Trang

Thứ Bảy, 23 tháng 9, 2017

24-09-2017 : (phần II) Chúa Nhật 25 thường niên năm A

24/09/2017
Chúa Nhật 25 thường niên năm A
(phần II)


Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật 25 thường niên, năm A

Chúa nht 25 Thường niên - năm A
(Is 55,6-9 - Pl 1,20c-24.27a - Mt 20,1-16a)
NIM VUI CHIA S NIM VUI LN
 “Hay vì thy tôi tt bng, mà bn đâm ra ghen tc?” (Mt 20,15).

I. CÁC BÀI ĐC
1. Bài đc I : Is 55,6-9
Bài đc I được trích trong phn cui ca sách Ngôn S Isaia đ II (các chương 40-55) là cun sách hàm cha các li an i nói vi đoàn dân Israel đang b lưu đày Babylon. Đi mt vi đoàn dân đang gp khng hong đc tin, có tâm trng chán chường và tht vng trong thi gian b lưu đày, tác gi sách Isaia đ II đưa ra li an i, đng viên, khích l dân, và cho biết sp đến ngày Thiên Chúa đến gii thoát h khi cnh lưu đày.
Bài đc cho thy Thiên Chúa đang sn lòng tiếp dân, tht gn dân đ thu hiu và lng nghe nhng li h kêu cu. Vì thế đây là thi gian thun tin nht đ tìm gp Chúa và đ bày t tâm tư vi Người. C th hơn, tác gi sách Isaia II đã kêu mi dân bày t thái đ hoán ci c th, đó là: kẻ gian ác hãy b đường li mình, người bt lương hãy b tư tưởng mình mà tr v vi Đc Chúa, Đng giàu lòng thương xót và tha th.
Thiên Chúa giàu lòng thương xót và tha th gn gũi vi con người bao nhiêu khi h cn đến Chúa, thì Người li tr nên xa vi và bí n by nhiêu khi con người quay lưng li, và nht là không hc cho biết cách hiu đường li ca Người. Tác gi đã ví von s khác bit trong li suy nghĩ và hành đng gia con người vi Thiên Chúa: tri cao hơn đt chng nào thì đường li và tư tưởng ca Thiên Chúa cũng cao hơn đường li và tư tưởng ca con người như vy.
2. Bài đc II : Pl 1,20c-24.27a
Sng và chết là hai thái cc nơi cuc sng ca con người. Thông thường ai cũng thích sng, s chết. Thế nhưng, trong bài đc I trích thư th nht ca thánh Phaolô tông đ gi tín hu Philípphê, thánh nhân biu l mt s ging co tt lành trong ni tâm ca ngài: ging co gia phn phúc ca riêng cá nhân Phaolô là ao ước chết đ được vi Đc Kitô thì tt hơn bi phn vi vic sng đ đem li li ích cho cng đoàn, vì li trong xác tht thì cn thiết cho anh em.
Nguyên tc sng mà thánh Phaolô đã chn đ quyết đnh mi s đó là: ly Đc Kitô làm trung tâm cho mi suy nghĩ, li nói và hành đng ca mình. Vì thế đi vi ngài sng hay chết không thành vn đ na, min sao quyn năng ca Đc Kitô được t hin, Tin Mng được loan báo đến mi người và ước mong anh em phi ăn làm sao cho xng vi Tin Mng ca Ðc Kitô”.
3. Bài Tin Mng : Mt 20,1-16a
D ngôn v “Thợ làm vườn nho” hay còn gi là d ngôn v “Ông chủ tốt bụngmô t cnh quen thuc trong đi sng sn xut nông nghip thường nht Palestine thi Đc Giêsu. D ngôn din t s t do ca Thiên Chúa trong chương trình cu đ và đ cao lòng qung đi đy xót thương ca Người qua hình nh ông ch vườn nho, cũng như lên án thái đ không đúng mc ca mt s Kitô hu qua hình nh các người th.
Trong d ngôn, có nhiu nhóm người làm khác nhau đang đng ch ti ch nhân công đi ch thuê làm đ được hưởng tin công nht. Có nhng người th được ông ch gi đi làm lúc sáng sm, k khác lúc ban trưa, người kia lúc xế chiu, thm chí vào gn ti (Mt 20,1-6).
Lúc tan gi lao đng, ông ch tr công mi người như nhau: đu được mt quan tin. Điu này khiến nhng người vào làm sm cn nhn, vì trách ông ch bt công và ghen tc vi người khác.
Ông ch đã trách c nhng người cn nhn v thái đ ca h. Ti sao h li ghen tc vi anh ch em mình? H không chp nhn đ cho người khác được hưởng ân hu hay sao? Ti sao h không th chia s nim vui ca người khác, khi mình chng mt gì?
Ông vn tr đ cho h theo tha thun, còn ông làm phúc cho ai thì tùy ý ông. Ông có quyn làm thế, không phi do nhng người kia xng đáng, nhưng vì ông tt bng mà thôi. Sao h trách c quyn t do đnh đot ca ci ca ông ch? Sao h cn ông ch thi ân giáng phúc trên người khác?
II. GI Ý MC V
1. ‘Trời cao hơn đt thế nào, thì tư tưởng ca Ta cũng vượt trên tư tưởng ca các ngươi thế y. Nhiu lúc chúng ta khó hiu biết tư tưởng cũng như đường li ca Thiên Chúa trên cuc đi ca mình. Biết bao nhiêu câu hi đã được con người đt ra cho Thiên Chúa: Ti sao? Thế nào?... và dường như nhiu ln chúng ta không th tìm được câu tr li. Có cách nào giúp chúng ta đi đúng đường li và ti bến b hnh phúc nếu chúng ta không tìm kiếm thánh ý Chúa, b ý riêng và đt ý mình vào trong ý Chúa?
2. ‘Đức Kitô s t bày quyn uy cao c ca Người nơi thân xác tôi, dù tôi sng hay tôi chết. ‘Quy ngã’  hay ‘quy Kitô’ vn luôn là mt ging co gay gt nơi mi người du vn biết rng ch quy Kitô” mi là cách duy nht giúp vượt qua cơn khng hong đc tin. Tôi có đnh hướng cuc sng quy Kitô’, ly Đc Kitô làm đim ta, làm chun mc cho mi suy nghĩ, li nói và hành đng ca mình? Tôi có đt li ích ca Đc Kitô, ca anh ch em lên trên li ích ca bn thân trong đi sng đo?.
3. ‘Hay vì thấy tôi tt bng, mà bn đâm ra ghen tc? Con người tht d dàng chia bun khi người anh ch em mình gp đau kh, khó khăn hay th thách, nhưng li khó chia vui khi anh ch em mình gp may mn, sung sướng hay hnh phúc hơn mình. Tôi có cn nhn ngm trách Thiên Chúa bt công và ghen tc vi người khác khi h được ân hu Chúa ban?
III. LI NGUYN CHUNG
Ch tế: Anh ch em thân mến! Thiên Chúa rt nhân t mun mi gi và trao phó cho mi người chúng ta nhng phn v khác nhau trong vườn nho ca Người là Hi Thánh. Chúng ta hãy chung li cm t Chúa, và tha thiết cu xin:
1. Hi Thánh có s mng loan báo và làm chng cho tình thương cu đ ca Thiên Chúa. Chúng ta cùng cu nguyn cho mi thành phn trong Hi Thánh tr nên nhng người th nhit thành chăm ch, đ vườn nho Chúa ngày càng thêm tươi tt và sinh nhiu hoa trái.
2. Vic làm và tin lương chi phi cuc sng ca rt nhiu người trong xã hi hôm nay. Chúng ta cùng cu nguyn cho các nhà lãnh đo trên thế gii biết quan tâm hơn đến người nghèo và quyết tâm to ra nhiu vic làm cùng vi tin lương hp lý cho người lao đng.
3. Bão lt và đng đt đã gây thương vong và thit hi ln nhiu nơi trên thế gii và ngay ti Vit Nam. Chúng ta cùng cu nguyn cho các nn nhân ca thiên tai nhn được s an i và tr giúp kp thi ca nhiu người, đ sm khc phc thit hi và mau n đnh cuc sng.
4. Tính ích k và hay ganh t là nguyên nhân gây ra bao xung đt chia r. Chúng ta cùng cu nguyn cho mi người trong cng đoàn chúng ta biết ý thc dp b nhng tư tưởng cá nhân, đ hết lòng vì li ích chung, tích cc xây dng mt cng đoàn yêu thương hip nht.
Ch tế: Ly Chúa là Đng t bi nhân hu, Chúa đã mi gi chúng con cng tác trong vườn nho ca Chúa. Xin đón nhn tâm tình t ơn ca chúng con và giúp chúng con luôn dn thân vi hết kh năng Chúa ban, đ phc v anh ch em và làm sáng danh Chúa. Chúng con cu xin nh Đc Kitô, Chúa chúng con.


SCĐ CHÚA NHXXV TN A
LÒNG TỐT CỦA THIÊN CHÚA

"Những người vào làm trước nhất tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn…" (Mt 20,10)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : Thiên Chúa khuyến khích tội nhân trở về với Ngài, đừng sợ Ngài trừng phạt. Chắc chắn Ngài sẽ tha thứ, bởi vì "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi"
- Đáp ca : "Chúa tốt lành với tất cả mọi người"
- Tin Mừng : Ông chủ vườn nho trả lương cho người thợ làm giờ cuối cùng cũng một đồng bằng với những người thợ làm từ sáng sớm.

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Nếu chúng ta tìm hiểu kỹ về Thiên Chúa, chúng ta sẽ gặp nhiều bất ngờ. Thiên Chúa mà ta tưởng rằng đã hiểu rất rõ lại không như ta tưởng ; suy nghĩ của Ngài nhiều khi không giống suy nghĩ của chúng ta ; cách đối xử của Ngài cũng lắm bất ngờ.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta hiểu Ngài hơn, và nhất là biết suy nghĩ và cư xử như Ngài.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta ít lo tìm hiểu Chúa nên đã không sống như Ngài.
- Cách chúng ta đối xử với người khác dựa trên quyền lợi bản thân hơn là dựa trên lòng tốt.
- Nhiều khi thấy một người khác được điều gì tốt, thay vì vui mừng, chúng ta lại khó chịu.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Is 55,6-9) :
Kẻ có tội thường sợ Thiên Chúa trừng phạt nên trốn lánh Ngài. Mà càng trốn lánh Thiên Chúa thì càng lún sâu trong tội.
Qua lời ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa khuyến khích họ cứ an tâm trở về. "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi" : Ngài không nghĩ đến trừng phạt mà chỉ nghĩ đến cứu vớt, Người không bắt tội mà chỉ thứ tha.
2. Đáp ca (Tv 144) :
Tv này ca tụng sự vĩ đại của Thiên Chúa, sự vĩ đại này chính là tấm lòng của Ngài : nhân hậu, từ bi, kiên nhẫn, xót thương và tốt lành với tất cả mọi người…
3. Tin Mừng (Mt 20,1-16a) :
Dụ ngôn này phản ảnh hai cách suy nghĩ :
- Cách suy nghĩ của đám thợ làm vườn nho là suy nghĩ theo công bằng : kẻ làm ít giờ lẽ ra phải được lãnh ít hơn người làm nhiều giờ. Đây cũng là suy nghĩ của loài người chúng ta.
- Cách suy nghĩ của ông chủ vườn nho : vẫn trả đủ lương cho những người làm nhiều giờ, nhưng vì lòng tốt nên cũng trả cho người thợ làm giờ cuối cùng đủ một đồng. Đây là cách suy nghĩ của Thiên Chúa.
4. Bài đọc II (Pl 1,20c.24-27) (Chủ đề phụ) :
* Trong các Chúa nhựt XXV-XXVIII, bài đọc II được trích từ thư Phaolô gởi tín hữu Philipphê. (Xin xem bài giới thiệu tổng quát về Thư Philipphê, ngay sau bài này)
Đây là bức thư Phaolô viết trong khi bị cầm tù. Trong thời gian Phaolô ở từ, tín hữu Philipphê đã thường xuyên thăm viếng, trợ giúp và còn phái người tới chăm sóc cho Phaolô.
Trong đoạn thư này, Phaolô nghĩ đến hai tình huống :
- Một là ông sẽ được tha tự do : khi đó ông sẽ tiếp tục rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, và Ngài sẽ được vẻ vang.
- Hai là ông bị xử tử : cái chết của ông vì Tin Mừng cũng sẽ làm vẻ vang Đức Kitô.
Vì thế Phaolô kết luận : "Dù tôi sống hay tôi chết, Đức Kitô cũng sẽ được vẻ vang nơi tôi"
IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Tư tưởng của Thiên Chúa không giống tư tưởng loài người
Loài người chúng ta suy nghĩ giống như một người buôn bán : món hàng trị giá thế nào, vậy phải mua thế nào, bán thế nào ? bao nhiêu thì đúng, bao nhiêu thì sai ?
Chúng ta áp dụng suy nghĩ ấy chẳng những trong đối xử với người khác, mà còn cho cả Thiên Chúa nữa : tôi đã làm gì và làm bao nhiêu, cho nên Thiên Chúa phải ban cho tôi ơn gì và ban bao nhiêu. Chúng ta cho rằng như thế là công bằng.
Nhưng Thiên Chúa không muốn làm người bán cũng không muốn làm người mua. Ngài chỉ muốn làm người Cha, yêu thương chúng ta là con. Ngài chỉ có thương yêu và chỉ dùng lòng tốt để đối xử. Đối với từng đứa con, Ngài không xét xem nó đã làm được gì, nó đáng được bao nhiêu. Ngài chỉ nghĩ nó cần được chăm sóc như thế nào, ban cho nó cái gì là tốt nhất…
Khi lẩm bẩm trách, những người thợ làm nhiều giờ muốn lấy suy nghĩ của mình áp đặt lên suy nghĩ của ông chủ, họ muốn ông đừng làm người cha yêu thương mà hãy làm một người buôn bán vô tình.
2. Công bình và thương xót
Nhiều người đọc xong dụ ngôn này đã nghĩ rằng Thiên Chúa đối xử không công bình vì Ngài đã trả cùng một đồng cho những người làm việc suốt ngày và người chỉ làm có một giờ.
Thực ra chẳng có gì là không công bình cả : Vì ông chủ đã thỏa thuận với thợ về tiền công mỗi ngày là một đồng, nên nếu ông trả không đủ một đồng thì mới bất công. Nói cho đúng hơn : đối với những người làm suốt ngày thì ông chủ công bình ; còn đối với người làm chỉ có một giờ thì ông chủ đã đối xử hơn mức công bình : ông đối xử theo lòng thương xót.
Xem ra, đòi hỏi công bình là điều hợp lý. Nhưng xét theo thực tế, chúng ta không chịu nổi nếu Chúa cứ theo công bình à đối xử với chúng ta, đúng như lời Thánh vịnh "Nếu Chúa chấp tội thì ai nào đứng vững được". Cho nên, xét cho cùng thì chúng ta cần đến lòng thương xót của Chúa hơn là đến đức công bình của Ngài.
Vả lại, đối xử công bình là đối xử bằng lý, còn đối xử với lòng thương xót là đối xử theo tình. Mỉa mai thay, bất chính như con người thì hay đòi đối xử bằng lý, còn công chính như Thiên Chúa lại thích đối xử bằng tình.
Flor McCarthy đã chứng kiến một cảnh tượng tương tự với dụ ngôn này và cho biết ông đã thay đổi cách suy nghĩ ra sao sau khi chứng kiến nó : có lần ông đến Cape Town nước Nam Phi. Đó là một buổi sáng mùa hè. Ông thấy một đám đông đứng ngoài đường không làm gì cả. Ban đầu ông nghĩ rằng đó là những kẻ lười biếng, đang khi những người khác lo làm ăn thì những người này đứng đó chẳng làm gì cả. Đến trưa ông vẫn còn thấy đám người ấy vẫn đứng đó, mồ hôi đã nhễ nhại ướt đẫm lưng áo. Hỏi kỹ thì mới biết họ là những người thất nghiệp. Họ đứng chờ ngoài nắng, hy vọng có ai đến thuê họ đi làm chăng. Mãi tới chiều ông vẫn thấy đám người đó. Và khi hết ngày, họ lủi thủi ra về, trông rất tội nghiệp. Hôm đó McCarthy rất hối hận vì đã vội kết án những con người tội nghiệp ấy. Và ông đã soạn một lời cầu nguyện như sau :
"Tư tưởng của Ta không giống tư tưởng các ngươi
và đường lối Ta không giống đường lối các ngươi"
"Như trời xanh cao hơn đất bao nhiêu
thì đường lối Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi bấy nhiêu"
Lạy Chúa
Tư tưởng chúng con rất nông cạn, đường lối chúng con rất hẹp hòi
Bởi vì trí óc chúng con nghèo nàn và con tim chúng con chật chội.
Xin Chúa mở rộng trí óc và con tim chúng con
để chúng con suy nghĩ giống Chúa hơn, và hành động giống Chúa hơn.
Xin giúp chúng con đừng bực bội vì lòng tốt của Chúa đối với người khác
Xin giúp chúng con ý đừng cho rằng chúng con đáng được Chúa thưởng công
Xin giúp chúng con ý thức rằng chúng con cần đến lòng thương xót hơn là đức công bình của Chúa. Amen.
3. Giờ thứ 11
Cuối đoạn Tin Mừng này có một câu bất ngờ : "Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết".
Trong Tin Mừng có nhiều thí dụ minh họa : Một chàng thanh niên giàu có và đạo đức hỏi Đức Giêsu : tôi đã giữ các giới răn từ thuở nhỏ, vậy tôi phải làm gì thêm để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ? Lần kia Phêrô áy náy trình với Chúa : Thưa Thầy, này chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy thì sao ? Bồn chồn hơn nữa, hai người con Ông Dêbêđê nghĩ rằng mình thuộc số môn đệ đi theo Thầy trước hết cho nên xin Thầy dành cho mình hai chỗ tả hữu trong Nước của Ngài… Nhưng, đối với những "kẻ trước hết" ấy, Đức Giêsu đã không dành hai chỗ tả hữu ưu tiên, Ngài lại ban chúng cho hai tên trộm cướp. Đúng vậy, hai "kẻ sau hết" này đã ở hai bên tả hữu của Thập giá.
Nói "trước hết" và "sau hết" là tính theo thời gian. Nhưng liên hệ với Chúa không tính bằng thời gian mà bằng sự gắn bó tình yêu.
4. Hãy có một não trạng mới
Điểm sâu sắc nhất của dụ ngôn những người thợ vườn nho là đặt đối lập nhau hai não trạng :
a/ Não trạng của những thợ làm nhiều giờ là óc tính toán : làm gì cũng là để tính công, công càng nhiều thì phải được hưởng càng nhiều.
Đây là não trạng của đa số tín hữu chúng ta. Chúng ta tính toán mình đã giữ đạo bao nhiêu năm, đọc kinh dự lễ bao nhiều lần, làm việc lành phúc đức bao nhiêu việc v.v.
Với não trạng ấy, chúng ta chăm chăm nhìn đến những việc mình đã làm và cứ bo bo nhìn vào sổ thu của mình. Chúng ta nghĩ rằng khi đến cuối đời (hết ngày làm việc), trình quyển sổ thu đó cho Chúa thì chắc chắn Ngài sẽ mở kho tàng ơn cứu độ và thanh toán sòng phẳng cho chúng ta.
Nhưng trong não trạng ấy, ta là ai, Thiên Chúa là ai, liên hệ giữa Thiên Chúa và ta là gì ? Ta chỉ là người làm công, Thiên Chúa là người thuê mướn, liên hệ hai bên là hợp đồng làm ăn.
Sống đạo theo não trạng này thật là nặng nhọc và vô tình vô nghĩa.
b/ Thực ra, Thiên Chúa đâu có tự coi là người thuê mướn và cũng đâu có coi chúng ta là người làm công.
Thiên Chúa yêu thương chúng ta theo hoàn cảnh của mỗi người chúng ta. Người thì hoàn cảnh này (đứng trước vườn nho từ sáng sớm), người thì hoàn cảnh khác (đứng trước vườn nho khi đã gần hết ngày), nhưng người nào cũng được Thiên Chúa thương và ban cho ơn cứu độ (được vào vườn nho, được lãnh một đồng).
Não trạng thoải mái và hạnh phúc nhất là cảm nhận tình thương ấy và đáp lại tình thương bằng cách tận tâm tận lực canh tác vườn nho, không tính toán làm lâu hay làm mau, làm được nhiều hay làm được ít, chịu cực khổ nhiều hay ít.
Cần phải thay đổi não trạng : sống đạo không bằng tính toán mà bằng cả tấm lòng.
5. Chuyện minh họa
Đây là diễn tiến một cuộc chạy đua 3000 mét.
Lúc bắt đầu, những tay đua chạy san sát nhau thành một nhóm rất đông. Một lúc sau, một nhóm nhỏ đã tách rời đám đông và chạy phía trước. Còn vài chục mét nữa thì một người vọt lên rất nhanh và tới đích.
Khán giả vỗ tay hoan hô nồng nhiệt. Một số người ôm những bó hoa tới tặng nhà vô địch. Các phóng viên xách Camera và máy chụp hình tới, vừa bấm máy, vừa thu hình, vừa phỏng vấn. Những người hâm mộ tới xin chữ ký. Một số hãng thương mại đến đề nghị ký hợp đồng với nhà vô địch.
Cuối cùng, ông chủ tịch Ban Tổ chức xuất hiện. Người ta mời nhà vô địch lên đứng trên một chiếc bục cao, người hạng nhì đứng trên bục bên phải thấp hơn một chút, và người hạnh ba bục bên trái thấp hơn chút nữa. Người ta mang đến 3 chiếc huy chương để ông chủ tịch đeo vào cổ họ.
Nhưng ông chủ tịch ngỏ ý muốn gặp 3 người tới đích cuối cùng. Ban tổ chức không hiểu, nhưng vẫn làm theo lời ông. Khi họ tới, ông tươi cười trao chiếc huy chương vàng cho người hạng chót, chiếc huy chương bạc thuộc về người áp chót, và chiếc huy chương đồng cho người kế tiếp.
Nhà vô địch bực bội phản đối :
- Như thế là không công bình !
- Tại sao ? Ông chủ tịch hỏi lại.
- Tôi hạng nhất, tôi phải được thưởng.
- Thì anh đã được thưởng rồi. Này nhé khán giả đã vỗ tay hoan hô anh, báo chí đã chụp hình anh, những người hâm mộ đã tặng hoa cho anh, những hãng thương mại đã ký hợp đồng với anh… Anh đã được thưởng quá nhiều rồi. Bây giờ anh hãy nghĩ tới những người chạy sau chót : họ cũng cố gắng như anh, vất vả không kém gì anh, và cũng chạy hết đoạn đường 3000 mét như anh. Anh thử nghĩ xem có công bình không khi anh thì được tất cả còn họ thì chẳng được gì ?
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
CT : Anh chị em thân mến
Thiên Chúa là tình yêu. Người yêu thương và muốn cứu độ hết thảy mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.
1- Chúa Giêsu đã giao cho hàng Linh mục sứ mạng rao giảng Tin Mừng / và cử hành các bí tích mà phục vụ dân Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các ngài luôn trung thành / khôn ngoan và nhân hậu.
2- Trên thế giới ngày nay / hình như lòng khoan dung không còn ngự trị trong các sinh hoạt trần thế / do đó con người vẫn còn điên cuồng tàn sát lẫn nhau / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho lòng khoan dung ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt trong đời sống con người.
3- Hiện tại có biết bao người đang âm thầm hy sinh cả cuộc đời trên cánh đồng truyền giáo / để giới thiệu Chúa cho những anh chị em chưa nhận biết Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa giữ gìn / và nâng đỡ những anh chị em ấy / giữa muôn vàn thử thách trong đời sống chứng nhân của mình.
4- Tính ganh tị làm cho con người trở nên mù quáng / hẹp hòi / ích kỷ / thậm chí vu khống để bôi nhoi danh dự / để hạ người khác xuống / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết can đảm sửa chữa tận gốc tật xấu kinh niên này.
CT : Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết sống như Chúa : luôn cư xử quảng đại và khoan dung với hết thảy mọi người, nhờ đó chúng con sẽ nên hoàn thiện như Chúa Cha trên trời. Chúa hằng sống và hiển trị…
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta đây, kẻ thì biết Chúa vào giờ thứ nhất, người thì chỉ mới biết Ngài vào giờ thứ 11. Nhưng Chúa đã thương tất cả chúng ta, cho tất cả chúng ta làm con trong nhà Ngài. Vậy tất cả chúng ta hãy trìu mến dâng lên Ngài lời kinh mà chính Chúa Giêsu đã dạy.
VII. GIẢI TÁN
Thiên Chúa đối xử với mọi người bằng lòng tốt. Xin Chúa giúp anh chị em ra về cũng đối xử bằng lòng tốt với mọi người.

 
Bài đc thêm 3
THƯ PHILIPPHÊ
1. Philíp là một thành phố trong tỉnh Makêđoan, được thành lập bởi vua Philíp, cha của Alexandre đại đế (đế quốc hy lạp), do đó thành này mang tên Philíp. Đến năm 42 công nguyên nó thành thuộc địa của đế quốc Rôma. Thuộc địa này rất thịnh vượng. Được làm công dân của Philíp thì cũng đương nhiên được quyền công dân Rôma. Dân thành này hãnh diện vì mình là công dân Rôma, họ nói tiếng Latin và ăn mặc theo kiểu rôma (đây là bối cảnh của 3,20-21 : Phaolô bảo các tín hữu hãy hãnh diện vì được làm công dân Nước Thiên Chúa). Đa số dân cư là lính tráng rôma, do đó nếp sống và việc quản trị hành chánh ở đây mang đậm sắc thái rôma (x. Cv 16,21). Cũng có những người do thái nhưng rất ít đến nỗi họ không có hội đường (x. Cv 16,3), và đây cũng là lý do khiến trong thư này Phaolô rất ít trích dẫn Cựu Ước.
2. Năm 50, trong cuộc du hành truyền giáo thứ 2, Phaolô đã đến Philíp. Cùng đi có Sila, Timôtêô và Luca. Họ đã thành lập được giáo đoàn mà đa số tín hữu là người lương trở lại (Cv 16,12-40). Vì không có hội đường nên Phaolô không rao giảng tại hội đường như thói quen. Các cuộc nhóm họp của tín hữu cũng tổ chức tại tư gia. Hình như cuộc nhóm họp đầu tiên tổ chức tại nhà Bà Lyđya một tín hữu làm nghề buôn bán vải điều (Cv 16,14-15)
3. Giáo đoàn này xem ra rất được Phaolô quý mến nên ông thường trở lại thăm viếng. Sau khi thành lập xong giáo đoàn, Phaolô ra đi, để Luca ở lại cai quản. Đến năm 57, Phaolô trở lại. Năm sau, trên đường từ Côrintô đi Giêrusalem, Phaolô lại ghé thăm. Cũng có lẽ vì quý mến giáo đoàn này nên mặc dù có lập trường không nhận trợ giúp vật chất của ai, Phaolô đã bằng lòng để họ giúp đỡ mình (Pl 4,16 2Cr 11,8-9)
Mục đích của thư này là cám ơn sự giúp đỡ của tín hữu Philíp. Nhưng ngoài ra cũng có một số mục đích khác :
- Thông tin về hoàn cảnh sống hiện tại của Phaolô (1,12-26 ; 4,10-19).
- Khuyến khích tín hữu can đảm, kiên trì và nhất là vẫn vui vẻ lạc quan trong thời gian thử thách (1,27-30 ; 4,4).
- Khuyên bảo họ hai điều quan trọng là khiêm tốn và đoàn kết (2,1-11 ; 4,2-5).
- Gởi gắm Timôtêô và Êpaphrôđitô cho giáo đoàn Philíp (2,19-30).
- Cảnh cáo tín hữu về hiểm nguy của khuynh hướng vụ luật (do những người do thái thủ cựu) và khuynh hướng phóng túng (chương 3).
- Khuyến khích và dạy dỗ :1,1-3,1
- Khiển trách 3,2-4,1
- Tiếp tục khuyến khích và dạy dỗ : 4,2-9
- Cám ơn sự giúp đỡ 4,10-20
D. NHẬN ĐỊNH
Điểm đặc biệt nhất của thư này là "niềm vui" : kitô hữu hãy vui luôn, cho dù hoàn cảnh có thế nào đi nữa cũng vẫn vui.
- Đặc tính của niềm vui này : Không chóng qua nhưng bền bỉ : "Yến tiệc nào không có lúc tàn" (Qohelet). Niềm vui tự nhiên sẽ tàn khi cuộc vui kết thúc. Nhưng niềm vui siêu nhiên trong thư này thì vẫn tồn tại. Ngay cả khi tín hữu phải sống trong hoàn cảnh hết sức khổ sở, họ vẫn vui. Thậm chí ngay khi đối diện với cái chết họ vẫn cứ vui. Cụ thể là Phaolô khi ấy đang bị cầm tù và không biết mạng sống sẽ ra sao nhưng ông vẫn vui.
- Nguồn gốc của niềm vui này : a/ Xác tín rằng Thiên Chúa có thể biến một điều xem ra bất lợi trở thành có lợi (2,5-11). Bằng chứng hiển nhiên nhất là cái chết của Đức Giêsu trên Thập giá đã trở thành nguồn ơn cứu độ. b/ Tự nhủ rằng cù sướng hay khổ, dù sống hay chết cũng được, miễn sao cho Tin Mừng được rao giảng (1,12-18).
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI

Lectio Divina: Chúa Nhật XXV Thường Niên (A)
Chúa Nhật, 24 Tháng 9, 2017



Dụ ngôn những người làm công được sai đi đến vườn nho
Tình yêu nhưng không tuyệt đối của Thiên Chúa

Mt 20:1-16

1.  Lời nguyện mở đầu

Thân lạy Cha, Con Một của Cha là Đức Giêsu, Đấng mà Cha đã ban cho chúng con, là vương quốc của chúng con, là sự phong phú, là Thiên Đàng của chúng con; Người là Chủ nhà và chủ trái đất nơi chúng con sống và Người liên tục đi tìm kiếm chúng con, bởi vì Người muốn gọi chúng con, kêu tên chúng con, để ban cho chúng con tình yêu vô biên của Người.  Chúng con sẽ không bao giờ có thể đền đáp lại cho Người, không bao giờ đền trả được lòng lân ái và thương xót dư thừa của Người ban cho chúng con; chúng con chỉ có thể nói với Người lời Xin Vâng của chúng con:  “Này con đây, con xin đến”, hay lặp lại lời của ngôn sứ Isaia:  “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con!”  Lạy Chúa, xin hãy để cho những lời này thấm vào tâm hồn con, vào mắt, vào tai con và lời ấy thay đổi con, biến đổi con, theo tình yêu đáng ngạc nhiên không thể hiểu được mà Chúa Giêsu cũng đang ban cho con ngày hôm nay, ngay cả trong giây phút này.  Xin hãy dẫn con đến nơi cuối cùng, nơi của con, mà Người đã dọn sẵn cho con, ở đó là nơi con có thể thực sự và hoàn toàn là chính mình.  Amen.

 2.  Bài Đọc
a)  Phụ chú về bối cảnh đoạn Tin Mừng:

Đoạn Tin Mừng này đặt chúng ta trong phần của sách Tin Mừng Mátthêu, dẫn trước đoạn Cuộc Thương Khó, sự tử nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu.  Đoạn này bắt đầu từ câu 19:1, nơi được viết là Chúa Giêsu quyết định rời vùng Galilê để đi về xứ Giuđêa, bắt đầu lối này để tiến gần về thành Giêrusalem và được kết ở câu 25:46 với lời về ngày tái quang lâm và phán xét của Con Thiên Chúa.  Đặc biệt, chương 20 cũng đưa chúng ta đi dọc theo con đường của Chúa Giêsu hướng về thành thánh và đền thờ, trong một bối cảnh giảng dạy và tranh luận với các nhà thông thái và có quyền thế thời bấy giờ, mà Người dàn trải thực hiện qua các dụ ngôn và các cuộc gặp gỡ.  

b)  Phân đoạn bài Tin Mừng để trợ giúp cho bài đọc: 

Mt 20:1a:  Với những lời đầu tiên của bài dụ ngôn, một phương thức dẫn nhập, Chúa Giêsu muốn đồng hành với chúng ta vào trong chủ đề sâu sắc nhất về những gì Người định nói, Người muốn mở ra trước chúng ta cánh cửa của Nước Trời, đó là chính bản thân Người và Người tự giới thiệu là Chủ của vườn nho đang cần người canh tác. 
Mt 20:1b-7:  Những câu này tạo thành phần đầu của bài dụ ngôn; trong đó Chúa Giêsu nói về dự tính của người Chủ vườn nho đi thuê người làm công, kể lại bốn lần ông đi ra ngoài để tìm người làm, trong đó ông thiết lập một hợp đồng và lần cuối ông đi ra tìm người là vào lúc cuối ngày. 
Mt 20:8-15:  Phần thứ hai này thay vì bao gồm lời kể việc thanh toán tiền công với người làm, đã kể lại việc phản đối của những người đến trước và câu trả lời của ông Chủ vườn nho.
Mt 20:16:  Cuối cùng là câu kết luận, bao gồm cả câu 19:30 và mặc khải chìa khóa của đoạn Tin Mừng và ứng dụng của nó:  Những ai trong cộng đoàn được coi là những kẻ đến sau cùng, theo quan điểm của Nước Trời và sự phán xét của Thiên Chúa, sẽ là những người trước hết.

c)  Phúc Âm:  

20:1a:  1 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng:  “Nước Trời giống như chủ nhà kia…
20:1b-7:  …sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình.  2 Khi đã thỏa thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông.  3 Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, 4 ông bảo họ rằng:  “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho cho Ta, Ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng.”  5 Họ liền đi.  Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy.  6 Đến khoảng giờ thứ mười một, ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng:  “Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?  7 Họ thưa rằng:  “Vì không có ai thuê chúng tôi.”  Ông bảo họ rằng:  “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho cho ta.”
20:8-15:  8 Đến chiều, chủ vườn nho bảo người quản lý rằng:  “Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ từ người đến sau hết tới người đến trước hết.”  9 Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng.  10 Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn; nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng.  11 Đang khi lãnh tiền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng:  12 “Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?”  13 Chủ nhà trả lời với một kẻ trong bọn họ rằng:  “Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thỏa thuận với tôi một đồng sao? 14 Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn. 15 Nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao?  Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?”
20:16:  16 Như thế kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết.”

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện:
Để Lời Chúa được thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta. 

4.  Một vài câu hỏi gợi ý:
Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.
a)  Đoạn Tin Mừng được mở đầu với một liên từ, “trên thực tế”, rất là quan trọng, bởi vì nó gửi đến chúng ta câu trước đó (Mt 19:30), nơi Chúa Giêsu khẳng định “kẻ trước hết sẽ nên sau hết và kẻ sau hết sẽ nên trước hết”, với cùng những lời mà Người sẽ lặp lại ở cuối bài dụ ngôn này.  Vì thế, những lời vô cùng quan trọng, căn bản, chỉ cho tôi đường hướng mà tôi nên chọn.  Đức Giêsu là Vương Quốc của Thiên Chúa, là Nước Trời; Người là thế giới mới, mà tôi được mời vào.  Nhưng thế giới của Người là một thế giới đảo ngược, nơi mà các lý luận của chúng ta về quyền lực, lợi danh, khen tặng, khả năng, nỗ lực bị đánh bật và được thay thế bằng một lý luận khác, đó là sự cho không tuyệt đối, lòng thương xót và tình yêu vô biên.  Nếu tôi nghĩ rằng tôi là kẻ đến trước tiên, tôi là người dũng mãnh và đầy khả năng; nếu tôi đã chọn cho mình một chỗ ngồi tốt nhất nơi bàn tiệc Chúa, thì có lẽ tôi nên đứng lên và ngồi vào chỗ kém nhất.  Ở đó Chúa sẽ đến tìm tôi và gọi tôi, Người sẽ dắt tôi lên và đưa tôi về phía Người.  
b)  Ở đây, Chúa Giêsu ví Người như là người chủ vườn, Chủ Nhà, dùng hình ảnh cụ thể, Người lặp lại nhiều lần trong Kinh Thánh.  Tôi cố gắng theo dõi hình ảnh ấy, chú ý đến những đặc tính biểu thị và cố gắng minh xác mối quan hệ của tôi với Người.  Ông Chủ nhà là chủ nhân của vườn nho, là người chăm sóc nó, rào giậu chung quanh vườn, trong vườn đào một bồn đạp nho, vun xới nó bằng tình yêu và nỗi nhọc nhằn (Mt 21:33), để nó có thể sinh hoa kết trái nhiều hơn.  Đó là người Chủ nhà đã dọn ra bữa tiệc tối thịnh soạn, và mời nhiều người, mời đến bàn tiệc của Người những người nghèo khó, bỏ rơi, tàn tật và què quặt, đui mù (Lc 14:21).  Và đó là người chủ trở về nhà sau khi đi dự tiệc cưới và chúng ta phải canh thức vì không biết giờ nào (Lc 12:36); là người Chủ nhà trẩy phương xa, ra lệnh cho chúng ta phải canh thức, sẵn sàng để mở cửa cho Người, ngay khi Người trở về và gõ cửa, vào buổi chiều tối, vào nửa đêm, hay vào lúc gà gáy, hay vào lúc bình minh (Mc 13:35).  Lúc ấy tôi hiểu rằng Chúa đang mong đợi nơi tôi kết quả tốt lành; rằng Người đã chọn tôi như người khách tại bàn tiệc của Người; rằng Người sẽ trở lại và tìm tôi và sẽ gõ cửa nhà tôi…  Tôi đã sẵn sàng để đáp lời Người chưa?  Sẵn sàng để mở cửa cho Người không?  Sẵn sàng để dâng tặng Người hoa trái tình yêu mà Người mong đợi từ nơi tôi chưa?  Hay là tôi đang ngủ mê, bị đè nặng bởi hàng ngàn thứ tư lợi khác, làm nô lệ cho các chủ nhà khác, phức tạp và rời x a Người?
c)  Chúa Giêsu, người Chủ nhà và là chủ vườn nho, nhiều lần đi ra ngoài để thuê người làm: vào lúc sáng sớm, vào lúc chín giờ sáng, vào lúc giữa trưa, vào lúc ba giờ chiều, vào lúc năm giờ, khi ngày sắp tàn.  Người không hề biết mệt mỏi:  Người đến tìm tôi, để ban cho tôi tình yêu của Người, sự hiện diện của Người, để ký kết một thỏa hiệp với tôi.  Người mong mỏi ban cho tôi vườn nho của Người, vẻ đẹp của nó.  Khi nào chúng ta sẽ gặp, khi Người, đưa mắt nhìn tôi cách chăm chú, sẽ yêu tôi (Mc 10:21), tôi sẽ trả lời ra sao?  Tôi có sẽ buồn rầu bởi vì tôi còn có rất nhiều của cải (Lc 18:23)?  Liệu tôi có sẽ trốn chạy, trần truồng, trút lại cả mảnh vải nhỏ của hạnh phúc còn lại để che cho thân tôi (Mc 14:52)?  Hay là, tôi sẽ nói “Xin vâng”, và rồi thì tôi sẽ không đi (Mt 21:29)?  Tôi cảm thấy rằng lời này đã khiến cho tôi lâm vào cơn khủng hoảng, nó nhòm ngó vào chiều sâu thẳm của chính tôi, nó tiết lộ cho tôi biết tôi là ai … tôi vẫn thất vọng, lo sợ cho sự tự do của tôi, nhưng tôi quyết định, trước Chúa là Đấng đang nói với tôi, hành động như Đức Maria đã làm và cũng nói:  “Lạy Chúa, xin hãy làm theo như lời Chúa”, với một sự khiêm nhường và quy phục.      
d)  Bây giờ Tin Mừng đang đặt để trước tôi mối quan hệ của tôi với những người khác, anh chị em cùng chia sẻ với tôi cuộc hành trình đi theo Đức Giêsu.  Tất cả chúng ta được gọi đến với Người, vào buổi tối, sau một ngày làm việc:  Người mở kho báu tình yêu của Người và bắt đầu phân phát, ban cho ân sủng, lòng thương xót, lòng từ bi, tình bằng hữu, tất cả những gì của Người.  Người không dừng lại, Chúa chỉ tiếp tục đổ tràn, trút ra, ban chính thân Người cho chúng ta, mỗi một người.  Mátthêu đã chỉ ra, vào lúc này, rằng có người lẩm bẩm trách Chủ vườn nho, trách Chúa, sự phẫn nộ nảy sinh vì Người đối xử với mọi người cách công bằng, với cùng cường độ của tình yêu, với cùng sự dư thừa.  Có lẽ những gì được viết trong những dòng này cũng áp dụng đối với tôi:  Tin Mừng biết cách mang đến và làm sáng tỏ trái tim tôi, phần ẩn dấu nhất của con người tôi.  Một cách chính xác, có lẽ Chúa đang nói những lời này với đầy sự buồn rầu:  “Chẳng lẽ con đang ganh tị chăng?”  Tôi nên để cho chính bản thân mình bị thẩm vấn, tôi phải để cho Người nhập vào trong tôi và nhìn tôi với đôi mắt soi thấu tâm can, bởi vì chỉ có cái nhìn của Người, tôi sẽ có thể được chữa lành.  Bây giờ tôi cầu nguyện như sau:  “Lạy Chúa, con cầu xin Chúa, hãy đến với con, gieo lời Chúa trong tâm hồn con và để cho cuộc sống mới nảy mầm, để tình yêu nảy mầm.” 


5.  Chìa khóa của bài đọc
Vườn nho
Trong hình ảnh của vườn nho, có vẻ như rất đơn giản và bình thường, Thánh Kinh cô đọng lại một thực tế rất phong phú và sâu sắc, luôn luôn khó hiểu trong ý nghĩa, dần dần khi các văn bản nhận được sự mặc khải hoàn toàn của Chúa Giêsu.  Trong sách các Vua quyển thứ nhất, chương 21, thuật lại cuộc tấn công bạo lực chống lại ông Nabốt, chỉ vì sự lạm quyền của vua A-kháp, là người sở hữu một vườn nho, được trồng cấy, không may lại ở cạnh bên cung điện nhà vua.  Điều này làm cho chúng ta hiểu được tầm quan trọng của vườn nho là một tài sản bất khả xâm phạm:  không có vật gì trên thế gian mà ông Nabốt có thể chịu đánh đổi như lời ông nói:  “Đức Chúa cấm chỉ tôi nhượng gia sản của tổ tiên tôi cho ngài!” (1V 21:3).  Vì tình yêu dành cho vườn nho, ông đã mất mạng.  Vì vậy, vườn nho tượng trưng cho của cải quý giá nhất, di sản của gia đình, trong một phần nhất định, bản sắc riêng của một người; người ấy không thể bán nó, sang nhượng nó cho người khác, đổi chác nó cho một thứ hàng hóa khác, mà sẽ không bao giờ thay thế được vật có giá trị tương đương nó.  Nó ẩn chứa một sức mạnh tinh thần quan trọng.    
Sách tiên tri Isaia chương 5 cho chúng ta biết rõ rằng dân Do Thái được biểu hiện qua hình ảnh vườn nho, như đã được viết:  “Vườn nho của Đức Chúa các đạo binh, chính là nhà Israel đó; cây nho Chúa yêu mến quý chuộng, ấy chính là người xứ Giuđa” (Is 5:7).  Chúa đã yêu thương dân này với một tình yêu vô hạn và muôn đời, ký kết bởi một giao ước bất khả xâm phạm; Người chăm sóc họ giống như chủ vườn nho chăm sóc vườn nho của mình, làm tất cả mọi việc có thể để nó có thể sinh nhiều hoa trái hơn.  Mỗi người chúng ta là dân Israel, toàn thể Giáo Hội:  Chúa Cha đã thấy chúng ta như mảnh đất khô cằn, hoang tàn, đầy sỏi đá, và Người đã vun xới, gieo trồng, luôn chăm bón và tưới nước; Người đã trồng chúng ta như một vườn nho hảo hạng, tất cả với cây nho thuần chủng (Gr 2:21).  Còn điều gì Người có thể làm hơn cho chúng ta mà Người đã chẳng làm không? (Is 5:4).  Trong việc hạ mình một cách vô cùng, chính Chúa đã trở thành vườn nho; Người đã trở thành cây nho thật (Ga 15:1), mà chúng ta là ngành; Người đã hợp nhất chính thân mình với chúng ta, giống như cây nho được gắn liền với các ngành nho của nó.  Chúa Cha, người trồng nho, tiếp tục công việc tình yêu của Người trong chúng ta, để chúng ta có thể kết trái và Người chờ đợi một cách kiên nhẫn.  Người cắt tỉa, vun xới, rồi sau đó Người sai chúng ta đi để làm việc, thu hoạch những hoa trái để đem về cho Người.  Chúng ta được sai đi đến dân của Người, đến các con cái Người, những con cái như chúng ta, như các môn đệ của Người; chúng ta không thể tháo lui, từ chối, bởi vì chúng ta đã được tạo dựng ra vì lý do này:  Chúng ta được cắt cử ra đi và sinh hoa trái và hoa trái của chúng ta được tồn tại (Ga 15:16).  Lạy Chúa, xin nhìn lại chúng con, từ Cõi Trời, xin ngó xuống, xin Ngài hãy thăm nom vườn nho Ngài (Tv 79:15).
Lời hứa:  một đồng tiền
Người chủ vườn nho thiết lập tiền công làm việc một ngày là một đồng bạc; một số tiền khá, để người ta có thể sống với phẩm giá.  Số tiền này có thể xấp xỉ với một quan tiền mà ông Tôbít đã thỏa thuận trả cho người cùng đi với con trai ông là Tôbia đến xứ Mêđia (Tb 5:15).
Nhưng trong ý nghĩa của Tin Mừng, đồng bạc này lập tức được gọi bằng tên khác; bởi người Chủ; trong thực tế, ông ta nói:  “Ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng (câu 4).  Gia nghiệp của chúng ta, tiền công của chúng ta là những gì xứng đáng, là những gì tốt lành: Chúa Giêsu.  Trong thực tế, Người không ban cho, Người không hứa hẹn điều gì khác hơn là chính bản thân Người.  Phần thưởng dành cho chúng ta ở trên Thiên Đàng (Mt 5:12), với Chúa Cha (Mt 6:1).  Nó không phải là tiền bạc, đồng bạc được dùng để nộp thuế bình quân mỗi đầu người cho người La-mã, mà trên đó có hình và danh hiệu của vua Xê-da (Mt 22:20), nhưng là khuôn mặt của Chúa Giêsu, tên của Người, sự hiện diện của Người.  Người nói với chúng ta:  “Thầy ở với các con không chỉ hôm nay, nhưng tất cả mọi ngày, cho đến ngày tận thế.  Chính Thầy sẽ là phần thưởng của các con”.     
Sai đi
Lời Tin Mừng ban cho cuộc sống của chúng ta một năng lượng rất mạnh mẽ, bắt nguồn từ các động từ “sai”, “cắt đặt”, “ra đi”, được lặp lại hai lần; cả hai đều liên quan đến chúng ta, chúng động chạm đến chúng ta một cách sâu xa, chúng gọi chúng ta và đưa chúng ta vào sự hoạt động.  Chính Chúa Giêsu đã sai chúng ta, khiến chúng ta thành các môn đệ của Người:  “Này, Thầy sai các con đi” (Mt 10:16).  Người gọi chúng ta mỗi ngày cho sứ vụ của Người và lặp lại với chúng ta:  “Hãy đi!  Và niềm hạnh phúc của chúng ta được ẩn dấu chính nơi này, trong việc thực hiện Lời này của Người.  Nơi Người sai chúng ta đến, theo cách mà Người chỉ, hướng tới thực tế và những kẻ mà Người đặt để trước chúng ta.    
Lời lẩm bẩm, sự càu nhàu
Lời của sự quan trọng tột cùng, của sự thật và hiện diện rất thực trong kinh nghiệm cuộc sống hằng ngày của chúng ta; chúng ta không thể chối cãi được điều này:  chúng nằm trong tâm khảm chúng ta, trong ý nghĩ của chúng ta, thỉnh thoảng chúng hành hạ chúng ta, biến dạng chúng ta, làm cho chúng ta vô cùng mệt mỏi, đẩy chúng ta ra xa khỏi chính mình, khỏi những người khác, xa khỏi Chúa.  Vâng, chúng ta cũng ở trong số những người làm công phàn nàn và càu nhàu, lẩm bẩm trách cứ Chủ Nhà.  Tiếng rầm rì của lời lầm bầm phát xuất từ rất xa, nhưng nó cũng đã thành công để hợp với chúng ta và len lỏi vào tâm khảm chúng ta.  Dân Israel ở sa mạc đã lẩm bẩm rất nhiều đối với Chúa của họ và chúng ta đã nhận lãnh thừa kế những ý nghĩ ấy, những lời ấy:  “Chính vì Đức Chúa ghét bỏ chúng ta mà Người đã đưa chúng ta ra khỏi đất Ai Cập, để trao chúng ta vào tay người Amôri và tiêu diệt chúng ta” (Đnl 1:27) và chúng ta nghi ngờ về năng lực của Người có thể nuôi dưỡng chúng ta, dẫn đường chúng ta, bảo vệ chúng ta:  “Trong sa mạc này, liệu Chúa Trời có thể dọn gì cho ta ăn?” (Tv 78:19).  Lẩm bẩm có nghĩa là không lắng nghe tiếng nói của Chúa, không còn tin tưởng vào tình yêu của Người dành cho chúng ta:  Vì vậy, chúng ta trở nên phẫn nộ, bất an, mạnh mẽ chống lại lòng thương xót của Chúa và chúng ta tức giận với cách hành xử của Người và chúng ta muốn thay đổi để làm cho nó hợp hơn với chương trình hành động riêng của chúng ta:  “Người lại ăn uống với những bọn thu thuế và quân tội lỗi!” (Lc 5:30; 15:2; 19:7).  Nếu chúng ta chú ý lắng nghe kỹ thì có lời thầm thì bí mật của con tim chúng ta.  Làm thế nào để chữa lành nó?  Thánh Phêrô đề nghị cách này:  “Hãy tiếp đón nhau mà không lẩm bẩm kêu ca” (1Pr 4:9); chỉ có sự tiếp đón, đó là sự tiếp nhận có thể, từng chút một, sẽ thay đổi trái tim chúng ta và mở nó ra để được tiếp nhận, có khả năng mang trong nó trong mọi người, mọi tình huống, thực tế mà chúng ta gặp trong đời sống.  “Chấp nhận lẫn nhau” như lời Kinh Thánh nói.  Và điều đó chính là như vậy:  chúng ta phải học chấp nhận, hơn hết cả, như chính Chúa Giêsu, với đường lối yêu thương của Người và của sự không thay đổi, về việc nói với chúng ta và thay đổi chúng ta, của chờ đợi và thu hút chúng ta.  Chấp nhận Người là chấp nhận những người ở bên cạnh chúng ta, những ai đến gặp gỡ chúng ta; chỉ có hành động này mới có thể vượt qua được lời lầm bầm khó chịu.
Lời lầm bầm phát sinh từ sự nhỏ nhen, ganh tị, từ con mắt tội lỗi của chúng ta, như người Chủ vườn nho đã nói, chính Chúa Giêsu.  Người biết cách để giữ chúng ta bên trong, Người biết cách thâm nhập cái nhìn của chúng ta và chạm đến trái tim của chúng ta, trong tinh thần.  Người biết chúng ta nghĩ gì, Người biết chúng ta và yêu chúng ta; và vì tình yêu, Người đem chúng ta ra khỏi sự dữ, cất cái màn che khỏi con mắt ganh tị của chúng ta, Người giúp chúng ta trở nên ý thức về việc chúng ta nghĩ như thế nào, về điều suy nghĩ trong lòng chúng ta.  Vào lúc Người nói:  “Có lẽ mắt các bạn ganh tị?” như Người nói trong bài Tin Mừng hôm nay, Người chữa lành chúng ta, Người lấy dầu thơm và bôi, lấy bùn trộn với nước bọt của mình mà bôi lên mắt chúng ta, vào rất sâu tâm hồn.

6.  Giây Phút Cầu Nguyện:  Thánh Vịnh 135

Đáp ca:  Tình yêu Chúa dành cho chúng con thật là vô tận!

Allêluia!  Hãy tạ ơn Gia-vê vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Hãy tạ ơn Thần các thần,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Hãy tạ ơn Chúa các chúa,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Chỉ có Người làm nên những kỳ công vĩ đại,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
Người sát hại các con đầu lòng Ai-cập,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
dang cánh tay uy quyền mạnh mẽ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
dẫn Israel ra khỏi xứ này,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Nước Biển Đỏ, Chúa phân làm hai khối,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
đưa Israel lối giữa băng qua,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
xô xuống biển Pha-ra-ô cùng binh tướng,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Chúa dẫn đưa dân Người qua sa mạc,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
Chúa đã nhớ đến ta giữa cảnh nhục nhằn,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
gỡ ta thoát khỏi tay thù địch,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
Người ban lương thực cho tất cả chúng sinh,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Hãy tạ ơn Thiên Chúa cửu trùng,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

7.  Lời Nguyện Kết
Thân lạy Cha, con cảm ơn Cha đã mặc khải cho con về Con Một Cha và đã cho con gia nhập vào gia nghiệp của Người, trong vườn nho của Người.  Chúa đã khiến con thành một ngành nho, khiến con thành trái nho: giờ đây con chỉ cần ở lại trong Người, trong Chúa và để cho bản thân con được trở nên trổ sinh hoa trái tươi tốt, chín cây, được bỏ vào trong máy ép.  Vâng, lạy Chúa, con biết rằng:  Đây là phương cách, con không sợ hãi, bởi vì Chúa đang ở với con.  Con biết rằng cách duy nhất đưa đến sự hạnh phúc là món quà tự hiến cho Chúa, món quà cho các anh em.  Nguyện xin cho con là một ngành nho, xin cho con là những trái nho tốt tươi, để được vắt ép theo ý Chúa!  Amen.





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét