Hai vị hồng y đáng đọc
Vũ Văn An4/23/2017
Trong thời
bị nhiều người coi là hỗn độn mơ hồ và gần như tự mâu thuẫn này, điều rất may
là chúng ta vẫn còn hai vị Hồng Y xuất sắc cầm đầu hai thánh bộ quan trọng. Đó
là Đức Hồng Y người Guinea, Robert Sarah, cầm đầu Thánh Bộ Thờ Phượng Thiên
Chúa và Kỷ Luật Bí Tích, và Đức Hồng Y người Đức, Gerhard Müller, cầm đầu Thánh
Bộ Giáo Lý Đức Tin. Cũng rất may là Nhà Xuất Bản Ignatius của Hoa Kỳ, gần đây,
liên tiếp cho xuất bản hai cuốn sách của hai vị Hồng Y này.
Đức Hồng Y
Sarah, sẽ 72 tuổi vào trung tuần tháng Sáu này, đã trở thành tiếng nói dẫn đầu
việc canh tân phụng vụ, một cuộc canh tân ngài hy vọng sẽ nhấn mạnh tới việc bị
làm quá, để ta có thể trở nên ý thức hơn và mở lòng ra đón nhận sự hiện diện của
Chúa. Một nhà báo Pháp, Nicolas Diat, đã cộng tác với Đức Hồng Y Sarah trong việc
lên khuôn cho bản văn của hai cuốn sách nhằm biểu lộ các tầm nhìn thấu suốt của
Đức Hồng Y về nhiều vấn đề chủ chốt trong đời sống thiêng liêng. Cuốn đầu tựa
là Thiên Chúa hay Hư Vô: Cuộc Đàm Đạo về Đức Tin (God or Nothing: A
Conversation on Faith), xuất bản vào Mùa Thu năm 2015. Cuốn thứ hai, vừa được
phát hành bằng tiếng Anh, tựa là The Power of Silence: Against the Dictatorship
of Noise (Sức Mạnh của Im Lặng: Chống Lại Nền Độc Tài của Ồn Ào).
Trong 5
chương sách, cuốn The Power of Silence suy niệm về sự im lặng của Thiên Chúa, một
sự im lặng nói với mỗi người chúng ta trong thẳm sâu linh hồn mình, và cũng về
sự im lặng mà chúng ta phải vun sới trong chính chúng ta ngõ hầu trở thành người
tiếp nhận. Cuốn sách kết cấu rộng rãi quanh sự tương phản giữa im lặng và thế
giới, mầu nhiệm im lặng trong điều thánh thiêng, và cả sự im lặng của Thiên
Chúa trước sự ác nữa. Điều quá thông thường là chúng ta hay để Thiên Chúa ở bên
ngoài để tự dìm mình vào sự ồn ào của thế giới. Điều có thể nguy hiểm ở đây là
việc phát triển một đời sống nội tâm đầy ơn thánh.
“Tương lai
của chúng ta ở trong tay Thiên Chúa chứ không ở trong cảnh giao động ồn ào của
các cuộc thương thảo của con người, cho dù các cuộc thương thảo này xem ra hữu
dụng đến đâu. Cả ngày nay nữa, các chiến lược mục vụ của ta mà không có đòi hỏi,
không kêu gọi hồi tâm, không triệt để quay về với Thiên Chúa, chỉ là những nẻo
đường không dẫn tới đâu. Chúng là các trò chơi chính xác về chính trị không thể
dẫn ta tới Thiên Chúa bị đóng đinh, Đấng Giải Phóng đích thực của chúng ta”
(#34).
Hay, như Đức
Hồng Y Sarah đã nhắc tới trong cuốn sách đầu tiên của ngài: “Con người phải chọn
lựa: Thiên Chúa hay hư vô, im lặng hay ồn ào” (#111).
Cuốn sách đầy
những viên ngọc qúy, không phải chỉ của Đức Hồng Y Sarah mà còn của Dom Dysmas
de Lassus, Bề Trên Cả Dòng Xitô, người tham gia cuộc thảo luận ở chương cuối,
và thỉnh thoảng của cả Nicolas Diat nữa; vai trò ông này phần lớn là đưa ra các
nhận xét và câu hỏi để hướng dẫn cuộc thảo luận. Xét về mặt chủ yếu, Đức Hồng Y
Sarah hiểu rằng “những người sống trong ồn ào giống như bụi bặm bị gió cuốn đi”
(#110), trong khi “im lặng chắc chắn dẫn tới Thiên Chúa, đem đến cho con người
những lúc dừng lại để nhìn vào chính mình” (#115).
Ngoài cuộc
sống hàng ngày của chúng ta ra, Đức Hồng Y áp dụng cái hiểu im lặng trên vào phụng
vụ, và thậm chí vào sứ mệnh của Giáo Hội như một toàn thể, nhất là chống lại
cơn cám dỗ hiện chúng ta đang đối diện nhằm giản lược mầu nhiệm Chúa Kitô vào
việc chỉ giải quyết các vấn đề xã hội. Ta hãy đọc:
“Trong một
thế giới duy tục, suy đồi, nếu Giáo Hội tự để mình bị quyến rũ bởi những mỹ
nhân ngư duy vật, ưa truyền thông và duy tương đối, thì Giáo Hội có nguy cơ biến
cái chết của Chúa Kitô trên Thập Giá để cứu chuộc các linh hồn trở thành vô
ích. Sứ mệnh của Giáo Hội không phải là giải quyết mọi vấn đề xã hội của thế giới;
Giáo Hội phải không mệt mỏi nhắc đi nhắc lại những lời đầu tiên của Chúa Giêsu ở
buổi đầu thừa tác vụ công khai của Người ở Galilê: ‘thời đã đến và Nước Thiên
Chúa đang gần kề; hãy ăn năn, và tin vào tin mừng’ (Mc 1:15)” [#305].
The Power
of Silence không chỉ có ý hướng tốt mà còn là một sách đọc thiêng liêng nữa.
Phúc Trình
Müller
Để nhắc nhớ
ấn phẩm nổi tiếng của mình trước đây tựa là Phúc Trình Ratzinger (The Ratzinger
Report), Nhà Xuất Bản Ignatius Press của Hoa Kỳ đặt tựa cho cuộc phỏng vấn vị cầm
đầu hiện nay của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin là The Cardinal Müller Report: An
Exclusive interview on the State of the Church (Phúc Trình Đức Hồng Y Müller:
Cuộc Phỏng Vấn Độc Quyền về Tình Trạng Giáo Hội), xuất bản đầu năm nay. Quả thực,
Đức Hồng Y Gerhard Müller, 69 tuổi, nhắc người ta nhớ tới Đức Hồng Y Ratzinger
(tức Đức Giáo Hoàng Hưu Trí Bênêđíctô XVI). Ngài đề cập tới các vấn đề phức tạp
với cùng một cách cũng uyên bác, đầy suy tư, có tính tâm linh sâu sắc và hoàn
toàn chính xác như vậy.
Không như
The Power of Silence, là cuốn trình bầy các suy niệm dài phân thành các đoạn có
đánh số, nhằm trả lời các câu hỏi khá khái quát, các câu hỏi do Cha Carlos
Granados nêu ra với Đức Hồng Müller thì nhiều hơn và nhận được các câu trả lời
ngắn hơn nhưng vẫn sắc sảo. Tuy nhiên, các câu hỏi chuyên biệt được tổ chức
thành các đầu đề bao quát. Chủ đề của mỗi chương là “chúng ta có thể hy vọng điều
gì”, từ Chúa Kitô, từ Giáo Hội, từ gia đình và từ xã hội. Kết luận trình bầy
các suy nghĩ của Đức Hồng Y Müller về “chìa khóa để hiểu lòng thương xót”.
Cha
Granados là Tổng Giám Đốc của Biblioteca de Autores Cristianos [Tủ Sách Các Tác
Giả Kitô Giáo] ở Madrid, có bằng tiến sĩ về Thánh Kinh. Vì Đức Hồng Y Müller rất
thông thạo tiếng Tây Ban Nha, nên việc hợp tác giữa hai vị tiến triển rất thuận
lợi. Đức Hồng Y Müller cũng cho thấy một sự quân bình về thần học rất hiếm
trong Giáo Hội ngày nay, không bao giờ ngài quá đơn giản hóa các chủ trương của
những người ngài bất đồng, và luôn có khả năng giải thích sự thật bằng những giải
đáp hữu hiệu cho các câu hỏi và các nghi vấn được thời nay nêu ra.
Chúng tôi
thiết tưởng nên chứng minh nhận định trên qua một số câu hỏi của Cha Granados
và các câu trả lời của Đức Hồng Y:
Hỏi: Đâu là
mối tương quan giữa tín lý và đời sống? Có hay chăng điều này: một tín lý mà lại
không liên hệ gì tới một cuộc gặp gỡ bản thân, tới một đời sống? Và, đàng khác,
có hay chăng điều này là một cuộc gặp gỡ bản thân hay một đời sống mà lại không
can dự hay không bao hàm một tín lý?
Đức Hồng Y
Müller: nhị phân này [giữa tín lý và cuộc sống Kitô hữu] vô giá trị, và nó tạo
ra nhiều mơ hồ. Tín lý Kitô Giáo không phải là một lý thuyết, một thứ hệ thống
nào đó do thuyết duy tâm hay cả ý thức hệ đưa ra… Qua điều này, tôi muốn nói rằng
không hề có yếu tố tín lý nào nằm ngoài cuộc gặp gỡ bản thân [với Chúa Kitô],
và ngược lại…
Ơn cứu chuộc
tùy thuộc tính chính thống, hiểu như quan niệm chính xác về sự sống đời đời:
tính chính thống không phải là một học thuyết về Thiên Chúa, mà là vấn đề liên
hệ có tính bản vị của Thiên Chúa với tôi. Vì lý do này, lạc giáo luôn ánh hưởng
tới mối tương quan bản thân này, vì nó tách biệt Thiên Chúa, Đấng là sự thật,
ra khỏi việc mạc khải cùng một sự thật ấy (các trang 97-98).
Hỏi: Há
chúng ta không có “quyền” được tôn trọng ý muốn và được hành động theo ý muốn
đó sao?
Đức Hồng Y
Müller: Các nhân quyền đặt căn bản trên bản tính nhân loại, chứ không đặt căn bản
trên ý muốn của các cá nhân. Chỉ nơi nào phẩm giá chân chính của con người nhân
bản được duy trì mới có các quyền lợi và nghĩa vụ, vì đây là cách duy nhất để
phẩm giá này thể hiện tính viên mãn của nó. Đây không phải là vấn đề bác bỏ các
ý muốn, vì các ý muốn là điều chủ yếu đối với kinh nghiệm của ta rằng ta có nhu
cầu bẩm sinh đối với thể vô cùng; đúng hơn, đây là vấn đề đánh giá tính hợp lý
mà các ý muốn này đem theo. Thí dụ, ý muốn sống mà không làm việc, có lẽ nhờ sử
dụng tiền bạc của người khác, không bao giờ nên là một quyền lợi… Đó không phải
là ý muốn hợp lý, chỉ vì đối tượng của nó không phải là một điều tốt làm trọn vẹn
cuộc sống…
Các công
dân có trách nhiệm… không bao giờ nên nhượng bộ áp lực không thể chịu đựng nổi
của ý thức hệ… vốn lẫn lộn ý muốn với quyền chủ quan và do đó, nên chống lại bất
cứ luận điểm nào như thế, trước khi quá trễ… [các trang 139-140].
Hỏi: Ta hãy
trở lại với gia đình. Có thể nói gia đình là một lý tưởng chăng?
Đức Hồng Y
Müller: Các phạm trù lý tưởng và hiện thực đã có từ rất lâu… Tuy nhiên, trong
hình thức hiện nay, chúng phát xuất từ chủ nghĩa nhị nguyên của triết học
Descartes và từ chủ nghĩa nhị nguyên duy tâm và duy vật…
Đối với
chúng ta, các thứ thuyết nhị nguyên này không có giá trị gì cả. Thiên Chúa luôn
hiện thực hơn sáng thế của Người, và các tạo vật của Người nhận được mức độ hiện
thực của họ như một ơn phúc của Người, vì Người thể hiện ý tưởng của Người
trong sáng thế này. Mọi sáng thế đều phản ảnh Ngôi Lời Thiên Chúa, nên hôn nhân
không phải là một “lý tưởng” mà con người tưởng tượng ra. Lý tưởng là phản ảnh
các ý muốn của tôi, như đứa trẻ muốn làm phi hành gia hay ngôi sao túc cầu… Quả
tình, ý niệm thường là một điều khó đạt tới…
Tuy nhiên,
hôn nhân không phải là một lý tưởng hay một ý niệm của con người, nhưng là một
thực tại do Thiên Chúa ban bố… Cách Thiên Chúa yêu thương là thước đo tình yêu
của con người, vì Thiên Chúa không đòi hỏi sự bất khả…
Thiên Chúa
có thể buộc ta phải yêu thương, vì Người yêu thương ta trước và, thêm vào đó,
Người còn hứa với ta rằng ơn thánh của Người sẽ nâng đỡ ta. Bất cứ ai hiểu hôn
nhân không hơn một hành vi xã hội của cưới xin và các hậu quả luật pháp từ đó
phát sinh chắc chắn sẽ thấy tình yêu của họ héo khô. Nhưng không phải vì thiếu
ơn thánh: mà là thiếu lòng khiêm nhường cần thiết để xin Thiên Chúa ban ơn
thánh này [các trang 151-2].
Hỏi: Chúng
ta đồng hóa lòng thương xót với tha thứ nhiều hơn, và chúng ta hiểu tha thứ là
vượt quá sự trừng phạt mà công lý đáng phải đưa ra đối với người tội lỗi.
Đức Hồng Y
Müller: Ngày nay, sự hiểu lầm cuối cùng hệ ở việc giản lược lòng thương xót vào
việc tha thứ tội lỗi. Giống như một cuộc bán rẻ cuối mùa, miễn chước khỏi lề luật
Thiên Chúa: đương đầu với thực tại kinh niên của khốn cùng và tội lỗi, lòng
thương xót trở thành chỉ còn là việc hạ thấp tấm chắn đường mà Mười Giới Răn vốn
đặt ra.
Tôi tin rằng
Thiên Chúa… luôn nghiêm túc đối với chúng ta. Trong tình yêu tận đáy lòng đối với
sáng thế của Người, và đặc biệt đối với chúng ta, các con cái của Người, Người
đã giúp chúng ta có khả năng sống phù hợp với các bí tích và đời sống luân lý
xây dựng trên chúng. Bằng cách ban lòng thương xót cho ta, Người đã nâng ta dậy,
và nhờ nâng ta dậy, Người đã hoàn toàn biến đổi hiện sinh ta: một con người biết
Chúa Kitô, thực sự ôm lấy Người, thay đổi các thói quen của mình, các mối tương
quan của mình, trọn cách xử lý với thực tại của mình. Và khi người này bước qua
trải nghiệm thanh tẩy và tha thứ, họ sẽ cảm thấy được gợi hứng để sống cách nào
đó trên bình diện của Thiên Chúa…
Trong nền
thần học Công Giáo có cơ sở, việc tha thứ tội lỗi chân chính dựa vào việc người
có tội từ trạng thái tội lỗi và chống đối Thiên Chúa, từ cuộc sống tối tăm
không có Thiên Chúa, bước vào trạng thái sáng láng của ơn thánh hóa, bước vào sự
hiệp thông trọn vẹn với Người… Tuy nhiên, một hành vi như thế không tự động được
thực hiện mà không dựa vào tự do của con người. Đạo Công Giáo không thừa nhận một
đời sống ơn thánh mà lại không có sự tham dự của người có tội, mà lại không có
ý chí canh tân cuộc sống của họ [các trang 209-10].
Hai cuốn
sách trên quả nói lên đức tin, trí thông minh và lòng sung kính của hai nhà
lãnh đạo Công Giáo vĩ đại hiện sống và hoạt động ngày nay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét