Trang

Thứ Năm, 26 tháng 12, 2019

27-12-2019 : THỨ SÁU - NGÀY THỨ BA TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH - THÁNH GIOAN TÔNG ĐỒ, THÁNH SỬ - LỄ KÍNH


27/12/2019
 Thứ Sáu
 Ngày thứ ba trong tuần Bát Nhật Giáng Sinh
 Thánh Gio-an tông đồ, thánh sử.
Lễ kính.


BÀI ĐỌC I: 1 Ga 1, 1-4
“Chúng tôi loan truyền cho anh em điều chúng tôi đã nghe và đã thấy”.
Bắt đầu thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.
Các con thân mến, điều đã có từ thuở ban sơ, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã ngắm nhìn và tay chúng tôi đã sờ đến về Ngôi Lời hằng sống: là sự sống đã tỏ hiện, và chúng tôi đã từng thấy, chúng tôi làm chứng và chúng tôi loan truyền cho các con sự sống đời đời đã có nơi Chúa Cha và đã tỏ hiện cho chúng ta. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, thì chúng tôi loan truyền cho các con, để các con hiệp nhất với chúng tôi, và chúng ta hiệp nhất với Chúa Cha và với Chúa Giêsu Kitô, Con của Người. Chúng tôi viết các điều này để các con vui mừng và niềm vui của các con được trọn vẹn. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 96, 1-2. 5-6. 11-12
Đáp: Người hiền đức, hãy vui mừng trong Chúa (c. 12a).
1) Chúa hiển trị, địa cầu hãy hân hoan, hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui. Mây khói và sương mù bao toả chung quanh, công minh chính trực là nền kê ngai báu. – Đáp.
2) Núi non vỡ lở như mẩu sáp trước thiên nhan, trước thiên nhan Chúa tể toàn cõi đất. Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh hiển của Người. – Đáp.
3) Sáng sủa bừng lên cho người hiền đức, và niềm hoan hỉ cho kẻ lòng ngay. Người hiền đức, hãy vui mừng trong Chúa và hãy ca tụng thánh danh Người. – Đáp.

ALLELUIA:
Alleluia, alleluia! – Chúng con ca ngợi Chúa là Thiên Chúa; lạy Chúa, ca đoàn vinh quang của các tông đồ ca ngợi Chúa. – Alleluia. 

PHÚC ÂM: Ga 20, 2-8
“Môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ trước ông”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Ngày thứ nhất trong tuần, Maria Mađalêna chạy đến gặp Simon Phêrô và môn đệ kia mà Chúa Giêsu yêu, bà nói: “Người ta đã lấy xác Chúa khỏi mộ rồi, chúng tôi không biết họ để đâu”.
Bấy giờ Phêrô ra đi với môn đệ kia đến mộ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ trước ông. Cúi nhìn vào, người môn đệ đó thấy tấm khăn liệm xác hãy còn, nhưng không vào. Bấy giờ Simon Phêrô theo sau cũng đến, và đi vào trong mộ, thấy khăn liệm xác còn đó, và khăn che mặt để trên phía đầu Người, không để chung với khăn liệm xác, nhưng đã cuốn riêng để vào một chỗ.
Bấy giờ môn đệ đã đến trước cũng vào; ông đã thấy và đã tin. Đó là lời Chúa.


Suy Niệm : Lễ Kính Thánh Gioan Tông Ðồ
Thông thường người ta đi chứ không chạy, người ta chỉ chạy khi có một xúc động mạnh thúc đẩy. Có nhiền nguyên nhân gây nên xúc động: Có thể xúc động vì sợ hãi, kẻ thù đang đuổi bắt sau lưng thì chẳng ai mà lại không chạy, hay tai họa sắp giáng xuống thì không cần bảo người ta cũng tìm đường thoát thân. Xúc động còn do một sự lôi cuốn thôi thúc như đang rảo bước nhưng bất chợt có điều lạ xảy ra trước mặt thì các bước chân đều rầm rập chạy tới cho kịp để xem điều lạ ấy. Và xúc động hơn là khi nghe tin người thân yêu đang gặp tai nạn hay nguy hiểm, nếu ở xa thì bằng mọi giá phải quay về cho kịp thời, nếu ở gần thì tức tốc chạy đến nơi.
Trình thuật Tin Mừng hôm nay cũng nói về hai cuộc chạy đua của hai Tông Ðồ Gioan và Phêrô. Tại sao họ lại chạy mà không đi? Ðiều gì đã buộc họ chạy như thế? Các Tông Ðồ khi đến mồ thấy mất xác Chúa Giêsu, bà Maria Madalena đã chạy đi báo tin cho các môn đệ. Nhận được tin này, Phêrô và Gioan vội vã chạy đến mồ, cả hai đều chạy, nhưng Gioan chạy đến trước. Hẳn là vì sức thanh niên trai tráng mà Gioan có thể chạy nhanh hơn. Tuy nhiên, không đơn thuần như thế nhưng còn có một động lực khác buộc ông phải chạy nhanh, đó là vì lòng yêu mến. Ðể được nhìn thấy Thầy đã sống lại, tất cả các môn đệ đều nao nức bàng hoàng, nhưng sự bàng hoàng mang nhiều cường độ sắc thái khác nhau, và dù sao đi nữa người được gọi là môn đệ yêu dấu thì sự bàng hoàng phải lên đến tột độ. Sự bàng hoàng đã làm ông quên mất người bên cạnh, chỉ khi đến mồ ông mới sực nhớ ra và ông đã nhường bước cho Phêrô.
Chỉ một thoáng diễn tả của đoạn Tin Mừng trên, chúng ta cũng thấy được lòng mến của Thánh Gioan Tông Ðồ đối với Chúa Giêsu như thế nào. Tin Mừng không nói lý do tại sao có sự mến yêu đặc biệt này mà chỉ thuật lại diễn tiến.
Từ bước đầu, Gioan cũng được kêu gọi như bao nhiêu người khác, đang vá lưới cùng với anh và cha là Giêbêđê thì hai anh em được kêu gọi trở thành kẻ chài lưới người. Hai người đã từ giã cha mà đi theo Ngài. Ông cũng không phải là kẻ ôn nhu nhưng là kẻ nóng nảy và được biệt danh là con của "sấm sét" được gán cho hai anh em khi hai người xin lửa bởi trời thiêu đốt dân thành Samaria, vì họ không chịu tiếp đón Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã quở trách hai ông và có lẽ nhờ vào lời quở trách này mà Gioan biết nhìn vào Chúa Giêsu hơn, vì Ngài là Ðấng đến để cứu chữa chứ không phải để trừng phạt. Càng nhìn vào Chúa Giêsu, Gioan lại càng yêu mến Ngài hơn. Nhưng rồi sau khi đã thưa được trước chén đắng Ngài trao cho thì Gioan đã sẵn sàng cất bước theo Ngài trên con đường tử nạn. Dù rằng lúc này quanh ông chỉ còn đầy những khuôn mặt sát khí muốn giết chết cả Thầy lẫn trò, nhưng Gioan vẫn kiên trung theo Thầy dù các bạn đồng môn đã bỏ trốn và người anh cả Phêrô đã chối Thầy.
Nhờ lòng kiên trung này mà Gioan đã được thay mặt cho cả nhân loại và cho Chúa Giêsu. Thay mặt nhân loại khi ông được gọi là "con của Mẹ", và thay mặt cho Chúa Giêsu khi ông lãnh nhận trách nhiệm săn sóc cho Mẹ "Gioan đón nhận Bà về nhà mình". Và cứ thế mà tình yêu chuyển lướt vào nơi ông, làm cho ông chỉ có một lòng khăng khít sống mật thiết với Chúa, sẵn sàng bước theo Thầy mình đến cùng trong cuộc sống của mình.
Sau khi xác Chúa được táng trong mồ, lòng thánh nhân còn luôn hướng về đó. Vừa nghe tin xác Thầy bị mất, ông liền vội vã chạy đến mồ, ông đã thấy và ông đã tin. Trong lúc các môn đệ khác còn nghi ngờ vì tình yêu đã tạo một mối liên kết vô hình, không đòi hỏi nhiều diễn tả. Thoạt nghe tiếng Ngài gọi ở trên bờ hồ Tibéria, ông đã nhận ra Ngài. Tuy nhiên, Phêrô nhanh nhẹn nhận ra Thầy mình, và ông liền nhảy xuống biển nhưng Phêrô lại không nhạy cảm bằng Gioan.
Trong ngày mừng kính thánh Gioan Tông Ðồ hôm nay, ước mong rằng mỗi người trong chúng ta biết hun đúc tình yêu của mình đối với Chúa Giêsu, để rồi chúng ta cũng sẽ nhạy cảm trước những tiếng gọi của Ngài. Ðặc biệt trong mùa Giáng Sinh này, lúc Vua tình yêu đang giáng hạ trong máng cỏ nghèo hèn. Ước gì chúng ta sẽ nghe tiếng gọi của Ngài, và đến quì chầu bên máng cỏ để chiêm ngắm Vua Tình Yêu. Vì càng chiêm ngắm chúng ta sẽ càng yêu mến Ngài, càng học biết được sự hiền lành và khiêm nhượng của Ngài.
(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’ - Radio Veritas Asia)



Lời Chúa Mỗi Ngày
Ngày 27 tháng 12, Lễ Thánh Gioan Tông Đồ
Bài đọcI Jn 1:1-4; Jn 20:2-8.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thánh Gioan làm chứng cho Thiên Chúa.
Con người hành động là hành động cho một mục đích. Thánh Gioan tuyên bố rất rõ ràng mục đích tại sao ngài viết Sách Tin Mừng là để cho mọi người tin vào Đức Kitô; và vì tin, họ đạt được cuộc sống đời đời” (Jn 20:31). Mục đích này cũng là mục đích tại sao ngài làm chứng cho Đức Kitô trong Bài đọc I, để hiệp thông với con người và để con người được hiệp thông với Thiên Chúa. Trong Phúc Âm, khi nhìn thấy Ngôi Mộ Trống, người môn đệ Chúa Giêsu thương mến đã thú nhận: “Ông đã thấy và đã tin.”
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa.
1.1/ Đức Kitô hiện hữu “từ lúc khởi đầu:” Nếu chúng ta so sánh Sách Tin Mừng (Jn 1:1) với câu đầu tiên của Thư Gioan I, chúng ta sẽ nhận ra ngay ý của ngài khi nói về “lúc khởi đầu.”
Không phải chỉ bắt đầu với sự hiện diện của Đức Kitô trong thế gian, nhưng sự hiện hữu từ nguyên thủy của Ngài.
1.2/ Gioan làm chứng cho Đức Kitô: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống.” Thánh-sử Gioan dùng các động từ: nghe, thấy, chiêm ngưỡng, chạm tới, ở thời quá khứ kép để làm chứng cho Đức Kitô. Để lời chứng được hiệu nghiệm, người rao giảng cần có tất cả những kinh nghiệm này:
(1) Điều chúng tôi đã nghe: Các tín hữu mong muốn nơi người rao giảng không phải là sự khôn ngoan hay ý kiến cá nhân của người rao giảng, nhưng là Lời Chúa. Giống như các tiên-tri, người rao giảng phải là người đã lắng nghe Thiên Chúa nói trước, rồi sau đó chuyển thông lại cho dân chúng.
(2) Điều chúng tôi đã nhìn thấy: Có một tín hữu sau khi nghe giảng, đã nói với vị linh mục: “Cha giảng hôm nay như cha vừa nhìn thấy Chúa.” Dĩ nhiên, người rao giảng không được nhìn Đức Kitô tận mắt như Thánh Gioan, nhưng ông có thể nhìn thấy Ngài bằng cặp mắt đức tin.
(3) Điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng: Cái gì khác biệt giữa 2 động từ: nhìn thấy và chiêm ngưỡng Đức Kitô? Động từ “nhìn thấy” trong tiếng Hy-Lạp (horan) chỉ cái nhìn thể lý, nhìn thấy đối vật. Nhưng động từ “chiêm ngưỡng” trong tiếng Hy-Lạp (theasthai) đòi thời gian lâu hơn để nhận ra những gì chính yếu nơi đối vật. Khi nói về vinh quang của Thiên Chúa, Gioan cũng dùng động từ này: “Chúng tôi chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài” (Jn 1:14).
(4) Điều chúng tôi đã chạm tới: Nhiều người cho lý do tại sao Thánh-sử Gioan viết những lời này là để chống lại bè rối Docetism, những người cho Đức Kitô không thực sự mang thân xác của con người. Một lý do nữa, để lời rao giảng có hiệu quả, người rao giảng cần có kinh nghiệm sống thiết thực thì mới hiểu vấn đề, và dễ cảm thông với khán giả hơn.
1.3/ Mục đích của việc làm chứng: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn.”
(1) Để hiệp thông với nhau và với Thiên Chúa: Khi Thánh Gioan rao giảng Tin Mừng, bằng bài giảng hay bằng viết sách, ngài luôn có mục đích để hiệp thông với khán giả và đưa khán giả tới Thiên Chúa.
(2) Để niềm vui được trọn vẹn: Niềm vui là điều cốt tủy của Tin Mừng rao giảng. Nếu người rao giảng chỉ mang tin buồn và gây thất vọng trong khán giả, đó không phải là Tin Mừng của Đức Kitô. Dĩ nhiên, nhiều khi người rao giảng phải đánh thức lương tâm khán giả để thúc đẩy họ tới việc ăn năn hối cải; nhưng một khi họ đã thú nhận tội lỗi, họ phải cảm thấy niềm vui vì tội được tha và họ được giao hòa với Thiên Chúa.
2/ Phúc Âm: Ông đã thấy và đã tin.
Trình thuật hôm nay bắt đầu Tin Mừng Phục Sinh theo Thánh Gioan: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Magdala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào.” Có 2 câu hỏi quan trọng liên quan đến trình thuật này:
2.1/ Ai là người môn đệ Chúa Giêsu thương mến? Đọc Tin Mừng Gioan, độc giả sẽ thấy 6 lần tác giả dùng thành ngữ “người môn đệ yêu quí của Đức Giêsu” (Jn 13:23-26, 19:25-27, 20:2-10, 21:7, 21:2-23, 21:24). Ai là người môn đệ này? Có hai giả thuyết nêu ra:
(1) Chính là Gioan: Vì không muốn nêu tên mình hay vì khiêm nhường, tác giả dùng thành ngữ này để ám chỉ mình. Gioan là một trong ba người môn đệ gần gũi nhất với Chúa Giêsu, hai người kia là Phêrô và Giacôbê, anh ruột của ông. Đây là giả thuyết có nền tảng hơn cả.
(2) Có thể là bất cứ môn đệ nào được Chúa yêu: Có người cho đây là hình ảnh của một Kitô hữu hòan tòan: gần gũi với Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly và giờ chết của Ngài, và là người đầu tiên nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài sống lại.
2.2/ Tại sao người môn đệ này lại để cho Phêrô vào trước?
(1) Vì Phêrô là người lãnh đạo các Tông-đồ: Hành động của người môn đệ, tuy tới trước nhưng không vào, nói lên sự tôn trọng quyền bính của ông. Giả thuyết này không có cơ sở vững chắc lắm, vì trong Tin Mừng Gioan, không thấy nói tới quyền bính của Phêrô. Ngược lại, Phêrô đã nhiều lần không nhận ra Chúa Giêsu ngay, và cần được nhắc khéo bởi “người môn đệ yêu quí của Chúa Giêsu.”
(2) Vì tuyệt đỉnh của trình thuật là người môn đệ tin Đức Kitô đã sống lại: “Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.” Có người cho đây là kiểu viết văn của Gioan: vì muốn chấm dứt trình thuật bằng lời tự thú của người môn đệ, nên để cho Simon Phêrô vào trước. Hơn nữa, tác giả cũng muốn gởi tới độc giả một lời khuyên nhủ: người nào yêu mến Đức Kitô nhiều bao nhiêu dễ chạy nhanh hơn và nhận ra Ngài dễ hơn (Jn 21:7).
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
– Chúng ta có bổn phận làm chứng cho Đức Kitô qua việc rao giảng Tin Mừng và bằng cuộc sống chứng nhân.
– Mục đích của việc làm chứng là để cảm thông với con người và dẫn họ tới niềm tin vào Đức Kitô.
– Để lời rao giảng có hiệu quả, chúng ta cần có một niềm tin mạnh mẽ và vững vàng nơi Đức Kitô, qua việc lắng nghe, ngắm nhìn, chiêm ngưỡng, và cảm nghiệm Ngài trong cuộc sống.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP


27/12/2019 – THỨ SÁU, NGÀY III TRONG TUẦN BÁT NHẬT GS
Th. Gio-an, tông đồ
Ga 20,2-8


ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ TIN
“Kẻ đã tới mộ trước cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.” (Ga 20,8)

Suy niệm: Bằng một câu vắn gọn: “Ông đã thấy và đã tin,” thánh Gio-an tông đồ cho biết cảm tưởng và thái độ của mình khi đứng trước ngôi mộ, nơi đã an táng Đức Giê-su sau khi Ngài chịu khổ nạn. Điều ông “thấy” là tấm khăn liệm với những băng vải được xếp gọn gàng là cơ sở để ông xác quyết niềm tin vào điều ông “không thấy”, đó là Thầy Giê-su, “Người không có ở đây nữa” vì “Người đã trỗi dậy từ cõi chết.” Bí quyết nào, dấu hiệu nào khiến ông mau chóng tin nhận Đức Ki-tô đã phục sinh, một sự thật mà trải qua bao đời vẫn gây ra nhiều tranh cãi, hao tốn nhiều bút mực? Gio-an đón nhận tin mừng Chúa phục sinh không vì lý do cảm tính: không vì ông yêu Chúa nhiều nên cái nhìn bị thiên lệch. Nhưng chính nhờ lòng yêu mến đó, ông nhớ lại nhiều lần Chúa đã báo trước Ngài sẽ chịu chết và sau ba ngày sẽ trỗi dậy (x. Mt 12,40; 16,21; 27,63; Lc 9,22). Điều ông đã “thấy” và “không thấy” nơi ngôi mộ trống nhắc ông nhớ lại lời Thầy đã nói: “Hãy phá đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại,” và ông đã tin.
Mời Bạn: Đức tin không chỉ dựa vào những gì quan sát được bằng giác quan, mà còn nhờ sự phán đoán của lý trí và sự đón nhận của con tim. Nhưng nhất là nhờ ánh sáng lời Chúa soi dẫn và ơn trợ giúp của Ngài, chúng ta có được đức tin vững chắc và mạnh mẽ tuyên xưng niềm tin vào Ngài.
Sống Lời Chúa: Luôn dành thời gian đọc và suy niệm Lời Chúa hằng ngày để củng cố lòng tin, gia tăng lòng mến vào Chúa trong Chúa Ki-tô.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban cho con đức tin để con thắng vượt những nghi ngại không đáng có về Chúa.
(5 Phút Lời Chúa)


Suy Niệm : Ông đã thấy và đã tin

Suy niệm :
Niềm vui phục sinh khởi sự bằng thái độ hốt hoảng.
Tảng đá che cửa mộ đã bị ai đó lăn ra.
Xác của Thầy đặt bên trong đã biến mất.
Thật là chuyện kinh khủng đối với bà Maria Macđala!
Bà đã đi thăm mộ lúc trời còn tối.
Có lẽ cả đêm trước bà không chợp mắt được,
chỉ mong cho chóng sáng để lên đường.
Ai có thể hiểu được trái tim của bà?
Tình yêu đã khiến bà đứng dưới chân thập giá (Ga 19,25)
và tham dự cuộc mai táng Thầy Giêsu (Mt 27,61).
Bây giờ tình yêu ấy lại thúc đẩy bà ra mộ trước tiên,
trước cả người môn đệ được Ðức Giêsu thương mến...
Maria hốt hoảng chạy về báo tin cho hai môn đệ.
Bà nghĩ chắc có kẻ đã ăn cắp xác Thầy.
Vấn đề duy nhất làm bà âu lo khắc khoải,
đó là họ đang để Người ở đâu (Ga 20,2.13.15).
Bà cần biết chỗ đó, để lấy ngay xác về.
Maria chẳng nghĩ gì đến chuyện Chúa phục sinh,
bà chỉ mong tìm lại xác của Thầy đã chết.
Maria chạy về để kéo theo Phêrô và Gioan chạy đến mộ,
những bước chân hối hả vội vàng.
Chỉ có ngôi mộ trống và những băng vải đặt ở đó,
còn khăn che đầu thì được cuốn lại, xếp riêng.
Thấy mọi điều đó, Gioan tin rằng Thầy đã phục sinh.
Chẳng ai ăn cắp xác mà để lại gọn ghẽ khăn vải liệm.
Chúng ta cần có lòng mến thiết tha của bà Maria Macđala,
nhưng cũng cần có sự nhạy cảm để tin như Gioan.
Khi tin, người ta khám phá ra ý nghĩa của các biến cố:
ý nghĩa của cái chết bi đát trên núi sọ,
ý nghĩa của ngôi mộ trống và tấm khăn xếp gọn gàng.
Chúng ta cần có lòng tin
để khỏi rơi vào sự thất vọng hay hốt hoảng,
trước những thất bại, đổ vỡ mất mát trong cuộc đời.
Ðời chúng ta lắm khi giống ngôi mộ trống trải.
Những gì chúng ta yêu quý nay chẳng còn.
Chúng ta đôn đáo kiếm tìm điều đã mất,
trong nước mắt đau khổ như bà Maria (Ga 20,11)
Nhưng nếu xác Ðức Giêsu cứ nằm yên trong mồ,
để cho bà Maria đến thăm viếng,
thì làm gì có chuyện Chúa phục sinh?
Phiến đá cửa mộ không giữ được Ngài,
những băng vải không ngăn được Ngài ra đi.
Sự sống bật dậy từ tro tàn của cái chết.
Ánh sáng bừng lên từ bóng tối mịt mù.
Tình yêu thắng trận khi tưởng như bị hận thù nuốt chửng.
Niềm vui phục sinh là quà tặng bất ngờ cho Maria.
Bà sẽ chẳng bao giờ tìm thấy xác Thầy trong mộ đâu,
nhưng bà sẽ gặp chính Ðấng Phục Sinh ở ngoài mộ đá.

Cầu nguyện :
Lạy Chúa phục sinh,
vì Chúa đã phục sinh
nên con thấy mình chẳng còn gì phải sợ.
Vì Chúa đã phục sinh
nên con được tự do bay cao,
không bị nỗi sợ hãi của phận người chi phối,
sợ thất bại, sợ khổ đau,
sợ nhục nhã và cái chết lúc tuổi đời dang dở.
Vì Chúa đã phục sinh
nên con hiểu cái liều của người Kitô hữu
là cái liều chín chắn và có cơ sở.
Cái liều của những nữ tu phục vụ ở trại phong.
Cái liều của cha Kolbê chết thay cho người khác.
Cái liều của bậc cha ông đã hiến mình vì Đạo.
Sự phục sinh của Chúa là một lời mời gọi
mang một sức thu hút mãnh liệt
khiến con đổi cái nhìn về cuộc đời:
nhìn tất cả từ trên cao
để nhận ra giá trị thực sự của từng thụ tạo.
Sự phục sinh của Chúa
giúp con dám sống tận tình hơn
với Chúa và với mọi người.
Và con hiểu mình chẳng mất gì,
nhưng lại được tất cả. Amen.
Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
27 THÁNG MƯỜI HAI
Chúng Ta Phải Học Lấy Tấm Lòng Của Chúa Hài Nhi
Trẻ em nắm bắt mầu nhiệm Giáng Sinh khá dễ dàng, dù mầu nhiệm này sâu xa đến nỗi một người lớn cũng sẽ chẳng bao giờ thấu triệt được nó. Để hiểu mầu nhiệm Giáng Sinh, về một số phương diện nào đó, chúng ta phải là trẻ em mãi mãi. Chúng ta phải nên giống như trẻ em bé bỏng – như lời Chúa Giêsu – thì mới có thể vào được Nước Trời (cf. Mt 10,15). Chúng ta phải có tấm lòng của trẻ em – để có thể hiểu được mầu nhiệm Giáng Sinh.
Vì Giáng Sinh tiên vàn là ngày lễ của tấm lòng. Nó nói cho chúng ta về tấm lòng của Thiên Chúa trong việc trao ban Đức Kitô cho chúng ta. Thật vậy, Đức Kitô đã trở thành một em bé để dạy cho chúng ta về tấm lòng.
Tấm lòng này bao gồm tình yêu và niềm vâng phục của chúng ta trong tư cách là con cái Thiên Chúa. Nó có nghĩa là yêu mến Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, yêu mến mọi người, và tuân phục các điều răn của Thiên Chúa.
– suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II –
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II


Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 27/12
Thánh Gioan Tông Đồ
Tác Giả Sách Tin Mừng
1Ga 1, 1-4; Ga 20, 2-8.

LỜI SUY NIỆM: “Ông đã thấy và đã tin.”
          Thánh Gioan Tông Đồ, là một con người đã theo, đã sống, đã đụng chạm trực tiếp Chúa Giêsu, và được gọi là người môn đệ Chúa yêu, để hiểu rõ điều: “Ông đã thấy và đã tin” Chúng ta cần chiêm niệm điều Gioan viết: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến; đó là lời sự sống…” (1Ga 1,1).
          Lạy Chúa Giêsu. Xin cho tất cả chúng con cùng hiệp thông với nhau trong cùng một đức tin.
Mạnh Phương


Gương Thánh Nhân
Ngày 27-12: Thánh GIOAN TÔNG ĐỒ
THÁNH SỬ ( ? -100)

Gioan là tông đồ yêu dấu, tông đồ tình yêu mà trong bữa tiệc ly đã dựa đầu vào lòng Chúa Giêsu. Mọi điều Ngài viết là tình yêu. Nhưng Ngài cũng là ngư phủ thô kệch hăng hái và bồng bột khi Chúa gọi làm môn đệ, đến nỗi Chúa Giêsu gọi là “con cái sấm sét” (Mc 3,7).
Gioan là ngư phủ ở Galilê, con của ông Giêbêđê và bà Salomê. Năm 20 tuổi, Ngài là môn đệ của thánh Gioan tẩy giả đang giảng dạy trong sa mạc. Ngài tìm kiếm sự hoàn thiện. Gioan tẩy giả đã thấy Chúa Thánh Thần xuống trên Chúa Kitô và loan báo cho mọi người rằng Người ở giữa họ, nhưng người ta không nhận biết Người. Ngày kia, Chúa Giêsu đi qua, Gioan tẩy giả chỉ cho Gioan và Anrê: “Đây là chiên Thiên Chúa”. Lập tức, hai ông đã theo Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu đã yêu thương Gioan cách đặc biệt vì sự trong trắng, nhiệt tâm và thành tín của Ngài. Ở trường học Thần Linh, Ngài tự biến đổi, thủ đắc tinh thần hiền hậu, học được đức ái chân thật và tiến tới tinh thần hy sinh. Gioan cùng với anh là Giacôbê, cũng như mỗi người đều tin rằng, Chúa Giêsu sắp tái lập vương quyền và họ xin Người cho họ được giữ những chỗ danh dự trong ngày vinh quang của thày. Nhưng Chúa Giêsu đã từng nói vương quốc của Ngài không thuộc thế gian này và đã trả lời bằng việc trao thánh giá cho họ: “Các con có thể uống chén Ta không ?” Đầy nhiệt tâm, họ trả lời: “Dạ được”. Như thế là họ biết rằng, việc chia sẻ vinh quang sẽ tiếp sau việc chia sẻ đau khổ.
Suốt ba năm sống công khai của Chúa Giêsu, Gioan không rời thày mình. Ngài có mặt khi thầy làm phép lạ và tâm sự với thày bằng những lời mang lại sự sống. Ngài đã thấy thầy chói sáng trên núi Tabor. Với kỷ niệm này, Gioan viết rằng: “Chúng tôi đã thấy vinh quang Con Một Thiên Chúa Cha: Chúa Giêsu đã chọn Ngài với Phêrô để dọn lễ Vượt qua, và trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã nói những lời mà Gioan không bao giờ quên được. Ngài sẽ ghi lại diễn từ ấy trong sách Phúc âm của mình.
Chỉ có một mình Gioan trong số 12 tông đồ trung thành theo Chúa Giêsu tới thánh giá. Ngài đứng cạnh Mẹ Maria. Chúa Giêsu đã nói với Mẹ Maria: “Này là con bà”, và với Gioan: “này là Mẹ con”. Và mọi người đã trở thành con mẹ trong con người của Gioan.
Sau phục sinh. Maria Madalêna không thấy xác thày và hớt hả đi báo tin. Tình yêu như chắp cánh thêm, Gioan đã chạy tới mồ trước, nhưng vì tôn trọng thủ lãnh các tông đồ, nên đã dừng lại trước khi cúi nhìn mộ (Ga 20,1-8)
Vì ngày sau, khi Gioan cùng với các môn đệ khác đi đánh cá, Chúa Giêsu hiện ra. Được tình yêu soi sáng, Gioan đã nhận ra thày và thốt lên: “Chúa đấy” (Ga 21,1-8)
Sau khi nhận lấy Chúa Thánh Thần trong dịp lễ Ngũ Tuần, Gioan ở lại Giêrusalem, người ta nghĩ rằng, Ngài sống với Đức Trinh nữ. Ngày kia, Ngài cùng với thánh Phêrô vào đền thờ cầu nguyện. Một người què xin bố thí, các tông đồ đã chữa lành anh ta (Cv 3,1-8). Các thủ lãnh bắt giam các Ngài, cấm không được rao truyền danh Chúa Giêsu, các tông đồ đã trả lời: “Chúng tôi phải vâng lời Thiên Chúa hơn là loài người ” (Cv 4,1-20). Một lần khác, Gioan bị bắt và bị đánh đòn, Ngài hãnh diện khi thấy mình được chịu đau khổ vì Chúa Kitô.
Gioan sống rất thọ và trải qua nhiều thử thách gian khổ. Những người chung quanh không biết Chúa Kitô bớt lần. Chắc hắn Ngài sống ở Antiokia rồi ở Ephêssô. Hoàng đế Domitianô đã truyền bách hại các Kitô hữu. Từ đây, tường thuật không có mấy giá trị lịch sử. Sử sách kể lại rằng, khi biết còn một môn đệ chót của Chúa Giêsu sống và giảng dạy ở Á Châu, ông truyền đem về Roma để kết án tử. Người ta đánh đòn Ngài rồi dẫn tới cửa La-tinh và dìm vào vạc dầu sôi. Thật lạ lùng, Ngài đi ra không hề hấn gì. Quan án xúc động không dám hành hạ Ngài nữa và truyền đày ải ở đảo Patnmô. Vị tông đồ rao giảng Tin Mừng và rửa tội cho dân trên đảo. Chính ở đây mà Ngài có được thị kiến và lãnh mệnh lệnh ghi lại trong sách “Khải huyền”. Những cao siêu mà vị tông đồ vươn tới, đã làm cho Ngài được ví như cánh chim phượng hoàng bay bổng trên trời cao. Dầu vậy, có thể sách Khải huyền đã cho một môn đệ của Gioan viết.
Khi hoàng đế bằng hà, những người bị lưu đày được gọi trở về, và Gioan trở lại Ephêsô. Một kỷ niệm cảm động liên quan tới những chuyến hành trình của Ngài. Trong một cuộc du hành, Ngài đã rửa tội cho một thiếu niên, rồi trao phó cho vị giám mục sở tại. Nhưng khi trở về, Ngài được vị giám mục buồn sầu cho biết rằng con trẻ này đã thành kẻ cướp. Lập tức, dầu già nua, Gioan đã và cỡi ngựa đi tìm đứa con.
Khi thấy Ngài, người đó chạy trốn. Vị tông đồ đuổi theo và khuyên nhủ: – “Con ơi, tại sao con chạy trốn cha già không có khí giới ? Còn hy vọng được cứu rỗi, cha sẽ vui lòng chết cho con như Chúa Giêsu sai cha đến với con”.
Tên cướp xúc động ngừng lại, bởi khí giới: chàng khóc trong tay cha già đang ôm chặt chàng vào lòng và dẫn chàng về với Giáo hội.
Gioan trở thành ánh sáng vùng Tiểu á, đến lúc đó Ngài vẫn lớn tiếng giảng dạy, nhưng những lạc thuyết đang lộ diện giữa Giáo hội sơ khai. Nhưng kiến sĩ giả hiệu làm biến tính Phúc âm của thánh Matthêu, chối Chúa Giêsu vừa là Chúa vừa là người. Để bác bỏ những sai lầm, vừa để bổ túc ba Phúc âm đã xuất hiện, Ngài viết cuốn thứ tư, trong đó, tình yêu Chúa Kitô đốt cháy lòng Ngài. Còn ba bức thư nữa thuộc về Ngài. Bức thư thứ I tóm tắt trọn mạc khải: “Thiên Chúa là tình yêu”. “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa đã có, bây giờ chúng ta biết Ngài là ai. Ngài là cha yêu thương ta hết lòng và đòi ta yêu nhau”. Và hướng ta về thực tại không thể kể ra được, Ngài nói: “các con thân yêu, ngay từ giờ này, chúng ta là con Thiên Chúa, nhưng ngày mai chúng ta như thế nào thì chưa tỏ lộ ra”.
Về già, không đi được nữa, Ngài được mang tới nhà thờ. Ngài thường lặp lại: “các con hãy yêu thương nhau”. Thấy Ngài nói mãi một điều, người ta kêu ca và Ngài trả lời: “Đó là lệnh truyền của Chúa, và như vậy là đủ”.
Thánh Gioan là bổn mạng các văn sĩ và mọi người cầm viết.
(daminhvn.net)


27 Tháng Mười Hai
Ngạc Nhiên
Tại miền Provence thuộc miền Nam nước Pháp, có một máng cỏ khá nổi tiếng. Ða số các nhân vật trong máng cỏ, du khách thường để ý đến một con người nhỏ bé với hai bàn tay mở ra trống trơn, nhưng gương mặt lại để lộ một vẻ ngạc nhiên khó tả. Chính vì thế mà người ta đặt tên cho nhân vật này là “ngạc nhiên”.
Người địa phương thường giải thích về sự ngạc nhiên trên gương mặt của nhân vật này bằng một câu chuyện như sau: Một hôm tất cả các nhân vật trong máng cỏ, kể cả mấy chú bò lừa, đều tỏ ra khó chịu đối với nhân vật có tên là “ngạc nhiên” này, bởi vì anh ta không có gì để mang tặng cho Chúa Hài Nhi, ngoài hai bàn tay trắng của anh. Họ sỉ vả anh như sau: “Mày không biết xấu hổ sao? Mày đến chầu Hài Nhi Giêsu mà không mang theo gì cả?”.
Nhưng con người có tên là “ngạc nhiên” ấy không để lộ một phản ứng nào, đôi mắt của anh vẫn mở to và chăm chú nhìn vào Hài Nhi Giêsu.
Những lời rủa sả cứ tiếp tục trút xuống trên anh, đến độ Ðức Maria phải lên tiếng để biện hộ cho anh như sau: “Quả thực anh “ngạc nhiên” đã đến với Hài Nhi Giêsu với hai bàn tay trắng. Nhưng anh đã mang đến món quà cao đẹp nhất: đó là sự ngạc nhiên của anh! Ðiều này có nghĩa là Tình Yêu bao la của Thiên Chúa đã chiếm trọn tâm tư của anh”.
Và Ðức Mẹ kết luận như sau: “Thế giới này sẽ kỳ diệu biết bao nếu luôn có những con người như anh “ngạc nhiên”, biết ngây ngất vì ngạc nhiên”.
Người ta thường nói: “ngạc nhiên” là khởi đầu của khám phá. Có biết ngạc nhiên, có biết đặt câu hỏi, người ta mới đặt ra giả thuyết rồi mới tìm tòi, khảo sát và khám phá… Sự tiến bộ của loài người bắt nguồn từ chính sự ngạc nhiên.
Trong lĩnh vực siêu nhiên cũng thế, Thiên Chúa đã ban cho con người khả năng biết ngạc nhiên, biết chiêm ngắm để khám phá ra Tình Yêu bao la của Ngài. Cả vũ trụ là một quyển sách luôn được mở ra để mời gọi con người tìm đọc được Lời Ngỏ yêu thương của Chúa. Lịch sử của nhân loại, cuộc đời của mỗi người cũng là một kỳ công, qua đó Thiên Chúa không ngừng bày tỏ Tình Yêu của Ngài.
Ðức Kitô Phục Sinh mang lại cho chúng ta sức sống mới với đôi mắt mới. Với đôi mắt mới ấy, chúng ta không ngừng được mời gọi để đi vào sự ngạc nhiên và ngây ngất trước Tình Yêu của Thiên Chúa. Tình Yêu ấy nhiệm màu đến nỗi chúng phải vượt qua nhãn giới bình thường của chúng ta để nhìn thấy được và cảm nếm được những gì không nằm trong sự đo lường, tính toán của chúng ta. Do đó, người có cái nhìn ngạc nhiên và ngây ngất luôn phó thác cho Tình Yêu của Chúa… Trong lúc thịnh vượng, họ thốt lên lời ca chúc tụng tri ân đã đành, mà đứng trước thất bại, khổ đau, mất mát, họ vẫn có thể nhìn ra dấu ấn Tình Yêu của Chúa.
(Lẽ Sống)

Lectio Divina: Thánh Gioan Tông Đồ, Phúc Âm Thánh Sử
Thứ sáu, 27 Tháng 12, 2019

Tuần Bát Nhật Giáng Sinh  
                            

1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, Chúa chính là tình yêu.
Chúng con biết rằng Chúa yêu thương chúng con trước,
trước cả khi chúng con có thể yêu thương Chúa.
Xin hãy để cho kinh nghiệm không thể quên này
của “người tông đồ Chúa yêu” Gioan
cũng trở thành kinh nghiệm sâu sắc và lâu dài của chúng con.
Nguyện xin cho tình yêu mà Chúa đã cho chúng con thấy
trong Con của Chúa, Đức Giêsu Kitô
khiến cho chúng con đáp trả lại tình yêu Chúa một cách thiết tha
và đổ tràn đầy trên tất cả những người chúng con gặp gỡ trong cuộc sống.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

2.  Phúc Âm – Gioan 20:2-8

Ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời con tối, bà Maria Mađalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ.  Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến.  Bà nói:  “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu.”
Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ.  Cả hai người cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ trước ông.  Cúi nhìn vào, người môn đệ đó thấy tấm khăn liệm xác hãy còn, nhưng không vào. 
Bấy giờ Simon Phêrô theo sau cũng đến nơi.  Ông vào thẳng trong mộ, thấy khăn liệm xác còn đó, và khăn che đầu Đức Giêsu.  Khăn này không để lẫn với khăn liệm xác, nhưng đã cuốn lại, xếp riêng ra một chỗ.
Bấy giờ người môn đệ kia, đã đến mộ trước, cũng đi vào; ông đã thấy và đã tin.

3.  Suy Niệm

-  Bài Tin Mừng hôm nay giới thiệu cho chúng ta một đoạn văn từ sách Tin Mừng Gioan nói về Người Môn Đệ Chúa Yêu.  Có lẽ, văn bản này đã được lựa chọn để đọc và suy niệm vào ngày hôm nay, lễ kính thánh Gioan Tông Đồ, Phúc Âm Thánh Sử, để xác định ngay rằng, tất cả chúng ta đều là người môn đệ Chúa yêu cùng với thánh Tông Đồ Gioan.  Nhưng điều lạ là trong sách Tin Mừng Gioan không có một đoạn văn nào nói rằng người môn đệ Chúa yêu là Gioan.  Nhưng sau đó, từ thời Giáo Hội sơ khai, nó đã luôn được khẳng định trong việc xác định cả hai người.  Đây là lý do tại sao mà trong khi nhấn mạnh vào sự tương đồng giữa hai người, chúng ta có rủi ro làm mất đi một khía cạnh rất quan trọng của sứ điệp Tin Mừng liên quan đến người môn đệ Chúa yêu.  
-  Trong Tin Mừng Gioan, người môn đệ Chúa yêu đại diện cho cộng đoàn mới được thành lập chung quanh Chúa Giêsu.  Chúng ta thấy Người Môn Đệ Chúa Yêu đứng dưới chân Thánh Giá, cùng với Đức Maria, mẹ Chúa Giêsu (Ga 19:26).  Đức Maria đại diện cho Dân Chúa của Cựu Ước.  Vào cuối thế kỷ thứ nhất, khi mà việc soạn thảo cuối cùng của Tin Mừng Gioan được biên soạn, đã có cuộc xung đột ngày càng gia tăng giữa Hội Đường Do Thái giáo và Giáo Hội.  Một số Kitô hữu đã muốn từ bỏ Cựu Ước và chỉ duy trì hay giữ lại phần Tân Ước.  Dưới chân Thánh Giá, Chúa Giêsu nói với Đức Maria:  “Thưa Bà, đây là con Bà!” và nói với Người Môn Đệ Yêu Dấu:  “Này anh, đây là mẹ của anh!”  Và cả hai phải đi cùng với nhau như mẹ và con.  Tách rời Cựu Ước ra khỏi Tân Ước, vào thời bấy giờ mà ngày nay chúng ta gọi là tách rời đức tin (Tân Ước) và sự sống (Cựu Ước).
-  Trong bài Tin Mừng hôm nay, ông Phêrô và Người Môn Đệ Chúa Yêu, được thông báo bởi lời chứng của bà Maria Mađalêna, cùng nhau chạy ra Mộ Thánh.  Người thanh niên thì chạy nhanh hơn người già và đến mộ trước.  Ông nhìn vào ngôi mộ, quan sát mọi việc, nhưng không bước vào.  Ông để cho ông Phêrô vào trước.  Điều này chỉ ra rằng cách mà Tin Mừng mô tả phản ứng của hai môn đệ trước những gì mà cả hai người cùng nhìn thấy:  “Ông vào thẳng trong mộ, thấy khăn liệm xác còn đó, và khăn che đầu Đức Giêsu.  Khăn này không để lẫn với khăn liệm xác, nhưng đã cuốn lại, xếp riêng ra một chỗ.  Bấy giờ người môn đệ kia, đã đến mộ trước, cũng đi vào; ông đã thấy và đã tin.”  Cả hai ông đều đã nhìn thấy cùng một sự việc, nhưng Tin Mừng lại chỉ nói về Người Môn Đệ Chúa Yêu rằng ông đã tin:  “Bấy giờ môn đệ đã đến trước cũng vào; ông đã thấy và đã tin.”  Tại sao vậy?  Chẳng lẽ ông Phêrô đã không tin?
-  Người Môn Đệ Chúa Yêu nhìn, thấy theo một cách khác, ông cảm nhận nhiều hơn những người khác.  Ông có một cái nhìn yêu thương cảm nhận được sự hiện diện mới lạ của Chúa Giêsu. Buổi sáng sau một đêm làm việc, tìm lưới cá và, rồi thì việc lưới được cá cách kỳ diệu, chính ông, người môn đệ Chúa yêu đã cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu và nói rằng:  “Chính Chúa đó!” (Ga 21:7).  Nhân dịp đó, ông Phêrô được thông báo bằng lời khẳng định của Người Môn Đệ Chúa Yêu, cũng nhận ra được và bắt đầu hiểu.  Phêrô học được từ Người Môn Đệ Chúa Yêu.  Sau đó, Chúa Giêsu hỏi ông ba lần:  “Phêrô, con có yêu mến Thầy không?” (Ga 21:15,16,17).  Cả ba lần Phêrô đều trả lời rằng:  “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy!”  Sau lần thứ ba, Chúa Giêsu giao phó đoàn chiên cho ông Phêrô chăm sóc, và trong giây phút đó, ông Phêrô cũng trở thành “Người Môn Đệ Chúa Yêu”.         

4.  Một vài câu hỏi gợi ý cho việc suy gẫm cá nhân

-  Tất cả chúng ta hôm nay, những người tin vào Chúa Giêsu, là Các Môn Đệ Chúa Yêu.  Tôi có cùng cái nhìn yêu thương để cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa và tin vào sự Phục Sinh của Người không? 
 Tách rời Cựu Ước ra khỏi Tân Ước thì cũng giống như tách rời Đức Tin và Sự Sống.  Tôi hành động và sống điều này như thế nào hôm nay?

5.  Lời nguyện kết

Núi tan chảy như sáp, khi diện kiến Thánh Nhan
vị Chúa Tể toàn cầu.
Trời xanh tuyên bố Người là Đấng chính trực,
hết mọi dân được thấy vinh quang Người.
(Tv 97:5-6)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét