Trang

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2019

30-12-2019 : THỨ HAI - NGÀY THỨ SÁU TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH


30/12/2019
 Thứ Hai
 Ngày thứ sáu trong tuần Bát Nhật Giáng Sinh. 

BÀI ĐỌC I: 1 Ga 2, 12-17
“Ai làm theo ý Thiên Chúa, thì tồn tại muôn đời”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.
Hỡi các con, ta viết cho các con, vì tội lỗi các con được tha vì danh Người.
Hỡi các phụ huynh, ta viết cho các con, vì các con đã nhận biết Đấng vẫn có từ ban đầu.
Hỡi các thiếu niên, ta viết cho các con, vì các con đã chiến thắng quỷ dữ.
Hỡi các trẻ nhỏ, ta viết cho các con, vì các con đã nhận biết Chúa Cha.
Hỡi các thanh niên, ta viết cho các con, vì các con dũng cảm, và lời Thiên Chúa vẫn ở trong các con, và các con đã chiến thắng quỷ dữ.
Các con đừng yêu mến thế gian và những điều thuộc về thế gian. Nếu ai yêu mến thế gian thì lòng mến của Chúa Cha không có trong kẻ ấy. Vì mọi sự ở trong thế gian là đam mê của xác thịt, đam mê của con mắt, và kiêu căng vì của cải, những điều đó không phải bởi Chúa Cha, nhưng bởi thế gian mà ra. Và thế gian qua đi với đam mê của nó. Còn ai thực hiện thánh ý Thiên Chúa, thì tồn tại muôn đời. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 95, 7-8a. 8b-9. 10
Đáp: Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan! (c. 11a).
Xướng: 1) Hãy kính tặng Thiên Chúa, hỡi người chư dân bá tánh, hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang; hãy kính tặng Thiên Chúa vinh quang xứng với danh Người. – Đáp.
2) Hãy mang lễ vật, tiến vào hành lang nhà Chúa, mặc lễ phục, thờ lạy Thiên Chúa. Toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước thiên nhan.
– Đáp.
3) Hãy công bố giữa chư dân rằng: Thiên Chúa ngự trị. Người dựng vững địa cầu cho nó khỏi lung lay, Người cai quản chư dân theo đường đoan chính. – Đáp.

ALLELUIA:
Alleluia, alleluia! – Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con. – Alleluia.

PHÚC ÂM: Lc 2, 36-40
“Bà đã nói về Người với tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. 
Khi ấy, có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm. Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.
Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người. Đó là lời Chúa.


Suy Niệm : Lời Tiên Báo Về Chúa Hài Nhi
Vào một mùa Giáng Sinh nọ, trước giờ đi lễ, vị chủ nông trại đang ngồi thưởng thức nhạc Giáng Sinh, bỗng đâu cả đàn ngỗng của ông tụ lại trước sân nháo nhác tìm chỗ trú. Chúng vừa đói, vừa lạnh, lông cánh rối bời. Tất cả người làm đều đã nghỉ cả, người chủ cũng đều sắp đóng cửa để về thành phố dự Thánh Lễ. Bởi vậy ông bèn ra lùa đàn ngỗng về chuồng, nhưng chúng không biết ông nên dù cho gào thét khàn cả tiếng, chạy ngược chạy xuôi, đã rời cả đôi chân mà ông vẫn không đem được một con nào về chuồng. Thấy vậy ông thầm ước với mình: "Ước gì tôi được làm ngỗng trong chốc lát, để tôi có thể dùng tiếng loài ngỗng mà nói cho chúng hiểu ước muốn của tôi và cho chúng biết đâu là chốn hiểm nguy, đâu là nơi an toàn". Bỗng chốc, ông đã thành một con ngỗng đứng giữa bầy như ước nguyện.
Có thể chúng ta sẽ là phi lý khi thấy người biến thành ngỗng. Thế nhưng, có một điều khác còn phi lý hơn nữa mà Giáo Hội đang mời gọi chúng ta chiêm ngắm, đó là hang đá Belem, nơi Thiên Chúa Vua Cả trời đất giành lấy thân phận làm người, sinh ra trong hang bò lừa máng cỏ. Ngài làm người để rồi Ngài sẽ dùng ngôn ngữ của loài người mà chỉ dạy cho con người lối về quê thật.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh sử Luca thuật lại cho chúng ta một trong những điều con người được nhận lãnh nhờ vào hành động phi lý ấy. Là Ngôi Hai Thiên Chúa thì Chúa Giêsu đâu cần phải được hiến dâng cho Thiên Chúa theo luật Môisê, thế nhưng ngài vẫn tuân giữ nghi lễ này, vì Ngài muốn giống con người trong hết mọi sự ngoại trừ tội lỗi. Ngài giống con người để con người không còn phải e ngại khi đến với Ngài cũng như hiểu được lời mời gọi của Ngài. Nếu trước đây, Ngài đã sinh ra trong chuồng bò là để cho mọi người có thể đến với Ngài, không phân biệt giàu sang hay nghèo khổ, có địa vị hay chỉ là dân đen. Các trẻ chăn chiên được mời gọi, ba nhà đạo sĩ Phương Ðông được chỉ lối, tất cả đến với Ngài và đã tìm được nguồn vui.
Hôm nay, Ngài vào Ðền Thánh bằng nghi lễ thanh tẩy và hiến dâng. Thật ra chỉ có con người tội lỗi mới cần thanh tẩy, chỉ có loài thụ tạo mới cần hiến dâng. Vậy mà Chúa Giêsu Ngài vẫn chấp nhận tất cả để nên như một cơ hội quí báu cho tiên tri Siméon và Anna gặp Ngài. Niềm vui bấy lâu mong đợi, giờ đây Siméon đã đạt được như ý nguyện, giờ đây ông có thể ra đi bình an không còn gì phải tiếc nuối.
Siméon và Anna là tiêu biểu cho nhóm những người nghèo của Giavê. Họ ăn chay cầu nguyện, sống nghèo khổ để canh thức trông chờ Ðấng Cứu Thế, dù cho cuộc sống có đầy dẫy những lạc thú thì vẫn không quyến dũ được họ cho bằng niềm vui cứu chuộc họ đang trông chờ.
Thời gian chờ đợi luôn là thời gian dài dẵng lê thê và nếu dành cả một đời để trông ngóng đợi chờ thì không khỏi bị coi là phi lý điên rồ. Chắc chắn Siméon và Anna cũng bị gán cho nhãn hiệu này. Tuy nhiên, Thiên Chúa lại cần đến sự phi lý điên rồ ấy, vì Ngài cũng đã từng hành động như vậy. Một Ðấng Tạo Hóa mà lại hóa thân làm một thụ tạo. Một người Chủ uy quyền mà lại nhận thân phận tôi tớ. Siméon và Anna đã chấp nhận con đường này và Thiên Chúa đã đáp lời họ.
Thế nhưng, khi hưởng niềm vui bất diệt ấy, họ lại chỉ không dành hết cho mình nhưng còn mau mắn chia sẻ với người khác. Bà Anna đã nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel, vì thế bà được coi là nữ tiên tri, dù rằng suốt cuộc sống bà cũng chẳng làm một điều gì như các tiên tri ở Israel.
Vị tiên tri là gì nếu không phải là kẻ truyền rao Thiên Chúa, truyền rao ơn cứu độ. Như vậy, chúng ta có thể gọi bà Anna là mẫu mực cho người tín hữu trong cuộc sống và hành động. Bà đã can đảm và chấp nhận một cuộc sống thiếu thốn trong chay tịnh và cầu nguyện, cũng như luôn hy vọng đợi chờ, dù cho sự việc chẳng biết bao giờ mới xảy ra và khi đã đón nhận hồng ân thì lại sẵn sàng truyền rao chia sẻ cho kẻ khác. Hồng ân bà nhận được hôm nay luôn là một chứng từ thôi thúc tín hữu thêm lòng cậy trông, vì Thiên Chúa sẽ không chê bỏ những ai đặt hết hy vọng vào Ngài.
Trong mùa Giáng Sinh, mùa kỷ niệm một biến cố phi lý mà con người không thể hiểu thấu. Ước mong rằng mỗi người trong chúng ta biết bắt chước như bà Anna là sẵn sàng đón nhận những đau khổ, những phi lý về ơn cứu độ và nhất là luôn nhớ sứ mệnh tiên tri đã được trao ban từ ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội, để rồi ta có thể bắt chước thánh Phaolô mà nói được như Ngài: "Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Ðức Kitô". Amen.
(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’ - Radio Veritas Asia)


Lời Chúa Mỗi Ngày
Ngày 30 tháng 12 BNGS
Bài đọcI Jn 2:12-17; Lk 2:36-40.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Chúng ta được trang bị đầy đủ để sống theo ý của Thiên Chúa.
Một lầm lẫn lớn nhất của con người là tội chạy theo các lòai thụ tạo Thiên Chúa dựng nên thay vì chạy theo Chúa, Người dựng lên chúng. Nếu con người chịu khó suy nghĩ, họ có thể nhận ra sự phi lý của lối sống này: Làm sao những thụ tạo có thể so sánh với Đấng đã tạo dựng nên mọi sự cho con người hưởng dùng? Mục đích Thiên Chúa tạo dựng lên chúng không phải để cho con người thờ phượng chúng, nhưng để con người biết dùng chúng như phương tiện để sinh sống trong những ngày còn sống trên dương gian mà thôi. Nhiều người tức cười khi thấy có người quỳ lạy con bò; nhưng chính họ nhiều khi đang tôn thờ “bò vàng” mà họ không hay biết!
Các Bài đọc hôm nay xoay quanh việc con người phải hết lòng từ bỏ lối sống theo kiểu thế gian, và tập sống theo ý của Thiên Chúa. Trong Bài đọc I, Thánh Gioan xác quyết Thiên Chúa đã trang bị cho con người đầy đủ những khí cụ cần thiết để có thể thắng vượt được những cám dỗ của thế gian và sống theo ý của Thiên Chúa. Gioan liệt kê một số các khí cụ như: sự chiến thắng của Đức Kitô, ơn tha tội, Lời Chúa. Trong Phúc Âm, Thánh Luca cho chúng ta tấm gương của một nữ ngôn sứ biết sống theo ý Thiên Chúa: Bà Anna, con ông Penuel, thuộc chi tộc Aser. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thiên Chúa trang bị mọi sự cho con người.
1.1/ Những hồng ân con người đã lãnh nhận từ Đức Kitô: Thánh Gioan liệt kê 3 điều chính:
(1) Ơn tha tội nhờ Danh Đức Kitô: Nhờ cái chết của Đức Kitô, Ngài đã xóa đi tội Tổ Tông và mọi tội con người đã, đang, và sẽ phạm. Không những thế, Ngài còn thiết lập Bí-tích Hòa Giải và ban quyền tha tội cho các Tông-đồ và những người kế vị các Ngài. Điều Ngài đòi hỏi nơi các tín hữu là năng xét mình và chạy đến với Bí-tích Hòa Giải để được tha tội.
(2) Biết Đức Kitô, Đấng vẫn có từ lúc khởi đầu: Nhờ sự mặc khải của Kinh Thánh và của Đức Kitô, con người biết Ba Ngôi Thiên Chúa và tất cả các việc Thiên Chúa làm, nhất là Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa cho con người. Một đời sống cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa, và kết hợp mật thiết với Thiên Chúa sẽ làm cho con người càng ngày càng hiểu biết Thiên Chúa hơn.
(3) Đã thắng ác thần: nhờ chiến thắng của Đức Kitô và nhờ Lời Thiên Chúa ở lại trong anh em. Vì Đức Kitô đã chiến thắng mọi quyền lực của ác thần (Satan) và của thế gian (giới cai trị), con người được giải thóat khỏi mọi quyền lực này.
1.2/ Lối sống theo thế gian và lối sống theo ý Thiên Chúa:
(1) Lối sống theo thế gian: Trước tiên, Thánh Gioan không có ý khinh thường thế gian vì tất cả những gì Thiên Chúa dựng nên đều tốt. Hơn nữa, Thánh Gioan còn nói: “Thiên Chúa đã quá yêu thế gian đến nỗi đã hy sinh Người Con Một của mình” (Jn 3:16). Điều ngài muốn nhấn mạnh ở đây là các khuynh hướng xấu của thế gian đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa.
– Những dục vọng của tính xác thịt: không chỉ giới hạn trong những ham muốn về tình dục, mà còn cả những ham muốn khác nữa như: danh vọng, quyền hành, của cải, và các thú vui làm con người không còn thời giờ cho Chúa, và ngăn cản con người trên đường về với Chúa.
– Những ham muốn của đôi mắt: Con mắt là cửa sổ của linh hồn, vì qua đó các hình ảnh được thâu nhận vào trí óc. Khi có dịp thuận tiện, các hình ảnh này sẽ thao túng linh hồn và làm cho con người phải khốn đốn. Hai điều răn thứ chín và thứ mười là tội liên quan đến con mắt, vì từ chỗ nhìn ngắm sẽ đưa tới chỗ tham muốn. Để tránh những tội này, điều con người có thể tránh là “ăn chay” con mắt. Với phương diện truyền thông liên mạng hiện nay, việc ăn chay con mắt càng cần hơn bao giờ hết.
– Thói ba hoa chích chòe, hay tiếng thời đại quen dùng “nổ”: Bản dịch của Nhóm PVCGK không sát nghĩa khi dịch: “thói cậy mình có của,” vì tiếng Hy-Lạp dùng từ avlazonei,a, có nghĩa ám chỉ không những cậy mình mà còn cậy vào cái mình không có. Câu truyện sau đây dẫn chứng sự hợm hĩnh của lọai người này: Có một bà mới khai trương cửa hiệu của mình. Khi Bà thấy một người kéo cửa vào tiệm, Bà vội bốc điện thọai lên và khoe tiệm ầm ĩ, với mục đích để cho người mới vào biết tiệm Bà tuy mới mở nhưng đông khách là chừng nào. Sau một hồi khoe khoang khóac lác, Bà bỏ điện thọai xuống và hỏi khách hàng cần gì; người ấy thưa ông là nhân viên của hãng điện thọai xuống để nối đường giây điện thọai cho Bà. Lúc ấy, mặt Bà đỏ ửng lên vì biết người đối diện đã biết “tẩy”của Bà.
(2) Lối sống theo ý Thiên Chúa: là ngược lại hòan tòan với lối sống theo thế gian vì “tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; mà thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi.” Thánh Gioan khuyên: “Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha.”
2/ Phúc Âm: Mẫu gương của những người biết sống và làm theo ý Thiên Chúa.
2.1/ Cuộc đời của Bà Ngôn-sứ Anna: Bà con ông Penuel, thuộc chi tộc Aser. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. Một cuộc sống quanh quẩn nơi Đền Thờ như thế đã giúp Bà nhận ra những gì là chính yếu hay phụ thuộc trong cuộc đời. Khi được Thánh Thần thúc đẩy cho nhận ra Đấng Cứu Thế, Bà tiến lại gần bên Gia Đình Thánh, Bà cảm tạ Thiên Chúa và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Jerusalem.
2.3/ Gia đình Thánh trở về Nazareth: “Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Nazareth, miền Galilee. Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.” Thánh Giuse trở về với công việc của người thợ mộc để kiếm tiền nuôi sống gia đình, chứ không xin Thiên Chúa làm phép lạ để có tiền cho Chúa Giêsu ăn học. Mẹ Maria trở về với công việc nội trợ để chăm sóc cho Thánh Giuse và Chúa Giêsu trong suốt 30 năm Ngài sống trên dương thế. Riêng Chúa Giêsu, tuy là Thiên Chúa, Ngài đã ẩn mình trong 30 năm bên Thánh Giuse và Đức Mẹ: vâng lời và giúp đỡ các Ngài, và chuẩn bị trước khi bắt đầu sứ vụ công khai rao giảng. Cả ba thành phần của Gia Đình Thánh đều sống âm thầm thực hiện ý Thiên Chúa.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
– Chúng ta phải luôn thờ phượng một mình Thiên Chúa, và đừng bao giờ để những cám dỗ của thế gian lôi kéo chúng ta xa Ngài.
– Một cách để chúng ta nhận ra nếu chúng ta đã làm điều này chưa là năng kiểm điểm cuộc sống, nhất là thời giờ và những nỗ lực chúng ta dành cho Thiên Chúa. Nếu chúng ta bận rộn làm ăn đến nỗi chúng ta không còn thời giờ để cầu nguyện, tham dự Thánh-lễ, và tham gia các họat động mở mang Nước Chúa; chúng ta đang chạy theo các thần không phải là Thiên Chúa.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP

30/12/2019 – THỨ HAI – NGÀY VI TRONG TUẦN BÁT NHẬT GS
Lc 2,36-40


NỮ NGÔN SỨ AN-NA
Nữ ngôn sứ tên là An-na… Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. (Lc 2,36-40)

Suy niệm: Chúng ta không biết gì về người nữ ngôn sứ này ngoại trừ những nét phác hoạ ít oi nhưng thật tài tình của thánh Lu-ca khi tường thuật việc dâng Chúa vào đền thánh. Và chỉ bấy nhiêu cũng đủ cho chúng ta thấy chứng tá sống động của bà An-na:
– một goá phụ, cuộc sống buồn nhiều hơn vui; nhưng cuộc sống nhiều khổ đau và gánh nặng tuổi già không làm mòn mỏi đi lòng trung tín với Thiên Chúa và niềm mong đợi ơn cứu chuộc của Ít-ra-en.
– lòng trung tín và trông cậy của bà được thể hiện qua một cuộc sống thật mẫu mực: vừa trung thành phục vụ tại đền thờ, vừa biết chìm sâu trong đời sống cầu nguyện kết hiệp với Thiên Chúa.
– bà thi hành sứ mạng tông đồ bằng cách “loan báo về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem”.
Mời Bạn: Bà An-na không ngừng cầu nguyện và phục vụ tại đền thờ suốt cả tuổi thanh xuân để chỉ làm ngôn sứ khi đã tám mươi tư tuổi. Mời bạn tiếp tục suy gẫm về lời chứng của bà An-na để học tập theo bà.
Chia sẻ: Cuộc sống của người ngôn sứ bao gồm trong hai nét chính: – kết hiệp mật thiết với Đức Ki-tô; – thực thi sứ mạng tông đồ Người giao phó. Bạn thể hiện hai nét đó trong cộng đoàn bạn đang sống thế nào?
Sống Lời Chúa: Viếng hang đá tại nhà thờ giáo xứ và cầu nguyện cho việc rao giảng Tin Mừng.
Cầu nguyện: Dâng một lời cầu nguyện tự phát lên Chúa Hài Nhi.
(5 Phút Lời Chúa)


Suy Niệm : Ngày càng lớn lên

Suy niệm :
Khi viết sách Tin Mừng, thánh Luca thích nêu bật vai trò của phụ nữ,
vì trong xã hội Ítraen thời xưa, việc lãnh đạo chủ yếu do đàn ông.
Luca hay đặt sóng đôi những câu chuyện về các nhân vật nam và nữ.
Sau trình thuật sứ thần Gabrien truyền tin cho ông Dacaria,
thì đến trình thuật sứ thần truyền tin cho Đức Mẹ.
Sau sự xuất hiện của ông già Simêon nói tiên tri về Hài Nhi,
thì bà Anna cũng được giới thiệu minh nhiên như một nữ ngôn sứ.
Làm ngôn sứ đâu phải là đặc quyền dành cho phái nam!
Khuôn mặt của Simêon và Anna có những nét giống nhau.
Cả hai đều là những người tuổi cao và đạo hạnh.
Đời sống của họ gắn bó với Đền thờ.
Riêng cuộc đời của cụ bà Anna thì thật đáng phục.
Cụ xuất giá được bảy năm thì ở góa, nay cụ đã tám mươi tư.
Giả như cụ lấy chồng vào năm mười lăm tuổi,
thì hẳn cụ đã sống trong cảnh góa bụa hơn sáu mươi năm.
Một thời gian dài không có chỗ dựa vững chắc của người chồng.
Nhưng cụ Anna lại tìm thấy một chỗ dựa khác, vững hơn.
Đó là Thiên Chúa mà cụ đêm ngày thờ phượng (c. 37).
Đó là Đền thờ mà cụ coi như nhà của mình.
Đời sống của một góa phụ trẻ, lúc mới ngoài hai mươi, thật không dễ.
Ăn chay cầu nguyện là cách để cụ làm chủ bản thân và thắng cám dỗ.
Simêon và Anna đều là những người cao tuổi đã và đang chờ.
Họ sống để chờ những lời Chúa hứa được thành tựu,
sống để chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem (c. 38).
Anna có biết hôm nay nỗi đợi chờ của cụ được đáp ứng không?
Với trực giác của một ngôn sứ, cụ nhận ra ngay vị Cứu tinh bé nhỏ
đang được bồng ẵm trên tay của đôi vợ chồng nghèo.
Như xuất thần, cụ nói về Hài Nhi cho những người chung quanh.
Không phải chờ nữa, vì ơn cứu chuộc mong mỏi từ lâu nay đã đến.
Thiên Chúa đã giữ trọn lời hứa của Ngài.
Chúng ta đang mừng Lễ Giáng sinh, mừng Con Thiên Chúa làm người.
Chúng ta có ít thời gian để suy niệm về thời gian của Ngài ở Nadarét.
Hơn ba mươi năm để Hài Nhi từ từ lớn lên, trở nên người trưởng thành.
Làm người là chấp nhận lớn lên mỗi ngày một chút về mọi mặt.
Thân xác của cậu Giêsu trở nên mạnh mẽ, trí tuệ cậu đầy khôn ngoan,
và về mặt tâm linh, ân lộc của Thiên Chúa ở trên cậu (c. 40).
Hài Nhi Giêsu đã lớn lên một cách quân bình
để thành Thầy Giêsu đi rao giảng vào lúc ngoài ba mươi.
Con Thiên Chúa cũng phải chăm chỉ học làm người,
qua tha nhân và kinh nghiệm, qua lao động và thách đố trong cuộc sống.
Ngài chia sẻ phận người long đong của chúng ta,
nên Ngài hiểu gánh nặng của phận người.
Xin được học nơi Nadarét về chia sẻ và phục vụ, về tha thứ và yêu thương.
Xin được trở nên người có khả năng dám sống và chết cho người khác.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa,
xin cho con luôn vui tươi.
dù có phải lo âu và thống khổ,
xin cho con đừng bao giờ khép lại với chính mình;
nhưng biết nghĩ đến những người quanh con,
những người – cũng như con –
đang cần một người bạn.
Nếu như con nên yếu đuối,
thì xin cho con biết yêu thương và sáng suốt hơn,
thông cảm và nhân từ hơn.
Nếu bàn tay con run rẩy,
thì xin giúp con luôn biết mở ra và cho đi.
Khi lâm tử,
xin cho con biết đón nhận khổ đau và bệnh tật
như một lời kinh.
Ước chi con sẽ chết trong khiêm hạ và tín thác,
như một lời xin vâng cuối cùng.
Và con về nhà Chúa,
để dự tiệc yêu thương muôn đời. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
30 THÁNG MƯỜI HAI
Từ Trong Đêm Tối Vụt Lên Một Ánh Sáng Huy Hoàng
Đêm Bê-lem xem có vẻ giống như muôn ngàn đêm khác, cũng theo nhịp vận hành bất biến của hành tinh này: hết ngày lại đêm!
Nhưng đó là một đêm đặc biệt, vì trong một góc nhỏ của địa cầu, chính xác là trong vùng phụ cận của Bê-lem, phía nam Giê-ru-sa-lem, bóng tối của màn đêm đã được biến đổi thành ánh sáng.
Aùnh sáng này soi chiếu đêm tối với một mầu nhiệm vĩ đại khôn tả. Trong vẻ huy hoàng của nó, ánh sáng này bao trùm một số người chăn chiên đang có mặt tại vùng phụ cận ấy để “canh giữ súc vật ban đêm”. Và ánh sáng này đã khiến họ “vô cùng sợ hãi”.
Từ giữa ánh sáng rực rỡ ấy vang vọng tiếng nói của thiên thần: “Anh em đừng sợ, tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại … Hôm nay, trong thành của Vua Đa-vít, Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em” (Lc 2,10-11).
Đứa con của lời hứa đã được sinh ra.
Aùnh sáng huy hoàng kia và tiếng nói của thiên thần đã chỉ rõ nơi chốn và ý nghĩa cuộc chào đời của Người. Người đã thực sự được sinh ra. Người đã được sinh ra trong một chuồng súc vật, vì chẳng có nhà ai còn chỗ cho Người. Người đã được sinh ra vào lúc đang diễn ra cuộc tổng kiểm tra dân số ở It-ra-en – khi Xêdarê Augustô cai trị đế quốc Rôma và Quirinô làm tổng trấn Xyria. Người thuộc dòngdõi Đa-vít, vì thế Người sinh ở Bê-lem, “thành của Vua Đa-vít”. Người được sinh bởi Ma-ri-a, một trinh nữ. Cô là vợ của Giuse, người thuộc dòng Đa-vít; và cả hai từ Na-da-rét đi về đây để khai sổ.
Và, từ giữa ánh sáng kỳ diệu bao phủ những người chăn chiên đã vang lên tiếng nói: “Anh em sẽ gặp thấy một đứa trẻ vấn tã, được đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12).
– suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II –
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II


Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 30/12
1Ga 2 12-17; Lc 2, 36-40.

LỜI SUY NIỆM: “Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền thì trở về nơi cư ngụ là thành Nadarét miền Galilê. Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh đầy khôn ngoan và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.”
        Mỗi con người đều được chính Thiên Chúa sinh ra và thuộc về Ngài, được Ngài đặt để vào một nơi chốn trên trần gian này, trở nên công cụ của Ngài, nên phải hướng về Ngài, để được ân nghĩa với Ngài.
        Lạy Chúa Giêsu, chính Chúa đã mạc khải cho chúng con biết được Thiên Chúa là Cha của chúng con. Xin cho chúng con luôn sống với niềm tin này, để ngày càng được trưởng thành trong đức tin và ân nghĩa cùng Thiên Chúa.
Mạnh Phương

30 Tháng Mười Hai
Sự Chọn Lựa Của Chúa
Vào dạo tháng 12 năm 1987, Ðức Hồng Y Jean Marie Lustiger, đương kiêm Tổng Giám Mục Paris, Pháp Quốc, đã cho xuất bản một quyển sách mang tựa đề ” Sự chọn lựa của Thiên Chúa”. Qua tựa đề này, ai cũng đoán được đây là một quyển tự thuật ghi lại cuộc hành trình Ðức Tin của ngài.
Sinh ra trong một gia đình Do Thái sùng đạo, ông ngoại là một thầy Rabbi uyên thâm, Jean Marie Lustiger đã tự ý trở lại với Ðức Tin Công Giáo vào năm 14 tuổi. Hành động này của Jean Marie dĩ nhiên đi ngược lại với xác tín của gia đình, nhất là mẹ cậu. Trước khi bị đưa lên xe chở đi qua trại tập trung Ðức Quốc Xã ở Auschwitz, bà còn nói với các con: “Các con hãy giữ mình, chớ theo đạo Công Giáo. Ðây là một cơn bệnh hiểm nghèo”.
Nhưng tiếng Chúa còn mạnh hơn sự cảnh cáo của người mẹ. Cũng giống như thi sĩ Paul Claudel khi ngắm nhìn ánh nến lung linh trên bàn thờ, bỗng nhận ra tiếng gọi của Chúa, Jean Marie Lustiger cũng đã nghe được tiếng gọi thầm kín ấy một ngày thứ năm tuần thánh nọ khi cậu bước vào nhà thờ chính tòa Orleáns. Dân chúng đứng chen chúc đông nghẹt trong nhà thờ. Nhưng ngày hôm sau, khi cậu trở lại, nhà thờ bỗng trống vắng… Nhưng chính trong nỗi trống vắng của ngày thứ sáu tuần thánh đó mà Jean Marie Lustiger đã nhận ra tiếng gọi của Chúa.
Qua quyển tự thuật trên đây, Ðức Hồng Y Jean Marie Lustiger tuyên xưng rằng: “ơn cứu rỗi và sự hiện diện thầm kín của Ðấng Cứu Thế trong nhân loại là một Mầu Nhiệm của lòng thương xót”. Thiên Chúa yêu thương con người một cách lạ lùng. Ngài mời gọi con người trên muôn vạn nẻo đường của con người. Do đó, theo Ðức Hồng Y Lustiger, Hy Vọng, chính là tin rằng Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người.
Tin Mừng được loan báo như một vết dầu loang. Chính nhờ trung gian của nhiều người khác nhau mà Thiên Chúa ngỏ lời với con người. Nói như thi sĩ Pau Claudel, Thiên Chúa viết bằng những đường cong.
Những đường cong mà Thiên Chúa không ngừng viết để ngỏ với chúng ta chính là cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Mỗi một biến cố xảy đến, mỗi một cuộc gặp gỡ là một lời ngỏ của Thiên Chúa. Chính qua trung gian của những biến cố đó mà Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta. Do đó, người Kitô sẽ không ngừng thức tỉnh để lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa. Trong giấc ngủ say như cậu bé Samuel, trong một buổi trống vắng của ngày thứ sáu tuần thánh như trường hợp của Jean Marie Lustiger, trong niềm vui của gặp gỡ, của thịnh đạt, trong đau khổ của bệnh tật, mất mát: tiếng nói của Thiên Chúa vẫn vang dội trong lòng người.
Chúng ta cũng biết rằng cuộc đời của mỗi người chúng ta là lịch sử của một ơn gọi. Mỗi người chúng ta không phải là một con số trong năm tỷ người đang sống trên mặt đất, nhưng là một lịch sử các biệt trong Tình Thương của Chúa. Tiếng Chúa gọi chỉ ngỏ với từng người mà thôi. Tên gọi của từng người chúng ta có một âm vang đặc biệt trong tiếng gọi của Chúa. Mỗi người chúng ta chỉ có thể nói: Thiên Chúa yêu thương tôi và chỉ mình tôi mà thôi… Trong muôn nghìn đau khổ của cuộc sống, mỗi người chúng ta hãy lập lại lời tuyên xưng của thánh Gioan tông đồ: “Thiên Chúa là Tình Yêu”, Ngài đang yêu thương tôi.
(Lẽ Sống)


Lectio Divina: Luca 2:36-40
Monday 30 December, 2019
Lectio Divina | Lectio Divina Năm A
Tuần Bát Nhật Giáng Sinh


1.  Lời nguyện mở đầu
Lạy Chúa Cha toàn năng,
Chúa đã để cho những người trung thành, khiêm nhu
Nhận ra Con Chúa
Và chào đón Ngài là Đấng Cứu Thế
Đấng đã đem lại tự do và sự sống cho dân của mình.
Nguyện xin cho chúng con cũng nhận ra và đón nhận Chúa Giêsu
Trong tất cả những người nhỏ bé và khiêm hạ
Và cùng với Người lớn lên trong sự khôn ngoan và ân sủng
Đến độ trưởng thành của con cái Chúa,
Để chúng con đạt được vóc dáng đầy đủ của Chúa Giêsu.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
 2.  Tin Mừng theo thánh Luca 2:36-40
Khi ấy, có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên.  Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm.  Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi.  Bà không rời khỏi Đền Thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa.  Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.
Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nagiarét.  Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.
3.  Suy Niệm
  Trong hai chương đầu tiên của sách Tin Mừng theo Luca, mọi việc xoay quanh việc chào đời của hai hài nhi:  ông Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu.  Hai chương này cho chúng ta cảm thấy hương thơm của sách Tin Mừng Luca.  Trong đó, môi trường là sự dịu dàng và lời ngợi khen.  Từ đầu chí cuối, lòng thương xót của Thiên Chúa đã được ca vang và ngợi khen:  Bài ca vịnh của Đức Maria (Lc 1:46-55), của ông Giacaria (Lc 1:68-79), của các Thiên Thần (Lc 2:14), của cụ ông Simêon (Lc 2:29-32).  Cuối cùng, Thiên Chúa đến để hoàn thành lời hứa của Người và Chúa hoàn thành chúng trong danh nghĩa của người nghèo khó, của người cùng khổ, của những ai biết cách kiên tâm và hy vọng cho việc Chúa sắp giáng lâm:  bà Êlisabéth, ông Giacaria, Đức Maria, thánh Giuse, cụ ông Simêon, bà tiên tri Anna, các mục đồng.
  Các chương 1 và 2 của sách Tin Mừng Luca thì rất nổi tiếng, nhưng không sâu sắc đủ.  Tác giả Luca viết dựa theo các tác phẩm của Cựu Ước.  Có vẻ dường như hai chương đầu tiên của sách Tin Mừng của ông là chương cuối của Cựu Ước dùng để mở ra cho sự xuất hiện của Tân Ước.  Hai chương này là nền tảng hay là cái bản lề nối giữa Tân Ước và Cựu Ước.  Thánh Luca muốn cho thấy rằng những lời tiên tri đang được thực hiện.  Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu hoàn thành Cựu Ước và bắt đầu Tân Ước.
  Lc 2:36-37:  Cuộc đời của bà Tiên Tri Anna.  “Có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên.  Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm.  Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi.  Bà không rời khỏi Đền Thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa.”  Giống như bà Giuđitha (Gđt 8:1-6), bà Anna cũng là một góa phụ.  Giống như bà Đêbôra (Tl 4:4), bà cũng là một nữ ngôn sứ.  Có nghĩa là, một người đi thông tri điều gì đó về Thiên Chúa và là người có cửa ngõ đặc biệt hướng về những việc của đức tin đến độ có thể thông tri những điều ấy cho người khác.  Bà Anna đã kết hôn khi còn thanh xuân, và đã sống với chồng được bảy năm, sau đó bà trở thành góa phụ và tiếp tục dâng mình cho Chúa cho đến nay đã tám mươi tư tuổi.  Ngày nay, trong hầu hết các cộng đoàn của chúng ta, trên toàn thế giới, chúng ta thấy các nhóm phụ nữ ở một lứa tuổi nào đó, nhiều người trong số họ là những góa phụ, những người mà cuộc sống của họ được dâng cho lời cầu nguyện và hiện diện trong các thánh lễ và trong sự phục vụ tha nhân.
–  Lc 2:38:  Bà Anna và Chúa Hài Đồng Giêsu.  “Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.”  Bà đã đi lên Đền Thờ vào lúc mà ông Simêon đang ẵm Chúa Hài Đồng trên tay và nói với Đức Maria về tương lai của con bà (Lc 2:25-35).  Thánh Luca cho thấy rằng bà Anna cũng dự phần vào trong cử chỉ này.  Sắc diện của bà Anna là của một người có đức tin.  Bà trông thấy một Trẻ Thơ ở trong tay của mẹ Ngài và khám phá ra trong Trẻ Thơ ấy là Đấng Cứu Độ thế gian.
  Lc 2:39-40:  Cuộc đời của Chúa Giêsu tại làng Nagiarét.  “Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nagiarét.  Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.”  Trong một vài chữ, tác giả Luca thông tri điều gì đó về Mầu Nhiệm Nhập Thể.  “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).  Con Thiên Chúa đã hạ mình bình đẳng với chúng ta trong mọi thứ và mặc lấy thân Nô Lệ (Pl 2:7).  Người đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập giá (Pl 2:8).  Người đã sống ba mươi ba năm giữa chúng ta, và trong những năm ấy, Người đã sống ba mươi năm tại làng Nagiarét.  Nếu chúng ta muốn biết cuộc sống của Con Thiên Chúa trong những năm Người sống tại làng Nagiarét như thế nào, chúng ta phải cố gắng tìm hiểu cuộc sống của người dân Nagiarét thông thường vào thời ấy, đổi tên anh ta, đặt cho anh ta tên là Giêsu và thì chúng ta sẽ biết được cuộc sống của Con Thiên Chúa trong ba mươi ba năm của Người, giống tất cả mọi thứ như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4:15).  Trong những năm tháng đời sống này của Người:  “Con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người”.  Trong một đoạn khác, thánh Luca khẳng định điều tương tự trong những chữ khác.  Ông viết rằng con trẻ “ngày càng thêm không ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2:52).  Để lớn lên trong sự khôn ngoan có nghĩa là hòa nhập các kiến thức, kinh nghiệm của loài người được tích lũy qua hằng thế kỷ:  thời gian, các ngày lễ hội, thuốc thang, cây cỏ, lời cầu nguyện, phong tục tập quán, v.v.  Điều này được học qua đời sống và việc sống chung với cộng đồng tự nhiên của loài người.  Lớn lên có nghĩa là, khi được sinh ra thì nhỏ bé, sau đó lớn lên và là người trưởng thành.  Đây là sự tiến triển của mỗi người, cùng với những niềm vui, nỗi buồn của mình, những khám phá và thất vọng của mình, cũng như với sự tức giận và tình yêu của mình.  Điều này được biết đến qua lối sống và việc sống chung trong gia đình, với cha mẹ, với anh chị em, với những người thân thuộc.  Lớn lên trong ân nghĩa có nghĩa là:  khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống, việc làm của Chúa trong mọi việc xảy ra, trong ơn gọi, lời kêu mời của Người.  Thư gửi tín hữu Do Thái viết rằng:  “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:8).
4.  Một vài câu hỏi cá nhân
*  Bạn có biết người nào giống như bà cụ Anna, người đã có một cái nhìn đức tin vào những việc trong cuộc sống không?
*  Để lớn lên trong sự khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng, điều này xảy ra trong đời sống của tôi như thế nào?
5.  Cầu nguyện
Hát lên mừng CHÚA, chúc tụng Thánh Danh!
Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ,
Kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển,
Cho mọi nước hay những kỳ công của Người.
(Tv 96:2-3)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét