mức án tối đa đối với những tội danh này sẽ là tù chung thân. Những người bị kết án tử hình vì những tội danh này trước ngày 1 tháng 7 sẽ được giảm án xuống tù chung thân. Người Công Giáo tại Việt Nam đang cầu nguyện và hy vọng, theo giáo lý của Giáo hội, rằng án tử hình sẽ bị bãi bỏ hoàn toàn ở đất nước này. Một linh mục Công Giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh nói với Fides về "sự vô nhân đạo của án tử hình". Trong một cuộc phỏng vấn với Fides, Cha Dominic Ngô Quang Tuyến, linh mục tại Thành phố Hồ Chí Minh và là thư ký của Ủy ban Truyền giáo của Hội đồng Giám mục Việt Nam, cho biết: "Đây là một bước tiến mang lại hy vọng: một xã hội đoàn kết trao cho các tù nhân cơ hội trở về và sống một cuộc sống có phẩm giá. Giáo hội dạy chúng ta rằng sự sống con người phải được bảo vệ và tôn trọng vì đó là món quà của Thiên Chúa, từ khi sinh ra cho đến khi chết". Ngài nói tiếp: "Mỗi con người được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa. Và những người đã làm sai hoặc phạm tội cũng xứng đáng có thời gian để được phục hồi và cứu chuộc".

Andrew, một giáo dân Công Giáo Việt Nam, nói với Fides: "Việc bãi bỏ án tử hình có thể giúp tạo ra một xã hội công bằng hơn, nơi mọi người có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập vào xã hội. Đặc biệt liên quan đến việc bãi bỏ tội chống lại nhà nước, đây là một bước tiến lớn của chính quyền nhà nước xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, vốn thường tìm cách hạn chế các hình thức phản đối các chính sách của Đảng và chính quyền. Đây là một dấu hiệu tốt, cho thấy sự tiến bộ ngày càng tăng của xã hội dân sự Việt Nam".

Giáo hội Việt Nam có một mục vụ nhà tù tích cực, tập trung chủ yếu vào việc đồng hành về mặt tinh thần với các tù nhân, với sự tham gia của các linh mục, ngoài việc cung cấp hỗ trợ vật chất và tâm lý và hỗ trợ tinh thần, họ còn lắng nghe và khuyến khích đối thoại dựa trên Lời Chúa. Một số tổ chức giáo hội cũng giải quyết nhu cầu của gia đình tù nhân. Mười loại tội phạm (như giết người, phản quốc, khủng bố và lạm dụng tình dục trẻ em) vẫn tiếp tục bị trừng phạt bằng án tử hình ở Việt Nam. Số lượng tù nhân trong án tử hình ở Việt Nam không được biết, vì dữ liệu về các vụ hành quyết được coi là bí mật nhà nước. Kể từ năm 2011, án tử hình ở quốc gia châu Á này chỉ được thực hiện bằng cách tiêm thuốc độc, trong khi trước đây án tử hình được thực hiện bằng cách xử bắn. (PA) (Agenzia Fides, 26/6/2025)

 

https://vietcatholic.net/News/Html/296656.htm

IRAN BAN HÀNH FATWA LẤY MẠNG TỔNG THỐNG TRUMP: "ĐỐI PHƯƠNG CỦA ALLAH"

 


Bức ảnh ghép này cho thấy giáo sĩ Hồi giáo Shi'a Grand Ayatollah Naser Makarem Shirazi (trái) và Tổng thống Donald Trump. Getty Images

 Iran ban hành fatwa lấy mạng Tổng thống Trump: ‘Đối phương của Allah’

Một giáo sĩ cao cấp ở Iran đã ban hành một sắc lệnh tuyên bố rằng bất kỳ ai đe dọa Lãnh tụ tối cao Iran Ayatollah Ali Khamenei đều là “ Đối phương của Allah”, truyền thông nhà nước đưa tin hôm Thứ Hai, 30 Tháng Sáu.

Đại giáo chủ Naser Makarem Shirazi đã đưa ra một fatwa để trả lời câu hỏi liên quan đến mối đe dọa được đưa ra bởi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và các nhà lãnh đạo Israel, bao gồm cả thủ tướng Benjamin Netanyahu.

Fatwa là một phán quyết tôn giáo liên quan đến cách giải thích luật Hồi giáo do một cơ quan giáo sĩ ban hành.

Mặc dù fatwa không có giá trị thi hành về mặt pháp lý, nhưng nó có thể ảnh hưởng đến quyết định của tòa án ở các quốc gia có hệ thống pháp luật dựa trên luật Sharia. Fatwa cũng được hiểu như một lời kêu gọi các tín hữu Hồi Giáo thực thi các lời kêu gọi được nêu trong đó.

Khosro K. Isfahani, nhà phân tích nghiên cứu cao cấp tại Liên minh Quốc gia vì Dân chủ Iran đã nói, rằng lệnh tử hình do Shirazi ban hành chống lại Tổng thống Trump tương tự như lệnh tử hình giết người được ban hành chống lại tác giả Salman Rushdie vì cuốn tiểu thuyết The Satanic Verses của ông, dẫn đến một số nỗ lực ám sát.

Hãng thông tấn Mehr của Iran đưa tin, sắc lệnh về các mối đe dọa đối với lãnh tụ tối cao cũng yêu cầu các giáo sĩ Shiite /si-ai/ cao cấp được gọi là Shirazi phải kêu gọi tất cả người Hồi giáo trên toàn thế giới “khiến những đối phương này phải hối hận về lời nói và sai lầm của chúng”.

Tổng thống Trump cho biết giữa lúc Israel không kích Iran rằng ông biết Khamenei đang ẩn náu ở đâu và rằng nhà lãnh đạo Iran là “mục tiêu dễ dàng”, nhưng cũng an toàn “vào lúc này”. Trong cuộc xung đột kéo dài 12 ngày giữa Israel và Iran, Bộ trưởng Quốc phòng Israel Israel Katz đã đe dọa sẽ giết Khamenei.

Shirazi cho biết bất kỳ ai đe dọa Lãnh tụ hoặc Marja đều bị coi là “Đối phương của Allah” và nhắc nhở người Hồi giáo và các quốc gia Hồi giáo rằng việc ủng hộ đối phương là “haram”, tức là một điều bị nghiêm cấm.

“Tất cả người Hồi giáo trên toàn thế giới cần phải khiến những đối phương này phải hối hận về lời nói và sai lầm của họ”, sắc lệnh này nêu rõ.

Isfahani phát biểu rằng fatwa đã được ký và đóng dấu để đáp lại một Estefta, tức là một câu hỏi chính thức và có ý nghĩa quan trọng vì nó trực tiếp nêu tên Tổng thống Trump.

Trước đó, vào hôm Thứ Sáu, Tổng thống Trump đã chỉ trích tuyên bố của Đại giáo chủ Ali Khamenei cho rằng Iran đã giành chiến thắng trong cuộc chiến kéo dài 12 ngày gần đây với Israel, đồng thời nói rằng Hoa Kỳ “chắc chắn” sẽ ném bom lại quốc gia này nếu họ theo đuổi vũ khí hạt nhân.

Tổng thống Hoa Kỳ đã tung ra một loạt những lời lăng mạ đối với nhà lãnh đạo tối cao của Iran, tuyên bố rằng ông đã cứu Khamenei khỏi “MỘT CÁI CHẾT RẤT XẤU XÍ VÀ ĐÁNG NHỤC” và cáo buộc ông ta đã nói dối “một cách trắng trợn và ngu ngốc” khi ông ta tuyên bố “chiến thắng” trong cuộc chiến vào ngày hôm trước.

Trong lần xuất hiện đầu tiên kể từ khi chiến tranh Israel-Iran kết thúc bằng lệnh ngừng bắn vào đầu tuần này, Khamenei cũng đã nói rằng Iran “đã tát vào mặt nước Mỹ” bằng cách phóng hỏa tiễn vào một căn cứ lớn của Hoa Kỳ ở Qatar sau các cuộc tấn công của Hoa Kỳ vào các địa điểm hạt nhân của Iran tại Fordow, Isfahan và Natanz.

Tổng thống Trump cho biết ông đã yêu cầu Israel rút lui khỏi “trận hạ gục cuối cùng”.

“Quốc gia của ông ta đã bị tàn phá, ba Cơ sở hạt nhân độc ác của ông ta đã bị XÓA BỎ, và tôi BIẾT CHÍNH XÁC nơi ông ta được che chở, và sẽ không để Israel hay Quân đội Hoa Kỳ, cho đến nay là Lực lượng vĩ đại và hùng mạnh nhất thế giới, chấm dứt mạng sống của ông ta,” ông nói.

Câu hỏi liệu các cuộc tấn công của Hoa Kỳ có phá hủy được năng lực hạt nhân của Iran hay không vẫn còn là một câu hỏi bỏ ngỏ – một báo cáo tình báo bị rò rỉ đã mâu thuẫn với lời kể của Tổng thống Trump về các sự kiện, cho rằng các cuộc tấn công của quân đội đã khiến đất nước này tụt hậu chỉ trong vài tháng.

Tổng thống Hoa Kỳ cho biết những bình luận của Khamenei, mà ông mô tả là “một tuyên bố của sự tức giận, căm ghét và ghê tởm”, đã khiến ông phải từ bỏ công việc về “khả năng gỡ bỏ các lệnh trừng phạt và những thứ khác, vốn sẽ mang lại cho Iran cơ hội tốt hơn nhiều để phục hồi hoàn toàn, nhanh chóng và trọn vẹn”.

[